Thu Thu ngủ, nhưng ông Hoàng phải thức, mặc dầu ông ở trên đất nhà, giữa sự bảo vệ của những dụng cụ điện tử và nhân viên hùng hậu. Ông phải thức để theo dõi từng giờ, từng phút những biến chuyển trên khắp thế giới.
Ông nhẩm đọc bản dịch bức mật điện do nhân viên của Sở từ Mạc Tư Khoa gởivề:
"Bản dịch mật điện nhận được hồi 12g5, giờ Sài Gòn của Z. 754.
Trân trọng phúc trình là cách đây hai hôm, thi thể bác sĩ H. nhà khoa học phát minh Tia sáng giết người, được khai quật cho luật y khám nghiệm. Cuộc giải phẫu diễn ra trong bệnh viện riêng của Smerch tại Mạc Tư Khoa.
Tin này được nhà chức trách Xô Viết giữ kín. Không báo nào đăng tin, kể cả tờ Sự Thật, và thông tấn xã Tát, trong đó, bác sĩ H. có nhiều bạn hữu.
Tôi biết tin do một nhân viên nhị trùng trong sở Hành chính Smerch báo cáo. Cho đến phút này, tôi chưa tìm ra nguyên nhân của vụ quật mồ. Theo báo cáo của nhân viên nhị trùng thì tướng Grubo [1] , đích thân hạ lệnh khám nghiệm xác chết là vì cách đây một tuần, nhân một hội nghị các chuyên gia thần kinh hệ Xô Viết, một nhà bảc học đã tiết lộ là bác sĩ H. không thể từ trần về chứng não xung huyết. Nhà bác học này còn nói thêm là một số đạn độc dược có thể tạo ra triệu chứng não xung huyết trong người nạn nhân. Hiện nay, Smerch vẫn dùng súng bắn đạn độc dược để ám sát, và nạn nhân cũng bị máu tắc nghẽn trong óc, như bác sĩ H.
Nửa ngày sau khi thi thể được khám nghiệm lại, nhân viên của tôi nhận thấy xe của mật vụ KGB đến tòa nhà của cố bác sĩ H. nơi bà Môna trú ngụ trước ngày xuất ngoại.
Căn nhà này hiện do một bà con bên nội bác sĩ H. ở. Sau đó, mật vụ KGB mời một số người trong nhà về trụ sở hỏi chuyện. Phòng Căn cước và Khám phá Hóa chất của KGB cũng phái nhân viên đến lấy dấu tay và khám nghiệm vết tích.
Căn cứ vào những sự việc kể trên, tôi có thể kết luận rằng địch bắt đầu nghi ngờ về cái chết của bác sĩ H.
Nhận thấy tin này rất quan trọng nên tôi áp dụng kế hoạch truyền tin PO."
Buông tờ giấy xuống bàn, ông Hoàng châm điếu xì-gà mới. Ông vừa đọc xong một bản án tử hình... Bản án tử hình đối với Thu Thu và Lisa..
Thường lệ, nhân viên của Sở tại Mạc Tư Khoa, cũng như ở sau bức màn sắt chỉ được gửi về những bức điện rất ngắn, cô đọng trong một phút. Quá 60 giây, cơ quan tầm đài của Phản gián có thể khám phá ra.
Bức điện về vụ bác sĩ H. dài 3 trang giấy chuyển đi đúng 4 phút, nghĩa là 240 giây mới hết. Nghĩa là ngoài thời hạn an toàn đã định. Muốn khỏi bị Phản gián tìm ra, nhân viên của ông Hoàng phải áp đụng kế hoạch PO.
PO - theo từ ngữ riêng của Sở Mật vụ là điện đài chỉ được sử dụng một lần.
Loại máy này lớn bằng hộp bánh bich quy - Lu. Trước hết, nhân viên dịch bức điện ra mật mã. Rồi đánh đi, bằng cần mã tự trong máy. Song bức điện này không được truyền đi thẳng mà là được thu vào băng kim khí. Bố trí xong xuôi, điệp viên vặn kim đồng hồ, hẹn giờ, phút, cho băng kim khí được phát âm.
Rồi điệp viên thản nhiên rút lui. Với phương pháp PO, điệp viên muốn đánh điện ở đâu cũng dược. Có thể y mang hộp PO vào công viên, giấu trong bụi rậm rồi bỏ trốn. Hoặc đem vào rạp chiếu bóng... Đến khi Phản gián tìm ra, đồ xô tới bắt thì chỉ còn một đống sắt nát bấy.
