Ba nhóm yêu tinh nữ mà phần này đề cập đến, kể từ thời kỳ đầu Trung cổ, vẫn luôn bị nhầm lẫn với nhau, và những đặc điểm riêng của từng nhóm bị gán cho các nhóm còn lại một cách bừa bãi. Điều này xuất phát từ thực tế là cả ba đều có chung một bản chất nổi bật: khuynh hướng săn mồi là những đứa trẻ nhỏ; và bất cứ nơi nào nét kinh khủng này chiếm trọn sự chú ý của các nhà văn trung cổ hay người nông dân hiện đại, thì ranh giới phân biệt về nguồn gốc và bản chất giữa chúng đều trở nên lu mờ. Tuy nhiên, vẫn có đủ thông tin, nếu được sử dụng một cách khôn ngoan, để ta có thể đưa ra một bức tranh riêng biệt về từng nhóm.
Bọn Lamiae là những con quái vật gớm ghiếc, phần lớn có hình hài những người phụ nữ khổng lồ và thô kệch, nhưng lại mang những dị tật kỳ lạ ở phần chi dưới giống như những gì Aristophanes từng gán cho một sinh vật có họ hàng với chúng, đó là Empusa. Bàn chân của chúng không giống nhau và có thể có nhiều hơn hai chiếc; một chiếc thường bằng đồng, trong khi những chiếc khác giống chân động vật — như bò, lừa hoặc dê. Truyền thuyết kể rằng một trong những con quái vật này từng bị một người nông dân bắn hạ tại Koropíon, một ngôi làng ở Attica, và người ta đo được nó dài tới ba sải tay; bản tính ghê tởm của nó được chứng thực bởi thực tế là khi xác nó bị vứt ra một vùng đồng bằng hoang vắng, cỏ dã không thể mọc lên ở nơi máu nó nhỏ xuống. Những đặc điểm chính của Lamiae, ngoài cơn khát máu, là sự nhơ nhớp, tính phàm ăn và sự ngu ngốc. Chi tiết về sự nhơ nhớp thứ nhất không cần phải nêu tên, nhưng vẫn đủ để làm trò cười cho Aristophanes trong những lúc thô tục của ông như thuở trước. Tính phàm ăn của chúng được thể hiện rõ qua thân hình cồng kềnh, nặng nề. Sự ngu ngốc của chúng bộc lộ rõ nhất qua cách quản lý gia đình tồi tệ; bởi vì ngay cả Lamiae cũng có những công việc gia đình, theo các câu chuyện dân gian, chúng thường kết đôi với loài rồng (δράκοι), và làm tổ trong các hang động cùng những nơi hoang vắng. Chúng cầm chổi tệ đến mức câu “chổi quét của Lamia” (τῆς Λάμιας τὰ σαρώματα) đã trở thành một thành ngữ chỉ sự bừa bãi; chúng dốt nát đến mức bỏ bột vào lò lạnh rồi vun lửa lên phía trên; chúng cho chó ăn cỏ và cho ngựa ăn xương. Nhưng ít ra chúng vẫn có điểm sáng là đôi khi biết tỏ lòng biết ơn với những ai giúp chúng thoát khỏi hoàn cảnh khốn cùng do sự ngu dốt của chính mình gây ra.
Sự ngu ngốc của chúng cũng được người Hy Lạp coi là một biểu hiện của sự thành thật. Dù chúng thường giàu có do là vợ của loài rồng – những kẻ có nhiệm vụ chính là canh giữ kho báu ẩn giấu, chúng lại không có sự khôn ngoan để giữ lấy tài sản của mình, mà thay vào đó lại ngu ngốc giữ đúng lời hứa. Truyền thuyết Athens kể về một ả Lamia vô cùng giàu có (được biết đến với cái tên ἡ Μόρα, có lẽ viết chuẩn hơn là Μώρα, một danh từ riêng bắt nguồn từ chữ μωρός, nghĩa là “ngu ngốc”), ả thường lang thang vào ban đêm, tóm lấy và bóp nát những người đàn ông ả gặp cho đến khi họ rống lên như bò đực. Nhưng nếu nạn nhân giữ được sự tỉnh táo và giật lấy chiếc khăn trùm đầu của ả, thì để lấy lại nó, ả sẽ hứa ban cho anh ta cả sự sống lẫn sự giàu có, và ả sẽ giữ lời.
