Cách nhau chỉ hai ngày, kỳ thi thứ năm nhanh chóng đến. Mối lo của Đại Hoạt Phật Ngõa Kiệt Cống Ca đã trở thành hiện thực, sự trống vắng đã xuất hiện, lạt-ma Cổ Như Khâu Trạch không có mặt. Không ai biết ông đã đi đâu, càng không biết tại sao ông lại không đến. Sự vắng mặt của ông đồng nghĩa với việc đối thủ của ông là Hoạt Phật Bôn Ba Giáp đã thắng một trận.
Bây giờ tỷ số là ba chọi hai, kỳ thi vẫn phải tiếp tục, chí ít vẫn còn trận thứ sáu.
Trong điện Trì Minh của cung Potala, tiếng kinh tụng của các vị cách-sang vang lên trầm hùng, rền rang. Đây là đề nghị của giám khảo Ni Ma: Dù sao mọi người không thể đến công cốc, chi bằng chúng ta tổ chức một pháp hội thật đơn giản, cầu nguyện cho muôn loài sinh linh bình an cát tường vậy.
Đại Hoạt Phật Ngõa Kiệt Cống Ca một mình bước ra khỏi điện Trì Minh, sai quản gia phái người đi tìm lạt-ma Cổ Như Khâu Trạch: Nhất định phải tìm cho ra ông ấy, bảo ông ấy dù có chuyện gì xảy ra đi nữa, nhất định phải quay về tham gia kỳ thi thứ sáu, hơn nữa phải giành chiến thắng.
Tối đến, lạt-ma Cổ Như Khâu Trạch đã trở về cung Potala. Ông đến điện Đàn Thành, dưới sự bao bọc của Mật Trụ Kim Cương đàn thành, Thắng Lạc Kim Cương đàn thành và Đại Uy Đức Kim Cương đàn thành, bẩm báo với tôn sư Ngõa Kiệt Cống Ca nguyên nhân vì sao mình vắng mặt trong kỳ thi.
Ông điềm tĩnh nói: "Phi Bảo của con đi rồi, con đi tiễn em ấy."
Đại Hoạt Phật Ngõa Kiệt Cống Ca nói: "Con cố ý phải không, con không muốn thắng kỳ thi trận này."
Ông không hé răng, chuyện gì có thể qua mắt được tôn sư chứ? Chỉ là tôn sư nào biết đằng sau nguyên nhân còn có nguyên nhân, những điều vi diệu không thể dò lường ấy, từ chỗ có thể dùng lời nói đã trở thành không thể diễn tả bằng lời, từ chỗ có thể suy ngẫm đã trở thành không thể nghĩ bàn.
Phi Bảo là do ông nuôi dưỡng, đã nuôi từ mấy năm trước. Cô ấy chẳng làm gì cả, cơm áo không lo, thoải mái nhàn nhã. Thế nhưng cô ấy nói: "Anh không tạo ra giá trị nào cả, vốn dĩ đã được tín đồ cúng dường rồi, bây giờ anh lại cúng dường em, em cảm thấy rất kỳ cục, cực kỳ kỳ cục." Lại nói tiếp, "Người tin Phật không thể chẳng làm gì cả mà chỉ tin Phật, thế thì còn ra thể thống gì chứ? Em phải về đây, em phải đi làm chút việc đây."
Ông nói: "Em nói đúng, tín ngưỡng không phải là một nghề nghiệp, không phải là đặc quyền của một số ít người, mà là trạng thái tinh thần mà ai ai cũng nên có. Lạt-ma cũng không phải là quý tộc tinh thần, mà nên là một người sáng tạo. Em nhất định phải đi, vậy thì đi đi, anh không có lý do gì để ngăn cản em. Thế nhưng..."
Phi Bảo nhìn ông với đôi mắt to ngấn nước: "Nói đi, thế nhưng cái gì?"
Ông nói: "Đợi anh."
Phi Bảo nói: "Ý anh là vĩnh hằng sao? Ý anh là kiếp sau sao?"
Ông nói: "Anh không biết."
Phi Bảo nói: "Anh nên biết tuổi của em chứ."
Ông nói: "Độ tuổi thanh xuân hai mươi lăm tuổi."
Phi Bảo nói: "Cứ thế lãng phí một cách uổng phí sao, cuộc đời này của em?"
Ông câm nín chẳng biết đáp sao cho phải. Thế là có màn tiễn biệt ở đình dài, thế là có việc vắng mặt trong kỳ thi.
Lại qua hai ngày nữa, kỳ thi thứ sáu diễn ra đúng hẹn. Trong điện Trì Minh, ngọn đèn bơ được thắp lên nhiều hơn, trước mỗi tôn tượng thần là một dòng suối, một dòng sông đang lấp lánh. Ánh lửa tô điểm thêm vẻ quang minh cho tượng Phật, cũng tô điểm thêm sự vĩ đại mang tính thần tính, tựa như non nước Tây Tạng bày biện sự huy hoàng không lời giữa đất trời tạo hóa. Pháp lực vô cấu và bi nguyện vô lượng thong thả chảy trôi trong từng ngõ ngách của điện đường, tôn Phật vô bờ, các tăng đồ tựa như đang đặt mình trong cảnh giới của trăm nghìn ức Phật, vừa khiêm nhường vừa khoan khoái.
Chín vị giám khảo lại một lần nữa ngồi giữa tám bảo tháp và Liên Sư Bát thần biến. Hôm nay họ khoác bên ngoài chiếc áo cà-sa chiếc áo choàng đỏ lớn được đính dải trang trí bằng ngọc bích, thể hiện sự trọng thể và trang nghiêm trong sâu thẳm nội tâm.
Giữa các bệ kinh đối đáp được đặt đối diện nhau, trên chiếc gậy thiếc ba thước đại diện cho uy nghiêm, được buộc dải kinh phanh của Thất tự Văn Thù chú. Phía Tây là Hoạt Phật Bôn Ba Giáp, phía Đông là lạt-ma Cổ Như Khâu Trạch. Thế nhưng bệ kinh phía Đông lại trống không, thời gian khai khảo sắp đến rồi mà lạt-ma Cổ Như Khâu Trạch vẫn chưa tới. Tất cả mọi người đều đang xì xào bàn tán: Liệu ông ấy lại vắng mặt nữa sao?
Ánh mắt của rất nhiều người đều đang nhìn về phía cửa điện Trì Minh.
Hoạt Phật Bôn Ba Giáp hy vọng đối thủ tốt nhất là đừng đến, giống như kỳ thi thứ sáu vậy, để ông ta chiến thắng mà không cần chiến đấu. Thế nhưng thiên nhãn thông và tha tâm thông của ông ta lại mách bảo rằng lạt-ma Cổ Như Khâu Trạch nhất định sẽ đến.
Kỳ thi thứ sáu chính là lập tông biện. Lập tông biện chính là đưa ra một quan điểm đại diện cho kinh tông pháp tông, để đối thủ cạnh tranh dò hỏi, bổ sung, chất vấn, bác bỏ, tất cả các vị giám khảo và cách-sang có mặt tại hiện trường cũng có thể tùy ý đặt câu hỏi, nhưng chủ yếu vẫn là đối thủ cạnh tranh. Người lập tông bắt buộc phải có hỏi có đáp, một khi bị hỏi đến mức đuối lý cạn lời thì xem như thất bại. Đối thủ không cần phải lập tông giống anh ta mà vẫn có thể trở thành người chiến thắng. Nếu anh ta vẫn luôn đối đáp trôi chảy, thì cần đối thủ lập tông, trả lời các câu hỏi của anh ta và các vị giám khảo, cách-sang có mặt. Cuối cùng các giám khảo sẽ căn cứ vào biểu hiện cá nhân để bỏ phiếu xác định người chiến thắng. Cho nên trong tình huống bình thường, cả hai bên cạnh tranh sẽ không ai lập tông trước cả, mà dựa vào việc rút thăm để xác định người lập tông trước.
Lại có thêm một quy định nữa, trong kỳ thi thứ sáu, hai bên cạnh tranh không ai được vỗ tay cả, ai vỗ tay người đó chính là kẻ thất bại, bất kể câu hỏi hay màn đối đáp của anh ta có đặc sắc đến mức nào. Tương truyền điều này là để khảo sát khả năng tự kiểm soát của người cạnh tranh, sự thể hiện của loại năng lực này chính là: đưa ra một tín hiệu cho đại não, nó sẽ giống như được lên dây cót mà chi phối hành vi của bạn từ đầu đến chí cuối. Mà những người tu luyện bình thường thì không làm được điều đó, khi việc đặt câu hỏi hoặc đối đáp trở nên gay cấn, thường sẽ theo thói quen và phản xạ có điều kiện là vỗ tay trước rồi mới nói chuyện.
Mọi người mỏi mòn chờ đợi, ngoài không khí và khói hương lượn lờ ra thì cửa điện Trì Minh chẳng có gì cả. Thế nhưng điều khiến mọi người ngạc nhiên là, trong điện đường đột nhiên vang lên giọng nói của lạt-ma Cổ Như Khâu Trạch: "Xin lỗi đã để mọi người đợi lâu, nhưng không phải tôi đến muộn, mà là mọi người đến sớm đấy thôi." Mọi người nhanh chóng chuyển ánh mắt từ cửa ra vào về trung tâm phòng thi, mới phát hiện ra lạt-ma Cổ Như Khâu Trạch đã sớm ngồi vào chỗ từ bao giờ.
Ông ấy đi từ đâu vào vậy? Ai nấy đều đang thắc mắc. Ngay cả Đại Hoạt Phật Ngõa Kiệt Cống Ca cũng cảm thấy kỳ lạ: Đồ đệ này, chẳng lẽ đã luyện thành phép thuật xuyên tường phá vách, đi lại tự do không bị vướng mắc hay tàng hình ẩn thân rồi sao? Chẳng lẽ "Cửa Thất Độ Mẫu" ban ơn phước cho kẻ tu luyện si tình này là để hiển lộ những kỳ tích đủ mọi loại thần biến hay sao?
Lạt-ma Cổ Như Khâu Trạch áy náy nhìn tôn sư, sau đó quay mặt về phía Hoạt Phật Bôn Ba Giáp nói: "Tôi muốn lập tông, quan điểm lập tông của tôi là: 'Cửa Thất Độ Mẫu' là pháp môn bất tử, sinh mệnh có thể trường tồn bất hủ."
Mọi người lại được một phen kinh ngạc: Ông ta lại dám ra tay lập tông trước á? Là kiêu ngạo, hay là tự tin? Dù là gì đi nữa, người lập tông trước, mười người thì có đến tám chín phần là sẽ thất bại.
Hoạt Phật Bôn Ba Giáp định thần lại từ sự kinh ngạc, hỏi rằng: "Ý cậu là không chỉ linh thức bất tử, mà thể xác cũng có thể bất tử sao?" Thấy đối phương gật đầu, ông ta lại hỏi tiếp, "Đây là kết quả cuối cùng khi cậu tu luyện 'Cửa Thất Độ Mẫu' sao?"
Cổ Như Khâu Trạch đáp: "Không, đây chỉ là cửa thứ năm của 'Cửa Thất Độ Mẫu'."
Bôn Ba Giáp nói: "Đã là cửa thứ năm là cửa bất tử, thế thì không chỉ là học thuộc Phật pháp, mà còn là phản bội lại Phật pháp rồi. Chúng sinh từ vô thủy đến nay, chết rồi lại sinh, sinh rồi lại chết, giống như bánh xe quay tròn, luân hồi trong sáu đường. Mà mệnh Phật cũng giống như mệnh người, cũng sẽ chết nhanh rồi chia lìa, ngay cả Phật tổ Thích Ca Mâu Ni cũng là như thế, 'Cửa Thất Độ Mẫu' làm sao có thể cao hơn cả Phật tổ chứ?"
Cổ Như Khâu Trạch nói: "Phật tổ Thích Ca Mâu Ni đã chết rồi sao?"
Bôn Ba Giáp ngẩn người.
Cổ Như Khâu Trạch nói: "Ngài ấy là viên tịch, là niết-bàn. Niết-bàn không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Phật nói, ta có thọ mệnh vô lượng. Từ khi Phật tổ Thích Ca Mâu Ni giáng sinh cho đến nay, chỉ có hơn hai nghìn năm trăm năm, sao lại có thể nói là đã chết chứ?"
Bôn Ba Giáp nói: "Thế nhưng còn thể xác thì sao? Ý tôi đang nói đến thể xác."
Cổ Như Khâu Trạch nói: "Ý tôi cũng là thể xác, thể xác bất tử, Thích Ca Mâu Ni vẫn ở Tây Tạng, vẫn ở ngay bên cạnh chúng ta, chỉ là không ai trong chúng ta có cơ duyên được tận mắt nhìn thấy mà thôi."
Bôn Ba Giáp hỏi: "Cho dù Phật Đà bất tử, nhưng điều này thì có liên quan gì đến 'Cửa Thất Độ Mẫu' chứ?"
Cổ Như Khâu Trạch nói: "Bao gồm cả 'Cửa Thất Độ Mẫu', tất cả các môn tu luyện mật pháp đều tu luyện thể xác, thể xác chính là thực thể tinh thần, không có thể xác thì sẽ không có linh thức, hồn phách cùng toàn bộ các hiện tượng tinh thần, sao có thể nói tinh thần bất tử, mà thể xác lại có thể nhanh chóng mục nát chứ? Phật bất tử, chúng sinh cũng bất tử, bởi vì tất cả chúng sinh đều có Phật tính, tất cả chúng sinh đều có thể thành Phật."
Bôn Ba Giáp nói: "Vậy xin cậu hãy kể tên những người bất tử ra xem nào."
Cổ Như Khâu Trạch nói: "Ngoại trừ những người đã chết, những người còn lại đều là bất tử."
Bôn Ba Giáp nói: "Tôi chẳng thấy có ai là còn lại cả."
Cổ Như Khâu Trạch nói: "Đó là vì con người sống trên đời, u mê đần độn, không có cơ hội để có được bảo bối né tránh cái chết."
Bôn Ba Giáp hỏi: "Bảo bối né tránh cái chết là gì?"
Cổ Như Khâu Trạch nói: "Cái chết của con người chẳng ngoài tai họa tự nhiên, tai họa do con người gây ra, và tự hại bản thân. Tai họa tự nhiên có thảm họa động đất, lũ lụt, hỏa hoạn, tuyết tai, sấm sét, nhiệt tai, đống tai; tai họa do con người gây ra có họa chiến tranh, họa đi đường, họa tàn sát, họa rơi ngã, họa ô nhiễm; tự hại có hại của lòng tham dục, hại của sự căm hờn oán giận, hại của sự ngu muội si mê, hại của ăn uống, hại của thuốc men, hại của vô minh. Chính vì sự tồn tại của chúng, sự suy tàn dần dần của sinh mệnh, sự không thể tránh khỏi của cái chết, mới bị coi là quy luật tự nhiên. Thế nhưng 'Cửa Thất Độ Mẫu' nói cho chúng ta biết rằng, khi chúng ta may mắn né tránh được tai họa tự nhiên, tai họa do con người và tự hại, thì sinh mệnh có thể bất tử, thể xác có thể bất hủ."
Bôn Ba Giáp hỏi: "Mấu chốt là liệu có né tránh được không, né tránh bằng cách nào?"
Cổ Như Khâu Trạch nói: "Đây chính là điều mà bảo bối né tránh cái chết muốn khai thị cho chúng ta."
Tất cả mọi người đều nhìn lạt-ma Cổ Như Khâu Trạch, chờ đợi ông nói ra bảo bối né tránh cái chết. Ông dùng phép thở bụng để trấn an bản thân, kiêu hãnh ngẩng cao đầu.
Bôn Ba Giáp thúc giục: "Nói đi, nếu như cậu thực sự có bảo bối né tránh cái chết."
Cổ Như Khâu Trạch nói: "Tu luyện cửa thứ năm của 'Cửa Thất Độ Mẫu', chính là dùng cửa tai họa tự nhiên để tu luyện con mắt tránh tai họa, dùng cửa tai họa do người để tu luyện con mắt tránh họa, dùng cửa tự hại để tu luyện con mắt tránh hại. Ba con mắt này ẩn giấu sâu bên trong cơ thể con người, vốn dĩ là không nhắm không mở, tu luyện chính là khiến chúng đi ra, mở ra, phát ra ánh sáng, nhìn thấy tất cả những gì có thể nhìn thấy."
Bôn Ba Giáp hỏi: "Tu luyện thế nào?"
Cổ Như Khâu Trạch nói: "Quán tưởng Tử Độ Mẫu, để đả thông tất cả các kinh mạch ở thận, thì có thể nghe mà biết; quán tưởng Hoàng Độ Mẫu, để đả thông tất cả các kinh mạch ở gan, thì có thể nhìn mà biết; quán tưởng Lục Độ Mẫu, để đả thông tất cả các kinh mạch ở phổi, thì có thể ngửi mà biết; quán tưởng Hắc Độ Mẫu, để đả thông tất cả các kinh mạch ở tỳ, thì có thể nếm mà biết; quán tưởng Hồng Độ Mẫu, để đả thông tất cả các kinh mạch ở tim, thì có thể liếm mà biết. Cậu có thể dò biết, thì có thể né tránh, đợi đến khi cậu né tránh được tất cả các cơ hội và khả năng tử vong, thì cậu đã có được tiền đề trường tồn bất tử."
Bôn Ba Giáp hỏi: "Quán tưởng như thế nào?"
