Phục Tạng

Lượt đọc: 8 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 12
Nước Mắt Của Sơn Tiêu

❊ ❊ ❊

Hoàng tử Hương Ba rút điện thoại ra gọi cho Pưn Tso, đầu dây bên kia có chuông nhưng không ai bắt máy, gọi mấy lần liền, mới thốt ra một giọng nói mỏng manh tựa tơ nhện:

"Em vẫn không quen anh dùng điện thoại của người khác, nghĩ nửa ngày mới dám nghe máy."

Hoàng tử Hương Ba nói: "Điện thoại của thầy Biên Ba dùng rất tốt, anh thích nó, em cứ quen dần đi, nhớ mấy con số phía sau là '2452', chính là 'Yêu chết tôi yêu'."

Pưn Tso nói: "'Yêu chết tôi yêu'? Anh nói vậy khiến em thật sự không nỡ xa anh rồi đấy."

"Không nỡ xa anh ư? Vui quá nhỉ."

"Anh chẳng phải đã nói là sẽ kể cho em nghe câu chuyện về Bích Tú Lạp Ba sao?"

"Đúng vậy, đúng vậy, có lẽ sẽ có ích cho em, có lẽ câu chuyện của Bích Tú Lạp Ba chính là một chiếc bậc thang, em sẽ theo đó mà bước xuống từ nóc tòa nhà cao ba mươi sáu tầng, có lẽ..."

"Sẽ không lại là bài giảng đạo của lạt ma đấy chứ?"

"Không đâu, là chuyện xưa."

"Vậy mau kể đi, em muốn biết câu chuyện cuối cùng ở cõi người này có thể làm em cảm động hay không, nếu có thể làm em cảm động, em sẽ không nhảy nữa, nếu không thể làm em cảm động, em sẽ nhảy xuống ngay lập tức. Em giao sinh mạng của mình cho anh rồi đấy."

Hoàng tử Hương Ba trầm ngâm một lát rồi nói: "Bích Tú Lạp Ba từng là một tên ăn mày đi khất thực bốn phương, có một hôm hắn dẫn vợ trở về quê nhà Sơn Nam của mình, thì chạm trán với thiên hộ Nữ Đan đang phạt một thợ săn ở nơi mổ xẻ gia súc. Thợ săn đã bắn chết một con gấu nâu, đó là con vật đi theo hộ vệ thần núi. Thần núi trút giận lên trang viên Nữ Đan, khiến hơn chục người bao gồm cả con trai lớn của thiên hộ Nữ Đan bị lây bệnh hủi làm thối rữa linh hồn. Vào thời điểm đó, bệnh hủi là căn bệnh vô phương cứu chữa, cách duy nhất là dùng máu thịt của thợ săn để tế thần núi, cầu xin sự tha thứ, sau đó trói những người mắc bệnh lại rồi cõng vào sâu trong núi, mặc cho họ bị đông cứng mà chết, đói mà chết, hoặc bị dã thú ăn thịt. Bích Tú Lạp Ba dùng chất giọng khàn đặc nhỏ đến mức gần như không nghe rõ, khó nhọc nói: 'Nếu đại nhân thiên hộ phát thệ trước Phật là không giết thợ săn này, thì linh hồn bị thối rữa sẽ được chữa lành, người bệnh sẽ nhanh chóng khỏe lại.' Thiên hộ Nữ Đan nói: 'Dựa vào cái gì mà ta phải nghe lời một tên ăn mày?' Bích Tú Lạp Ba nói: 'Nếu bệnh của người bệnh bảy ngày không thấy thợ lặn khỏi, ngài hãy lột da tôi xuống, dùng thân thể đẫm máu không da của tôi để tế thần núi.'"

"Bảy ngày trôi qua, mười mấy bệnh nhân phong không những không khỏe lên, ngược lại còn trầm trọng hơn, thậm chí có một người đã chết. Thiên hộ Nữ Đan sai người bắt Bích Tú Lạp Ba lại, người bị bắt cùng lúc đó còn có cả vợ của thợ săn. Thiên hộ Nữ Đan nói: 'Ta phát thệ với Phật là không giết thợ săn, chứ không phát thệ là không giết vợ của thợ săn.' Lại chỉ vào Bích Tú Lạp Ba mà hỏi: 'Ngươi tự chọn đi, là muốn sống mà lột da, hay là chết rồi mới lột da?' Câu trả lời của Bích Tú Lạp Ba khàn đặc nhỏ bé tựa như tiếng rên rỉ vì đau đớn, nhưng vẫn đong đầy sức mạnh: 'Đương nhiên là sống sờ sờ lột da tôi rồi, da của người chết thì không lột xuống được đâu.' Phương pháp lột da là trói người sống vào cột lột da, dùng dao rạch một đường máu từ trán qua đỉnh đầu, sau đó ra phía sau gáy cho đến cổ, rồi rưới bơ đun sôi lên, chỗ nào bơ thấm vào, da thịt chỗ đó sẽ nứt toác ra. Có đôi khi, da người mới lột được một nửa, người ta đã đau cho đến chết rồi, có đôi khi toàn bộ tấm da người đã bong hẳn xuống, người vẫn chưa chết, đành phải chờ cho cạn máu mà chết."

"Thiên hộ Nữ Đan đã sai người đun sôi bơ, chỉ chờ rạch vết máu rồi rưới lên đầu. Bích Tú Lạp Ba nói: 'Nếu đại nhân thiên hộ phát thệ trước Phật là không giết vợ của thợ săn, tôi sẽ có cách tự mình lột da mình xuống.' Thiên hộ Nữ Đan nói: 'Ta từ trước tới nay chưa từng nghe nói có kẻ tự lột da mình, hôm nay ngược lại phải mở mang tầm mắt.' Thế là bèn phát thệ trước Phật là không giết vợ của thợ săn. Bích Tú Lạp Ba dùng sức bảo hắn: 'Cách lột da của tôi chính là từ bây giờ bắt đầu không ăn không uống, chờ đến khi đói đến mức da bọc xương, thì tự cắn nát miệng mình, từ trên miệng kéo ngược xuống dưới, toàn bộ tấm da người sẽ bong ra.' Thiên hộ Nữ Đan bèn mặc cho Bích Tú Lạp Ba chịu đói, nửa tháng không ăn không uống, bộ dạng da bọc xương đã hiện ra. Bích Tú Lạp Ba vẫn còn sống, nhưng đã không còn cắn nổi chính mình nữa rồi. Bích Tú Lạp Ba nói: 'Tôi đã không còn tự lột da mình được nữa rồi, ngài vẫn là nuôi tôi có thịt đi đã, vật tế không có thịt thì thần núi sẽ không thèm đếm xỉa đâu.' Thiên hộ Nữ Đan nói: 'Ta bây giờ hận thấu xương cái tên lừa đảo là ngươi rồi, ta chính là muốn nuôi ngươi, nuôi cho có thịt rồi lại hành hạ ngươi, đến lúc đó ta sẽ cho ngươi muốn chết không được, muốn sống không xong.'"

"Một tháng sau, Bích Tú Lạp Ba với cơ thể đã hồi phục lại bị thiên hộ Nữ Đan dẫn đến nơi mổ xẻ gia súc, người được dẫn đi cùng còn có cả đứa con của thợ săn. Thiên hộ Nữ Đan nói: 'Ta đã phát thệ trước Phật là không giết vợ của thợ săn, nhưng không phát thệ là không giết con của thợ săn. Thịt của trẻ con rất non mềm, là vật tế mà thần núi thích nhất.' Bích Tú Lạp Ba bày tỏ: 'Nếu thần núi đã ăn quen thịt trẻ con, tất cả trẻ con trong trang viên kể cả con của đại nhân thiên hộ đều sẽ bị ăn thịt. Tại sao không dùng thịt của tôi để thay thế chứ? Cho tôi một con dao, tôi sẽ tự cắt thịt mình xuống.' Thiên hộ Nữ Đan đưa cho hắn một con dao, hắn lại nói: 'Xin thiên hộ Nữ Đan ban cho vợ tôi một bát cơm, cô ấy đang mang thai, tôi đã an trí cô ấy ở nhà của một người tốt bụng, sẵn sàng chăm sóc cô ấy rồi.' Nói xong giơ dao tự cắt, trên cánh tay tức thì máu chảy đầm đìa. Lúc này thiên hộ Nữ Đan nhào tới ôm chầm lấy Bích Tú Lạp Ba, lớn tiếng kêu lên: 'Ăn mày, ăn mày, ngươi đừng làm thế.'"

"Bích Tú Lạp Ba đẩy thiên hộ Nữ Đan ra, với giọng điệu còn khàn đặc hơn trước đây nói: 'Tại sao không để tôi chết?' Thiên hộ Nữ Đan nói: 'Ngươi là một kẻ không sợ chết, ta thích những kẻ không sợ chết, ta bây giờ không những không phạt ngươi, mà còn thưởng cho ngươi, ngươi nói xem ngươi muốn cái gì?' Bích Tú Lạp Ba không chút do dự vừa khoa tay múa chân vừa nói: 'Tôi muốn hơn chục bệnh nhân phong bao gồm cả con trai lớn của ngài, tôi muốn ở cùng với họ, tôi muốn chăm sóc họ.' Thiên hộ Nữ Đan đồng ý, bèn giao những bệnh nhân đó cùng một ít thức ăn cho Bích Tú Lạp Ba."

"Gia đình Bích Tú Lạp Ba và mười mấy bệnh nhân phong đó đã sống cùng nhau suốt mười hai năm, cho đến khi những người bệnh lần lượt qua đời. Khi người bệnh cuối cùng được Bích Tú Lạp Ba cõng lên đài thiên táng, thiên hộ Nữ Đan tuổi già sức yếu đã đem một phần ba lãnh thổ của trang viên tặng cho Bích Tú Lạp Ba. Hắn nói: 'Ta đã nhìn ra rồi, ngươi chính là Phật Bồ Tát giáng thế, ta muốn cúng dường ngươi, xin ngươi hãy cầu nguyện cho ta, để kiếp sau ta vẫn có thể trở thành chủ nhân của trang viên Nữ Đan.' Bích Tú Lạp Ba dùng chất giọng khàn đặc hơi thở không thông nói: 'Tôi không phải Phật Bồ Tát giáng thế, nhưng tôi có thể cầu nguyện cho ngài.' Sau đó chấp nhận lãnh thổ này, và gọi nó là trang viên Cô Nhi. Bởi vì lúc này, gia đình Bích Tú Lạp Ba đã nhận nuôi một đám đông lớn trẻ mồ côi đến từ khắp nơi trên Tây Tạng. Đây chính là viện mồ côi đầu tiên trong lịch sử Tây Tạng."

