Triệu Dung nhanh nhẹn cuối xuống, xốc Văn Bình lên vai, chạy như bay xuống cầu thang, vào ca-bin. Chàng đặt bạn nằm ngay ngắn lên giường rồi trở lên boong.
Đội cứu hỏa của pháo đài ZZ đang hoạt động ráo riết. Những vòi ròng đua nhau phun tuyết thán khí vào đống lửa cao ngất. Một toán nhân viên mặc y phục đặc biệt bằng ma-thạch trắng toát đã tiến sát phi cơ, khi ấy chỉ còn là đống sắt vụn méo mó khủng khiếp.
Hạm trưởng đầu trần, vai khọm xuống, có vẻ già thêm 10 tuổi, đang đứng điều khiển cuộc cấp cứu. Thấy Triệu Dung, ông lấy mù soa lau mồ hôi, miệng buông ra 3 tiếng bi thảm:
- Thật không ngờ!!
Triệu Dung chỉ đống lửa:
- Có cứu ai được không?
Hạm trưởng lắc đầu:
- Chưa biết. Nhưng theo tôi nghĩ thì hy vọng rất mỏng manh. Vì lửa cháy rất nhanh và rất lớn. Vã lại, còn tiếng nổ...
- Tiếng nổ do thùng xăng hay là...?
- Không phải do thùng xăng. Vì nếu là thùng xăng thì không thể long trời, lở đất như vậy được. Tôi chắc là trên phi cơ có chất nổ.
- Chất nổ do nhà bác học mang theo hay là chất nổ do đối phương bí mật bỏ vào?
- Phải điều tra tường tận phải trả lời dứt khoát được. Trên nguyên tắc, các nhà bác học hoạt động thường ngày với chất nổ. Tuy nhiên, mỗi lần lên phi cơ, họ đều được yêu cầu thận trọng. Mỗi khi có chất nổ, tôi đều ra lệnh dùng trực thăng đặc biệt để vận chuyển.
- Như vậy thì chắc chắn có bàn tay phá hoại của đối phương rồi. Phi cơ đáp xuống tận nơi mới nổ, phải không hạm trưởng?
- Phải. Thoạt tiên, tôi tưởng phi cơ nổ trên không trung. Nhưng tôi đã hỏi lại nhân viên kiểm soát hạ cánh. Phi công đã thi hành đúng chỉ thị của phòng kiểm soát, và đã lái máy bay đúng vào phi đạo. Khi bánh xe vừa chấm xuống tàu thì nổ.
- Nghĩa là địch đã gài bom nơi bánh xe?
- Tôi chưa dám đoan quyết. Thứ nhất là đoan quyết do địch gây ra. Thứ hai là đoan quyết bom được gắn vào bộ phận đáp xuống. Song nếu ông muốn tôi đưa ra một lời phỏng đoán không chính thức thì tôi xin nói rằng vụ nổ này được tổ chức một cách vô cùng chu đáo.
Hạ thấp giọng, hạm trưởng nói:
- Hấu hết, các chuyên viên của pháo đài và đặc phái viên CIA đều có mặt trên phi cơ nầy. Tôi mang trên vai một trách nhiệm quá nặng nề. Tôi lại không phải là chuyên gia điều tra. Hy vọng ông sẽ cố gắng giúp tôi. Dầu sao...
Triệu Dung ngắt lời:
- Ông đã báo cáo lên Bộ Tư Lịnh chưa?
Hạm trưởng bâng khuâng nhìn đám mây xanh ngắt lơ lững trên vòm trời bát ngát:
- Rồi. Có lẽ Trung Ương đã phúc đáp. Mời ông về ca-bin với tôi.
Triệu Dung lặng lẽ theo sau hạm trưởng, hai tay chắp sau đít.
Một viên phụ tá đến trước mặt hạm trưởng, đứng lại, mặt ướt sũng mồ hôi và than đen, giọng hổn hển:
- Thưa hạm trưởng, đám cháy đã được dập tắt.
Hạm trưởng hỏi:
- Còn việc cấp cứu?
- Thưa, đang tiếp tục. Hầu hết đều thiệt mạng.
Triệu Dung xen vào:
- Người đàn bà có bị thiệt mạng không?
Viên phụ tá đáp:
- Thưa, tôi chưa biết rõ. Song, tôi không tin bà còn sống. Vì tất cả đều cháy ra than. Sau này phải phân chất mới có thể xác định được.