Cổ Như Khâu Trạch nói: "Phật nói, ngắm nhìn nhan sắc của một vị thần, trăm vị thần sẽ thọ ký. Sự xuất hiện của các chư thần chính là sự biến hóa ý niệm của cậu, theo sự biến hóa ý niệm, cậu sẽ tương ứng với sự biến hóa thân và sự biến hóa khẩu, thân biến tức là bất động biến, khẩu biến tức là vạn chú biến. Quán tưởng như vậy, lâu ngày chầy tháng, quả vị Phật của tự tính sẽ hiển hiện, đây là mẫu bản, quả vị Phật của thế giới khác sẽ đến an gia, đây là phụ bản. Mẫu bản và phụ bản một khi đã kết hợp với nhau, tự nhiên sẽ sản sinh ra con mắt tránh tai, con mắt tránh họa và con mắt tránh hại với ánh sáng vô tận, đây chính là quả vị như ý vi diệu của việc tu luyện 'Cửa Thất Độ Mẫu'."
Bôn Ba Giáp nói: "Mặc dù xét từ góc độ Bát-nhã lô-gích, một người né tránh được tất cả các cơ hội và khả năng tử vong thì có thể trường tồn bất tử, thế nhưng việc né tránh được một trăm phần trăm là điều không thể. Phật nói, chớp tắt chính là tuổi thọ, chớp mắt chính là lâu dài, sinh mệnh con người, so với sấm chớp, có thể lóe lên một cái đã được tính là sống lâu rồi. Tiêu diệt mọi tuổi thọ, làm trống rỗng mọi sự tồn tại, thu ngắn mọi sự lâu dài, làm cho mọi sự huyên náo trở nên tịch diệt. Diệt độ mới là chân lý, vô thường mới là ý Phật, con người sao có thể trường sinh bất lão được chứ?"
Cổ Như Khâu Trạch nói: "'Cửa Thất Độ Mẫu' nhìn sinh mệnh là không sinh không diệt, không nhơ không sạch, không thêm không bớt, đã là như thế, vậy thì chính là 'không già chết, cũng không có sự tận cùng của già chết'."
Bôn Ba Giáp nói: "Cho dù cậu có mọc ra con mắt tránh hại đi nữa, thì lại làm sao có thể né tránh được cái chết do bệnh tật và tuổi già chứ?"
Cổ Như Khâu Trạch nói: "Nếu cái chết do bệnh tật và tuổi già ập đến trước mặt, đương nhiên là cậu không thể né tránh được rồi. Con mắt tránh hại nhìn thấy lý do tại sao cái chết do bệnh tật và tuổi già lại bước đến, nó đã làm được việc từ bỏ nguyên nhân, cắt đứt duyên phận để rồi không có kết quả, cho nên con người không chết."
Hiển nhiên những lời của lạt-ma Cổ Như Khâu Trạch đã khơi gợi sự hứng thú của tất cả mọi người, có cách-sang hỏi rằng: "Xin lạt-ma Cổ Như Khâu Trạch hãy nói xem, làm thế nào mới có thể từ bỏ nguyên nhân, cắt đứt duyên phận để rồi không có kết quả đây?"
Cổ Như Khâu Trạch nói: "Tự hại có hại của tham dục, hãy cắt đứt nó đi, có hại của căm hờn oán giận, hãy cắt đứt nó đi, có hại của ngu muội si mê, hãy cắt đứt nó đi, có hại của ăn uống, hãy cắt đứt nó đi, có hại của thuốc men, hãy cắt đứt nó đi, có hại của vô minh, hãy cắt đứt nó đi. Khi tất cả các duyên khởi của tự hại đã bị cắt đứt, sinh mệnh sẽ chỉ còn lại sự nuôi dưỡng tĩnh lặng và sự sử dụng hợp lý. Hòn đá nếu không có nhát búa đập vào nó thì mãi mãi vẫn là hòn đá, dòng nước nếu không bị chặn dòng thì mãi mãi vẫn là dòng nước."
Bôn Ba Giáp nói: "Thế nhưng gió sẽ thổi hỏng hòn đá, mặt trời sẽ làm bốc hơi dòng nước."
Cổ Như Khâu Trạch nói: "Thứ gió thổi hỏng chỉ là hòn đá có tự tính mỏng manh mà thôi, còn mục tiêu tu luyện của 'Cửa Thất Độ Mẫu' chính là kim cang bất hoại. Thế nào là kim cang bất hoại? Không phải vì nó cứng, mà là vì nó trống không. Thung lũng trống trải thổi gió, thứ trôi đi là gió, chứ không phải thung lũng trống. Mặt trời đương nhiên sẽ làm bốc hơi nước sông, thế nhưng nước sông lên đến trời rồi lại hóa thành nhiều nước hơn nữa, giáng xuống dòng sông, sông không nhỏ đi, mà là lớn lên."
Bôn Ba Giáp nói: "Điều chúng tôi muốn nghe không phải là đạo lý, mà là phương pháp bất tử."
Cổ Như Khâu Trạch nói: "Trong cơ thể con người có mạch có thể trích máu và mạch không thể trích máu, ví dụ như mạch ẩn giấu, mạch giáo vàng, mạch mật vàng là có thể trích máu, mạch chỗ trống, mạch khuyển bạc, mạch mắt rắn là không thể trích máu..."
Có cách-sang nói: "Tôn giả lạt-ma có thể đừng dùng các thuật ngữ của y học cổ truyền Tây Tạng không, nếu như dùng những từ ngữ mà y học Tây Tạng và y học Trung Hoa cùng đồng thuận, thì những người nghe hiểu được sẽ nhiều hơn một chút đấy."
Cổ Như Khâu Trạch nói: "Đương nhiên là được rồi. Mạch đạo tức là huyệt đạo, hãy để Hồng Độ Mẫu trấn giữ huyệt Thần Môn kinh tâm, để Hoàng Độ Mẫu trấn giữ huyệt Thái Xung kinh can, để Hắc Độ Mẫu trấn giữ huyệt Công Tôn kinh tỳ, để Lục Độ Mẫu trấn giữ huyệt Thái Uyên kinh phế, để Tử Độ Mẫu trấn giữ huyệt Thái Khê kinh thận, để Lam Độ Mẫu trấn giữ huyệt Lao Cung kinh tâm bào, để Bạch Độ Mẫu trấn giữ huyệt Túc Tam Li kinh vị. Thất Độ Mẫu còn có bảy người em gái, hãy để Phấn Tấn Độ Mẫu trấn giữ huyệt Dương Cốc kinh tiểu trường, để Kim Nhan Độ Mẫu trấn giữ huyệt Côn Lôn kinh bàng quang, để Đỉnh Kế Tôn Thắng Độ Mẫu trấn giữ huyệt Khâu Khư kinh đởm, để Hống Âm Sất Tra Độ Mẫu trấn giữ huyệt Hợp Cốc kinh đại trường, để Tiêu Khổ Độ Mẫu trấn giữ huyệt Dương Trì kinh tam tiêu, để Đại Tịch Tĩnh Độ Mẫu trấn giữ huyệt Thần Khuyết mạch nhâm, để Phá Dục Độ Mẫu trấn giữ huyệt Mệnh Môn mạch đốc. Sau khi trấn giữ củng cố xong, hãy quán tưởng chú Dược Sư Phật và chú Độ Mẫu, cho đến khi câu chú hòa quyện vào máu, chảy xuôi giữa tất cả các kinh mạch, nó sẽ đảm bảo máu trong mạch máu mãi mãi là đầy đủ, hơn nữa còn là sạch sẽ tươi mới. Máu sạch sẽ tươi mới chính là sự bảo đảm cho sinh mệnh bất hủ. Ngoài ra, bạn còn phải mở rộng tâm địa không vấy bẩn, đoạn tuyệt mọi sự ô uế của cơ thể, ô uế của lời nói, ô uế của hành vi, ô uế của pháp môn, ô uế của việc gần gũi, ô uế của tư duy, ô uế của ăn uống. Cảnh giới của bạn chính là cảnh giới của thập địa Bồ-tát, thế nhưng bạn lại không phải là Bồ-tát, bạn là một con người đầy đủ thể xác và linh hồn, một con người chỉ còn cách sự bất tử hai bước nữa mà thôi."
Bôn Ba Giáp hỏi: "Chỉ còn cách sự bất tử hai bước nào vậy?"
Cổ Như Khâu Trạch nói: "Bên trong cơ thể con người, ngoài toàn bộ mười bốn đường kinh mạch ra thì còn có một mạch ngoại mạch, ngoài toàn bộ ba trăm sáu mươi huyệt vị ra thì còn có một huyệt ngoại huyệt. Mạch ngoại mạch còn gọi là mạch trừ chướng, khi việc tu luyện của bạn đã đả thông tất cả các mạch đạo, thì tất cả sự vô minh như tham, sân, si, mạn, nghi... do trần thế áp đặt lên bạn sẽ đều tập trung lại ở mạch ngoại mạch, hoặc kết thành búi ở đây, hoặc tuôn trào ra ngoài. Kết thành búi sẽ dẫn đến việc vô minh sinh sôi nảy nở, tuôn trào sẽ mang lại ánh sáng rực rỡ chói lọi. Thứ bạn cần chính là sự tuôn trào, cho nên kết quả của việc tu luyện chính là khiến cho vị thần chủ quản sự tuôn trào vĩnh viễn trú ngụ tại nơi này. Huyệt ngoại huyệt được Thích Ca Mâu Ni đặt tên là địa quang vô lượng hoặc quả vị Phật trường thọ, chính là huyệt bất tử có thể bảo đảm cho sinh mệnh trường tồn. Khi việc tu luyện của bạn đã biến ba trăm sáu mươi huyệt vị thành ba trăm sáu mươi vị thiện phương chi thần trấn giữ bên trong cơ thể, khi mạch ngoại mạch của bạn đã được chư Phật cõi Kim Cang chủ quản, thì huyệt bất tử tức quả vị Phật trường thọ sẽ hân hoan xuất hiện. Tôi đã nói rồi, 'Cửa Thất Độ Mẫu' ẩn giấu mật mã sinh mệnh của loài người, tu luyện chính là giải mã, chính là thu hoạch năng lượng, năng lượng là thứ lấy mãi không cạn, dùng mãi không hết."
Bôn Ba Giáp hỏi: "Huyệt bất tử ở đâu? Tôn giả lạt-ma đã tìm thấy chưa?"
Cổ Như Khâu Trạch đáp: "Đã tìm thấy rồi."
Bôn Ba Giáp hỏi: "Nói như vậy, cậu đã là một người bất tử rồi sao?"
Cổ Như Khâu Trạch vỗ tay một cái thật kêu, dứt khoát rành mạch nói: "Đúng vậy, tôi bất tử, tôi vĩnh hằng. Khi tôn sư của tôi viên tịch, tôi vẫn đang sống, khi đệ tử của tôi qua đời, tôi vẫn đang sống. Tôi không chuyển thế, tôi chính là tôi, vẫn luôn sống, sống hết trăm năm này đến trăm năm khác. Tôi sống lâu trường tồn giống như Thích Ca Mâu Ni, giống như đại sư Liên Hoa Sinh, giống như Thương Ương Gia Thố, bọn họ đều chưa viên tịch, bọn họ đều vẫn đang sống."
Toàn trường chết lặng, chìm trong sự im lặng phăng phắc, vì những lời nói làm kinh ngạc bốn bề của lạt-ma Cổ Như Khâu Trạch, cũng vì hành động không thể tưởng tượng nổi của ông. Ông ta vậy mà lại vỗ tay! Ông ta xúc động cảm xúc, quên mất quy định của kỳ thi thứ sáu: Hai bên cạnh tranh không được vỗ tay, ai vỗ tay người đó thất bại, bất kể biểu hiện của anh ta trong kỳ thi có xuất sắc đến đâu đi nữa. Ông đã cho mọi người thấy rằng, kẻ tự khoác lác là đã đắc đạo phép trường sinh bất tử này, kỳ thực đến ngay cả năng lực tự kiểm soát cơ bản nhất cũng chưa tu luyện đến nơi đến chốn.
Đã không cần phải bỏ phiếu nữa rồi. Trên ghế giám khảo, Đại Hoạt Phật Ngõa Kiệt Cống Ca là người đầu tiên phá vỡ sự im lặng chết chóc như bị điểm huyệt ấy, nghiêm giọng nói: "Cậu chết rồi, đã chết rồi."
Cổ Như Khâu Trạch bình thản đáp: "Bẩm tôn sư, con không chết, con chỉ thất bại mà thôi."
Đại Hoạt Phật Ngõa Kiệt Cống Ca giận dữ trừng mắt nhìn đồ đệ một cái, thấp giọng nói: "Thất bại của cậu chính là thất bại của tôi. Tôi hỏi cậu, tại sao cậu lại cố ý vỗ tay?"
Cổ Như Khâu Trạch cúi đầu đáp: "Tôn sư liếc mắt một cái đã nhìn thấu rồi."
Kỳ thi thứ sáu cứ thế kết thúc, Hoạt Phật Bôn Ba Giáp lại chiến thắng mà không cần chiến đấu.
Bây giờ tỷ số là ba chọi ba, kỳ thi bị kéo lê đến trận quyết định.
Các vị giám khảo và các vị cách-sang lần lượt đoán già đoán non: Trong kỳ thi thứ sáu, lạt-ma Cổ Như Khâu Trạch đã hiển lộ cửa thứ năm của 'Cửa Thất Độ Mẫu', vậy còn kỳ thi thứ bảy thì sao? Kỳ thi thứ bảy là kỳ thi cuối cùng, nhất định sẽ hiển lộ cửa thứ sáu của 'Cửa Thất Độ Mẫu' chứ? Cửa thứ sáu là gì? Sau cửa thứ sáu thì vẫn sẽ còn cửa thứ bảy, cửa thứ bảy chính là pháp môn cuối cùng, mà pháp môn cuối cùng lại là gì?
Cổ Như Khâu Trạch hoàn toàn hiểu rõ những phỏng đoán của mọi người, lớn tiếng nói: "Việc tu luyện 'Cửa Thất Độ Mẫu' tổng cộng có bảy cửa, năm cửa trước mọi người đã biết rồi, cửa thứ sáu chính là cửa phục tàng, cửa thứ bảy là..."
"Đừng nói nữa." Đại Hoạt Phật Ngõa Kiệt Cống Ca nghiêm giọng ngắt lời đồ đệ, đứng phắt dậy chuẩn bị rời đi.
Hoạt Phật Bôn Ba Giáp lên tiếng hỏi: "Đại Hoạt Phật xin hãy dừng bước, xin hãy cho biết kỳ thi thứ bảy khi nào sẽ được tổ chức ạ?"
Đại Hoạt Phật Ngõa Kiệt Cống Ca nói: "Không ngờ kỳ thi lại kéo dài đến tận hôm nay vẫn chưa kết thúc, sắp đến ngày diễn ra đại pháp hội tụng kinh của cung Potala rồi, đành phải để sau pháp hội rồi thi tiếp thôi? Các vị thấy sao?"
Giám khảo Ni Ma đại diện cho mấy vị giám khảo khác nói: "Đành phải thế thôi, đại pháp hội tụng kinh tụ họp muôn vạn tăng lữ là không thể lỡ hẹn được."
Lạt-ma Cổ Như Khâu Trạch đột nhiên ngẩng đầu lên, vẻ đầy kích động nói: "Ồ, sao tôi lại quên mất chứ, đại pháp hội tụng kinh của cung Potala sắp diễn ra rồi." Sau đó sải bước rời khỏi điện Trì Minh.
2
Hoàng tử Hương Ba đã tỉnh lại, anh ta nhìn thấy Mai Tát trước, rồi lại nhìn thấy Sát thủ Đầu lâu, dưới ánh mắt đăm đăm nhìn chăm chú của họ, anh ta ngẩn người ngây dại một lúc lâu, mới có được một chút ý thức mong manh, giống như một cánh cửa sổ bị ký ức đẩy toang ra một khe hở, ánh sáng xuất hiện, ngày càng nhiều hơn, rồi sau đó là cả thế giới, tất cả những chuyện cũ. Anh ta muốn ngồi dậy, cơ thể nặng trịch tựa như đang dính liền với cả quả địa cầu. Anh ta há há miệng, muốn nói chuyện nhưng lại chẳng thể thốt ra thành lời. Một tiếng động khẽ vang lên, một chiếc thìa va vào răng anh ta. Chất lỏng ấm áp theo chiếc thìa chảy xuôi vào lưỡi, anh ta ngẫm nghĩ, nhớ ra đây là sữa bò, bèn ực một tiếng nuốt xuống. Tiếp theo đó là một loạt tiếng ực liên tiếp, anh ta uống sạch một ca sữa bò, nghi hoặc chớp chớp mí mắt, rồi lại chìm vào giấc ngủ.
Lát sau, hoàng tử Hương Ba nói mớ: "Mẹ ơi, mẹ ơi..." Anh ta nhìn thấy mẹ đi tới từ đám ruộng đậu, đi qua bờ thửa ruộng lúa thanh trình, rồi biến mất. "Mẹ ơi, mẹ ơi." Anh ta gọi, phát hiện mẹ lại xuất hiện trước hàng rào bằng gỗ nhà mình, trên đầu cài một đoá hoa đỏ chói chang, đang cười, nhìn thấy con trai nên bà cười. Nụ cười của người mẹ hiền đã hơn tám mươi tuổi, cứ hai ba năm mới tăng thêm một tuổi, giống như chiếc nôi vĩnh hằng mà người con trai đã nắm chắc trong tay, tỏa ra mùi sữa và mùi hoa quả chẳng bao giờ cạn. Rồi mẹ nói chuyện, giọng nói tựa như được pha lẫn rượu, anh ta vừa nghe đã say, anh ta vừa say thì mẹ lại biến mất. "Mẹ ơi, mẹ ơi." Anh ta nhìn thấy mẹ đang ở trong bếp, múc cháo tsampa trong nồi đất ra chiếc bát gỗ màu đỏ nâu, múc thế nào cũng không hết, bát cháo tsampa thơm phức giống như sữa mẹ, mẹ để lại sữa rồi lại biến mất. "Mẹ ơi, mẹ ơi." Anh ta đi khắp nơi tìm kiếm mẹ, cuối cùng tìm thấy trên chiếc giường kang. Mẹ nói: "Con trai, ngủ đi, ngủ cùng với mẹ đi."