"Bích Tú Lạp Ba cho rằng, Phật giáo Tây Tạng chú trọng việc kiến tạo tâm hồn hòa bình ít ham muốn, khải thị con người giải thoát khỏi phiền não, siêu việt khỏi đau khổ, điều này là thành công. Nhưng với tư cách là một chính quyền Phật giáo, chỉ đề cao sự an phận thủ thường, nhẫn nhịn nghèo hèn, không dốc sức giải quyết nỗi thống khổ sinh kế của dân chúng, thay đổi hiện trạng nghèo đói xã hội, để mặc rất nhiều người giãy giụa dưới vạch no đủ, điều này là thất bại, là sự thất bại của cửa Phật. Bích Tú Lạp Ba sau khi có được lãnh thổ của riêng mình, lập tức chia nó thành những khoảnh nhỏ, phân phát cho những đứa trẻ mồ côi đó, lại chiêu mộ thêm một số kẻ ăn mày trưởng thành, hướng dẫn bọn trẻ mồ côi cày cấy. Chuyện này xảy ra vào ba trăm năm trước, đại khái là lần đầu tiên xuất hiện 'chia ruộng đến hộ' trong lịch sử Tây Tạng nói riêng và Trung Quốc nói chung. Nhưng kết quả lại không tốt đẹp gì, giữa những đứa trẻ mồ côi với nhau, giữa những kẻ ăn mày với nhau nhanh chóng bắt đầu kết bè kết phái, rồi sau đó là chiếm đoạt ruộng đất của người khác. Bích Tú Lạp Ba đành phải thu hồi lại số ruộng đất đã phân phát, rồi phân phối lại lần nữa. Về sau lại xuất hiện tình trạng bỏ hoang ruộng đất ngừng cày cấy, có một số kẻ bản tính lười biếng, vứt bỏ ruộng đất không trồng, thà rằng đi làm kẻ ăn mày chịu đựng ánh mắt xem thường của người đời. Bích Tú Lạp Ba bèn đem ruộng đất bị vứt bỏ cho những người sẵn lòng trồng trọt thuê lại, rồi thu tô đem đi bố thí cho người ăn mày."

"Nhưng dù sao đi nữa, trang viên Cô Nhi rốt cuộc cũng là nơi mọi người đều có cơm ăn, có áo mặc. Những người chăm chỉ ngoài việc làm ruộng, còn có thể chăn bò chăn cừu. Rất nhiều người đem vàng bạc đổi được từ lương thực và gia súc giao cho Bích Tú Lạp Ba, họ nói: 'Hãy gom góp số vàng bạc này lại đi, trang viên Cô Nhi nên có một ngôi chùa miếu.' Bích Tú Lạp Ba liền dùng gỗ chế tạo ra hai ống heo đất, một cái gom vàng, một cái gom bạc. Vẫn chưa gom đủ, năm tai họa đã ập đến. Bích Tú Lạp Ba đập vỡ hai ống heo đất, lấy vàng và bạc ra, đổi lấy lương thực từ các trang viên khác, bố thí cho những người dân đói khát từ khắp nơi đổ xô đến tìm mình. Vàng bạc cứ thế mà hết sạch, chùa miếu không được xây lên, tiếp theo lại là dịch tả trâu bò, bò cừu của trang viên Cô Nhi chết sạch. Hầu như tất cả mọi người đều trách cứ Bích Tú Lạp Ba: Chính anh đã tiêu sạch số vàng bạc dùng để xây dựng tu viện, chính anh đã khiến chúng ta mất đi sự bảo hộ của chùa Phật tăng Phật. Sự trách cứ như vậy đi kèm với tai họa ngày một trầm trọng: Có người chết vì dịch tả trâu bò, liên tiếp mấy ngày, ngày nào cũng có. Một tiếng gọi từ trong tâm hồn tăm tối lặng lẽ trồi lên: Tạ tội, tạ tội, ai đắc tội với thần Phật, người đó phải lấy thân tạ tội."

"Có một hôm, mấy kẻ ác vong ân bội nghĩa tóm lấy Bích Tú Lạp Ba từ ngoài đồng ruộng, lột sạch quần áo của hắn, trói lại, ném vào hố bọ cạp mà bọn chúng đã chuẩn bị sẵn từ trước. Hàng ngàn con bọ cạp đen bò lúc nhúc trong hang, bò kín khắp cơ thể trần trụi của Bích Tú Lạp Ba. Hai ngày sau, người nhà của Bích Tú Lạp Ba tìm thấy hắn, nhìn thấy trên người hắn mụn nhọc chồng chất, độc bọ cạp tàn phá khiến hắn đãoi ngóp hấp hối. Mấy tên ác nhân sợ bị Bích Tú Lạp Ba trừng phạt, vứt bỏ vợ con trốn khỏi trang viên Cô Nhi. Sau khi cơ thể hồi phục, Bích Tú Lạp Ba tự mình đi tìm bọn chúng, dùng chất giọng khàn đặc nhỏ bé quen thuộc đứt quãng nói: 'Trên đời không có kẻ lòng dạ sắt đá nào ném ân nhân vào hố bọ cạp cả, là tôi bất cẩn ngã vào đấy thôi.' Những kẻ ác đó sau này đều biến thành những con người tốt biết ơn đền ơn."

"Ở Tây Tạng, bất kể là người giàu hay người nghèo, đều thích quyên góp tiền bạc vật dụng cho chùa miếu, cho rằng như vậy có thể tránh được tai ương, tích lũy công đức. Cho nên bất kể là vùng đất giàu hay nghèo, trang viên lớn hay nhỏ, chùa miếu đều được xây dựng vô cùng lộng lẫy nguy nga. Duy chỉ có Bích Tú Lạp Ba là hờ hững với việc xây dựng chùa miếu, có phải là hắn không thành kính với Phật không? Chắc chắn không phải, ngày nào hắn cũng dập đầu bái lạy trước thần sơn Nhã Lạp Hương Ba, bảo với người khác rằng: 'Phật ở ngay trên núi, ngài ban cho chúng ta rừng cây và nước tuyết, ban cho chúng ta mặt trời và sự thay đổi của bốn mùa, ban cho chúng ta hoa màu và những ngày tháng sung túc, Phật ở ngay trên núi.' Bích Tú Lạp Ba đem tự nhiên và thần Phật gom lại làm một, lạy núi chính là lạy Phật, tự nhiên không cần thiết phải xây dựng chùa miếu, lập ra ngọn núi khác nữa."

"Gia đình của Bích Tú Lạp Ba nhân đinh cực kỳ hưng vượng, có bảy người con gái, bốn người con trai, hơn nữa đều do một người vợ sinh ra, điều này cho thấy vợ của Bích Tú Lạp Ba là một người có năng lực sinh sản cực kỳ mạnh mẽ. Về người phụ nữ này, truyền thuyết rất ít, chúng ta chỉ biết Bích Tú Lạp Ba vì bà ấy mà chết, bà ấy sống thọ, chết sau Bích Tú Lạp Ba. Khi đó, Bích Tú Lạp Ba đã sáu mươi tư tuổi, người đàn ông sáu mươi tư tuổi ấy vẫn duy trì thói quen đi vào núi hái hoa cho vợ mình. Trước đây mỗi năm ông đi ba lần, năm nay đi bốn lần. Lần thứ tư là lần không nên đi, đi rồi thì xảy ra chuyện. Có một loài hoa đỗ quyên mang tên hoa khiết băng mọc trên vách đá đường ranh giới tuyết, vàng óng ánh vô cùng đẹp mắt, nở hoa rồi mới có thể hái, hái về một tháng không tàn. Bích Tú Lạp Ba chính là vì nó mà đi. Năm đó nó nở đặc biệt kiều diễm, cũng đặc biệt hiếm hoi, Bích Tú Lạp Ba mãi mới tìm được một đoa, hưng phấn trèo lên bám lấy. Vách đá dùng những tảng đá tơi xốp đẩy ông ra, ông rơi xuống, ngã chết dưới vực sâu trăm mét. Bích Tú Lạp Ba trời không sợ đất không sợ, bao nhiêu lần vào sinh ra tử, hoàn toàn là hình tượng của một đại trượng phu đầu đội trời chân đạp đất, cuối cùng lại chết vì hái hoa, một đóa hoa khiết băng đã dùng vẻ kiều mị thướt tha của nó quyến rũ sinh mạng của ông."

Hoàng tử Hương Ba cảm thấy đối phương đã im lặng rất lâu, bấy giờ mới hỏi: "Em đang nghe chứ?"

Pưn Tso hồi lâu mới đáp: "Đang nghe."

Hoàng tử Hương Ba hỏi: "Có cảm động không?"

Trong tai truyền đến tiếng nức nở của Pưn Tso.

Hoàng tử Hương Ba thở dài một hơi: "Em đã nói câu chuyện cuối cùng ở cõi người nếu làm em cảm động thì em sẽ không nhảy nữa, bây giờ không nhảy nữa đúng không?"

"Nhưng em còn nói, nếu không làm em cảm động, em sẽ nhảy xuống ngay lập tức. Em giao sinh mạng của mình cho anh rồi mà."

"Đúng vậy, đúng vậy, anh không phụ lòng em, em đã khóc, em đã bị cảm động rồi."

"Không, không cảm động chút nào cả, em khóc là vì lúc em giao sinh mạng của mình cho anh, anh căn bản không cứu nổi em. Em sắp nhảy xuống từ nóc tòa nhà cao ba mươi sáu tầng rồi, vậy mà anh lại đang bịa ra cho em một câu chuyện vô dụng về Bích Tú Lạp Ba, anh khiến em càng thêm tuyệt vọng, đây là sự tuyệt vọng cuối cùng cũng là sâu sắc nhất."

Hoàng tử Hương Ba sốt ruột dậm chân đành đạch: "Có lẽ câu chuyện không thể làm em cảm động, nhưng nó tuyệt đối không phải bịa đặt, đó là người thật việc thật của Bích Tú Lạp Ba. Bích Tú Lạp Ba vào năm sáu mươi tư tuổi vì hái hoa cho người yêu mà chết, điều này giống như anh vậy, anh cũng sẽ vì em mà hái hoa cho đến chết."