Tuy nhiên, những khía cạnh đó của loài Lamiae không phải lúc nào cũng được công nhận rộng rãi; tôi nghi ngờ rằng cứ mười người nông dân thì có tới chín người không thể cung cấp thêm thông tin nào khác về tính cách của chúng ngoài việc chúng ăn thịt người và thích chọn những đứa trẻ sơ sinh làm mồi ngon nhất. Do đó xuất hiện cụm từ thông dụng (dường như được dùng ở nhiều hơn một vùng của Hy Lạp) để chỉ những đứa trẻ đột ngột qua đời: τὸ παιδὶ τὸ ἔπνιξε ἡ Λάμια, nghĩa là “Đứa bé đã bị Lamia bóp cổ rồi.”
Nhưng nhìn chung, tôi nghĩ rằng sự tàn phá của loài Lamiae đã không còn gieo rắc nhiều nỗi sợ hãi thực sự trong tâm trí người nông dân nữa. Tôi từng nghe về một con, ở gần khu vực Kephalóvryso thuộc Aetolia, nơi ở của nó là một cái hang bên bờ suối, từng bị e sợ và lánh xa ở một mức độ nào đó. Nhưng ở hầu hết các nơi, Lamia chỉ duy trì ký ức về sự tồn tại của mình qua việc cung cấp những cuộc phiêu lưu cho các anh hùng trong truyện cổ tích; bằng cách mượn tên tuổi của nó, cùng với Empusa và Mormo (những nhân vật vẫn tồn tại cục bộ đến ngày nay), để làm thứ bù nhìn cho các bà mẹ hù dọa trẻ con hư, hoặc dùng làm thứ vũ khí sẵn có để chửi rủa trong những cuộc cãi vã lời qua tiếng lại giữa những người phụ nữ.
Từ Lamia, vốn vẫn tồn tại không đổi hình thức cho đến tận ngày nay ngoại trừ việc các biến thể như Λάμνα, Λάμνια và Λάμνισσα được ưa chuộng ở một số địa phương, thoạt đầu dường như không chỉ một loài quái vật mà là một cá thể đơn lẻ. Theo truyền thuyết cổ điển, Lamia là tên của một nữ vương xứ Libya từng được Zeus yêu thương, và do đó đã khơi mào lòng ghen hờn của Hera – vị nữ thần đã tước đoạt toàn bộ con cái của nàng; thế là vị nữ vương cô độc bèn dọn đến sống trong một hang động u ám và lạnh lẽo, rồi biến thành một con quái vật độc ác và tham lam, kẻ vì sự ghen tị và tuyệt vọng đã bắt cóc và sát hại con cái của những người mẹ may mắn hơn.
Nhưng số nhiều của từ này, cho thấy con quái vật đơn lẻ đã bị nhân lên thành cả một loài, xuất hiện từ rất sớm. Philostratus, khi bàn về “bọn Empusae, mà người bình dân gọi là Lamiae và Mormolykiae,” đã nói rằng: “Giờ đây, chúng khao khát những hoan lạc ái tình, nhưng còn khao khát thịt người hơn nữa, và dùng những hoan lạc đó để dụ dỗ những kẻ mà chúng sẽ phanh thây làm tiệc.” Một dạng số nhiều được sử dụng ở đây dĩ nhiên chỉ là một cách biểu đạt đầy vẻ coi thường đối với những mê tín dị đoan bình dân; nhưng phần sau của đoạn trích dường như đúc kết khá chính xác bản chất của loài Lamiae thời cổ đại. Điều này được minh họa qua một câu chuyện rùng rợn do Apuleius kể lại, về hai ả Lamia vì muốn trả thù cho sự khước từ tình cảm mà một trong số chúng dành cho một thanh niên tên là Socrates, đã moi tim anh ta ngay trong đêm trước mắt người bạn đồng hành Aristomenes của anh.