Hoàng tử Hương Ba cứ ngủ mãi, cứ mãi ở cùng với mẹ, lúc tỉnh lại lần nữa, anh ta nghe thấy Mai Tát đang nói chuyện với Sát thủ Đầu lâu.
Mai Tát hỏi: "Anh có thể cho tôi biết đây là đâu không?"
Sát thủ Đầu lâu đáp: "Không phải là tôi không muốn nói cho cô biết, mà là chính tôi cũng không biết."
Mai Tát lại hỏi: "Thế thì anh đưa chúng tôi đến đây bằng cách nào?"
Sát thủ Đầu lâu đáp: "Là một cô gái bảo tôi đưa tới, cô ấy nói nơi này là nơi hai người nhất định phải đến."
Mai Tát lại hỏi tiếp: "Cô gái nào, tên gì?"
Sát thủ Đầu lâu đáp: "Không biết, tôi hỏi tên cô ấy nhưng cô ấy không nói. Tôi nói ở Tây Tạng, những cô gái không có tên đều gọi là Trác Mã. Cô ấy nói vậy thì cứ gọi là Trác Mã đi."
Mai Tát nói: "Trác Mã ư? Trác Mã ở Tây Tạng nhiều vô số kể."
Sát thủ Đầu lâu nói: "Cô ấy nói cô ấy là Trác Mã duy nhất, ở trong hư không."
Mai Tát nói: "Lại là lời Phật gia nữa, thứ tôi đau đầu nhất chính là lời Phật gia, vòng vo tam quẩn mãi mà chẳng chịu nói vào trọng tâm."
Hoàng tử Hương Ba độtপক্ষের lên tiếng: "Cô ấy đã nói vào trọng tâm rồi đấy, Trác Mã chính là Độ Mẫu, 'Trác Mã duy nhất' chính là 'Thất Độ Mẫu', 'ở trong hư không' chính là ở nơi cao nhất mà Độ Mẫu đi qua."
Mai Tát và Sát thủ Đầu lâu đều chằm chằm nhìn anh ta. Mai Tát mỉm cười. Sát thủ Đầu lâu đột nhiên đứng dậy, đẩy cửa bước ra ngoài.
Mai Tát nói: "Xem ra phụ nữ kiên cường hơn đàn ông, tôi nằm ba tiếng là tỉnh rồi, anh nằm ba ngày mới tỉnh đấy. Ngày nào chúng tôi cũng thay băng vết thương cho anh, còn truyền nước biển cho anh nữa, anh đã hết sốt rồi. Nhờ có Sát thủ Đầu lâu giúp đỡ đấy, hắn ta nói hắn là nhân viên phòng dịch của trạm thú y chăn nuôi thảo nguyên đồng cỏ La Mã Ân Ni quê hắn, trên thảo nguyên thường xuyên xảy ra bệnh chung của người và gia súc, cho nên cũng thường xuyên phòng trị bệnh dịch cho con người. Thấy hắn trị liệu ra điều thạo việc phết, xem ra cũng không hoàn toàn là một lang y Tây Tạng giả mạo đâu."
Lúc này hoàng tử Hương Ba mới phát hiện ra mình đang nằm trên một chiếc giường kang lớn, trên kang trải tấm thảm rực rỡ sắc màu, trên thảm lại có những tấm nệm lót hoa lệ, chính giữa kang là một chiếc bàn lấp lánh viền đồng vẽ tranh sơn mài. Ở phía bên kia chiếc bàn thấp, đặt một chiếc áo blouse trắng, một chiếc mũ phớt hoàn toàn mới, một chiếc túi đựng thuốc thêu hình bằng da, còn có kính râm, khẩu trang, ống nghe, bình truyền dịch các thứ.
Mai Tát chỉ vào chiếc mũ pháp vương chóp nhọn và nói: "Hắn ta đặt cái này lên lưng để ngụy trang thành một lang y Tây Tạng bị gù, cướp chúng ta ra từ tay Bích Tú. Tôi hỏi hắn tại sao lại làm thế, hắn không nói."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Hắn không muốn nói sự thật, lại không biết nói dối." Nói xong liền mệt mỏi nhắm mắt lại, rồi lại chìm vào giấc ngủ.
Mai Tát nằm bò ở góc bên kia của chiếc giường kang, cũng ngáp một cái, nhắm mắt lại.
Khoảng hai tiếng sau, Sát thủ Đầu lâu đã đánh thức họ dậy. Thực ra động tác của hắn ta rất nhẹ nhàng, rón rén bước vào cửa, đặt những thứ vừa mua xuống, chuẩn bị rời đi, thì hoàng tử Hương Ba và Mai Tát lại đồng thời tỉnh giấc, dường như có một thứ cảm ứng nào đó.
Sát thủ Đầu lâu nói: "Tôi đã chuẩn bị đồ ăn thức uống cho hai người trong một tuần, trong vòng một tuần, cô gái đã bảo tôi đưa hai người đến đây sẽ đến tìm hai người, hai người hãy kiên nhẫn đợi nhé, đừng bước ra khỏi cổng lớn, phạm vi hoạt động chỉ ở trong cái sân này thôi. Nếu cô gái đó không đến, sau một tuần tức là ngày thứ tám tính từ ngày hôm nay, hai người bắt buộc phải rời khỏi nơi này, bước qua cổng lớn đi về phía Tây một đoạn không xa, chính là nơi hai người quen thuộc, may mắn thì hai người sẽ bắt đầu kế hoạch bước tiếp theo, không may mắn thì rắc rối sẽ lại bủa vây hai người đấy."
Mai Tát có chút lưu luyến nói: "Xem ra anh sắp rời khỏi chúng tôi rồi sao?"
Sát thủ Đầu lâu nói: "Có kẻ đang truy sát tôi, tôi phải đi đây. Nhất định tôi sẽ lại xuất hiện, sẽ lại gặp lại hai người, tôi là sát thủ mà." Hắn ta đi rồi, vừa đi vừa lẩm bẩm ngâm nga, hình như đang ngâm khúc dân ca tình ái Thương Ương Gia Thố, mà lại hình như không phải.
Sự mê hoặc. Một tuần lễ đằng đẵng toàn là sự mê hoặc. Sự mê hoặc khiến họ không còn hưng phấn nữa, cũng rất ít suy nghĩ, phần lớn thời gian đều ở trong trạng thái ngủ mơ màng lười biếng. Giấc ngủ đầy đủ cùng thức ăn và thuốc men thích hợp, đã giúp cho hoàng tử Hương Ba và Mai Tát hồi phục tốt hơn mỗi ngày. Cô gái đó không đến, đã là ngày thứ tám rồi. Ngày thứ tám là ngày phải rời đi, hoàng tử Hương Ba dậy thật sớm, xốc lại tinh thần đi vòng quanh sân hết lần này đến lần khác, dường như lúc chia tay anh ta muốn ghi nhớ tất cả mọi chi tiết trong cái sân này.
Đây là một ngôi nhà tứ hợp viện kết cấu gạch gỗ theo phong cách Tây Tạng, mỗi bề đều có ba tầng, được nối liền bằng những chiếc thang gỗ lộ thiên dốc đứng. Khung cửa sổ và xà nhà đều được chạm trổ tinh xảo, tuy đã phai mờ đi vẻ tươi sáng rực rỡ thuở ban đầu, nhưng tạo hình hoa sen, chim sếu, ngựa xanh, voi trắng vẫn còn hiện rõ mồn một. Ngoại trừ căn phòng phía Tây ở tầng dưới nơi hoàng tử Hương Ba và Mai Tát ở, cửa ra vào và cửa sổ của tất cả các căn phòng khác đều đóng kín, bên trong yên tĩnh tựa như lợn lộ vậy. Cửa sổ, cửa ra vào và tường nhà đều rất sạch sẽ, giữa khoảng sân giếng được bày biện ngay ngắn một số chậu hoa, trên mặt đất giữa những chậu hoa mọc lên một đám thúng quỳ tươi tốt và mấy khóm hoa sơn mai xanh ngắt. Còn người đâu? Đã một tuần rồi, chẳng thấy lấy một bóng người, chủ nhân ngôi nhà dường như cố ý né tránh họ.
Tại sao lại phải né tránh? Những nghi vấn khiến anh ta tò mò, anh ta hết nhìn trộm vào bên trong căn phòng này đến căn phòng khác, hễ có kính cửa sổ, có khe cửa là lại áp sát mặt vào đó. Anh ta nhìn thấy chiếc ghế sô-pha màu đỏ rực, chiếc cột nhà màu đỏ rực. Nhìn thấy xà nhà được vẽ trang trí màu sắc và chiếc tủ rực rỡ hoa văn, nhìn thấy Phật đường sang trọng, giống y như trong chùa chiền vậy. Nhìn thấy tất cả các vật dụng bài trí sinh hoạt trong nhà và đồ trang trí trên tường, có tranh thưa-ca, có thảm treo tường, có hình đôi cá cát tường được vẽ trực tiếp lên tường. Lại có cả chữ viết, thô ráp mộc mạc, giống như những đoá hoa cổ xưa nở rộ trong năm tháng không bị bụi trần vùi lấp. Rõ ràng đây là một gia đình có gia thế vững vàng, gia truyền uyên bác, sao lại có thể vứt bỏ mặc kệ, để cho hai người xa lạ đến ở liền một tuần lễ chứ?
Hoàng tử Hương Ba càng thêm khó hiểu lùi lại phía sau, đột nhiên phát hiện ra một điều kỳ lạ, trên bức tường giữa tất cả các cửa ra vào và cửa sổ, đều khảm một tấm đá, hoa văn được chạm khắc trên tấm đá đều giống hệt nhau: Những chiếc lá liễu lộn xộn, chim vành khuyên ríu rít, một đôi tắc kè chạm đầu vào nhau. Tắc kè ư? Tại sao lại là tắc kè? Tắc kè trong các loại dân tộc Tây Tạng đều không phải là vật tổ, sao lại xuất hiện trên bức tường chính trang nghiêm cát tường của ngôi nhà chứ? Nhìn kỹ lại lần nữa, đột nhiên liền hiểu ra: Đó không phải là tắc kè, mà là ếch tuyết có hình dáng giống tắc kè.
Mặc dù ếch tuyết cũng không phải là vật tổ, nhưng vì nó là một vị thuốc Tây Tạng trân quý có tác dụng chữa trị chứng thận dương suy nhược, khả năng tình dục suy thoái, liệt dương không tinh nên được y học Tây Tạng sùng bái. Y học Tây Tạng cho rằng nó là loài thú tình ái hóa hiện ra từ chiếc tù và vỏ ốc biển màu trắng trước tòa sen của Bạch Độ Mẫu, xả thân vì người để cứu chữa nỗi đau không giới tính ở thế gian. Ếch tuyết đực thân hình thon dài, sống trên đường băng tuyết, ếch tuyết cái hình thể tròn mập, sống trong hồ nước sông ngòi, vào tháng ba mùa giao phối hàng năm, ếch tuyết đực sẽ từng bước từng bước nhảy từ trên núi tuyết xuống bờ suối dưới chân núi, ếch tuyết cái sẽ xuất phát từ bờ hồ bờ sông, ngược dòng suối mà lên. Đực cái hội ngộ bên bờ suối, sau khi hoàn thành việc giao phối vào những đêm có trăng, liền lập tức chia tay, lúc chia tay chúng kêu lên thảm thiết, dường như đang bày tỏ nỗi niềm tương tư một năm quá dài, cuộc gặp gỡ chốc lát lại thật quá ngắn ngủi. Cho nên trên thảo nguyên, ếch tuyết còn là tượng trưng của tương tư và hội ngộ, là sự bảo đảm về sinh sản mà các vị lạt-ma y bác sĩ Tây Tạng cung cấp cho nam nữ ái ân.
Biểu tượng của tương tư hội ngộ - ếch tuyết, cộng thêm những chiếc lá liễu lộn xộn, chim vành khuyên ríu rít? Hoàng tử Hương Ba nhíu mày suy ngẫm, đột nhiên kêu lên lớn tiếng: "Mai Tát, Mai Tát."
Mai Tát từ phòng phía Tây bước ra, hỏi rằng: "Bây giờ đi luôn sao?"
Hoàng tử Hương Ba lại cất tiếng hát:
Rừng liễu ở vùng Tông Kết,
Chim vành khuyên Sang Lỗ Ban Tông,
Sẽ không bay cao bay xa,
Số phận định sẵn sẽ hội ngộ cùng anh.
Sau đó chỉ vào hoa văn được khắc trên tấm đá ở giữa bức tường và nói: "Nhìn đi, đây là 'rừng liễu ở vùng Tông Kết', đây là 'chim vành khuyên Sang Lỗ Ban Tông', đây là một đôi ếch tuyết đến từ núi cao và hồ nước thấp, chúng 'sẽ không bay cao bay xa', chúng 'đã được định sẵn' là sẽ 'hội ngộ' ở nơi này."
Mai Tát nói: "Ý anh là gì cơ chứ?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Ý của tôi là, chính là ở đây, đối mặt với tấm đá được khảm trên bức tường chính, Thương Ương Gia Thố đã cất lên khúc dân ca tình ái này. Hoặc là, sau khi Thương Ương Gia Thố cất lên khúc dân ca tình ái này ở đây, thì trên bức tường chính của ngôi nhà đã được khảm vào những tấm đá được chạm trổ tỉ mỉ này. Dù là trường hợp nào đi nữa, nó cũng chứng minh rằng Thương Ương Gia Thố đã từng đến đây. Vấn đề mấu chốt bây giờ là, tại sao ngài ấy lại đến đây?"
Mai Tát trừng mắt nhìn anh ta: "Nói đi, tại sao chứ?"
Hoàng tử Hương Ba rành mạch từng chữ nói: "Bởi vì đây chính là nơi ở của Sang Lỗ Ban Tông."
Mai Tát nói: "Căn cứ vào đâu?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Tôi đang định tìm đây." Nói xong liền bước tới, đẩy đẩy cửa, phát hiện ra chiếc ổ khóa đồng kiểu cũ ấy thực ra chỉ phòng quân tử chứ không phòng tiểu nhân, liền tung một cước đá văng ra. Cửa mở ra, anh ta bước một bước qua ngưỡng cửa, nhìn ngắm xung quanh, dán mắt vào bức tranh thưa-ca, thảm treo tường trên tường và hình đôi cá cát tường được vẽ trực tiếp lên tường, cuối cùng ánh mắt dừng lại trên những hàng chữ Tây Tạng thô ráp mộc mạc đó. Anh ta lại cất tiếng hát, vẫn là khúc dân ca tình ái "Rừng liễu ở vùng Tông Kết" ấy, vẫn với vẻ mặt vô cùng đượm buồn tình tứ, sau đó nói với Mai Tát đang đi theo vào phía sau rằng: "Tôi nói có sai đâu cơ chứ, Thương Ương Gia Thố đã từng đến đây, không chỉ đến, mà còn viết cả khúc dân ca tình ái lên tường nữa cơ."
Mai Tát ngẩn người nhìn khúc dân ca tình ái trên tường, đột nhiên nói: "Dựa vào đâu mà anh cho rằng đó chính là bút tích của Thương Ương Gia Thố? Cho dù đúng là bút tích của Thương Ương Gia Thố đi nữa, thì làm sao có thể chắc chắn đây chính là nơi ở của Sang Lỗ Ban Tông chứ?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Bởi vì Sang Lỗ Ban Tông chính là mục tiêu tiếp theo mà chúng ta đang tìm kiếm, là cuốn cẩm nang mới nhất của 'Cửa Thất Độ Mẫu'. Nếu Thương Ương Gia Thố đến đây không phải vì Sang Lỗ Ban Tông, thì trong 'cẩm nang thọ ký' mang tên 'ánh sáng thấu chữ' của chùa Đại Chiêu, không thể nào lại xuất hiện cái tên 'Sang Lỗ Ban Tông' được. Bây giờ nó đã xuất hiện rồi, nó dẫn ra khúc dân ca tình ái 'Rừng liễu ở vùng Tông Kết', mà chúng ta lại tìm thấy nơi sản sinh ra khúc dân ca tình ái này, sao có thể nói Sang Lỗ Ban Tông không có liên quan gì đến nơi này chứ?"
Mai Tát nói: "Đây chỉ là phán đoán hợp lý của anh mà thôi, thứ tôi muốn là bằng chứng."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Cái đó rất đơn giản, chúng ta không đi nữa, đợi chủ nhân của ngôi nhà này quay về, hỏi cho ra lẽ là được chứ gì."
Mai Tát nói: "Lại không đến chùa Tashi Lhunpo nữa sao? Chúng ta vì muốn đến chùa Tashi Lhunpo mà suýt chút nữa chết đuối ở sông Lhasa, sao có thể nói không đi là không đi chứ?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Em có nhớ tôi từng nói câu này không, nếu như vật phục tàng của 'Cửa Thất Độ Mẫu' không ở chùa Tashi Lhunpo, thì chúng ta không đến được Shigatse, mà sẽ bị tai họa tự nhiên và nhân họa chặn đứng lại."
Mai Tát nói: "Hình như có nói thì phải."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Túc mệnh đã khiến chúng ta tràn đầy tính linh nhạy bén nhường này, những con sóng dữ của sông Lhasa đã chặn đứng bước chân của chúng ta, chúng ta không tài nào đến được Shigatse, điều đó chứng tỏ vật phục tàng của 'Cửa Thất Độ Mẫu' không ở chùa Tashi Lhunpo."