Trầm lặng. Pưn Tso ở đằng xa đang trầm lặng, Mai Tát ở bên cạnh cậu ấy cũng đang trầm lặng. Nhưng anh biết, đằng sau sự trầm lặng là tiếng sóng vỗ cuồn cuộn, một tiếng ầm vang, sông Lhasa dội ngược lên tận trời cao.

Hồi lâu sau, Pưn Tso mới nói: "Nói như vậy, là tình yêu đang nói chuyện với em sao?"

Hoàng tử Hương Ba nói: "Đúng vậy, anh đã yêu em nhiều đến thế, em còn muốn đi tìm cái chết nữa không? Nói đi, sao em không nói gì, em còn muốn chết nữa không?"

Vẫn là giọng nói mỏng manh tựa tơ nhện: "Không muốn nữa."

"Thật chứ?"

"Em sẽ ở đây đợi anh sống đến năm sáu mươi tư tuổi, rồi hái hoa cho em." Pưn Tso nói xong, bèn cất tiếng khóc oà lên. Tựa như sự áp bức và u uất đột nhiên tìm được lối thoát, ào một cái, dòng nước lũ tuôn trào, những con sóng dữ cuồn cuộn trôi đi. Tiếp theo đó là sự bình yên, sự bình yên trong trẻo phẳng lặng, đẹp đến nao lòng.

Niềm vui sướng thật to lớn và ấm áp, điện thoại thật tốt, sóng điện thật tốt, sau khi truyền đi sự bất hạnh, lại truyền đi sự bất tử. Pưn Tso được cứu rồi, mặc dù lúc này Pưn Tso đã cúp điện thoại. Nhưng hoàng tử Hương Ba biết bây giờ cô ấy cần được yên tĩnh một lát, sau khi yên tĩnh lại, nhất định sẽ gọi lại: Đã từ trên nóc tòa nhà đi xuống rồi, đã về nhà rồi, tin tốt lành.

"Mai Tát, Pưn Tso không nhảy nữa." Hoàng tử Hương Ba ha ha cười lớn, trong khoảnh khắc quên hết mọi chuyện không vui.

Mai Tát trân trân nhìn anh, giống như đang nhìn một kẻ xa lạ: "Anh thực sự sẽ vì cô ta mà hái hoa đến chết sao?"

Thần sắc của hoàng tử Hương Ba bi thương mà tĩnh lặng: "Thật chứ, chuyện này không thể là giả được."

"Anh chỉ giỏi cái thói đầu môi chót lưỡi, biết hát biết nói."

"Em tin hay không cũng mặc, anh cũng sẽ vì em mà hái hoa cho đến chết."

Mai Tát cười nhạt: "Đừng nói mấy lời vô tích sự này nữa, mau quay về đối mặt với tai họa của chúng ta đi, 'Văn tự thấu quang' ở đâu?"

Trong lòng hoàng tử Hương Ba khẽ thắt lại, nhìn thấy bóng u ám đang lơ lửng ngay trên đỉnh đầu, nỗi bi thương và chán nản tột cùng lại ập tới, tê liệt cả tinh thần lẫn thể xác của anh. Anh lập tức ỉu xìu cúi đầu, chán chường rũ rượi.

2

Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát không quay lại khách sạn Tạng Hồng Hoa nữa, mà lái chiếc Wrangler ra bãi cây bên cạnh khu Lô Bân Khả (Norbulingka), ngẩn ngơ nửa ngủ nửa thức đến tận sáng hôm sau. Mặt trời đã lên giữa đỉnh đầu, bầu trời xanh trong suốt, Lhasa đang điểm tô cho chính mình bằng vẻ tinh khiết và quang đãng tột cùng. Tâm trạng của Mai Tát có lẽ vẫn chưa tuyệt vọng đến cùng cực, bèn xuống xe mua bữa sáng cho hoàng tử Hương Ba ăn. Một chiếc bánh nướng lớn, một bát canh bún thịt bò cay đỏ như máu, được bưng nguyên cả bát từ một quán ăn Hồi giáo do người dân tộc Hồi ở Thanh Hải mở. Hoàng tử Hương Ba lắc lắc đầu, ra hiệu không có khẩu vị. Mai Tát bèn xì xụp ăn.

Hoàng tử Hương Ba mở cửa xuống xe đi dạo, rất nhanh đã quay lại, cầm điện thoại đưa cho Mai Tát xem, trên đó là một tin nhắn:

Mau xem thư điện tử

Mai Tát hỏi: "Ai gửi tới vậy?"

"Không phải điện thoại, là đài viễn thông, đại khái là gửi hàng loạt."

"Vậy thì càng phải coi trọng."

“Tại sao?”

"Đây rõ ràng là lời nhắc nhở mang tính cá nhân, nhưng lại phải gửi hàng loạt, chắc chắn là để che đậy điều gì đó. Đài viễn thông hiện nay, chỉ cần bỏ tiền ra, tín hiệu nào cũng có thể gửi được."

Hoàng tử Hương Ba lẩm bẩm: "Che đậy cái gì? Che đậy ai là người gửi tin nhắn?"

Chiếc máy tính xách tay của thầy Biên Ba vẫn ở trên xe, họ mở ra, máy đã hết pin từ lâu, vội vàng lái xe đi tìm tiệm nét. Một khắc sau, đã có bất ngờ, trong hộp thư của hoàng tử Hương Ba xuất hiện bản dịch của "Văn tự thấu quang". Đây chính là "Văn tự thấu quang" của tu viện Drepung, là kết quả đổi lấy chín chết một đời của họ.

Trên mặt Mai Tát thoáng qua một tia khó chịu: "Nói như vậy, còn có một người nữa cũng là chuyên gia về học thuật phục tàng, rất quen thuộc với ngôn ngữ phục tàng chuyên dụng thời cổ đại, là ai chứ?"

Hoàng tử Hương Ba nói: "Rõ ràng chính là vị chuyên gia này hoặc người do chuyên gia sai khiến đã lấy đi 'Văn tự thấu quang' từ dưới đệm ngồi của chiếc Wrangler, tại sao lại phải dùng cách thức này để hợp tác với chúng ta? Cả người chúng ta đều đầy rẫy vết thương, mặt đầy máu rồi, mà vẫn phải nghe theo sự chỉ huy của anh ta hoặc cô ta, không thèm nghe nữa, chúng ta cứ đi tiếp theo ý tưởng của mình." Nhưng ngay lập tức anh nhận ra điều này là không thể, khi khai quật vật phục tàng của "Cửa thất độ mẫu", "Cục chỉ dẫn thụ ký" đến từ sâu thẳm lịch sử chính là "chỉ thị tối cao".

Mai Tát đẩy anh ra khỏi chiếc máy tính, nhanh chóng chép lại nội dung của "Văn tự thấu quang".

Ngay tại tiệm nét này, ở một góc tối tăm, Trí Mỹ và Tác Lãng Ban Tông đang cúi sát phía sau tấm vách ngăn, nín thở ngưng thần đăm đăm nhìn hoàng tử Hương Ba.

Ánh mắt của Tác Lãng Ban Tông từ đầu đến cuối vẫn quét qua mái tóc của đối phương, mẹ cô bảo cô hãy chờ đợi người tình định mệnh của kiếp trước, một người vào mùa hè năm nay đến Tây Tạng để mở ra "Cửa thất độ mẫu". Người này là chủ nhân của chiếc xe jeep Wrangler, là một người đàn ông tóc dài. Mà hoàng tử Hương Bai cô nhìn thấy lúc này, mái tóc dài buông xõa ngang vai lãng tử bóng bẩy ấy, vậy mà lại hoàn toàn trùng khớp với lời dặn dò của mẹ và tâm nguyện của cô.

Trí Mỹ lo lắng nói: "Nguy hiểm quá, không ngờ bọn họ cũng sẽ đến đây."

Tác Lãng Ban Tông nói: "Chính anh bảo người ta 'mau xem thư điện tử' mà, nên phải nghĩ đến việc họ sẽ đến tiệm nét chứ."

“Tiệm nét ở Lhasa nhiều như thế, vậy mà lại chen chúc chung một chỗ với chúng ta.”

"Có duyên cách muôn dặm cũng hội ngộ mà."

Trí Mỹ cảnh giác liếc nhìn cô một cái: "Ai hội ngộ với ai cơ chứ?"

Tác Lãng Ban Tông vòng qua tấm vách ngăn, nhích lên phía trước một chút, muốn nhìn cho rõ hơn.

Trí Mỹ kéo cô giật lùi về phía sau: "Đừng để bọn họ nhìn thấy em."

Tác Lãng Ban Tông nói: "Bọn họ đâu có quen biết em." Đột nhiên quay đầu lại, ánh mắt sắc bén nhìn Trí Mỹ: "Anh lừa em, anh không phải là chủ nhân của chiếc Wrangler, tóc của anh cũng không hề bị cắt đi ở Qamdo."

Trí Mỹ nói: "Quan trọng là anh có tín vật đưa cho em, có dân ca Thương Ương Gia Thố, chẳng lẽ em không tin vào sức mạnh của dân ca ư? Sức mạnh của dân ca chính là sức mạnh của anh, thứ chân thật nhất, chính là việc em khao khát sự khống chế của anh. Hãy nghĩ đến niềm vui mỗi đêm đi, em sẽ không đứng núi này trông núi nọ nữa đâu." Nói xong, cười hì hì cù vào eo cô, lại vỗ nhẹ vào mông cô.

Tác Lãng Ban Tông nhạy cảm giật nảy mình, tức thì mềm nhũn cả người. Trí Mỹ kéo cô vào lòng, âu yếm ôm chặt lấy. Trong mắt người khác, chính là một đôi tình nhân đang say đắm.

"Anh đúng là xấu xa hết chỗ nói, vậy mà lại có thể bịa ra một bản 'Cục chỉ dẫn thụ ký'."

"Sao lại gọi là bịa chứ? Là anh nhặt ra từ sách bói toán đấy chứ."

"Ý nghĩa thế nào anh có hiểu không?"

"Không hiểu, cũng không cần phải hiểu, thứ mà chúng ta dựa vào chính là bản dịch 'Văn tự thấu quang' của tu viện Drepung do chuyên gia quen thuộc với ngôn ngữ phục tàng thực hiện và thuật bói toán của anh. Nếu kết quả bói toán và 'Cục chỉ dẫn thụ ký' dịch ra trùng khớp với nhau, điều đó có nghĩa là Liên Hoa Sinh đại sư và Không hành hộ pháp đã chiếu cố chúng ta rồi, chúng ta có thể tiến bước về phía trước mà không cần phải ngoảnh đầu lại nữa."