Trong hai đặc điểm chính của loài Lamiae thời cổ đại, đặc điểm thứ nhất, sự dâmõng, ngày nay chủ yếu bị quy cho Lamia biển – vị nữ thần đơn độc cai quản các tiên nữ miền biển; trong khi khao khát thịt người lại là nét nổi bật nhất của dòng họ Lamiae trên cạn. Nhưng nhóm sau chắc chắn là hậu duệ chân chính nhất của Lamia thời cổ đại, và chiếm giữ một vị trí trong tín ngưỡng dân gian giống hệt như nàng thuở xưa; bởi vì dường như thuở ấy chẳng mấy ai thực sự sợ hãi Lamia; lời chứng của một số nhà văn cổ đại (bất chấp câu chuyện của Apuleius) chứng minh rằng từ hơn hai nghìn năm trước, nàng đã rơi xuống mức độ của những con ngáo ốc chỉ dọa được trẻ con.
Trong phần viết về các nàng Nereid thực thụ, tôi đã nhắc đến một số sinh vật được gọi ở quần đảo Cyclades là ἀγιελοῦδες hoặc γιαλοῦδες và được một số nhà văn xếp vào hàng các nữ thần biển cả. Về điểm này, họ chắc chắn nhận được sự hậu thuẫn từ từ nguyên học bình dân; bởi ở Amorgos, Theodore Bent từng nghe kể rằng “có một ác thần sống cận kề, thỉnh thoảng lại ngoi lên từ lòng biển và bắt cóc trẻ sơ sinh; do đó nó được gọi là Gialoù (bắt nguồn từ γιαλός, nghĩa là biển [sic]).” Nhưng tôi cho rằng, chỉ vì sự liên tưởng nhầm lẫn của cư dân quần đảo Cyclades giữa hai từ có âm tương tự nhau mà Ἀγιελοῦδες mới bị coi là các ác thần biển cả; thông tin của Bent đã đảo lộn nhân quả. Ở những nơi khác tại Hy Lạp, người ta biết đến một số sinh vật gọi là Γελλοῦδες hoặc Γιλλοῦδες, những nữ ác thần có khuynh hướng bắt cóc trẻ nhỏ và ăn thịt chúng; và thật kỳ lạ khi một bậc thầy nghiên cứu văn hóa dân gian Hy Lạp cẩn trọng như Bernhard Schmidt lại không nhận ra rằng cái tên ἀγιελοῦδες được dùng ở một vài hòn đảo thuộc Cyclades thực chất chỉ là một biến thể phương ngữ của từ quen thuộc hơn γελλοῦδες, với một âm đệm ἀ thêm vào phía trước hệt như trường hợp của νεράϊδες và ἀνεράϊδες.
Cuộc tìm hiểu tại Tenos đã hé lộ cho tôi một sự thật không được nhắc đến, dù có lẽ đã hàm ý, trong tuyên bố của Bent, rằng người ta tin bọn ἀγιελοῦδες ở đó ăn thịt chính những đứa trẻ mà chúng bắt cóc. Nét đặc trưng này lập tức khẳng định sự đồng nhất giữa chúng với bọn γελλοῦδες, đồng thời khiến cho việc xếp chúng vào một dạng tiên nữ trở thành bất khả thi. Người ta vẫn tin rằng các nữ thần biển hoặc sông, khi bắt cóc con cái loài người về thủy cung của họ, cũng tiện tay dìm chết chúng, nhưng đó chỉ là do sơ suất chứ không hề có ý mưu sát. Còn việc dã man ăn tươi nuốt sống thịt người – dẫu cho các nàng tiên có phóng túng và tàn nhẫn đến đâu đi nữa, thì đó vẫn là điều đi ngược lại bản chất và không thể tưởng tượng nổi ở họ. Nét tính cách kinh khủng này chứng tỏ bọn γελλοῦδες hay ἀγιελοῦδες là một nhóm nữ ác thần hoàn toàn riêng biệt.
Nhân vật có thẩm quyền hàng đầu về những sinh vật độc ác này là Leo Allatius, người vừa trích dẫn một loạt đoạn văn giúp chúng ta lần theo sự phát triển của niềm tin về chúng, vừa kể lại một câu chuyện vốn là nguồn tài liệu duy nhất cung cấp bằng chứng về những đặc điểm khác của chúng ngoài sự thèm khát thịt trẻ sơ sinh.