Mai Tát cười khổ nói: "Anh cứ sáng nắng chiều mưa thế này chứng tỏ anh thiếu tự tin, người luôn phủ định bản thân mình thì chẳng làm nên đại sự đâu."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Việc mở ra 'Cửa Thất Độ Mẫu' có được tính là đại sự không? Tôi đi đúng hướng cho đến ngày hôm nay chứng tỏ phương pháp tư duy của tôi là đúng. Phủ định bản thân chính là tinh thần của Phật, Phật nói, trên thế giới vốn dĩ không có vị Phật nào cả, chẳng qua chỉ mang cái tên là Phật mà thôi. Chính trong sự phủ định bản thân hoàn toàn triệt để ấy, Phật ngày càng trở nên vĩ đại hơn."
Họ đã ở lại. Sát thủ Đầu lâu bắt buộc họ sau một tuần tức là ngày hôm nay phải rời khỏi đây, thế nhưng họ lại không nghe theo hắn. Họ cứ bướng bỉnh đợi chờ chủ nhân quay về, muốn làm cho rõ xem tòa cổ trạch này có từng là nơi ở của Sang Lỗ Ban Tông hay không, nếu có, thì việc họ tiếp tục khai quật đối với 'Cửa Thất Độ Mẫu' sẽ được bắt đầu từ nơi này.
Một ngày một đêm trôi qua, không những chẳng có ai đến cả, mà ngay cả ngọn gió mát, ánh mặt trời cũng chẳng thèm ghé qua. Đây là một buổi sáng mây mù che khuất mặt trời, hoàng tử Hương Ba không đợi nổi nữa, anh ta nghĩ dẫu sao cũng nên ra ngoài xem thử, môi trường xung quanh tòa tiểu viện này ra sao, nó nằm ở vị trí nào của Lhasa, có hàng xóm hay không. Biết đâu hàng xóm sẽ nói cho anh ta biết, chủ nhân trong quá khứ và hiện tại rốt cuộc là ai?
Anh ta gọi Mai Tát, mang theo những thứ cần mang, mở tung cửa viện ra. Hơn một tuần lễ nay, đây là lần đầu tiên họ mở cửa viện, vừa mở ra thì chết sững cả người, trên mặt nền đá xanh dưới mái hiên, một cô gái xinh đẹp đoan trang đang nằm ngửa mặt lên trời. Cơ thể cô gái khỏa thân, chín vết dao đao chém, chín lỗ máu, xếp thành đường đi của "huyệt vị kinh đởm túc thiếu âm". Vết máu loang lổ khắp mặt đất, trên vũng máu lênh láng khắp nơi, còn có một bộ trang phục tiên nữ màu trắng rất đẹp.
Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát không kìm được nắm chặt tay lại, áp sát vào nhau. Họ nghe thấy tiếng tim đập run rẩy của đối phương, tựa như vũng máu trên mặt đất chính là của họ, từ trên mặt họ chảy xuống, chảy đến nỗi sắc mặt tái nhợt tựa như tờ giấy.
Đôi môi khô khốc của hoàng tử Hương Ba khẽ chạm vào nhau: "Tôi đã gặp cô ấy, em cũng từng gặp cô ấy, cô ấy chính là cô gái ở cùng với Trí Mỹ."
Mai Tát kinh ngạc nói: "Cũng chính là cô gái đã bảo Sát thủ Đầu lâu đưa chúng ta đến đây, nơi này là nhà của cô ấy, cô ấy là đến tìm chúng ta."
Hoàng tử Hương Ba nhìn xung quanh trước cửa nói: "Thế nhưng sao cô ấy lại chết chứ? Hơn nữa lại chết theo cách thế này? Cô ấy vốn đâu có xuất hiện trong 'cẩm nang thọ ký' của chùa Đại Chiêu, nếu có chết thì người phải chết cũng là Sang Lỗ Ban Tông chứ."
Mai Tát nói: "Chúng ta vốn đâu có biết cô ấy có xuất hiện trong 'cẩm nang thọ ký' hay không." Cô chỉ vào chiếc túi xách tay trên cánh tay người phụ nữ rồi nói: "Tại sao không tìm thử bằng chứng xem nào?"
Hoàng tử Hương Ba cúi người nhặt chiếc túi xách lên, mở ra lục lọi, tìm thấy thẻ căn cước, nhìn một cái, há hốc miệng không nói nên lời.
Tên trên thẻ căn cước là: Sang Lỗ Ban Tông.
Mai Tát nói: "Hèn chi cô ấy nói cô ấy là Trác Mã duy nhất đi lại trong hư không."
Hoàng tử Hương Ba hối hận tiếc nuối đến mức không biết phải làm sao cho phải, liên mạc miệng nói: "Đáng tiếc, đáng tiếc, giá như tôi sớm biết cô ấy tên là Sang Lỗ Ban Tông thì hay biết mấy, tôi nhất định sẽ bảo vệ cô ấy, dùng sinh mệnh của mình để bảo vệ cô ấy."
Mai Tát bi tráng nói: "Rốt cuộc trong khúc dân ca tình ái của Thương Ương Gia Thố ẩn giấu bí mật gì chứ, hễ cứ là người tình được nhắc đến trong dân ca, chúng ta cứ tìm thấy một người là người đó chết."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Sang Lỗ Ban Tông chúng ta còn chưa tìm thấy, mà cô ấy đã chết rồi. Có thể hiểu theo thế này, cô ấy dùng cái chết để chứng minh rằng việc tìm kiếm hiện tại của chúng ta là đúng đắn, vấn đề tiếp theo là, cô ấy đến từ đâu?" Nói đoạn, đột nhiên nhận ra mình đã để lại dấu vân tay trên túi xách và thẻ căn cước, đang định lau đi, thì nghe thấy cách đó không xa có tiếng người nói chuyện, bèn vứt túi xách đi, kéo Mai Tát cắm cổ chạy.
Họ chạy về phía con hẻm phía Đông, rồi lại nhớ đến lời của Sát thủ Đầu lâu: "Bước qua cổng lớn đi về phía Tây một đoạn không xa, chính là nơi hai người quen thuộc." Liền quay đầu lại, cắm cổ chạy về phía Tây.
3
Con hẻm phía Tây nối liền với một khu nhà dân, trên những bức tường trắng tinh là từng đường trang trí tường màu đỏ rực và từng cụm cọc chiến cắm cờ kinh phấp phới.
Mai Tát nói: "Về phía Tây chúng ta có quen thuộc đâu cơ chứ, tìm ai đó hỏi xem đây là đâu đi."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Mau rời khỏi đây đi, nơi này là hiện trường án mạng đấy."
Thế nhưng đã có người báo án rồi, họ không kịp trốn chạy nữa. Tiếng còi cảnh sát réo vang truyền đến từ phía khu nhà dân, trên những mái nhà nhấp nhô cao thấp, bức tường, ngọn cây, cọc chiến, bảo tháp, từng luồng khói bụi bốc lên ngùn ngụt. Họ quay ngoắt đầu bước vào con đường nhỏ kéo dài đến sâu trong khu nhà dân, trốn vào một kho chứa nhiên liệu xung quanh là tường phân bò, chính giữa là phân cừu khô.
Tiếng còi cảnh sát đã ngớt, truyền đến tiếng xe cảnh sát nghiến qua lối đi của khu nhà dân. Những chú chó thấy lạ liền sủa vang, vừa sủa vừa chạy ra bên đường. Một chú chó lông lá râu ria xồm xoàm nhảy chồm từ trong cửa nhà mình ra, chạy về phía đường cái, đột nhiên lại quay phắt đầu lại, nhào vào kho chứa nhiên liệu trước cửa sủa ầm ĩ. Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát đang cuộn tròn bên trong sợ chết khiếp, ngửa mặt lên trời nằm sóng soài dưới đáy kho. Hoàng tử Hương Ba biết đây là một chú chó Kerry Blue Tây Tạng, còn gọi là sư tử Tây Tạng, là một loại chó chăn cừu vô cùng hung dữ, một khi đã nhào vào trong, thì giống như hổ vồ mồi, cả hai người bọn họ tiêu đời là cái chắc. Điều khiến người ta lo lắng hơn cả là, tiếng sủa của chú chó râu rậm lông lá sẽ thu hút cảnh sát tới, xe cảnh sát đang chạy qua trên con đường cái cách đó chừng hai mươi bước chân.
Trong lúc hoảng loạn, hoàng tử Hương Ba theo bản năng chộp lấy một nắm phân cừu ném ra ngoài. Chú chó râu rậm lông lá bị chọc giận càng gầm thét điên cuồng hơn, nửa thân người chồm qua tường phân bò, suýt chút nữa thì ngoạm lấy chân hoàng tử Hương Ba. Hoàng tử Hương Ba sợ hãi co rúm người lại, nịnh nọt nói: "Này này, mày đừng thế chứ, tụi tao là người tốt mày không nhìn ra sao?" Vừa nghe anh ta thốt lên tiếng "này này", bên ngoài kho chứa nhiên liệu cũng bắt đầu vang lên tiếng "này này", tựa như đang đáp lời anh ta. Tiếng đáp lời vừa xuất hiện, chú chó râu rậm lông lá liền im bặt không sủa nữa, chạy vòng vo mấy cái xung quanh, rồi quay người bỏ đi, chạy về phía con đường cái đang huyên náo ồn ào, thế nhưng kẻ thay thế nó phục trên bức tường phân bò lại là một con động vật vô cùng quen thuộc với họ.
Mai Tát là người đầu tiên hét lên: "Vượn núi."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Không phải vượn núi đâu, là thầy Biên Ba."
Đôi mắt màu hổ phách của con vượn núi lúc này có chút hoang mang, kêu lên "này này này", nhăn mũi, há miệng nhe nanh múa vuốt, chốc chốc lại chìa móng vuốt ra, muốn cào cho họ một phát.
Hoàng tử Hương Ba nói: "Thầy Biên Ba, thầy không nhận ra bọn em nữa sao?"
Con vượn núi vừa nghe thấy thế, lại càng thêm nhe nanh múa vuốt, gầm lên "này này này", phun nước bọt lên mặt họ.
Hoàng tử Hương Ba dường như càng sợ hãi lại càng có linh cảm, anh ta móc từ trong ngực ra bức thưa-ca của Thi Đà Lâm Chủ và Thi Đà Lâm Mẫu, phịch một tiếng mở tung ra, trùm lên người Mai Tát và bản thân. Lúc này, thứ mà con vượn núi nhìn thấy chính là bộ xương khô nhe nanh múa vuốt, cái lưỡi đỏ lè đáng sợ, thân hình khỏa thân trắng muốt lạnh buốt như tuyết, tư thế hung ác cầm bát ăn thịt người, cùng với phông nền tạo hình lửa cháy bập bùng. Con vượn núi hình như nhận ra nó, lập tức từ bỏ sự hung dữ, tiếng gầm thét biến thành tiếng kêu rên ư ử, rên hừ hừ mấy tiếng, rồi quay người nhảy xuống tường phân bò, chạy về phía một hộ gia đình, đẩy tấm cửa màu đen chui vào trong.
Chẳng mấy chốc, con vượn núi dẫn theo vị lạt-ma râu ria đi tới trước kho chứa nhiên liệu.
Lạt-ma râu rậm nói: "Đứng lên đi." Vươn người vén tấm thưa-ca trên người họ ra.
Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát ngồi dậy, vẫn mang vẻ mặt sợ hãi nhìn con vượn núi. Con vượn núi cụp đuôi xuống, điềm tĩnh nhìn họ, sự hung dữ đã biến mất, trong đôi mắt tràn trề những gợn sóng hiền hòa.
Vị lạt-ma râu rậm hình như bị ốm, trông có vẻ rất yếu ớt, ủ rũ khoác chiếc áo choàng da cừu dày cộp mùa đông. Ông ta cố sức chìa cánh tay gầy guộc ra từ ống tay áo, vẫy vẫy tay về phía họ: "Lại đây nào."
Hoàng tử Hương Ba đứng dậy, đồng thời kéo Mai Tát đứng lên, nhìn thấy xe cảnh sát trên đường cái đã đi qua rồi, vội vàng bước qua bức tường phân bò, đi theo sau vị lạt-ma râu rậm. Con vượn núi chạy tới, đẩy tấm cửa màu đen ra, rồi lại chạy tới sờ sờ bức thưa-ca trong tay hoàng tử Hương Ba. Hoàng tử Hương Ba bỗng chốc trút bỏ được gánh nặng trong lòng, liên mạc miệng gọi "thầy Biên Ba", kéo tay Mai Tát, sải bước bước vào trong cửa.
Đây là một ngôi nhà dân bình thường nhất ở Tây Tạng với tường vây bằng đá, gạch mộc và nhà gỗ, thế nhưng ngôi nhà bình thường nhất ấy lại hiển hiện dấu hiệu bất bình thường nhất: Ở hiên nhà phía Đông, có một bức bích họa với màu sắc đậm đà đến mức như muốn tan chảy, đó chính là hình ảnh Thi Đà Lâm Chủ và Thi Đà Lâm Mẫu đứng sóng vai nhau, y hệt như trên bức thưa-ca.
Hèn chi con vượn núi vừa nhìn thấy họ trùm tấm thưa-ca hình Thi Đà Lâm Chủ và Thi Đà Lâm Mẫu liền lập tức trở nên thân thiện ngay, hóa ra Thi Đà Lâm Chủ và Thi Đà Lâm Mẫu chính là ký hiệu ở nơi này, con vượn núi ở lâu ngày đã quen thuộc, đối với những người mang ký hiệu như thế này cũng coi như người một nhà. Vấn đề là, tại sao trong sân nhà lại có bích họa như thế này? Tại sao lạt-ma râu rậm và con vượn núi lại ở lại cái nơi này? Hoàng tử Hương Ba còn chưa kịp cất lời hỏi, chỉ thấy dấu hiệu còn bất bình thường hơn nữa đang lù lù xuất hiện trước mắt: Trên mái nhà chính tọa Bắc hướng Nam, chất đống một số lá thông xanh, trên đống lá là một hòn đá trắng ngần như ngọc, bên cạnh hòn đá lại là một cái đấu bằng đồng tượng trưng cho vàng.
Hoàng tử Hương Ba kinh ngạc hỏi: "Đây là 'Nhà đá thông xanh'? Là hậu duệ của y thánh vĩ đại Thử Đà Nguyên Đan Cống Bố sao?"
Vị lạt-ma râu rậm gật đầu, không giấu vẻ kiêu hãnh nói: "Tôi là lạt-ma của chùa Labrang, nơi này là quê nhà của tôi."
Hoàng tử Hương Ba bảo Mai Tát: "'Nhà đá thông xanh' là danh hiệu gia tộc của y thánh vĩ đại Thử Đà Nguyên Đan Cống Bố ở Tây Tạng. Gia tộc này có một người vô cùng uyên bác, tên là Triết Cát Ấn Độ Tiểu Kim Cương. Ông ấy là bậc tiền bối của Nguyên Đan Cống Bố, từng đáp ứng thỉnh cầu của một cô gái xinh đẹp, chữa khỏi bệnh cho quốc vương Naga độc ác. Để báo đáp, cô gái đã hiến dâng sinh mạng của mình, khi thi thể của cô trôi sông đến nơi, nửa thân trên được phủ kín vàng và bảo thạch thông xanh lục. Triết Cát Ấn Độ Tiểu Kim Cương vớt vàng và bảo thạch lên, đặt trên nóc nhà mình. Một người du mục nhìn thấy liền nói: 'Hay thật, hay thật, anh có một mái nhà đá thông xanh cơ đấy.' Lời đồn lan xa, 'Nhà đá thông xanh' liền trở thành danh hiệu của gia tộc Thử Đà. Danh hiệu này tượng trưng cho vinh quang cứu người giúp đời, hậu duệ của Thử Đà liền dùng lá thông, đá trắng và đấu đồng thay cho đá thông xanh và vàng trân quý để làm biểu tượng của gia tộc."
Mai Tát nói: "Lại là 'Nhà đá thông xanh' cứu mạng, lại là bích họa Thi Đà Lâm chết chóc, mâu thuẫn thật đấy chứ."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Ý nghĩa của Phật chính là xóa bỏ mọi mâu thuẫn, đặc biệt là mâu thuẫn phân hóa lưỡng cực, ví dụ như có và không, sinh và tử, thiện và ác, đẹp và xấu, yêu và hận, thiên đường và địa ngục v.v. Thế giới trong mắt y thánh, tất cả đều là nghĩa trang do Thi Đà Lâm Chủ và Thi Đà Lâm Mẫu chủ tể, chí hướng của ông ấy chính là, tạo ra thiên đường sinh mệnh vượng thịnh ngay trong nghĩa trang chết chóc, cho nên Thi Đà Lâm thường hay là bối cảnh tu vi của y sĩ Tây Tạng kiệt xuất."
Mai Tát còn muốn hỏi gì nữa, hoàng tử Hương Ba quay phắt đầu lại chằm chằm nhìn vị lạt-ma râu rậm: "Theo tôi được biết, những truyền nhân của 'Nhà đá thông xanh' đều là y thánh chói lọi nhất của cung Potala, thế nhưng ông, tại sao lại không phải?"
Vị lạt-ma râu rậm đáp: "Chúng tôi chỉ là tộc nhân nhà Thử Đà, khu vực này đều là người trong tộc cả. Chúng tôi không phải truyền nhân, truyền nhân ở đằng kia cơ, đằng kia kìa." Vị lạt-ma râu rậm chỉ tay ra phía sau sân. Phía sau là đường cái, bên kia đường cái chính là nơi hoàng tử Hương Ba và Mai Tát vừa bước tới.
Hoàng tử Hương Ba nói: "Đằng kia ư? Đằng kia là nhà của Sang Lỗ Ban Tông mà."
Hồ tử lạt ma gật gật đầu nói: "A ba của Tạng Lỗ Ban Tông là một vị lạt ma y học Tạng nổi tiếng, là niềm kiêu hãnh của gia tộc Vũ Tố, đáng tiếc ngài ấy đã viên tịch rồi."
Hoàng tử Hương Ba hỏi: "Truyền nhân của ông ấy đâu?"