"Đến lúc anh tiến về phía trước rồi, đối thủ của anh lại bị bỏ lại tít đằng xa."

Trí Mỹ đắc ý cười một tiếng: "Đúng vậy, đây là sự đọ sức giữa trí tuệ và năng lực, anh muốn khiến hoàng tử Hương Ba mất phương hướng, mất mặt mũi, mất cả Mai Tát. Em phải nhớ kỹ, những người đàn ông ưu tú đều nên như thế này, đánh bại tất cả, chiếm đoạt tất cả, bao gồm cả phụ nữ, bao gồm cả thành công và vinh quang."

Tác Lãng Ban Tông lắc lư cơ thể trong vòng tay Trí Mỹ, muốn đẩy anh ra, nhưng sự giãy giụa mềm oặt như không xương ấy lại hóa thành sự quyến luyến. Anh ôm cô càng thêm chặt.

Bên ngoài tiệm nét, vang lên tiếng đỗ xe, trước cửa lướt qua bóng dáng của Vương Nham, Bích Tú, Trác Mã.

Tác Lãng Ban Tông gạt tay Trí Mỹ ra: "Cảnh sát đến rồi, em đi bảo hoàng tử Hương Ba."

"Không cần đâu, ở đây các cửa hàng mọc lên san sát, cho dù cảnh sát có phát hiện ra chiếc Wrangler ở bãi đậu xe, thì cũng không biết đối tượng bắt giữ đang ở trong tiệm nét."

Tác Lãng Ban Tông trợn mắt nhìn thẳng vào mắt Trí Mỹ: "Ở đây sao mà âm u thế này, sâu thẳm hệt như đại hẻm vực Yarlung Tsangpo. Em cảm giác anh là muốn để cảnh sát bắt bọn họ."

Trí Mỹ thành thật gật gật đầu: "Có chút ý đó."

Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát từ tiệm nét bước ra, đi thẳng đến chiếc Wrangler ở bãi đậu xe, đột nhiên nghe thấy có người gọi: "Hoàng tử Hương Ba." Anh quay đầu lại, nhìn thấy là Vương Nham, liền kéo Mai Tát cắm cổ chạy, nhưng lại đâm thẳng vào người Bích Tú đã mai phục sẵn ở phía trước từ lúc nào. Bích Tú ôm chặt lấy anh, Vương Nham lao vút tới, tóm lấy cổ tay anh, kêu 'cạch' một tiếng còng chặt lấy anh.

Tiếp theo đó, Trác Mã vươn tay tóm lấy cánh tay Mai Tát.

Mai Tát đẩy Trác Mã ra: "Cô muốn làm gì, không thấy tôi là phụ nữ à?"

Trác Mã dịu dàng hỏi: "Cô khỏe chứ Mai Tát, đồng bạn Trí Mỹ của cô đâu rồi?"

Mai Tát lập tức ngừng việc đẩy ra lại, trừng mắt nhìn Trác Mã, dường như cảm thấy kinh ngạc vì một nữ cảnh sát có thể hình tráng kiện, đeo kính râm, mang vẻ mặt hung hãn lại có thể nói chuyện dịu dàng như thế.

Trác Mã thản nhiên cười: "Tôi tên là Trác Mã, một nữ thần, tôi thấy khỏi còng cô nhé." Lại chỉ vào chiếc xe cảnh sát, "Lên xe."

Mai Tát ngoan ngoãn bước qua, chui vào trong xe cảnh sát, chốc chốc lại ngoảnh đầu nhìn về phía Trác Mã. Trác Mã vẫn luôn mỉm cười.

Ở bên kia, hoàng tử Hương Ba vẫn đang ngông cuồng biện bạch: "Các người chắc chắn đã oan uổng chúng tôi rồi, tôi phát thệ trước Phật tổ là tôi chưa từng giết người, cũng không trộm cắp di vật văn hóa, tôi chỉ đang khai quật phục tàng mà thôi, khai quật phục tàng, dựa theo ý chỉ của thần linh để khai quật phục tàng một cách văn minh."

Bích Tú cười nhạt nói: "Cậu đi nghe ngóng mà xem, tôi ở Lhasa này là một tấm gương chấp pháp nổi tiếng, thời hạn hỏi cung người bị tạm giư tuyệt đối sẽ không vượt quá hai mươi tư tiếng, trong vòng hai mươi tư tiếng, cậu chắc chắn sẽ khai nhận."

Hoàng tử Hương Ba nói: "Nếu tôi không khai thì sao?"

Bích Tú nói: "Chiếu theo pháp luật, lập tức phóng thích, sau đó lại bắt cậu, lại tạm giư thêm hai mươi tư tiếng nữa. Nếu cậu vẫn không khai, vậy thì lại thả, lại bắt."

“Cứ bắt đi thả lại thế này, chứng tỏ các người không đủ chứng cứ.”

Bích Tú đột nhiên gầm lên: "Chứng cứ của cậu còn ít nữa sao? Cậu đã giết người ở Bắc Kinh, chúng tôi có nhân chứng. Cậu trộm cắp di vật văn hóa cấp quốc gia, chúng tôi cũng có nhân chứng. Cậu lái xe tông chết một cô gái tên là Y Trác Lạp Mụ ở tu viện Kumbum Thanh Hải, chúng tôi có vật chứng." Nói đoạn, hắn kéo hoàng tử Hương Ba đến trước chiếc Wrangler, chỉ vào vết máu, tóc cùng vết móp chưa hề được rửa sạch trên cản trước, nghiêm giọng hỏi: "Cái này ở đâu ra?"

Hoàng tử Hương Ba nhỏ giọng nói: "Môn Ngư hắc kiếm, anh cũng là người theo Phật, tại sao lại phải lừa gạt, hãm hại, vu oan, vô sỉ thế chứ?"

Vương Nham bước tới.

Hoàng tử Hương Ba chỉ vào lỗ đạn trên tấm kính phía sau chiếc Wrangler và chiếc chuông chày Kim Cương bị đập vỡ trong xe rồi nói: "Đây đều là kiệt tác do cảnh sát các người làm ra cả đấy, các người không đánh chết được tôi, liền muốn tôi gánh chịu tội ác của các người. Lhasa là chốn tụ hội của Phật, một người tạng tin Phật ở nơi này tuyệt đối sẽ không nói dối đâu."

Vương Nham nói: "Ý cậu là Lhasa không có lời nói dối, toàn là lời thật cả ư? Toàn là lời thật, vậy thì cũng chẳng còn là lời thật nữa rồi."

3

Bích Tú với tư cách là đội phó đã trở lại đội trinh sát trọng án Lhasa, tựa như về đến nhà, vừa bước vào cửa, đã lớn tiếng gọi: "Tôi về rồi đây."

Mấy tên thuộc hạ của hắn hì hì ha ha vây lại. Hắn hỏi: "Có rượu không? Uống hết rồi á? Đi mua đi, hôm nay chúng ta phải ăn mừng cho thỏa thích. Đầu Vương, Trác Mã, cứ tự nhiên ngồi đi, đây là địa bàn của tôi mà." Lại bảo thuộc hạ của mình, "Vị này là cảnh sát Bắc Kinh, vị này là cảnh sát hình sự quốc tế, chúng tôi cùng nhau làm bạn đồng hành suốt dọc đường đến Lhasa đấy. Các cậu còn ngẩn người ra đấy làm gì, sao không mau đi đi."

Bích Tú tự chủ trương nhốt hoàng tử Hương Ba và Mai Tát vào một phòng tạm giư, nói: "Hai người bàn bạc với nhau đi, là khai hay không khai, là khai triệt để hay là ấp a ấp úng mà khai."

Vương Nham nói: "Không thể nhốt bọn họ chung một chỗ được, sẽ thông cung mất."

Bích Tú suỵt một tiếng nói: "Cái chúng ta cần chính là thông cung đấy, chúng ta có thiết bị nghe lén."

Thuộc hạ của Bích Tú lái xe cảnh sát, hú còi rời đi, rồi lại hú còi quay về. Dùng túi nilon xách về một ít thịt bò khô, thịt cừu cầm tay, thịt bò chiên giòn, dạ dày bò xào cay, còn có cả một nồi bánh bao thịt bò, rượu là loại Thanh Khắc bạch tửu Tuyết Liên 60 độ. Đã có người xếp liền hai chiếc bàn làm việc lại với nhau ở căn phòng ngay cạnh phòng tạm giư, người còn chưa kịp ngồi xuống, đã bày biện sẵn sàng những chiếc chén sứ thô sâu tầm một lạng lục lọi được từ trong ngăn kéo ra rồi rót đầy rượu.

Bích Tú mời Vương Nham và Trác Mã vào chỗ ngồi, nâng ly rượu lên nói: "Chân quý của các vị ghé thăm chốn tệ xá, chẳng có gì để tiếp đãi cả, ngoài rượu ra thì vẫn chỉ là rượu, uống." Sau đó tự mình uống cạn trước, sướng miệng chép chép môi nói: "Dọc đường đi này, mẹ kiếp, ngủ không ngon, ăn không nổi, chịu thương chịu khó, mà ngụm rượu cũng chưa được uống."

Vương Nham và Trác Mã có chút không quen, hết lần này đến lần khác thoái thác. Thoái thác không được, Vương Nham đành cầm đôi đũa dùng một lần, nhét đầy một miệng dạ dày bò cay: "Chúng ta ăn, chúng ta ăn."

Bích Tú nói: "Ăn thịt thì không được tính là tiếp đãi, bắt buộc phải uống rượu, không uống rượu chính là coi thường chúng tôi." Lại ra lệnh cho thuộc hạ của mình, "Tôi giao hai vị khách này cho các cậu đấy, các cậu tự nhìn mà làm."

Thuộc hạ bắt đầu chuốc rượu, lôi lôi kéo kéo, không buông tha. Vương Nham và Trác Mã đành miễn cưỡng uống cùng.

Bích Tú vui vẻ nói: "Các vị ngàn vạn lần đừng trách móc nhé, ở vùng Tạng, giờ làm việc uống rượu là chuyện vô cùng bình thường, không uống rượu thì không gọi là làm việc."

Nhanh chóng đã đến buổi tối, sau khi bật đèn lên, một nữ cảnh sát đeo chuỗi hạt mã não đỏ và vòng tay mã não trắng mang cơm hộp và một bình trà sữa đến cho hoàng tử Hương Ba và Mai Tát.

