Tủ Sách Z.28

Lượt đọc: 4478 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Z.28 Phi Tuần Vĩnh Biệt - °

❊ ❊ ❊

Bức mật điện của Nguyên Hương tới phòng chỉ huy của pháo đài ZZ giữa lúc Văn Bình, Triệu Dung và hạm trưởng khựng người vì một bóng đen từ trong phòng Như Luyến vút ra.

Đòn thứ hai lao tới như trận cuồng phong.

Đã né được món đòn bất thần phủ đầu, dĩ nhiên Văn Bình có đủ tài nghệ để thoát hiểm dễ dàng. Vừa tránh đòn, chàng vừa nhận diện được đối phương.

Đó không phải là đối phương núp trong bóng tối dể đánh lén. Mà là một con vật.

Một con Bẹt-giê lông đen. Đúng hơn là lông đen và đỏ, dài, rậm rạp, với cặp tai nhỏ xíu, vểnh lên và cái đuôi cong veo một cách kiêu căng và thách thức.

Trong chớp mắt, Văn Bình đã nhận ra nó. Tự tay chàng mua tặng Như Luyến trong một chuyến công tác ở Hồng-Kông. Chàng mua của một người chuyên môn nuôi chó nổi tiếng, khi nó mới được ba tháng. Chàng phải cho nó ăn sữa như bà mẹ có con mọn. Trên đường về, chàng phải thí thố nghệ thuật điều đình và ẩn lậu mới mang thoát tới Sàigòn và từ Sàigòn thoát khỏi quan thuế và công an kiểm soát.

Đúng theo luật lệ quốc tế, chàng phải xuất trình giấy khám sức khỏe và giấy chích ngừa bịnh dại, song thời gian quá gấp rút, mua xong là chàng phải đi liền. Cũng theo luật lệ quốc tế, hàng khách đáp máy bay phải gởi chó ở hầm chứa hàng hóa và dọ mõm lại. Nhưng chàng không muốn con chó ba tháng bé bỏng phải nằm một mình. Chàng bèn tiêm thuốc ngủ cho nó, lấp bình dưỡng khí đặc biệt vào mặt, rồi bỏ vào va-li xách tay.

Đến Tân Sơn Nhất, chàng nghêng ngang thoát ra ngoài bằng cửa VIP, theo sau ông bộ trưởng Ngoại giao. Thấy chàng cao lớn, cường tráng và oai vễ, nhân viên an ninh tưởng là vệ sĩ của ông bộ trưởng. Thế là chàng ôm được con chó chow-chow về Sàigòn.

Phải, nó là giống chow-chow, sinh sống ở Trung-Quốc. Song, giống chow-chow chinh quán Tây-Tạng được quí hơn nhiều. Con chow-chow nhỏ xíu này lại đúng gốc Tây-Tạng. Đoàn vệ sĩ của đức Phật Sống Đạt-Lai Lạt-Ma chuyên nuôi chow-chow, tập luyện thành những con chó tuyệt đối trung thành và canh phòng đắc lực, đắc lực không kém nhân viên võ trang giỏi Nhu đạo, mặc dầu nó chỉ cao chừng nữa thước và nặng từ 18 tới 25 kí là cùng[41].

Sau khi đức Phật sống lưu vong qua Ấn-độ, đoàn vệ-sĩ mang chó theo. Tình cờ một cặp được đưa tới Hồng-kông để gây giống. Như Luyến rất thích chó chow-chow. Nàng muốn nuôi từ hồi chồng thứ nhất còn sống, và tòng sự tại một trung tâm nguyên tử bên Mỹ.

Hiểu được sở thích của người yêu, Văn Bình đã tìm cách làm nàng vừa lòng.

Khi ấy, hạm trưởng lùi một bước, cất tiếng gọi lớn:

- Titi.

Trong khung cảnh nghiêm trọng nầy, Văn Bình vẫn bật cười. Vì Titi là tên con chó. Song Titi cũng là tên tắt của 28, Z.28. Con số 28, tiếng Anh là two-eight, t đọc là ti, e đọc là i, t và e là ti-i. Người phương Tây nhớ ai, mến ai thường hay lấy tên người đó đặt cho chó. Như Luyến bèn gọi cho chow-chow là Titi.

Nghe gọi tên, con chó chụm chân lại, nhìn hạm trưởng. Nó vừa nhận ra người quen. Và nhất là nhận ra Văn Bình. Chàng cuối xuống xoa đầu nó, giọng thân mật:

- Titi, mầy quên tao rồi ư?

Con chow-chow xấn mại gần Văn Bình, vẫy đuôi lia lịa, tròng mắt đột nhiên ươn ướt.. Văn Bình ôm nó vào lòng vuốt ve.