Hồ tử lạt ma nói: "Ý ngài nhắc tới Tạng Lỗ Ban Tông sao? Cô ấy không phải lạt ma."
Hoàng tử Hương Ba đã hiểu, ý của hồ tử lạt ma là y sĩ Tây Tạng bắt buộc phải là lạt ma, là kiểu lạt ma có thể kết hôn sinh con, nối dõi tông đường. Lại hỏi tiếp: "Tạng Lỗ Ban Tông làm nghề gì?"
Hồ tử lạt ma nói: "Cô ấy á, cô ấy đi làm ở hàng rào chắn tuyết."
Hoàng tử Hương Ba hỏi: "Ngươi nói hàng rào chắn tuyết? Hàng rào chắn tuyết ở đâu?"
Hồ tử lạt ma nói: "'Hàng rào chắn tuyết' của cung Potala."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Cung Potala sao lại có 'hàng rào chắn tuyết'?"
Hồ tử lạt ma nói: "Làng Tuyết, làng Tuyết, làng Tuyết nơi vị Đạt Lai Lạt Ma thứ sáu Thương Ương Gia Thố từng uống rượu. Thương Ương Gia Thố nói, gia tộc Vũ Tố là ngôi nhà đá thanh tùng trong hàng rào chắn tuyết của Tây Tạng, là sự tồn tại của linh hồn, là chủ tể của thể xác."
Hoàng tử Hương Ba chợt vỡ lẽ: "Thương Ương Gia Thố quả thực từng nói câu 'Ngôi nhà đá thanh tùng trong hàng rào chắn tuyết ở Tây Tạng', sao ta lại không nghĩ rằng ông ấy đang chỉ tường vây của cung Potala cơ chứ."
Hồ tử lạt ma cười hì hì gật gật đầu.
Mai Tát nói: "Ý gì vậy? Tôi không hiểu."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Phía dưới mặt trước cung Potala được bao quanh bởi tường thành, phía bắc tựa núi, ba mặt tựa tường. Trước kia các kiến trúc bên trong thành chủ yếu là các cơ quan sự vụ của cung Potala tức cơ quan trực thuộc Gaden Phodrang, Bộ tư lệnh quân đội Tây Tạng, Học viện khắc kinh, nhà tù, nhà kho, chuồng ngựa, chuồng la, chuồng nước, xưởng thủ công... Vẫn còn một phần là dinh thự quý tộc, nhà dân bình thường và quán rượu. Nơi này được bao quanh bởi tường thành, gọi là 'Tuyết'. 'Hàng rào chắn tuyết' đáng lẽ phải là hàng rào bảo vệ làng Tuyết, chứ không phải hàng rào phòng chống thiên tai tuyết. Nếu hiểu như vậy, Sát thủ Khô Lâu đã nói đúng, đi về phía tây cách cửa lớn không xa, có một nơi quen thuộc đang chờ chúng ta, đó chính là 'hàng rào chắn tuyết'."
Mai Tát ngẩn người không nói năng gì.
Hoàng tử Hương Ba hỏi: "Sao thế, không tin lời tôi à?"
Mai Tát nói: "Tôi đang nghĩ, người thiết kếphục tàng đúng là quá lợi hại, ngài ấy không chỉ thiết kế tuyến đường quật tạng, mà còn cân nhắc đến trải nghiệm, tâm lý, cấu trúc tri thức, năng lực tư duy, bối cảnh sinh sống, tình trạng cơ thể... của người quật tạng, hơn nữa còn phải khống chế chính xác hướng đi của tuyến đường, bất kỳ khâu nào xuất hiện sai lệch, đều không thể thực hiện việc quật tạng. Ví dụ như chúng ta vì duyên khởi bị thương, nạn nước, trốn chạy... mà được giải cứu đến nhà Tạng Lỗ Ban Tông trốn tránh, rồi lại đến đây chạm trán với Sơn Tiêu và hồ tử lạt ma. Đây là sự sắp xếp của ai? Sát thủ Khô Lâu nói là Trác Ma duy nhất trong hư không đã bảo hắn đưa chúng ta tới đây. Còn giải thích của anh là, Trác Ma duy nhất chính là 'Thất Độ Mẫu', ở trong hư không chính là nơi cao nhất mà Độ Mẫu đi qua. Nơi cao nhất của Lhasa, chẳng phải là cung Potala trong 'hàng rào chắn tuyết' sao?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Nói rất đúng, hẳn là cung Potala, hơn nữa..." Bỗng nhiên hỏi, "Hôm nay ngày mấy?" Cả anh và Mai Tát đều nhìn đồng hồ, lại nói tiếp: "Vậy thì càng đúng hơn, Đại pháp hội tụng kinh cung Potala sắp diễn ra rồi, theo lệ thường, ngày mai là ngày đầu tiên của pháp hội, có lẽ đây chính là cơ duyên của chúng ta."
Mai Tát hỏi: "Pháp hội? Pháp hội thì có liên quan gì đến chúng ta?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Tiên tri quan trọng nhất trong chính là 'Cửa ải Thất Độ Mẫu', quan trọng thứ nhì chính là Đại pháp hội tụng kinh cung Potala. Theo cách nói của , trong thời gian diễn ra pháp hội, vạn tăng tụ hội, một nghìn kẻ bội thề sẽ mang theo thuốc nổ thắt trên người bước vào hội trường. Thủ lĩnh của bọn chúng sẽ phát lệnh trước khi mặt trời lặn, khi cơ duyên đến, khiến tất cả kẻ bội thề đồng thời châm ngòi nổ tung, đánh sắm cung Potala, thổi bay tất cả các lạt ma bước vào cung Potala."
Mai Tát nói: "Vậy chúng ta đi làm gì, chịu chết chắc?"
Hoàng tử Hương Ba cúi đầu nhìn chiếc chìa khóa vàng đầu vẹt nói: "Em đừng căng thẳng, pháp hội năm nào cũng diễn ra, có xảy ra chuyện này đâu, dù sao cũng là phụtrân bảo được khai quật từ mấy trăm năm trước, khả năng dự ngôn chính xác mọi chuyện là không lớn. Hơn nữa lại nói cho chúng ta biết, trong một nghìn kẻ bội thề chỉ có duy nhất một tên thủ lĩnh, một khi hắn xảy ra vấn đề, chết đi, hoặc mất đi truyền thừa bội thề với các bậc tiên bối của hắn, hoặc hắn không nhận được tín hiệu xác nhận mình là thủ lĩnh, lệnh nổ tung không thể phát ra, độ tin cậy của 'lời tiên tri' cũng sẽ tự động biến mất, bao nhiêu năm sau, sẽ có lãnh tụ của những kẻ bội thề lại lần nữa tiên tri và lại lần nữaphục tàng."
Mai Tát nói: "Sao anh biết thủ lĩnh đã xảy ra vấn đề rồi?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Không ai biết thủ lĩnh là ai, thậm chí bản thân hắn cũng không biết. Mấy phút trước khi nổ tung, một nghìn kẻ bội thề sẽ đồng thời cảm ngộ sự tồn tại của thủ lĩnh, giơ tay phải lên, chụm ngón trỏ và ngón giữa lại, chỉ thẳng về phía thủ lĩnh của bọn chúng. Chỉ cần có một người chỉ sai, sẽ bị coi là duyên phận không hợp mà từ bỏ việc lựa chọn thủ lĩnh. Trong trường hợp như vậy, xác suất xảy ra vấn đề là rất lớn, hay nói cách khác, hầu như không thể có lúc nào không xảy ra vấn đề, cung Potala cũng sẽ không thể có lúc bị nổ tung."
Mai Tát trầm ngâm gật đầu: "Hóa ra là thế."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Dù thế nào đi nữa, Đại pháp hội tụng kinh cung Potala chúng ta bắt buộc phải tham gia, tăng chúng tụ hội, cộng thêm các tín đồ hành hương, đó chính là biển người mênh mông, vừa hay có thể che giấu chúng ta."
Mai Tát nói: "Nếu chúng ta xác định mục tiêu là cung Potala, vậy phải giải thích nội dung 'ánh sáng thấu văn chữ' của đền Jokhang thế nào đây?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Anh cũng đang suy nghĩ vấn đề này. Chúng ta đã xác định, trong 'ánh sáng thấu văn chữ' của đền Jokhang, khúc ca tình yêu được 'thụ ký' cho chúng ta cho thấy Thương Ương Gia Thố lại có thêm một lần gặp gỡ tình yêu sâu sắc khó quên. Lần gặp gỡ này không phải là 'người tình', mà là 'người yêu', là 'người yêu' Tạng Lỗ Ban Tông. Nó nói cho chúng ta biết, giống như tất cả các đại sư Mật pháp, Thương Ương Gia Thố đã trải qua rất nhiều lần 'ước hẹn Minh phi'. Điểm khác biệt là, các đại sư Mật pháp khác thu hoạch được Phật pháp, là bậc thang tức thân thành Phật, còn Thương Ương Gia Thố thu hoạch được tình yêu, là khúc ca tình yêu, là niềm vui sướng khi yêu nhiệt liệt và nỗi đau khổ khi thất tình. Ở chỗ các đại sư Mật pháp khác, Minh phi là công cụ tu Phật, còn ở chỗ Thương Ương Gia Thố, Minh phi đã trở thành mục đích, trở thành Phật – ông tu Phật thông qua phụ nữ, mà coi phụ nữ thành Phật; Minh phi của người khác là 'bạn lữ tu pháp', Minh phi của ông là 'người tình' hoặc 'người yêu'. Có thể thấy ông đã kết dính tính người và tính Phật lại với nhau, từ đó không hề áp ức bản tính chân thực của một người đàn ông Tây Tạng, càng không lấy cái cớ tôn giáo để tách rời phong tục Tây Tạng vốn cởi mở về tình yêu nam nữ tự do. Như vậy, Thương Ương Gia Thố lại càng trở nên thuần túy hơn, ông là Phật, Phật chính là người, người cộng Phật bằng tình yêu, yêu tất cả mọi người, bao gồm cả yêu phụ nữ. Ông đã xóa bỏ ranh giới giữa tôn giáo và thế tục, thiên nhân hợp nhất, thuận theo tự nhiên, căn bản không thèm quan tâm đến tai nạn hay thậm chí cái chết sẽ ập đến vào ngày mai. Cho nên đối với Thương Ương Gia Thố mà nói, tình yêu chính là sự nghĩa cử, là sự tu hành vượt qua sinh tử. Kiểu tu hành này không chỉ cần có thời gian xác định, bạn lữ xác định, mà còn phải có địa điểm xác định. Chúng ta nhìn thời gian xác định: Đại nạn ập đến, Thương Ương Gia Thố bị Lạp Tạng Hãn đuổi khỏi ngai vàng Đạt Lai Lạt Ma, vận mệnh khó lường, đao kiếm đã giơ cao có thể chém xuống bất cứ lúc nào. Lại nhìn bạn lữ xác định: Cô ấy biết tình yêu với Thương Ương Gia Thố đồng nghĩa với việc kết thúc sinh mệnh, việc xử tử diễn ra ở một khoảnh khắc nào đó sau cuộc hoan lạc, so với Thương Ương Gia Thố, cô ấy càng là nghĩa cử, càng thêm bi tráng. Còn về địa điểm xác định, nơi nào có thể hoàn hảo hơn, có sức quyến rũ hơn cung Potala chứ?"
Mai Tát nói: "Em cũng nghĩ vậy, cácphục tàng vĩ đại đều là từng bước leo cao, không chỉ có độ cao địa lý, mà càng có độ cao tinh thần, đỉnh cao tinh thần của Tây Tạng nằm ở đâu?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Hỏi rất hay, đáp án có lẽ nằm trong lần mở ra cuối cùng của 'Cửa ải Thất Độ Mẫu'."
Mai Tát nói: "Nhưng vấn đề hiện tại là, kỵ binh Mông Cổ từ lâu đã đánh bại quân đội Tây Tạng và xử tử cựu Nhiếp chính Tang Kết dám cả gan kháng cự, thủ lĩnh bộ tộc Hoshut là Lạp Tạng Hãn đã chiếm cứ cung Potala, Thương Ương Gia Thố vẫn luôn bị quản thúc tại uyển lâm Laru Gaceling ở phía tây bắc cung Potala. Giữa ông và cung Potala, đã là đường đi không thông. Vẫn còn 'người yêu' của ông ấy, dù cô ấy là ai, cũng giống như ông ấy đều không thể đến được cung Potala dường như còn xa xôi hơn cả bờ bên kia."
Hoàng tử Hương Ba nói: "'Ánh sáng thấu văn chữ' của đền Jokhang 'thụ ký' cho chúng ta là hai khúc ca tình yêu. Ban đầu anh tưởng khúc ca tình yêu phía sau được sáng tác tại tẩm cung Jampal Trinle của tu viện Tashilhunpo đồng nghĩa với việc nó chỉ dẫn chúng ta đến tu viện Tashilhunpo ở Shigatse, lý do là Thương Ương Gia Thố tuy bị quản thúc, không thể đi đến Shigatse để hẹn hò với 'người yêu', nhưng với tư cách là một người sở hữu 'Minh không Xích lộ', ông có thể sử dụng 'Mật pháp thiên thức đoạt xá' để linh thức của mình rời khỏi thể xác. Bây giờ xem ra phán đoán đã sai lầm, linh thức đã đến cung Potala, chứ không phải đi tu viện Tashilhunpo, hoặc là chính bản thân ông đã đến cung Potala, ông không thể vào cung Trắng và cung Đỏ nữa, nhưng lại có thể ẩn giấu ở làng Tuyết bên trong 'hàng rào chắn tuyết'. Đó là nơi quen thuộc với ông, có dinh thự quý tộc, nhà cửa dân thường, và cả quán rượu."
Mai Tát hỏi: "Bằng chứng đâu?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Bằng chứng chính là câu nói mà Thương Ương Gia Thố từng nói: 'Gia tộc Vũ Tố là ngôi nhà đá thanh tùng trong hàng rào chắn tuyết, là sự tồn tại của linh hồn, là chủ tể của thể xác.' Tại sao ông ấy lại nói vậy, bởi vì 'ngôi nhà đá thanh tùng' là kết quả sau khi các cô gái dâng hiến thi thể, vàng và bảo vật màu xanh lục, trong phần chú thích của cổ văn lại được gọi là 'Nhà dâng mình dâng bảo của thánh nữ thuần khiết', 'dâng mình' ở đây chính là cái chết. Cho nên câu nói của Thương Ương Gia Thố cũng có thể ghi chép lại thế này: 'Gia tộc Vũ Tố là ngôi nhà dâng mình dâng bảo của thánh nữ thuần khiết trong hàng rào chắn tuyết, là sự tồn tại của linh hồn, là chủ tể của thể xác.' Như vậy thì đã rõ ràng rồi, Tạng Lỗ Ban Tông của gia tộc Vũ Tố chính là 'thánh nữ thuần khiết' mà Thương Ương Gia Thố nhắc tới, cô ấy đã dũng cảm tiếp đón Thương Ương Gia Thố đang trong hoàn cảnh khốn đốn với tư cách không sợ chết ở trong 'hàng rào chắn tuyết', khiến ông trong lúc bước vào 'nhà dâng mình dâng bảo', lại có cảm giác Tạng Lỗ Ban Tông chính là 'sự tồn tại của linh hồn' và 'chủ tể thể xác' của ông."
Mai Tát gật đầu nói: "Giải thích như vậy thì có thể chấp nhận được, có một loạiphục tàng chính là cung cấp chú thích cho kinh điển hoặc câu kinh vĩ đại nhất. Chú thích của gia tộc Vũ Tố là 'ngôi nhà đá thanh tùng', chú thích của 'ngôi nhà đá thanh tùng' là 'thánh nữ thuần khiết', chú thích của 'thánh nữ thuần khiết' là Tạng Lỗ Ban Tông, mà tất cả những chú thích này đều là để chứng minh cung Potala là mục tiêu tiếp theo của chúng ta. Bây giờ, chỉ cần làm rõ 'hướng dẫn thụ ký', chúng ta có thể tiếp tục khai quậtphục tàng của 'Cửa ải Thất Độ Mẫu' rồi."
Hoàng tử Hương Ba suy nghĩ một lúc rồi nói: "Hơi khó đấy, đã không liên quan gì đến tu viện Tashilhunpo, 'hướng dẫn thụ ký' lại càng khó giải thích hơn, đành đi tới đâu tính tới đó vậy." Vừa nói vừa xua tay, "Chúng ta đi mau thôi."
Tiếng còi hú từ xa đến gần lại bắt đầu vang lên, hình như lại có cảnh sát viện trợ tới. Ngoài cửa vang lên một trận tiếng bước chân hỗn loạn, rõ ràng là cảnh sát đang chạy. Bọn họ nghe thấy Bích Tú lớn tiếng nói: "Có người nhìn thấy một nam một phụ đi ra từ nhà người chết, qua mô tả, rất có thể chính là Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát. Đông Tây Nam Bắc bắt đầu đồng thời, mau lên."
Hoàng tử Hương Ba biết, cuộc điều tra rà soát khu dân cư này đã bắt đầu. Anh đẩy Mai Tát một cái nói: "Vào nhà." Mặc kệ hồ tử lạt ma có đồng ý hay không, cùng Mai Tát nhanh chóng chui vào gian nhà chính được phủ 'đá thanh tùng'.
Hồ tử lạt ma và Sơn Tiêu đều đi theo vào, quan sát bọn họ.
Mai Tát chán nản nói: "Chúng ta chẳng có nơi nào để trốn, vào nhà thì làm được gì chứ?"
Hoàng tử Hương Ba nói với Sơn Tiêu: "Thầy Biên Ba, mau nghĩ cách giấu chúng tôi đi."
Hồ tử lạt ma lắc đầu, dẫn Sơn Tiêu đi ra ngoài. Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát nhìn từ cửa sổ ra, hồ tử lạt ma đang nói gì đó với Sơn Tiêu, vừa nói vừa thấy Sơn Tiêu nhảy dựng lên lao về phía cửa viện.
