Ô Kiên Lâm Ba đỗ chiếc chim lạp ma ở quảng trường trước chùa Tháp Nhĩ. Anh không xuống xe, vẫn theo lệ canh giữ trong xe. Canh giữ cũng là nhu cầu của việc khai quật tàng thư, theo lời của A Nhược lạp ma: "Cậu là lực lượng dự bị của chúng ta, đừng có xông pha trận mạc một cách dễ dàng, nếu tôi xảy ra chuyện, cậu sẽ lên thay." Lúc này A Nhược lạp ma đã đi ra ngoài xe, bảo anh rằng lần này có thể cậu ta sẽ phải đợi rất lâu, rất lâu. Ô Kiên Lâm Ba gật đầu, ra vẻ đã biết từ trước. A Nhược lạp ma ngẩng đầu nhìn dãy núi hình hoa sen xung quanh, xoay tại chỗ một vòng, vẻ mặt lo lắng nói:
"Bầu trời chùa Tháp Nhĩ có những đám mây màu hồng, điềm báo của các không hành mẫu xem chừng không được cát tường cho lắm."
Ô Kiên Lâm Ba hỏi: "Không cát tường đến mức độ nào?"
"Vẫn chưa biết rõ, có lẽ đây lại là một pháp trường, ngoài ánh phật quang và mặt trời rực rỡ ra, còn có cả máu tươi và sinh mạng." Nói xong, A Nhược lạp ma dẫn theo vài vị lạp ma tùy tùng vội vã rời đi.
Ô Kiên Lâm Ba nhìn theo bóng lưng của A Nhược lạp ma, lấy điện thoại ra gửi một tin nhắn cho Trí Mỹ: "Chúng tôi đã đến, mau tới đây."
Anh và Trí Mỹ là bạn bè. Cha của Trí Mỹ từng là pháp sư tuyên dụ vân du khắp nơi, đã tu pháp ba năm tại chùa Drepung ở Lhasa, có mối thâm tình vô cùng sâu sắc với Ô Kiên Lâm Ba đến từ cung Ung Hoà ở Bắc Kinh, người cũng đang tu học giáo trình cao cấp hiển tông tại chùa Drepung. Sau khi pháp sư tuyên dụ viên tịch, Trí Mỹ từ vùng Tạng khu Kham thi đỗ vào Đại học Dân tộc Trung ương Bắc Kinh, hai người thường xuyên qua lại thăm hỏi nhau, cứ thế trở nên vô cùng quen thuộc, quen đến mức cùng nhau lên kế hoạch cho một vụ cứu người ứng ngoài hợp trong — giải cứu Hoàng tử Hương Ba, người mở ra "Cửa bảy vị mẫu", khỏi cung Ung Hoà. Nhưng Ô Kiên Lâm Ba cho rằng, mối thâm giao vong niên giữa anh và Trí Mỹ không phải là lý do duy nhất khiến anh buộc phải giải cứu Hoàng tử Hương Ba, ít ra thì lý do này không quan trọng bằng việc sự quan tâm chung đối với "Cửa bảy vị mẫu" đã liên kết anh, Trí Mỹ và Hoàng tử Hương Ba lại với nhau.
Anh từng hỏi Trí Mỹ: "Giả sử cậu là người khai quật được phục tàng "Cửa bảy vị mẫu", cậu định sẽ làm thế nào?"
Trí Mỹ nói: "Công bố ngay lập tức, để di ngôn của Thương Ương Gia Thố phát huy tác dụng, đi thay đổi cục diện tín ngưỡng ngoan cố của thế giới này. Còn cậu thì sao? Giả sử cậu khai quật được phục tàng, cậu định sẽ làm gì?"
Anh nói: "Tôi cũng sẽ công bố, nhưng điều kiện tiên quyết là 'Cửa bảy vị mẫu' phải làm rạng danh Phật giáo một cách trọn vẹn."
Trí Mỹ hỏi: "Lỡ như không phải thì sao?"
Toàn thân anh run lên một cái rồi nói: "À, tôi không biết."
Có một cảm giác chôn giấu sâu thẳm trong đáy lòng mà Ô Kiên Lâm Ba không nói ra, đó chính là sự sợ hãi. Anh sợ di ngôn của Thương Ương Gia Thố thực sự là cánh cửa hủy hoại đạo pháp, là pháp môn phản bội lời thề, thực sự chứa đầy sự phẫn nộ đối với nỗi thống khổ của chính mình và nạn nhân là người tình, chứa đầy sự thất vọng và nguyền rủa đối với chính trị tôn giáo đầy tranh giành quyền lực và máu tanh, khiến Phật giáo phải đối mặt với sự sỉ nhục bùng nổ đến mức không còn mặt mũi nào mà dung thân. Cứ như thế, "Cửa bảy vị mẫu" chính là quả bom, việc khai quật tàng thư chính là hành động kích nổ ngu xuẩn và dã man.
Giữa nỗi sợ sự và do dự, anh đã giúp Hoàng tử Hương Ba trốn khỏi cung Ung Hoà, rồi lại cùng A Nhược lạp ma bôn ba khắp chốn. Một cảnh giới Phật tăng mới mẻ lặng lẽ xuất hiện, người vẫn luôn tu luyện "Cửa bảy vị mẫu" như anh lại bất chợt cảm nhận được rằng khai quật tàng thư chính là tu luyện, hơn nữa còn là sự tu luyện tinh tiến và tiện lợi. Hay nói cách khác, nếu tàng thư không xuất hiện ở thế gian, việc tu luyện sẽ không thể bước vào tầng cao được. Thế là anh đã nhìn rõ một lý do khác khiến anh hy vọng khai quật tàng thư thành công, đó chính là việc anh cũng giống như tất cả các vị sống lạp ma đang nghiên cứu và tu luyện "Cửa bảy vị mẫu", không thể cưỡng lại được sự cám dỗ từ Thương Ương Gia Thố. Câu nói trong "Địa hạ dự ngôn": "Kẻ mang tên Thương Ương Gia Thố ở thế gian chính là người đầu tiên thành tựu Cửa bảy vị mẫu", đã trở thành lý tưởng và mục tiêu tự định hình bản thân của anh, một khi đã tu luyện thì nhất định phải thành công.
Vì sự tu luyện, anh đã bước lên chiếc xe khai quật tốc hành của A Nhược lạp ma, dẫu bề ngoài anh vẫn luôn bình tĩnh và thờ ơ, nhưng anh thừa biết chẳng có kẻ khai quật nào thực sự thờ ơ cả. Điểm khác biệt là anh rõ mình không có thiên phú khai quật độc lập, không hề có chút hoài bão viển vông nào đối với chiếc vòng nguyệt quế "Đại sư khai quật" có địa vị cực cao trong thánh giáo, thế nên anh mới giúp Trí Mỹ, rồi lại giúp A Nhược lạp ma, chỉ mong có thể nhanh lên, nhanh lên, nhanh chóng khai quật được nó ra.
A Nhược lạp ma bảo mấy vị lạp ma tùy tùng đợi ở hẻm chùa, còn mình anh một mình bước về phía Học viện Mật tông chùa Tháp Nhĩ đang chìm trong sự tịch mịch, tức là Cư Ba Trát Thương.
Trước cửa Phật đường Nhiệt Tát của Học viện Mật tông, vị tiến sĩ Mật tông trưởng (Âu Nhiên Ba Cách Tây) Gia Dương đang ngồi trên ghế, vừa nhìn thấy A Nhược lạp ma liền nhắm nghiền hai mắt lại.
A Nhược lạp ma mờ nhạt cười, bước về phía ba tòa Mạn đà la (Đàn thành) lập thể tứ phương tinh xảo tuyệt luồng gồm Mật Tập Kim Cương, Thắng Lạc Kim Cương và Đại Uy Đức Kim Cương, quỳ xuống lạy một lạy, sau đó lại tiến đến trước đỉnh đầu của mẫu thân Tông Khát Ba đại sư là Hương Tát A Khúc, cũng quỳ xuống lạy một lạy. Chiếc đỉnh đầu ấy tự nhiên nổi bật lên ba âm pháp "Úm", "A", "Hồng", được chạm khắc bạc trắng và khâu trân châu, là thánh vật tối thượng để tăng chúng đảnh lễ cầu phúc trong đại hội pháp khí tháng chín hằng năm. A Nhược lạp ma vô cùng sùng kính nhìn ngắm, dùng tay áo tăng bào nhẹ nhàng phủi đi lớp bụi hương khói vương vãi trên đỉnh đầu.
Ông thấy tiến sĩ Gia Dương vẫn phớt lờ mình, bèn bước tới lớn tiếng nói: "Có người đã mở 'Cửa bảy vị mẫu' rồi, ngài còn ở đây nhập định cái gì nữa?"
Tiến sĩ Gia Dương với thần thái hoắc thước cất giọng lảnh lót: "Trước đàn thành chớ có nói nhảm."
A Nhược lạp ma lại nói: "Kẻ mở 'Cửa bảy vị mẫu' vẫn chưa có được 'phục tàng cuối cùng', hình như trong cửa lại còn có cửa, 'Thụ ký chỉ nam' mới nhất nói cho tôi biết, nó đang ở chùa Tháp Nhĩ."
Tiến sĩ Gia Dương mở bừng mắt, thậm chí còn không thèm nhìn đối phương lấy một cái, đứng dậy đi về phía bàn thờ, ôm trọn chiếc hộp phật cùng đỉnh đầu pháp âm của mẫu thân Tông Khát Ba đại sư rồi xoay người bước ra khỏi ngưỡng cửa Phật đường Nhiệt Tát. Chuông báo động vang lên chói tai. Tiến sĩ Gia Dương lại bước một chân quay ngược lại Phật đường, trân trân nhìn A Nhược lạp ma.
Mấy tên hộ tự lạp ma lực lưỡng xông vào.
Tiến sĩ Gia Dương chỉ vào A Nhược lạp ma quát lớn: "Bắt tên trộm này lại cho ta." Nói đoạn đặt chiếc đỉnh đầu trở lại bàn thờ. Chuông báo động lập tức ngừng kêu.
A Nhược lạp ma bị mấy tên hộ tự lạp ma vặn tay áp giải đến điện Khổ hạnh của Học viện Mật tông để giam giữ lại. Ông không ngờ sự việc lại thành ra thế này, ngửa mặt dài thở dắt mà rằng: "Sao trong cửa phật lại có lắm kẻ ngốc thế không biết, lúc trước khi tôi gặp Hoàng tử Hương Ba ở cung Ung Hoà, tôi đã thành kẻ ngốc, bây giờ Gia Dương gặp tôi ở chùa Tháp Nhĩ, Gia Dương lại thành kẻ ngốc."
Mãi cho đến khi trời tối hẳn, tiến sĩ Gia Dương mới mở ổ khóa bước vào.
A Nhược lạp ma vung tay giáng cho một bạt tai: "Mau thả tôi ra, 'Cửa bảy vị mẫu' đang lâm vào cảnh nguy cấp tột cùng, tôi dám chắc Hoàng tử Hương Ba đã đến chùa Tháp Nhĩ rồi."
Tiến sĩ Gia Dương gạt tay ông ra nói: "Đừng có nhắc đến cái gì 'Cửa bảy vị mẫu' với tôi nữa, tôi không muốn nghe."
A Nhược lạp ma thừa biết, chùa Tháp Nhĩ là chốn phát tích của phái Cách Lỗ thuộc Phật giáo Tạng truyền, là một trong sáu ngôi chùa lớn của phái Cách Lỗ, vào thời kỳ đỉnh cao, số tăng ni thường trú lên tới ba nghìn sáu trăm người, sống lạp ma lớn nhỏ tám mươi ba vị, cho dù là hiện tại, số sống lạp ma có khả năng chuyển thế truyền thừa cũng có hơn chục người. Một ngôi chùa lớn với dòng dõi nối tiếp dàu dặc như thế, hẳn là có rất nhiều tăng nhân Mật giáo đang bí mật nghiên cứu "Cửa bảy vị mẫu". Nghiên cứu chính là tu luyện, chứng ngộ chính là khai mở. A Nhược lạp ma không thể nào biết được ai là cao tăng đang nghiên cứu và tu luyện "Cửa bảy vị mẫu" ở chùa Tháp Nhĩ, nhưng chắc chắn người bạn cũ Gia Dương của ông là một trong số đó. Lý do là vì Gia Dương có tính cách cởi mở chưa từng bao giờ nói cho người khác biết anh ta đang tu luyện pháp Mật tông nào, mà ngoài "Cửa bảy vị mẫu" ra, Mật tông của các phái Phật giáo Tạng truyền đã chẳng còn thứ gì là không thể thổ lộ với người đồng đạo nữa rồi.
A Nhược lạp ma nói: "Anh buộc phải nghe. Tôi hỏi anh, tại sao sau sự kiện Chhaya Ogyen xảy ra, chúng ta vẫn không thể đoàn kết nhất trí, có qua có lại? Tại sao khi nghe thấy tiếng tru tréo 'Ta đã đến' của Ô Kiên Lâm Ma rồi, chúng ta vẫn có thể bình thản như không, dửng dưng vô cảm? 'Cửa bảy vị mẫu' chí tôn chí thánh chẳng lẽ lại dâng tay nhường cho Ô Kiên Lâm Ma khai quật sao? Thánh giáo đang phải đối mặt với đại kiếp sinh tử, tại sao chúng ta vẫn cứ phải câu nệ môn hộ, thù địch lẫn nhau như trước kia chứ?"
Tiến sĩ Gia Dương nói: "Tôi không biết tại sao, chỉ biết rằng đại tăng quan đã truyền lời xuống: Phải nghiêm ngặt đề phòng những kẻ đến chùa Tháp Nhĩ để dò la 'Cửa bảy vị mẫu', dù là phàm nhân hay tăng nhân, hễ nhìn thấy A Nhược lạp ma thì đánh đuổi ra ngoài."
A Nhược lạp ma nói: "Các người đã biết tôi sắp đến rồi ư?"
Tiến sĩ Gia Dương nói: "Kể từ lúc anh công khai phản giáo trên 'Mạng đại chúng Tây Tạng học', công bố thành tựu nhập định của mình, anh đã trở thành kẻ thù của chúng ta rồi. Hành động của kẻ thù, sao bọn tôi có thể không biết cho được?"
A Nhược lạp ma nói: "Ba mươi năm trước tôi cùng anh học pháp tại trát thương Quế Mãng thuộc chùa Drepung, chúng ta là đồng môn đồng đạo, nếu tôi là kẻ thù của thánh giáo, thế thì anh là cái thá gì? Nói cho anh biết, tôi đã có được 'Thụ ký chỉ nam' về 'Cửa bảy vị mẫu', đó là một bài tình ca Thương Ương Gia Thố..."
Tiến sĩ Gia Dương nói: "Đừng nói nữa, 'Cửa bảy vị mẫu' là mật pháp tối thượng của Phật pháp, 'Thụ ký chỉ nam' lại càng là thứ chỉ có thể tự mình nhìn thấy chứ không được để người ngoài nghe thấy, một khi đã để mọi người đều biết thì nó sẽ biến thành lời nói nhảm nhí, cho dù có tàng thư đi nữa thì cũng sẽ nhanh chóng tiêu tan thành tro bụi, tan thành mây khói. Anh bây giờ không chỉ là phản giáo, mà còn là hủy giáo."
A Nhược lạp ma nói: "Vậy thì cứ đánh tôi ra ngoài là được, tại sao lại nhốt lại làm gì?"
Tiến sĩ Gia Dương không đáp, vừa bước ra ngoài vừa nói: "Người của Học viện Mật tông đều quá ngọ bất thực, chúng tôi không có cơm tối để thỉnh giáo anh đâu, ngày mai lúc làm lễ ban sáng sẽ có người mang trà tới, tối nay anh cứ đóng cửa mà sám hối đi. Có mấy tên lạp ma tùy tùng của anh đến tìm anh, tôi bảo là anh đang tu hành rồi đuổi về rồi." Nói xong, anh ta đánh 'bốp' một tiếng bật đèn điện, bước ra ngoài, đóng sầm cửa lại từ bên ngoài rồi khóa chết.
A Nhược lạp ma đấm mạnh vào cửa mấy cái, quay người phẫn nộ nhìn bốn bức tường của điện Khổ hạnh, thầm nghĩ Hoàng tử Hương Ba chắc chắn đã đến chùa Tháp Nhĩ bắt đầu đi khắp nơi thăm dò "Cửa bảy vị mẫu" rồi, vậy mà mình lại bị nhốt ở đây, trông như một con khỉ vậy. Ông lấy điện thoại ra định gọi cho Ô Kiên Lâm Ba, nhưng phát hiện trong điện Khổ hạnh không có tín hiệu, bèn sốt ruột đi qua đi lại, đột nhiên khựng người lại, thốt lên một tiếng "Ối", vỗ vào trán mình, 'bịch' một tiếng quỳ sụp xuống chân tường phía nam.
Ông nhìn thấy trên bức tường phía nam có viết một dòng chữ Tạng, dịch sang tiếng Hán chính là:
A Nhược·Quýnh Nãi chuẩn bị tu pháp ở đây, sáng sớm khai quật tàng thư
2
A Nhược lạp ma cứ tưởng Hoàng tử Hương Ba — đối thủ cạnh tranh đã đến chùa Tháp Nhĩ để khai quật tàng thư trước — lúc này vẫn còn đang ở thành phố Tây Ninh, thủ phủ của tỉnh Thanh Hải.
Bọn họ đã nhận phòng, ở tại Khách sạn Khái Niệm Mới, theo lệ mở hai phòng, Hoàng tử Hương Ba một phòng, Trí Mỹ và Mai Tát một phòng. Ba người ăn tối ở nhà hàng xong thì về phòng nghỉ ngơi.
Hoàng tử Hương Ba tắm rửa sạch sẽ, mặc bộ đồ ngủ gọn gàng, đàng hoàng, miệng ngâm nga tình ca bước ra khỏi phòng mình, đi về phía phòng của bạn đồng hành. Anh hy vọng Trí Mỹ sẽ thực hiện lời hứa ngay lúc này.
Cửa khép hờ, Hoàng tử Hương Ba đẩy cửa bước vào, vừa định cất tiếng gọi Mai Tát thì đột nhiên cảm thấy trước mắt hoa lên một trận, một luồng khí lãng cuồn cuộn ập tới, bản thân anh lập tức bị nhấn chìm.