Hạm trưởng tỏ vẻ ngạc nhiên:

- Anh quen nó từ khi nào?

Văn Bình mỉm cười:

- Lâu rồi. Chính tôi đã phải cho nó bú sữa suốt hai tháng ròng rã. Và tuần nào, tôi cũng phải pha nước nóng, tắm rửa và chải lông cho nó.

Hạm trưởng thở phào:

- Thế cũng may. Tôi tưởng nó đã ăn gỏi anh. Loại chow-chow này dữ kinh khủng. Nó lại được tập luyện, nên cắn ai là phải gây trọng thương.

Văn Bình lại cười:

- Cũng chính tôi là huần luyện viên của nó. Nó thông minh đáo để, chỉ học một tuần là biết cắn áo và cắn cổ người lạ. Nhờ nó, Như Luyến đậu xe ngoài đường không cần khóa xe và nhất là ban đêm, không cần rút công-tắc. Mấy tay anh, chị bén mảng đến xe đua của nàng, định mượn chơi, bị nó làm cho một mẻ khiếp vía, vắt giò lên cổ mà chạy. Ly kỳ hơn nữa là có lần nàng về khuya, bị du đãng chận đường giật ví, conTiti rượt theo lấy lại và cắn toang quần áo. Nếu không có xe cảnh sát đậu xe ở đầu đường can thiệp, bắt tên giật sắc về bót thì chắc chắn đêm ấy, hắn trần như nhọng.

ConTiti như nghe được tiếng người, nghếch mõm và tai ra, vẻ chăm chú. Thỉnh thoảng, nó lại gật đầu, vẫy đưôi thành hình vòng tròn.

Hạm trưởng mở đèn trong phòng.

Đột nhiên, Văn Bình rợn người. Như Luyến bắng xương, bằng thịt dường như vẫn ở đâu đây. Lòng chàng rạo rực nỗi buồn vô hạn. Chàng chưa tái ngộ sau bao ngày tháng xa cách thì nàng đã chết. Chết thành than, rải rắc trên mặt biển vô tình...

Nếu không có hai người đàn ông ở bên, Văn Bình đã rơm rớm nước mắt. Trong cuộc sống khô khan tuyệt đối, nhiều khi chàng muốn trở lại những ngày hoa niên, để được tư do than thở cảnh đời ngang trái bằng giọt lệ ồn ào.

Tuy là ca-bin mẫu hạm, phòng của Như Luyến cũng khá rộng rãi và trang trí tươm tất. Bàn ghế bằng sắt đều sơn một màu, màu xanh quen thuộc của màu biển, song vẫn có vẻ kiểu cách, tươi trẻ, nhờ những con búp-bê Nhật-bản và những chiếc xe hơi nhỏ xíu bằng nhựa ngũ sắc được đặt ở hầu hết khắp nơi.

Giữa phòng chễm chệ bức hình thằng Lập. Chắc là ảnh mới, vì thằng Lập đã lớn vượt lên, nét mặt bầu bĩnh, rí rõm, cái rí rõm cố hữu của mẹ.

Trên bản giấy kê gần góc, Văn Bình thấy lồ lộ chân dung bản thân của Như Luyến, gọn ghẽ và hoa mỹ. Cái khuông bằng vàng tây cầu kỳ và đắt tiền nầy, chàng cũng tự tay mua cho nàng ở Hồng-kông, cùng lúc với con chó chow-chow.

Hồi ấy, cầm cái khuôn, Như Luyến ứa nước mắt, rồi hôn lấy, hôn để. Tự dưng, nàng nhớ lại thân phận riêng của nàng, thân phận chung của hai người. Nàng đã trải qua hai đời chồng, chồng trước chết, chồng sau ly dị, thiên hạ sẽ dị nghị ghê gớm nếu nàng tái giá lần nữa. Dầu sao, Văn Bình cũng còn độc thân. Chàng vẫn có hàng tá người yêu, chàng lại có con với Quỳnh-Loan, nhưng trong bộ đời, chàng là trai tân, chàng lại khôi ngô như minh tinh màn ảnh quốc tế, cường tráng như lực sĩ quán quân thế vận, võ nghệ tuyệt luân như thần tượng nhu đạo, và thông minh như nhà bác học bách khoa. Nghĩa là Văn Bình hội đủ điều kiện cần thiết để lọt vào mắt xanh của các cô gái đang xuân.

Trên thực tế, các cô gái đang xuân đã bám sát Văn Bình như hình với bóng. Tuy vậy, chàng vẫn yêu nàng. Như Luyến khóc vì sung sướng được gần gũi ông hoàng đẹp trai mà phái yếu trên thế giới hăng mơ ước, song phần nào, nàng khóc vì biết trước định mạng trớ trêu và tàn nhẫn không cho phép hai người thành vợ, thành chồng.