Nguyên mẫu của chúng, theo lời kể được cho là của Sappho, chính là thiếu nữ Gello, người mà hồn ma sau cái chết yểu của ả bị người dân Lesbos đồn đại là hay quấy nhiễu trẻ con và là thủ phạm gây ra những cái chết từ thuở lọt lòng của các bé sơ sinh.
Tính cá thể của Gello này vẫn tiếp tục được công nhận ở một mức độ nào đó mãi cho đến thế kỷ thứ mười; bởi vì Ignatius, một phó tế ở Constantinople, trong cuốn tiểu sử viết về Thượng phụ Tarasius đã gọi ả là một con ác thần đơn lẻ, dù ông có nói thêm rằng tội danh sát hại trẻ em theo cách tương tự cũng bị quy cho cả một hội phù thủy. “Do đó,” Allatius bình luận, “dẫn đến việc ngày nay Striges (tức là những mụ phù thủy mà Ignatius nhắc đến), vì thực hiện các ma thuật lên trẻ sơ sinh và gây ra cái chết của chúng bằng cách hút máu hoặc những cách khác, nên được gọi là Gellones.” Cả trong câu chuyện thể hiện những phẩm chất chính của con ác thần này, tên của ả (dưới hình thức Γυλοῦ) vẫn xuất hiện như một danh từ riêng.
Nhưng việc nhân con ác thần đơn lẻ thành cả một tầng lớp đã có từ rất lâu trước thời đại của Allatius. Vào thế kỷ thứ tám, John of Damascus đã sử dụng từ số nhiều γελοῦδες như một từ ngữ bình dân, với ý nghĩa mà ông hiểu là tương đương với Striges (στρίγγαι); và Michael Psellus vào thế kỷ thứ mười nhất cũng rõ ràng xem hai từ này là những tên gọi thay thế cho nhau để chỉ một nhóm sinh vật (dù ông để ngỏ việc chúng là ác thần hay phù thủy); bởi vì sau khi miêu tả chính xác về loài Striges cùng cơn khát máu trẻ em của chúng, ông nói rằng những đứa trẻ sơ sinh bị hốc hác (tựa như bị hút kiệt máu bởi những mụ Striges này) được gọi là Γιλλόβρωτα, nghĩa là “bị Gello ăn thịt.”
Câu chuyện của Leo Allatius, trong đó phơi bày những phẩm chất chủ yếu của Gello, là một truyền thuyết có các Thánh Sisynios và Synidoros làm nhân vật chính. Con cái của người chị gái Melitene do các ngài sinh ra đã bị con ác thần này ăn thịt, và các ngài quyết định truy bắt nó. Để tẩu thoát, ả liền biến hóa hình thù, thoạt đầu thành một con chim én rồi sau đó thành một con cá; nhưng bất chấp những phép biến hóa trơn trượt và khó nắm bắt ấy, cuối cùng các ngài cũng tóm được ả dưới hình thù một sợi lông dê dính trên râu nhà vua. Đoạn, các ngài cất lời quở trách ả rằng: “Hỡi Gello gớm ghiếc, hãy ngưng ngay việc sát hại hài nhi của những tín điều Cơ Đốc đi,” và làm cho ả hoảng sợ cho đến khi ả phải thú nhận mười hai cái tên rưỡi của mình – việc nắm giữ chúng chính là chiếc bùa hộ mệnh chống lại các cuộc tấn công của ả.
Chính trong danh sách các tên gọi này, những khía cạnh khác nhau trong hoạt động của ả lộ diện. Đầu tiên là Γυλοῦ, một trong những biến thể của cái tên Gello; thứ hai là Μωρά, tên một loài Lamia; thứ ba là Βυζοῦ hay “kẻ hút máu”; thứ tư là Μαρμαροῦ, có lẽ mang nghĩa “lòng dạ sắt đá”; thứ năm là Πετασία, bởi ả có thể bay lượn như chim trên không trung; thứ sáu là Πελαγία, bởi ả có thể bơi lội như cá dưới biển; thứ vẹn là Βορδόνα, có lẽ mang nghĩa “lao xuống mồi như diều hâu”; thứ tám là Ἀπλετοῦ, “kẻ không bao giờ thấy đủ”; thứ chín là Χαμοδράκαινα, vì ả có thể rình rập như rắn dưới lòng đất; thứ mười là Ἀναβαρδαλαία, có lẽ là “vút bay cao như chim sơn ca giữa trời”; thứ mười một là Ψυχανασπάστρια, “kẻ giật lấy những linh hồn”; thứ mười hai là Παιδοπνίκτρια, “kẻ bóp cổ trẻ em”; và cái tên rưỡi cuối cùng là Στρίγλα, kiểu phù thủy mà phần tiếp theo sẽ bàn tới.