Vì máy PO được gắn một ngòi nổ đặc biệt khi bức điện được truyền xong thì máy tự động nổ tung.
Ông tổng giám đốc thở dài nhè nhẹ, cất tờ giấy đánh máy vào cái bìa cứng màu vàng. Bức điện của nhân viên Mạc Tư Khoa liên quan chặt chẽ đến công tác của FR-234 ở biên giới Lào-Việt.
Trước mặt ông, bản phúc trình mới nhất của hệ thống tình báo ở phía bắc vĩ tuyến 17 đã được để sẵn từ nửa đêm. Ông đã đọc đi, đọc lại nhiều lần, đến nỗi thuộc làu từng chữ. Và để chú ý thêm, ông gạch bút chì xanh dưới những chữ quan trọng.
Bức điện này được trình ông đúng 12 giờ khuya. Giờ thủ đô Sài Gòn đã ngủ say, trừ dân ăn chơi, gian phi, nhân viên an ninh và ông tổng giám đốc già nua của sở Mật vụ.
Người gửi là Z.30 tức "Anh Cả" Triệu Dung, trưởng hệ thống tài ba, đức độ mà ông định triệu về thay thế trong trường hợp ông lâm bệnh hoặc từ giả cõi đờí.
Triệu Dung rất giỏi về tổ chức. Sau nhiều trận lùng bắt ghê gớm, địch đã phá vỡ được phần lớn cơ sở của ông Hoàng ở miền Bắc. Triệu Dung chỉ cần hoạt động trong vòng nửa năm là phục hồi được hết, ngoài ra lại còn mở rộng thêm.
Nội dung bức điện của Triệu Dung như sau:
"Z.30 kính gửi HH
Tiếp theo hai báo cáo 165 và 166, xin trình rằng điệp viên 47 đã cắn lưỡi chết trong nhà giam, vào lúc 8 giờ tối nay, không chịu khai nửa lời. Dầu sao tôi vẫn có cảm tưởng là có sự trục trặc. Xin Trung ương áp dụng biện pháp dự phòng và tiếp cứu cần thiết, sẵn sàng đợi lệnh trên tần số cấp cứu đặc biệt."
Tần số đặc biệt là phương pháp truyền tin qua trung gian vệ tinh viễn thông. Biết địch tăng cường theo dõi, Triệu Dung tạm thời bỏ phương pháp truyền tin bằng điện đài thông thường.
Triệu Dung vốn là một thủ lãnh làm nhiều, nói ít. Xưa nay chàng rất thận trọng. Nếu tình hình chưa căng thẳng cực độ, chàng chưa dùng tần số đặc biệt.
Nếu vậy, tất Thu Thu bị nguy rồi...
45 là bí hiệu của Bilết, sĩ quan an ninh KGB ở Hà Nội, kiêm điệp viên CIA. Bilết ỉà người được Triệu Dung phái tới biệt thự đường Cửa Đông tiếp xúc với Thu Thu và Lisa.
Kế hoạch đưa nữ bác sĩ Môna ra khỏi Bắc Việt được thi hành đúng ngắc, không chậm một phút đồng hồ.
Tuy nhiên...
Đúng giờ đã định, chiếc tiềm thủy đĩnh xì gà lợi hại của sở Mật vụ từ ngoài khơi biển Nam Hải, quay mũi, trực chỉ bãi biển Sầm Sơn. Từ ngày Nam-Bắc chia đôi, Đồ Sơn biến thành trung tâm dưỡng sức của cố vấn ngoại quốc, thì Sầm Sơn là bãi biển duy nhất được thường dân tới ở.
Dọc chân núi đá, nước rất sâu và đục, tiện cho tàu ngầm lẻn vào nên nhà chức trách địa phương đã thiết lập một hệ thống phòng vệ vô cùng cẩn mật, gồm lưới thép gắn thủy lôi, một đơn vị giang đĩnh tuần tiễu trang bị ống viễn kính, đại bác hồng ngoại tuyến, và máy móc thăm dò tàu ngầm tân tiến. Trên bãi cát, nhiều công sự bê-tông cốt sắt được xây cất, với một lữ đoàn bảo vệ và chó bẹt-giê được huấn luyện đặc biệt. Ngoài ra, tại Hòa Nẹ, một hải đảo nhỏ cách thị trấn Sầm Sơn không xa, còn có một đại đội người nhái, đêm ngày đặt trong tình trạng bảo động.