Quên bẵng thực tại, Văn Bình nhấc cái khuôn vàng lên ngắm nghía, cũng như Như Luyến, nhiều tháng trước, khi chàng mang quà về biếu nàng. Mắt chàng mờ hẳn đi. Cũng may, hạm trưởng còn bận giới thiệu nên không lưu tâm tới sự thay đổi ủy mị của chàng.

Giọng hạm trưởng vẵng vào tai Văn Bình, mơ hồ như từ một cõi trời xa xăm:

- Đây là phòng khách, lẫn phòng thí nghiệm. Phòng ngủ ở phía sau, tuy nhỏ hẹp nhưng tiện nghi, đây đủ không kém khách sạn sang trọng 50 đô-la một đêm ở Nữu-ước.

Rồi tiếng Triệu Dung:

- Chúng tôi muốn lục lọi giấy tờ một lát. Hạm trưởng có chìa khóa không?

Hạm trưởng đáp:

- Có. Cứ gọi tôi bằng anh cho thân mậtTheo tôi, ở bàn giấy không có giấy tờ quan trọng. Mọi tài liệu nghiên cứu đều được cát trong két sắt. Anh chờ tôi một phút.

Hạm trưởng tiến lại góc phòng, quì xuống, tra chìa vào ổ khóa gắn vào vách thép. Trong chớp mắt, cánh cửa kim khí dầy cộm được mở ra. Như thường lệ, giấy tờ đều bề bộn. Như Luyến có tật thiếu ngăn nắp, hoàn toàn trái ngược với thiên năng nữ gìới. Nàng cho rằng sự ngăn nắp làm cho đàn bà mất bay bướm và mơ mộng thì đàn bà sẽ trở thành đàn ông, khô khan và tàn nhẫn.

Triệu Dung lấy trong két ra một tập hồ sơ bìa đỏ, bên ngoài đề hai chữ tối mầy và phía dưới là chữ số:

Z B-605

Hạm trưởng cắt nghĩa:

- Như anh đã biết, ZB là khu vực nầy, còn 605 là tên kế hoạch thí nghiệm VTOL.

Văn Bình hỏi lại:

- VTOL, phi cơ lên thẳng đấy ư?

Chàng hỏi lại tưởng nghe lầm trong cơn bàng hoàng, nửa mê, nửa tỉnh. Song hạm trưởng đã gật đầu:

- Phải. Loại phi cơ lên thẳng đặc biệt.

- Hoa-Kỳ và Nga-Sô đã chế tạo phi cơ lên thẳng từ năm năm nay rồi. Theo tôi thì không có gì là đặc biệt và bí mật cả.

Rồi ngoảnh sang Triệu Dung:

-Anh nghĩ sao?

Triệu Dung lật một tờ giấy, giọng bình thảng:

- Tôi cũng vậy. Tuy nhiên, tôi chắc loại VTOL này còn chứa đựng nhiều chi tiết độc đáo nên mới cần được thí nghiệm ở đây.

Hạm trưởng tiếp lời:

- Anh nói đúng. Đồng ý là phi cơ lên thẳng đã được chế tạo từ lâu, song đó không phải là lý do để nó không còn hấp dẫn nữa. Động cơ pít tông xe hơi được lưu hành từ hơn nữa thế kỷ, vậy mà đến nay vẫn chưa được gọi là hoàn bị, và các công ty chế tạo vẫn giữ bí mật tuyệt đối trước khi sản xuất máy mới. Vả lại, theo chỗ tôi biết thì phi cơ lên thẳng có hai loại, STOL[42] và VTOL[43], Loại STOL mới được chế tạo từ 5 năm nay, còn VTOL hoàn toàn chưa ra khỏi giai đoạn thí nghiệm. Và ngay cả loại STOL nữa... bằng chứng là hiện nay chưa quốc gia nào trên thế giới dùng phi cơ STOL trong việc chuyển vận hàng hóa cũng như hoạt động quân sự.

Văn Bình nín lặng.

Số vốn khoa học của chàng chưa đũ phong phú để phản đối lý luận của hạm trưởng. Hơn nữa, hạm trưởng đã nói đúng. Hơn một lần, Văn Bình đã thấy tận mắt phi cơ lên thẳng ở Hoa-kỳ hoặc trong căn cứ bí mật ở bên kia bức màn sắt, song đó chỉ là dụng cụ thí nghiệm.