Hạm trưởng ngoắt tay:
- Phi hành đoàn?
- Thưa, khi phi cơ lâm nạn, nhân viên phi hành bấm nút cho ghế bắn ra ngoài. Có ba người, thì hai bị tử thương vì đụng vào mảnh thép nhọn. Còn người thứ ba thoát chết.
- Song, bị thương nặng?
- Vâng. Thân thể bị cháy xém, và dường như thần kinh hệ bị va chạm.
- Tỉnh hay mê?
- Thưa, mêY sĩ đang tận tình chăm sóc.
Triệu Dung lại xen vào:
- Nhân viên phi hành sống sót này hiện đang được điều trị tại đâu?
- Thưa, trong phòng hồi sinh.
Phòng hồi sinh là một ca-bin được trang bị dụng cụ máy móc y tế tối tân, trong bịnh viện của mẫu hạm. Nghe nói đến phòng hồi sinh, Triệu Dung nhăn mặt:
- Không được. Yêu cầu ông mang bịnh nhân đi nơi khác an toàn hơn.
Viên phụ tá không hiểu, hỏi lại:
- Thưa, mang đi đâu ạ?
Triệu Dung buông thõng:
- Đi đâu, tùy ý, nhưng không được mang tới phòng hồi sinh. Chẳng hạn, mang bịnh nhân vô ca-bin của hạm trưởng.
Viên phụ tá đưa mắt hỏi ý kiến hạm trưởng. Hạm trưởng gật đầu, vẻ mỏi mệt hiện rõ trên mặt:
- Được. Đưa ngay vào phòng tôi. Và cử người võ trang canh gát. Hai người, nghe chưa? Không cho ai được đến gần, ngoại trừ y sĩ và nhân viên an ninh.
- Tuân lịnh.
Viên phụ tá rảo xuống cầu thang xoắn ốc bằng thép mạ kền bóng loáng.
Hạm trưởng nói với Triệu Dung, giọng thán phục:
- Nếu ông không nhắc, tôi cũng không nghĩ ra. Thường lệ, tôi rất bình tĩnh, ngay cả khi con tàu do tôi chỉ huy bị oanh tạc cơ của địch vây kín, hoặc bị thủng nát, sửa soạn chìm xuống biển sâu, tôi vẫn thản nhiên như không. Thế mà lần nầy, tinh thần tôi hoàn toàn bị lung lạc. Có lẽ vụ nổ phi cơ chỉ là giai đoạn đầu.
Triệu Dung chậm rãi đáp:
- Tôi cũng nghĩ như hạm trưởng.
- Vì vậy, ông sợ người hạ sát nhân viên phi hành đoàn còn sống sót phải không?
- Phải. Nếu là sự phá hoại, nhất là phá hoại đại qui mô, đối phương phải bịt miệng nhân viên phi hành nầy. Vã lại, tôi có linh tính... Linh tính là đối phương đang có mặt trên mẫu hạm.
Hạm trưởng đứng sững, mặt tái mét:
- Ông nói sao? Nhân viên của địch đang có mặt trên mẫu hạm của tôi?
Triệu Dung nhún vai:
- Vâng.
Hai người đã về đến phòng hạm trưởng. Tứ phía đã được canh gác cẩn thận. Một nhân viên chờ sẵn với cái phong bì lớn màu vàng. Hạm trưởng ký giấy nhận, rồi đóng cửa ca-bin.
Triệu Dung ngồi xuống bên. Hạm trưởng mở tủ sắt, lấy ra cái máy dịch mật điện nhỏ xíu. Trong vòng hai phút đồng hồ, bức điện được dịch xong.
Nội dung như sau:
"Trung ương yêu cầu hạm trưởng tăng cường tối đa biện pháp an ninh trên mẫu hạm.
Dặng Phượng Hoàng chờ tôi. Giờ đến, nội ngày nay, sẽ báo sau.
Hoàng"
"Phượng Hoàng" là bí danh của Triệu Dung trên mẫu hạm. Hạm trưởng không biết tên thật của chàng và chàng cũng không biết tên thật của hạm trưởng. Kể ra, nếu hạm trưởng hỏi, Triệu Dung cũng nói, vì hạm trưởng là nhân viên DIA, cơ quan điẹp báo của Ngũ Giác Đài. Là chuyên gia hóa trang, Triệu Dung còn biết hạm trưởng không luống tuổi như mái tóc hoa râm và những nếp nhăn trên trán, và ở đuôi mắt tố cáo. Song, có lẽ vì thói quen kín miệng nghề nghiệp, chàng vẫn lặng thinh.
