Trevison bước xuống khỏi lưng con Nigger ngay trước sân nhà Levins, rồi mỉm cười cay đắng nhìn Levins đang nằm sấp ngang qua yên con ngựa lùn của chính anh ta. Anh đã vác Levins ra khỏi quán Belmont rồi quăng lên yên như quăng một bao bột mì. Suốt quãng đường bốn dặm về nhà, Levins nằm im trên đó, trừ hai lần ngắn ngủi Trevison nhấc anh ta xuống đặt nằm phẳng trên mặt đất để nghỉ ngơi. Trevison đã suy ngẫm, với một chút chua chát, về sức mạnh cùng thứ độc tính ngấm rất lâu của thứ rượu whisky ở Manti, bởi trong suốt hành trình trở về, Levins chẳng có lấy một dấu hiệu nhỏ nhất là sắp tỉnh lại. Anh ta rũ rượi như một bao bột khi Trevison nhấc anh ta khỏi lưng ngựa rồi nhẹ nhàng thả trượt xuống đất ngay dưới chân mình. Vài phút sau, Trevison đã đứng trước cửa cabin, vai vẫn vác gánh nặng của mình, ánh sáng yếu ớt từ bên trong hắt ra đâm thấu màn đêm đen kịt và rọi rõ hình ảnh anh trước mắt người phụ nữ mặt mày xám xịt vừa ra mở cửa.
Sự kinh ngạc của cô mang một vẻ lặng câm, đau đớn; đôi mắt sâu hoắm, đong đầy nỗi khổ sở và sự nhẫn phục không thốt thành lời sẽ cho Trevison biết đây chẳng phải lần đầu tiên, nếu như chính mắt anh chưa từng chứng kiến trước đó. Cô đứng nhìn, nuốt nghẹn, nỗi xấu hổ và tủi nhục làm gò má cô ửng lên những vệt đỏ, trong lúc Trevison vác Levins vào phòng ngủ, đặt anh ta xuống rồi tháo boot ra. Khi Trevison bước ra khỏi phòng ngủ, cô đang đứng gần cửa, hướng mặt về phía đêm sa mạc đen thẫm—và vô tình là một tương lai còn tăm tối hơn—khiến Trevison phải khựng lại ngay ngưỡng cửa, nghiến chặt răng vì thương cảm. Người phụ nữ này đáng được hưởng một đối xử tốt hơn. Anh đã biết cô nhiều năm—từ cái thời Levins còn làm việc cho anh và dẫn cô từ một trang trại bên kia Đường Phân Thủy về rồi tuyên bố hai người đã kết hôn. Khi ấy Levins là một con người khác, cũng như người vợ đang đứng ở cửa lúc này từng là một con người khác. Cô đã tàn phai; sự biến chuyển tất yếu do bị bỏ mặc, lo âu và thiếu thốn gây ra đã rút cạn sức sống của cô—chỉ còn lại một người phụ nữ tuổi ba mươi nhợt nhạt, mệt mỏi, sống chỉ nhờ vào những hy vọng nuôi dưỡng tâm hồn. Vẫn còn mấy đứa trẻ—nếu điều đó có thể xem là một niềm an ủi. Trevison nhìn thấy chúng khi đảo mắt quanh căn nhà gỗ. Chúng đang nằm trên một chiếc giường khác; qua khoảng cửa vòm, anh có thể nhìn thấy những gương mặt phúng phính của chúng. Lồng ngực anh căng lên và đôi môi bặm lại.
Nhưng ngay sau đó anh lại mỉm cười, cố mang chút không khí vui vẻ vào căn nhà gỗ, rồi thò tay vào túi lấy ra số tiền anh đã đòi lại được cho Levins.
“Có gần một nghìn đô-la ở đây. Hai gã cờ bạc bịp định trấn trấn số tiền này của Clay, nhưng tôi đã chặn chúng lại. Cô nói với Clay—”
Gương mặt cô Levins tái đi; đây là số tiền lớn nhất cô từng thấy trong đời.