Tôi không dám chắc liệu những cái tên này có còn được ghi nhớ ở đâu như một thứ thần chú huyền bí hay không, hay liệu mọi phẩm chất mà chúng hàm ý vẫn bị quy cho bọn Gelloudes hay không. Nhưng một phương pháp chữa trị hiện đại cho những tổn thương do ác thần gây ra vốn không lập tức gây tử vong đã được ghi chép lại ở Amorgos. “Nếu một đứa trẻ bị nó hành hạ, người mẹ trước tiên sẽ cho mời thầy tu đến để nguyền rủa con ác thần, rồi dùng móng tay cào lên người con mình; nếu những cách ấy không thành công, cô ta phải đi xuống bờ biển lúc hoàng hôn, chọn lấy bốn mươi viên đá tròn được đưa lên bởi bốn mươi con sóng khác nhau; cô phải mang chúng về nhà và đun sôi trong giấm, rồi khi gà gáy, bóng ma ác độc ấy sẽ biến mất và trả lại cho đứa trẻ một cơ thể lành lặn.”
Bọn Striges, dù thường bị nhầm lẫn với Lamiae và Gelloudes, nhưng lại có bản chất hoàn toàn khác biệt với chúng. Hai nhóm mà tôi đã đề cập vốn là ác thần; còn Striges, theo nghĩa hiện đại của từ này, là những người phụ nữ sở hữu khả năng tự biến hóa thành chim săn mồi hoặc các loài động vật khác; và chỉ có sở thích uống máu, thứ mà chúng chia sẻ chung với những con ác thần kia, mới tạo ra sự nhầm lẫn này.
Hơn nữa, không giống như Lamiae hay Gelloudes, người ta không thể xem Striges là sản phẩm nguyên bản của trí tưởng tượng Hy Lạp hay là tài sản độc quyền thuộc về sự mê tín của người Hy Lạp thời hiện đại. Người Albania có từ σ̈τρῑ́γ̇ε̱α, và cư dân đảo Corsica có thuật ngữ strega, cả hai đều dùng để chỉ một mụ phù thủy có sức mạnh và khuynh hướng giống hệt như những gì người Hy Lạp hằng khiếp sợ; và rất có thể tất cả bọn họ – người Hy Lạp, người Albania, người Corsica – đều vay mượn khái niệm này từ Ý. Người Hy Lạp cổ đại quả thực từng có từ στρίγξ đồng nhất với strix trong tiếng Latinh, nhưng con chim đêm kêu éo éo được gọi bằng cái tên ấy, theo như tôi tìm hiểu, không hề mang lại bất kỳ sự kinh hoàng nào trong trí tưởng tượng của người Hy Lạp. Ngược lại, ở Ý, Strix lại bị khiếp sợ rộng rãi như một con quái vật khát máu mang hình hài loài chim. Pliny rõ ràng cho rằng đó là một loài chim có thật, dù ông hoài nghi về những câu chuyện thần thoại xoay quanh nó. “Loài strix,” ông nói, “chắc chắn được nhắc đến trong những lời nguyền cổ xưa; nhưng nó là loài chim gì, tôi nghĩ vẫn chưa có sự đồng thuận.” Có lẽ trong những “lời nguyền cổ xưa” ấy, nó được triệu hồi để giáng những hình phạt xuống đầu kẻ thù hệt như cách nó từng trừng phạt Otos và Ephialtes vì tội dám xâm phạm sự trinh bạch của Diana.