Tuy nhiên, con tàu bí mật do ông Hoàng cử đi từ Nha Trang đã lặng lẽ luồn dưới biển sâu, lọt qua cánh cửa nhỏ trổ trong lưới sắt khổng lồ, tiến vào nội địa Sầm Sơn, và nổi lên hồi 4 giờ sáng tại tọa độ A-16.
Như sở thiên văn đã tiên đoán từ trưởc, rạng đông hôm ấy trên biển Sầm Sơn bị phủ kín dưới màng sương muối dầy đặc và lạnh buốt. Lính gác co ro trong công sự bê-tông, không dám đặt chân xuống bãi cát, sợ nước và cát bị gió thổi bắn vào người như mũi kim đau nhói.
Hạm trưởng chờ đúng 30 giây đồng hồ thì nhận được tia đèn báo hiệu.
Cửa lên boong được mở ra, xuồng cao su bập bênh trên mặt biển chở theo 2 thủy thủ võ trang bằng súng tiểu liên bắn không kêu thành tiếng, và có ống ngắm hồng ngoại tuyến.
Khi trở lại hông tàu, xuồng cao su chở một cái bọc dài. Y sĩ trong tàu vội mở ra: bên trong nằm thiêm thiếp một người đàn bà đẹp.
Hạm trưỏrng và thủy thủ không biết thiếu phụ này là ai.
Một giờ sau, tiềm thủy đĩnh ra giữa biển rộng, và rẽ sóng nhô lên.
Trên hải phận quốc tế, một chiếc thủy phi cơ trắng xóa, không đeo phù hiệu nước nào, từ hướng nam bay vù tới, hạ xuống bên cạnh tiềm thủy đĩnh.
Một thanh niên cao lêu nghêu, khuôn mặt xương xẩu, mắt sáng như sao, dáng đi nhanh nhẹn, từ phi cơ thoăn thoắt trèo sang boong tàu, bắt tay hạm trưởng.
Hạm trưởng không biết thanh niên này là ai. Nhưng đối với người quen với xã hội điệp báo thì y là Lê Diệp, chàng "Sếu vườn" của sở Mật vụ.
Lê Diệp được lệnh chở Môna tức tốc về Sài Gòn. Phải, thiếu phụ nằm trong bọc vải được khênh xuống tàu là nữ bác sĩ Môna, vợ cố bác sĩ H., nhà thông thái đã phát minh ra phi thuyền không gian chứa Tia sáng giết người.
Môna được đưa về miền tự do.
Nhưng kế hoạch của ông Hoàng đã bị trục trặc. Triệu Dung đã báo cáo chi tiết trong một cuộn băng nhựa đặc biệt, bỏ trong hộp sắt nhỏ buộc vào cổ tay Môna. Băng ghi âm này nhỏ như sợi tóc, bằng kim khí riêng, thu và nghe cũng bằng máy riêng [2] .
Ông Hoàng vặn nút trên bàn.
Nút này mở máy thu phát âm đặc biệt. Từ cái hộp hình chữ nhật, nhỏ bằng gói thuốc lá, tiếng nói rắn rỏi của Triệu Dung vẳng ra, nghe rõ mồn một:
...Thưa, tôi xin báo cáo tiếp... Thu Thu lên đường sang Gia Lâm, đúng với dự tính.
45 chờ phi cơ cất cánh mới trở lại Hà Nội. Hiện tôi chưa biết Thu Thu đi đâu, nhưng chỉ nội ngày mai là biết.
Tôi đón 45 ở một địa điểm gần bót cảnh sát Hàng Đậu, rồi cùng 45 về tòa nhà dành cho Thu Thu trú ngụ ở đường Cửa Đông. 45 vào được 10 phút rồi quay ra.
Tôi hỏi vào làm gì thì 45 cho biết là để thanh toán nốt mấy tên lính an ninh Xô Viết. Sở dĩ 45 phải hạ sát bọn lính vì sợ bại lộ. Dường như hồi tối 45 đã để lại một vài cử chỉ hớ hênh. 45 không nói rõ là có cử chỉ hớ hênh nào, song tôi nhận thấy nét mặt anh rất đăm chiêu và lo lắng.
45 đi với tôi tới căn phòng của anh, cuối đại lộ Lý Thường Kiệt. Lẽ ra tôi vào cùng để uống rượu cho ấm bụng trước khi vượt gần 200 cây số từ Hà Nội về Thanh hóa. Linh tính thấy сhuyện bất tường, tôi yêu cầu 45 đi thẳng, đừng vào nhà nữa.