Hạm trưởng lại tiếp:

- Nếu hai anh cho phép, tôi xin nói rõ thêm một chút nữa. Loại STOL hiện hành là McDonnell 188[44] và McDonnell ST20, có thể chở từ 30 đến 60 hành khách, cất cánh và đáp xuống trên một phi đạo rất ngắn từ 100 đến 150 mét là cùng. Hiện không quân Hoàng gia Anh quốc đã đặt mua 100 chiếc khu trục cơ Hawker-Siddeley P-1127, được chế tạo theo tiêu chuẩn tương tự.

Song về địa hạt lên thẳng như trực thăng, tất cả đều còn ở trong phòng thí nghiệm. Mãi chờ đến cuối năm 1966, lục quân Hoa-kỳ mới ký 6 khế ước nghiên cứu phi cơ VTOL, khả dĩ chở được 3 tấn binh sĩ và quân cụ. Theo các khế ước này thì sớm nhất là 1972, 1973, chiếc phi cơ lên thẳng thứ nhất sẽ được hoàn thành.

Còn loại VTOL, được thí nghiệm trên pháo đài ZZ là của CIA, hợp lực với các cơ quan điệp báo bạn. Có thể nói rằng nó sắp được hoàn thành. Hai anh thấy quan trọng chưa? Trong khi các công ty Hoa Kỳ chờ đến 1972 thì chúng ta đã đến thời kỳ thí nghiệm cuối cùng. Việc sản xuất phi cơ lên thẳng VTOL lúc này sẽ ảnh hưởng lớn lao đến chiến trường du kích địa phương. Tuy nhiên, điều làm phi cơ VTOL được coi là vô cùng quan trọng là một số võ khí và dụng cụ điện tử bí mật mà nó mang theo. Cũng như phi cơ, toàn thể đều đã được hoàn thành. Theo chương trình dự liệu, chỉ độ một vài tuần nữa là bác họ đoán có thể báo cáo tổng kết và các cơ xưởng có thể bắt tay vào giai đoạn sản xuất hàng loạt.

Sực nhớ ra, Văn Bình hỏi hạm trưởng:

- Chiếc VTOL thí nghiệm ở trên máy bay bị nổ hồi nãy, phải không?

- Phải.

- Nghĩa là đã bị hoàn toàn tan tành.

- Vâng. Bao công lao tan tành thành mảnh vụn. Địch vừa thành công một mẻ lớn. Không đến khi nào chúng ta mới thí nghiệm lại được nữa.

- Các nhà bác học mới chế tạo được một chiếc VTOL thì nghiệm thôi ư?

- Đúng ra thì có hai. Nhưng chiếc thứ hai còn quá thô sơ, chưa thể cất cánh được.

- Vậy anh yêu cầu mang tới đây. Tôi hy vọng sẽ giúp anh được phần nào.

Mặt hạm trưởng rực sáng:

- Ồ, té ra... Chiếc thứ hai đang ở trong kho.

Văn Bình nhún vai:

- Thế thì may lắm. Phiền anh đưa tôi lại kho.

Hạm trưởng mở cửa ca-bin. Cả ba người cùng tới thang máy xuống tầng dưới.

Một cánh cửa sắt đồ sộ được kéo ra.

Trước mặt Văn Bình là một nhà cầu rộng lớn, ba phía gắn kính dầy màu sữa đục, đứng trong có thể nhìn được ra ngoài, nhưng đứng ngoài không thể nhìn được trong.

Sừng sững giữa nhà cầu là tấm bạt sám che kính chiếc phi cơ VTOL. Không khí nhà cầu được điều hòa, tuy nhiên bồ hôi vẫn lấm chấm trên trán Văn Bình. Chàng vừa miên man nghĩ đến hoạt động thầm kín song vô cùng hữu hiệu của địch. Địch là ai, chàng chưa biết, mặc dầu chàng đã có thể ngầm đoán là RU, KGB, SMERCH. Hoặc biết đâu là một cơ quan điệp báo Tây phương, thông lưng với Cộng sản... Nhưng dầu là ai chăng nữa, địch cũng đã chứng tỏ bằng hành động cụ thể là bọn người cừ khôi, len lõi vào giữa pháo đài nổi, ngang nhiên thực hiện những vụ kinh thiên, động địa...

Văn Bình hỏi hạm trưởng:

- Phi cơ này còn thiếu bộ phận gì nữa?

