Văn Hóa Dân Gian Hy Lạp Hiện Đại Và Tôn Giáo Hy Lạp Cổ Đại: Nghiên Cứu Về Sự Tồn Lưu

Lượt đọc: 51 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
§ 6. Charon.

❊ ❊ ❊

Không có vị thần cổ đại nào có tên tuổi lại thường xuyên hiện diện trên cửa miệng người nông dân hiện đại như Charos. Tên gọi này hiện có hai dạng, Χάρος và Χάροντας, tương tự như các cấu trúc γέρος và γέροντας xuất phát từ từ γέρων trong tiếng Hy Lạp cổ đại: bởi vì ít nhất trong tiếng Hy Lạp hậu kỳ, cách biến cách của từ Χάρων đã tuân theo quy tắc của từ γέρων[179]. Hai dạng này dường như không thuộc về các phương ngữ hiện đại khác nhau, vì chúng thường xuất hiện đan xen ngay trong cùng một bài ca dao. Tuy nhiên, dạng ngắn gọn hơn lại phổ biến hơn trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, và vì thế tôi sẽ sử dụng dạng này.

Theo kinh nghiệm của tôi, những người nông dân luôn sẵn sàng trò chuyện một cách cởi mở về Charos. Cả sự mê tín sợ hãi lẫn nỗi sợ bị chế giễu đều không hề kìm hãm họ. Có lẽ họ cảm thấy rằng sự tồn tại của Charos là một trong những sự thật phũ phàng mà con người buộc phải đối mặt; và ngay cả các tầng lớp có học thức hơn đôi khi vẫn giữ lại, tôi nghĩ, một nỗi sợ bản năng là không dám đùa cợt với tên của ông, kẻo ông sẽ khẳng định sự tồn tại thực sự của mình. Bởi vì Charos chính là Thần Chết. Giờ đây, ông không còn chỉ là người chèo đò trên sông Styx như văn học cổ điển từng mô tả. Ông là vị thần của cái chết và của âm phủ.

Hades giờ đây không còn là một nhân vật mà là một chốn, là vمương quốc mà Charos cai trị. Nhưng sự thay đổi đã giáng lên tên gọi của vị vua cũ ấy lại là sự thay đổi duy nhất trong quan niệm của người Hy Lạp về cõi âm ấy. Nơi đó vẫn được gọi là "âm phủ" (ὁ κάτω κόσμος hoặc ἡ κάτω γῆ), và thậm chí cái tên Tartarus (nay là τὰ Τάρταρα, thường đi kèm với cụm τῆς γῆς) đôi khi vẫn còn được nghe nhắc tới. Bản chất của chốn ấy cũng không hề thay đổi. Biệt hiệu của nó "lạnh buốt,"[99] κρυοπαγωμένος, gần như xuất hiện thường xuyên trong các bài ca dao hiện đại giống như từ tương đương κρυερός trong những lần Homer ám chỉ về cung điện của Hades, trong khi từ đầy hình ảnh ἀραχνιασμένος, "đặc quánh mạng nhện," lặp lại theo ý niệm từ εὐρωείς, "mục rữa," của Homer. Đó chính là vương quốc của Charos, và chính nơi đây ông đưa về những linh hồn con người mà ông đã cướp đi khỏi trần gian.

Nơi đây, sống cùng ông là người mẹ, một sinh linh, như một bài ca dao kể lại[180], còn đáng thương hơn cả ông, người đôi khi nài nỉ ông, khi ông chuẩn bị lên đường đi săn, hãy tha thứ cho những người mẹ có con nhỏ và đừng chia lìa những đôi tình nhân mới cưới. Ông cũng có một người vợ, Charóntissa hoặc Chárissa, người mà như chính cái tên đã ngụ ý, chỉ đơn thuần là bản sao nữ giới của ông chứ không mang bất kỳ nét tính cách độc đáo nào của riêng mình. Một người con trai của Charos cũng được nhắc đến trong các bài ca, người mà cho bữa tiệc cưới của hắn "ông tước đoạt mạng sống trẻ em thay cho cừu non và các cô dâu thay cho vật béo tốt[181]," và là người được giao phó những chiếc chìa khóa phụ của Hades[182]. Những đứa con nuôi cũng được tính là thành viên trong gia đình ông, nhưng đây lại là những kẻ mà ông đã mang đi từ thế giới này về tổ ấm của riêng mình[183]. Hộ gia đình ấy được hoàn thiện bởi con chó canh cửa ba đầu, dẫu rằng ký ức về nó vô cùng hiếm hoi.

Thế nhưng trong hai câu chuyện ở phần trước, chúng ta đã nhận ra Cerberus, và ngay cả hiện thân ít sức thuyết phục hơn được trình bày ở đó, hiện thân miêu tả nó là một con rắn ba đầu thay vì chó, cũng không phải là không có những dấu vết của truyền thống cổ đại. Người anh hùng muốn tiêu chuẩn hóa con quái vật phải vượt qua một khoảng nước — biển thay vì sông Styx — để đến được một hòn đảo nơi có hang ổ của con quái vật; và khi đã đến nơi, anh ta nhìn thấy "nhô ra từ một cái lỗ là ba chiếc đầu với đôi mắt lóe lên ngọn lửa và bộ hàm phả ra những tia lửa[184]." Đây chính là Cerberus không còn nghi ngờ gì nữa; và nếu câu chuyện gọi nó là "loài rắn" thay vì "chó," thì cả thần thoại lẫn nghệ thuật cổ đại đều phần nào minh oan cho sự miêu tả đó; bởi vì mẹ của nó được cho là Echidna, và bản thân nó cũng được tìm thấy với tạo hình có chiếc đuôi rắn cùng một vòng những con rắn quấn quanh cổ. Bản thân Schmidt dường như đã bỏ qua lời chứng của câu chuyện này và cả câu chuyện từ bộ sưu tập của von Hahn mà trong đó, như tôi đã chỉ ra, chúng ta có một bức tranh hiện đại về Cerberus[100] đang canh giữ vương quốc của Persephone; vì ông đã nhắc đến một số câu thơ đáng chú ý từ một bài hát mà chính ông từng nghe ở Zacynthos như một dẫn chứng độc nhất vô nhị về Cerberus, đồng thời đặt câu hỏi về tính xác thực của truyền thống ấy. Tuy nhiên, mọi nghi ngờ đã được xóa bỏ nhờ bằng chứng củng cố có trong hai câu chuyện đã được nhắc đến từ trước và bởi thực tế là một con chó ba đầu thuộc về Charos gần đây đã được một du khách nghe kể lại ở Macedonia[185]. Bản thân những câu thơ đó được đặt vào miệng của Charos:—

Ἔχω ὀχτρὸ ἐγὼ σκυλὶ, π’ ούλους μας μᾶς φυλάει,

κῂ ἄντας με ἰδῇ ταράζεταικὴ καὶ θέλει νά με φάῃ.

εἶναι σκυλὶ τρικέφαλο, ποῦ καίει σὰ φωτία,

ἔχει τὰ νύχια πουντερὰ καὶ τὴν ὠρὰ μακρύα.

βγάνει φωτιὰ ’φ’ τὰ μάτια του, ἀπὸ τὸ στόμα λάβρα,

ἡ γλῶσσα του εἶναι μακρυά, τὰ δόντια του εἶναι μαῦira[186].

“Ta có một con chó dữ, kẻ bảo vệ tất cả chúng ta, và khi nó nhìn thấy ta, nó cuồng nộ và sẵn sàng muốn nuốt chửng ta. Nó là một con chó ba đầu, và nó cháy rực như lửa; móng vuốt của nó sắc nhọn và đuôi của nó dài; từ đôi mắt nó phun ra ngọn lửa và từ miệng nó tỏa ra hơi nóng bừng bừng; lưỡi nó dài và hàm răng nó gớm ghiếc.”

Ít nhất ở đây, việc nhận ra Cerberus là điều không thể chối cãi; mọi chi tiết của sự miêu tả, ngoại trừ nét chạm khắc mang đậm tính hiện đại khiến Charos phải sợ hãi chính con chó của mình, đều hoàn toàn phù hợp với truyền thống cổ điển.