Có một thứ âm thanh chỉ thuộc về chuyện chăn gối, đó là tiếng trẻ thơ vô thức, là âm thanh vui sướng nguyên thủy mộc mạc phát ra từ tận đáy lòng con người. Nhưng qua cái miệng của Mai Tát, nó lại biến thành dư vận của khúc tình ca, là âm điệu cổ xưa văng vẳng của tình ca Thương Ương Gia Thố từ thiên đường nghệ thuật bước xuống thiên đường ái ân, cõi tưởng tượng xa vời vợi bỗng chốc hóa thành khúc thiên thai thì thầm giữa chốn hoan hỉ phàm trần, được diễn tả một cách đầy đam mê nhiệt huyết bởi hai thể xác sống động đầy uyển chuyển. Hoàng tử Hương Ba thầm nghĩ chúng ta chỉ biết hát tình ca Thương Ương Gia Thố, chứ chẳng nhìn thấy chuyện chăn gối của Thương Ương Gia Thố, đây mới chính là chuyện chăn gối của Thương Ương Gia Thố, niềm vui sướng tuyệt diệu của tất cả mọi người chính là chuyện chăn gối của Thương Ương Gia Thố. Thương Ương Gia Thố là một tiêu chuẩn, tiêu chuẩn của tình ái và ái ân, là một ý cảnh, ý cảnh của thơ và tình, ca và ái. Nhưng vào khoảnh khắc này, ý cảnh ấy không thuộc về Hoàng tử Hương Ba, anh hớn hở bước tới, để rồi chỉ có thể thở dài bước đi.
Lúc này Trí Mỹ quay đầu lại nhìn thấy anh, đột nhiên đứng phắt dậy, vẫy vẫy tay về phía anh.
Hoàng tử Hương Ba sững sờ. Trí Mỹ khoác áo lên bước tới, mỉm cười, dùng hai tay đỡ lấy bã vai anh, đẩy anh tiến vào trong, có vẻ như muốn thực hiện ngay lời hứa rời xa Mai Tát. Trong cơn kinh ngạc, Hoàng tử Hương Ba đã đứng ngay trước mặt Mai Tát.
Trong trạng thái mờ mịt, Mai Tát mở bừng mắt, nhìn thấy Hoàng tử Hương Ba, cứ ngỡ đó là ảo giác: Vừa rồi cô nhắm mắt lại tưởng tượng Trí Mỹ chính là Hoàng tử Hương Ba, kết quả là Trí Mỹ liền hóa thành Hoàng tử Hương Ba thật. Lòng cô dâng lên một nỗi thê lương, thầm nghĩ xin lỗi Trí Mỹ nhé, em có thể sai khiến thể xác mình, nhưng lại không thể sai khiến trái tim mình. Chắc chắn anh đã phát hiện ra rồi, phát hiện ra tâm tư của em không còn đặt ở anh nữa. Thế nhưng Trí Mỹ ơi anh cũng đâu cần phải vì thế mà rời đi, dẫu sao thì người đang ân ái với em là anh chứ không phải Hoàng tử Hương Ba, dẫu sao thì về mặt thể xác em chưa từng phản bội anh. Lại đây nào, lại đây nữa đi, anh có thể dừng lại, nhưng em thì không dừng lại được đâu, Trí Mỹ em thề đấy, thề là sẽ không bao giờ tưởng tượng anh thành Hoàng tử Hương Ba nữa đâu.
Mai Tát cong cổ lên, cấp bách vẫy tay gọi.
Trí Mỹ giật mình kêu lên một tiếng: "Hoàng tử Hương Ba anh tới đây làm gì?"
Mai Tát chợt bừng tỉnh, trừng trừng mở to mắt nhìn kỹ, trước mặt thực sự là Hoàng tử Hương Ba, đứng sau anh ta mới là Trí Mỹ. Cô giật mình chồm dậy, theo bản năng cuộn tròn người lại, thét lên: "Anh xông vào đây làm gì? Cút ra ngoài, cút ngay."
Trí Mỹ nhỏ giọng nói với Hoàng tử Hương Ba: "Anh đã nhìn thấy cảnh không nên thấy nhất rồi đấy, cô ấy có gia giáo gia phong cực kỳ nghiêm khắc, ghét nhất, không, phải nói là gần như căm thù bất kỳ người đàn ông nào khác ngoài tôi nhìn thấy thân thể trần truồng của mình."
Hoàng tử Hương Ba quay người lại, đăm đăm nhìn nụ cười trên khuôn mặt Trí Mỹ.
"Cút ra ngoài, cút ra ngoài, Trí Mỹ anh đánh hắn cút ra ngoài đi." Mai Tát hét lên với giọng khản đặc, với lấy bộ quần áo trên giường, hoảng hốt quấn lên người nhưng mãi mà không mặc nổi, bứt phá kéo luôn chiếc chăn đắp lên người mình, đầy vẻ bi ai thốt lên: "Mẹ ơi, suýt chút nữa, suýt chút nữa là con phải xuống địa ngục, làm súc sinh rồi."
Hoàng tử Hương Ba cất bước đi ra ngoài. Trí Mỹ tiễn anh ra, cười nói: "Tôi không nuốt lời đâu, là do anh tự chuốc lấy thất bại đấy chứ. Anh đã thấy rồi đấy, tận xương tủy cô ấy vốn dĩ đã ác cảm với anh, anh mau từ bỏ ý định đi thôi."
Hoàng tử Hương Ba lắc đầu, xoay người bước đi, lồng ngực ê ẩm, cái sự ê ẩm này không phải là tâm trạng mà là khúc tình ca. Vui sướng cũng là tình ca, bi thương cũng là tình ca, thất vọng, bất đắc dĩ, ngỡ ngàng, khó hiểu, bực bội vân vân những cảm giác phức tạp chẳng thể nói rõ thành tên rốt cuộc vẫn cứ là khúc tình ca Thương Ương Gia Thố. Anh không kìm được mà cất giọng hát lên, dường như vào khoảnh khắc này anh thực sự đã hóa thân thành Thương Ương Gia Thố, lại như thể từ hàng trăm năm trước Thương Ương Gia Thố đã dùng khúc tình ca để thay anh, thay tất cả mọi người bày tỏ toàn bộ cảm xúc yêu đương cuồng nhiệt và thất tình.
Trong trăm gốc cây,
Chọn trúng gốc dương liễu này,
Thiếu niên là tôi từ xưa nào biết,
Lòng cây sớm đã mục rữa từ lâu.
Chim cu gáy bay đến từ Môn Ngưu,
Vì nỗi nhớ nhung cây thần bách,
Cây thần bách đã thay lòng đổi dạ,
Chim cu gáy đau đớn lang thang đi về.
Anh cứ hát mãi, hoàn toàn không có chút buồn ngủ nào, hát bài này qua bài khác, toàn là những khúc ca bi ai của kẻ thất tình, toàn là những lời thổ lộ đau lòng, dường như vóc dáng cao lớn thẳng thắp của anh chứa đựng sự nhạy cảm và mỏng manh nhiều hơn người khác, khiến anh càng lúc càng chìm đắm sâu hơn vào bối cảnh ngôn từ của Thương Ương Gia Thố, văng vẳng gợn lên từng đợt nước mắt thương tang một cách trong trẻo mà thê lương. Anh không hề hay biết rằng Mai Tát vẫn luôn lắng nghe, phòng của cô và anh chỉ cách nhau có một bức tường, nghe một cách rõ mồn một.
Lại là ân ái, là cuộc ân ái được bắt đầu lại từ đầu. Tựa hồ như Trí Mỹ muốn dùng sự dũng mãnh và bền bỉ để chứng minh bản thân, còn Mai Tát cũng muốn dùng ngọn lửa dục vọng vừa được nhen nhóm lại để giải tỏa bản thân và an ủi Trí Mỹ, nhưng cuối cùng họ lại phát hiện ra mình đã thất bại, điều mà chuyện chăn gối khơi gợi ra không phải là dòng nước tình hay con sóng dục, mà là nước mắt. Mai Tát khóc rồi.
Chính khúc tình ca Thương Ương Gia Thố đã khiến Mai Tát khóc không ngừng nghỉ, hơn nữa thứ mà nó tác động không chỉ đơn thuần là tâm lý và cảm xúc, mà còn là sinh lý và bản năng, tựa như cơn đói khát và cơn buồn ngủ không thể kiểm soát vậy. Nương theo tiếng hát hết bài này đến bài khác của Hoàng tử Hương Ba về khúc tình ca Thương Ương Gia Thố, một phản ứng có điều kiện đã xuất hiện, tình cảm và nước mắt không sao kìm nén được đã biến thành cái bóng của khúc tình ca, nó ở đó thì bạn cũng ở đó, nó đi thì bạn cũng đi, hiên ngang vươn cao, tuôn trào không dứt, tựa như mối tình cuồng nhiệt vô hình giữa các linh hồn, cảm thấy nó thực sự tồn tại, nhưng lại vĩnh viễn chẳng thể chạm tay vào được. Trí Mỹ và Mai Tát đành phải vội vã kết thúc.
Trí Mỹ hướng về phòng bên cạnh gầm lên một tiếng: "Đừng hát nữa."
Thế nhưng tiếng hát vẫn không dừng lại. Hoàng tử Hương Ba sẽ không vì sự can thiệp của bất kỳ ai mà ngừng hát tình ca Thương Ương Gia Thố, dường như đó cũng là một phản ứng bản năng và phản ứng có điều kiện, hễ anh tỉnh giấc là anh bắt đầu cất tiếng hát.
Mai Tát bật khóc thành tiếng. Trí Mỹ luống cuống quay vòng vòng quanh cô, chợt nhận ra rằng, rõ ràng là anh cố ý đào một cái bẫy cho Hoàng tử Hương Ba, nhưng kẻ thực sự sa bẫy lại chính là mình. Anh trừng trừng nhìn Mai Tát, cảm thấy trong đôi mắt lẫn lộn với nước mắt của cô không chỉ có sự bi thương, mà còn có cả nỗi oán hận sâu sắc cùng sự xa cách đối với anh, đây chính là điều khiến anh không tài nào chịu đựng nổi. Trong lòng anh dấy lên một cơn đau nhói như dao cắt, bèn lao vụt ra ngoài, vung nắm đấm nện mạnh vào cửa phòng Hoàng tử Hương Ba.
Khúc tình ca cuối cùng cũng ngừng lại. Hoàng tử Hương Ba mở cửa ra. Hai người đàn ông đối đầu nhau, Trí Mỹ liên tục nắm chặt rồi lại xòe bàn tay ra, ngọn lửa giận dữ trong mắt bập bùng cháy rực, thậm chí có thể nhìn thấy rõ cả những đốm lửa màu xanh và đỏ. Còn trên khuôn mặt của Hoàng tử Hương Ba cũng tràn ngập sự kiên định và quả quyết: Muốn đánh nhau thì ai ngán ai nào, cứ lao vào đây. Một trận ác chiến sắp sửa bùng nổ ngay trước mắt.
Đột nhiên, Hoàng tử Hương Ba bật cười. Gần như cùng lúc đó, Trí Mỹ cũng phì cười.
Hoàng tử Hương Ba nói: "Tôi nhớ Thương Ương Gia Thố chưa từng đánh người bao giờ, vũ khí của ngài chính là tình ca."
Trí Mỹ nói: "Thương Ương Gia Thố đã hát đến chết bản thân mình, cậu rồi cũng sẽ tự hát đến chết thôi."
"Đây chỉ là sự kỳ vọng của Liên minh tín ngưỡng mới và Ô Kiên Lâm Ma mà thôi, tại sao cậu lại cứ phải mặc chung một chiếc quần với Ô Kiên Lâm Ma làm gì?"
"Không phải tôi, là tôi với Mai Tát."
"Cứ chờ đấy, tôi nhất định sẽ cướp Mai Tát về từ tay cậu và Ô Kiên Lâm Ma."
"Không thể nào đâu, 'Cửa bảy vị mẫu' không phải là khúc tình ca, mà là khúc vãn ca, là khúc vãn ca hát cho Phật giáo nghe, đến lúc đó ngay cả cậu cũng sẽ phải quay về chỗ của Ô Kiên Lâm Ma thôi."
"Kẻ muốn yêu thì hát tình ca, kẻ muốn chết thì hát vãn ca. Chúng ta còn đứng đây đôi co làm gì nữa? Đã không ngủ được, chi bằng nhân đêm nay xuất phát đi khai quật tàng thư luôn đi. Tôi tin rằng 'Cửa bảy vị mẫu' và Thương Ương Gia Thố sẽ khiến Mai Tát đem lòng yêu tôi."
Trí Mỹ cười nhạt một tiếng: "Cửa bảy vị mẫu' chỉ có thể xé nát những lời nói dối trong tình yêu, di ngôn của Thương Ương Gia Thố nhất định sẽ đưa 'Vụ bê bối của thánh đồ' đi đến cùng cho mà xem, không tin cứ chờ mà xem."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Nếu quả thật là vậy, thì tôi đành phải từ bỏ thôi, không phải từ bỏ Mai Tát, mà là từ bỏ sinh mạng."
Ba con người chẳng tài nào chợp mắt nổi, liền rời khỏi Khách sạn Khái Niệm Mới ngay trong đêm.
Đêm ở Tây Ninh khiến Hoàng tử Hương Ba mừng rỡ khôn xiết: Không ngờ lại chẳng có lấy một bóng đèn nào sáng. Hóa ra vào đêm hôm đó có một chiếc xe ô tô đâm gãy cột điện cao thế, gây ra sự cố mất điện diện tích lớn ở khu vực phía đông thành phố. Hoàng tử Hương Ba cứ nghĩ đây chính là sự trợ giúp ngầm từ thần linh, dẫu cho xe cảnh sát Land Rover và chim lạp ma có đuổi sát phía sau đi chăng nữa, bóng tối cũng sẽ che chở để họ bình an rời đi. Anh đã đến Tây Ninh mấy lần rồi, trí nhớ đối với những con đường huyết mạch chính của thành phố này vẫn còn rất rõ nét. Anh bảo Trí Mỹ lái xe từ đường mới Thành Đông rộng lớn rẽ về phía tây rồi quẹt xuống phía nam, lao thẳng đến tuyến đường cao tốc dẫn tới chùa Tháp Nhĩ ở Hoàng Trung, bỗng lại lớn tiếng hét lên: "Dừng xe."
Nơi này đã là khu phía nam, khu phía nam có điện, ánh đèn soi sáng phía trước, đồng thời cũng soi rõ cả xe cảnh sát và cảnh sát tại trạm thu phí trên đường cao tốc. Chiếc Wrangler liền quay đầu chạy thục mạng. Xe cảnh sát đuổi theo ngay phía sau.
Trí Mỹ nói: "Bây giờ chúng ta chạy đi đâu đây?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Quay đầu đi theo đường cũ."
Chiếc Wrangler quay ngược đường cũ trở về khu Thành Đông không có ánh đèn, tắt đèn xe rồi chạy lung tung một hồi, đột nhiên phát hiện mình đã đi vào ngõ cụt. May là cái đuôi theo dõi đã bị cắt đuôi, họ nghỉ ngơi trong ngõ cụt một lúc, sau đó do Hoàng tử Hương Ba cầm lái, lại một lần nữa chạy về hướng tây. Ý của Hoàng tử Hương Ba là, nhất định phải làm rõ xem cảnh sát chỉ chặn con đường đi chùa Tháp Nhĩ, hay là chặn tất cả các con đường rời khỏi Tây Ninh, nếu là trường hợp sau thì chứng tỏ đối phương vốn không hề biết họ định đi chùa Tháp Nhĩ, mà chẳng qua chỉ là vây bắt tứ phía, rọ heo bắt rùa mà thôi. Họ tiến về phía nút giao đường cao tốc dẫn đến Thanh Hải Hồ ở phía tây thành phố, từ xa nhìn thấy ở đó cũng có cảnh sát và xe cảnh sát.
"Xe không chạy ra ngoài được nữa rồi." Hoàng tử Hương Ba nói, "Hơn nữa mục tiêu của chiếc Wrangler quá rõ ràng, cho dù có lái đến chùa Tháp Nhĩ thì cũng rất nguy hiểm."
Họ lại một lần nữa quay đầu theo đường cũ, lái xe thẳng vào Học viện Dân tộc Thanh Hải nằm ở đường Bát Nhất.
Đây là một nơi quen thuộc đối với Hoàng tử Hương Ba. Năm năm trước khi điều tra sự tích về Thương Ương Gia Thố, anh đã từng ở tại nhà khách của học viện dân tộc. Cách nhà khách không xa là một khu gia thuộc, anh đỗ chiếc Wrangler vào một góc khuất kín đáo, nhìn về phía nhà khách rồi nói: "Trí Mỹ cậu tính xem, tiếp tục đi hay là tạm thời trốn đi?"
Trí Mỹ thọc tay vào chiếc túi đựng quẻ hàng yêu đeo chéo bên người, sờ soạng lấy ra một hạt châu thủy tinh ngắm nghía rồi nói: "Đi thôi, trước khi rời khỏi Tây Ninh sẽ không có chuyện lớn đâu, nhưng vẫn phải cẩn thận."
Thế nhưng họ vừa bước ra khỏi cổng Học viện Dân tộc, liền nghe thấy có người hét lớn một tiếng: "Bắt chúng lại." Hơn chục tên cảnh sáto ào lao vút tới.
Hoàng tử Hương Ba hét lớn một tiếng: "Chạy mau."
Ba người chạy theo ba hướng khác nhau.
Hoàng tử Hương Ba chạy được hơn chục bước chân thì bị tóm gọn. Sáu bảy tên cảnh sát đè ngã anh xuống đất, quặt ngược hai tay ra sau, "cạch" một tiếng còng tay quặt lưng lại. Lúc anh bị kéo đứng dậy và áp giải lên xe cảnh sát, anh phát hiện Mai Tát cũng đã bị còng quặt lưng, đang đau đớn còng gập cả người ngay trước cửa xe cảnh sát. Hai tên cảnh sát chạy tới, vừa thở hồng hộc vừa nói với đồng bọn rằng, quái lạ thật đấy, tên kia cứ như cái bóng vậy, cảm giác như đã tóm được rồi thế mà chớp mắt trong tay lại trống trơn, bắt lại lần nữa thì đến cả cái bóng cũng chẳng thấy tăm hơi đâu.
Trí Mỹ đã chuồn mất tăm, gã ngốc bị Ô Kiên Lâm Ma làm cho u mê đầu óc này lúc bỏ chạy thế mà lại nhanh hơn bất kỳ ai.
Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát bị áp giải về đội hình cảnh thành phố Tây Ninh. Việc thẩm vấn được tiến hành riêng biệt, nhưng câu hỏi thì lại y hệt nhau: Tại sao lại chạy? Bọn mày chẳng làm gì sai thì thấy cảnh sát sao lại phải sợ? Những câu hỏi kiểu này khiến Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát lập tức bừng tỉnh: Thứ mà cảnh sát muốn bắt vốn dĩ không phải là họ. Tựa hồ như đã bàn tính từ trước, câu trả lời của Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát gần như tương tự nhau: Chúng tôi là người Tạng, quen sống trên thảo luận rồi, không biết quy tắc trong thành phố, lại thêm cả nam lẫn nữ đi cùng nhau, chột dạ, sợ bị hiểu lầm nên mới bỏ chạy. Hoàng tử Hương Ba còn cố ý bồi thêm một câu: Chúng tôi là người đàng hoàng, chuyện nam nữ chẳng có vấn đề gì hết, không tin các anh cứ kiểm tra mà xem. Rất nhanh sau đó họ được thả ra, cảnh sát bảo với họ rằng, hai tiếng trước đã xảy ra một vụ cướp của giết người đặc biệt nghiêm trọng.
Hoàng tử Hương Ba nói: "Theo cách bắt người bừa bãi như các anh, chắc chắn sẽ oan uổng cho người tốt thôi."
Cảnh sát nói: "Theo kiểu cứ thấy cảnh sát là cắm cổ chạy như tụi mày, không bị oan mới là lạ đấy."
Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát lên một chiếc taxi, vội vã chạy thẳng đến chùa Tháp Nhĩ cách Tây Ninh hai mươi lăm cây số ngay trong đêm.
Hoàng tử Hương Ba nói: "Em gọi điện cho Trí Mỹ đi, bảo cậu ta tự mình đến chùa Tháp Nhĩ tìm chúng ta."
Mai Tát cúi đầu nói: "Em gọi rồi, tắt máy, chắc là hết pin rồi."
Suốt dọc đường, hai người ít khi nói chuyện, ai nấy đều có vẻ ngượng ngùng đôi chút. Đặc biệt là Mai Tát, hễ đối mặt với Hoàng tử Hương Ba là mặt lại đỏ bừng, đầu lại cúi gầm xuống. Cứ như thể bị Hoàng tử Hương Ba nhìn thấy thân thể trần truồng một lần, thì đứng trước mặt anh cô chỉ có thể là thân thể trần truồng, vĩnh viễn là thân thể trần truồng vậy. Hoàng tử Hương Ba không chịu nổi sự cô quạnh, bèn cất giọng hát lên, tất nhiên toàn là những khúc tình ca Thương Ương Gia Thố, vừa hát vừa nghe thấy Mai Tát nói:
"Xin anh đừng hát nữa, em cảm thấy rất buồn."
Hoàng tử Hương Ba không tài nào hát nổi nữa, thầm nghĩ đây chính là hiệu quả của khúc tình ca Thương Ương Gia Thố, nó sẽ khiến tất cả những kẻ đang yêu đều phải đau lòng. Hay nói cách khác, những ai nghe khúc tình ca Thương Ương Gia Thố mà đau lòng, đều là những người tình đượm đà hay lợt lạt, sâu sắc hay nông cạn mà thôi.
Cũng may là đường đi đã đến tận cùng, chùa Tháp Nhĩ đang sừng sững hiện ra trước mắt, sự ngượng ngùng và khó chịu tự khắc lùi bước, khi sự thiêng liêng và cấp bách của việc khai quật ập đến thình lình, hai người lập tức trở nên tự nhiên hơn hẳn.
3
Bố cục của chùa Tháp Nhĩ ban đầu mang phong cách của những ngôi làng, các con hẻm chuỗi liền các điện thờ, mang lại cho người ta cảm giác điện nào cũng giáp mặt đường, chùa nào cũng thành hẻm lớn. Bây giờ người ta đã xây tường rào và cổng lớn vào rồi, trông chẳng khác nào một đại viện lớn, xấp xỉ phong cách của Trung Nam Hải. Chỉ có điều đại viện này nằm nhấp nhô dọc theo sườn núi, cao thấp bất đồng theo địa thế, thứ ít đi là sự vuông vức quy củ, thứ nhiều lên lại là khí thế và sự nguy nghiêm. Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát đi dạo khắp nơi dọc theo vùng ngoại vi chùa Tháp Nhĩ, những cửa hàng san sát, vàng son lộng lẫy ban ngày nay đều ẩn mình trong bóng tối đèn đuối, vạn vật tĩnh mịch không một tiếng động. Hai người di chuyển tựa như những bóng ma, làm tăng thêm không ít vẻ quỷ dị và bất an cho chùa Tháp Nhĩ về đêm.
Hoàng tử Hương Ba từng dùng phương pháp đi bộ để nghiên cứu địa hình của chùa Tháp Nhĩ, anh rất quen thuộc với tám thung lũng tám khe suối xếp đặt như hình hoa sen, anh biết rằng bức tường rào kia dẫu có cao có dài đến đâu đi nữa thì cũng không thể vắt ngang qua những dãy núi trập trùng không dứt được. Trong thung lũng núi Tông Khát Hoa Sơn, chùa Tháp Nhĩ tựa như nhụy hoa, ba mặt đông, tây, nam của nó chính là những dãy núi dùng làm tường thành. Hoàng tử Hương Ba dẫn theo Mai Tát trước tiên đi đến Đông Sơn, sau đó đến Nam Sơn, lợi dụng ánh trăng mò mẫm khắp nơi nhưng chẳng tìm được đường xuống núi. Cuối cùng họ đến Tây Sơn, đi vòng vèo lúc lên lúc xuống. Chẳng biết đi kiểu gì mà khi họ dừng chân thở dốc thì phát hiện mình đã đặt chân đến trước cửa Đại Lạp Lạng lưng chừng núi.
Hoàng tử Hương Ba vui mừng nhỏ giọng nói: "Chúng ta có thể lên đến đây, chứng minh là đã đột nhập thành công vào chùa Tháp Nhĩ rồi." Anh lại bảo Mai Tát rằng, Đại Lạp Lạng là tên gọi dân gian, tên chính thức của nó là Tác Tây Khang Tái, người Hán gọi là Cát Lường Cung, trước kia từng là tẩm cung của các đời Đạt Lai, Ban Thiền cùng các vị pháp đài tiền nhiệm. Hoàng đế Càn Long từng phái người đến xây dựng tường cung, hoa môn và cổng tào quan... cho Đại Lạp Lạng, đồng thời ban cho tên là "Vĩnh Huệ Cung". "Em nhìn kìa, đây là nơi có thể phóng tầm mắt bao quát toàn cảnh chùa Tháp Nhĩ."
Bóng đêm đậm đặc tựa như những lớp màu được tô vẽ rõ rệt từng tầng, bầu trời thì đen nhạt, núi non thì đen sậm, cây cối thì đen mực, vạn gian tăng xá một màu xám đen, còn những tòa đại điện sừng sững vươn cao cùng những tiểu đường thấp lè tè, vì những bức tường đỏ mà hóa thành màu tím đen. Lại có thêm cả những tiểu viện tường trắng, lầu các ngói xám, thì trượt dài một dải đen khói. Những thứ không có màu đen chính là đỉnh vàng, bình báu, pháp luân, tường lân, cát lộc, gương đồng, chúng hiện lên trong các tầng lớp màu đen với những sắc thái vàng vô cùng phong phú khác nhau: Vàng dịu nhẹ, vàng ánh mặt trời, vàng ánh sáng trắng, vàng ánh sao, vàng lốm đốm chói lọi, vàng đồng đỏ, hơn nữa lại còn bồng bềnh trôi nổi, tựa như từng đàn cá vàng trong những con sóng đen, từng đợt sấm chớp trên mây đen chớp sáng không dứt.
Mai Tát ngẩn người nhìn ngắm, liên mồm thốt lên: "Chỗ tốt, chỗ tuyệt quá."
Hoàng tử Hương Ba dắt tay cô, đi dọc theo con đường Đức Cát hình chữ "Chi", bước xuống phía dưới. Vừa đi đến trước điện Trường Thọ, anh liền nhìn thấy một đội hộ tự lạp ma tay cầm thiền côn từ viện quản gia sống lạp ma bước ra, vội vã tiến vào một đại viện ở phía trước. Hoàng tử Hương Ba kéo Mai Tát nấp đi, nhỏ giọng nói: "Phía trước chính là Đại Cát Oa, nửa đêm canh ba mà điều động binh mã thế này, nhất định là đã xảy ra chuyện gì rồi."
— "Đại Cát Oa? Đại Cát Oa là cái gì?"
— "Đại Cát Oa từng là cơ quan quản lý hành chính của toàn chùa, chịu trách nhiệm cho vay cho thuê ruộng đất, phân phát bố thí, liên lạc đối ngoại, xét xử vụ án vân vân trong toàn chùa. Trước kia các vị lão gia Đại Cát Oa khi xét xử các loại vụ án thuộc bộ tộc của chùa bao gồm cả án mạng, thì nha môn huyện địa phương không có quyền can thiệp. Bên trong Đại Cát Oa thiết lập phòng ban, hình đường cùng các dụng cụ tra tấn như roi da, xích sắt. Đối với bách tính và tăng nhân bị phán có tội, nhẹ thì phạt tiền, lệnh cho bỏ tiền ra nấu trà nấu cháo cho tăng chúng toàn chùa để chuộc tội; nặng thì xử hình phạt thể xác, đánh roi, trói xích sắt, phạt lao dịch nặng nhọc. Hoặc cũng sẽ tống những kẻ thiếu nợ thiếu thuê vào phòng ban, bắt người thân bạn bè mang tiền tới chuộc ra. Thế nào gọi là 'chính giáo hợp nhất', đây chính là nó đấy. 'Chính giáo hợp nhất' vừa là sự thống ngự của tinh thần đối với chính quyền, vừa là sự thống ngự của chính quyền đối với tinh thần. Khi quyền lực bắt đầu trừng phạt tội ác bằng hình phạt thể xác, thì phần mô cơ tinh thần sẽ bị tổn thương vô địch mà tự làm tổn hại chính mình. Bây giờ Đại Cát Oa đã không còn những quyền lực này nữa, nhưng uy nghiêm và lệ cũ vẫn còn tồn tại, vào thời khắc then chốt, họ vẫn có thể nhận được sự ủy quyền từ ủy ban quản lý, tổ chức đại hội kinh đường và gánh vác trách nhiệm hộ giáo hộ pháp."
Hoàng tử Hương Ba kéo Mai Tát, lom khom áp sát Đại Cát Oa, bỗng khựng lại, ngồi xổm xuống bên dưới bức tường đá đen ngòm.
Cửa Đại Cát Oa mở ra, đội hộ tự lạp ma tay cầm thiền côn từ cánh cửa gỗ mở đôi lần lượt đi ra, dưới sự dẫn dắt của một vị sống lạp ma trần tay áo, lao thẳng tới Đại Kinh Đường. Hoàng tử Hương Ba ngẩn người đờ đẫn: Phía sau Đại Kinh Đường chính là nơi "Đỏ cuống rốn, xanh đắc đạo, Văn Thù sư tử rống", chính là Đại Kim Ngวา Điện nơi tôn trí Bồ Đề Đại Ngân Tháp. Nơi đó có dấu vết của Vạn Mã hoạt Phật, có sự cám dỗ của thánh môn: "Cửa bảy vị mẫu" — "phục tàng cuối cùng" — "Di ngôn Thương Ương Gia Thố" — "Y Trác Lạp Mẫu hạnh phúc", từng lớp sương mù, từng tầng phong cảnh, tầng nào cũng là thiên thần. Anh bằng trực giác nhận ra rằng: Nếu Đại Kim Ngวา Điện xuất hiện đông đảo hộ tự lạp ma, thì chắc chắn là nhắm vào anh và Mai Tát rồi.
"Phải làm sao đây?" anh hỏi Mai Tát.
"Làm sao tôi biết được? Phải dựa vào anh thôi, mau nghĩ cách đi."
"Đừng có nói là dựa vào anh, anh phải dựa vào em mới đúng. Anh vừa tưởng tượng em thành Vô Tử Phật Mẫu và Trí Tuệ Không Hành Mẫu rồi đấy, chỉ cần em gia trì cho anh, chúng ta là có thể xông qua thôi."
"Gia trì kiểu gì?"
Hoàng tử Hương Ba xích lại gần cô, nắm lấy tay cô: "Hôn anh một cái đi."
Mai Tát hất tay anh ra: "Đến nước này rồi mà anh còn dở thói lưu manh."
Hoàng tử Hương Ba nghiêm túc nói: "Anh hôn em một cái cũng được."
Mai Tát lùi ra phía sau né tránh, nhưng thấy Hoàng tử Hương Ba lom khom tiến lên, đành vội vàng bước theo.
Hoàng tử Hương Ba dừng lại nói: "Thực ra em đã gia trì cho anh rồi còn gì, anh vừa nắm lấy tay em, phát hiện nó vừa mềm mại vừa trơn tuột lại ấm áp, thế là anh liền tưởng tượng nó thành trái tim của em. Giống như phụ nữ có hai cái tay vậy, phụ nữ cũng có hai trái tim, một trái tim đập thình thịch sinh ra tư tưởng, một trái tim chảy róc rách sinh ra tình yêu. Một trái tim nằm ở bên trong cơ thể, một trái tim nằm ở bên ngoài cơ thể. Trái tim bên ngoài là trung tâm của cơ thể, trái tim bên trong là trung tâm của tư tưởng. Cả hai trái tim đều là thứ bí ẩn nhất lại cũng quyến rũ nhất của người phụ nữ. Quan trọng hơn là, hai trái tim ấy thông suốt và hợp nhất làm một, dù cho anh có được trái tim nào đi chăng nữa, thì cũng có nghĩa là cả hai trái tim đều thuộc về anh. Thần thoại Hy Lạp nói mũi tên của Cupid bắn trúng ai, người đó sẽ nảy sinh tình yêu, thực ra là đang nói về phong trào sinh sản của nam giới. Đàn ông tuy bắn trúng trái tim bên ngoài của phụ nữ, nhưng thứ chinh phục được thực sự lại chính là trái tim bên trong. Thương Ương Gia Thố chính là vị đại thần Cupid của người Tạng chúng ta, ngài đã dùng tình ca để bắn trúng trái tim của tất cả phụ nữ, bao gồm cả trái tim của em."
"Tim với chác gì, cái anh nắm giữ chẳng qua chỉ là cái tay của tôi thôi." Mai Tát có vẻ ghét bỏ cọ cọ tay lên người mình.
Hoàng tử Hương Ba nói: "Không phải tay này thì là tay kia." Thấy cô lại cọ cọ bàn tay kia, anh cười nói: "Vô ích thôi, em biết đấy, cống hiến lớn nhất của Phật giáo chính là khai mở trí tưởng tượng của con người, tưởng tượng nó là gì thì nó chính là cái đó. Điều này đòi hỏi sự thành kính và công phu, anh bẩm sinh đã có sẵn công phu như thế rồi. Em đã nằm trong trí tưởng tượng ban ngày ban đêm của anh rồi, tưởng tượng thì không cọ bay đi được đâu."
Mai Tát giận đến nghiến răng nghiến lợi: "Nếu tôi mà biết giết người, người đầu tiên tôi giết chính là anh."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Giết một người yêu em và người em yêu ư?"
Họ dọc theo bức tường đá di chuyển về phía trước, đi đến bên ngoài cổng viện Đại Kinh Đường, cổng đang khép hờ, nghe ngóng một lúc, liếc mắt nhìn vào, vắng tanh không một bóng người. Nhấc chân bước qua ngưỡng cửa, "bịch" một tiếng, đầu Mai Tát đập lệch vào chiếc then cửa lồi ra, đau đến mức cô xuýt xoa "xì xì". Có một vị lạp ma từ cánh cửa nhỏ góc tây bắc viện đi ra, đi tới phía trước vài bước, lại sải bước quay gót trở lại, dường như không nhìn thấy họ. Họ từ dưới mái hiên bên phải áp sát Đại Kinh Đường.
Trong Đại Kinh Đường, ánh đèn bơ nhấp nháy tựa như từng cụm quả cầu lửa nóng bỏng, nơi hội tụ của những quả cầu lửa liền hóa thành dòng sông lửa. Bóng dáng các vị lạp ma chập chờn trước dòng sông lửa, tiếng kinh vang vọng xuyên qua màn đêm, khiến cho nửa đêm càng thêm tịch mịch. Gió đều đặn vang vọng, cần mẫn nâng niu những câu chú chân thành bay thẳng lên trời cao.
Hoàng tử Hương Ba tựa người vào cột trụ cửa Đại Kinh Đường, thò đầu ngắm nghía một lát, nắm lấy tay Mai Tát bước qua cánh cửa nhỏ góc tây bắc, tiến vào con hẻm nhà bếp lớn nổi tiếng ấy. Đầu phía tây của hẻm nối liền với điện Thích Ca và điện Y Hộ, ngay bên cạnh điện Y Hộ, đối diện trực diện với bức tường phía sau của Đại Kinh Đường chính là Đại Kim Ngวา Điện.
Hoàng tử Hương Ba phát hiện ra họ hoàn toàn không thể đi xuyên qua hẻm nhà bếp lớn, dưới ánh đèn ở đầu phía tây con hẻm, một hàng hộ tự lạp ma tay cầm thiền côn đang sừng sững đứng chắn. Trông không giống như chống trộm, mà giống như các cầu thủ bóng đá đang đứng chắn quả đá phạt trực tiếp cự ly gần ngay trước khung thành đội nhà. Họ nhanh chóng lùi lại, vừa lùi đến bên ngoài cổng viện Đại Kinh Đường thì nghe thấy có tiếng hét lớn: "Bắt trộm."
Toàn thân hai người run bắn lên, suýt thì ôm chầm lấy nhau. Đợi một lúc không thấy ai đến bắt, mới nhận ra rằng chuyện đó chẳng liên quan gì đến mình, liền nghe thấy trong hẻm nhà bếp lớn tiếng bước chân hỗn loạn, chốc chốc lại truyền đến tiếng hô hoán của các hộ tự lạp ma. Họ đưa mắt nhìn nhau, nỗi nghi vấn trong ánh mắt là: Kẻ nào nhỉ? Trong bóng đêm thâm trầm như ẩn như hiện này, lẽ nào lại có kẻ ôm ấp tham vọng khai quật tàng thư giống như họ, đang lén lút áp sát tháp Bồ Đề Đại Ngân trong Đại Kim Ngวา Điện hay sao?