Hạm trưởng bật lửa, đốt mảnh giấy dịch bức điện ra than. Phụ tá só 3 bước vào:
- Thưa, công tác cấp cứu đã hoàn tất.
Hạm trưởng hất hàm:
- Tất cả đều chết?
- Vâng. Trừ phụ tá hoa tiêu đang mê man. Theo lịnh, y đã được chở từ phòng hồi sinh xuống khu ZA và hiện đang ở ca-bin bên cạnh.
- Khi nào bịnh nhân có hy vọng tỉnh lại?
- Thưa, tôi chưa hỏi y sĩ.
Hạm trưởng ra hiệu cho Triệu Dung. Chàng theo hạm trưởng sang ca-bin kế cận. Đặc biệt glà ca-bin này trống trải, không kê đồ đạc, dầu là đồ đạc bằng kim khí gắn vào vách tàu như thường lệ. Ở một góc, chỉ có một cái giường sắt nhỏ, bên trên một người nằm thiếp, đắp mền trắng.
Hai người vào thì y sĩ đứng dậy, trút ra tiếng thở dài khe khẽ.
Giật mình, hạm trưởng hỏi:
- Hết hy vọng?
Y sĩ gật đầu:
- Vâng.
Cử chỉ thận trọng, Triệu Dung tiến lại gần giường. Nạn nhân nằm ngữa, mắt lim dim, miệng mím lại, mặt cháy xém một bên, nước nhờn còn chảy lòng dòng. Linh tính nghề nghiệp báo cho chàng biết là viên phụ tá hoa tiêu đã chết trăm phần trăm, không phép lạ nào của loài người có thể giúp y hồi sinh nữa.
Tuy vậy, linh tính nghề nghiệp lại đánh thức hồi chuông báo động thần bí trong lòng Triệu Dung. Chàng đứng thẳng người, ngắm khuôn mặt tái mét.
Rồi chàng kéo tuột tấm mền trắng che đến cổ xuống. Sự thật đã xuất hiện rõ ràng như ban ngày: luồng nhỡn tuyến võ sĩ nhu đạo tuyệt luân vừa khám phá ra một vết bầm nhỏ xíu, chỉ nhỏ bằng nửa đầu que diêm là cùng. Vết bầm này nằm giữa đường thẳng từ nhân trung xuống ức, trên cuống họng thở, nhu đạo gọi là huyệt kachikaké.
Huyệt kachikaké là tử huyệt. Kẻ lão luyện chỉ cần vung ngón tay điểm vào là nạn nhân mạng vong trong chớp mắt.
Nghĩa là viên phụ tá hoa tiêu đã bị hạ sát. Hung thủ phải là võ sĩ nhu đạo cừ khôi. Nguyên nhân của vụ hạ sát rất dễ hiểu: hung thủ không muốn nạn nhân sống sót để trình bài một phần sự thật.
Nhưng hung thủ là ai?
Triệu Dung ngước đầu nhìn y sĩ. Đó là một người quá tứ tuần, dáng dấp đậm đà, vẻ hiền hậu - hiền hậu đến nỗi gần thành chất phát - nổi bật trong tia mắt chậm chạp. Tuy không phải là nhà tướng số, Triệu Dung có biệt tài quan sát diện mạo để phăng ra bề sâu tâm can. Chàng không thể nào lầm được: y sĩ của mẫu hạm chỉ là một nhân viên chuyên môn tận tụy, một người chồng gương mẫu, thích ăn ngon, thích tiêu khiển như mọi người đàn ông tứ tuần khỏe mạnh khác trên trái đất, nhưng không thể là kẻ giết người chớp nhoáng.
Và lại, lối đi bàng bạch, cái gật đầu nặng nề, và nhất là bàn tay trắng xanh, mềm nhũng như bàn tay con gái cấm cung - vì Triệu Dung đã có lần nắm chặt tay khiếng y sĩ nhăn nhó như nỡm ăn gừng - không phải là võ sĩ phi thường của cấp đai đen nhu đạo.
Tóm lại, y sĩ không phải là hung thủ. Song y sĩ đã theo bịnh nhân từ trên boong xuống khu ZA tất phải nhớ mặt, nhớ tên những kẻ đến gần. Sự kiện này sẽ giúp chàng phăng ra bí mật nhanh chóng.