Đó chính là gia đình của Charos, theo như những gì có thể được chắp vá từ một vài lời ám chỉ tản mác; chân dung của chính ông lại càng biến hóa đa dạng hơn, tương ứng với việc có ngày càng nhiều nỗ lực ở khắp mọi nơi trên đất nước Hy Lạp nhằm phác họa lại hình bóng ấy. Đôi khi ông được miêu tả như một lão già, cao gầy, tóc bạc phơ và nét mặt khắc nghiệt; nhưng thường thì ông là một tráng sĩ cường tráng, với mái tóc đen nhánh như lông quạ hoặc óng ánh sắc vàng — giống như Hades thuở xưa đôi khi là κυανοχαίτης (mái tóc đen sẫm), đôi khi là ξανθός (tóc vàng) — kẻ cưỡi trên con chiến mã ô mã dọc theo các nẻo đường lớn hay lối mòn cô độc để tàn sát và gieo rắc họa vô đơn chí: "ánh nhìn của ông tựa chớp quang và khuôn mặt như ngọn lửa, bờ vai của ông tựa đôi ngọn núi song sinh và đầu ông sừng sững như ngọn tháp[187]." Y phục của ông thường đen tuyền như xứng danh bậc chúa tể âm phủ, nhưng đôi khi nó lại rực rỡ tựa mái tóc óng ả ánh dương của ông[188], bởi dẫu mang đến cái chết nhưng ông vẫn là một vị thần vô cùng hiển hách.

[101]

Chức năng của ông được định hình vô cùng rõ ràng. Ông viếng thăm trần thế này để bắt đi những kẻ đã mãn số, và giam giữ họ ở chốn âm phủ như trong một nhà tù mà dẫu có cố gắng đến đâu họ cũng chẳng thể tẩu thoát hay đánh cắp được chìa khóa. Nhưng tâm thế mà ông thực hiện những nhiệm vụ ấy lại thay đổi tùy theo việc người ta quan niệm ông là một thực thể tự do không chịu trách nhiệm trước bất kỳ ai hay chỉ đơn thuần là một bề tôi của Thiên Chúa tối cao. Đâu mới là quan niệm đích thực là câu hỏi mà đông đảo dân chúng vẫn chưa có được câu trả lời dứt khoát; và hệ quả là bản chất của Charos hoàn toàn phụ thuộc vào góc nhìn được ưa chuộng tại từng địa phương.

Những ai coi ông đơn thuần là kẻ hầu người hạ và là sứ giả của Chúa, thì chẳng gặp chút khó khăn nào trong việc dung hòa ông với khung cảnh Cơ Đốc giáo xung quanh; bởi vì, như tôi đã nói, người nông dân không hề phân rạch ròi giữa các yếu tố Cơ Đốc giáo và ngoại giáo trong tín ngưỡng của mình — những thứ hòa quyện vào nhau tạo nên một thứ đa thần giáo vô cùng phong phú. Chúng ta đã từng chứng kiến tên của Charos đi kèm với tiền tố "thánh"[189]; và mặc dù tước hiệu Cơ Đốc này hiếm khi được dành cho ông, nhưng tên của ông vẫn xuất hiện phổ biến trên những tấm bia mộ tại các nghĩa trang Cơ Đốc giáo. Tại Leonídi, nằm bên bờ biển phía đông bán đảo Peloponnese, tôi đã ghi lại được cặp câu đối sau:

καὶ μένα δὲν λυπήθηκε ὁ Χάρος νά με πάρῃ,

ποῦ εἴμουνα τοῦ οἴκου μου μονάκριβο βλαστάρι.

“Cả ta mà Charos cũng chẳng xót thương mà bắt đi, chính ta, bông hoa được ni nâng niu chiều chuộng bậc nhất trong mái ấm của mình.”

Cũng tương tự như vậy, trong các câu chuyện dân gian và ca dao, ông được khắc họa là đang hành sự đồng điệu với các Thiên thần và Tổng lãnh thiên thần, những đấng đôi khi gánh vác sứ mệnh đưa các sinh linh bé nhỏ về với vương quốc của ông[190]. Quả thực, một trong các tổng lãnh thiên thần là Michael, kẻ mà như chúng ta đã thấy ở trên đã hất cẳng Hermes, vị thần dẫn đường cho các linh hồn, và thâu tóm các chức năng của vị thần ấy — lại được giao phó chính xác những nhiệm vụ y hệt như Charos trong việc chuyên chở các linh hồn con người xuống âm phủ, đến nỗi trong cách nói thông tục của người dân, những cụm từ "hắn đang quần thảo với Charos" (παλεύει μὲ τὸ Χάρο)[191] và "hắn đang giằng co với một vị thiên thần" (ἀγγελομαχεῖ)[192] đều được dùng để chỉ một người đang hấp hối.

[102]

Quan niệm mang màu sắc Cơ Đốc giáo này về Charos không phải là không có sức ảnh hưởng trong việc làm dịu bớt những nét góc cạnh của bản chất vốn được gán cho ông trong dân gian. Những nhiệm vụ do thánh ý Thiên Chúa áp đặt lên vai đôi khi khiến ông chùng lòng, và ông sẵn lòng tha thứ cho những kẻ mà mình được phái đến để tước đoạt mạng sống. Một câu chuyện dân gian được kể lại với tôi thậm chí còn miêu tả ông như một người bạn của nhân loại:—

"Ngày xửa ngày xưa, có một cặp vợ chồng sinh được bảy người con nhưng tất cả đều chết yểu khi còn nhỏ. Đến khi đứa con thứ tám chào đời, người người cha bèn tìm đến một mụ phù thủy để hỏi xin cách làm sao có thể bảo toàn tính mạng cho đứa trẻ một cách tốt nhất. Bà ta bảo ông rằng những đứa trẻ trước đã chết là do ông đã chọn những người đỡ đầu không phù hợp, đồng thời căn dặn ông trong dịp này hãy ngỏ lời với người đầu tiên ông gặp dọc đường về nhà làm cha đỡ đầu cho đứa bé. Quả nhiên ông lên đường, và ngay lập tức chạm trán một kẻ lạ mặt đang cưỡi trên một con ngựa ô, bèn cất lời khẩn cầu người đó. Kẻ lạ mặt đồng ý, và lễ rửa tội được cử hành ngay tức khắc; nhưng vừa dứt lễ thì y đã biến mất mà chẳng buồn hé lộ dù chỉ một lời về danh tính của mình.

Mười năm trôi qua, đứa trẻ lớn lên khỏe mạnh và cường tráng. Rồi cuối cùng, người cha lại tình cờ chạm mặt vị khách lạ mặt thuở trước, bấy giờ liền trách cứ việc y đã vắng bóng lâu đến thế mà chưa từng một lần ghé qua thăm hỏi đứa con đỡ đầu. Lúc bấy giờ, kẻ lạ mặt mới đáp rằng: 'Tốt hơn cho ngươi là ta đừng đến lúc này và ngươi không phải biết danh tính của ta vào lúc này. Ta chính là Charos, và bởi vì ta là bạn của ngươi[193], nên ta đến để cảnh báo ngươi rằng những ngày tháng của ngươi nay đã cạn kiệt.' Ngay lập tức, Charos dẫn ông ta đến một hang động sườn núi, họ bước vào và đi tới một căn phòng nơi có rất nhiều ngọn nến đang cháy. Bấy giờ Charos mới cất lời: 'Hãy nhìn kìa, những ngọn nến này chính là sinh mệnh của con người, còn đằng kia là của ngươi và con trai ngươi.' Người cha liền đưa mắt nhìn, và ngọn nến của chính ông chỉ còn lại đúng hai inch, trong khi ngọn nến của con trai ông vẫn còn cao và cháy rất từ từ. Bấy giờ ông liền nài nỉ Charos hãy thắp thêm một ngọn nến nữa cho mình trước khi ngọn nến của chính ông lụi tàn, nhưng Charos đáp rằng điều đó là không thể. Ông lại tiếp tục nài nỉ vị thần ban cho mình thêm mười năm tuổi thọ trích từ quãng đời của con trai, bởi ông vốn là một kẻ nghèo khó, và nếu ông qua đời trước khi con trai kịp trưởng thành, người vợ góa bụa cùng đứa con mồ côi của ông sẽ phải chịu cảnh khốn cùng. Nhưng Charos đáp rằng: 'Dưới bất kỳ hình thức nào, độ dài của sinh mệnh đã được định đoạt đều không thể đổi thay. Dù vậy, ta vẫn sẽ chỉ cho ngươi cách làm sao trong hai năm[103] còn lại ngươi có thể làm giàu cho bản thân và để lại cơ ngơi sung túc cho vợ con. Ngươi sẽ trở thành một ngự y. Chẳng hề gì nếu ngươi chẳng biết tí gì về y thuật, bởi ta sẽ ban cho ngươi thứ kiến thức uyên thâm hơn cả dược liệu. Đôi mắt ngươi sẽ luôn rộng mở để nhìn thấy ta; và khi ngươi bước đến bên giường của một kẻ ốm đau, nếu ngươi nhìn thấy ta đang đứng ở đầu giường, hãy hiểu rằng kẻ đó chắc chắn phải chết, và hãy nói với những kẻ đã triệu ngươi rằng không một y thuật nào có thể cứu vãn được hắn; nhưng nếu ngươi nhìn thấy ta ở cuối giường, hãy biết rằng hắn sẽ bình phục; vì vậy, ngươi cứ việc cho hắn uống những viên thuốc vo bằng bánh mì nếu muốn, và hãy hứa sẽ chữa khỏi cho hắn.' Bấy giờ người đàn ông liền cảm tạ Charos, rồi quay gót trở về nhà.