Hoàng tử Hương Ba trân trân nhìn cô ta, phát hiện vóc dáng và dung mạo của cô ta xuất sắc hệt như cái cây duy nhất trên thảo nguyên: "Này, tại sao không thẩm vấn bọn tôi?"

Nữ cảnh sát nói: "Này cái gì mà này, tôi không có tên chắc?"

Hoàng tử Hương Ba nói: "Không biết cô tên gì."

Nữ cảnh sát nói: "Mã Não Nhi." Thấy đối phương có vẻ ngờ vực, bèn túm lấy vòng cổ của mình lắc lắc: "Chính là viên mã não này này, tiếng Hán gọi là Mã Não Nhi. Anh hỏi tôi tại sao không thẩm vấn các anh ấy hả, đội phó Bích Tú uống say rồi."

Hoàng tử Hương Ba lại hỏi: "Còn hai tên cảnh sát bắt bọn tôi nữa, họ đâu rồi?"

Mã Não Nhi nói: "Gần như cũng say cả rồi."

Mai Tát nói: "Tôi từng nhìn thấy hổ ăn linh dương trên TV, hổ chưa chắc đã cắn chết linh dương ngay lập tức đâu."

Hoàng tử Hương Ba nói: "Bọn tôi tuyệt đối không phải con cừu mặc cho người ta làm thịt, bọn tôi là con người."

Mã Não Nhi mỉm cười duyên dáng nói: "Những kẻ ngu muội các anh, con cừu mà anh coi thường kiếp trước nói không chừng chính là cha anh, chính là tâm thức lang thang trong thế giới trung ấm đã quyết định duyên oán tụ tán của các anh, anh là người Tạng cơ mà, sao đến cái này cũng không hiểu hả?"

Hoàng tử Hương Ba kinh ngạc nhìn cô ta: "Cô là một cảnh sát, tội phạm mà cô bắt giữ nói không chừng kiếp trước chính là ông nội của cô, thế cô còn bắt hắn không?"

Mã Não Nhi nói: "Sao lại không bắt? Luân hồi hữu tình không tách rời khỏi dòng chảy sinh tử. Kiếp sau, cảnh sát biến thành tội phạm, tội phạm biến thành cảnh sát. Không phải tôi đang kiểm soát tội phạm, mà là Phật pháp đang kiểm soát tất cả chúng ta. Bàn tay của cảnh sát, chính là bàn tay của Phật pháp."

Hoàng tử Hương Ba nói: "Xem ra cô không phải là cảnh sát của chính phủ, cô là cảnh sát của Phật thì có."

Mã Não Nhi nói: "Cảnh sát của chính phủ chính là cảnh sát của Phật, chẳng lẽ không đúng sao? Đừng quên đây là Lhasa, rất nhiều người mặc đồng phục, lại đều là những người niệm câu 'Om mani padme hum'."

Hoàng tử Hương Ba bắt đầu ăn cơm hộp: "Mùi vị không tồi, chỉ có điều có thịt. Người trong thiên hạ đều biết tôi không ăn thịt nữa rồi, chẳng lẽ các người không biết sao?" Nói đoạn, nhìn Mai Tát một cái, nuốt nước bọt một cái, bèn ném thịt sang một bên.

Mã Não Nhi định rời đi, đột nhiên quay người lại nói: "Anh đúng là một kẻ khá toàn diện đấy, vừa biết giết người, vừa biết trộm cắp, lại còn có thể khai quật phục tàng. Cha tôi nói anh là chuyên gia nghiên cứu Thương Ương Gia Thố, anh từng viết sách."

“Cha cô sao lại biết tôi?”

Mã Não Nhi nói: "Bây giờ trong tu viện rất nhiều người biết anh, nói có một tên tội phạm giết người tên là hoàng tử Hương Ba đang khai quật phục tàng của 'Cửa thất độ mẫu'."

Hoàng tử Hương Ba hứng thú hỏi: "Nói như vậy cha cô là lạt ma trong tu viện à?"

“Ông ấy là người nghiên cứu văn tự kinh điển cổ xưa, quanh năm ở trong tu viện, nhưng không phải lạt ma. Thường xuyên viết dăm ba bài báo nhỏ, ngày mai trên trang phụ san của báo Tây Tạng sẽ có một bài viết của cha tôi, nếu có hứng thú các anh có thể xem thử.”

Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát gần như đồng thời lên tiếng đầy phản cảm: "Bọn tôi không đọc báo."

Đột nhiên, Mai Tát kéo mạnh hoàng tử Hương Ba một cái: "Văn tự kinh điển cổ xưa bao gồm cả ngôn ngữ phục tàng."

Dường như Mã Não Nhi sinh ra là để nghe được câu nói này, lập tức quay người rời đi.

Đêm đã khuya, căn phòng bên cạnh vẫn đang uống rượu. Mai Tát ngủ không được, lôi bản dịch "Văn tự thấu quang" của tu viện Drepung mà cô chép lại từ hộp thư của anh ra, muốn thảo luận với anh. Hoàng tử Hương Ba xua xua tay, dùng đầu ngón tay viết lên đùi cô mấy chữ "Có thể có thiết bị nghe lén". Mai Tát trợn tròn hai mắt: Thật á?

Hoàng tử Hương Ba nói: "Tại sao lại nhốt bọn mình lại với nhau? Chính là muốn bọn mình nói chuyện."

Mai Tát lập tức ngáp một cái rồi nói: "Tôi thèm nói chuyện với anh chắc, tôi buồn ngủ rồi."

Phòng tạm giư chỉ có một chiếc giường, hoàng tử Hương Ba nhường giường cho Mai Tát, còn mình thì ngủ trên bàn. Nói xong liền trèo lên bàn.

Mai Tát kéo anh xuống: "Thể hình anh lớn, anh ngủ giường đi, tôi ngủ bàn."

Hoàng tử Hương Ba sức lực lớn, nhẹ nhàng đẩy một cái liền đẩy cô ngã nhào lên giường: "Tôi là một đại nam nhân, sao lại nỡ lòng nào thoải mái hơn cô được chứ." Nhưng Mai Tát quyết không chịu, anh đành nói: "Vậy thì cùng ngủ trên giường hết, cô ngủ bên trong, tôi ngủ bên ngoài. Cô yên tâm, tôi sẽ tuân thủ lời thề, tuyệt đối ngoan ngoãn, không động đến một sợi tóc của cô đâu, tôi nói được làm được."

Thế là cả hai người đều lên giường ngủ, mỗi người một góc không chạm vào nhau, lưng quay về lưng. Đều là những người bôn ba mấy ngày liền, mỏi nhừ cả người, cứ nghĩ đặt lưng xuống là có thể ngủ say như chết, thế nhưng lại không phải vậy, cả hai người đều ngủ không được, cứ lằm im lặng lẽ, vô cùng tỉnh táo, rất lâu trôi qua, cũng không trở mình một cái, ai nấy đều biết đối phương vẫn chưa ngủ.

Đột nhiên, Mai Tát ngồi dậy, đẩy anh một cái: "Xuống đi, xuống đi, xuống đi."

Hoàng tử Hương Ba trượt khỏi giường, đứng trước mặt cô: "Sao thế?"

Mai Tát trợn ngược mày nói: "Anh nói được làm được thì sao chứ, thế mà ngủ không được thì có ích gì cơ chứ, vẫn là ra ngủ cái bàn của anh đi."

Hoàng tử Hương Ba ngoan ngoãn trèo lên bàn, cuộn tròn người lại, chẳng mấy chốc đã vang lên tiếng ngáy. Mai Tát hậm hực nhìn anh, thở dài một hơi, dần dần chìm vào giấc ngủ sâu.

Mãi cho đến sáng hôm sau, họ mới bị tiếng mở cửa làm cho tỉnh giấc.

Bích Tú bước vào, ngáp một cái nồng nặc mùi rượu nói: "Hai người bàn bạc xong chưa, khai hay không khai?"

Hoàng tử Hương Ba hỏi: "Bây giờ mấy giờ rồi?"

Bích Tú nói: "Ý cậu là đã đến thời hạn hỏi cung người bị tạm giư là hai mươi tư tiếng rồi chứ gì? Được, chờ tôi chuẩn bị xong việc bắt giữ, lập tức thả cậu ra, tôi đã nói tôi là một tấm gương chấp pháp mà."

Mười phút sau, hoàng tử Hương Ba và Mai Tát đã đến văn phòng cạnh phòng tạm giư. Ghế đựa bị xê dịch lộn xộn, đồ ăn thức uống chưa ăn uống hết vẫn còn nằm trên bàn, tỏa ra thứ mùi trọc khí ôi thiu từ đêm hôm trước. Vương Nham và Trác Mã cũng ở đây, đại khái là không chịu nổi lượng cồn, đều mang vẻ mặt tái xanh, khắp người rã rời. Bọn họ cuộn mình trên sô pha, đôi mắt vô thần nhìn hoàng tử Hương Ba, muốn đứng dậy, giãy giụa nhúc nhích cơ thể một chút, rồi lại thôi.

Bích Tú nói với Vương Nham và Trác Mã: "Hai mươi tư tiếng đã đến rồi, thả thôi, thả ra rồi lại bắt."

Vương Nham miễn cưỡng gật gật đầu. Trác Mã muốn nói gì đó, nhưng cố nhếch đôi môi dày mọng nặng nhọc, thốt ra không phải là lời nói, mà là một dòng nước bọt, vội vàng dùng tay che miệng lại.

Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát thấp thỏm lo âu ký tên, nhúng ngón tay vào lọ mực đỏ điểm chỉ vân tay, bước ra khỏi sân của đội trinh sát trọng án Lhasa. Bích Tú bước theo sau, khoảng cách chỉ vỏn vẹn hai mươi bước, tay thọc trong túi quần, rõ ràng là đang nắm chặt súng.

Hoàng tử Hương Ba nhỏ giọng nói: "Anh có biết tại sao bọn họ không thẩm vấn mà đã thả chúng ta không? Bởi vì thẩm vấn ít nhất cần ba người, ngộ nhỡ thẩm vấn ra kết quả vô tội, Bích Tú sẽ rất khó ra tay. Nhưng bây giờ, chỉ cần chúng ta rời khỏi đây, Bích Tú lập tức sẽ lao vào truy bắt, rồi mượn cớ chống cự khi bị bắt để đạt được mục đích mà thời hạn tạm giư không thể đạt được, đó chính là giết tôi. Anh nói xem phải làm sao bây giờ?"