Dù đó là ai đi nữa, tên "trộm" này đã đến đây trước họ, hơn nữa lại đi trên con đường trùng lặp với họ. Họ ngó nghiêng tìm kiếm khắp bốn phía, nhìn thấy trong Đại Cát Oa phía sau lưng lại có thêm mấy vị hộ tự lạp ma bước ra, bèn vội vàng rời đi, chạy về hướng nam, đâm đầu thẳng vào viện Nhảy Thần.
Họ ẩn nấp vào góc tối của viện Nhảy Thần. Hoàng tử Hương Ba quan sát động tĩnh trong viện, không bỏ lỡ thời cơ nói với Mai Tát: "Chùa Tháp Nhĩ mỗi năm đều tổ chức bốn đại pháp hội và hai tiểu pháp hội ở đây, một trong những Phật sự của đại hội chính là nhảy pháp vương vũ, thường gọi là 'nhảy thần' hoặc 'lạp ma xã hỏa'."
Mai Tát hỏi: "Có đẹp không?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Tất nhiên là đẹp rồi, trong văn hóa Tạng tộc, hễ cứ dính dáng đến Lục thế Đạt Lai Thương Ương Gia Thố thì vừa đẹp lại vừa hay. Thương Ương Gia Thố không chỉ hát tình ca giỏi, mà còn là một bậc thầy về kim cương vũ, tinh thông các loại bước nhảy và dáng múa kim cương như 'Nhất lăng kim cương', 'Tam lăng kim cương', 'Ngũ lăng kim cương'. Người kế nhiệm ngài là Thất thế Đạt Lai Cách Tang Gia Thố cảm kích trước việc tiền thế hoằng dương Phật pháp bằng ca khúc, truyền bá Phật pháp bằng điệu múa, nên đã ngầm ý cho vị pháp đài thứ hai mươi của chùa Tháp Nhĩ xây dựng Học viện Thần vũ và viện Nhảy Thần, đồng thời ban tặng rất nhiều mặt nạ văn võ hộ pháp, y phục múa cùng pháp khí vân vân. Chùa Tháp Nhĩ hiện nay có ba trăm sáu mươi loại điệu múa như vũ nam vũ nữ, vũ phẫn nổ nam nữ, vũ hòa tĩnh, vũ trong giáo phái, vũ mật chú, vũ chuyên nhất vân vân, trong đó có không ít điệu múa bắt nguồn từ sự sáng tạo ban đầu của Thương Ương Gia Thố, lại có mấy điệu múa có âm nhạc nền, chính là giai điệu tình ca của Thương Ương Gia Thố năm xưa, vô cùng trân quý."
Mai Tát khó hiểu: "Sao các lạp ma lại phải nhảy múa làm gì?"
— "Để tiêu trừ tà kiến đến từ tâm linh, thế giới bên ngoài và pháp tu luyện bất lương của Mật tông, xua tan ngoại đạo ma chướng gây hại cho thánh giáo, dùng điệu múa để diễn giải kim cương bất hoại chi thân kiên cố, quang minh, sắc bén mà lại trống rỗng không một bóng người. Có thể nói, điệu múa của Phật giáo Tạng truyền chính là hình mẫu điển hình của việc giải trí tôn giáo hóa và nghệ thuật tôn giáo hóa."
— "Còn cái miệng lúc nào cũng nhắc đến Thương Ương Gia Thố của anh nữa, e rằng cũng là hình mẫu điển hình rồi."
— "Không sai, giải trí, nghệ thuật, tôn giáo, tình yêu, sinh mạng, tín ngưỡng, chẳng có ai hiểu rõ mối liên hệ nội tại giữa chúng hơn Thương Ương Gia Thố. Thực chất chúng chẳng có gì khác biệt cả, ít nhất là theo quan điểm của Thương Ương Gia Thố thì là vậy."
Hoàng tử Hương Ba đột ngột ngậm miệng lại, kéo Mai Tát ngồi thụp xuống góc tối nhất của góc tối. Hai vị lạp ma đi ngang qua từ cách đó không xa, vừa đi vừa nói chuyện, giọng không lớn nhưng lại cực kỳ rõ ràng.
— "Tiến sĩ Gia Dương này hô 'bắt trộm' là để đánh động cho tên trộm biết đấy thôi, có ai mà không biết chứ. Bắt được một tên trộm, hóa ra người ta cũng là đến để chống trộm."
— "Lặn lội ngàn dặm đến chùa Tháp Nhĩ chúng ta để chống trộm, chống cái trộm gì cơ chứ?"
— "Đại tăng quan chẳng phải đã nói rồi sao, những kẻ đến chùa Tháp Nhĩ để dò la 'Cửa bảy vị mẫu' đều là trộm, phải nghiêm ngặt đề phòng. Toàn bộ Phật giáo đều đang đề phòng."
— "Thế còn kẻ đến chống trộm bị bắt kia thì sao?"
— "Thả rồi, tiến sĩ Gia Dương không muốn thả, đại tăng quan nói người của 'Điện huyết chú tàng hình nhân' không chọc nổi đâu, hắn muốn đi đâu thì cứ để hắn đi đấy."
Hoàng tử Hương Ba nhìn theo hai vị lạp ma khuất dạng, nghiền ngẫm lời nói của họ, tựa hồ như nhìn thấy sát thủ đầu lâu đang giơ đao bước tới. Chợt đứng phắt dậy, ổn định lại tâm thần rồi mới nói: "Trên thế giới này có rất nhiều người thông minh, người tốt thông minh, kẻ xấu cũng thông minh, tôi e là mình chẳng thoát nổi nguy hiểm đâu. Em thấy mong chờ nguy hiểm với đối mặt với nguy hiểm thì cái nào đáng sợ hơn?"
Mai Tát nói: "Đừng hỏi tôi, đi mà hỏi Thương Ương Gia Thố của anh ấy."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Đối với Thương Ương Gia Thố mà nói, chỉ cần có giọng ca là có thể hát tình ca, chỉ cần có tình ca thì chẳng có gì phải sợ cả."
— "Anh cũng có thể hát mà."
— "Em yêu cầu anh đừng hát nữa, em bảo em buồn cơ mà."
— "Đúng vậy, anh không nên khiến em buồn, nhưng anh bắt buộc phải khiến đối thủ của anh phải buồn."
Hoàng tử Hương Ba kéo Mai Tát, cất bước tiến về phía trước.
Họ đặt chân lên bậc thềm, đi qua điện linh tháp Tam thế Đạt Lai Tôn Nam Gia Thố và đình Đại Ma Ni Luân, rẽ phải đến trước cửa điện Văn Thù Bồ Tát, luồn lách đi qua các hành lang. Chín gian phật đường nổi tiếng cùng mười cột trụ đỏ tám góc lướt qua sát người, bức đại tượng Văn Thù Bồ Tát bên trong cất giấu bức tự họa và xá lợi cốt của Tông Khát Ba lặng lẽ nhìn họ xuyên qua vách ván. Văn Thù Bồ Tát tượng trưng cho đại trí đại dũng, lại là vị thần chủ quản tổng lĩnh văn hóa nghệ thuật, bách công trí xảo. Tăng nhân lập tông khảo biện, văn nhân giúp đời trị quốc, nếu không bái Văn Thù thì chẳng làm nên tích sự gì. Hoàng tử Hương Ba vừa đi vừa bái lạy, chốc chốc lại dùng trán chạm nhẹ vào vách ván và cột trụ đỏ, miệng lặp đi lặp lại niệm "Nam-mo Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát". "Nam-mo" là tiếng Phạn, phát âm là "Na-mo", có nghĩa là quy y đảnh lễ. Anh biết rằng trong chín gian phật đường còn có Quan Thế Âm, Đại Thế Chí, một nghìn pho tượng đồng nhỏ Thích Ca Mâu Ni, Sư Tử Hống Phật, Kim Cầu Tôn Sức Mẫu, Bạch Dù Phật Mẫu, Diệu Âm Thiên Nữ, Nhị Thánh Lục Trang Nghiêm, được giới tôn giáo gọi là "Sư đồ tam tôn" gồm Tông Khát Ba cùng các vị cao đồ đệ tử của ngài là Già Tào Kiệt và Khắc Châu Kiệt, Đạt Lai tam thế tứ thế vân vân, thế là anh liền đem tất cả các tôn hiệu tên phật "Nam-mo" lại một lượt.
Lời khẩn cầu "Nam-mo" dường như lập tức linh nghiệm, anh và Mai Tát dọc theo chín gian phật đường, thuận lợi vượt qua cánh cửa nhỏ góc đông bắc, đi đến trước cửa điện Di Lặc.
Điện Di Lặc nằm sát cạnh Đại Kim Ngวา Điện, các hộ tự lạp ma đang tuần tra vòng quanh điện vừa mới đi khuất. Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát lóe người ra khỏi tầm nhìn của họ, uốn lượn qua các trụ hành lang theo hình chữ S, rồi lại uốn lượn theo hình chữ S, ẩn mình vào dưới mấy gốc bồ đề nổi tiếng trước bức tường phía sau của Đại Kinh Đường. Đây là những cây bồ đề mọc lan từ dưới lòng đất của Đại Kim Ngวา Điện lên, trong mùa cành lá sum suê này, đối diện thẳng với bức hoành phi "Phạn giáo của Hoàng đế Càn Long phía trên cổng chính Đại Kim Ngวา Điện, bao trùm ra một khoảng không gian trốn tránh vô cùng đen nhánh. Bên dưới biển ngạch là hành lang, phía trước hành lang là một hàng bóng người lúc ẩn lúc hiện, khiến Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát sợ đến mức quay người định chạy, đột nhiên lại khựng lại, quan sát kỹ mới phát hiện ra đó là những tín đồ đang lạy trường đầu suốt đêm.
Hoàng tử Hương Ba nhìn trái ngó phải, tóm chặt lấy tay Mai Tát, lao vụt tới, len lỏi vào giữa đám tín đồ. Họ phủ phục xuống, cũng biến thành những bóng người, cũng bắt đầu niệm lục tự đại minh chú và lạy trường đầu. Hoàng tử Hương Ba vừa lạy vừa quan sát Đại Kim Ngวา Điện, nhìn thấy bên trong chẳng có bóng người nào, chỉ có từng lớp cờ thêu, từng dải khăn khát đát dưới ánh đèn bơ rực rỡ muôn màu như hoa; nhìn thấy tháp Bồ Đề Đại Ngân nguy nga tựa núi ánh châu tuôn ngời ngời, hào quang ngập tràn, phần bệ tháp trầm hậu rực rỡ huy hoàng. Nhưng anh không nhìn thấy sự tồn tại của thánh môn đâu cả, lại càng không thể tưởng tượng nổi trong tháp lại cất giấu kho báu gồm mười vạn chiếc lá, mười vạn pho tượng Sư Tử Hống Phật.
Vị sống lạp ma trần tay áo dẫn theo mấy tên hộ tự lạp ma cầm thiền côn đi lướt qua phía sau lưng họ.
Lạy, lạy. Hoàng tử Hương Ba thầm nhẩm "Thụ ký chỉ nam": "Bên trong thánh môn, dấu vết Vạn Mã, Y Trác Lạp Mẫu cát." Chẳng biết đã lạy bao nhiêu cái lạy, lại càng chẳng biết vị sống lạp ma trần tay áo kia dẫn theo hộ tự lạp ma đi ngang qua sau lưng anh và Mai Tát bao nhiêu lần rồi. Khi cái lạy trường đầu cuối cùng vang lên "phịch" một tiếng, khuôn mặt ngẩng lên của anh xuất hiện sự kinh ngạc và niềm vui sướng: Trời sáng rồi, ánh sáng ban mai từ phía sau xiên xéo rọi xuống, trên phần bệ tháp trầm hậu rực rỡ của tháp Bồ Đề Đại Ngân, sừng sững xuất hiện một cánh cửa hẹp cao chừng nửa người. Anh cứ tưởng mình hoa mắt, bèn dụi dụi mắt, chớp chớp, nhìn lại lần nữa, nhìn lần thứ ba, cánh cửa hẹp tối om càng lúc càng rõ ràng, rõ đến mức có thể nhìn thấy những thứ bên trong, đó là một bàn tay trắng phau phau, quắp lại ra hiệu vẫy vẫy về phía anh, không, là một vị lạp ma, đang vẫy tay gọi anh.
Thánh môn? Cuối cùng cũng giáng lâm rọi chiếu tới rồi, thánh môn sở hữu mười vạn chiếc lá, mười vạn pho tượng Sư Tử Hống Phật, thánh môn thông dẫn tới "Cửa bảy vị mẫu", nơi lưu giữ dấu vết của Vạn Mã hoạt Phật, đã mở ra rồi, dường như sắp sửa đóng lại ngay tức khắc.
Anh nói: "Mai Tát, Mai Tát, mau nhìn kìa."
Mai Tát đã nhìn thấy. Hai người vượt qua ngưỡng cửa cao của Đại Kim Ngวา Điện, trước sau lao vút về phía thánh môn.
4
A Nhược lạp ma quỳ sụp xuống chân tường phía nam của điện Khổ hạnh, hướng về dòng chữ Tạng trên tường dập đầu lạy "đốp đốp đốp", suýt thì đập vỡ cả đầu.
Hóa ra ông còn phải cảm ơn tiến sĩ Gia Dương — kẻ đã tuyên bố ông là kẻ thù. Tiến sĩ Gia Dương nhốt ông vào điện Khổ hạnh bởi vì tất cả đều đã được an bài từ trước. Ai an bài? Là Mã Cát A Mễ — người mà ông có duyên không phận, sắc thân cốt nhục? Hay là những vị từ mãnh hộ pháp luôn bảo vệ "Cửa bảy vị mẫu" tựa hình với bóng? Hay là tiến sĩ Gia Dương? Chẳng cần phải truy hỏi nữa, điều quan trọng lúc này là ông buộc phải lập tức bước vào chuẩn bị tu pháp.
Chuẩn bị tu pháp chính là nghi quỹ quán tu Mật tông trong đó người khai quật tàng thư giao tiếp với thần linh trước khi khai quật, đồng thời để thần tính bám dính vào bản thân, mục đích là để có được duyên khởi tịch mịnh cát tường, cầu xin thần linh hộ tươm để loại bỏ mọi sự can thiệp cản trở. A Nhược lạp ma cứ ngỡ mình khổ tu Phật pháp mấy chục năm nay như một ngày chính là để chuẩn bị cho việc mở ra "Cửa bảy vị mẫu", nào ngờ đến lúc khai quật, ông vẫn phải bước vào quy trình chuẩn bị tu pháp. Chuẩn bị tu pháp dài ngắn tùy ý, có người bế quan mấy năm, có người mười nửa tháng, thế nhưng ông lại chỉ có vỏn vẹn mấy tiếng đồng hồ, mấy tiếng sau chính là buổi sáng, "sáng sớm khai quật tàng thư".
Ông đứng dậy khỏi mặt đất, đi vòng quanh khắp nơi. Trong điện Khổ hạnh chẳng có thứ gì cả, không có tượng phật khói hương, kỷ án cúp phẩm, thàng ca bích họa, cũng chẳng có đệm mút ghế băng, màn giường thảm lót, chỉ có nền gạch sạch bong, bức tường đá thanh tịnh. Phật dạy, vạn vật đều không chốn nào là không có, vạn vật đều có ở mọi nơi. Điều quan trọng là sự quán tu, một khi đã bước vào cảnh giới, anh muốn bổn tôn thì khắp đại sảnh toàn là bổn tôn, anh muốn thượng sư thì bốn bề toàn là thượng sư. Cần Di Lặc thì có Di Lặc, cần Địa Tạng thì có Địa Tạng. Hiền kiếp thiên phật, thập lục tôn giả, bát bộ không hành, cửu chúng phật mẫu, chỉ cần anh quán tu người ta, thì kim thân pháp tướng của người ta sẽ hiển hiện ngay trước mắt anh. Sự hiển hiện đi kèm với quán đỉnh, chứng tỏ sự chuẩn bị tu pháp của anh đã đầy đủ viên mãn, anh có thể đường hoàng tiến đi khai quật tàng thư rồi.
A Nhược lạp ma ngồi quay mặt hướng nam lưng hướng bắc, việc tu pháp lập tức bắt đầu.
Vài tiếng đồng hồ trôi qua rất nhanh, đến khi trời sáng, vị lạt ma ở Đại nhà bếp mang đến cho anh một bình trà sữa bơ và một bát tsamba, thì vị thượng sư, bản tôn và không hành mẫu mà anh hằng mong mỏi diện kiến lại chẳng xuất hiện một ai, điều này cho thấy vô thần đã không cho phép anh đi khai quật tàng bảo, việc chuẩn bị tu pháp đã không đạt được chứng ngộ viên mãn.
Lòng anh đầy hoài nghi, tự kiểm điểm xem bản thân có làm sai nghi quỹ quán tu hay không, lại cảm thấy mình bị tiến sĩ Ca Dương lừa gạt. Dòng chữ trên bức tường phía nam: "A Rược·Quýnh Nãi ở đây chuẩn bị tu pháp, sáng sớm khai quật tàng bảo", không phải là chỉ thị rõ ràng từ thần linh, mà là do Ca Dương viết bậy lên đó. Anh sực ngước đầu lên, nhìn lại bức tường phía nam, và phát hiện nơi đó trống trơn, trên lớp màu xám mịn màng, chẳng có gì cả. Chữ đâu rồi? Ca Dương không hề xuất hiện, không thể nào xóa đi được, điều đó cho thấy Ca Dương cũng không thể nào viết lên đó được, nếu không phải là chỉ thị rõ ràng của thần linh thì sao lại lúc ẩn lúc hiện cơ chứ?
Hơn nữa, cho dù đó là một dòng chữ Tạng do tiến sĩ Ca Dương viết lên có thể tự động biến mất theo thời gian, thì cũng không thể coi là lừa gạt. "Thọ ký" khai quật tàng bảo có thể do không hành hộ pháp trực tiếp ban cho, cũng có thể thông qua người khác gián tiếp ban cho. Sự ban cho gián tiếp thực ra chính là việc nhận được sự giúp đỡ từ những người cùng chí hướng. Tiến sĩ Ca Dương - người tu luyện "Cửa ải Thất Độ Mẫu" - có lẽ chỉ đạt được chứng ngộ là truyền "thọ ký" cho anh, sau đó dẫn dắt anh, giúp đỡ anh, bởi vì anh mới là Đại sư khai quật tàng bảo duy nhất được Liên Hoa Sinh đại sư để mắt tới.