Bấy giờ ngẫu nhiên có tiểu thư duy nhất của nhà vua lâm trọng bệnh, và toàn bộ các y sư lẫn pháp sư đều đã được triệu tập để chữa trị cho nàng, nhưng chẳng mang lại chút ích lợi gì. Đúng lúc đó, người thợ nghèo từng được Charos truyền dạy liền bước vào căn phòng nơi vị công chúa đang nằm, và kìa! Charos đang đứng ở cuối giường nàng. Ông liền truyền lệnh cho nhà vua hãy đuổi những y sư khác ra ngoài, bởi chỉ có mình ông mới có thể chữa lành cho nàng. Thế rồi chính ông trở về nhà, trộn bột mì với nước rồi quay lại trao cho ái nữ của nhà vua, và chẳng mấy chốc nàng đã hồi phục khỏi cơn bạo bệnh. Bấy giờ nhà vua ban cho ông một phần thưởng lớn, danh tiếng của ông lan đi khắp chốn, vô số người tìm đến với ông, và chẳng mấy chốc ông trở nên giàu có.

Cứ thế hai năm trôi qua, và vào thời điểm kết thúc quãng thời gian ấy, chính ông lại lâm trọng bệnh. Ông đưa mắt nhìn và thấy Charos đang đứng ngay ở đầu giường mình. Bấy giờ ông liền ra lệnh cho vợ mình xoay chiếc giường đi hướng khác, nhưng chẳng mang lại tích sự gì; bởi Charos vẫn đứng ở đầu giường, vươn tay tóm lấy mái tóc ông, và khi ông hé miệng kêu lên, Charos liền rút lấy linh hồn ông[194].

Một lần nữa, sự miễn cưỡng của Charos trong việc thi hành những sắc lệnh khắc nghiệt của Thiên Chúa lại được minh họa qua vô số bài ca dao. Thường thì đó là một tráng sĩ dũng cảm, một kẻ chăn cừu hay chiến binh, người yêu chuộng không gian khoáng đạt, chính là kẻ đã khơi gợi lòng trắc ẩn trong ông; bởi vì những cung bậc nuối tiếc mà Sophocles từng dệt nên giai điệu trong lời từ biệt của Ajax với ánh sáng mặt trời, với mái ấm ở Salamis, thậm chí với cả những dòng suối và mạch nước vùng đất Troia — nơi mang đến cái chết cho chàng — vẫn vang lên đầy trong trẻo và chân thực[104] trong cả những khúc ca dao hiện đại phát ra từ đôi môi của những chiến binh đang hấp hối. Đó chính là những lời trân châu cuối cùng của người anh hùng chống lại cường quyền (κλέφτης) Zedros:

“Vĩnh biệt nhé, đỉnh Olympus, giờ thì vĩnh biệt, và tất cả những đỉnh non ngàn,

Vĩnh biệt những đồn lũy hoang vu, những tán cây phong ngợp bóng,

Hỡi những mạch nước mát rượi, cùng những đồng bằng phẳng lặng thấp lè tè.

Ta xin cất lời từ biệt những chú diều hâu tung cánh[195], vĩnh biệt những cánh đại bàng hoàng gia,

Vĩnh biệt ánh dương ta yêu thương cùng ánh trăng soi rọi lấp lánh,

Thứ ánh sáng đã soi rọi lối đi để ta bước đi như một trang nam nhi xứng đáng[196].”

Những khúc ai ca ấy không hề lọt ngoài tai của Charos, bề tôi của Thiên Chúa, nhưng ông buộc phải làm ngơ trước những lời cầu xin một sự khoan hồng. Câu trả lời của ông vang lên dứt khoát và rành mạch, gần như sử dụng y hệt từng câu chữ trong mọi bản ballad[197],

δὲν ἠμπορῶ, λεβέντη μου, γιατ’ εἶμαι προσταμμένος,

ἐμένα μ’ ἔστειλ’ ὁ Θεὸς νὰ πάρω τὴ ψυχή σου.

“Ta chẳng thể rủ lòng khoan dung, tráng sĩ hỡi, bởi lệnh vua ban đã định,

Chính Chúa Trời đã phái ta đến nơi này, phái ta đến để tước đoạt linh hồn ngươi.”

Đôi khi, kẻ mang án tử sẽ tìm cách dụ dỗ Charos bằng đồ ăn thức uống, cốt để ngài ban cho vài giờ hoãn binh, nhưng trước những lời mời mọc hiếu khách ấy, ông vẫn vô cùng cứng rắn. Hoặc đôi khi nạn nhân của ông từ chối khuất phục trước tử thần "trong trạng thái không hề suy yếu hay bệnh tật" và thách thức ông tham gia một trận tài sức vận động viên, trong môn vật hoặc nhảy xa, nơi mà mỗi người sẽ đem linh hồn chính mình ra làm tiền cược. Và trước lời đề nghị đó, Charos đôi khi chấp thuận, bởi ông thừa biết mình sẽ là kẻ chiến thắng. Thế rồi họ kéo nhau ra "bờ sân đập lúa lát đá cẩm thạch," đấu trường của mọi môn thể thao nam nhi; và tại đó, người phàm có lẽ nhảy xa tới bốn mươi cubit, thế nhưng Charos vẫn vượt qua anh ta tới năm cubit; hoặc họ vật lộn cùng nhau từ bình minh cho đến hoàng hôn, nhưng ở hiệp đấu quyết định cuối cùng, Charos vẫn là kẻ chiến thắng. Quả thực từng có một người anh hùng nổi danh khắp chốn, người mà những chiến tích biến anh ta thành hiện thân của Heracles thời hiện đại ở Hy Lạp, đó là Digenes người Síp, người đã quần thảo với Charos suốt ba ngày đêm liền mà không hề bị khuất phục. Nhưng rồi "có một âm thanh cất lên từ Thiên Chúa và từ các Tổng lãnh thiên thần: 'Hỡi Charos, ta phái ngươi xuống trần không phải để tham gia những trận đấu vật, mà là để ngươi mang các linh hồn về cho ta[198].'" Và trước lời quở trách ấy, Charos liền hóa thân thành một chú đại bàng, sà xuống đỉnh đầu của người anh hùng và giật phăng lấy linh hồn anh ta.

[105]

Quan niệm mang tính ngoại giáo hơn và khác biệt hơn về Charos loại bỏ toàn bộ những nét tử tế và xót thương; và con người không hề tiếc lời bộc lộ sự căm ghét đối với ông. Ông là "kẻ hắc ám," "cay đắng," "đáng nguyền rủa" (μαῦρος[199], πικρός, στυγερός). Ông là vị bá vương tàn nhẫn của âm phủ, độc lập khỏi vị Chúa trên thiên đàng, có uy quyền ngang ngửa trong lãnh địa của riêng mình, nhưng lại đáng sợ hơn, bất dung hơn: bởi công việc của ông là cái chết và chốn ngự trị của ông là âm phủ. Từ nơi đó, ông xuất chinh tùy theo ý thích, tựa một tay thợ săn lên đường đi săn bắn. "Chống lại những vết thương do Charos giáng xuống, thảo dược chẳng có chút tác dụng gì, y sư chẳng thể chữa lành, và các vị thánh cũng chẳng thể chở che[200]." Mồi ngon của ông chính là linh hồn con người; "nơi nào hắn tìm thấy ba người, hắn bắt đi hai, và nơi nào tìm thấy hai, hắn bắt đi một, và nơi nào chỉ thấy độc một người duy nhất, hắn cũng tóm luôn người đó[201]." Đôi khi ông đang mở rộng cung điện của mình, và ông bắt những kẻ trẻ trung, cường tráng làm trụ cột; đôi khi ông đang sửa sang mái lều nơi mình cư ngụ, và dùng những bắp tay cuồn cuộn của các anh hùng làm cọc lều cùng những lọn tóc của các thiếu nữ tóc vàng làm dây thừng; đôi khi ông đang tạo dựng một khu vườn, và thu gom những đứa trẻ từ mặt đất để làm những đóa hoa cùng những chàng trai trẻ để làm hàng cây trắc bách diệp thon cao; hiếm hoi hơn, ông sắm vai một người làm rượu nho, và giẫm đạp con người trong bồn ép để dòng máu của họ biến thành thứ rượu vang đỏ rực của ông, hay ngược lại, ông mang theo chiếc liềm để gặt hái mùa màng nhân thế.