Nhưng 45 từ chối. 45 cần từ biệt một người bạn gái. 45 thường tỏ ra mềm yếu đối với phụ nữ đẹp. Từ lâu,45 sống chung với người yèu cũ của một đại tá Phản gián Bắc Việt. Sống chung như vậy có lợi là 45 khai thác được một số tin tức. Nhưng lại có cái hại là bị để ý, và bất thần có thể bại lộ vai trò nhị trùng. 45 tự hào là không ai dám đụng tới anh, sĩ quan An ninh, đội quốc tịch Xô Viết.
Sau nửa giờ không thấy 45 ra nên tôi rất sốt ruột. Đinh ninh 45 còn quyến luyến tôi ráng chờ một lát nữa.
Sự thật 45 bị bắt. Tôi định tiến vào nhà, trèo lên lầu để gặp 45 thì một cánh cửa sổ trên gác được mở hé. Ánh điện hắt ra ngoài, rồi tôi nghe tiếng thét lớn bằng Nga ngữ của 45. 45 nói rằng "các anh không có quyền bắt tôi". Tiếp theo là tiếng lóng của Anh ngữ. 45 dùng tiếng lóng cốt không cho Phản gián hiểu nghĩa. Anh nói là bị nội phản, và yêu cầu tôi đi ngay, anh ấy chịu chết mà không cung khai.
45 thét lớn mấy tiếng thì một người đàn ông lực lưỡng nhảy tới ôm ngang lưng. 45 đánh hắn bật ra, thì người thứ hai đã quặt cánh tay anh ra sau lưng.
Tôi không hiểu tại sao mật vụ Xô Viết lại khờ khạo đến thế. Họ đã khờ khạo cho 45 mở cửa để thông tin cho tôi. Họ lại khờ khạo xây lưng ra ánh sáng, biến thành mục phiêu ngon lành cho súng lục.
Tôi rút súng định bắn. Song tôi chợt nghĩ đến Môna, đến Thu Thu, đến nhiệm vụ của tôi hiện thời tại Bắc Việt. Tôi đành cất súng vào mình.
Và tôi lái xe vào Sầm Sơn. Nhờ có thông hành đặc biệt của bộ trưởng Công an Lê Quốc Thân, chứng nhận tôi là cố vấn Trung Quốc nên dọc đường tôi không bị giữ lại...
Ông Hoàng gạt tàn xì gà vào cái đĩa lớn dáng điệu mơ màng.
Cửa mở, Lê Diệp lẫm liệt bước vào. Dưới ánh đèn đêm, mắt chàng sáng rực như mắt thiên thần. Đi bên chàng, người ta có cảm tưởng là không bao giờ lâm nạn.
Lê Diệp hỏi:
- Thưa, ông gọi tôi?
Ông Hoàng đứng dậy:
- Phải. Anh sửa soạn xong chưa?
Lê Diệp chưa vợ, và chưa có người yêu nên chẳng có gì để sửa soạn. Vì thế, chàng hỏi lại:
- Thưa, sửa soạn gì ạ?
Ông Tống giám đốc nhún vai:
- Đi với tôi.
- A, tưởng gì. Thời tiết còn xấu lắm. Sở Khí tượng cho biết đến sáng mai mới có hy vọng trời tốt.
Anh liên lạc với phi công chưa?
- Thưa rồi. Thiếu tá hoa tiêu cho biết là không dám đảm bảo an toàn.
- Dầu sao ta cũng phải đi.
- Thưa, tôi xin đề nghị tạm hoãn đến mai.
- E không kịp nữa. Nguy đến nơi rồi. Tôi phải lên Vạn Tượng đêm nay may ra còn cứu được mấy mạng người quan trọng. Và nhất là cứu được hàng trăm triệu con người ra khỏi hiểm họa kinh khủng của Tia sáng giết người.
Lẻ Diệp ngó ông Hoàng, dáng điệu hơi sửng sốt:
- Thưa... thưa, ông định lên gặp Văn Bình phải không?
Ông Hoàng rít một hơi xì gà, rồi nhả khói xanh um lên trần nhà, giọng lơ đãng:
- Anh đoán đúng đấy.
Giọng Lê Diệp chứa đầy băn khoăn:
- Thưa, tôi sợ...
Ông Hoàng xua tay:
- Anh yên tâm.
Lê Diệp vẫn lải nhải:
- Theo chỗ tôi biết. Văn Bình đã trở thành nhà sư, ăn chay niệm Phật gần một năm rồi. Văn Bình đã tiếp đón Thu Thu một cách lạnh nhạt. Cách đây ba tuần, Nguyên Hương gửi quà biếu mà Văn Bình không nhận. Cả thư của tôi cũng bị trả về. Hẳn ông đã biết tôi là bạn trai thân nhất của Văn Bình. Bạn gái thì là Nguyên Hương...