Nghĩ như vậy, trong lòng lạt ma A Rược cảm thấy thoải mái hơn nhiều, bèn ngồi xuống, ăn sạch một bát tsamba, uống cạn một bình trà sữa bơ, dùng lòng bàn tay quệt miệng, ngước nhìn lên, chỉ thấy một luồng ánh sáng mặt trời chiếu chéo qua ô cửa sổ nhỏ trên mi cửa. Đây là luồng ánh sáng duy nhất trong Điện Khổ Hạnh, rọi thẳng vào chính giữa bức tường phía Tây. Nơi đó liền hiện lên bóng dáng của một pho Phật vàng, chính là bóng dáng của Đại Nhật Như Lai - vị chí tôn của Mật pháp.
Lạt ma A Rược kích động đến mức hoa mắt chóng mặt, đã diện kiến, đã diện kiến rồi, cuối cùng cũng được diện kiến kim thân pháp tướng, hơn nữa lại chính là vị thần tối cao của Kim cương thừa, có pháp lực vô biên - Đại Nhật Như Lai. Anh đứng dậy, đứng thẳng người, trang nghiêm niệm kinh chú "Đại Nhật Như Lai" một lát, rồi sụp lạy xuống. Đỉnh đầu lập tức ấm sừng sững, tựa như có dòng nước nóng đang tuôn chảy đến. Anh tận hưởng cảm giác thỏa mãn đảnh lễ quán đỉnh, chậm rãi đứng dậy, ngấn lệ nhìn ngóng, ánh sáng mặt trời đã biến mất, và ngay chỗ mà Đại Nhật Như Lai vừa chiếu rọi, đột nhiên xuất hiện một cánh cửa gỗ bọc sắt. Thực ra cánh cửa đó anh đã nhìn thấy từ tối qua lúc vừa bước vào, chỉ là anh cứ nghĩ đó là cửa sau của Điện Khổ Hạnh nên không để tâm lắm. Nhưng giờ đây anh sắp sửa mở nó ra, anh đinh ninh rằng luồng ánh sáng mặt trời chiếu rọi và cánh cửa hiển hiện hình ảnh Đại Nhật Như Lai chính là cửa khẩu khai quật tàng bảo dẫn đến "Cửa ải Thất Độ Mẫu".
Lạt ma A Rược phấn chấn tinh thần bước tới, dốc hết toàn lực kéo cánh cửa gỗ bọc sắt ra, một luồng khí ẩm ướt lạnh lẽo phả thẳng vào mặt. Anh căng thẳng lùi lại một bước, rồi lấy hết dũng khí tiến lên hai bước, nheo mắt nhìn hồi lâu, mới nhìn rõ mặt đất dưới chân đột nhiên sụt xuống, một bậc thềm đá nghiêng dốc đi xuống, mãi tận sâu bên dưới bậc thềm đá, một ngọn đèn bơ đang thắp sáng tựa như đang chỉ đường. Anh do dự nhìn trước ngó sau, nhấc chân bước lên bậc thềm đá, vừa thầm nghĩ về Đại Nhật Như Lai vừa mới diện kiến, vừa từng bước dịch chuyển đi xuống.
Cuối cùng cũng đến được chân bậc thềm đá, anh nhìn thấy phía trước ngọn đèn bơ là một hành lang tháp Phật dài đằng đẵng, không có bóng người, không có hơi thở, chỉ có ngọn đèn mập mờ kéo dài các ngọn tháp Phật đến nơi mà anh không thể nhìn thấy.
Anh đi dọc theo tháp Phật, nhận ra những ngọn tháp Phật đó đều là nhục thân linh tháp và xá lợi tháp, mỗi một ngọn đều tượng trưng cho sự tồn tại từng có của một vị cao tăng. Họ đã rời cõi thế mà đi, rồi lại chuyển thế mà đến, trong sự cô tịch bao la, biến sinh mạng thành từng ngọn tháp báu kiên cố, như danh thiếp của người tu hành phật pháp, phát cho thời gian. Anh chắp tay trước ngực, không ngừng niệm sáu chữ đại minh chú hướng về tháp Phật, âm thanh rất nhỏ, nhưng tiếng vang lại rất lớn, ù ù vang lên, toàn là tiếng vọng. Đột nhiên tiếng vang biến mất, các tháp Phật đã xếp đến tận cùng, trước mặt xuất hiện một ngôi miếu dưới lòng đất với tường đỏ ngói xanh.
Cửa miếu được khảm viền đầu lâu trắng, bên trong lạnh lẽo âm u, không có đèn, chỉ có một đôi mắt đỏ, một đôi mắt xanh lục, một đôi mắt trắng phát ra ánh sáng trong đêm. Lạt ma A Rược dừng lại trước cửa, phân biệt những đôi mắt đó. Màu sắc đỏ là của Tứ diện tài thần hộ pháp, màu xanh lục là của Ma nữ Thê Ma Đề, màu trắng là của Hắc nghiệp Diêm la vương. Ba vị thần hung ác này là tượng trưng cho đại bí mật, đại cảnh vực, thường biểu thị cho sự kéo dài vô tận của hai cực sáng tối. Anh tự nhủ với lòng mình: Mày muốn xuyên qua đó ư? Mày bắt buộc phải xuyên qua. Một ngôi miếu là một đại châu, một vị thần là một kiếp nạn, xuyên qua đó chính là mặt trời ở cõi Quang Cực Thiên, là đại âm thanh của Đại phục tạng. Hơn nữa hướng mà anh muốn đi tới chính là Bồ Đề Đại Ngân Tháp trong Đại Kim Vạ Điện, đó là trái tim của chùa Thâm Tư (Tháp Nhĩ Tự), biết đâu lại chính là nơi tọa lạc của "Cửa ải Thất Độ Mẫu", và phục tạng cuối cùng đang lẳng lặng đợi chờ anh.
Lạt ma A Rược bước một bước vào trong miếu, thế nhưng lại bị một bức tường sắt đâm cho hoa mắt chóng mặt. Anh hít một ngụm khí lạnh, chưa kịp lùi lại thì đã phát hiện bức tường sắt biến thành một con người.
Kẻ đó âm trầm nói: "Cuối cùng mày cũng đến rồi, có nhận ra thanh đao đầu lâu này không? Đương nhiên là mày không nhận ra rồi, đây là ân huệ từ tổ tiên ta, là vũ khí của ‘Điện huyết chú người tàng hình’."
Thanh đao đầu lâu lạnh ngắt áp sát vào má lạt ma A Rược.
“Ngay lúc mày công khai phản giáo, tuyên bố thành tựu minh tưởng, bọn tao đã muốn giết mày rồi, sau đó thấy mày chẳng làm nên trò trống gì nên cũng thôi. Nào ngờ mày cứ bám theo sát gót hoàng tử Hương Ba, đuổi đến tận chùa La Bốc Lăng, rồi lại đuổi đến tận chùa Tháp Nhĩ. Cơ hội chết chóc luôn do bản thân tạo ra, giống như lúc này đây, tao đang đợi hoàng tử Hương Ba xuất hiện, còn mày lại không kiềm chế được mà đến nộp mạng, tao đành phải giết mày trước, rồi mới giết hoàng tử Hương Ba.”
Lạt ma A Rược run lẩy bẩy, lắp bắp hỏi: "M-Mày, mày làm sao mà đến được đây?"
“Tao đi vào từ cánh cửa thánh của Bồ Đề Đại Ngân Tháp, không được chắc?”
Sát thủ đầu lâu ngửa cổ cười lớn, khiến ngôi miếu dưới lòng đất rung lên bần bật. Thanh đao đầu lâu vang lên leng keng, rời khỏi má lạt ma A Rược, định đâm tới.
Lạt ma A Rược thét lên một tiếng khàn đượt rồi ngã xuống đất.
“Mày là kẻ nào, mà dám giết người ở đây?” Bất chợt vang lên giọng của một người phụ nữ, nhọn hoắt tựa như cây kim.
Sát thủ đầu lâu giật mình quay đầu lại, chỉ thấy một bàn tay trắng phau phau đang chĩa thẳng về phía mình, lập tức nghĩ ngay trong miếu có Ma nữ Thê Ma Đề mắt xanh, ma nữ đã đứng ra nhúng tay vào chuyện của hắn. Hắn bước qua người lạt ma A Rược, định chạy trốn, nhưng nhận thức được con đường mình vừa đi vào chính là đường lui, liền quay người chạy về phía cửa Bắc của miếu.
5
Bên trong cánh cửa thánh là một cái rãnh lõm, đi theo rãnh lõm về phía trước vài bước là có thể đứng thẳng người dậy. Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát vừa đứng vững thì nghe phía sau vang lên một tiếng va chạm kim loại, bóng tối giam cầm ập tới, cửa thánh đã đóng lại. Mai Tát rùng mình một cái, hoảng sợ níu chặt lấy hoàng tử Hương Ba và hỏi: "Phải làm sao đây?"
Sự tĩnh mịch bóp nghẹt vạn vật. Hoàng tử Hương Ba sờ soạng xung quanh, dường như đã chạm vào cành của cây bồ đề. Anh ôm Mai Tát nhích về phía trước, nhích một chút lại dừng một lát, mất một khoảng thời gian khá lâu mắt mới bắt đầu thích ứng với ánh sáng. Họ nhìn thấy một bàn tay, chỉ là một bàn tay, trắng phau phau, xòe ra, quay mu bàn tay về phía họ, liên tục vẫy gọi.
Họ mang theo tiếng xào xạc của lá cây bước tới, dần dần, rãnh lõm không còn nữa, mặt đất dưới chân rộng rãi hơn chút ít, luồng khí từ phía trước thổi tới, âm ẩm, ẩm ướt. Họ nhìn thấy mấy ngọn đèn bơ xuất hiện cách đó chừng ba mươi mét, phía sau ánh đèn là một ngôi miếu dưới lòng đất với tường đỏ ngói xanh. Họ từ từ tiến lại gần.
“Không ngờ chùa Tháp Nhĩ lại có chỗ thế này, các loại tài liệu đều không ghi chép lại.” Hoàng tử Hương Ba vừa nói vừa định bước vào trong miếu thì Mai Tát kéo giật lại.
“Cẩn thận, chúng ta phải làm cho ra lẽ, là ai đã dẫn chúng ta đến đây?”
“Là bàn tay trắng phau phau đó, tay của ai cơ chứ?”
Cả hai người chốc lát nổi da gà, nhìn trước ngó sau. Một đôi Không hành mẫu đầu sư tử với ánh mắt phẫn nộ, miệng phẫn nộ, răng phẫn nộ, lưỡi phẫn nộ đang ở ngay hai bên cửa bắc của ngôi miếu, tỏa ra từng đợt sát khí nghiêm nghị.
Họ đứng một lúc, tự xốc lại tinh thần cho nhau, vừa định bước qua thì nghe thấy một tiếng thét thảm thiết khàn đượt truyền ra từ trong miếu. Tiếp theo, một bóng đen lao vút ra, sượt qua người Mai Tát rồi biến mất trong chớp mắt, dọa Mai Tát ngã phịch xuống đất, rơi cả chiếc mũ lông bò đực xuống. Hoàng tử Hương Ba dùng thân mình bảo vệ Mai Tát, căng thẳng quan sát xung quanh, thấy không có nguy hiểm gì bèn nhặt chiếc mũ đội lên cho cô, rồi kéo cô đứng dậy, bước một bước vào trong miếu.
Hoàng tử Hương Ba lấy bật lửa ra, châm sáng ba ngọn đèn bơ duy nhất trong miếu. Họ nhìn thấy một vị lạt ma đang nằm trên mặt đất, Tứ diện tài thần hộ pháp, Ma nữ Thê Ma Đề và Hắc nghiệp Diêm la vương ở phía trước đang dùng đôi mắt ba màu đỏ, xanh lục, trắng phẫn nộ nhìn chằm chằm ra ngoài cửa. Họ thận trọng bước tới, định đỡ vị lạt ma ngã dưới đất dậy, rồi lại rụt tay về, gần như đồng thời thét lên một tiếng: "Lạt ma A Rược?"
Lạt ma A Rược vẫn bình an vô sự, bàn tay trắng phau phau đó đã cứu anh ta, tiếng thét thảm của anh ta là do hoảng sợ chứ không phải là do nỗi đau rách da thịt. Anh ta ngồi dậy, vừa thấy là hoàng tử Hương Ba liền bất chợt ôm chặt lấy không buông: "Có kẻ muốn giết tôi, cũng muốn giết anh."
“Ai?”
“Sát thủ do ‘Điện huyết chú người tàng hình’ phái tới.”
“Tôi đã từng nếm mùi này từ lâu rồi.”
Lạt ma A Rược thấy hoàng tử Hương Ba rất bình tĩnh, bản thân cũng dần bớt hoảng sợ, bèn hỏi: "Hai người từ đâu tới? Có phải đã đi trước tôi một bước rồi không? ‘Cửa ải Thất Độ Mẫu’ ở đâu? ‘Phục tạng cuối cùng’ ở đâu?"
Hoàng tử Hương Ba hỏi: "Anh chẳng phải đến để bắt tôi đấy chứ? Chẳng phải định giao nộp tôi cho cảnh sát đó sao?"
“Ban đầu thì tôi có ý định bắt anh, bởi vì anh phạm tội giết người lại còn trộm cắp. Xem ra bây giờ, những thứ anh trộm ở Ung Hòa Cung và chùa La Bốc Lăng chỉ là ‘Sách hướng dẫn thọ ký’ chứ không phải là ‘Phục tạng cuối cùng’. Nhưng ở chùa Tháp Nhĩ thì khó mà nói trước được.” Vừa nói, lạt ma A Rược vừa đứng dậy bước ra khỏi miếu.
Hoàng tử Hương Ba bước theo sau nói: "Đằng kia chính là Bồ Đề Đại Ngân Tháp của Đại Kim Vạ Điện."
Lạt ma A Rược quả quyết nói: "Tôi không đến mức ngay cả chuyện này mà cũng không biết."
“Nhưng anh hoàn toàn không biết Bồ Đề Đại Ngân Tháp chính là cánh cửa thánh ẩn giấu ‘Cửa ải Thất Độ Mẫu’, từ cửa thánh đến ngôi miếu là một đoạn đường hầm rất dài, muốn tìm ra ‘Cửa ải Thất Độ Mẫu’ không hề dễ dàng đâu. Chúng ta lập giao ước đi, anh tìm thấy thì bảo chúng tôi, chúng tôi tìm thấy sẽ bảo anh.”
“Phục tạng là báu vật vô giá của thánh giáo, tại sao tôi phải nói cho hai kẻ phàm tục các người biết? Tôi là lạt ma, lạt ma chính là người cầu nguyện ban phúc. Nếu hai người có thể nói cho tôi biết, lời cầu nguyện của tôi sẽ hóa thành phúc khí đi theo hai người mãi mãi.”
Hoàng tử Hương Ba mỉm cười nói: "Phật chính là chúng sinh, pháp chính là chứng ngộ, chỉ có sự phân biệt căn cơ cao hay thấp, chứ không có sự phân biệt giữa thánh giáo với phàm tục. Tôi nói tôi là đệ tử thân truyền của Liên Hoa Sinh đại sư, có tư cách khai quật tàng bảo hơn anh, anh sẽ không tin đâu; tôi nói tôi nhất định sẽ mở ‘Cửa ải Thất Độ Mẫu’ sớm hơn anh, anh cũng sẽ không tin đâu, vậy thì cứ chờ mà xem."
Họ chia nhau ra, ba người cầm ba ngọn đèn bơ, tìm kiếm suốt hơn hai tiếng đồng hồ, khi hoàng tử Hương Ba và Mai Tát quay trở lại ngôi miếu dưới lòng đất thì phát hiện lạt ma A Rược đã nghỉ ngơi ở góc tường từ bao giờ. Họ đặt đèn bơ xuống, đối mặt với lạt ma A Rược ngồi ngay ngạch cửa.
Lạt ma A Rược bắt bẻ nói: "Đứng dậy đi, ngạch cửa của thần miếu không thể dùng làm ghế ngồi đâu."
Hoàng tử Hương Ba đáp: "Anh bớt quản đi, tôi đã thỉnh thị tài thần, ma nữ, Diêm la vương trong miếu rồi, họ cho phép đấy." Trong đầu bỗng lóe lên một ý nghĩ, anh phắt đứng dậy, "Làm sao mà anh đến được đây?" Thấy lạt ma A Rược né tránh không trả lời, anh bèn lao đến túm chặt lấy đối phương, "Nói mau, chuyện này rất quan trọng, điều này cho thấy ‘Dấu vết Vạn Ma’ ‘bên trong cửa thánh’ sẽ kéo dài đến nơi nào, ‘Y Trác Lạp Mỗ’ sẽ xuất hiện ở đâu."
Lạt ma A Rược ngẩn người đờ đẫn, cố hết sức để tìm hiểu cho ra suy nghĩ của đối phương.
Hoàng tử Hương Ba buông lạt ma A Rược ra và nói: "‘Bên trong cửa thánh, dấu vết Vạn Ma, Y Trác Lạp Mỗ Cát’, đây là ‘Sách hướng dẫn thọ ký’ mà chúng ta có được. Nó nói cho chúng ta biết có lẽ mang ý nghĩa thế này: Phật gia Vạn Ma đã bước vào cửa thánh, nhưng điều đó không có nghĩa là ‘Cửa ải Thất Độ Mẫu’ nằm ở bên trong cửa thánh. Ý nghĩa của ‘Dấu vết Vạn Ma’ có lẽ là, dấu vết của Phật gia Vạn Ma liên kết với ‘Y Trác Lạp Mỗ hạnh phúc’, mà ‘Y Trác Lạp Mỗ hạnh phúc’ rất có thể ở một nơi khác, chỉ có đi dọc theo dấu vết của Phật gia Vạn Ma, mới có thể tìm thấy ‘Y Trác Lạp Mỗ’, và mới có khả năng tiếp cận ‘Cửa ải Thất Độ Mẫu’."