Nhưng phổ biến nhất, ông là vị tráng sĩ kiệt xuất trong mọi loại tài nghệ — cung thủ, đô vật, kỵ sĩ. Thuở nọ, một cô dâu từng khoác lác rằng nàng chẳng hề sợ hãi Charos, bởi những người anh em của nàng đều là trang nam nhi dũng cảm còn phu quân nàng là một anh hùng cái thế; thế rồi Charos xuất hiện và bắn một mũi tên về phía nàng, khiến nhan sắc nàng lụi tàn; mũi tên thứ hai rồi thứ ba, và ông quật ngã nàng xuống giường bệnh tử[202]. Rất nhiều lần trong niềm kiêu hãnh về sức mạnh, những tráng sĩ trẻ tuổi đã cười cợt Charos; để rồi sau đó ông tìm đến để tóm lấy kẻ cường tráng nhất trong số họ, và dẫu cho vị chiến binh có gồng mình vùng vẫy tựa trong một trận đấu vật, thì Charos vẫn chẳng hề mỏi mệt mà giành chiến thắng bằng cả thủ đoạn lẫn đường hoàng: bởi ông không phải là một đối thủ quang minh chính đại, mà là kẻ bất lương hơn cả những tên trộm cắp, xảo trá hơn cả đàn bà[203]: hắn túm lấy mái tóc đối phương và lôi tuột xuống âm phủ. Thậm chí ấn tượng hơn nữa là bức tranh về Charos trong hình hài một kỵ sĩ cưỡi chiến mã ô mã phi nước đại ra chiến trận[106], và chính quan niệm này đã khơi nguồn cảm hứng cho một trong những kiệt tác vĩ đại nhất của thi ca bình dân:—

Vì sao những ngọn núi lại sừng sững một màu đen tối và đượm buồn, vầng trán quấn chặt trong màn sương mờ tối tăm?

Phải chăng ngọn gió nào đang vùi dập chúng? phải chăng cơn bão nào đang quật thốc chúng?

Không, chẳng phải ngọn gió nào đang vùi dập chúng, cũng chẳng phải cơn bão nào đang quật thốc chúng;

Mà chính là đại vương Charos đang lướt qua, và những kẻ khuất mặt cùng đi theo ngài.

Ngài xua những thanh niên đi phía trước, ngài lôi kéo những cụ già theo phía sau,

Và vắt ngang bên yên cương của ngài là những đứa trẻ ngây thơ bất lực.

Lũ trẻ níu chặt và cất tiếng khóc lóc van xin ngài, các cụ già cất tiếng gọi đầy khẩn khoản:

"Hỡi Charos nhân từ, xin hãy dừng chân tại một xóm nhỏ nào đó, hãy dừng lại bên mạch nước mát lành;

Nơi ấy để các chàng trai được tung hòn đá, để các cụ già được nhấp ngụm nước trong,

Nơi ấy để những đứa trẻ thơ được đi hái những đóa hoa xinh xinh."

"Không, ta sẽ chẳng dừng chân tại xóm nhỏ nào đâu, cũng chẳng dừng bên mạch nước mát lành nào hết,

Kẻo những người mẹ ra đó gánh nước rồi sẽ nhận ra những đứa con thơ của mình,

Kẻo vợ và chồng lại hội ngộ nơi ấy để rồi chẳng còn cảnh biệt ly."

Đó chính là diện mạo mang đậm màu sắc ngoại giáo hơn của vị Charos thời hiện đại, một bạo chúa tuyệt đối trong lãnh địa của riêng mình chẳng kém gì Thiên Chúa trên thiên đàng, một bậc Ζεὺς ἄλλος[204] thực thụ y như Hades thuở xưa, nhưng lòng dạ sắt đá, điếc đặc trước mọi lời cầu xin, và lấy sự tàn nhẫn làm niềm vui.

Thoạt nhìn, Charos của Hy Lạp hiện đại có vẻ chẳng có điểm gì chung với Charon của Hy Lạp cổ đại ngoại trừ cái tên và một vài mối liên hệ với cái chết: và Fauriel, trong lời tựa cho bộ sưu tập ca dao dân gian của ông, đã đưa ra nhận định rằng trong trường hợp này, xu hướng thông thường của truyền thống đã bị đảo ngược, khi mà chính cái tên thì sống sót, trong khi các thuộc tính lại bị thay đổi[205]. Tôi không thể đồng tình với phán quyết này. Tôi nghi ngờ rằng vào thời cổ đại, sự thể hiện Charon trong văn học bị giới hạn hơn rất nhiều so với trong dân gian, và từ một kho tàng miêu tả tưởng tượng phong phú đa dạng chẳng kém gì những gì thấy được trong các bài ca dao hiện đại ngày nay, một khía cạnh của Charon đã được tầng lớp có học thức chấp nhận như là diện mạo chính thống và thời thượng. Trong văn học, Hades là bạo chúa của âm phủ, và đối với Charon thì chẳng thể tìm được chỗ đứng nào ngoài vị trí của một người chèo đò. Nhưng tôi nghĩ rằng đây chỉ là một trong số rất nhiều vỏ bọc mà Charon cổ đại từng được tưởng tượng qua lăng kính dân gian; bởi vì vào thời điểm hiện tại, những tàn tích của một quan niệm như thế là vô cùng nhỏ bé, bất chấp thực tế rằng vẫn còn tồn tại một phong tục lẽ ra phải giữ cho nó sống mãi — phong tục đặt một đồng xu vào miệng người chết.

[107]

Chỉ trong duy nhất một bài ca dao được ghi lại từ đảo Zacynthos, tôi mới tìm thấy hình ảnh đại diện văn học cổ xưa về Charon trong vai trò người chèo đò sông Styx được tái hiện một cách không thể nhầm lẫn. Dưới đây là bản dịch sát nghĩa:— "Băng qua con sông mà chẳng ai có thể lội qua, Charos đang đi tới, và một linh hồn ở trên bờ cất tiếng chào ngài. 'Hỡi Charos nhân từ, chúc ngài vạn thọ vô cương, người được yêu mến; hãy mang tôi đi cùng, mang cả tôi theo với ngài, mang tôi đi, hỡi Charos thân yêu! Tôi từng là linh hồn của một kẻ khốn khó, của một kẻ nghèo hèn và ăn mày; người đời bỏ mặc tôi bơ vơ và tôi đã chết vì thiếu đi dù chỉ một mẩu bánh mì lúa mạch. Chẳng một nghi thức cuối cùng nào họ dành cho tôi, họ chẳng cho tôi gì cả, hỡi linh hồn bơ vơ, thậm chí chẳng có lấy một đồng xu lẻ trong miệng để dâng lên ngài — kẻ đang mòn mỏi đợi chờ tôi. Con cái tôi nghèo khổ, nghèo khổ và không một chút hy vọng; chúng bơ vơ và nằm chết bất đắc kỳ tử chốn hoang vu, những linh hồn tội nghiệp. Chính ngài đã mang chúng đi, hỡi Charos nhân từ, chính ngài đã mang chúng đi, tôi đã tận mắt thấy khi bàn tay lạnh ngắt của ngài tóm lấy mái tóc chúng. Xin hãy mang cả tôi đi, hỡi Charos, hãy mang tôi đi, mang tôi đi, linh hồn tội nghiệp này; hãy đưa tôi sang bên đó, đưa tôi sang bên đó, chẳng còn ai khác đợi chờ ngài nữa đâu.' Cứ thế, linh hồn kẻ nghèo khó cất lời kêu khóc với ngài, và Charos đáp rằng: 'Lại đây nào, linh hồn kia, ngươi là kẻ lương thiện, và Thiên Chúa đã rủ lòng thương xót ngươi.' Bấy giờ ngài bồng lấy linh hồn ấy đặt lên bờ bên kia, rồi giương buồm phóng đi thật xa[206].