Cánh cửa màu đen bị cảnh sát đẩy ra, nhưng bọn họ không thể bước vào. Sơn Tiêu canh giữ ở cửa, chính là lời cảnh báo về sự sống của Hắc Phương Chi Chủ: Cái chết, cái chết, cái chết.
Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát căng thẳng quan sát, bốn bàn tay siết chặt lấy nhau, lòng bàn tay, trán toàn là mồ hôi.
Năm sáu tên cảnh sát lúc thì lùi lại, lúc thì tiến lên. Sơn Tiêu oai phong lẫm liệt đứng thẳng, mày đứng cách ba bước, nó sẽ trừng mắt gầm gừ sủa mày như chó, mày bước vào trong ba bước, nó sẽ lao tới chòm tới cắn mày, hung dữ giống như sư tử hổ báo, sau mấy lần nỗ lực cảnh sát đành bỏ cuộc, lý do là có một con quái vật hung hãn như vậy, hai tên tội phạm trốn chạy nam nữ sao có thể trốn vào đây được.
Cuộc rà soát tiến hành hai tiếng đồng hồ mới kết thúc. Sơn Tiêu vẫn luôn canh giữ ở cửa, không ngừng gầm gừ lao tới, dần dần nó không gầm nữa, xung quanh trở nên vô cùng yên tĩnh. Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát thở phào nhẹ nhõm.
Cảnh sát đã rời đi, có vẻ như hơi chán nản thất vọng, ngay cả tiếng khởi động xe cảnh sát cũng không dám phát ra.
Hoàng tử Hương Ba hỏi hồ tử lạt ma: "Tại sao ông lại cứu chúng tôi?"
Hồ tử lạt ma chỉ vào bức Thang-ka Họa thi đà lâm chủ và Thi đà lâm mẫu đang cuộn trong tay anh nói: "Cậu có cái này, có cái này chính là người của gia tộc Vũ Tố."
Hoàng tử Hương Ba gật đầu, nói với Mai Tát: "Anh nói có sai đâu cơ chứ, Thi đà lâm chủ và Thi đà lâm mẫu là vật may mắn của chúng ta, chúng ta bây giờ là người của gia tộc Vũ Tố rồi. Đi mau thôi, đến nơi có 'hàng rào chắn tuyết', Tạng Lỗ Ban Tông từng làm việc ở trong đó."
Bọn họ nhanh chóng rời khỏi hồ tử lạt ma và Sơn Tiêu. Sơn Tiêu tiễn bọn họ ra ngoài cửa viện, đi dạo bước trước sau trái phải, bộ dạng vô cùng lưu luyến bịn rịn.
Hoàng tử Hương Ba liên tục quay đầu nói: "Thầy Biên Ba, tạm biệt nhé."
Mai Tát cũng liên tục quay đầu, rưng rưng nước mắt nói: "Thầy Biên Ba, bảo trọng nhé."
4
Rời khỏi khu dân cư của gia tộc Vũ Tố đó, đi không bao lâu, bọn họ đã nhìn thấy nhà tạm giam Sở công an khu vực, lúc này mới nhận thức được vị trí mình đang đứng là khu ngoại ô phía đông bắc Lhasa. Hai người giống như con cá may mắn lọt lưới, nơm nớp lo sợ lướt qua từ bên mép lưới, liếc nhìn cánh cửa sắt đóng kín của nhà tạm giam và xe cảnh sát cảnh sát trước cửa, không nhịn được lè lưỡi, bước nhanh hơn.
Hoàng tử Hương Ba nói: "Chúng ta có phạm tội gì đâu? Tất cả nghi ngờ và cáo buộc đều là vu oan giá họa phải không? Thế sao chúng ta cứ giống như tội phạm giết người trốn chạy thực thụ vậy, vừa nơm nớp lo sợ vừa lén lút gian xá thế này?"
Mai Tát nói: "Thần họcphục tàng có thể giải thích vấn đề này, pháp sự, nghi quỹ, hội cúng, cầu nguyện, quán đỉnh, gia trì vân vân các hoạt động tôn giáo sẽ hình thành một loại áp lực ngoại tại mạnh mẽ, thúc đẩy sự biến đổi tâm lý của con người. Mà sự biến đổi tâm lý lại khiến con người ta chuyển đổi vai trò trong chớp mắt, từ một người bình thường một bước nhảy vọt thành Không hành hộ pháp hoặc người sở hữuphục tàng được Liên Hoa Sinh đại sư thụ ký. Rất nhiều nhà quật tạng đều đạt được thành tựu theo cách này. Chúng ta cũng là sản sinh biến đổi tâm lý dưới áp lực ngoại tại, không, là dị biến. Khi cảnh sát, lạt ma, xã hội, dư luận đều cho rằng bạn là tội phạm giết người trốn chạy, bạn cũng sẽ chuyển đổi vai trò mà sinh ra cảm giác chột dạ và sợ hãi mà chỉ tội phạm giết người trốn chạy mới có, thậm chí bạn còn sẽ vứt bỏ sự nhát gan và lương thiện trong chớp mắt, thực sự đi giết một người, để thích ứng với sự nhào nặn của môi trường đối với bạn."
Hoàng tử Hương Ba giật mình thon thót nói: "Tôi sẽ giết người sao?"
Mai Tát nghiêm túc nói: "Anh sẽ, em cũng sẽ."
Hoàng tử Hương Ba kinh ngạc nhìn Mai Tát: "Sao em lại nói vậy?"
Mai Tát cảnh giác nhìn cánh cửa lớn khảm huy hiệu cảnh sát sắp đi qua ở phía bên trái, kéo Hoàng tử Hương Ba một cái nói: "Chúng ta không phải đến tự thú đấy chứ?"
Đó là một cánh cửa lớn đang mở toang. Từ trong cửa lớn đột nhiên chạy ra mấy tên cảnh sát, tiếp theo là một đội, một đội rất dài rất đông, đang chạy băng băng, ập về phía bọn họ. Hoàng tử Hương Ba quay người định chạy, nhưng đã không kịp nữa rồi. Mai Tát với khuôn mặt tái mét kéo anh lại, run lẩy bẩy nhắm nghiền hai mắt lại: Bắt đi, bắt đi, đằng nào cũng chạy trời không khỏi nắng.
Đội hình của cảnh sát đột nhiên tách ra từ giữa, bao vây lấy bọn họ, một số bộ đồng phục cảnh sát màu đen xanh xẹt qua người họ sột soạt, bọn họ tức khắc cảm thấy mây đen áp đỉnh, một mảnh binh đao loạn lạc. Dường như để bọn họ dừng lại lâu hơn trong sự khủng bố, bàn tay bắt tội phạm rốt cuộc vẫn không vươn tới tóm lấy bọn họ. Cảnh sát vẫn đang chạy, vẫn đang bao vây, trong ngoài bốn năm tầng. Bọn họ theo phản xạ ngồi xổm xuống, ôm đầu, giống như hai tên tội phạm đã bị bắt, ngoan ngoãn, không lên tiếng một câu.
Đột nhiên, sáng bừng lên, hàng cảnh sát cuối cùng lướt qua bên cạnh bọn họ, dần dần đi xa. Hoàng tử Hương Ba buông tay xuống, liếc mắt nhìn, có vẻ như hơi không dám tin, ngẩn người nửa ngày, mới kéo Mai Tát đứng dậy.
Mai Tát trừng mắt nhìn đám cảnh sát đang xếp hàng chạy trên đường lớn hỏi: "Sao thế, bọn họ không phải đến bắt chúng ta à?"
Hoàng tử Hương Ba đối mặt với cánh cửa lớn khảm huy hiệu cảnh sát và tấm biển đồng trên trụ cổng, nhìn thấy tấm biển đồng viết mấy chữ "Trường cảnh sát nhân dân khu tự trị", thở phào nhẹ nhõm nói: "Hóa ra bọn họ là học sinh, là tập chạy bộ. Bọn họ chắc chắn không nhận ra chúng ta, cảnh sát không thể dán lệnh truy nã vào nhà mình được."
Mai Tát nói: "Nhưng lệnh truy nã đã lên tivi rồi mà."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Em từng là học sinh qua rồi, em biết ký túc xá học sinh thường không có tivi, phần lớn mọi người lại không muốn tập trung đến phòng học lớn để xem, trừ khi gặp ngày lễ, hoặc World Cup, Olympic gì đó."
Bọn họ nhanh chóng rời khỏi trường cảnh sát, đi chưa đến nửa tiếng, lại nhìn thấy nhà tù Lhasa.
Mai Tát nói: "Trên con đường này sao toàn là mấy cơ quan này thế, cứ như nhắm vào hai chúng ta vậy, em cảm thấy không may mắn chút nào."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Phải nói là đại cát đại lợi mới đúng, cảnh sát sẽ không thể ngờ chúng ta lại nghênh ngang diễu phố ngay ở nhà tạm giam, trường cảnh sát, nhà tù. Những nơi này ngẫu nhiên lại là nơi phòng thủ mỏng nhất, đặc biệt là nhà tù, nó là bến đỗ cuối cùng của tội phạm, không phải phố xá náo nhiệt trốn chạy, không cần thiết phải truy nã ở đây." Vừa nói, anh vừa đi đến dưới bức tường cao của nhà tù, vẫy vẫy tay về phía lính gác trên tháp canh.
Lính gác cô đơn cười thân thiện, ánh mắt quét qua quét lại trên người Mai Tát.
Mai Tát ôm tim đập thình thịch nói: "Cậu ta đang chằm chằm nhìn em, hình như nhận ra em rồi."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Cậu ta nhìn không phải tội phạm trốn chạy, mà là phụ nữ."
Hai người đi về phía trước, đi tới khu rừng nhỏ nằm chếch đối diện nhà tù. Hoàng tử Hương Ba nói: "Điều tôi lo lắng lúc này là con đường tiếp theo phải đi thế nào. Từ đây đến cung Potala, không thể nào còn vùng đất trống vắng lệnh truy nã nữa, nói không chừng ngay cả chim sẻ quạ đen cũng có thể nhận ra chúng ta. Dọc đường không có cửa hàng, chúng ta không thể hóa trang, huống chi còn có chốt kiểm tra do cảnh sát thiết lập."
Mai Tát nói: "Vậy anh mau nghĩ cách đi chứ, trốn trước nhà tù làm gì? Cứ như anh chuẩn bị sẵn sàng đi vào vậy."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Cách thì có, chỉ xem có cơ hội thực hiện nó hay không thôi."
Bọn họ đợi hơn hai tiếng đồng hồ, đã là buổi chiều rồi. Hoàng tử Hương Ba chán nản nói: "Bây giờ cho dù có cơ hội, chúng ta cũng không thể tận dụng, cung Potala sắp đóng cửa rồi."
Mai Tát nói: "Ý anh là chúng ta phải qua đêm ở đây á?"
Thức ăn Sát thủ Khô Lâu để lại cho bọn họ chỉ còn lại một chút, bọn họ chia nhau ăn, ôm siết lấy nhau, kiên trì đến tối, vượt qua một đêm dài đằng đẵng. Mặt trời vừa mới mọc, Hoàng tử Hương Ba đã kéo Mai Tát nhảy khỏi khu rừng. Bọn họ nhìn thấy xuất hiện cùng mặt trời còn có một chiếc xe tải cải tiến từ xe chở tù. Xe tải lái ra từ cổng nhà tù, trên cửa buồng lái in rõ mấy chữ "Nhà tù Lhasa", nhìn là biết xe sinh hoạt trong nhà tù.
Hoàng tử Hương Ba nói nhỏ: "Chắc chắn là đi chợ mua rau rồi, chặn nó lại, cảnh sát không thể kiểm tra xe trong nhà tù đâu."
Mai Tát nói: "Nhưng tài xế sẽ trực tiếp giao chúng ta cho cảnh sát."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Nói chung là không thể nào, lái xe sinh hoạt đa số đều là quản lý nhà ăn, tivi phát bản tin hay phát lệnh truy nã lúc nhà ăn đang dọn cơm, quản lý không thể về nhà xem tivi được."
Mai Tát nói: "Lỡ như thì sao? Lỡ như anh ta xem báo thì sao?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Em lải nhải gì thế, chúng ta đây là đánh cược tính mạng, chủ yếu xem vận may, nếu 'Cửa ải Thất Độ Mẫu' vẫn cần chúng ta mở ra, Không hành hộ pháp sẽ gia trì vận may cho chúng ta." Vừa nói, vừa khập khiễng đi đến giữa đường lớn, bịch một tiếng quỳ sụp xuống hướng chiếc xe tải đang lái tới, giơ mười tệ lên hô lớn: "Người tốt ơi, người tốt ơi, cho chúng tôi đi nhờ một đoạn đi, ở đây không có xe buýt, cũng không có xe taxi, nhưng chân của tôi, không đi nổi nữa rồi."
Tài xế dừng xe, thò đầu ra từ cửa kính xe, dùng sức xua tay về phía anh, ý bảo anh tránh ra. Anh dập một cái đầu, lại kéo giật Mai Tát quỳ xuống đất.
Tài xế thấy một cô gái xinh đẹp cũng đang dập đầu với mình, trái tim tức khắc mềm nhũn, hỏi rằng: "Hai người là người ở đâu?"
Hoàng tử Hương Ba đứng dậy nói: "Chúng tôi là người gia tộc Vũ Tố, muốn đi cung Potala."
Tài xế nói: "Nhưng tôi không đi cung Potala, tôi phải đi chợ nông sản."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Vừa hay, chúng tôi cũng phải đi chợ nông sản mua một ít đồ cúng cho cung Potala." Vừa nói, vừa đưa mười tệ cho tài xế, ra hiệu cho Mai Tát vào buồng lái, còn mình thì vòng ra phía sau mở cửa thùng xe, nhảy vào trong.
Xe chạy. Mai Tát ngồi ở ghế phụ lái, đôi mắt đẹp chớp chớp, nói cái này cái nọ với tài xế.
Tài xế chốc chốc lại liếc nhìn cô, vui vẻ nói: "Tôi mỗi tuần đi thu mua ba lần, sáng thứ hai, tư, sáu, sau này cô muốn đi nhờ xe, cứ đợi ở cửa nhà tù ấy." Lại nói một lúc lâu sau: "Từ chỗ các cô đến nhà tù, đi bộ ít nhất nửa tiếng, có việc gấp cô gọi điện cho tôi, tôi có thể đón cô." Anh ta đọc một dãy số điện thoại, dặn đi dặn lại, "Cô nhớ lấy, nhất định phải nhớ đấy."
Mai Tát ngoan ngoãn nhắc lại dãy số điện thoại hai lần nói: "Dãy số này em sẽ không bao giờ quên." Vừa nói, vừa cầm lấy chiếc mũ cảnh ngục của tài xế ở trước xe, nghịch ngợm đội lên đầu mình, sau đó lục trong túi xách lấy gương ra soi, hỏi rằng: "Anh xem em có giống cảnh sát không?"
Tài xế liếc nhìn cô, mỉm cười lắc đầu.
Mai Tát nói: "Không giống á? Em biết tại sao không giống rồi, em không mặc đồng phục cảnh sát." Vừa nói, vừa cầm lấy bộ đồng phục cảnh sát từ tựa lưng ghế lái, mặc lên người mình, lại đi soi gương: "Giống không? Vẫn không giống á?"
Vào đúng lúc này, bọn họ đi qua chốt kiểm tra. Cảnh sát chốt chặn vừa nhìn thấy là xe nhà tù, lại nhìn thấy bên cạnh tài xế ngồi một nữ cảnh ngục, vẫy vẫy tay, cho bọn họ đi qua.
Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát thuận lợi đến chợ nông sản.
Tạm biệt tài xế, bọn họ giả vờ cúi đầu chọn rau củ. Khắp nơi đều dán lệnh truy nã, Hoàng tử Hương Ba tiện tay liếc qua đã nhìn thấy hai tờ. Anh bước tới, ghi nhớ số điện thoại tố giác trên lệnh truy nã, nói nhỏ với Mai Tát: "Đi, qua bên đó, bên đó là chợ đầu mối."
Ở chợ đầu mối nông sản, đâu đâu cũng là xe tải chất đầy hàng hóa, có một số đến từ huyện Toilung Dechen, huyện Taktse và huyện Doilungdeqen. Ba huyện này cách Lhasa tương đối gần, có người vận chuyển nông sản như lúa mạch cao nguyên, đậu Hà Lan, khoai tây... do địa phương sản xuất tới Lhasa để bán sỉ. Hoàng tử Hương Ba vừa đến đây đã ngẩng đầu lên, anh cảm thấy cảnh sát Lhasa đã đinh ninh tội phạm trốn chạy vẫn ở Lhasa, thì sẽ không dán lệnh truy nã đến các huyện ngoài. Các tiểu thương buôn bán sỉ ở các huyện ngoài thường cản lộ vào ban đêm, kinh doanh vào buổi sáng, chiều hoặc tối lại vội vàng quay về, không có thời gian xem tivi, đọc báo, cho dù nhìn thấy lệnh truy nã ở chợ đầu mối, cũng không có thời gian rảnh rỗi đọc kỹ, ghi nhớ tướng mạo tội phạm truy nã. Anh dẫn Mai Tát đi dạo khắp nơi, hờ hững nhìn tất cả mọi người, tất cả mọi người cũng hờ hững nhìn bọn họ. Anh yên tâm rồi, mượn điện thoại của Mai Tát, đi về phía một chiếc xe tải đến từ huyện Taktse.
Trong buồng lái xe tải, một người trung niên đội mũ phớt đang gọi điện thoại.