Hạm trưởng đáp:

- Tôi không rõ. Thú thật, tôi chỉ phụ trách hành chính toàn diện và an ninh tổng quát. Công tác chuyên môn hoàn toàn do các nhà bác học đảm nhận. Tuy vậy, tôi có thể nói rằng phi cơ này được chế tạo theo kiểu mẫu cách đây hai tuần. Trong hai tuần qua, ngày nào, các nhà bác học cũng chở phi cơ tới hải đảo thí nghiệm. Sáng đi, tối về, suốt ngày, họ tính toán ở hải đảo. Ban đêm, họ thức rất khuya, có nhiều người không ngủ, để đôn đốc ban cơ khí kỹ thuật điều chỉnh máy móc, dụng cụ cho thích hợp với những tìm tòi mới. Bây giờ, nếu anh muốn thí nghiệm lại, ít nhất phải mất hai tuần... Hai tuần ấy, là có đủ nhân viên cần

thiết. Hẳn anh đã biết, con số chuyên viên lỗi lạc rất hiếm, có thể đếm được trên đầu ngón tay. Tai nạn vừa xẩy ra làm chúng ta thiệt hại nặng nề.

- Bao nhiêu chuyên viên thiệt mạng?

- 15. Đó chỉ kể riêng cho chuyên viên cao cấp. Chưa kể các cơ khí, vô tuyến điện và nhân viên an ninh trung cấp.

- Trên mẫu hạm còn bao nhiêu chuyên viên cao cấp nữa?

Hạm trưởng lắc đầu:

- Gần hết rồi. May sao sáng nay, một toán ở lại nên thoát chết.

- Mấy người?

- 6

- Họ đủ khả năng tiếp tục không?

-Làm cả ngày cả đêm thì có thể hy vọng. Nhưng còn phải chờ phi công thí ngiệm của NASA[45].

- Để làm gì?

- Chỉ có phi công đặc biệt của NASA mới bay thí nghiệm được. Phi công quân sự trên mẫu hạm chưa được huấn luyện về lãnh vực nầy.

Văn Bình thở phào:

- Tưởng gì... Chứ về việc bay thí nghiệm, tôi có thể làm anh không thất vọng. Vì tôi là cựu phi công thí nghiệm NASA.

Hạm trưởng vung hai tay lên trời:

- Thế mà tôi không biết.

Triệu Dung kéo tấm bạt sang bên. Chiếc phi cơ thon, mũi nhọn, sơn bạc óng ánh hiện ra như trong chuyện thần thoại. Thấy trên thân phi cơ có những lỗ tròn gắn ống kính nhiều màu khác nhau, Văn Bình hỏi:

- Máy ảnh, phải không anh?

Hạm trưởng đáp:

- Những ống kính này là bộ phận bí mật nhất của phi cơ lên thẳng, còn bí mât gấp chục lần động cơ nữa. Động cơ VTOL đã được khoa học hàng không thế giới hiện nay liệt vào loại tối mật, thì các anh cũng đủ biết những ống kính đó đáng giá đến đâu.

Thật vậy, sau 4 năm thí nghiệm, ngày đêm không nghỉ, hơn một tỉ đô-la được quăng ra cửa sổ, chúng ta mới tìm ra một số máy móc kỳ dị đặt sau ống kính tròn. Một số là ống kính nhiếp ảnh.

Triệu Dung ngạc nhiên:

- Quái lạ, phi cơ không bay cao như U-2 hoặc như vệ tinh nhân tạo thì cần gì máy ảnh bén nhạy?

Hạm trưởng cười:

- Thoạt đầu, tôi cũng băng khuăng như anh và các nhà bác học cũng cười như tôi đang cười hiện giờ. Đây không phải là máy ảnh thông thường đâu, mà là máy ảnh chụp ngầm dưới đất. Phần lớn, cuộc chiến tranh du kích hiện tại ở Việt-Nam và trong tương lai tại Viễn-Đông. Phi-châu hoặc Nam-Mỹ đều diễn ra trong các địa đạo. Nói cách khác, du kích chiến dưới thời đại trực thăng vận thần tốc phải đổi thành điạ hạ chiến. Khi công đồn, du kích quân thường di chuyển tới gần mục phiêu bằng đường hầm. Súng đại bác cũng giấu dưới hầm, để phòng phi cơ khám phá. Và quan trọng nhất là bộ chỉ huy, kho chứa lương thực, quân trang của du kích cũng đặt dưới hầm. Chiến thuật địa hạ này đã làm giảm rất nhiều hiệu năng của các cuộc pháo kích và không tập.

Từ lâu, khoa học dã tìm ra phương pháp chụp hình xuyên qua mặt đất. Tuy nhiên, phương pháp này còn quá thô sơ. Những ống kính màu đỏ trên phi cơ VTOL là bộ phận nhiếp ảnh đầu tiên trên thế giới có thể nhìn xuyên qua từ 5 tới 15 thước bề sâu, và chụp lại khá rõ ràng, cũng rõ ràng như chúng tá chụp ảnh nhá nhem tối bằng phim nhựa bắt nhanh 400 ASA. Nghĩa là lái chiếc VTOL này trên không phận căn cứ bí mật của địch, chúng ta có thể thấy rõ du kích quân đang ăn, ngủ dưới hầm. Ở độ cao 300 thước, phi cơ có thể thấy rõ đồng hồ đeo tay dưới hầm chỉ mấy giờ, mấy phút nữa. Phương pháp nhiếp ảnh tồi tân kỳ lạ này sẽ là đòn chí tử đánh vào mật khu du kích...