Mai Tát nói: "Ý anh là, đường hầm cổ xưa này rất có thể đã lưu lại dấu vết của Phật gia Vạn Ma? Bây giờ, việc đầu tiên cần tìm là dấu vết của Phật gia Vạn Ma, chứ không phải ‘Cửa ải Thất Độ Mẫu’ sao?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Dấu vết phải được kéo dài ra, Phật gia Vạn Ma cũng đối mặt với vấn đề giống như chúng ta: sau khi đi từ cửa thánh vào, thì không thể nào quay trở lại theo con đường cũ được, ông ấy đi ra từ đâu, thì sẽ để lại dấu vết ở đó."
Lạt ma A Rược quay người bỏ đi, anh ta đã nghe hiểu rồi, vừa đi vừa bực bội tự trách mình: Ngươi đã nhận được sự khai thị ở bức tường phía nam của Điện Khổ Hạnh, lại còn tiến hành tu pháp chuẩn bị, sao mà vẫn chứng ngộ không bằng hoàng tử Hương Ba chứ?
Họ đi về phía trước dọc theo con đường mà lạt ma A Rược đã đến, đi qua hành lang tháp Phật dài đẵng đẵng, quan sát từng ngọn nhục thân linh tháp và xá lợi tháp, nhưng không thể phân biệt được ngọn nào liên quan đến Phật gia Vạn Ma. Đành phải bước lên bậc thềm đá, tìm kiếm từng bậc từng bậc một, tìm mãi cho đến tận bên kia cánh cửa gỗ bọc sắt, vào trong bầu không khí trống không vạn vật của Điện Khổ Hạnh.
Điện Khổ Hạnh không chỉ trống không, mà còn tối tăm, một vệt sáng trong bóng tối vô thanh vô tức thu hút ánh nhìn của họ. Vẫn là bức tường phía nam, nơi từng khai thị cho lạt ma A Rược rằng "sáng sớm khai quật tàng bảo", lại xuất hiện một dòng chữ.
Hoàng tử Hương Ba nói: "Các người xem, ‘Thông Linh Đóa Hoạt’, chính là Đại kinh đường."
Bức tường phía nam lóe lên một cái, giống như ánh đèn nê-ông khảm vào tường chớp tắt trong khoảnh khắc.
Mai Tát nói: "Không đúng chứ, là ‘Hạ Đạt Lạp Khang’, có nghĩa là Điện Trường Thọ."
Dứt lời, trên tường lại lóe lên một cái.
Hoàng tử Hương Ba thốt lên một tiếng "Ây": "Sao lại là ‘Hạ Đạt Lạp Khang’ nhỉ? Rõ ràng là ‘Thông Linh Đóa Hoạt’ cơ mà." Rồi anh quay sang lạt ma A Rược, hỏi như để xác minh: "Còn anh? Anh nhìn thấy gì?"
Lạt ma A Rược đăm đăm nhìn sự chớp nháy trên bức tường phía nam, lắc đầu không nói.
Hoàng tử Hương Ba cau mày nói: "Thử thách đã xuất hiện rồi."
Mai Tát hỏi: "Thử thách cái gì?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Thử thách căn khí của chúng ta, căn khí chính là tố chất, năng lực, thiên phú để lĩnh hội Phật pháp. Sách 《Huyễn võng mật tàng》 có chép rằng, Như Lai không rời khỏi tòa chân như, tùy theo nghiệp của chúng sinh mà hiển hiện khác nhau. Sự hiển hiện của Phật pháp tùy theo từng người mà khác, giống như chiếc gương vậy, anh có căn khí gì, thì sẽ soi ra bóng hình ấy. Phật tổ Thích Ca chưa từng nói một câu pháp nào, nhưng vô số pháp môn lại rải khắp thiên hạ. Đó là vì Phật đối với chúng sinh chính là sự cảm ứng. Sự cảm ứng của chúng sinh mỗi người mỗi khác, có sự cảm ứng của căn khí thượng đẳng, có sự cảm ứng của căn khí hạ đẳng. Giống như lúc này đây, khi chúng ta đối diện với Phật thị, căn khí khác nhau, tâm niệm liền khác nhau, tâm niệm khác nhau, sự cảm ứng liền khác nhau, anh thấy là ‘Hạ Đạt Lạp Khang’, còn tôi thấy là ‘Thông Linh Đóa Hoạt’."
Mai Tát nói: "Có lẽ góc độ chúng ta nhìn tường khác nhau, nên thứ nhìn thấy cũng khác nhau."
Họ đổi vị trí cho nhau, khi nhìn lại bức tường phía nam, họ phát hiện trên đó chẳng có gì cả, chỉ có một một khoảng màu xanh đá đồng đều trải dài vẻ cô tịch, tựa như cảnh tượng vừa rồi chỉ là ảo giác, là do hoa mắt mà ra.
Hoàng tử Hương Ba còn định nói gì đó, thì phát hiện lạt ma A Rược không còn ở đó nữa. Cửa Điện Khổ Hạnh mở toang, bước qua nhìn thử thì hóa ra là sân của Mật tông học viện, lạt ma A Rược đang nói với tiến sĩ Ca Dương: "Anh đang đợi tôi nói lời cảm ơn đúng không? Tôi sẽ không làm thế đâu, trừ phi anh nói cho tôi biết, khi anh tu luyện ‘Cửa ải Thất Độ Mẫu’ anh đã đạt được những thành tựu gì?"
Tiến sĩ Ca Dương lạnh lùng đáp: "Tôi không tu luyện, cũng chẳng có thành tựu gì."
Lạt ma A Rược nói: "Đến tận hôm nay mà anh vẫn còn úp úp mở mở, thế thì anh đã bỏ lỡ một vị thượng sư rồi."
Tiến sĩ Ca Dương hỏi: "Ý anh là tôi đã bỏ lỡ anh ư?"
Lạt ma A Rược chỉ tay về phía hoàng tử Hương Ba và nói: "Không, anh đã bỏ lỡ cậu ta." Nói xong liền cất bước bỏ đi.
Tiến sĩ Ca Dương nhìn theo lạt ma A Rược, lẩm bẩm tự nói: "Cuối cùng hắn ta cũng đã hiểu ra rồi."
Lạt ma A Rược bước ra khỏi Mật tông học viện, sải bước đi về phía Tiểu Kim Vạ Điện.
Hoàng tử Hương Ba nói: "Thứ mà lạt ma A Rược nhìn thấy trên tường nhất định là ‘Chiên Khang’, ‘Chiên Khang’ chính là Tiểu Kim Vạ Điện."
Mai Tát hỏi: "Vậy chúng ta phải làm sao đây?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Đành phải đánh cược một phen thôi, hắn đi đường của hắn, chúng ta đi đường của chúng ta, căn khí của ai tốt, người đó sẽ tìm được dấu vết của Vạn Ma, tìm được Y Trác Lạp Mỗ hạnh phúc."
6
Trên sườn núi phía đông chùa Tháp Nhĩ, dưới bóng cây trước cửa Điện Đàn Thành, sát thủ đầu lâu đang nhìn hoàng tử Hương Ba và Mai Tát đi tới từ hướng Mật tông học viện, hắn lôi chiếc điện thoại đang rung lên ra, nhìn thoáng qua, rồi nơm nớp lo sợ áp lên tai. Đó là cuộc gọi từ Hắc Phương Chi Chủ - Đại hộ pháp của Vô hình mật đạo, gọi tới để dò hỏi tình hình bên phía hắn.
Sát thủ đầu lâu nói: "Lại thất thủ một lần nữa rồi, hắn mạng lớn thật, hình như lúc nào cũng có thần linh bảo vệ."
Hắc Phương Chi Chủ nói: "Không sao cả, miễn là ngươi không quên ‘Lời thề người tàng hình’."
Sát thủ đầu lâu đáp: "Sẽ không quên đâu, câu cuối cùng của lời thề là, hoặc hoàng tử Hương Ba chết, hoặc tôi chết."
Hắc Phương Chi Chủ nói: "Ta đương nhiên không muốn ngươi chết rồi. Tiếp tục thực hiện sứ mệnh của ngươi đi, ta sẽ giúp ngươi. Cảnh sát sắp xuất hiện rồi, ngươi phải nhân lúc hỗn loạn mà ra tay. Ngoài ra ta còn muốn nói cho ngươi biết, cũng giống như ngươi, ta và trợ lý của ta là Kứu Đầu Bệnh Ma đều là sát thủ hành động thiết thực, chúng ta chưa từng thất thủ bao giờ." Cuộc gọi bị ngắt.
Sát thủ đầu lâu ngẩn người hồi lâu, bấm một dãy số quen thuộc nhất. Mỗi khi tâm trạng buồn bực, hắn lại gọi vào số này. Người nghe máy là Cách Tang Đức Cát, mẹ của con trai hắn.
Đã kết nối, hắn nghe thấy tiếng thở của cô ấy, nhưng không nghe thấy cô ấy nói gì.
Cô ấy luôn không nói gì, luôn đợi hắn nói. Bởi vì câu nói mà cô ấy muốn nghe là "Về nhà đi, anh về nhà đi, em cũng về nhà rồi", thế nhưng hắn, lại không thể thốt ra những lời như thế. Hoàng tử Hương Ba chưa chết, phục tạng chưa bị hủy diệt, với tư cách là sát thủ đầu lâu, hắn không thể nào vứt bỏ kẻ khai quật tàng bảo hoàng tử Hương Ba sang một bên để cùng vợ về nhà được.
Hắn thở dài. Cô ấy cũng thở dài.
Sau đó, cô ấy liền cúp máy. Rõ ràng là cô ấy rất thất vọng, lại một lần nữa.
Một tin nhắn từ hư không bay đến, lướt tới chiếc điện thoại của Vương Nham:
Hoàng tử Hương Ba đã đến chùa Tháp Nhĩ.
Vương Nham lập tức gọi điện thoại lại cho đối phương: "Mày là ai?"
“Mày không tin tin nhắn của tao à?”
“Tao sẵn lòng tin mày, càng muốn biết tại sao mày lại thông báo cho tao điều này?”
“Ta tên là Hắc Phương Chi Chủ, ta tin rằng chúng ta có chung một mục tiêu, đó chính là tiêu diệt lạt ma Ogyen. Hoàng tử Hương Ba chính là đại diện của lạt ma Ogyen.”
“Có bằng chứng gì không?”
“Sở thích chung của bọn họ ‘Cửa ải Thất Độ Mẫu’ chính là bằng chứng.” Hắc Phương Chi Chủ cúp điện thoại.
Bích Tú trừng mắt nhìn Vương Nham và hỏi: "Gọi điện với ai đấy?"
Vương Nham đáp: "Hắc Phương Chi Chủ. Cô có biết Hắc Phương Chi Chủ là ai không?"
Bích Tú nói: "Nghe tên hình như là người trong Phật giáo Mật tông." Cô lại nói tiếp: "Chúng ta thật là vô dụng, cho đến nay vẫn chưa bắt được hoàng tử Hương Ba, càng không phát hiện ra bóng dáng của lạt ma Ogyen, bây giờ lại lòi đâu ra một tên Hắc Phương Chi Chủ nữa, đúng là quỷ quái."
Vương Nham nghe ra trong lời nói có ý trách móc mình, bực bội bảo: "Để tôi lái, để tôi lái." Anh đổi chỗ ngồi với Bích Tú, rồi nói tiếp: "Mục tiêu đã xuất hiện ở chùa Tháp Nhĩ Tây Ninh rồi, thế mà chúng ta vẫn còn đang ngó đông ngó tây trong thành phố Lan Châu."
Lúc này Trác Mã đi mua nước đã chui vào trong xe, chia nước khoáng cho hai người đồng hành.
Vương Nham lái chiếc xe cảnh sát Land Rover tựa như bay lượn trên đường suýt không chạm đất, dọa cho những tài xế bị vượt qua kêu thét lên oai oái. Những ngày không gió mà gió cứ vù vù thổi lướt về phía sau, có thể cảm nhận được không khí biến thành một đường hầm trong suốt. Bích Tú ngồi ở hàng ghế sau, một tay túm lấy tay cầm trên trần xe đến túa cả mồ hôi, liên tục nói: "Đội trưởng Vương đi chậm chút." Vương Nham không thể đi chậm lại được, dường như anh đang bị thúc đẩy bởi một lực vô hình nào đó. Họ băng qua đường cao tốc Lan-Ninh, đến Tây Ninh, thậm chí còn chưa dừng lại để đi giải quyết nỗi buồn mà phóng thẳng đến chùa Tháp Nhĩ.
Hai tiếng bốn mươi phút sau, Vương Nham lái xe vào trấn Lỗ Sa Lĩ - nơi tọa lạc của chùa Tháp Nhĩ. Khi đi ngang qua bến xe khách ở đầu ngã tư trấn, một chiếc xe khách lớn vừa từ trong bến chạy ra chặn ngang đường. Anh sốt ruột bấm còi bóp kèn, nhìn thấy mấy kẻ phía trước đột nhiên cầm hung khí lao vào ẩu đả, bản năng nghề nghiệp của cảnh sát khiến anh lập tức đẩy cửa xe bước xuống, gọi Bích Tú và Trác Mã cùng đi ra ngoài.
Cuộc hỗn chiến đã được can ngăn, thế nhưng Vương Nham lại bị một cô gái nhào tới xô ngã nhào xuống đất.
Cô gái đầu tóc bù xù, ôm chặt lấy chân anh không buông, vừa khóc vừa hét: "Anh đánh chết tôi đi, anh đánh chết tôi đi."
Vương Nham ngồi dưới đất dùng sức đẩy cô ta ra: "Tôi đánh cô làm gì chứ?"
Cô gái xé rách quần áo của mình, để lộ đầy những vết thương thâm tím khắp người, vừa khóc vừa tru tréo hướng về phía những người đang vây lại xung quanh, tru tréo vài tiếng rồi ngất lả xuống đất, miệng sùi bọt mép, toàn thân co giật.
Vương Nham nói: "Mau, đưa đi bệnh viện."
Bích Tú và Trác Mã khiêng cô gái lên chiếc xe cảnh sát Land Rover.
Có một người đi xe máy nói: "Đi theo tôi, tôi dẫn các anh chị đến bệnh viện huyện."
Xe cảnh sát Land Rover bám theo sau. Bệnh viện huyện đã tới, công tác cấp cứu lập tức bắt đầu.
Vương Nham nói: "Thời gian đã lỡ mất rồi, đi mau thôi."
Ba người vội vã rời đi, vừa đi đến cửa bệnh viện thì bị một nhóm người chặn lại. Gã đàn ông đầu trọc dẫn đầu lao đến túm lấy Vương Nham chất vấn tại sao anh lại tàn hại cô gái đó.
Vương Nham nói: "Tôi là người nơi khác, vừa mới đến đây, hoàn toàn không quen biết cô ta."
Gã đàn ông đầu trọc nói: "Những kẻ tàn hại cô ấy đều nói không quen biết cô ấy cả."
Bích Tú và Trác Mã bước tới kéo gã đàn ông đầu trọc ra, nhưng lại có nhiều kẻ khác lao vào túm lấy Vương Nham.
Vương Nham vỗ vỗ lên bộ cảnh phục của mình nói: "Không thấy tôi là cảnh sát à?"
Có kẻ nói: "Đồ giả đấy, chắc chắn là đồ giả rồi."
Vương Nham định rút thẻ cảnh sát ra để chứng minh thân phận của mình, vừa thọc tay vào túi thì phát hiện bên trong đã bị móc sạch trơn, anh lập tức nhận thức được một âm mưu đang vây lấy họ, liền nghiêm giọng nói: "Các người muốn làm gì hả? Chúng tôi là cảnh sát đến từ Bắc Kinh, các người nhìn biển số xe của chúng tôi xem." Vừa nói anh vừa chỉ tay về phía chiếc xe Land Rover.
Đã có kẻ mở cửa xe Land Rover, nổ máy chuẩn bị lái đi. Bích Tú gầm lên một tiếng, tung sức đuổi theo. Trác Mã xô đẩy đám đông, định dùng quyền cước để giải vây cho Vương Nham. Có kẻ hô lên: "Người của đồn công an đến rồi."
Vương Nham và Trác Mã bị đưa về đồn công an. Họ thở phào nhẹ nhõm, có cảm giác như bước vào ngôi nhà của chính mình, phịch một cái ngồi sụp xuống ghế sô-pha. Nhưng những chuyện tiếp theo lại có phần ngoài dự liệu.
Viên đồn trưởng nheo đôi mắt mang ý châm chọc nhìn họ: "Đừng có ở đây mà làm bộ làm tịch nữa, mặc một bộ cảnh phục, lái một chiếc xe cảnh sát, là thành cảnh sát chắc? Chỉ cần có tiền có quan hệ, treo một cái biển số xe cảnh sát thì có gì là khó chứ?"
Vương Nham nói: "Cho dù chúng tôi không phải cảnh sát, thì cũng chẳng đến mức phải bắt giữ chứ?"
Đồn trưởng nói: "Các người đánh cô gái đó, suýt thì đánh chết tươi, hiện tại vẫn đang cấp cứu, nhỡ may người ta chết rồi, các người chính là kẻ sát nhân, tôi có thể thả các người trốn thoát chắc?"
Lập tức có năm sáu viên cảnh sát xông tới, kéo họ từ ghế sô-pha đứng dậy, nhốt vào một căn phòng có cửa sổ bị bịt kín bằng những thanh sắt. Ngay khoảnh khắc cánh cửa sắt bị khóa chặt "cạch" một tiếng từ bên ngoài, Vương Nham phẫn nộ hét lớn: "Mày mẹ kiếp là ngục Trác Tử Động à."
Bầu không khí trở nên yên tĩnh, thế giới bên ngoài và hai người bị nhốt dường như đều đang trầm tư suy nghĩ.
Hồi lâu sau, Trác Mã lên tiếng: "Anh vội vã chạy đến đây, trông có vẻ như là để lao đầu vào một vụ ẩu đả, rồi bị vu oan, bị giam giữ."
Vương Nham đáp: "Tôi cũng nghĩ thế."
Trác Mã nói: "Cô gái đó là ai? Tại sao lại vu oan cho anh? Những vết sẹo khắp người cô ta là thật rành rành, quả thực có kẻ đã tàn hại cô ta. Lẽ ra kẻ vu oan cho anh phải là kẻ đã tàn hại cô ta mới đúng, kẻ này là ai? Tại sao anh vừa đến đây đã bị nhắm trúng rồi?"
Vương Nham nói: "Tôi đang ngẫm lại gã đàn ông đầu trọc túm lấy tôi ở cửa bệnh viện lúc nãy, hắn ta nói ‘những kẻ tàn hại cô ấy đều nói không quen biết cô ấy’, tại sao lại thế nhỉ?"