Hoàng tử Hương Ba đứng ngoài xe, mỉm cười nhìn người trung niên, đợi người trung niên gọi điện xong, lập tức bước tới, giơ điện thoại và tờ mười tệ nói: "Ông chủ chào anh, điện thoại của tôi hết pin rồi, tôi có việc gấp, làm phiền dùng điện thoại của anh chút nhé, tôi gửi anh mười tệ."
Người trung niên đưa điện thoại ra ngoài cửa sổ nhưng không nhận tiền: "Tiền điện thoại coi như bỏ đi, huynh đệ."
Hoàng tử Hương Ba cười rạng rỡ khắp mặt, cúi người chắp tay cảm ơn, nhận lấy điện thoại của người ta. Anh đi sang một bên, bấm gọi số điện thoại tố giác trên lệnh truy nã, hạ thấp giọng nói bằng tiếng Tạng: "Người các ông muốn bắt tôi thấy rồi, một nam một phụ, ngay ở cửa tu viện Ganden." Đối phương hỏi anh làm nghề gì. Anh nói làm buôn bán. Lại hỏi anh tên gì, anh nói tôi sợ bị trả thù, không dám nói. Sau đó liền cúp điện thoại.
Hoàng tử Hương Ba trả lại điện thoại, một lần nữa cảm ơn người ta, gọi Mai Tát rời khỏi chợ đầu mối nông sản ngay lập tức.
Mai Tát nói: "Chỉ cần Bích Tú gọi lại một cuộc điện thoại, lập tức sẽ vạch trần trò hề của anh."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Đáng tiếc là số điện thoại tố giác đã không gọi được nữa rồi." Vừa nói vừa xòe năm ngón tay ra, lắc lắc chiếc thẻ sim điện thoại trộm được, cất vào người. "Lúc khác quay lại trả anh ta." Lại nói tiếp: "Lực lượng cảnh sát chủ chốt của đội trinh sát trọng án sẽ nhanh chóng chạy đến tu viện Ganden của huyện Taktse, chỉ cần bớt đi ánh mắt của cảnh sát, hôm nay chúng ta có thể bình an vô sự bước vào cung Potala. Còn về những người dân thường xem lệnh truy nã thì rất dễ qua mặt, tóc giả, kính râm, vải che mặt, ba thứ này là có thể qua mặt được rồi."
5
Bích Tú lái xe vội vã chạy đến giao lộ đường Bắc Linkuo và đường Nam Niangre, ở đó có một chốt kiểm tra, cấp dưới lập chốt gọi điện báo với anh ta rằng bọn họ đã chặn Trí Mỹ và chiếc Cherokee của ông ta lại.
Trí Mỹ vừa nhìn thấy Bích Tú, liền la oai oái lên: "Không bắt được Hoàng tử Hương Ba lại bắt tôi, tôi có phải tội phạm giết người trốn chạy đâu."
Bích Tú nói: "Không phải bắt ông, là tìm ông để hiểu tình hình, Tạng Lỗ Ban Tông vẫn luôn ở cùng ông, sao lại đột nhiên rời khỏi ông?"
"Cô ấy không rời khỏi tôi, chỉ là tạm thời u mê, tưởng rằng Hoàng tử Hương Ba mới là người tình mà cô ấy đang chờ đợi. Cô ấy sẽ quay lại thôi, tôi chạy đông chạy tây chính là để tìm cô ấy."
"Ông không cần tìm nữa." Vừa nói vừa lấy ra một bức ảnh cho ông ta xem.
Trí Mỹ mặt xanh như tàu lá, toàn thân cứng đờ, hồi lâu nghẹn ra được một câu: "Ai làm?"
"Chúng tôi đã trích xuất được vân tay của Hoàng tử Hương Ba trên túi xách và chứng minh thư của cô ấy."
"Vậy sao còn chưa đi bắt?"
"Tìm ông đến chính là để bắt hắn."
"Tìm tôi thì có tích sự gì."
"Chúng tôi thiết lập chốt ở các ngã đường suốt một tuần nay, rà soát tất cả các khách sạn nhà trọ hai lượt, không có tung tích của bọn chúng. Nghe nói ông biết bói toán, ông nên biết bước tiếp theo bọn chúng đi đâu chứ."
"Không biết, có biết cũng không nói cho các anh, tôi tự đi báo thù."
Điện thoại reo lên, là trực ban đội trinh sát trọng án gọi tới, báo cho Bích Tú biết, có người tố giác Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát. Số điện thoại tố giác là ở huyện Taktse, chủ thuê bao tên là Pazar Qünpên, một người làm ăn buôn bán.
Bích Tú nói: "Điện thoại của Taktse, chủ thuê bao của Taktse, tố giác nói nhìn thấy một nam một phụ trên lệnh truy nã ở ngay cửa tu viện Ganden thuộc huyện Taktse, hẳn là đáng tin, bởi vì tu viện Ganden là một trong ba tu viện lớn của Lhasa, là tu viện đứng đầu trong sáu tu viện lớn của phái Gelug, rất có thể đang ẩn giấu 'Cửa ải Thất Độ Mẫu'. Tuy nhiên, vẫn cần phải xác minh lại."
Anh ta xin số điện thoại tố giác từ chỗ nhân viên trực ban Mã Nao Nhi, gọi qua đó, gọi không được liền nhíu mày nói: "Một người làm ăn buôn bán, vốn dĩ là kẻ chỉ biết có lợi nhuận, nếu anh ta đề nghị tiền thưởng, tôi ngược lại sẽ tin. Bây giờ không những cao cả không lấy một xu, còn tắt cả điện thoại, không dám đối mặt với câu hỏi của cảnh sát, tại sao? Hoàng tử Hương Ba là một người thông minh, có thể để người ta dễ dàng nhận ra bọn họ là tội phạm truy nã trên lệnh truy nã sao?" Anh ta cười nhạt, đột nhiên vỗ vai Trí Mỹ nói: "Được rồi, bây giờ không cần ông nữa rồi, bọn chúng tự nhảy ra kìa. Cuộc điện thoại tố giác này chỉ có thể chứng minh Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát vẫn ở Lhasa, lại bắt đầu hành động rồi, muốn chơi chiêu điệu hổ ly sơn đây mà, chuẩn bị làm gì? Chắc chắn là nhằm vào cung Potala rồi, hôm nay là ngày đầu tiên của Đại pháp hội tụng kinh cung Potala."
Trí Mỹ nói: "Giở trò lừa bịp kiểu tiểu học này, đúng là phong cách của Hoàng tử Hương Ba."
Bích Tú nghiến răng, vẻ mặt đánh cược một phen, lập tức thông báo cho cấp dưới: Chỉ giữ lại các chốt kiểm tra dẫn ra ngoài Lhasa, tất cả các chốt trong thành phố đều giải tán, tập trung lực lượng cảnh sát, lao vào cung Potala. Sau đó vứt lại Trí Mỹ, bước qua chui vào xe cảnh sát, nhưng lại không lái đi ngay, một cuộc điện thoại khác đã giữ chân anh ta lại, là Hắc Phương Chi Chủ gọi tới.
Hắc Phương Chi Chủ nói: "Môn Vư Hắc Kiếm, đã nghe nói đến người tên là Maji Aji chưa?"
Bích Tú ngẩn ra một lúc nói: "Đã nghe nói qua, cô ấy là người tình của Thương Ương Gia Thố, là đối tượng từng bị truy sát của 'Điện điện huyết chú người tàng hình'."
Hắc Phương Chi Chủ nói: "Trong có nói, 'Maji Aji, thần hộ giá kim cương của thần quật tạng cung Potala'. Cho thấy cuộc truy sát của chúng ta không hề thành công, Maji Aji vẫn luôn luân hồi. Ngày nay, khi thần quật tạng cung Potala xuất hiện, Maji Aji cũng nên lộ diện rồi."
'Thần hộ giá kim cương của thần quật tạng cung Potala'? Cô ấy ở đâu?"
"Có lẽ sẽ xuất hiện bất cứ lúc nào, có lẽ cho đến khiphục tàng của 'Cửa ải Thất Độ Mẫu' hiện thế mới xuất hiện. còn nói cho chúng ta biết, Maji Aji không chỉ là 'thần hộ giá kim cương của thần quật tạng', mà còn nắm giữ một danh sách hậu duệ của Thương Ương Gia Thố."
Cơ bắp trên mặt Bích Tú run rẩy: Danh sách hậu duệ của Thương Ương Gia Thố? Mặc dù anh ta rất quen thuộc với nội dung của , nhưng chưa bao giờ nhận thức được rằng "danh sách" này sẽ liên quan đến mình.
Giọng nói của Hắc Phương Chi Chủ đột nhiên có chút khàn khàn: "Vốn dĩ ta muốn tự mình ra tay, nhưng suy đi nghĩ lại, cảm thấy cậu ở gần danh sách này hơn ta, dễ thành công hơn. Nhiệm vụ của cậu nặng nề hơn rồi, ngoài việc trừ khử Sát thủ Khô Lâu và Hoàng tử Hương Ba ra, còn phải trừ khử 'thần hộ giá kim cương' Maji Aji của Hoàng tử Hương Ba, lấy được danh sách ghi chép tất cả hậu duệ của Thương Ương Gia Thố đó, danh sách này quan trọng hơn bất kỳ người sống nào, có nắm chắc không? 'Điện huyết chú người tàng hình' đang chờ đợi hộ pháp chủ của nó đấy."
Bích Tú ngẩn người không nói năng gì.
Hắc Phương Chi Chủ nói: "Cậu có phải không nghe hiểu không?"
Bích Tú máy móc nói: "Đã hiểu, tôi biết nên làm thế nào rồi, yên tâm đi, có nắm chắc."
"Tốt, rất tốt, quả nhiên là Môn Vư Hắc Kiếm." Hắc Phương Chi Chủ cúp điện thoại.
Bích Tú không ngờ sứ mệnh giết người lại có thêm phần gia tăng, hơn nữa lại càng ngày càng nặng nề và nghiêm trọng: 'Thần hộ giá kim cương' Maji Aji của Hoàng tử Hương Ba? Danh sách hậu duệ của Thương Ương Gia Thố và tất cả những người trên danh sách? Đều cần Môn Vư Hắc Kiếm từng người từng người một tiêu diệt sạch sẽ sao? Có thể thấy trong mắt chủ nhân Mật đạo vô hình - Hắc Phương Chi Chủ, anh ta quan trọng biết nhường nào. Từ trước đến nay chẳng phải thứ anh ta hy vọng chìm đắm chính là cảm giác được coi trọng, được tin tưởng này hay sao? Anh ta dựa vào "Điện huyết chú người tàng hình" để an thân lập mệnh, sự dựa dẫm như vậy có thể khiến anh ta sinh ra một loại thỏa mãn đối với sứ mệnh thần bí và sự kiêu hãnh nổi bật trong cơ mật.
Anh ta sinh ra ở trang viên cô nhi Shannan, chủ nhân đầu tiên của trang viên cô nhi là Bích Tú La Ba, anh ta là hậu duệ của gia tộc Bích Tú La Ba, bố liền đặt tên cho anh ta là Bích Tú. Năm lên năm tuổi, bố mẹ quỳ lạy dài đến Lhasa hành hương, đi rồi không quay về nữa. Anh ta dọc theo con đường hành hương, đi tìm bố mẹ, đi mất khoảng một năm thì đến Lhasa. Ở đền Jokhang chạm trán với những người đồng hương ở trang viên cô nhi Shannan cũng đến hành hương, mới biết bố mẹ đã bệnh chết ở Lhasa từ lâu rồi. Anh ta không muốn quay về quê hương cô độc, bèn ở lại Lhasa náo nhiệt, thử nghiệm sinh tồn, thử nghiệm tìm kiếm điểm tựa. Bởi vì tìm không thấy mà trở nên vô cùng hung hãn, đánh nhau, đánh nhau, đánh nhau, luôn luôn đánh nhau với người ta, thường xuyên bị người ta đánh cho mặt mày bầm tím, khắp người đầy vết thương. Lúc này anh ta sẽ đến bệnh viện, cởi sạch quần áo đứng canh bên bác sĩ, canh liền nửa ngày trời. Có một lần bác sĩ hỏi: "Cậu muốn làm gì?" "Khám bệnh." "Đã đăng ký chưa?" "Chưa." "Đi đăng ký đi." "Không có tiền." "Không có tiền sao có thể khám bệnh?" "Tôi chảy máu rồi, máu chảy hết là chết đấy, tôi không muốn chết." "Bố mẹ cậu đâu?" Lúc này anh ta khóc, anh ta bị đánh thảm thế nào cũng không khóc, nhưng cứ hễ hỏi đến bố mẹ là anh ta khóc. Bác sĩ đành phải khám bệnh bôi thuốc cho anh ta.
Anh ta từng làm ăn mày, kẻ trộm, từng vào trung tâm giáo dưỡng, cô nhi viện, rồi đi học, trốn học. Năm mười bốn tuổi, đến tu viện Sera làm một tăng nhân tạp dịch. Có lẽ vì tính cách quái gở, ra tay hung hãn, bản tính bướng bỉnh ngỗ ngược, anh ta đã lọt vào mắt xanh của một người bí ẩn nửa tăng nửa tục, dẫn ra ngoài tu viện, đưa vào Mật đạo vô hình của "Điện huyết chú người tàng hình", bắt đầu tu hành tế sát đại pháp bằng phương pháp nguyên thủy cổ xưa nhất. Không lâu sau anh ta nhận được quán đỉnh và tuyên thệ "Lời thề người tàng hình", ban pháp hiệu là Bích Tú Cổn Ba Tư Nhân — chiến thần hộ giáo giống như mũi tên vang. Năm hai tuổi ba, vào những ngày của Đại pháp hội Monlam Chenmo, anh ta đến đền Jokhang bái Phật, bắt gặp hai tốp người ẩu đả, cả hai bên đều dùng đao, anh ta xông ra khuyên can, tước dao của tất cả mọi người, bản thân cũng trúng hai nhát dao. Khi cảnh sát đưa anh ta về đội hình sự lấy lời khai, một đội trưởng nói: "Cậu có biết cậu tước mấy con dao không? Sáu con, lợi hại thật đấy, nếu không phải nhờ cậu, bọn chúng cứ chém qua chém lại thế này, chắc chắn sẽ xảy ra án mạng. Cậu thực sự là một chất liệu làm cảnh sát đấy."
Hai tháng sau, anh ta quả nhiên làm cảnh sát. Sư phụ của anh ta - người bí ẩn nửa tăng nửa tục đã dẫn anh ta vào Mật đạo vô hình của "Điện huyết chú người tàng hình" nói: "Đội hình sự cần cậu, chúng ta cũng cảm thấy cậu đi làm cảnh sát là phù hợp, phải biết rằng đôi khi cảnh sát giết người là có thể không phạm pháp, chúng ta phải chuẩn bị tốt cho 'kế hoạch nhổ tận gốc' trong tương lai. Kể từ bây giờ, cậu chính là thế gian hộ pháp chủ Môn Vư Hắc Kiếm của 'Điện huyết chú người tàng hình', trực tiếp chịu sự chỉ huy của chủ nhân Mật đạo vô hình - Hắc Phương Chi Chủ. Cậu rất có thể sẽ không bao giờ gặp được Hắc Phương Chi Chủ, nhưng cậu phải tuyệt đối trung thành với ngài ấy, giống như trung thành với 'Lời thề người tàng hình' vậy." Lại nói tiếp: "Ta và cậu có duyên với nhau một phen, đến đây giải tán thôi, sau này e là chúng ta sẽ không gặp lại nhau nữa, ta phải đi đến một nơi rất xa rất xa, đi chờ đợi sự khởi đầu của việc quật tạng 'Cửa ải Thất Độ Mẫu'. Hãy ghi nhớ thiên giới của cậu, thiên giới mà phá, quán đỉnh sẽ thu hồi, sự chứng ngộ và viên mãn của tu pháp cũng sẽ trôi đi như nước." Anh ta vâng vâng dạ dạ, dùng gương mặt cứng ngắc thể hiện: Trời có thể phá, thiên giới không thể phá. Thiên giới của anh ta chính là phụ nữ, sư phụ không chỉ một lần nói với anh ta rằng, phụ nữ là khắc tinh trong mệnh của anh ta, bất kỳ người phụ nữ nào đối với anh ta cũng đều là cây gậy tang thương chí mạng, đều có thể gây ra sự sụp đổ tinh thần, hủy diệt sinh mệnh của anh ta. Cho nên trước tiên anh ta bắt buộc phải làm được việc chán ghét phụ nữ, coi phụ nữ như rác rưởi phân thối. "Không thể chấp nhận bất cứ thứ gì của phụ nữ, đặc biệt là trái tim của họ."
Anh ta đã làm theo, không yêu đương, không kết hôn, thậm chí có thể làm được việc nhìn cũng không thèm nhìn phụ nữ một cái. Anh ta tràn trề tinh lực, lại không có tiêu khiển nào khác, toàn bộ thời gian đều dùng vào việc phá án, công việc tự nhiên vô cùng xuất sắc, mấy năm sau đã được điều từ đội hình sự sang đội trinh sát trọng án. Lại mấy năm nữa, liền trở thành đội trưởng phó. Sau khi đội trưởng được đề bạt lên cục, đội trinh sát trọng án liền do anh ta quyết định. Khoảng thời gian này anh ta đã trải qua khảo nghiệm nghiêm khắc, là khảo nghiệm của phụ nữ, khiến anh ta cảm thấy bản thân mình kiên cường và phi phàm, chuyện mà hầu hết mọi người không làm được thì anh ta đã làm được.