- Còn những ống tròn khác?

- Là dụng cụ khám phá những nơi nào tập trung người và võ khí của địch. Và sau cùng là một loại đại bác kỳ ảo... vì không bắn đạn thường.

- Bằng đạn nguyên tử?

- Không. Vì dùng nguyên tử sẽ có thể châm ngòi đại chiến thứ ba. Đạn nguyên tử sẽ làm cây cối, ruộng đất nhiễm xạ, gây độc cho đời sống con người... Trái bom nguyên tử ném 20 năm trước xuống Trường Kỳ và Quang Đảo cho đến nay vẫn còn độc hại. Các nhà bác học đã phát minh một thứ đạn không phá hoại mùa màng, không nhiễm độc không khí và đặc biệt là không giết người mà chỉ giết sức kháng cự của quân địch.. Đạn này được chế tạo bằng hóa chất.

- Đạn thuốc mê?

- Vâng, cũng gần như thế. Đây là đạn thuốc tê. Bị trúng đạn, nạn nhân sẽ bị tê liệt toàn thân mặc dầu thần kinh hệ vẫn tỉnh táo, lục phủ, ngũ tạng vẫn tiếp tục hoạt động như thường lệ. Chở về bịnh viện chỉ cần cho ngửi một hóa chất khác, pha trộn trong không khí phòng lạnh, là tỉnh lại như cũ, nạn nhân sẽ không đau đớn, không mệt mỏi, và sau này không bị biến chứng.

- Tôi đã biết loại đạn tê liệt này rồi. Nếu tôi không lầm thì nó đang đuợc sản xuất trong phòng thí nghiệm của cơ quan Hoa kỳ NASA.

- Anh nói chỉ đúng một phần. NASA mới sản xuất được đạn tê liệt thông thường. Loại đạn này khác đạn thông thường ở chỗ nó biến thành hơi sau khi thoát khỏi nòng súng và chạm đất, đá, đặc điểm vô tiền khóng hậu của nó là từ trên cao đâm thẳng xuống, xuyên qua đất, đá, dễ dàng như mũi dao thọc vô tảng bơ vậy.

Nghĩa là nếu kế hoạch của chúng ta được hoàn thành, chúng ta chỉ thành lập một không đội VTOL, trang bị máy nhiếp ảnh và đại bác đạn hơi là có thể giải quyết chiến tranh du kích trong vòng một tháng. Phải, trong vòng một tháng. Khỏi cần chuẩn bị hàng tỉ đô-la, khỏi cần đưa vào chiến trường hàng triệu binh sĩ, sử dụng hàng trăm triệu tấn võ khí, với hàng chục ngàn người thiệt mạng mỗi năm. Phi đội VTOL bay khắp miền rừng núi, khám phá ra địa đạo của địch, rồi bắn đạn hơi xuống. Sau 3 giờ đồng hồ, phi cơ quân sự sẽ chuyển vận binh sĩ nhảy dù xuống tận nơi, binh sĩ sẽ đi tay không, xuống hầm khiêng toàn bộ tham mưu của địch lên băng-ca mang về Sàigòn. Cuộc hành quân sẽ diễn ra lặng lẽ, dễ dàng và thi vị như một cuộc du lịch đổi gió ở Vũng Tàu một ngày chúa nhật.

Triệu Dung cười nụ:

- Nghe anh nói, tôi cảm thấy lạc quan lạ lùng.

Hạm trưởng thở dài:

- Tôi cũng lạc quan như anh. Nhưng chỉ lạc quan cho đến sáng hôm nay. Giờ đây, chúng ta phải trở lại khởi điểm. Dầu sao thì địch cũng đã biết. Tôi sợ công việc chúng ta sẽ bị bỏ dở.

Văn Bình nắm chặt bàn tay:

- Anh đừng vội chán nản. Tôi sẽ bắt tay vào việc ngay từ bây giờ. Phiền anh triệu tập các chuyên viên còn lại trong phòng thí nghiệm.

Ba người trở lên tầng trên.

Một viên phụ tá đã chờ sẵn sau cửa thang máy. Thấy hạm trưởng, y vội tiến lại, nói nhỏ vào tai. Mặt hạm trưởng biến sắc. Phút sau, hạm trưởng quay lại, đặt tay lên vai Văn Bình:

- Rất tiếc là không có cách nào nhận diện các tử thi.