Trong một bài hát khác[207] thuộc cùng bộ sưu tập ấy, cũng xuất phát từ đảo Zacynthos, có thể vẫn còn vang bóng chút ký ức về truyền thống cổ xưa ấy. Trong đó, Charos sở hữu một chiếc thuyền ca-nô với những cánh buồm đen và mái chèo đen, ngược xuôi muôn nơi — từ đâu đến đâu thì không được kể rõ — chở đầy những chuyến hàng là người chết. Nhưng có lẽ hình ảnh này được mượn từ chuyện hàng hải; người nông dân Hy Lạp khó lòng có thể tưởng tượng ra một chiếc ca-nô hoạt động trên sông; những dòng sông trên đất nước họ hiếm khi đủ sức chuyên chở nổi dù chỉ là một chiếc thuyền nhỏ. Ngược lại, một chuyến hải hành trên biển, đặc biệt trong trí tưởng tượng của cư dân các hòn đảo, lại là phương thức tự nhiên nhất để ra đi đến một vùng đất xa xôi. Chắc chắn ẩn dụ đó bắt nguồn từ biển cả, trong một khúc điếu văn từ Zacynthos, nơi người tang chủ cất lời hỏi người đã khuất,

σὲ τὶ καράβι θὰ βρεθῇς καὶ ’σ τὶ πόρτο θ’ ἀράξῃς;[208]

“Trên con thuyền nào ngươi sẽ hiện diện và tại bến cảng nào ngươi sẽ cập bến?”

[108] Điều này cũng được Schmidt[209] quả quyết xem như một dư âm từ chuyến đò của Charon — có phần hơi bất hạnh; bởi vì câu thơ tiếp theo lại tiếp tục vang lên,

γιὰ νἄρθῃ ἡ μανοῦλα σου νά σε ξαναγοράσῃ,

“Để thân mẫu ngươi có thể đến và chuộc lại ngươi một lần nữa.”

Giờ đây, trong một bài điếu văn khác[210] cũng được Schmidt ghi nhận trên chính hòn đảo đó, ý tưởng này thậm chí còn được khai triển triệt để hơn: người mẹ cất tiếng kêu khóc với người chủ thuyền đang mang đứa con trai bé bỏng đã mất của bà đi xa rằng xin đừng bán nó, đồng thời đưa ra khoản tiền chuộc hậu hỗi cho nó; nhưng người đã khuất đáp lời khuyên bà hãy giữ lại báu vật của mình; "chẳng phải cho đến khi con quạ chuyển màu trắng phau và biến thành chim bồ câu, thì hỡi thân mẫu của con, người mới được phép trông ngóng con trở về." Rõ ràng hình ảnh này không hề được mượn từ chuyến đò chở thuê của Charon, mà từ một cuộc tập kích của bọn cướp biển chuyên bắt cóc con người để tòi tiền chuộc hoặc đem bán làm nô lệ. Trong cả hai bài điếu văn, cái tên Charos hoàn toàn không được nhắc đến trực tiếp, nhưng chắc chắn ngài được ngầm hiểu chính là tên thủ lĩnh của bọn hải tặc; bởi vì trong nhiều hơn một bài điếu văn ở Laconia và Maina, ngài được gọi một cách tường minh là κουρσάρος, tức hải tặc[211].

Như vậy, ở đây chúng ta lại bắt gặp thêm một diện mạo nữa của vị Charos hiện đại; nhưng về phần Charon trong vai trò người chèo đò thì chẳng hề có một ký ức chắc chắn nào ngoại trừ trong duy nhất một bài hát ở Zacynthos. Hơn thế nữa, ngoại trừ trong bài hát độc nhất đó, dòng sông của cái chết không hề được tưởng tượng như một rào cản không thể vượt qua; nó giống như dòng sông Quên (Lethe) hơn: chẳng cần đến người chèo đò nào để chuyên chở người chết sang bờ; mà người ta chỉ nhắc đến "những người thân yêu, những kẻ băng qua dòng nước và uống làn nước nơi đó, để rồi quên đi mái ấm cùng những đứa con thơ dại mồ côi[212]" — hệt như trên những vùng núi cao có "những mạch nước trong hang đá cẩm cạch, nơi bầy cừu hoang uống nước và chẳng còn nhớ gì về những chú cừu con của chúng nữa[213]." Chính hành động uống làn nước ấy, chứ không phải việc băng qua dòng sông, mới là thứ giải thoát người chết khỏi những ký ức đau thương: bức tranh ấy hoàn toàn khác biệt với hình ảnh một dòng sông không thể vượt qua nếu không có sự ân chuẩn từ người chèo đò.

[109] Sự lãng quên chung mà quan niệm cổ đại về Charon phải gánh chịu càng trở nên đặc biệt hơn, như tôi đã nói, trước sự tồn tại bền bỉ của một phong tục vốn từng gắn bó mật thiết với nó trong thời cổ đại. Tại các vùng Macedonia, Thrace và Tiểu Á, tập tục đặt một đồng xu nhỏ vào miệng (hoặc hiếm hơn là trên ngực) người chết vẫn đang thịnh hành[214], hoặc cho đến gần đây vẫn còn thịnh hành — thứ mà ở vùng ngoại ô Smyrna thực chất được gọi là τὸ περατίκι, tức tiền đò qua sông[215]. Tại quần đảo Cyclads và một số vùng đất liền Hy Lạp, bản thân tôi đã từng gặp những cụ già có thể hồi tưởng lại sự tồn tại của phong tục này: một hoặc hai thế kỷ trước, nó có lẽ rất phổ biến.

Nhưng có rất ít bằng chứng cho thấy đồng xu đó thường được dùng dành riêng cho Charos. Quả thực, Protodikos, nhân chứng cho sự tồn tại của phong tục ở Tiểu Á, khi viết vào năm 1860, đã khẳng định rõ ràng rằng đồng xu được thiết kế dành cho Charos trong vai trò người chèo đò; và cái tên "tiền đò" được đặt cho đồng xu tại địa phương phần nào củng cố cho tuyên bố của một tác giả mà tôi từng nhận thấy có vài điểm không chính xác trong một số vấn đề khác. Hơn nữa, một nhân chứng khác[216], cũng viết vào năm 1860, đã khẳng định rằng tại Stenimachos thuộc Thrace "cho đến tận một thời gian ngắn trước đây" đồng xu vẫn được đặt vào miệng người chết chính là dành cho Charos; và chẳng thể có bất kỳ hoài nghi nào về việc cách giải thích cổ điển của phong tục này đã tồn tại lâu đời ở Zacynthos, bằng chứng là lời than khóc của linh hồn kẻ nghèo khó trong bài ca dao được dịch ở trên,

’στερνὰ ἐμὲ δὲ μοὔδωκαν, δε μοὔδωκαν τσῆ καϋμένης,

μήτε λεφτὸ ’στὸ στόμα μου γιὰ σὲ ποῦ περιμένεις,

“Chẳng một nghi thức cuối cùng nào họ dành cho tôi, họ chẳng cho tôi gì cả, hỡi linh hồn bơ vơ, thậm chí chẳng có lấy một đồng xu lẻ trong miệng để dâng lên ngài (Charos) — kẻ đang mòn mỏi đợi chờ tôi.”

Thế nhưng Schmidt, người đã ghi lại những câu thơ này từ Zacynthos, lại nhận thấy rằng phong tục thực tế hầu như đã phai mờ tại đó. Quả thực, vào năm 1863, ông đã gặp một bà cụ tám mươi hai tuổi, người từ khi còn là một đứa trẻ đã biết đến tập tục đặt đồng xu đồng vào miệng người chết cũng như việc đặt một chiếc chìa khóa lên ngực người quá cố; nhưng về mục đích của đồng xu thì bà hoàn toàn không biết gì sất; còn chiếc chìa khóa thì bà tin rằng nó rất hữu ích trong việc mở cổng Thiên Đàng. Về phần tôi, dẫu từng nghe nhắc đến công dụng của đồng xu, tôi chưa từng thấy nó gắn liền với Charos bao giờ. Do đó, tôi nghiêng về quan điểm cho rằng tại hầu hết các nơi mà phong tục này đang hoặc gần đây vẫn được thực hành, nó đã tồn tại vượt qua cả ý nghĩa ban đầu mà thời cổ đại từng gán cho nó.