Triệu Dung há miệng định hỏi, songlại nín thinh. Chàng nhận thấy bất lợi, tốt hơn giả vờ ngu xuẩn. Lặng lẽ, chàng đáp mền lên mặt xác chết. Rồi hỏi:
- Vụ giải phẫu tốt đẹp không, thưa y sĩ?
Y sĩ đáp:
- Xong rồi, hoàn toàn khả quan. Lúc nầy, bà ấy đã tỉnh. Theo lời ông dặn, tôi đã yêu cầu ban an ninh canh gát chu đáo.
Triệu Dung quay laị phía hạm trưởng:
- Xin lỗi, tôi cần về ca-bin một lát.
Dọc đường, chàng phập phồng lo ngại. Tuy hành lang không lấy gì làm dài, chàng có cảm tưởng là đi hàng 5, 10 phút chưa tới. Thật ra, ca-bin của chàng ở giữa hành lang, hầu như đối diện với phòng hạm trưởng. Khu ZA này được coi là cấm địa, không ai được bén mảng tới, ngoại trừ các phụ tá tin cậy của hạm trưởng, và y sĩ điều trị, các nhân viên khác phải xuất trình giấy phép đặc biệt.
Vậy mà Triệu Dung vẫn nóng ruột khác thường. Chàng cảm thấy ngu ngốc vì đã lừa đánh Văn Bình, để rồi mang xuống ca-bin. Mục đích của chàng là chế ngự sự xốc nổi của Văn Bình. Nếu đối phương lẻn vào ca-bin, lợi dụng chàng vắng mặt, Văn Bình còn bất động mà hạ độc thủ thì trọn đời chàng sẽ mang hối hận ghê gớm.
Mừng rỡ xiết bao, Văn Bình vẫn còn nguyên. Khi Triệu Dung xô cửa ca-bin thì Văn Bình đang ngồi trên ghế, xoay lưng ra ngoài. Nghe tiếng động, dĩ nhiên chàng phải nghe, vì tay chàng rất thính. Văn Bình không buồn ngoảnh lại.
Mùi thuốc Salam quyện lên thơm ngát. Triệu Dung đứng trên ngưỡng cửa, nhìn mớ tóc phiến loạn trùm xuống nửa gáy Văn Bình. Lẻ ra, Z.28 phải yết kiến thợ cạo từ nửa tháng trước, song chàng hẹn lần, khất lữa không đi. Đối với người khác thì tóc dài lỏm chỏm làm khuông mặt trở nên dữ tợn hoạc đểu cáng, nhưng Văn Bình lại thích hợp cả tóc ngắn lẫn tóc dài. Mớ tóc ngắn tạo cho chàng vẻ rắn rỏi của người chiến binh hồ hải ba sương một nắng. Khi để tóc dài, chàng lại biến thành nhà thơ luôn luôn trầm mặt, suy tư.
Văn Bình gạt tàn thuốc lá, giọng nhỏ nhẹ:
- Chào anh.
Triệu Dung giật bắn người:
- Anh. Té ra anh đã biết là tôi.
Vẫn không quay lại, Văn Bình nói:
- Tôi chờ anh từ lâu. Lúc anh ở đầu hành lang, tôi đã nghe rõ tiếng chân. Anh có lối đi đặc biệt, không đời nào tôi lầm được.
- Anh đã khỏe hẳn chưa?
- Cám ơn anh.
- Vạn bất đắc dĩ...xin anh bỏ lỗi.
Đột nhiên, Văn Bình phá lên cười:
- Vậy, tôi cũng xin anh bỏ lỗi một thể.
Triệu Dung nhìn bạn, ngơ ngác:
- Ồ, anh đánh lừa tôi. Anh không ngất, mà tôi cứ tưởng... Lạ thật.
- Anh đinh ninh làm tôi ngủ đi 10,15 phút chứ gi? Anh quên rằng trong thời gian ở Đông-kinh, tôi đã học Ninjitsu. Giỏi Ninjitsu thì đạm mũi gươm vào cổ cũng không trầy da, huống hồ điểm huyệt. Tôi chưa đạt đến trình độ cao siêu nầy, nhưng ít ra cũng chịu nổi một phát atémi hạng nhẹ.
- Trời ơi!!
- Dạo nầy, anh hay la trời như Nguyên Hương. Không khéo anh trở thành đàn bà mất. Nếu tôi không lầm, tính tình anh đã thay đổi hoàn toàn.