Văn Bình đáp, giọng buồn rầu:

- Nhờ anh cám ơn thủy thủ đoàn giùm tôi. Trước khi xuống đây,tôi đã biết là nạn nhân đã cháy ra than.

Hạm trưởng nói:

- Tuân lịnh tôi, họ đã hốt tất cả vào một cái thùng lớn và để trong một ca-bin rộng, sửa soạn nghi lễ tôn giáo. Phần lớn,nếu không nói là hầu hết nạn nhân đều theo đạo Thiên Chúa. Riêng bà bác học...

Văn Bình ngắt lời:

- Nàng cũng là tín đồ công giáo.

Chàng lặng lẽ đi bên hạm trưởng, không thốt thêm lời nào nữa. Vì tâm trí chàng đang hướng về Như Luyến. Giây phút nầy, chắc nàng đã ở một thế giới nào xa lạ. Có lẽ hương hồn nàng đang phảng phất trên đầu chàng, nhìn rõ nét mặt sầu muộn của chàng, nghe rõ giọng nói gần như nghẹn ngào của chàng.

Thế là hết, Như Luyến đã ra người thiên cổ. Nàng chết mà chàng không gặp được mặt nàng, cuối xuống hôn trên trán lạnh lần cuối. Nàng đã hòa với biển cả mênh mông...

Không khí xế trưa nóng bức không làm Văn Bình khó chịu trong bộ đồ phi hành dầy cộm. Trái lại, chàng cảm thấy lạnh. Trong đời, chàng đã sống quen với nhiều khí hậu. Hơi lạnh Nam Cực, quanh năm nước đóng thành băng, nhiệt độ Sahara và GôBi, bốn mùa gió cát khô cháy da thịt, đêm buốt tận xương tủy không hề thay đổi sắc diện của chàng.

Tuy nhiên trời nắng hôm nay lại khiến chàng run rét. Cái rét thần bí và ghê gớm từ lòng chàng dâng lên, rồi trào ra ngoài. Chàng phải nghiến răng cho hàm khỏi đập vào nhau cầm cập.

Triệu Dung vội nói:

- Khổ quá, anh bị cảm rồi.

Văn Bình gắn gượng, xua tay:

- Không sao, tôi còn khỏe như voi.

Biết bạn lảng tránh, Triệu Dung không phê bình thêm nữa.

Trong chốc lát, ba người đã tới nơi quàn tử thi nạn nhân. Con chow-chow khôn ngoan của Như Luyến vẫn lùi lũi chạy một bên Văn Bình, không sủa cũng không nhảy nhót như thường lệ.

Hoạt động gián điệp, Văn Bình đã nhiều lần tiễn đưa bạn bè tới nơí an nghỉ cuối cùng. Nhưng ít khi một người đàn bà tuyệt đẹp như Như Luyến lại chết không được toàn thân.

Bỗng dưng Văn Bình muốn khóc oà lên như một con nít. Chàng giả vờ ngoảnh về phía mặt trời, nói chữa:

- Chói mắt quá.

Rồi rút mù-soa ra lau nước mắt. Cử chỉ khôn ngoan của chàng vẫn không lọt khỏi con mắt quan sát tinh tế của Triệu Dung. Song Triệu Dung lặng thinh và quay ra nơi khác. Chàng không lạ gì Văn Bình. Con người khô khan tàn nhẫn nhất thế giới ấy lại cũng là con người ướt át, hiền hòa nhất thế giới.

Trước mặt ba người là cái thùng sắt lớn, trên phủ tấm vải đen, leo lét mấy ngọn đèn bạch lạp.

Tất cả chỉ có thế.

Hạm trưởng nghiên mình chào rồi lặng lẽ lùi ra ngoài. Ông muốn để Văn Bình được tự do. Sau đó một phút, Triệu Dung cũng biến mất.

Đứng một mình giữa căn nhà rộng, tứ phía là vách thép sơn trắng toát, trước cái thùng sắt liệm màu đen tang tóc, dưới những đèn nến sáng trưng. Văn Bình cảm thấy ruột gan đau xé.

Chàng râm râm khấn vái:

- Như Luyến ơi, anh sẽ trả thù cho em.

Ánh sáng vàng lung linh cách chàng một xải tay. Chàng như vừa nhìn thấy Như Luyến. Nàng vẫn đẹp như dạo nàng bắt đầu đi lại với bác-sĩ Đoàn-Trung và bi điệp viên sô viết săng-ta nguyên tử. Nàng vẫn đẹp như dạo nàng làm quen với Văn Bình. Lần đầu tiên, chàng ôm nàng vào lòng, nàng run bần bật, như thể gái còn trinh nguyên, chưa bao giờ biết mùi da thịt đàn ông.