Chính là nữ cảnh sát có ngoại hình quyến rũ Mã Nao Nhi trong đội trinh sát đã nảy sinh tình cảm với anh ta, cô ấy mời anh ta đến nhà mình làm món "thịt bốc tay" cho anh ta ăn, vừa ăn vừa uống rượu, cả hai người đều say khướt. Cô ấy mượn hơi men kể lể những điều không phải của anh ta: "Lần đi công tác Aba đó sao anh không dẫn em đi? Em có lòng tốt nấu thịt bò mang cho anh, vậy mà anh lại để nó hỏng trên xe, hỏng đến mức chó cũng không thèm ăn. Anh đi Thành Đô họp, em bảo anh mua cho em một đôi giày, anh nói quên mất, sao của người ta lại không quên? Anh có một viên ngọc mắt mèo, em đòi mấy lần sao anh không cho em? Em lảng vảng trước mắt anh suốt ngày này qua ngày khác, chủ nhật em mặc thường phục đi trên phố, anh thế mà lại không nhận ra? Mời anh đi xem phim sao anh không đi? Hẹn anh đến công viên Long Wang Tsering sao anh lại lừa người ta là có án mạng? Ở đội trinh sát hễ cứ rảnh rỗi là em muốn nói chuyện với anh, anh trốn cái gì mà trốn? Tại sao anh lại để cái người mới tới dọn dẹp văn phòng cho anh? Anh có biết là em muốn dọn không. Anh là một gã độc thân, em giặt quần áo cho anh thì sao chứ? Nhìn cái vẻ căng thẳng của anh kìa. Muốn mời anh ăn cơm mời biết bao nhiêu lần, hôm nay mới chịu đến." Anh ta ngậm miệng không nói, dùng sức uống, cho đến khi cô ấy bước tới ngồi bên cạnh anh ta, bằng sự dịu dàng nóng bỏng của một người phụ nữ Tạng, xé toạc áo sơ mi của anh ta, rút thắt lưng của anh ta ra. Anh ta nói: "Trên thắt lưng có súng, cẩn thận cướp cò." Mã Nao Nhi cứ tưởng anh ta đang nói đôi lời có ẩn ý, bực bội cười nói: "Em không sợ cướp cò." Anh ta gầm lên: "Nhưng tôi sợ, đưa súng cho tôi." Anh ta đẩy cô ấy ra, cướp lấy thắt lưng, thắt lại, mở cửa bước đi. Cho dù đang chìm trong hơi men, anh ta cũng không quên lời dặn dò của sư phụ: Không thể chấp nhận bất cứ thứ gì của phụ nữ, đặc biệt là trái tim của họ.
Ngày hôm sau, anh ta nhận được chiếc áo sơ mi để quên ở nhà Mã Nao Nhi và một mẩu giấy trong văn phòng đội trinh sát trọng án, trên mẩu giấy viết: "Anh không phải là một người Tạng, càng không phải là một người đàn ông." Không phải thì không phải thôi, anh ta thấy vô cái gọi là, đằng nào thì anh ta cũng sẽ không bao giờ làm cái loại chuyện mà phụ nữ hy vọng đàn ông làm. Đối với đàn ông, có lý tưởng của phụ nữ, càng có lý tưởng của tín ngưỡng, anh ta là thế gian hộ pháp chủ Môn Vư Hắc Kiếm của "Điện huyết chú người tàng hình", là người chấp hành "Lời thề người tàng hình", pháp hiệu của anh ta là Bích Tú Cổn Ba Tư Nhân — chiến thần hộ giáo giống như mũi tên vang, người đàn ông như thế này không có thất tình lục dục, sớm đã vượt xa trí tưởng tượng của phụ nữ.
Nhưng mà, Mã Nao Nhi rốt cuộc vẫn là một sự tồn tại không thể xóa nhòa, cô ấy thường xuyên đột ngột xuất hiện trong tâm trí anh ta, ảnh hưởng đến cảm xúc của anh ta, khiến anh ta cảm thấy cho dù cô ấy đại diện cho phiền não, thì đó cũng là phiền não không thể thiếu của bản thân, thiếu đi thì càng phiền não hơn nữa. Tựa như sứ mệnh tôn giáo của anh ta, thiên giới chán ghét phụ nữ xuất phát từ việc tu luyện của anh ta, đều không thể khiến anh ta hoàn toàn thoát khỏi sự vướng bận của tình ái thế tục. Cộng thêm thân phận cảnh sát của mình, yêu cầu không được giết người vô tội bừa bãi, anh ta giống như lún sâu vào vũng bùn lầy, giãy giụa, vẫn luôn giãy giụa.
Lúc này, Bích Tú đang nghĩ đến lời của Hắc Phương Chi Chủ: "'Điện huyết chú người tàng hình' đang chờ đợi hộ pháp chủ của nó." "Tốt lắm, quả nhiên là Môn Vư Hắc Kiếm." Bỗng nhiên có chút sốt ruột: Nhất định đấy nhất định, lần này nhất định phải hoàn thành sứ mệnh. Anh ta lấy điện thoại ra gọi cho các cấp dưới đang vội vã chạy đến cung Potala:
"Phát hiện Hoàng tử Hương Ba thì tạm thời đừng bắt, cậu ta vẫn còn đồng phạm quan trọng hơn, phải coi cậu ta như mồi nhử dụ ra ngoài, tóm gọn một mẻ. Các cậu bám sát cậu ta vào, xem cậu ta tiếp xúc với ai, tất cả những người từng tiếp xúc với cậu ta, đều phải giám sát lại."
Nói xong, Bích Tú kinh ngạc vì bản thân mình vậy mà lại đưa ra một quyết định như thế: Hoãn giết Hoàng tử Hương Ba. Hắc Phương Chi Chủ không hề đưa ra chỉ thị như vậy. Nhưng nếu không hoãn giết, làm sao có thể lấy được danh sách hậu duệ của Thương Ương Gia Thố chứ? Anh ta siết chặt nắm tay giống như đang tự cổ vũ bản thân: Hoãn giết, hoãn giết, chính là nên hoãn giết.
6
A Rược lạt ma và Ô Kiên Lâm Ba ngồi dưới chiếc ô che nắng bên vệ đường, vừa uống sữa chua, vừa quan sát chốt kiểm tra do cảnh sát thiết lập. Đây là ở đường Trung Trung Bắc không xa công đức lâm, lượng xe cộ dày đặc khiến trong ngoài chốt kiểm tra vô cùng chật chội, các đồng chí cảnh sát kiểm tra tỉ mỉ từng chiếc xe đi qua, những chiếc xe đang đợi kiểm tra nhích từng chút một về phía trước. Đột nhiên, chúng không nhích nữa, chúng bất chấp tất cả chạy băng băng. A Rược lạt ma chợt đứng phắt dậy, vươn cổ nhìn một lúc lâu, mới nhận thức được rằng chốt kiểm tra đã được giải tán, cảnh sát biến mất trong chớp mắt.
A Rược lạt ma đương nhiên không cho rằng cảnh sát đã bắt được Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát ở đây, nhưng anh ta biết trong số mấy chục chốt kiểm tra lớn nhỏ trong ngoài Lhasa, chỉ cần một chốt kiểm tra đạt được mục đích, tất cả các chốt kiểm tra sẽ biến mất. Bây giờ chốt kiểm tra biến mất, chứng tỏ Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát rất có thể lại rơi vào lưới tình.
A Rược lạt ma và Ô Kiên Lâm Ba lập tức chui vào chiếc Land Rover đỗ bên đường, chạy như bay suốt dọc đường, đến trước cổng đội trinh sát trọng án. Trong ngoài cổng một mảnh yên bình, một chiếc xe cảnh sát cũng không có.
A Rược lạt ma và Ô Kiên Lâm Ba nghi ngờ nhìn nhau. Lực lượng cảnh sát của đội trinh sát không về, chứng tỏ cảnh sát không bắt được mục tiêu, mà là đã đi đến một nơi mới.
Ô Kiên Lâm Ba trầm ngâm, dùng lòng bàn tay vỗ bốp bốp vào vô lăng.
Đột nhiên vang lên một tiếng Phạn âm u tịch hoang vắng, có tin nhắn rồi. A Rược lạt ma lấy điện thoại ra nhanh chóng liếc nhìn một cái, đang định nói với Ô Kiên Lâm Ba, thì nghe thấy một tiếng còi xe, chiếc xe cảnh sát Land Rover đỗ ngay bên đường. Vương Nham và Trác Mã xuống xe, bước tới. A Rược lạt ma lịch sự bước ra khỏi xe Land Rover, nghênh đón hai vị cảnh sát đồng hành suốt dọc đường.
Vương Nham nhìn về phía cổng đội trinh sát trọng án: "Hoàng tử Hương Ba đâu?"
A Rược lạt ma nói: "Cảnh sát đều không có mục tiêu, chúng tôi làm sao mà biết được?"
Vương Nham nói: "Lạt ma là tiên tri, là nhà dự ngôn, các ông nằm ngủ một giấc là có thể mơ thấy Hoàng tử Hương Ba đã đi đâu rồi."
A Rược lạt ma nói: "Giấc mơ của chúng tôi đương nhiên sẽ có sự hiển hiện của đại nguyện pháp lực, chúng sinh hộ chủ biến tri tất cả luôn sẽ đưa ra minh thị hữu ích cho chúng tôi vào thời khắc quan trọng. Nhưng bây giờ không phải lúc ngủ mơ, chúng ta vẫn còn trí tuệ và minh thị đang đi tới tương hỗ thành chứng ấn. Người có trí tuệ, tuyệt đối sẽ không để Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát dừng hành động trước khi 'Cửa ải Thất Độ Mẫu' mở ra."
Vương Nham mỉm cười gật đầu: "Trí tuệ của các ông là trí tuệ của Phật, cho nên chúng tôi vẫn luôn nghe theo sự chỉ huy của các ông, nhưng bây giờ có một việc ông bắt buộc phải nghe theo chúng tôi." Vừa nói, vừa túm lấy áo cà sa của A Rược lạt ma kéo phăng đi: "Đi lên xe chúng tôi, cởi áo cà sa của ông ra."
A Rược lạt ma không chịu. Vương Nham kẹp lấy cánh tay anh ta, Trác Mã từ phía sau ôm ngang thắt lưng. Hai người người đẩy kẻ kéo, cứng rắn nhét A Rược lạt ma vào trong xe cảnh sát Land Rover. Sau đó người trước người sau đè lên anh ta, xé toạc áo cà sa và nội y của anh ta.
Thịt da lộ ra, động trời kinh hãi, dày đặc toàn là những vết thương đã lành. Vương Nham và Trác Mã ngây người ngẩn ngơ, nhất thời đều không biết phải làm sao cho phải. Bọn họ hy vọng thông qua khắp người đầy vết sẹo để xác minh xem ai là Ô Kiên lạt ma, rồi bắt về quy án, nhưng khi sự xác minh đột nhiên ập đến, bọn họ ngược lại không dám tin nữa.
Vương Nham nói: "Ogyen lạt ma từng tự sát một lần ở quảng trường bên ngoài 'Trung tâm tọa thiền Bắc Mỹ U Đượng Na', khi tự sát dùng dao đâm lên người mình bảy bảy bốn mươi chín lỗ máu, từ đó bốn mươi chín vết dao ấy đã trở thành ký hiệu của Ogyen lạt ma mà diễn hóa ra những Ogyen lạt ma ở các độ tuổi khác nhau, quốc tịch khác nhau. Nay ký hiệu đã dán lên người anh, anh đã thành Ogyen lạt ma, anh còn gì để ngụy biện nữa? Đừng nhúc nhích, để tôi đếm xem có đúng là bốn mươi chín vết thương không."
A Rược lạt ma giãy giụa: "Kẻ tạo nghiệp ác, các người sao lại dám vô lễ như vậy, pháp thể của người tu hành là không thể bị mạo phạm."
Vương Nham lại nói: "Liên minh tín ngưỡng mới đã cho anh lợi ích gì, mà anh lại hùa theo giặc, gây ra án mạng, khoác chiếc áo cà sa của lạt ma mà làm những chuyện bỉ ổi của ma quỷ. May là chúng tôi đã kịp thời vạch trần anh, ngày tháng hoành hành của anh sẽ không còn nữa."
Ô Kiên Lâm Ba và mấy lạt ma Ung Hòa Cung khác lao tới, giằng Vương Nham ra khỏi cửa xe, xô ngã xuống đất, kéo A Rược lạt ma ra, đỡ hắn chui vào xe chim lạt ma.
Vương Nham bò dậy, rút súng ra định bắn.
Trác Mã nói: "Đội trưởng Vương, đếm rõ vết thương trên người hắn rồi hãy bắn."
Vương Nham nói: "Cũng phải."
Hai cảnh sát đuổi theo. Xe chim lạt ma đã khởi động. Vương Nham bắn một phát về phía lốp ô tô nhưng không trúng, vội vàng cùng Trác Mã quay lại xe cảnh sát Land Rover, lái đuổi theo ngay.
Trác Mã nói: "E rằng chúng ta đuổi không kịp nữa rồi."
Vương Nham nói: "Tại sao?"
Trác Mã chỉ vào bảng đồng hồ nói: "Phải đổ xăng thôi."
Vương Nham nói: "Vậy thì đi đổ xăng trước đã. A Rược lạt ma, không, mục đích của Ogyen lạt ma vẫn chưa đạt được, chừng nào hoàng tử Hương Ba chưa dừng việc quật tạng, Ogyen lạt ma vẫn sẽ xuất hiện."
Trong xe chim lạt ma, A Rược lạt ma vừa chỉnh lại tấm cà sa và áo lót bị giằng rách, vừa thở hồng hộc nói: "Nhanh lên, nhanh lên."
Ô Kiên Lâm Ba hỏi: "Đi đâu?"
A Rược lạt ma lấy điện thoại ra, lớn tiếng đọc tin nhắn lúc nãy chưa kịp nói cho Ô Kiên Lâm Ba nghe:
Bất Động Phật minh thị: Cung Potala.
Hắn lại nói: "Hôm nay là ngày bắt đầu đại pháp hội tụng kinh của cung Potala, một nghìn kẻ bội thề sẽ mang theo chất nổ buộc vào người theo lệnh của tổ tiên bước vào hội trường, cùng châm ngòi nổ tung vào trước khi mặt trời lặn. Đây là lời cảnh báo của cuốn 《Địa hạ dự ngôn》, cảnh sát không hề biết, có biết cũng không tin, nhưng đối với anh và tôi, nó là kiến thức thông thường."
Ô Kiên Lâm Ba nói: "Nhưng 《Địa hạ dự ngôn》 lại nói, trong một nghìn kẻ bội thề chỉ có duy nhất một thủ lĩnh, hễ hắn mất đi truyền thừa bội thề hoặc chết đi, lệnh nổ tung sẽ không thể phát ra."
A Rược lạt ma nói: "Không ai biết thủ lĩnh này là ai, đã chết chưa, hay đã mất truyền thừa rồi."
Ô Kiên Lâm Ba nói: "Cho dù 《Địa hạ dự ngôn》 từ mấy trăm năm trước có biến thành hiện thực vào ngày hôm nay, thì nó có liên quan gì đến chúng ta? Chúng ta đến để mở 'Cửa thất độ mẫu' cơ mà."
A Rược lạt ma đầy vẻ lo âu nói: "Sắp xếp của Bất Động Phật không thể không nghe, đi thôi."
Ô Kiên Lâm Ba nói: "Đợi đã, lẽ ra vẫn nên có một người có thể mở 'Cửa thất độ mẫu', nhỡ may hoàng tử Hương Ba xảy ra chuyện gì, chúng ta đỡ phải công cốc." Nói đoạn, hắn rút điện thoại gọi cho Trí Mỹ: "Cậu ở đâu? Đã tìm thấy hoàng tử Hương Ba chưa?"
Trí Mỹ nói: "Sao cậu biết tôi đang tìm hắn?"
Ô Kiên Lâm Ba nói: "Hắn có 'Sổ tay' mở 'Cửa thất độ mẫu', bản thân hắn chính là 'Sổ tay'."
Trí Mỹ nói: "Hoàng tử Hương Ba vốn chẳng phải là tham chiếu để khai quật phục tạng gì cả, bói thần của tôi đã an trụ trong tim rồi, bây giờ tôi chẳng dựa vào ai nữa. Tôi tìm hắn là để trả thù, hắn đã cướp Mai Tát từ tay tôi, bây giờ lại còn giết chết Sang Lỗ Ban Tông."
Ô Kiên Lâm Ba sờ chuỗi hạt gỗ đàn hương khảm dạ quang thạch mắt mèo trước ngực, trầm mặc một lúc rồi nói: "Tôi cũng nghe nói Sang Lỗ Ban Tông chết rồi, cái chết của cô ấy cậu có phần trách nhiệm. Lẽ ra tôi không nên giới thiệu cô ấy cho cậu, bởi vì... bởi vì cậu hoàn toàn không thể sánh với hoàng tử Hương Ba, người cuối cùng có được phục tạng không phải là cậu."
Phép khích tướng này quả nhiên có hiệu quả, Trí Mỹ nói: "Vậy thì cứ chờ mà xem, tôi sẽ kịp thời thông báo kết quả khai quật của mình cho cậu, bây giờ, tôi phải đến cung Potala đây."
Ô Kiên Lâm Ba cúp điện thoại nói: "Có cần thông báo cho Vương Nham và Trác Mã không? Chỉ dựa vào hai chúng ta e rằng không thể ngăn cản Bích Tú bắt giữ hoàng tử Hương Ba."
A Rược lạt ma "hừ" một tiếng nói: "Cậu đúng là cao nhân giấu mặt, bây giờ cuối cùng cũng sắp thể hiện sự thông minh tài trí rồi đấy. Bước đi này rất hay, dùng hai tên cảnh sát bên ngoài để kiềm chế phó đội trưởng Bích Tú. Người tu hành, chính là phải tận dụng tất cả mọi nhân duyên." Hắn lấy điện thoại ra, không nói gì cả, chỉ chuyển tiếp tin nhắn "Bất Động Phật minh thị" cho Vương Nham.
Các ngả đường đều đang lao về hướng cung Potala. Cung Potala sừng sững trên chốn huy hoàng, giống như thiên đường thám hiểm Himalaya, vừa nguy hiểm vừa mê hoặc.