Tuy nhiên, quan niệm cho rằng Striges không thực chất là loài chim mà là phù thủy mang hình hài chim chóc đã sớm hình thành và tìm thấy một người truyền bá trong Ovid. “Có những loài chim phàm ăn,” ông nói, “... bay lượn về đêm và tấn công những đứa trẻ vẫn cần bàn tay chăm sóc của vú em, rồi chộp lấy chúng khỏi nôi và hãm hại. Người ta kể rằng bằng chiếc mỏ của mình, chúng khoét đi phần nội tạng tràn trề sữa mẹ của đứa trẻ, và cổ họng chúng ngập tràn dòng máu mà chúng uống. Chúng được gọi là Striges... và dù chúng sinh ra đã là chim hay bị biến thành chim bởi những câu bùa chú, và thứ phép thuật của người Marsian biến những bà già thành những sinh vật có cánh,” – đó chính là bản chất của chúng.
Đây có lẽ là tình trạng của sự mê tín khi người Hy Lạp bổ sung Striges vào danh sách những nỗi kinh hoàng ban đêm của chính họ; và chính hình thái của từ này trong tiếng Hy Lạp hiện đại, στρίγλα hoặc στρίγγλα (dường như là một dạng thức tiểu từ, strigula, mà ngôn ngữ nói tiếng Latinh có thể dễ dàng tạo ra từ dạng văn học strix), đã làm chứng cho sự vay mượn tín ngưỡng này.
Tại Hy Lạp, cách giải thích thứ hai trong hai cách mà Ovid dùng để giải thích nguồn gốc của Strix dường như đã được công nhận chung là chính xác. Đúng là người Hy Lạp hiện đại vẫn có một loài chim thực thụ gọi là στριγλοποῦλι (hoặc là một loại cú nào đó, hoặc chim hút mật), loài không chỉ ưa thích chạng vạng hay bóng tối ở thế giới bên trên mà còn được đồn là hay lai vãng ở những lãnh địa u ám của Charos bên dưới – qua đó có lẽ hé lộ một chút bằng chứng về mối quan hệ họ hàng của nó với con strix từng hành hạ hai anh em người khổng lồ; nhưng Strigla từ lâu đã không còn là một loài chim thực thụ nữa, và (ngoài sự nhầm lẫn với Lamia hoặc Gello) nó luôn luôn là một mụ phù thủy.
Trạng thái của niềm tin này vào thế kỷ thứ tám đã được John of Damascus ghi nhận. “Có một số kẻ dốt nát hơn cho rằng có những người phụ nữ được gọi là Striges (Στρῦγγαι), hay còn gọi là Gelloudes. Họ khẳng định rằng những mụ này có thể được nhìn thấy đang lướt qua không trung vào ban đêm, và khi tình cờ đến một ngôi nhà nào đó, chúng không gặp bất kỳ chướng ngại nào từ cửa hay then cài, mà dù cửa có khóa kỹ đến đâu đi nữa vẫn cứ xông vào và bóp cổ trẻ sơ sinh. Những kẻ khác lại bảo rằng Strix nuốt chửng gan cùng toàn bộ nội tạng của bọn trẻ, từ đó rút ngắn tuổi đời của chúng. Và họ quả quyết chắc nịch, kẻ thì bảo mình đã nhìn thấy, người thì bảo mình đã nghe thấy Strix đột nhập vào những ngôi nhà dẫu cửa đã khóa chặt, dưới hình hài xác thịt hoặc chỉ thuần túy là một dạng linh hồn.”
Lại đến thế kỷ thứ mười một, Michael Psellus cũng nhận thấy sự mê tín tương tự, mặc dù như chúng ta đã thấy, ngôn từ của ông phảng phất sự nhầm lẫn giữa Striges và Gelloudes. Nhưng ông thực sự đang miêu tả khả năng hóa thành chim của nhóm trước khi viết rằng: “Sự mê tín thịnh hành ngày nay ban cho những bà già thứ năng lực này. Nó trang bị cho họ đôi cánh khi tuổi đã cao xế bóng, và miêu tả họ đáp xuống những đứa bé mà không ai hay biết, để rồi – theo lời đồn – hút máu chúng cho đến khi vắt kiệt mọi dịch chất trong cơ thể nạn nhân.”