- Có lẻ anh nói đúngThay đổi hoàn toàn vì sau nhiều năm sống cô đơn, tôi bắt đầu cảm thấy lạnh lẽo. Nhưng thôi, chuyện tầm phào trong lúc này không tiện. Ông Hoàng sắp đến...
- Tôi biết, tôi biết... Nhưng trước khi bàn đến tương lai, hãy cứu xét hiện tại. Tôi không muốn đặt câu hỏi mà muốn tự anh nói ra, vì dầu sao, tôi cũng còn hy vọng...
- Như Luyến ấy à?
- Phải.
- Cũng như anh, tôi đang cố gắng hy vọng.
- Người ta chưa tìm được xác nàng?
- Không. Không tìm được xác ai hết. Tất cả đều tan thành than. Vả lại, phần lớn đã rớt xuống biển hoặc bay tản mát dưới sức mạnh của chất nổ.
- Nói một cách cụ thể: nàng đã chết.
Triệu Dung im lặng không đáp.
Văn Bình xoay ghế về phía Triệu Dung đứng. Từ cặp mắt sáng rực của chàng tóe ra nhiều tia lửa soi mói, dữ tợn, tưởng chàng có thể dùng lửa trong mắt đốt cháy được ca-bin bằng thépChàng từ từ rút điếu Salem trong túi ra, đua lên mũi ngửi, giọng buồn buồn:
- Đây là thuốc Salem của nàng. Nàng đặt riêng để tặng tôi. Quỳnh-Loan làm dữ, ông Hoàng phải lưu đày Như Luyến qua Tây bán cầu. Tuy vậy, nàng vẫn lén lút gởi thuốc lá về. Khốn nạn, nàng mầy mò từ Ba-Tây lên tận Bắc-Mỹ, tìm tới tận xưởng ché tạo thuốc Salem, thửa một loại đặc biệt. Ông Hoàng cũng thửa thuốc đặc biệt cho tôi, nhưng còn thua thuốc của Như Luyến một trời, một vực. Cụ già lẩm cẩm có khác Như Luyến đã mất nhiều ngày giờ trong phòng thí nghiệm để trộn chất thuốc Salem với một thứ lá thuốc Virginia, loại nhỏ và lùn. Nàng tự tay ủ lá, thái nhỏ ra, rồi đưa cho hãng Salem...Tội nghiệp. Đây là điếu Salem cuối cùng của nàng.
Văn Bình mân mê điếu thuốc có cái lọc trắng trong bàn tay run run, giọng lạt hẳn đi:
- Có lẽ tôi loạn trí, anh ạ.
Triệu Dung kéo ghế lại gần bạn:
- Hừ, trong đời ai chẳng có lúc đau khổ. Con người nổi tiếng có khối óc điện tử và trái tim bằng sắt như tôi mà cũng đau khổ ghê gớm, nữa là... Nhiều khi vào phòng ông Hoàng, tôi phải đứng yên, không dám động mạnh, vì anh biết không? Mắt ông Hoàng ươn ướt... Theo tôi, tất cả đều do định mạng. Cuộc đời của chúng ta cũng do định mạng an bài. Biết đâu, lát nữa, anh sẽ phải khóc tôi. Còn tôi, biết đâu, sẽ phải khóc anh...
Văn Bình thở dài:
- Tôi cũng muốn lý luận như anh, nhưng từ bao năm nay, tôi đã lý luận như vậy hàng chục, hàng trăm bận rồi. Lần nầy, đầu óc tôi rối beng, tôi không thể lý luận thêm nữa. Vì tôi biết là giả tạo. Trong quá khứ, tôi đã tìm cách đánh lừa lương tâm, đánh lừa tình cảm bản thân. Anh Dung ơi, tôi chán ngấy cái nghề điệp báo tàn bạo này rồi. Giờ đầy, không mãnh lực nào trên thế gian có thể giữ tôi lại nữa.
- Anh từ chức ư?
- Chưa biết.
- Từ chức sao được? Đang còn ông Hoàng, còn sở, còn anh, chị, em. Còn nhiệm vụ?
- Trước kia, mỗi lần định ra đi, tôi đều nghĩ đến ông Hoàng, đến sở, đến anh, chị, em, đến nhiệm vụ. Vì vậy, tôi chỉ dám nán lại Vạn-Tượng 10 tháng rồi phải lao đầu vào cuộc sống phiêu lưu. Nhưng bây giờ thì mọi việc đã trở thành vô vị. Hoàn toàn vô vị đối với tôi.