“Của Clay sao?” cô ngắt lời, đầy hoang mang. “Ơ, ở đâu mà—”
“Tôi chẳng biết chút nào cả—nhưng anh ấy có nó, bọn chúng định cướp lấy—giờ thì nó ở đây—nó thuộc về cô.” Anh ấn xấp tiền vào tay cô rồi lùi lại, mỉm cười nhìn sự ngạc nhiên tột cùng và niềm vui trong mắt cô. Nhưng rồi anh thấy niềm vui ấy vụt mất—thay vào đó là sự lo âu và niềm trăn trở ám ảnh hiện lên trong mắt cô.
“Người ta bảo tôi hôm qua Clay đã bắn—đã giết—một người. Có thật vậy không?” Cô liếc nhìn đầy sợ hãi về phía chiếc giường mấy đứa trẻ đang nằm.
“Mấy gã ngu ngốc chết dắt!”
“Vậy là thật rồi!” Cô lấy hai tay che mặt, xấp tiền vẫn nắm chặt trong tay. Rồi cô buông tay ra, nhìn xấp tiền với vẻ ghê tởm. “Anh có nghĩ Clay—”
“Không!” anh cắt ngang, đoán trước được điều cô sắp nói. “Không thể như thế được. Vì người mà Clay giết có mang số tiền này trên người. Clay đã cáo buộc gã đó móc túi mình. Clay đã đọc cho người pha chế ở Plaza số sê-ri của từng tờ tiền trước khi anh ấy nhìn thấy chúng sau khi móc ra khỏi áo quần gã móc túi. Cho nên chuyện không như cô lo sợ đâu.”
Cô lẩm bẩm những lời không rõ tiếng rồi ép cả hai tay lên ngực. Anh cười lớn rồi đi ra phía cửa.
“Thôi, cô và mấy đứa nhỏ cần đến số tiền này. Tôi rất vui vì đã giúp ích được phần nào cho cô. Nói với Clay là anh ấy nợ tôi chút công vận chuyển đấy nhé. Nếu có việc gì tôi có thể giúp cho cô, Clay và mấy đứa nhỏ, tôi sẽ rất sẵn lòng.”
“Không có gì… lúc này đâu,” người phụ nữ nói, lòng biết ơn sáng lên trong mắt cô hòa lẫn với một tia lo âu. “Ôi!” cô thốt lên đầy cay đắng; “giá mà Clay thay đổi! Anh có thể giúp anh ấy trở nên mạnh mẽ hơn không, ông Trevison? Như anh vậy? Anh có thể ở bên anh ấy nhiều hơn, để giữ cho anh ấy đi đúng đường vì đống con trẻ được không?”
“Dạo này Clay lạ lắm,” Trevison nhíu mày. “Hình như anh ấy thay đổi nhiều. Đương nhiên là tôi sẽ làm những gì có thể.” Anh bước ra khỏi cửa rồi quay lại dặn: “Tôi sẽ dắt con ngựa lùn của Clay vào chuồng. Chúc cô ngủ ngon.” Và bóng tối nuốt chửng lấy anh.
Tại trang trại của Blakeley, J. C. Benham vừa đi kiểm tra xong bên trong căn nhà và ngồi lún người xuống chiếc ghế bành dễ chịu đối diện với con gái mình. Blakeley và vợ ông ta đã đi ngủ sau khi thương vụ chuyển nhượng trang trại cho Benham hoàn tất. J. C. nhìn con gái với ánh mắt dò xét.
“Con thích ở đây chứ, hả?” ông nói. “Chà, nhìn con là biết ngay.” Ông chỉ ngón tay về phía cô. “Dạo này Agatha viết thư cho cha khá thường xuyên đấy,” ông nói thêm. Không có tiếng đáp lại, và J. C. tiếp tục, nheo mắt nhìn cô con gái. “Thím ấy kể với cha rằng cái gã tự xưng là ‘Brand’ Trevison đó tỏ ra là một người đồng hành—chúng ta nên gọi là gì nhỉ, dai dẳng?—trong mấy chuyến đi tham quan quanh trang trại của con.”
Gương mặt Rosalind từ từ đỏ bừng lên.
“Hừm,” Benham thốt lên.
“Cha cứ tưởng Corrigan—” ông bắt đầu. Đôi mắt cô gái lạnh ngắt.
“Hừm,” Benham lại lên tiếng.