Leo Allatius – người đã trích dẫn đoạn văn này – đưa ra một vài trường hợp về những sự việc như vậy cả từ trải nghiệm của chính ông lẫn từ lời kể của những người khác, đồng thời cũng đề cập đến các biện pháp phòng ngừa khác nhau chống lại chúng. Những biện pháp này bao gồm thức trắng đêm canh gác, thắp đèn treo trước tranh các vị thánh bảo hộ, đeo bùa tỏi hoặc san hô, và bôi dầu lấy từ ngọn đèn của vị thánh nào đó lên mặt đứa trẻ hoặc người bệnh. Tuy nhiên, chỉ cần trích dẫn miêu tả chung của ông về loài Striges theo quan niệm thế kỷ mười bảy là đủ. Striges (στρίγλαις), ông cho chúng ta biết thực chất là những mụ đàn bà nghèo đói và khốn khổ, bị đẩy đến mức ký kết khế ước với quỷ dữ vì mọi mục đích đen tối; đàn ông ít khi bị chúng quấy rầy, nhưng phụ nữ và phổ biến hơn nữa là trẻ em – vì là con mồi yếu ớt và dễ xơi hơn – lại chịu nhiều khổ sở từ chúng, khi chỉ riêng hơi thở của chúng thôi cũng đủ độc hại để gây ra chứng điên loạn hoặc thậm chí là tử vong. Chúng đặc biệt thích tấn công trẻ sơ sinh, hút kiệt máu các bé rồi để lại những cái xác không hồn, hoặc vấy bẩn các bé bằng cái chạm của chúng đến mức phần đời còn lại của nạn nhân không bao giờ thoát khỏi bệnh tật.
Chắc hẳn bạn đọc đã nhận thấy trong bản tường thuật mới nhất này về loài Striges, phạm vi hoạt động của chúng đã được mở rộng hơn đôi chút, khiến cho cả phụ nữ lẫn trẻ em đều trở thành nạn nhân của chúng. Ngày nay, dường như chúng chủ yếu nhắm vào trẻ sơ sinh, nhưng ngay cả những người đàn ông trưởng thành cũng không được miễn nhiễm, như minh chứng từ một câu chuyện ở Messenia.
Thuở ấy có một người đàn ông đang qua đêm tại nhà của một người bạn mà gia đình gồm có vợ và mẹ vợ anh ta. Khoảng nửa đêm, một tiếng động nào đó đánh thức anh dậy, và khi chăm chú lắng nghe, anh nhận ra tiếng trò chuyện của hai người phụ nữ với nhau. Những gì anh nghe được khiến anh vô cùng khiếp sợ, bởi vì họ đang âm mưu ăn thịt chính anh hoặc chủ nhà, tùy xem ai béo hơn. Lập tức, anh nhận ra vợ và mẹ vợ của bạn mình chính là loài Striges, và biết rằng không còn cách nào khác để thoát khỏi mối nguy hiểm đang cận kề, anh quyết định mưu trí tự cứu lấy mình. Bọn Striges tiến về phía những người đàn ông đang ngủ và cầm chân vị khách lên để xem nó có nặng không, từ đó suy ra có béo tốt và ngon miệng hay không; thế nhưng, hiểu được ý đồ của chúng, anh bèn chủ động nhấc chân lên khi chúng cầm lấy và cân nó, khiến chúng cảm thấy chân anh nhẹ tựa lông hồng, thế là chúng thất vọng thả nó xuống. Tiếp theo, chúng cầm đến chân của người đàn ông còn lại đang ngủ, và dĩ nhiên thấy nó rất nặng. Vui mừng khôn xiết trước kết quả cuộc kiểm tra, chúng phanh ngực người đàn ông bất hạnh ra, moi gan cùng các bộ phận khác, rồi ném chúng vào đống tro hồng trên lò sưởi để nấu chín. Sau đó, nhận thấy không có rượu, chúng liền bay tới tửu quán, lấy những thứ mình cần rồi quay lại. Nhưng trong khoảng thời gian đó, vị khách đã vùng dậy, thu gom phần thịt đang nấu cất vào túi, rồi đặt vào chỗ trống trên lò sưởi một ít phân động vật. Bọn Striges ngấu nghiến ăn sạch những thứ trên lò, chỉ phàn nàn rằng nó hơi bị chín quá. Hôm sau, hai người bạn thức dậy và rời khỏi nhà; nạn nhân của đêm hôm trước trông rất nhợt nhạt, nhưng trên ngực anh ta lại chẳng hề có lấy một vết thương hay vết sẹo nhỏ nào. Anh ta bảo người bạn rằng mình cảm thấy đói cồn cào, thế là người kia đưa cho anh món ăn được nấu vào ban đêm, anh ăn hết và cảm thấy vô cùng sảng khoái; máu dồn lên đôi gò má và anh hoàn toàn khỏe mạnh trở lại. Ngay lập tức, người bạn kể cho anh nghe những gì đã xảy ra trong đêm, và họ cùng nhau đi tiêu diệt bọn Striges.