[110] Nhưng liệu cách giải thích cổ điển có phải là một chỉ dấu chính xác về nguồn gốc của phong tục hay không? Liệu nó có đơn thuần là một lời giải thích nguyên nhân học (aetiological) cho một tập tục mà ý nghĩa của nó thậm chí từ thời kỳ đầu đã bị lu mờ theo dòng chảy thời gian? Có một điều ít nhất đã được minh định chắc chắn bởi ngành nghiên cứu văn hóa dân gian hiện đại, đó là một tập tục hoàn toàn có thể trường tồn bất chấp không chỉ ý tưởng đã sinh ra nó mà thậm chí cả những ý tưởng sai lầm nối tiếp nhau do chính con người tạo ra trong quá trình nỗ lực giải thích nó một cách vô vọng. Do đó, khi Lucian[217] tuyên bố rằng "họ đặt một đồng obol vào miệng người chết làm tiền đò cho người chèo phương ngang," rất có thể ngài đang ghi lại một cách giải thích muộn màng và không chính xác về một phong tục vốn đã tồn tại từ trước khi vai trò người chèo đò được đặt ra cho Charon. Hơn nữa, nếu cách giải thích đó về cơ bản chỉ là một sự bị đặt trong văn học, thì việc ý nghĩa nguyên thủy của phong tục vẫn được lưu truyền giữa những tầng lớp dân chúng bình dân mù chữ ở các vùng hẻo lánh là điều hoàn toàn tự nhiên. Có rất nhiều trường hợp ở Hy Lạp hiện đại mà những lời giải thích khác nhau cho cùng một phong tục được đưa ra ở các địa phương khác nhau. Do đó, bất chấp thực tế rằng chỉ có duy nhất một quan điểm tìm được chỗ đứng trong văn học cổ điển, thì việc giả định rằng một quan điểm cổ xưa hơn vẫn có thể được truyền lại cho đến các thế hệ gần đây thông qua các truyền thống truyền miệng thuần khiết hơn của bình dân hoàn toàn không phải là một điều vô lý.

Chỉ có đúng một lần duy nhất, từ một người bạn đồng hành ở quần đảo Cyclads, tôi mới thu nhận được chút lời giải thích nào đó về công dụng của đồng xu: εἶναι καλὸ γιὰ τἀερικά[218], "nó hữu ích vì những sinh linh trên không." Nghe có vẻ khá mơ hồ, nhưng ngoài những cử chỉ thể hiện sự bất định ra, tôi chẳng thể nặn ra thêm được điều gì khác. Theo quan điểm của ông ta, liệu đồng xu có hữu ích như một thứ phí tổn phải trả cho "những sinh linh trên không" trong hành trình của linh hồn từ thế giới này sang thế giới khác, hay như một thứ bùa chú chống lại các cuộc tấn công từ những sinh thể đó? Đó là câu hỏi mà tôi đã ráo riết tìm kiếm câu trả lời từ ông ta, nhưng hoàn toàn vô ích. Về phần mình, tôi không thể xác định được câu nói ẩn ý sâu cay đó thực sự mang nghĩa nào trong hai ý nghĩa ấy. Ý nghĩa đầu tiên sẽ hoàn toàn phù hợp với một tín ngưỡng địa phương hiện nay, giá như người cung cấp thông tin cho tôi chỉ rõ một loài sinh vật trên không cụ thể nào đó được tin là có thu thuế đối với những linh hồn đang ra đi; nhưng tôi sẽ quay trở lại vấn đề này ở một phần sau của chương này[219]. Tuy nhiên, cách giải thích thứ hai của những từ ngữ ấy, bất kể người nói có dụng ý theo nghĩa đó hay không, lại cung cấp thứ mà bằng các bằng chứng khác sẽ chứng minh là chìa khóa dẫn đến nguồn gốc của phong tục.

[111] Một đồng xu thường được sử dụng như một thứ bùa hộ mệnh chống lại các thế lực tà ác[220]. Trong trường hợp này, nó có lẽ từng là một thứ bùa phòng hộ chống lại các linh hồn trên không. Vậy tại sao nó lại thường được đặt vào miệng người chết? Tôi cho rằng không phải vì cái miệng là một chiếc túi tiện lợi, như người ta dường như mặc định trong cách giải thích cổ điển của phong tục, mà bởi vì cái miệng chính là lối vào của cơ thể. Những người nông dân ngày nay tin tưởng mãnh liệt chẳng kém gì con người thời đại Homer rằng chính qua vòm miệng là nơi linh hồn thoát ra khi chết. Cụm từ μὲ τὴ ψυχὴ ’στὰ δόντια, "với linh hồn nằm giữa những kẽ răng," là cách nói bình dân tương đương với "hơi thở cuối cùng"; và trong các bài ca dao, ý tưởng tương tự cứ lặp đi lặp lại không ngừng; "hãy hé miệng ra," Charos nói với một kẻ chăn cừu mà ông đã quật ngã trong trận đấu vật, "hãy hé miệng ra để ta mang linh hồn ngươi đi[221]." Giờ đây, lối đi mà linh hồn dùng để thoát ra, tự nhiên cũng chính là lối đi mà các linh hồn tà ác (hoặc linh hồn người chết[222], nếu nó quay trở lại) sẽ dùng để xâm nhập; và như chúng ta sẽ thấy sau đây, trong tầng lớp nông dân tồn tại một nỗi sợ hãi vô cùng hiện hữu rằng một xác chết có thể bị tà ma xâm chiếm và ngự trị. Rõ ràng, vòm miệng — nơi linh hồn có thể thâm nhập — chính là vị trí thích hợp để đặt đồng xu bảo vệ.

Cách giải thích mà tôi đề xuất nhận được sự hậu thuẫn từ một số điểm trong tập quán hiện đại. Ở Macedonia, theo một nhà du khách[223], đồng xu từng được đặt vào miệng xác chết vốn là tiền xu Thổ Nhĩ Kỳ và mang một đoạn kinh văn từ kinh Koran — một sự tô vẽ thêm cho phong tục ngoại giáo vốn bị xem là cái cớ để giới giáo chủ can thiệp[224]. Giờ đây rõ ràng, nếu đồng xu tại vùng đó được thiết kế như một khoản tiền công chi trả cho các dịch vụ của Charos trong vai trò người chèo đò, thì chẳng có chút động cơ nào để ưu tiên chọn một đồng xu mang khắc một dòng chữ từ thánh kinh Hồi giáo cả — thứ chắc chắn không thể làm tăng giá trị của đồng xu trong mắt Charos: nhưng nếu bản thân đồng xu được sử dụng như một thứ bùa chú chống lại tà ma, thì đoạn kinh văn thánh thiêng ấy hoàn toàn có thể được coi là đóng góp không nhỏ vào các đặc tính phòng hộ của nó. Như vậy, bản chất của loại đồng xu cụ thể được lựa chọn cho thấy rằng bản thân đồng xu ấy cũng có thời điểm được nhìn nhận như một thứ bùa chú; hơn nữa, đây là một thứ bùa chú có tác dụng hoàn toàn chính xác[112] như chiếc chìa khóa từng được đặt lên ngực người chết trên đảo Zacynthos; bởi vì chiếc chìa khóa chắc chắn không được thiết kế, như cách thông tin của Schmidt muốn diễn tả, để mở cổng Thiên Đàng, mà giống như bất kỳ mảnh sắt nào khác, ban đầu nó phục vụ cho mục đích xua đuổi tà ma. Việc sử dụng đồng xu cũng như chìa khóa trên hòn đảo đó chỉ nhằm mục đích đảm bảo chắc chắn lại càng chắc chắn hơn.