Mai Tát nói: "Chạy đi, tôi ở phía sau, anh ở phía trước, chắc không đến mức nổ súng vào tôi đâu nhỉ."

Hoàng tử Hương Ba nói: "Bích Tú là Môn Ngư hắc kiếm, vì giết người mà không từ thủ đoạn nào. Giết tôi chứ không giết cô, vẫn tồn tại khả năng mở ra 'Cửa thất độ mẫu'."

Hoàng tử Hương Ba nhìn xung quanh bốn phía, con đường Zaki trước mặt không thuộc khu thương mại, xe cộ ít ỏi người thưa thớt, chạy ra được ba bốn mươi mét, Bích Tú sẽ đuổi theo ngay, hoặc viên đạn sẽ bắn tới. Anh đang trải nghiệm cảm giác bị hổ đùa giỡn như cừu non, phẫn nộ, hoảng loạn, sợ hãi, nhưng theo bản năng vẫn muốn chớp lấy khoảnh khắc móng vuốt hổ lơi lỏng, trốn chạy, trốn chạy.

Anh nhỏ giọng nói: "Mai Tát nghe tôi, bây giờ cô bị bệnh rồi."

"Tôi? Bệnh gì cơ?"

Hoàng tử Hương Ba đột nhiên cúi người bế thốc Mai Tát lên, quay lại sân của đội trinh sát trọng án, khóc lớn kêu lên: "Cứu mạng với, cô ấy bị sảy thai, băng huyết rồi, mau đến cứu mạng với."

Mai Tát nói: "Mẹ kiếp chứ, sao tôi lại có thể sảy thai được cơ chứ?"

Quần của Mai Tát chớp mắt đã nhuốm đỏ máu tươi, từng giọt máu nhỏ xuống mặt đất, vô cùng chói lọi dưới ánh nắng lóa mắt của thành phố mặt trời Lhasa. Bản thân Mai Tát trước tiên đã bị dọa cho mặt cắt không còn giọt máu, run lẩy bẩy hỏi: "Máu của tôi ở đâu ra thế, máu ở đâu ra thế?"

Hoàng tử Hương Ba hết lần này đến lần khác gào thét. Bích Tú bước tới, nhìn vết máu trên người cô và dưới đất, nhất thời luống cuống tay chân chẳng biết phải làm sao.

Đúng lúc này nữ cảnh sát Mã Não Nhi chạy ra, gào thét hệt như sự hoảng sợ và đồng cảm của một người phụ nữ: "Chết mất thôi, băng huyết rồi, băng huyết rồi, mau đưa đi bệnh viện."

Vừa nghe thấy đưa đi bệnh viện, Bích Tú theo phản xạ có điều kiện tóm lấy hoàng tử Hương Ba.

Mã Não Nhi dùng cả hai tay đẩy mạnh Bích Tú ra, lớn tiếng nói: "Đi lấy ít giấy vệ sinh đây."

Bích Tú không đi. Mã Não Nhi định đẩy nữa, hắn vội vàng chạy đi.

Mã Não Nhi chạy tới, mở cửa một chiếc xe cảnh sát hiệu Peugeot, ngồi lên ghế lái, nổ máy xe: "Mau lên, mau lên xe đi."

Hoàng tử Hương Ba đặt Mai Tát vào trong xe, vòng qua bên kia, tiện tay kéo Mã Não Nhi xuống.

Chiếc xe cảnh sát Peugeot phóng đi bạt mạng. Bích Tú vứt cuộn giấy vệ sinh trong tay xuống, đuổi ra khỏi sân, nổ súng một phát nhưng không trúng. Quay người lại định lái xe đuổi theo thì chiếc xe do tội phạm điều khiển từ lâu đã biến mất hút ở ngã tư đường Zaki, đông tây nam bắc chẳng biết đi đằng nào.

Bích Tú đằng đằng sát khí quay lại sân đội trinh sát trọng án, chỉ vào mặt Mã Não Nhi gầm lên: "Đều tại cô, chính cô đã thả tội phạm chạy mất." Sau đó giáng một cái tát bốp lên khuôn mặt xinh đẹp của đối phương.

Mã Não Nhi lảo đảo ngã xuống đất, ôm mặt nói: "Anh lại dám đánh tôi, anh tính là đàn ông gì chứ, đội phó gì chứ?"

Trên chiếc xe cảnh sát Peugeot đang trốn chạy, Mai Tát giận dữ hỏi: "Anh đã làm gì tôi thế, sao tôi lại chảy nhiều máu như vậy?"

Hoàng tử Hương Ba hỏi: "Bây giờ cô đau ở đâu?"

Mai Tát nói: "Nửa thân dưới đau."

Hoàng tử Hương Ba lục trong túi ra một chiếc lọ ném cho cô. Cô nhận ra rồi, đó chính là chiếc lọ mực đỏ mà cô từng dùng lúc ký tên điểm chỉ ở văn phòng đội trinh sát trọng án khi nãy.

Hoàng tử Hương Ba nói: "Là người phụ nữ lớn tuổi ở tu viện Kumbum dạy tôi đấy, bà ấy dùng bảo bình men Jun và một bình máu cừu để cứu tôi, tôi dùng một lọ mực đỏ để cứu hai chúng ta. Còn đau nữa không?"

“Không đau nữa.”

Chiếc xe cảnh sát Peugeot lao đi vù vù, băng qua đường tiểu Chiêu Tự, đi đến trước cửa viện Thượng Mật (Gyume). Đây là một nơi thanh tịnh giữa chốn phồn hoa, cảnh sát trong chốc lát sẽ không tra la tới đây đâu.

Hoàng tử Hương Ba nói: "Cứ đợi ở trong xe đã, cô cần phải thay bộ quần áo dính máu ra."

4

Cách viện Thượng Mật rất gần chính là ngõ Trùng Tắc Khang (Tromsikhang) chen chúc các hàng quán, hoàng tử Hương Ba mua quần áo cho Mai Tát, đồng thời cũng mua áo gió và mũ phớt cho chính mình. Lúc họ thay trang phục xong xuôi, thì đã không còn là hoàng tử Hương Ba và Mai Tát của trước kia nữa rồi, ít nhất nhìn từ xa là vậy. Họ vứt bỏ chiếc xe cảnh sát Peugeot, nhanh chóng rời khỏi viện Thượng Mật.

Hoàng tử Hương Ba nói: "Đói sắp lép cả bụng rồi, chúng ta đi ăn cơm thôi."

Ở đây là khách sạn Thành Phố Mặt Trời trên đường Lingkhor, rất yên tĩnh. Hoàng tử Hương Ba chính là muốn tìm một nơi yên tĩnh, để nghiên cứu thật kỹ lưỡng bản dịch "Văn tự thấu quang" của tu viện Drepung mà người lạ gửi vào hộp thư của anh. Mai Tát lấy nội dung bản dịch mà cô đã chép lại, đưa cho anh.

Giống như "Văn tự thấu quang" trước đó, phía dưới phần đánh dấu "Thụ ký" là dân ca Thương Ương Gia Thố:

Nếu chiều lòng người em yêu,

Liệt đứt duyên Phật kiếp này,

Nếu theo lạt ma tu hành,

Sẽ trái tâm nguyện người thương.

Xin hỏi người thương hỡi,

Có thể mãi làm bạn đời?

Đáp rằng: Trừ lúc sinh ly tử biệt,

Sống quyết không rời xa.

Chú thích: Makye Ame, bài hát đầu tiên của một ca sĩ dân gian.

Hoàng tử Hương Ba nói: "Bắt đầu từ Ung Hòa Cung ở Bắc Kinh, tất cả các bài dân ca trong 'Văn tự thấu quang' đều xuất hiện vào những ngày tháng cuộc đời Thương Ương Gia Thố xảy ra bước ngoặt quan trọng. Thời gian được nối tiếp tuần tự, chính là quỹ đạo cuộc sống từ thiếu niên cho đến thanh niên. Bài dân ca được chia thành hai đoạn trên dưới bày ra trước mắt chúng ta đây xuất hiện vào đúng thời điểm Thương Ương Gia Thố rời khỏi tu viện Drepung lần cuối cùng."

Mai Tát nói: "Makye Ame chết rồi, cậu ta vẫn có thể hát ra những bài dân ca yêu đương chân thiết nhường ấy sao?"

Hoàng tử Hương Ba nói: "Đúng vậy, anh cũng vẫn luôn nghĩ không thông, Thương Ương Gia Thố không phải là một kẻ vô tâm vô phế, cậu ấy có tình cảm phong phú, chung thủy son sắt với tình yêu, không thể nào bất hợp thời gian mà hát bừa dân ca được, nhất định là chúng ta vẫn chưa tìm ra lý do sinh ra bài dân ca này." Vừa nói, vừa dán mắt vào phần "Chú thích" đằng sau bài dân ca này: "Makye Ame, bài hát đầu tiên của một ca sĩ dân gian." Anh cau mày nói: "Lẽ nào Thương Ương Gia Thố có 'Pháp bí truyền thiên thức đoạt xá', để Makye Ame đã chết cất lên bài dân ca của cậu ấy? Nhưng lẽ ra đó cũng phải là chuyện của sau này."

Mai Tát hỏi: "Phỏng đoán sát với thực tế hơn chính là, nó vốn dĩ là bài hát của Makye Ame, sau khi cô ấy chết đã được Thương Ương Gia Thố hát lên."

Hoàng tử Hương Ba nói: "Không thể nào, Thương Ương Gia Thố chưa từng hát dân ca của người khác bao giờ. Chỉ có thể miễn cưỡng giải thích thế này: Sau khi Makye Ame chết, linh thức thường đến gặp gỡ Thương Ương Gia Thố, bài dân ca này chính là được sinh ra sau khi gặp gỡ. Tạm thời không bàn đến nó nữa, quan trọng hơn vẫn là bản 'Chỉ dẫn'."

Bản "Chỉ dẫn" của "Văn tự thấu quang" tu viện Drepung là thế này:

Đầu tiên: hắn túm lấy cây cung cong, tiếp theo: đặt mũi tên lên dây cung, sau đó: cây cung cong được kéo căng như trăng tròn, ngón cái thả lỏng tên bắn ra. Cứ như vậy hắn bắn mũi tên sắc bén xuyên thẳng vào ngực của ác quỷ Tsevmoan Gimou. "Ta là hắc ma vương, Yasser, được phái tới, để người phụ nữ tội lỗi phải bỏ mạng." Dứt lời, hắn đã biến mất không dấu vết, tan biến vào rừng hoa ô tử.