Câu chuyện này thể hiện toàn bộ những phẩm chất cốt yếu của loài Striges. Cặp đôi ấy đều là phụ nữ, và ít nhất một người – bà mẹ vợ – đã già; chúng chọn ban đêm để thực hiện các cuộc hành quyết; chúng có khả năng biến thành chim, vì người ta nói rằng “chúng bay” tới tửu quán; và sở thích ăn thịt người chính là chủ đề cốt lõi của câu chuyện.
Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng khi phạm vi hoạt động của Striges mở rộng ra, thì giới hạn cổ xưa của thuật ngữ này dành cho các bà già cũng có đôi chút nới lỏng ở một vài địa phương. Tại nhiều vùng ở Hy Lạp, người ta tin rằng một số trẻ sơ sinh dễ mắc một dạng chứng cuồng lycanthropy; và những đứa trẻ gái có xu hướng đó đôi khi bị gọi là Striges. Một câu chuyện từ Tenos, được kể lại qua nhiều dị bản, xoay quanh một tiểu công chúa vốn là một mụ Strigla. Mỗi ngày, người ta lại phát hiện một con ngựa của nhà vua đã bị giết và ăn thịt trong đêm. Do đó, ba vị hoàng tử – những người anh em của công chúa – đã thay phiên nhau canh gác; và may mắn thuộc về người em út nhờ lòng dũng cảm và sự khéo léo của anh trong việc phát hiện ra thủ phạm. Khoảng nửa đêm, anh nghe thấy tiếng động và nổ súng vào giữa một đám mây có vẻ đang lơ lửng trên bầy ngựa, qua đó bắn bị thương người em gái đến mức vết tích để lại trên người cô ta vào ngày hôm sau đã tố cáo những hành động ban đêm của ả. Tuy nhiên, vì không dám tố cáo em trước mặt vua cha, anh cùng mẹ trốn khỏi nhà đến một nơi an toàn, trong khi cô gái vẫn cứ nhởn nhơ với cơn thèm ăn vô độ và lần lượt nuốt chửng toàn bộ người dân trong thị trấn.
Nhưng ở những nơi khác nơi niềm tin tương tự vẫn tồn tại, như chúng ta sẽ thấy sau này, những đứa trẻ quái chiêu ấy – có thể mang bất kỳ giới tính nào – không được gọi là Striges mà được gọi bằng những cái tên như ‘callicantzaros’, ‘vrykolakas’ hoặc ‘gorgon’; và sự đa dạng về tên gọi này tự thân nó là một minh chứng cho thấy, trong khi ý tưởng về những đứa trẻ ăn thịt đồng loại được lan truyền rộng rãi, thì hiện tại không còn tồn tại một từ vựng tương đương chính xác nào nữa, và mỗi cái tên khác nhau được sử dụng chỉ nhằm mục đích khỏa lấp sự thiếu hụt đó. Một đứa trẻ quả thực có thể mang danh hiệu Strigla theo phép lịch sự; nhưng chỉ có những bà lão mới sở hữu nó bằng quyền hạn thực sự.
Như vậy, nỗi sợ hãi cổ xưa của người Hy Lạp - La Mã đối với Striges cho đến nay vẫn gần như không thay đổi. Giáo hội đã nhiều lần cấm đoán niềm tin về chúng; luật pháp trong quá khứ từng cấm việc sát hại chúng. Nhưng sợi dây liên kết tín ngưỡng giữa quá khứ và hiện tại vẫn chưa đứt gãy; và ý tưởng thiêu sống phù thủy vẫn là thứ có thể được thực thi ở bất kỳ xó xỉnh hẻo lánh nào của Hy Lạp.