- Anh đi đâu?
- Chẳng đi đâu cả.
- Trời, anh điên rồi.
- Thì tôi đã bảo là điên mà anh chưa chịu tin.
- Anh chẳng đi đâu thì định làm gì?
- Cũng chẳng định làm gì. Có lẽ tôi phải chết, anh ạ.
- Ồ, nếu anh muốn tự tử thì chưa điên chút nào. Vì kẻ muốn tự tử thường rất sáng suốt.
- Để tôi kể lại chuyện này anh nghe. Lâu lắm, tôi không thích lênh đênh trên tàu, vì mỗi lần ra khơi, tôi lại nhớ tới lần ôm xác một người đàn bà đẹp nhảy xuống nước.
- Luz?
- Phải, Luz. Nàng chết vì tôi. Tôi hối hận mãi về cái chết của nàng. Lần này đến lượt Như Luyến. Cũng vì tôi mà nàng chết.
Văn Bình bâng khuâng đứng dậy. Giọng chàng vụt trở nên rắn rỏi và sắc như dao chém đá:
- Dầu sao, tôi cũng phải tìm ra. Tôi phải trả thù... Rồi sau đó, tôi sẽ...
Hạm trưởng vừa tiến vào phòng. Không để ý đến vẻ mặt khổ não của Văn Bình, ông nói:
- Trong vòng một giờ đồng hồ nữa, ông Hoàng sẽ tới mẫu hạm. Bây giờ, xin mời hai ông lên phòng thí nghiệm.
Triệu Dung hỏi:
- Để làm gì hạm trưởng?
Hạm trưởng đáp:
- Trong mật điện, ông Hoàng dặn tôi nói lại là hai ông phải vào ngay phòng làm việc của bà Như Luyến. Mặt khác, công việc sửa soạn cho đại tá Văn Bình lên đường với chiếc tàu ngầm bỏ túi đuợc hoãn lại vô hạn định.
Văn Bình bỏ điếu Salem nhầu nát vào túi áo trên;
- Thì đi.
Không khí trên boong làm chàng tỉnh táo. Mùi ét xăng cháy còn đượm khét bầu không khí yên lặng xế trưa. Mặt biển vẫn chạy thẳng lắp đến tận chân trời xanh biếc. Hàng không mẫu hạm nguyên tử rập rình trên hải phận Nam-Việt bát ngát.
Hạm trưởng giải thích:
- Khu chúng ta ở được đặt là khu ZA, tức là cấm khu. Khu làm việc của các nhà bác học là khu ZB, cũng là cấm khu, tuy nhiên thể thức canh phòng và kiểm soát ở đó còn chặt chẽ hơn khu ZA một bật. Lên xuống chỉ có một thang máy riêng, ngày đêm đều có đội an ninh túc trực gác với súng máy đạn lên sẵn. Không ai được vào ZB, kể cả nhân viên phụ tá thân cận của tôi.
Thang máy mở ra. Trước mặt ba người là một hành lang rộng, sạch sẽ, ngăn nấp, kền bóng loáng, nền tàu không tìm ra một hột bụi. Sạch sẽ, ngăn nắp là phương châm sinh hoạt của mọi tàu biển. Tuy nhiên, trên hàng không mẫu hạm ZZ, sự sạch sẽ và ngăn nắp đã tiến tới trình độ khác thường, khiến Văn Bình không ngăn được sửng sốt và thán phục.
Hạm trưởng chỉ tay về cuối hành lang:
- Phòng giấy của bác sĩ Như Luyến ở về hướng nầy. Ca-bin của các nhà bác học đều gồm hai căn khít nhau, phía trước làm văn phòng, phía sau để ở.
Hai người gác cao lớn, đeo súng tiểu liên, rập chân chào hạm trưởng.
Cửa ca-bin không được gắn khóa thông thường mà là loại khóa điện tử tối tân chỉ được dùng trong một số ngân hàng Mỹ, và Tổng hành dinh Trung ương tình báo ở Langley. Loại khóa điện tử này gồm một lỗ mắt thần nhỏ xíu, và tròn xoe. Nó nhìn thấy người đứng trước cửa, và truyền hình vào cho một bộ óc IBM tí hon, nhưng vô cùng tinh vi. Bộ óc tức khắc ra lịnh cho ổ khóa sửa soạn mở.