Trác Mã nói: "Kẻ tàn hại cô ta không chỉ có một người, anh là một trong số đó. Kiểu người thế nào mới bị rất nhiều kẻ tàn hại? Gái mại dâm? Nói tóm lại tất cả đều đã được sắp đặt sẵn, chúng ta cứ thế đâm đầu vào cái bẫy của người ta." Vừa nói, anh vừa bước qua đá mạnh một cước vào cửa sắt, hô lên: "Mở cửa, chúng tôi có chuyện muốn nói."
Vương Nham thầm nghĩ, chẳng lẽ đoạn tin nhắn đó chính là sự khởi đầu của cái bẫy? Không, Hắc Phương Chi Chủ rõ ràng muốn ngăn cản việc mở "Cửa ải Thất Độ Mẫu", kẻ địch của hắn là lạt ma Ogyen và hoàng tử Hương Ba, hắn gửi tin nhắn chính là muốn lợi dụng cảnh sát để đối phó với kẻ địch. Đã là như vậy, kẻ hãm hại và giam giữ bọn họ đáng lẽ phải là lạt ma Ogyen hoặc hoàng tử Hương Ba mới phải. Xem ra năng lực của bọn họ không nhỏ chút nào, đến cả quần chúng cũng có thể huy động, đồn công an địa phương cũng có thể sai khiến được. Nhìn xung quanh bốn phía, trong phòng chẳng có gì cả, chỉ có hai chiếc ghế sô-pha, một chiếc bàn trà, trên bàn trà có cốc và ấm. Mở nắp ấm ra, một làn hơi nước bốc lên nghi ngút, kèm theo một mùi thơm ngào ngạt của hoa, chỉ chớp mắt đã lan tỏa khắp không khí.
Hai người ngồi trên ghế sô-pha, mỗi người uống một cốc trà hoa cúc.
Vương Nham nói: "Phải nhanh chóng tìm cách ra ngoài thôi, một khi hoàng tử Hương Ba đắc thủ ở chùa Tháp Nhĩ, bọn họ sẽ lập tức rời khỏi đây."
Trác Mã nói: "Hoàng tử Hương Ba là kẻ khám phá phục tạng, đồng thời cũng là người thực thi khai quật tàng bảo. Mà phục tạng theo tôi hiểu thì chính là mê cung sâu thẳm nhất, huyền ảo nhất và khó tin nhất trên thiên hạ. Việc chúng ta nên làm thực ra là phải hiểu rõ triệt để cái mê cung này, rồi mai phục ở một nơi thích hợp, chơi một vú đánh úp bất ngờ."
“Đúng là mê cung, nhưng chúng ta không kịp tìm hiểu rồi, chỉ có thể cứ bám theo sau đuôi như thế này thôi.”
“Đuổi theo kịp là được rồi. Có điều, đạn bắn đuổi theo thường nhanh hơn con người đuổi.”
Vương Nham nghiêm giọng nói: "Không được, trong bất kỳ trường hợp nào cũng không được bắn chết hoàng tử Hương Ba, sau lưng cậu ta nhất định có bối cảnh rất sâu rất rộng, còn có cả lạt ma Ogyen nữa. Có thể nói rằng, đối với vụ án này, làm sáng tỏ bối cảnh còn quan trọng hơn việc trừng phạt tội phạm."
“Nhưng đôi khi anh không lo được nhiều thế đâu. Lấy ví dụ như lúc này đây, anh hoàn toàn không biết Bích Tú đang làm gì lúc này đâu.”
“Tôi biết Bích Tú có chủ kiến của riêng mình, thế nên chúng ta phải lập tức ra ngoài.” Vương Nham vừa nói vừa rầm một tiếng đặt mạnh cốc trà xuống, đứng dậy rút súng ra.
Trác Mã nhìn khẩu súng trong tay Vương Nham, ngẩn người: "Đội trưởng Vương, anh có phát hiện ra không, đây không phải đồn công an." Lý do rất đơn giản: Đã là đồn công an bắt người nhốt người, sao có chuyện ngay cả súng của người bị bắt mà cũng không thu giữ lại cơ chứ?
Hai người đồng thời nhào về phía cửa sắt, vừa đập vừa đá, cánh cửa sắt kiên cố hoàn toàn không có phản ứng gì. Trác Mã quay đầu lại, trừng trừng nhìn khung cửa sổ bị bịt kín bởi những thanh sắt, bước qua lay mạnh một cái, những thanh sắt hàn chéo đó vậy mà lại lần lượt rời khỏi khung cửa sổ, dùng sức đẩy một cái, cửa sổ liền kêu "rầm" một tiếng đổ sụp xuống. Hóa ra đây là sự bịt kín giả vờ, những kẻ nhốt bọn họ dường như chỉ muốn làm chậm trễ thời gian của họ một chút mà thôi. Hai người trèo qua cửa sổ ra ngoài, lúc này mới biết đây là một nhà trọ tư nhân, viên đồn trưởng và năm sáu viên cảnh sát kia đã sớm biến mất tăm mất tích từ đời nào.
Vương Nham và Trác Mã chạy thục mạng về phía chùa Tháp Nhĩ, chạy chưa được bao xa, Trác Mã bỗng kêu lên một tiếng "Ái chà" rồi ngã khuỵu xuống đất. Vương Nham định đỡ anh ta dậy, anh ta nhăn mặt hít hà, nói rằng mình bị trẹo chân rồi.
Vương Nham lo lắng sốt ruột nói: "Làm sao thế này, còn đi nổi không?"
Trác Mã một tay ôm lấy chân trái, một tay xua xua nói: "Đừng quan tâm đến tôi, mau đi tìm Bích Tú đi, ngăn hắn lại, hắn sẽ giết hoàng tử Hương Ba đấy."
Vương Nham đành bất lực nhìn Trác Mã: "Cứ tự lo cho mình đi nhé, tôi không lo nổi cho anh nữa rồi." Nói đoạn quay người cắm cổ chạy.
Trác Mã đột nhiên đứng phắt dậy, đi về phía bệnh viện. Anh ta có hứng thú với cô gái đầy rẫy vết thương tích ở trong bệnh viện hơn.
Sự dốc sức đuổi theo của Bích Tú không mang lại kết quả, chiếc xe cảnh sát Land Rover vẫn bị kẻ khác lái đi mất. Anh ta quay lại cửa bệnh viện, nhìn thấy Vương Nham và Trác Mã đã bị người ta đưa đi, liền quay người cắm cổ chạy. Anh ta cảm thấy cơ hội đã đến, một cơ hội có thể đơn độc theo sát hoàng tử Hương Ba, có thể khiến anh ta trong chớp mắt kết thúc trò chơi mèo vờn chuột này. Anh ta là mèo, hễ là cảnh sát thì đều là mèo, nhưng mèo với mèo là khác nhau, chỉ cần có một chỗ dựa phi thường, có con mèo chốc lát hóa thành hổ, giống như anh ta vậy, anh ta cảm thấy bản thân từ lâu đã là mãnh hổ rồi, sao còn có thể mặc cho con chuột lái xe chạy rông khắp nơi được chứ? Bích Tú sờ sờ khẩu súng giắt bên hông, sải bước đi về phía chùa Tháp Nhĩ, anh ta biết ý nghĩa chuyến đi này của mình, chỉ cần nhìn thấy hoàng tử Hương Ba, bất kể là ở hoàn cảnh nào, anh ta cũng sẽ nổ súng bắn chết đối phương cho bằng được. Đối phương mang trọng án trên người, lại là nghi phạm tội phạm trộm cắp văn vật trọng điểm, hiện tại lại bỏ trốn vì sợ tội, tiếp tục gây án, không bắn chết hắn thì bắn chết ai?
Bích Tú mua vé tham quan, bước vào trong chùa Tháp Nhĩ, đôi mắt chim ưng dán chặt nhắm chuẩn mục tiêu, trước tiên đi vòng qua mấy đại điện chính, rồi đến quảng trường trước chùa, trực giác của cảnh sát nói cho anh ta biết, hoàng tử Hương Ba sắp xuất hiện rồi.
7
Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát đi về hướng Đại kinh đường mà người Tạng gọi là "Thông Linh Đóa Hoạt", cảnh giác quan sát xung quanh, không phát hiện ra lạt ma hộ tự, chỉ có khách hành hương ra ra vào vào.
Hoàng tử Hương Ba nói: "Điểm nổi tiếng nhất của Đại kinh đường chùa Tháp Nhĩ chính là các cây cột, tượng đồng Tông Khách Ba mạ vàng trong các hốc tường, hàng ngàn bộ kinh thư bản độc nhất vô nhị, và bảo tọa hoằng pháp của Đạt Lai và Ban Thiền. Người chế tạo ‘Sách hướng dẫn thọ ký’ muốn lưu giữ dấu vết của Phật gia Vạn Ma ở đây và hy vọng được người có duyên đời sau phát hiện ra, chắc chắn sẽ không bỏ qua những thứ này."
Vừa nói, họ vừa bước vào trong Đại kinh đường.
Hàng ngàn pho tượng đồng Tông Khách Ba mạ vàng và hàng vạn bộ kinh thư bản độc nhất vô nhị đều bị khóa trong các hốc tường, họ nhìn thấy mà không sờ được, đành phải loại trừ.
Mai Tát nói: "Nói chung, những nơi mà người khai quật tàng bảo không thể tiếp cận được, thì người giấu phục tạng sẽ không để lại khải thị đâu."
Họ đi thẳng đến trước bảo tọa hoằng pháp nguy nga lộng lẫy của Đạt Lai và Ban Thiền ở trong cùng, cách hàng rào bảo vệ ngó nghiêng hồi lâu, rồi thất vọng lắc đầu.
Hoàng tử Hương Ba nói: "Bây giờ chỉ còn lại những cây cột thôi. Đại kinh đường có tổng cộng một trăm sáu mươi tán cây cột, trong đó có sáu mươi cây nằm trong tường, cây nào cũng là tác phẩm nghệ thuật có trình độ tạo nghệ rất cao."
Họ nghiên cứu từng cây một các đường chạm trổ trên đỉnh cột và thảm treo tường quấn quanh cột, tiện thể cũng ngắm nhìn những hàng thiền tọa, thảm sọc ngũ sắc giữa các cột, pháp khí khi tụng kinh tập thể, rường nhà cột chống san sát, đấu củng, giếng trời, bích họa câu chuyện Phật giáo cùng với các bức màn trướng, lụa kinh, phan tràng, lọng che, tranh cuộn cổ... v.v., nhưng chẳng thu hoạch được gì. Đại kinh đường có thể chứa ba nghìn lạt ma cùng lúc tụng kinh này, cái viện hiển tông mà các tăng nhân gọi là Tham Nê Tra Sương, tu tập nghĩa lý năm minh, đã không có chút bất ngờ nào mà từ chối họ.
Mai Tát nói: "Vậy thì đi ‘Hạ Đạt Lạp Khang’ Điện Trường Thọ đi, biết đâu căn khí của tôi tốt hơn anh."
Họ bước ra khỏi Đại kinh đường, đi về phía Điện Trường Thọ.
Mai Tát hỏi: "Tại sao lại xây một ngôi Điện Trường Thọ ở chùa Tháp Nhĩ? So với sự trường thọ của con người, chẳng phải Phật giáo coi trọng hơn sự vô thường, tiêu vong và diệt độ sao?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Đây chính là một bằng chứng cho thấy Phật giáo thế tục hóa, nhân tính hóa. Trường thọ là cảnh giới cực điểm, là mục tiêu cao nhất của thế giới thế tục, sợ chết là bản năng của mọi sinh mệnh. Phật giáo chỉ có tôn trọng nhân tính và bản năng của con người, mới có thể bén rễ nơi trần thế. Cứ theo suy luận đó, chúng ta sẽ hiểu tại sao Phật giáo Tây Tạng lại sản sinh ra Thương Ương Gia Thố và những bài ca tình ái của ông ấy. Thương Ương Gia Thố đại diện cho tình yêu, tình yêu cũng là cảnh giới cực điểm, là mục tiêu lý tưởng của thế giới thế tục. Không có tình yêu là điều đáng sợ nhất, có hận là điều đau khổ nhất, một thế giới có tình yêu không có hận thù là thế giới tôn giáo, càng là thế giới thế tục. Đây hẳn là lô-gích của Thương Ương Gia Thố, cũng là lý do tại sao tôi lại mở ‘Cửa ải Thất Độ Mẫu’. Nói cụ thể ra, có tình yêu cộng thêm không hận thù, thì tương đương với hoàng tử Hương Ba cộng với Mai Tát, đó chính là cả thế giới, một nửa thế tục, một nửa tôn giáo, thiếu đi một nửa thì không tốt."
Mai Tát bực bội nói: "Anh cứ nói là lại hăng máu lên đấy nhé, anh phải học cách tôn trọng người khác, tôn trọng tôi, và cả tôn trọng Trí Mỹ nữa."
“Trí Mỹ không có ở đây, tôi tôn trọng thế nào được?”
“Cho dù cậu ấy có ở cạnh hay không, thì tôi cũng thuộc về cậu ấy.”
“Em đang tự lừa dối chính mình đấy.”
“Anh vẫn chưa trả lời câu hỏi của tôi, nguồn gốc của Điện Trường Thọ.”
Hoàng tử Hương Ba nói: "Em cứ luôn làm anh phân tâm. Theo cách nói được công nhận, lục thế Đạt Lai Lạt Ma Thương Ương Gia Thố sau khi chuyển thế ở Lý Đường vùng Kham, đã được nghênh thỉnh đến chùa Tháp Nhĩ Thanh Hải để phụng dưỡng với tư cách là thất thế Đạt Lai Lạt Ma. Ông nói với chúng tăng rằng, kiếp trước của ông sống đến hai mươi tư tuổi, kiếp này sẽ sống thêm nhiều năm nữa, ít nhất là gấp đôi. Để thực hiện tâm nguyện này của thất thế Đạt Lai Lạt Ma, chùa Tháp Nhĩ đã liên hệ với các thí chủ bộ tộc địa phương xây dựng nên Điện Trường Thọ. Sau khi xây dựng xong, thất thế Đạt Lai Lạt Ma Cách Sang Gia Thố lúc đó mới chín tuổi đã dẫn dắt chúng tăng cử hành pháp hội khai quang long trọng, rải rất nhiều hoa cát tường, thế nên tín dân còn gọi nó là chùa Hoa."
Điện Trường Thọ được bao quanh bởi bức tường gạch lưu ly, là một công trình kiến trúc kiểu Hán với mái hiên kép chồng lên nhau, các hoa văn chạm trổ tinh xảo, đậm đà nét cổ kính. Cây bồ đề trong sân cành lá xum xuê hoa nở rộ, tỏa ra hương thơm thanh tao của đàn hương. Chính điện thờ phụng Thích Ca Mâu Ni cùng hai đệ tử Ca Diếp, A Nan, còn có Văn Thù Bồ Tát cưỡi sư tử xanh, Phổ Hiền Bồ Tát cưỡi voi trắng, mười sáu vị tôn giả và tứ đại thiên vương.
Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát lướt qua từng pho tượng Phật, không phải để tìm kiếm, mà là dựa vào sự cảm ứng tâm linh. Cảm ứng gần một tiếng đồng hồ, vẫn không cảm ứng được dấu vết của Phật gia Vạn Ma. Cuối cùng họ đến bên hương thơm của cây bồ đề, ngẩn ngơ đối diện với một tảng đá kỳ lạ màu xanh ở bồn hoa.
Tảng đá kỳ lạ được phết bơ, dính đầy những đồng tiền xu mà các tín đồ cúng dường, vài đường vân đá màu trắng uốn lượn ngoan cố trườn bò bên dưới những đồng tiền xu.
Hoàng tử Hương Ba nói: "Đây là tảng đá nghỉ chân, mẹ của Tông Khách Ba ngày xưa đi vào núi gác nước suối, thường hay dừng chân nghỉ ngơi trên tảng đá này."
Mai Tát tiện miệng hỏi: "Tại sao lại phải dừng chân nghỉ ngơi trên tảng đá này?"
“Bởi vì trên đó có hoa sen.”
Mai Tát bước tới nhìn thử, quả nhiên những đường vân đá màu trắng uốn lượn trên tảng đá kỳ lạ màu xanh đã cấu thành một cách rõ ràng một đóa hoa sen tám cánh có nhụy hoa, bèn nói: "Vậy thì không thể gọi là đá nghỉ chân nữa, nên gọi là đài sen mới đúng, các bậc thánh giả đều ngồi trên đài sen mà."
Hoàng tử Hương Ba ngẩn người, bất chợt vỗ đùi một cái nói: "Đúng rồi, sao mình lại quên bén mất chuyện này nhỉ, thứ hiển thị ở đây là hoa sen, thứ mà Đại kinh đường hiển thị thực ra cũng là hoa sen. Em nghĩ mà xem, số cột của Đại kinh đường là một trăm sáu mươi tám cây, trừ đi sáu mươi cây trong tường, số cột dài và cột ngắn chúng ta có thể nhìn thấy cộng lại là một trăm linh tám cây. Một trăm linh tám cây cột này hẳn là cột hoa sen. Liên Hoa Sinh đại sư từ Ô Trượng Na Ấn Độ đến Tây Tạng, dọc đường thu phục một trăm linh tám con yêu ma quỷ quái hung ác, cột hoa sen tượng trưng cho một trăm linh tám loại chiến tích thần uy của Liên Hoa Sinh."
Mai Tát lẩm bẩm: "Đá hoa sen, cột hoa sen..."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Còn có Vạn Ma nữa, ý nghĩa của ‘Vạn Ma’ chính là hoa sen."
Mai Tát kêu lên: "Đúng rồi."
Hoàng tử Hương Ba kích động nói: "‘Dấu vết Vạn Ma’ chính là dấu vết hoa sen."
“Ý anh là, chúng ta đã tìm thấy dấu vết của Phật gia Vạn Ma rồi ư? Không thể nào chứ? ‘Y Trác Lạp Mỗ hạnh phúc’ ở đâu? ‘Cửa ải Thất Độ Mẫu’ ở đâu?”
“Chỉ có thể nói là lại gần thêm một bước nữa thôi.”
“Em nghĩ thế này, cái gọi là ‘Dấu vết Vạn Ma’ có lẽ không ám chỉ dấu vết lịch sử bước vào cửa thánh của Phật gia Vạn Ma, mà là dấu vết hiện đại. Chúng ta hoàn toàn có thể trực tiếp đi tìm Phật gia Vạn Ma, đằng nào thì Phật gia cũng đâu có chết, đều có thể chuyển thế, Phật gia Vạn Ma đời hiện tại nhất định sẽ biết những chuyện quan trọng ở kiếp trước của mình.”