Thêm vào đó, tại nhiều vùng trên đất nước Hy Lạp, nơi tập dụng sử dụng đồng xu này không còn được biết tới nữa, người ta đã tìm ra một vật thay thế mang đậm tính Cơ Đốc giáo hơn. Trên đôi môi của người chết được đặt hoặc là một mẩu bánh thánh từ lễ Thánh Thể[225], hoặc phổ biến hơn là một mảnh gốm nhỏ — có thể là mảnh vỡ từ bất kỳ chiếc bình đất nung nào — trên đó khắc dấu thánh giá cùng với dòng chữ Ι. Χ. ΝΙ. ΚΑ. ("Chúa Giê-su Ki-tô khải hoàn") ở bốn góc[226]. Tại đây, việc lựa chọn các từ ngữ được khắc dường như tự bản thân nó đã ngụ ý mục đích bịt chặt vòm miệng người chết lại trước sự xâm nhập của tà ma; và như một bằng chứng cuối cùng cho lý thuyết của mình, tôi nhận thấy rằng ở cả Chios[227] và Rhodes[228], nơi một hình thức mang tính Cơ Đốc giáo toàn phần hoặc một phần đang thịnh hành, thứ bùa chú được sử dụng được người dân hiểu một cách rành mạch là một phương thức phòng ngừa quỷ dữ xâm nhập vào xác chết và làm nó sống lại. Hơn thế nữa, việc nhắc đến con quỷ trong bối cảnh này không nên được xem là bằng chứng cho thấy cách giải thích của người dân Chios và Rhodes về phong tục không mang tính cổ xưa. Tôi sẽ có thể chứng minh trong một chương sau rằng ý tưởng về một con quỷ xâm nhập vào xác chết chỉ là phiên bản Cơ Đốc giáo của niềm tin ngoại giáo về khả năng một xác chết được tái hoạt hóa bởi chính linh hồn[229].

[113] Nhưng vẫn còn một biến thể khác của phong tục, nơi không có đồng xu nào, không có biểu tượng Hồi giáo hay Cơ Đốc giáo[230] nào được sử dụng, mà là một loại bùa chú có các thuộc tính ma thuật từng nổi tiếng từ lâu trước thời Mahomet, lâu trước thời Chúa Ki-tô, và có lẽ từ lâu trước khi tiền tệ được biết đến ở Hy Lạp. Lại một lần nữa một mảnh gốm được sử dụng, nhưng biểu tượng được đóng dấu lên đó lại là hình hình học , "ngôi sao năm cánh" của truyền thuyết ma thuật trung cổ. Ở Hy Lạp, nó hiện được biết đến với tên gọi τὸ πεντάλφα, nhưng ngoài việc nó đóng vai trò như một thứ bùa chú[231], người dân chẳng có gì để nói thêm về các thuộc tính của nó. Trong ma thuật thời trung cổ và có lẽ thậm chí trong ma thuật thời kỳ đầu hơn của châu Âu và phương Đông, đây là một trong những hình vẽ phổ biến nhất, đôi khi xuất hiện như con dấu của Solomon, đôi khi như ngôi sao dẫn đường cho các nhà thông thái đến Bethlehem, đôi khi, với màu sắc đen tuyền, như một biểu tượng của nguyên lý cái ác, và tương ứng, với màu trắng, như biểu tượng của nguyên lý cái thiện. Nhưng dẫu cho hình vẽ này đã được các pháp sư của nhiều quốc gia và nhiều thời đại biết đến, chẳng có lý do gì để cho rằng người Hy Lạp đã học được nó từ thời gian gần đây hay từ cácủng tộc khác: bởi vì nó cũng được người Hy Lạp cổ đại biết đến, những người từng ghi nhận trong số các thuộc tính dễ hiểu hơn của nó thực tế là năm đường thẳng cấu thành nên nó có thể được vẽ mà không cần nhấc bút khỏi giấy. Những người theo trường phái Pythagoras, những người gọi nó là πεντάγραμμον[232], được biết là đã gán cho nó một giá trị huyền bí nào đó. Do đó, có một khả năng hợp lý rằng biểu tượng này đã được lưu truyền ở Hy Lạp như một bùa phép ma thuật — vì chúng ta đã chứng kiến có bao nhiêu phương pháp ma thuật khác vẫn tồn tại — kể từ thời Pythagoras. Chúng ta không thể thấu suốt xa hơn thế; tuy nhiên — vixere fortes ante Agamemnona (từng có những anh hùng vĩ đại trước cả Agamemnona), và đã có những bậc thầy khoa học huyền bí trước cả Pythagoras. Vậy phải chăng chính ông là người đầu tiên khám phá ra giá trị huyền bí của hình vẽ này? Hay ông chỉ đơn giản tiếp nhận và giải thích theo cách riêng của mình một biểu tượng từ rất lâu trước ông đã được ban cho những quyền năng ma thuật? Có phải chăng chính hình vẽ này, được khắc trên một mảnh vò nát nào đó, từ lâu trước khi tiền tệ xuất hiện đã cung cấp một thứ bùa chú sẵn có hơn nhằm bảo vệ xác chết khỏi sự chiếm hữu của tà ma, hay đúng hơn, vào những ngày đó, khỏi sự tái hoạt hóa bởi linh hồn? Ai mà dám chắc chứ? Niềm tin ấy — thứ đã tìm thấy biểu hiện hiện đại của nó trong việc khắc các văn bản Cơ Đốc giáo hoặc Hồi giáo lên những đồng xu hoặc mảnh gốm phòng hộ và dùng chúng để chặn lại cánh cửa vòm miệng dẫn vào xác chết — chắc chắn mang tính nguyên thủy đủ để có thể bắt nguồn từ thời kỳ tiền sử mờ mịt nhất.

[114] Nếu giả thuyết của tôi về nguồn gốc của phong tục là chính xác, thì chính sự tình cờ của việc một đồng xu thường được sử dụng như chiếc bùa hộ mệnh đã khiến cho sự liên kết cổ điển của phong tục với Charos hình thành; và một khi được gạt bỏ khỏi mối liên kết này, quan niệm dân gian về Charos trong thời cổ đại sẽ dễ dàng được nghiên cứu hơn.

Việc văn học miêu tả ông dưới vỏ bọc duy nhất của một người chèo đò chỉ là một sự phát triển tương đối muộn màng. Các nhà thơ thời kỳ đầu hoàn toàn chẳng biết gì về ông dưới bất kỳ tính cách nào. Tài liệu văn học đầu tiên nhắc đến ông rõ ràng nằm trong bài thơ Minyad, một sử thi có niên đại đáng ngờ nhưng không phải là cổ đại, trong đó hai câu thơ đề cập đến chuyến hành trình xuống âm phủ của Theseus và Pirithous có đoạn: "Tại nơi đó thực sự con thuyền mà người chết bước lên, chính là con thuyền mà lão Charon trong vai trò người chèo đò đang điều khiển, họ chẳng thể tìm thấy tại bến neo đậu của nó[233]." Đây chính là những câu thơ mà Pausanias tin rằng Polygnotus đã dựa vào đó khi phác họa hình tượng Charos trong tác phẩm miêu tả nổi tiếng của ông về âm phủ tại Delphi. Kể từ đó trở đi, đây trở thành hình mẫu chính thống duy nhất về Charos trong cả văn học lẫn nghệ thuật. Euripides và Aristophanes trong vô số đoạn văn[234] đều đồng loạt tuân theo khuôn mẫu đó, và các họa sĩ vẽ bình hoa tang lễ cũng tỏ ra trung thành không kém.

Nhưng có những bằng chứng cho thấy đây không phải là quan niệm dân gian về Charos, hoặc ít nhất không phải là toàn bộ quan niệm đó. Vẫn xuất hiện những cụm từ (và có lẽ từng phổ biến trong thời cổ đại) ngầm ngụ ý một quan niệm rộng lớn hơn về quyền hạn và chức năng của Charos. "Cánh cửa của Charos" (Χαρώνειος θύρα[235] hoặc Χαρώνειον[236]) là lối đi mà các tù nhân bị kết án được dẫn ra để thi hành án tử. "Cầu thang của Charos" (Χαρώνειος κλίμαξ[237]) là lối đi mà các bóng ma trong kịch nghệ bước lên sân khấu, tựa như thể họ đang xuất hiện từ cõi âm. Tương tự như vậy, trong cách nói thông tục của dân gian, rất nhiều hang động mang vẻ ngoài gớm ghiếc, đặc biệt là những nơi chứa đầy khí độc hại — Χαρώνεια βάραθρα[238], σπήλαια[239], ἄντρα[240] — đều được gán cho Charos. Cuối cùng, Χαρωνῖται chính là cách dịch của Plutarch[241] đối với từ Orcini trong tiếng Latinh, biệt danh được gán cho những kẻ thấp kém mà Caesar đã đưa lên Viện Nguyên lão. Những cách sử dụng này chỉ ra một quan niệm dân gian về Charos rộng lớn hơn những gì nghệ thuật và văn học cổ điển hé lộ, đồng thời minh oan cho sự đồng nhất đơn giản của Suidas giữa Charon với cái chết[242].