Chỉ sửa soạn nhưng chưa mở. Vì đương sự còn phải lên tiếng cho tai điện tử nghe. Nếu đúng là tiếng chủ nhân, hoặc tiếng người quen đã được bộ óc nghe một lần, và được chủ nhân bảo đảm thì ổ khóa sẽ reo "tách" nhẹ nhàng, cánh cửa ca-bin bằng thép dầy mở ra êm như ru.
Tấm thép cửa được chế tạo theo một công thức hóa học cơ khí đặc biệt, bom nặng một trăm kí nổ bên cũng không suy suyển. Ca-bin cũng được chế tạo theo một kế hoạch riêng: vách tuờng chỉ đuợc gắn hờ vào thân tàu, dưới nền phòng có nhiều bánh xe, khi động đụng, Như Luyến bấm nút trong phòng-nút này hoàn toàn bí mật, chỉ riêng nàng và hạm trưởng được biết-căn phòng thép bất khả xâm phạm sẻ tách khõi hàng không mẫu hạm, chạy ra ngoài hành lang. Căn phòng có thể nổi lềnh bềnh trên mặt biển, mặc dầu rất nặng. Sở dĩ ca-bin của Như Luyến và của các nhà bác học khác trên pháo đài ZZ được trang bị máy móc lạ lùng, vì nơi đó cất nhiều hồ sơ, tài liệu bi mật.
Hạm trưởng áp người vào cửa sắt, mắt nhìn chăm chú vào lỗ mắt thần, lớn bằng đồn xu bẹt. Vừa nhìn, hạm trưởng vừa lên tiếng:
- Tôi là hạm trưởng, yêu cầu mở cửa.
Văn Bình cầm quá nắm, toan giật ra. Hạm trưởng vội giữ tay chàng lại:
- Chờ... Quả nắm này không phải dùng để mở cửa đâu. Vì cửa đóng mở hoàn toàn tự động. Nó được lắp vào cửa để đánh lừa người ta, hơn nữa để đề phòng trường hợp - một trường hợp chắc chắn không thể xẩy ra - óc điện tử lầm lộn, mở cửa cho người lạ vào. Anh bước vào thì đạn thuốc mê sẽ bắn ra tới tấp, và trăm phấn trăm anh phải té ngã trong khoảnh khắc, và máy vô tuyến truyền hình sẽ nhìn thấy anh...
Hạm trưởng ngưng bặt.
Trong một phút say sưa, hạm trưởng suýt quên mình là ông già mái tóc muối tiêu, lưng còng, nếp răng loạn xạ trên trán, chứ không còn là chàng thanh niên khôi ngô, có vợ trẻ măng, ở bên kia bờ biển Thái-Bìnhn và cũng khoái sống hoang toàng như điệp viên bán trời không văn tự Z.28. Hạm trưởng đã thân mật gọi Văn Bình bằng "anh" thay vì tiếng "ông" nghiêm trang thường lệ.
Hiểu ý, Triệu Dung đỡ lời:
- Chúng mình đều là đồng nghiệp, và đều xấp xỉ tuổi nhau. Gọi nhau bằng "anh", thân mật hơn. Hạm trưởng cho phép nha?
Hạm trưởng cười:
- Vâng.
Nói đoạn, hạm trưởng lấy bàn tay xòe ra, bịt lỗ mắt thần lại, rồi mở ra, cất tiếng:
- Yêu cầu mở cửa, và tắt hệ thống ZBER nấy lại.
Rồi quay về phía Văn Bình, giải thích, giọng vui vẻ:
- Trong trưởng hợp cầm lộn quả nắm cửa, hệ thống bắn đạn thuốc mê bị báo động, thì ta phải che mắt thần một phút, rồi lên tiếng lần nữa. Bộ óc IBM sẽ khám phá ra, tuy nhiên, ta phải chờ đúng 300 giây, nghĩa là 5 phút đồng hồ, ổ khóa tự động mới chịu mở ra.
Văn Bình:
- Làm gì mà phải đợi những 5 phút?
Hạm trưởng đáp:
- Hồi mới nhận chức chỉ huy trên mẫu hạm nầy, tôi cũng thắc mắc như anh. Những con toán khó khăn và phiền toái nhất, bộ óc IBM đặc biệt này chỉ giải đáp trong vòng 30 giây là chậm nhất. Chẳng qua, chúng phải chờ 5 phút là vì biện pháp trừng phạt. Máy điện tử trừng phạt 5 phút đứng mỏi chân ngoài cửa để từ đây trở đi khỏi táy máy. Đúng hơn, công ty chế tạo đã đạt ra lối trừng phạt lạ lùng nầy.