Trong cơn mơ, Văn Bình quên hết thực tại. Chàng tiến lên một bước, vung tay ra, giọng tha thiết:

- Như Luyến, em Như Luyến!

Dĩ nhiên là nàng không trả lời, vì nàng chỉ ở trong tri tưởng tượng của chàng.

Nước mắt lã chã, Văn Bình ngồi xổm xuống, ôm con chó chow-chow trung thành vào lòng, rồi nói:

- Mầy biết chủ mầy chết rồi ư?

Con chow-chow vẫn giương cặp mắt thao láo nhìn Văn Bình. Nhưng chỉ mấy giây đồng hồ sau, nó vùng ra, nhảy tuột khỏi đùi chàng, và phóng xuống đất.

Như chàng tiên đoán, con Chow-cho chạy lại gần thùng sắt đựng hài cốt tan thành than, mõm và tai nghếch lên, đuôi vẫy nhè nhẹ.

Song trong cử chỉ tự nhiên cửa con chó thông minh vừa xẩy ra một điều kỳ lạ. Mặt Văn Bình đang chứa chan sầu muộn, giọt nước mắt chưa kịp lau còn đọng trên gò má rám nắng, bỗng sáng vụt ra như mặt trời xuân ló ở chân trời sau trận mưa đông tầm tã lạnh lùng.

Chàng lẩm bẩm một mình:

- Lẽ nào... Lẽ nào.

Trong nháy mắt, Văn Bình vừa khám phá ra một bí mật quan trọng, vô cùng quan trọng. Chàng tin là ông Hoàng cho chàng ở lại pháo đài nổi một thời gian để tiếp tục điều tra (Văn Bình chưa biết là ông Tổng giám đốc lưu chàng lại một tuần). Song nếu ông Hoàng không cho phép, chàng cũng vận động để được ở lại.

Vì chàng vừa tìm ra ánh sáng.

Một tia sáng nhỏ bé lóe ra rồi tắt. Nhưng dầu sao, chàng đã có lý do để tin tưởng, để hy vọng tràn trề.

Chàng đứng vụt dậy, mỉm cưới:

- Mình phải giấu Triệu Dung mới được.

Song linh giác làm chàng giựt mình. Linh giác chàng như có mắt, có tai bén nhạy ớ sau lưng và hai bên hông., nên có thể nhìn thấy, nghe thấy mọi bóng dáng và ân thanh bên tai.

Linh giác vừa gióng như hồi chuông báo động trong tâm tư Văn Bình. Như máy điện tử, chàng xoay một vòng. Lúc lâm sự, toàn thân chàng mềm mại như thiếu nữ quen nghề khiêu vũ trong rạp xiếc.

Và chàng bắt gặp một đôi mắt.

Đôi mắt ở một khe cửa mở hé.

Đôi mắt đang chăm chú theo dõi chàng. Chắc hẳn là một vành tai cũng đang ghé sát vào vách thép, nghe lời chàng nói. Không còn nghi ngờ gì nữa, đó là đôi mát của địch trên hàng không mẫu hạm ZZ.

Nghĩa là địch đã đón được ý nghĩ của chàng trong phút vừa qua. Nếu vậy, kế hoạch vừa nhú trong óc chàng sẽ không thể nào thành tựu được.

Với tài nhảy xa phi thường có thể đua tài tại Thế Vận Hội, Văn Bình có thể tóm bắt kẻ lạ núp sau cửa. Chàng chỉ cần giả vờ đứng lại, bắt lửa châm thuốc lá, rồi phi thân lùi vế phía sau, sau khi xoay nhanh 180°.

Song chàng không muốn vội.

Nếu địch có nhân viên trên pháo đài nổi, ngày đêm họ phải theo dõi chàng. Sớm muộn họ phải xuất đầu lộ diện và khi ấy, chàng ra tay cũng chưa muộn. Giờ đây, chàng phải đóng kịch, ngây ngô, khuyến khích địch liều lĩnh thêm nữa.

Chàng vuốt ve con chow-chow. Như đọc được tư tưởng của chàng, con chó Tây-tạng khôn ngoan gâu gâu lên mấy tiếng.

Rồi chàng ôm con chow-chow vào lòng, lặng lẽ lên boong. Chàng không buồn nữa. Chàng bắt đầu vui lại như sắp đến giờ hẹn yêu đương với giai nhân tuyệt thế.

Vì tình cờ, chàng đã nắm được bí mật kỳ diệu. Bí mật quyết địngh cho sự thành công rực rỡ trong tương lai.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 3 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.