Hoàng tử Hương Ba nói: "Rõ ràng đây là sự vận dụng các câu trong 'Pháp âm', mà 'Pháp âm' lại ám chỉ sự hưng vong của Tạng vương Langdarma. Vào năm 843 sau Công nguyên, Langdarma tôn súng Bôn giáo bắt đầu tiêu diệt Phật giáo, hắn ra lệnh chôn vùi tượng Phật Jowo trong tu viện Jokhang xuống dưới lòng đất, phá hủy và thiêu rụi tất cả chùa miếu, tượng Phật, kinh sách, đồng thời vẽ những bức tranh biếm họa tăng lữ uống rượu vui chơi trên tường của các tu viện như Samye, Jokhang. Người xuất gia bị giết, bị trục xuất, bị ép hoàn tục, hoặc bị ép đi săn bắt sát sinh, tạo nên 'Thời kỳ hắc ám diệt pháp' trong lịch sử Tây Tạng. Ba năm sau, người tu hành Pelgi Dorje nhận được sự chỉ dẫn của Cát Tường Độ Mẫu, đến Lhasa, dùng tên lén bắn trúng Tạng vương Langdarma đang đứng đọc văn bia trước tu viện Jokhang. Langdarma nắm lấy cán tên nói: 'Giết ta sớm ba năm, hoặc muộn ba năm.' Nói xong ngã xuống đất bỏ mạng. Pelgi Dorje cưỡi ngựa trốn chạy, trốn về hướng rừng hoa ô tử."

Mai Tát nói: "Ý gì chứ, bản 'Chỉ dẫn' đã chỉ chúng ta đến đâu?"

Hoàng tử Hương Ba nói: "Chỉ đến lịch sử sớm hơn nữa, Langdarma, Pelgi Dorje, rừng hoa ô tử. Langdarma chết ở cửa tu viện Jokhang, Pelgi Dorje trốn về hướng rừng hoa ô tử. 'Ô tử' thì tôi biết, trong các bản tấu chương gửi hoàng đế của đại thần trú tạng nhà Thanh, thường viết ngọn núi Ô Tư (Oze) ở vùng ngoại ô phía bắc Lhasa thành 'núi Ô Tử', bởi vì dưới chân ngọn núi này nở rộ từng mảng hoa hồng dại, vừa đen vừa tím. Còn về 'rừng hoa' thì sao, có nên giải thích thế này không: Nơi hoa hồng dại nở rộ chính là khu rừng của cây hoa, gọi tắt chính là 'rừng hoa', kết hợp lại chính là 'rừng hoa ô tử'. Mà tiếng Tạng gọi hoa hồng dại là 'Sera', 'rừng hoa ô tử' chiểu theo phát âm tiếng Tạng chính là 'Sera Oze'. Nếu cách giải thích này là hợp lý, vậy thì chúng ta có thể nhìn thấy biểu đạt như thế này trong bất kỳ cuốn cẩm nang du lịch Tây Tạng nào: 'Tu viện Sera nằm dưới chân núi Sera Oze ở vùng ngoại ô phía bắc Lhasa'."

Mai Tát nói: "Ý anh là chúng ta phải đi tu viện Sera? Vậy có phải còn phải đi tu viện Gandan nữa không?" Ý của cô ấy là tu viện Drepung, tu viện Sera, tu viện Gandan hợp gọi là ba tu viện lớn ở Lhasa của phái Cách Lỗ, vật phục tàng của 'Cửa thất độ mẫu' rất có khả năng sẽ được sắp xếp theo trình tự như vậy."

Hoàng tử Hương Ba nói: "Đây chính là điều tôi nghi ngờ, một khi rời khỏi tu viện Drepung, tuyến suy nghĩ của người bình thường đều sẽ kéo dài theo vị trí của ba tu viện lớn ở Lhasa, tiếp theo là tu viện Sera, cuối cùng là tu viện Gandan. Nhưng tôi cho rằng điều mà đa số mọi người nghĩ đến lại chính là thứ mà kẻ phục tàng năm xưa nên né tránh, kẻ phục tàng tuyệt đối sẽ không đưa ra một thiết kế đơn giản như vậy đâu."

Mai Tát nói: "Tôi đồng ý, việc khai quật rất nhiều vật phục tàng trong lịch sử không dựa vào phán đoán thông minh của kẻ khai quật, mà là cơ hội và vận may. Nguyện lực phát tâm của Liên Hoa Sinh đại sư và giới hạn minh triết của chư đệ tử đã có sự dung hợp tạo nên nhân duyên, lại vừa vặn chạm trán với các vị hộ pháp phục tàng như các vị không hành mẫu, không hành nam tụ tập ở đây, họ nhìn thấy thời cơ đã đến, bèn gia trì sức mạnh khai thị hoàn chỉnh cho kẻ khai quật, đồng thời cũng phó thác trách nhiệm và vinh quang cho người đó, thế là người ấy liền trở thành pháp chủ, trở thành đại sư có được thành tựu tu hành và tư cách truyền thừa Phật pháp nhờ khai quật phục tàng. Ý của tôi là, rất nhiều kẻ khai quật đều là thế này: Khi hắn phát hiện phán đoán thông minh của mình vô cùng hợp lý, thường sẽ vứt bỏ sự hợp lý ấy, hướng đến sự không hợp lý, bởi vì bọn họ thừa hiểu sự thông minh thường là thứ không đáng tin cậy. Con đường quá thẳng tắp, tuyệt đối không phải là đường."

Hoàng tử Hương Ba gật gật đầu: "Chính là như vậy, cho nên thứ mà tôi quan tâm hiện tại không phải là 'rừng hoa ô tử' mà bản 'Chỉ dẫn' của tu viện Drepung đã chỉ bảo rành rành, mà là câu nói 'Cứ như vậy hắn bắn mũi tên sắc bén xuyên thẳng vào ngực của ác quỷ Tsevmoan Gimou'. 'Người phụ nữ tội lỗi' bị bắn trúng sao lại là 'ác quỷ'? Cô ấy phải là 'người tình' mới phù hợp quy luật chứ."

Hai người vừa ăn vừa thảo luận, bữa ăn đã ăn xong mà cuộc thảo luận vẫn chưa có kết quả.

Lúc này, một người phục vụ ăn mặc theo kiểu Hán tử Kham Ba bước tới, đặt một tờ "Tờ báo Tây Tượng" lên bàn ăn. Hai người liếc nhìn, đều nhớ đến lời nữ cảnh sát Mã Não Nhi từng nói: "Ngày mai trên phụ san của "Tờ báo Tây Tạng" sẽ có một bài viết của cha tôi, nếu có hứng thú các anh chị có thể xem thử."

Hai người nhìn nhau, đồng thời đưa tay về phía tờ báo.

Phụ san nằm ở trang bốn, tổng cộng có năm bài viết, trong đó tiêu đề của một bài là "Văn bản Phật lý sáng tỏ thấu triệt — Đọc thơ tình Thương Ương Gia Thố trong đêm", ký tên "Tang Kết", "Tang Kết" chính là Phật.

Mai Tát nói: "Nữ cảnh sát và cha cô ấy biết anh là chuyên gia nghiên cứu về Thương Ương Gia Thố, nên muốn nhờ anh chỉ giáo đấy."

Hoàng tử Hương Ba chằm chằm nhìn tờ báo không chớp mắt: "Đâu chỉ biết tôi là chuyên gia nghiên cứu về Thương Ương Gia Thố, cô ta hình như biết mọi thứ, em hãy nhìn kỹ tiêu đề đi."

Mai Tát xem lại một lần: "Đem tình yêu coi là Phật lý, chẳng phải đang lặp lại quan điểm của anh sao? Anh cho rằng thơ tình chính là đạo ca."

"Ý anh là trong tiêu đề bao hàm bốn chữ — 'Sáng thấu văn tự'."

Mai Tát xem xong, liền ngẩn người: "Đúng vậy, đây không thể là trùng hợp được."

Hoàng tử Hương Ba đứng dậy, sải bước tiến về phía người phục vụ mang báo tới: "Ai bảo anh mang tờ báo này tới? Có phải là một nữ cảnh sát không?"

"Không phải, là người đưa thư."

"Người đưa thư? Ai bảo người đưa thư mang đến?"

Hoàng tử Hương Ba vội vàng quay lại bàn ăn, cầm lấy tờ báo, đọc kỹ bài viết đó không sót một chữ, kích động nói: "Hình thức hoàn toàn giống hệt với những 'sáng thấu văn tự' khác, nhưng trên thế giới này chỉ có tôi và em biết mối quan hệ của nó với 'cửa ải thất độ mẫu'."

Con chó già đầy râu mép,

Tấm lòng còn tốt hơn người,

Đừng nói tôi ra đi lúc hoàng hôn,

Lúc trở về đã là buổi sáng.

Đêm đi gặp người tình,

Trời sáng tuyết bay ngập trời,

Dấu chân đã để lại trên tuyết,

Giữ bí mật hay không cũng thế thôi.

Chú thích: Chó già không phải chó, râu mép không phải râu mép.

Hoàng tử Hương Ba nói: "Những bài thơ tình được trích dẫn trong bài viết rõ ràng là 'thụ ký'."

Mai Tát nhìn chằm chằm vào phần "chú thích" rồi hỏi: "Có ý gì vậy? Càng chú thích càng thấy mơ hồ."

Hoàng tử Hương Ba nói: "Anh còn mơ hồ hơn em đây." Lại đọc lại bài báo trên báo một lượt, phần lớn là cảm nhận khi đọc thơ tình Thương Ương Gia Thố, không nhìn ra ẩn ý gì sâu xa, điều đáng để suy ngẫm duy nhất chỉ có đoạn cuối:

Đọc được những bài thơ tình thế này, chúng ta giống như nhận được "cẩm nang thụ ký" để khai quật phục tạng,

Nhất định phải đi tìm "con chó già" không phải chó ấy, "râu mép" không phải râu mép ấy, nhất định phải đến gặp

"người tình" đó, xem "dấu chân" đã vươn đến trước cửa sổ của Long nữ Trác Ma Cầm Mễ chưa, xem bóng dáng của Trác

Ma Cầm Mễ có còn phục xuống trên một trăm lẻ tám viên kinh thạch sáng bóng như ánh mặt trời hay không?

Hoàng tử Hương Ba trầm ngâm: "Sao lại có tới hai văn bản dịch 'sáng thấu văn tự' của Chợ Bát Tự, hơn nữa lại chỉ hướng khác nhau? 'Cẩm nang thụ ký' trong hộp thư nhắc đến tự viện Sắc La, còn 'cẩm nang thụ ký' trên báo lại nhắc đến tự viện Đại Chiêu."