Văn Bình lại hỏi:
- Hệ thống ZBER là hệ thống bắn đạn thuốc mê, phải không anh?
Hạm trưởng gật đầu;
- Phải. Như anh đã biết. Z là tên của pháo đài nổi. B là tên khu vực trên tàu. Vòn ER là tên dụng cụ. Dụng cụ phòng thủ đều bắt đầu bằng chử E. Như ER là súng bắn đạn thuốc mê, ES là đại bác bắn đạn sa mù mỗi khi muốn ngụy trang mẫu hạm, không cho phi cơ lạ bay ngang qua, và lén chụp hình. Và như EQ là súng bắn tia laser. À, tôi quên chưa báo anh biết mẫu hạm này là con tàu thứ nhất trên thế giới được trang bị súng bắn tia laser. Tuy súng laser còn ở trong thời kỳ thí nghiệm, phải chờ nhiều năm nữa mới được hoàn bị, nó cũng đã là một vũ khí lợi hại. Nó co thể xuyên qua thân phi cơ, một cách quá dễ dàng như lưỡi dao đâm vào bơ vậy. Phi cơ chỉ bị tia laser xuyên qua một lần là đủ rơi xuống rồi, không cần phải sử dụng đại bác phòng không hoặc khu trục cơ phải cất cánh để tham dự không chiến nữa.
Cửa ca-bin reo lên một âm thanh êm ái rồi mở ra. Văn Bình có cảm giác như mùi thơm da thịt của Như Luyến đang thoang thoảng đâu đây.
Là ngươi đàn ông giàu kinh nghiệm, chàng đã biết phân biệt giữa hàng trăm mùi hương da thịt khác nhau. Thật vậy, đàn bà, nhất là đàn bà đẹp, cũng như bông hoa - vả lại, nhà thơ muôn thuở cũng đã ví đàn bà với bông hoa biết nói kia mà... đều có hương vị riêng. Nếu hoa thược dược thơm hắc, hoa quỳnh thơm lan man, hoa lê-dơn thơm kín hở, thì đàn bà cũng vậy, có những làn da thơm như suốt đời sức nước hoa đắt tiền, như vừa ở bồn tắm sửa tươi bước ra, như thoa xà-bông quế... Sau khi tắm, mùi thơm giai nhân mới có sắc thái độc đáo, có người thơm quyến rũ, như cơ thể toàn là phấn Elizabeth Arden, ngửi phải là muốn ôm chầm lấy, ngĩ đến cảnh thần tiên phản phất mùi rượu Uýt-ky trong hộp đêm thượng lưu thoát y vũ, nhưng lại có người chỉ thơm nhẹ nhỏm, thơm dịu dàng, thơm e lệ, trên mình như có mùi kẹo chuối, mùi va-ni loãng, hoặc mùi bạc-hà... và phần nhiều mùi thơm khác thường này chỉ xuất hiện trên làn da trinh nữ, tâm hồn và thể xác còn trong sạch, tinh khiết như tờ giấy hoa tiên ngày Tết chưa viết chữ.
Mùi thơm của da thịt Như Luyến, Văn Bình không thể nào quên được, dầu ở chân trời góc biển, hoặc dầu thời gian đã biến chàng thành ông già lụ khụ. Thật vậy, Như Luyến đã gieo vào lòng chàng rất nhiều kỷ niệm sâu xa. Đàn bà một con thường đẹp nổi tiếng, Như Luyến lại đẹp một cách xuất phàm. Hơn nữa, nàng lại am tường bí quyết tạo lập hạnh phúc lứa đôi. Vì dầu sao, nàng đã có hai đời chồng, Túc Lăng và Đoàn Trung, cả hai đều là nhà bác học, mê mải chai lọ trong phòng thí nghiệm mà xao lãng báu vật nhan sắt, hoặc thiếu bản lãnh để làm chủ kho tàng vệ nữ, độc nhất vô nhị...
Văn Bình muốn dừng lại trên ngưỡng cửa để hít hương thơm kỳ dị này vào buồng phổi.
Nhưng chàng phải vẹo người sang bên. Một bóng đen từ trong phòng tối lao vút ra một cách nguy hiểm.
Triệu Dung thét lên:
- Văn Bình.
Song Văn Bình đã kịp thời tránh được đòn thứ nhất. Nhưng đòn thứ hai đã ào tới.