[115] Hơn thế nữa, một lần nọ trong tác phẩm của Euripides, bất chấp sự tuân thủ nghiêm ngặt đối với nét đặc trưng văn học quy ước của Charon, một thoáng góc nhìn của tư tưởng dân gian vẫn phản chiếu qua nhân vật Thần Chết (Θάνατος) và vai trò mà vị thần này đảm nhận trong vở Alcestis. Đầu tiên, trong cuộc cãi vã giữa Apollo và Thần Chết về số phận của Alcestis, những từ ngữ sau đã xuất hiện: "Hãy mang nàng đi và bước con đường của ngươi; bởi ta chẳng biết liệu mình có nên thuyết phục ngươi hay không"; để rồi Thần Chết đáp rằng: "Thuyết phục ta tước đoạt mạng sống những kẻ mà ta buộc phải ra tay ư? không, ta được giao phó chính việc này" (τοῦτο γὰρ τετάγμεθα[243]). Liệu đây có phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên thuần túy khi mà trong ca dao hiện đại, khi một kẻ mang án tử tìm cách thuyết phục Charos ban cho một khoảng thời gian hoãn binh, ông lại đáp rằng: "Không đâu, tráng sĩ hỡi, ta chẳng thể; bởi lệnh vua ban đã định"? Chính từ "được giao phó," προσταμμένος, dạng thức hiện đại của προστεταγμένος, đã lặp lại chính từ ngữ được Euripides đặt vào miệng của Thần Chết. Thứ hai, Thần Chết xuất hiện trong diện mạo của một tráng sĩ, hệt như cách Charos thường xuất hiện nhất trong các bài ca dao hiện đại; ông mang gươm bên mình[244], và chính qua trận đấu vật[245] mà Heracles đã đánh bại và buộc ông phải nhả ra con mồi. Liệu đây lại là một sự trùng hợp ngẫu nhiên nữa chăng? Hay Euripides, trong quá trình nhân cách hóa Thần Chết, đang tận dụng nét tính cách vốn được gán cho Charos trong dân gian? Quả thực trong một câu thơ, người ta có cảm giác như nhà thơ suýt quên mất rằng mình cũng đang không sử dụng cái tên bình dân; bằng không thì chẳng có lời ngụy biện nào cho sự kém tinh tế của việc để cho Thần Chết giáng xuống cái chết cả[246]. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi người chép sách của một[247] trong những bản thảo còn sót lại của vở Alcestis đã vô cùng ấn tượng trước sự giống nhau giữa Thần Chết với Charos theo như những gì hắn biết, đến mức hắn đã thay đổi tên của nhân vật kịch tính cho phù hợp.

Trong tập thơ tuyển tập Anthology một lần nữa, Charon xuất hiện nhiều lần[248] hành động trong một dung lượng rộng lớn hơn nhiều so với vai trò người chèo đò; hệt như trong các bài ca dao hiện đại, ngài thực sự tóm lấy con người và mang họ đi đến cõi âm. Một bài epigram đặc biệt đáng chú ý vì dường như được gợi ý bởi một phân đoạn trong vở Alcestis. "Liệu có còn con đường nào để Alcestis có thể bước đến tuổi già hay không?" Apollo cất lời hỏi; và Thần Chết đáp: "Chẳng có đâu; bản thân ta cũng phải tận hưởng những đặc quyền của mình chứ." "Dù vậy," Apollo nói, "ngươi cũng sẽ chẳng nhận được nhiều hơn một linh hồn duy nhất đâu" — dù là ngay bây giờ hay sau này. Và tương tự như vậy là bài epigram trích từ Anthology, ngoại trừ việc Thần Chết được gọi thẳng tên là Charon.[116] "Hỡi Charon không bao giờ biết thỏa mãn, vì sao ngươi lại cướp đi mạng sống của Attalus khi tuổi đời còn trẻ một cách vô ích thế? Chẳng phải hắn sớm muộn cũng là của ngươi sao, nếu hắn qua đời khi tuổi đã xế bóng?"

Rõ ràng, dường như Euripides từng biết đến một quan niệm dân gian về Charon khác với truyền thống văn học và nghệ thuật đã kết tinh thành diện mạo chính thống, nhưng thay vì phá vỡ các quy ước bằng cách đưa Charon lên sân khấu với tư cách nào khác ngoài người chèo đò, ông đã phải nhờ cậy đến một hình thức nhân cách hóa cái chết mang tính chất thuần túy nhân tạo.

Nhưng quan niệm về Charon trong vai trò chúa tể của cái chết thậm chí còn có thể được truy nguyên xa hơn cả thời đại của Euripides. Hesychius khẳng định rằng tước hiệu Ἀκμονίδης[249] từng được chia sẻ bởi hai vị thần, Charon và Uranus. Do đó, Charon, với tư cách là con trai của Acmon và là em trai của Uranus, có niên đại sớm hơn tận hai thế hệ thần linh so với chính Zeus, và thuộc về trật tự các vị thần thời kỳ Pelasgic cổ đại. Vậy phải chăng Charon từng là vị thần của cái chết giữa lòng cộng đồng dân cư Pelasgic cổ đại của Hy Lạp, từ trước cả khi cái tên Hades hay Pluto được phát minh hoặc du nhập? Vâng, nếu sự củng cố từ một nguồn gốc Pelasgic khác, người Etruscan, được tính là có trọng lượng. Trên một di tích của người Etruscan xuất hiện hình ảnh vị thần của cái chết kèm theo dòng khắc ‘Charun’[250]; và nhân vật tương tự cũng thường xuyên được khắc họa trên các bình đựng tro cốt, quan tài đá và bình hoa[251]. Thường thì cánh cửa của cõi âm xuất hiện ngay phía sau ngài; hoặc là ngài đang xuất chinh để tìm kiếm con mồi, hoặc ngài chuẩn bị bước vào đó cùng với một nạn nhân đang đứng sát bên cạnh, bàn tay siết chặt trong bàn tay của người vợ hoặc người bạn mà kẻ đó đang cất lời từ biệt[252]. Về ngoại hình, ngài thường là một lão già râu ria (dù một kiểu hình trẻ trung hơn cũng được biết đến) mang theo rìu hoặc búa tạ, và hiếm hoi hơn là cả gươm giáo, thứ vũ khí ngài dùng để truy đuổi con người và tước đoạt sinh mạng họ[253]. Trên thực tế, vị thần Charun của người Etruscan tương ứng vô cùng sát sao với vị Charos của người Hy Lạp hiện đại từ chức năng cho đến cả tên gọi. Sự trùng hợp này chỉ cho phép duy nhất một lời giải thích. Người Hy Lạp ngày nay chắc chắn đã thừa hưởng ý tưởng của họ về Charos từ những tổ tiên có mối liên hệ mật thiết với người Etruscan và đối với họ, Charon chính là vị thần của cái chết — kẻ đã đến để tóm lấy linh hồn con người và mang họ đi về lãnh địa của mình ở chốn âm phủ. Những tổ tiên này không thể là ai khác ngoài chính cộng đồng dân cư Pelasgic nguyên thủy của Hy Lạp. Vào thời cổ đại, quan niệm nguyên thủy về Charon đã tạm thời bị lu mờ. Hades đã thâu tóm dây cương quyền lực ở cõi âm; và một truyền thuyết văn học — thứ giới hạn Charon trong công việc của một người chèo đò — đã trở nên thịnh hành, lấn át hoặc đúng hơn là tạm thời đè bẹp quan niệm cổ xưa hơn. Nhưng phiên bản này, có vẻ như, chưa từng hoàn toàn thống trị trí tưởng tượng của quần chúng dân gian, và đối với những người bình dân Hy Lạp từ kỷ nguyên Pelasgic cho đến tận ngày nay, Charon vẫn luôn là một tráng sĩ chiến binh nhiều hơn là một người chèo đò, và trang bị của ngài là rìu, gươm hoặc cung tên thay vì một cặp mái chèo. Người ta có thể học hỏi được nhiều điều hơn về chân dung thực sự của Charon thời cổ đại từ văn hóa dân gian hiện đại hơn là từ tất cả những lời ám chỉ trong văn học cổ điển.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 5 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.