Hoàng tử Hương Ba cười ha ha, mỉa mai nói: "Em ngốc quá cơ, vấn đề đơn giản thế này mà bây giờ mới nghĩ ra, nếu như còn có thể tìm thấy Phật gia Vạn Ma, thì chúng ta vừa đến chùa Tháp Nhĩ là đã đi tìm ông ấy rồi. Nói cho em biết nhé, Phật gia Vạn Ma đã không chuyển thế nữa rồi."
“Lý do gì thế?”
“Không ai nói rõ được cả.”
Mai Tát trầm mặc, cô cảm thấy ít nhiều khó chịu trước sự mỉa mai của hoàng tử Hương Ba.
Hoàng tử Hương Ba nói: "Điều tôi đang nghĩ bây giờ là, bức tường phía nam của Điện Khổ Hạnh đã hiển thị Đại kinh đường cho tôi, hiển thị Điện Trường Thọ cho em, tất cả chúng đều dùng hoa sen để cho chúng ta nhìn thấy ‘dấu vết Vạn Ma’. Vậy còn lạt ma A Rược thì sao, hắn ta đã đến Tiểu Kim Vạ Điện, Tiểu Kim Vạ Điện sẽ mang lại cho hắn ta sự lĩnh ngộ gì đây?"
Phía sau Điện Trường Thọ, đi ngang qua tháp Thời Luân Kim Cương sừng sững, chính là Tiểu Kim Vạ Điện.
Vừa bước vào Tiểu Kim Vạ Điện, Mai Tát liền thấy hơi hoang mang: "Sao tượng thần lại ở cùng một chỗ với động vật thế này?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Tiểu Kim Vạ Điện chính là điện hộ pháp của chùa Tháp Nhĩ, trong điện thờ phụng năm vị dũng mãnh minh vương thân, ngữ, ý, trí tuệ, công đức. Những mẫu vật động vật như bò rừng, cừu, gấu, khỉ... ở hành lang tầng hai hai bên điện mà em nhìn thấy, cũng chính là hình thể sinh linh của các vị hộ pháp, tượng trưng cho việc chinh phục ma quỷ tà ác và uy quyền của vật tổ dân gian. Bức mẫu vật ngựa trắng ở đằng kia kìa, chính là vật cưỡi của tam thế Đạt Lai Lạt Ma, đã cõng chủ nhân từ Lhasa Tây Tạng đến chùa Tháp Nhĩ Thanh Hải. Sau đó tam thế Đạt Lai Lạt Ma muốn đi Mông Cổ hoằng pháp, ngựa trắng không chịu rời đi nên đã ở lại đây. Chẳng bao lâu sau, ngựa trắng vì nhớ thương chủ nhân mà nhịn ăn cho đến chết, chúng tăng bèn xem nó như thần mã để phụng cúng."
Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát không nhìn thấy lạt ma A Rược ở Tiểu Kim Vạ Điện, nhưng lại dễ dàng phát hiện ra hoa sen, đó là một tác phẩm nghệ thuật Phật giáo cổ xưa, được treo ngay phía trước Độc Hùng Song Thân Mã Đầu Minh Vương.
Mai Tát hỏi: "Đây là gì thế?"
Hoàng tử Hương Ba đáp: "Đôi thêu (thêu đắp nổi). Đôi thêu là tác phẩm nghệ thuật Phật giáo do chùa Tháp Nhĩ sáng tạo độc quyền. Chính là dùng các loại lụa là gấm vóc đủ màu cắt thành các họa tiết như tượng Phật, nhân vật, hoa cỏ, chim muông... nhồi len hoặc bông vào cho nó phồng lên, rồi thêu lên mành vải, cảm giác lập thể rất mạnh. Em nhìn đóa hoa sen trước mặt này xem, cứ như vừa mới nở vậy, ngửi ngửi vẫn còn thấy thoang thoảng mùi thơm nữa đấy."
Hoa sen được sắp xếp theo hình dáng của "Tức Tránh Tháp", tổng cộng có tám đóa, các cánh hoa uốn lượn điệu đà, hương thơm thoang thoảng từng đợt.
“Cột hoa sen là một trăm linh tám cây, hoa sen trên đá xanh là tám cánh, hoa sen thêu đắp nổi tổng cộng có tám đóa, hơn nữa lại xếp theo hình dáng của Tức Tránh Tháp, tại sao lại thế?” Hoàng tử Hương Ba cúi đầu suy ngẫm, bỗng nói: "Xem ra lạt ma A Rược không hề ngốc đâu, đi thôi."
“Đi đâu thế?”
“Lạt ma A Rược đi đâu, chúng ta đi đó.”
Họ đến quảng trường trước chùa Tháp Nhĩ, nhìn thấy phong cảnh của Như Lai Bát Tháp nổi tiếng đang vô cùng đẹp đẽ. Ánh nắng rọi sáng màu trắng ngần của chúng, cũng rọi ra những chiếc bóng dài nghiêng nghiêng. Niệm tưởng độ sinh lượn lờ quanh thân tháp. Thứ sắc màu bi nguyện và hoằng hóa tĩnh mịch mà xa xăm chỉ có người thành kính mới có thể cảm nhận được ấy, lan tỏa ra cả một bầu trời xanh ngắt. Mấy tín đồ đang vây quanh Như Lai Bát Tháp cúi đầu bái lạy sát đất một cách vô cùng cẩn trọng. Một đám du khách chạy ngược chạy xuôi chụp ảnh. Một thanh niên người Tạng để tóc dài xõa ngang vai giống hệt hoàng tử Hương Ba đang đứng trên bệ tháp của Tức Tránh Tháp, đang quét sơn trắng phau lên thân tháp.
Hoàng tử Hương Ba nói: "Như Lai Bát Tháp cũng giống như một trăm linh tám cây cột hoa sen, tám cánh hoa sen trên đá hoa sen, tám đóa hoa sen trên tranh thêu đắp nổi, biết đâu cũng là sự kết hợp có chủ ý của người giấu phục tạng, dùng để kéo dài dấu vết của Phật gia Vạn Ma."
Lạt ma A Rược đứng sững sờ trước Tức Tránh Tháp, nhìn thấy hoàng tử Hương Ba và Mai Tát đi tới liền vội vàng bỏ đi. Hoàng tử Hương Ba làm bộ như không nhìn thấy hắn, dẫn Mai Tát vòng quanh Như Lai Bát Tháp hai vòng, rồi lại đến phía sau Tức Tránh Tháp, nhắm mắt suy ngẫm một lúc. Nhìn lại lạt ma A Rược thì đã chẳng thấy bóng dáng đâu nữa.
Thanh niên người Tạng tóc dài xõa ngang vai từ trên bệ tháp của Tức Tránh Tháp nhảy rầm một tiếng xuống đất, rồi xách xô vôi vữa trèo lên bệ tháp của Tôn Thắng Tháp.
Hoàng tử Hương Ba liếc nhìn anh ta một cái, nhỏ giọng nói: "Sao người bảo dưỡng Như Lai Bát Tháp lại không phải là lạt ma nhỉ? Đây là đại công đức, các lạt ma đều sẽ tranh nhau làm, không thể nào đi thuê mướn người ngoài lung tung được."
Mai Tát nói: "Tôi cũng nghĩ thế."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Cột hoa sen đại biểu cho chiến tích thu phục một trăm linh tám con yêu ma quỷ quái hung ác của Liên Hoa Sinh đại sư, nó tượng trưng cho hòa bình; hoa sen tám cánh trên đá hoa sen trong kinh Phật cũng được gọi là hoa hòa bình; tám đóa hoa sen trên tranh thêu đắp nổi là cách sắp xếp của Tức Tránh Tháp, mà Tức Tránh Tháp được xây dựng để tưởng niệm việc Thích Ca Mâu Ni khuyên can cuộc tranh chấp tranh biện của các tỷ-kheo, lại được gọi là tháp hòa bình. Hòa bình, hòa bình, tại sao lại là hòa bình? Hình như lại quay về rồi, quay về lịch sử, quay về câu chuyện của Thương Ương Gia Thố rồi."
Mai Tát nói: "Việc này thì có liên quan gì đến Thương Ương Gia Thố cơ chứ?"
Hoàng tử Hương Ba trầm tư không nói.
Mai Tát lại nói: "Thế nhưng xét từ góc độ học thuyết phục tạng mà nói, chỉ cần có thể quay về với Thương Ương Gia Thố, thì chứng tỏ suy nghĩ của chúng ta là chính xác."
Hoàng tử Hương Ba hỏi: "Lý do đâu?"
Mai Tát nói: "Bởi vì phục tạng trước hết là phải giấu vào trong thời gian hư không và vô tận. Đứng trước thời gian, rất nhiều chuyện chúng ta đã lãng quên, đến khi chợt nhớ ra, thì phát hiện ra cho dù nó đã biến mất bao lâu đi chăng nữa, thì đó vẫn là nhu cầu của ngày hôm nay."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Quá chuẩn luôn, Thương Ương Gia Thố chính là nhu cầu của ngày hôm nay, thế giới, Trung Quốc, chúng ta, đều cần tiếng ca hòa bình, cần tình yêu và sự cảm động, thế nên mới có ‘Cửa ải Thất Độ Mẫu’."
“Thương Ương Gia Thố càng là nhu cầu của liên minh tín ngưỡng mới, là nhu cầu của việc lăng nhục Phật giáo diệt trừ tôn giáo.” Nhưng câu này Mai Tát không thốt ra lời, mà chỉ nói: "Nhu cầu này chính là cơ hội khai quật tàng bảo, nó liên kết với nguyện vọng của người giấu phục tạng. Người giấu phục tạng trong lúc giấu phục tạng, cũng đã giấu cơ duyên khai quật tàng bảo vào trong ý thức của con người, kẻ nào có thể đánh thức ý thức ấy, chính là người khai quật tàng bảo mà người giấu phục tạng hằng mong ngóng. Anh là một người được thần linh và lịch sử mong chờ, anh rất may mắn, thế nhưng ‘Cửa ải Thất Độ Mẫu’ rốt cuộc là gì, di ngôn của Thương Ương Gia Thố có phải là thứ anh muốn hay không, còn phải xem tình cảm và lập trường của anh nữa."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Em nói càng lúc càng có lý đấy, đã là ‘Cửa ải Thất Độ Mẫu’ là di ngôn của Thương Ương Gia Thố, thế thì nhất định đó là thứ tôi muốn, bởi vì tình cảm và lập trường của tôi chính là tình cảm và lập trường của Thương Ương Gia Thố."
Mai Tát nói: "Cứ cho là ‘thọ ký’ và ‘sách hướng dẫn’ khai quật tàng bảo đi, có thể là hữu hình, cũng có thể là vô hình, có thể thực có, cũng có thể trống không, có thể tác động đến mắt tai mũi lưỡi thân của chúng ta, cũng có thể trực tiếp tác động đến nội tâm của chúng ta, kích phát sự chứng ngộ của chúng ta. Chứng ngộ là gì? Chính là linh cảm của sự thấu hiểu. Hoặc là, nó chẳng là gì cả, chỉ là một sợi thần kinh đang ngủ quên trong đầu anh. Đó là linh cảm định kỳ do Liên Hoa Sinh đại sư thọ ký, một khi túc duyên chạm đến, cơ hội chín muồi, nó sẽ bùng nổ. Đó chính là chứng ngộ, chính là cách gọi thông tục là giải mã."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Không tồi, xem ra hiện nay, Liên Hoa Sinh đại sư và Thương Ương Gia Thố trong lúc giấu ‘Cửa ải Thất Độ Mẫu’, đồng thời cũng giấu trí tuệ khai quật tàng bảo vào trong lòng tôi, chưa đến thời điểm định trước, ngài sẽ không đánh thức tôi. Một khi đã đánh thức, tôi sẽ bất chấp tất cả, quên mình lao vào việc khai quật tàng bảo."
Mai Tát cổ vũ nói: "Đi tiếp đi, hoàng tử Hương Ba, mau đi theo dòng suy nghĩ của Thương Ương Gia Thố đi."
Hoàng tử Hương Ba nhìn sắc trời. Thời tiết quang đãng, từng đợt gió thổi qua, tựa như đang thổi lướt qua những vệt màu xanh biếc. Anh có chút mệt mỏi bước tới, ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh cửa hàng văn vật trước Như Lai Bát Tháp, châm một điếu thuốc. Mai Tát đi theo anh, ngồi xuống bên cạnh anh.
Hai người trầm mặc, đối với Mai Tát thì đó là sự chờ đợi, đối với hoàng tử Hương Ba cũng là sự chờ đợi, tựa như người có thể kể câu chuyện về Thương Ương Gia Thố là kẻ khác chứ không phải anh.
Hoàng tử Hương Ba liếm liếm đôi môi khô khốc nói: "Giá mà bây giờ có một chai bia, có một đống thịt bò thì tốt biết mấy, tôi vừa khát lại vừa đói."
Mai Tát không bỏ lỡ cơ hội nói: "Em phải nhắc nhở anh một cách nghiêm túc rằng, anh bắt buộc phải cai rượu, cai thuốc lá, cai thịt, người khai quật tàng bảo phải tuyệt đối thanh tịnh, đây là điều kiện cơ bản để hoàn thành việc khai quật tàng bảo."
"Cậu không định bắt tôi giới cả sắc dục luôn chứ?"
"Thanh tịnh tuyệt đối chính là lục căn đều tịnh, sắc là thứ phải giới hạn đầu tiên."
"Vậy cậu và Trí Mỹ đã thanh tịnh chưa? Chẳng phải hai người là những bậc phát hiện kho tàng sao?"
Mai Tát nhất thời nghẹn lời.
"Tôi lại nghe nói các bậc đại sư phát hiện kho tàng trước kia nhất định phải có pháp lữ mới có thể thành công, pháp lữ chính là bạn tình, tôi có giới cái gì cũng không thể giới cái này." Hoàng tử Hương Ba vừa nói, vừa xích lại gần Mai Tát.
Mai Tát dịch sang bên cạnh một chút: "Không sai, rất nhiều đại sư phát hiện kho tàng đều có pháp lữ, đó là phương tiện pháp môn của việc phát hiện kho tàng, là điều kiện cần thiết để chứng ngộ. Nhưng họ là những người tu luyện, không chỉ đại sư phát hiện kho tàng là người tu luyện, mà pháp lữ cũng là người tu luyện. Hành vi của họ là môn tu luyện bắt buộc khi phát hiện kho tàng, vượt qua giới tính nam nữ, là sự trống rỗng và hỷ lạc của Phật, chứ không phải sắc dục thông thường của người phàm."
"Nói vậy cậu và Trí Mỹ là người tu luyện sao?"
"Đúng vậy, chúng tôi vẫn luôn tu luyện, không phải vì tín ngưỡng Phật giáo, mà là để khai quật 'Cửa ngỏ Thất Độ Mẫu'. Giống như cậu, một kẻ ngũ độc câu toàn, mà có thể đi đến ngày hôm nay trên con đường tìm kiếm kho tàng, đã là một kỳ tích rồi."
"Vậy thì tôi sẽ tiếp tục tạo ra kỳ tích, không thanh tịnh, không tu luyện, cũng không từ bỏ việc tìm kiếm kho tàng."
"Sẽ không còn kỳ tích nào nữa, mỗi bước tìm kiếm kho tàng của chúng ta đều đi vô cùng gian nan, mấy lần suýt mất mạng, chính là vì cậu không thanh tịnh. Nếu cậu vẫn không thể thay đổi bản thân, lại còn làm tới, thì thứ chờ đợi phía trước không phải là phục tàng, mà là cái chết."
Hoàng tử Hương Ba làm vẻ mặt khoa trương rùng mình một cái: "Cái chết ư? Thật đáng sợ làm sao, ha ha."
Mai Tát giận dỗi, đứng dậy bỏ đi, lớn tiếng nói: "Không phải đang đùa đâu, tôi là người nghiên cứu học thuật phục tàng, tôi hiểu rõ hơn cậu."
Hoàng tử Hương Ba nghiêm túc nói: "Về lịch sử, về Thương Ương Gia Thố, cậu cũng hiểu hơn tôi sao? Có nghe hay không? Rất có khả năng liên quan đến hành động tiếp theo của chúng ta đấy."
Hoàng tử Hương Ba lập tức lại mất hút con mẹ hàng lươn, nghiêng đầu, nhìn Mai Tát với ánh mắt đầy sắc dục rồi nói: "Tôi phát hiện ra một bí mật, tại sao lúc nào cậu cũng đội ngay ngắn chiếc mũ dạ lông bò này thế."
"Tại sao?"
"Vì cậu muốn ngụy trang bản thân thành một người đàn ông, một người đàn ông không có bất kỳ sức hút nào đối với tôi."
"Coi như cậu còn chút linh tính. Nói chuyện chính đi, Thương Ương Gia Thố."
Trên quảng trường trước chùa, hướng về phía Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát đang đứng trước Như Lai Bát Tháp, từ phía Đông đi tới sát thủ đầu lâu, từ phía Tây đi tới nữ cảnh sát Bích Tú. Hai người gần như nhìn thấy đối phương cùng một lúc, liền lập tức dừng bước. Họ đều muốn giết người, đều vô cùng cảnh giác bất kỳ ai đang đến gần Hoàng tử Hương Ba lúc này.
Sát thủ đầu lâu nghĩ: Chủ nhân hắc phương nói cảnh sát sắp xuất hiện, quả nhiên đã xuất hiện, làm sao mình mới có thể "đục nước béo cò" đây? Hắn quay người bỏ đi, nhưng không đi xa, mà trốn ở phía sau điện Kim Sáu Nhỏ để rình rập Hoàng tử Hương Ba.
Bích Tú thầm nghĩ: Tên này đang làm gì vậy, sao vừa thấy mình liền rút lui? Cô biết đối phương không đi xa, lại nhìn thấy một đám khách du lịch đang đi tới từ hướng cổng quảng trường, cảm thấy đây không phải cơ hội ra tay, liền quay người ẩn mình vào giữa hàng ô tô bên lề quảng trường, giám sát Hoàng tử Hương Ba qua tấm kính cửa sổ của chiếc xe ô tô đối diện. Bàn tay cầm súng vẫn chưa rời khỏi túi quần, viên đạn đã lên nòng, có thể cảm nhận được sự sốt ruột chực chờ bay đi của nó.