- Hừ anh sợ Văn Bình không đi... Chẳng qua anh biết một mà chưa biết hai. Trước khi ra Hà Nội, Thu Thu ghé vào chùa, yêu cầu Văn Bình cùng đi, nhưng anh ta từ chối, song bây giờ anh ta sẽ không từ chối nữa.
Lê Diệp hỏi:
- Thưa ông vì sao?
Ông tổng giám đốc xoa hai bàn tay răn reo, giọng thơ thới:
- Rồi anh sẽ biết.
Lê Diệp không dám hỏi gặng nữa. Chàng đã hiểu tính ông Hoàng. Khi ông muốn nói thì không hỏi cũng nói. Nhưng đến khi ông ngậm miệng thì cậy răng ông cũng không hé nửa lời.
Ngoài vườn trời tối om như gần Tết Nguyên đán. Xa xa, thoáng lên những tia sáng yếu ớt và mệt mỏi của trung tâm thành phố.
Gió mạnh thốc vào, làm rặng cây đen thui, trước bồn nước bẩn thỉu reo lên những tiếng lào xào buồn tênh.
Nguyên Hương hết nhìn ra vườn lại nhìn ông tổng giám đốc, giọng lo lắng:
- Không khéo bão mất.
Ông tổng giám đốc không để ý đến tiếng thở dài não ruột của cô bí thư đứng tần ngần trên thềm biệt thự.
Lặng lẽ, ông trèo lên xe hơi. Đèn trong biệt thự đã tắt ngúm. Người ta phải tắt đèn vì không muốn xóm giềng biết là biệt thự còn rộn rịp giữa đêm hôm khuya khoắt. Vả lại, phải tắt đèn để bảo vệ ông Hoàng. Dưới đèn sáng, nhân viên của địch lảng vảng bên ngoài có thể hạ sát ông tổng giám đốc dễ hơn bằng súng trường lấp ống ngắm viễn kính.
Những giọt mưa lăn tăn bắt đầu rơi xuống.
Rồi mưa lớn trút ào ào.
Mùi đất khô thấm nước xông lên ngạt thở. Tài xế mở quạt nước, tiếng động cơ kêu sành xạch, át tiếng máy êm ái, và tròn trịa của chiếc tờ-rắc-xông bề ngoài già nua và ọp ẹp.
Xe hơi phóng nhanh vào màn mưa. Ông Hoàng ngồi băng sau, nhỏ bẻ và gầy ốm. Lê Diệp đặt một tay lên đệm, sẵn sàng đối phó nếu nguy biến xảy ra.
Còn lại một mình trên bao lơn rộng thênh thang, không hiểu sao Nguyên Hương cảm thấy trống trải và buồn bã lạ lùng. Hơn ai hết, nàng biết rằng ngoài nàng ra, trong biệt thự còn rất nhiều người, những vệ sĩ bí mật, gần như là vô hình, ngày đêm túc trực dưới hầm, với những dụng cụ phòng vệ tối tân, đủ sức đánh tan mọi âm mưu của địch.
Song sự hiện diện của vệ sĩ đoàn chỉ làm tăng thêm vẻ lẻ loi của nàng. Bâng khuâng, nàng nhìn màn mưa dầy đặc. Một làn chớp xẹt trong khoảng không mù mịt, tiếp theo là những tiếng sét ghê hồn.
Ruột rối như tơ vò, nàng nghĩ đến ông Hoàng, vừa thương, vừa phục ông già mảnh khảnh đã coi thường giông tố, thản nhiên trèo lên phi cơ ra ngoại quốc.
Trời mưa lớn ở ngoài.
Trời cũng mưa lớn trong lòng nàng.
Trong giây phút, nàng nhận thấy sự quạnh quẽ thê lương của cuộc đời nữ điệp viên. Những bạn gái cùng tuổi với nàng đang hưởng hạnh phúc bên cạnh chồng con.
Nàng lại đẹp, lại học rộng hơn những bạn gái cùng tuổi. Tuy nhiên, nàng vẫn độc thân.
Bất giác, mắt Nguyên Hương mờ đi. Hai giọt lệ nóng hổi từ từ lăn xuống gò má. Nàng liên tưởng đến người nữ đồng nghiệp thân thiết đang đùa bỡn với Tử thần, gần biên giới Ai Lao.
Nàng buộc miệng:
- Thu Thu.
❀ ❀ ❀
[1] 1
[2] 2