Mai Tát hỏi: "Sao anh biết đó là tự viện Đại Chiêu?"

Hoàng tử Hương Ba nói: "Ở đây có câu 'một trăm lẻ tám viên kinh thạch sáng bóng như ánh mặt trời', 'một trăm lẻ tám' chỉ Đại tạng kinh, ở Tây Tạng, chỉ có những phiến đá trước cửa tự viện Đại Chiêu mới được gọi là 'một trăm lẻ tám viên kinh thạch không chữ'. Đây gần như cũng là nói thẳng ra rồi."

Mai Tát nói: "Đều là nói thẳng, vậy chúng ta phải làm sao? Nên tuân theo sự gợi ý của hộp thư để đến tự viện Sắc La, hay tuân theo sự gợi ý của tờ báo để đến tự viện Đại Chiêu?"

Hoàng tử Hương Ba nói: "Có lẽ chúng ta có thể đến tự viện Sắc La trước, rồi sau đó đến tự viện Đại Chiêu."

Mai Tát nói: "Tuyệt đối không được, làm như vậy sẽ trái với thiết luật duy nhất của phục tạng. Phục tạng duy nhất luôn là lựa chọn duy nhất, con đường duy nhất, sự khai quật duy nhất. Nếu anh được gia trì, tức là vô hình trung được trao phó sứ mệnh, anh chắc chắn sẽ tự phát sinh ra khả năng bước vào con đường chính đạo. Việc chờ đợi và phát hiện ra khả năng của chính mình là điều bắt buộc, có những đại sư khai quật phục tạng phải chờ đợi ròng rã mấy chục đời, cho dù kiếp này không có cơ duyên, họ cũng không dễ dàng đi vào đường rẽ. Phải biết rằng, nếu đi đến tự viện Sắc La trước, không tìm thấy 'cửa ải thất độ mẫu' rồi mới sang tự viện Đại Chiêu, thì rất có thể 'cửa ải thất độ mẫu' ở tự viện Đại Chiêu sẽ tự động biến mất; hoặc 'cửa ải thất độ mẫu' vẫn tồn tại, nhưng anh sẽ không còn là người khai quật duy nhất để nhận được bất kỳ sự gợi ý và cơ hội tiếp cận mục tiêu nào nữa."

Hoàng tử Hương Ba nói: "Đã vậy, sao chúng ta lại đồng thời nhận được hai loại 'cẩm nang thụ ký' hoàn toàn khác nhau chứ?"

Mai Tát nói: "Điều này cũng không khó giải thích, rất có thể là sự quấy nhiễu của ma quỷ, hoặc là sự thử thách đối với anh của các vị không hành hộ pháp. Càng đến gần thành công, sự quấy nhiễu và thử thách sẽ càng nhiều. Sự hiện thế của mỗi một món phục tạng đều là một quá trình 'thỉnh kinh nơi Tây Thiên', 'chín chín tám mươi mốt nạn' là điều bắt buộc. Hoặc có thể nói thế này, phục tạng không phải là một cơ quan do người xưa thiết kế sẵn để đợi anh đến phá giải, mà là linh hồn, tư tưởng, Phật pháp đang chờ đợi sự va chạm của những linh hồn, tư tưởng, Phật pháp sôi nổi tương tự. Nó là một sự kết hợp, giống như sự theo đuổi lẫn nhau giữa nam và nữ ở cõi nhân gian, cả hai bên đều tràn đầy sức sống sinh mệnh ảo diệu và huyền bí. Anh đang khai quật phục tạng, phục tạng cũng đang khai quật anh; anh kiên định quả cảm, phục tạng cũng kiên định quả cảm; anh mê mờ không rõ, phục tạng cũng mê mờ không rõ; anh nhậm vận thênh thang, phục tạng cũng nhậm vận thênh thang. Ít nhất về mặt lý thuyết là như vậy."

Hoàng tử Hương Ba gật đầu nói: "Anh hiểu rồi, chúng ta có thể từ bỏ việc lựa chọn giữa tự viện Sắc La và tự viện Đại Chiêu, tìm một ký hiệu chung không cần phải lựa chọn, từng bước suy luận xuống dưới. Xem kết luận cuối cùng, nếu là tự viện Sắc La thì đến tự viện Sắc La, nếu là tự viện Đại Chiêu thì đến tự viện Đại Chiêu."

Mai Tát nói: "Tốt nhất là vậy, nhưng ký hiệu chung nằm ở đâu?"

Hoàng tử Hương Ba tự tin nói: "E rằng đã tìm thấy rồi. Trong 'cẩm nang thụ ký' của hộp thư có nhắc đến 'Ác quỷ Từ Ốc Mạc An·Cát Mộ Ô', em đọc cái tên này xem, 'Từ Ốc Mạc An·Cát Mộ Ô', đọc nhanh lên, là gì? Đọc nhanh nó sẽ thành 'Trác Ma Cầm Mễ'. Khi phiên âm theo phát âm tiếng Tạng ra chữ Hán thường sẽ như thế này, điều này cho thấy người viết ra cái tên 'Từ Ốc Mạc An·Cát Mộ Ô' không thường xuyên làm công tác dịch thuật, không biết rằng 'Trác Ma Cầm Mễ' là một danh từ phiên âm tiếng Hán tương đối phổ biến. Đương nhiên cũng có khả năng là cố ý, nếu là sự quấy nhiễu của ma quỷ hoặc sự thử thách của không hành hộ pháp, thì chắc chắn là cố ý."

"Ý anh là, 'Từ Ốc Mạc An·Cát Mộ Ô' trong 'cẩm nang thụ ký' của hộp thư và 'Trác Ma Cầm Mễ' trong 'cẩm nang thụ ký' của tờ báo là cùng một người?"

"Đúng vậy, cả hai loại 'cẩm nang thụ ký' đều nhắc đến Trác Ma Cầm Mễ. Trác Ma Cầm Mễ cũng giống như Mã Cát A Mễ, Cơ Cơ Bố Xích, Nhân Tăng Vượng Mẫu, Y Trác Lạp Mụ, Cát Thái Lộ Đinh, đều xuất phát từ thơ tình Thương Ương Gia Thố." Vừa nói Hoàng tử Hương Ba vừa cất tiếng hát:

Dòng nước cuồn cuộn trôi đi rồi,

Con cá nhảy nhót chẳng còn đây,

Chỉ có Long nữ Trác Ma Cầm Mễ,

Đó là người bạn đồng hành suốt đời không đi xa.

Hát liên tiếp hai lần, anh nói: "Trác Ma Cầm Mễ là điểm chung duy nhất của hai loại 'sáng thấu văn tự'. Khi em không chắc chắn nên tin vào ai, điểm chung chính là chỗ dựa duy nhất mà em không thể lựa chọn nào khác. Trác Ma Cầm Mễ, đây là người tình thứ sáu mà những bài thơ tình nói cho chúng ta biết, rất có thể cũng là người phụ nữ thứ sáu sắp sửa qua đời. Nhưng lần này, anh không chỉ muốn Thương Ương Gia Thố nói cho chúng ta biết cô ấy là ai, mà còn muốn ông ấy bảo anh phải bảo vệ cô ấy như thế nào, anh không tin việc mở 'cửa ải thất độ mẫu', tìm ra 'phục tạng cuối cùng', lại cần phải trả giá bằng chừng ấy sinh mạng."

Mai Tát nói: "Đúng vậy, không thể để chết người nữa, chết nữa thì không chịu nổi đâu."

Hai người trầm mặc. Hoàng tử Hương Ba nâng cốc lên, uống cạn sạch trà sữa trong đó.

Mai Tát nói: "Nhưng Trác Ma Cầm Mễ lại không thể bảo chúng ta phải làm thế nào."

Hoàng tử Hương Ba nói: "Vậy thì phải xem bối cảnh sản sinh ra Trác Ma Cầm Mễ thôi, em còn nhớ lúc này Thương Ương Gia Thố đang làm gì không?"

Mai Tát không chút do dự đáp: "Sứ giả kim tự của triều đình đã đến cung điện Bố Đạt La, Thương Ương Gia Thố đang chấp nhận sự tra xét, rốt cuộc ông ấy được xác định là Đạt Lai thật, hay Đạt Lai giả, toàn bộ Tây Tạng đều đang chờ đợi. Bây giờ, sự chờ đợi của toàn bộ Tây Tạng không còn quan trọng nữa, quan trọng là em đang chờ đợi, anh mau nói đi."

Hoàng tử Hương Ba liếc nhìn bầu trời đầy sao sâu thẳm ngoài cửa sổ Lhasa, hô lên một tiếng: "Phục vụ, trà sữa, cho thêm một bao thuốc lá, thôi thôi, không cần thuốc lá nữa."

Người phục vụ ăn mặc theo kiểu Hán tử Kham Ba lịch sự bước tới nói: "Thưa ông, đã muộn lắm rồi, có cần thuê phòng để nghỉ ngơi không? Chúng tôi có thể mang trà sữa lên phòng."

Hoàng tử Hương Ba nhìn Mai Tát nói: "Không cần, chúng tôi ngồi ở đây thôi."

5

Hoàng tử Hương Ba uống trà sữa rồi nói: "Việc tra xét của sứ giả kim tự được tiến hành tại tẩm cung Đức Đan Cát Điện của Thương Ương Gia Thố ở cung điện Bố Đạt La. Thương Ương Gia Thố ngồi trần truồng trên tấm đệm chính giữa, nhắm mắt quán tưởng. Sứ giả kim tự vòng quanh ông, quan sát kỹ lưỡng các loại điềm triệu như diện tướng, cốt tướng, thể tướng, vân tay, huyết mạch, sắc da, cơ bắp, hơi thở, nốt ruồi, bớt v.v., miệng không ngừng lẩm nhẩm "Thái Thanh Thần Giám·Thuyết Ca", thỉnh thoảng còn dùng chiếc gương đồng Âm Dương để soi chiếu, một lúc lâu sau mới bước ra khỏi Đức Đan Cát Điện. Sứ giả kim tự mặt lạnh như tiền không nói một lời, lướt qua các sứ giả của Nhiếp chính vương Tang Kết, Lạp Tạng Hãn, Sách Vãng A Lạp Bố Thản, Bát Tư Vượng Thu của phái Tát Gia, Cát Ma Châu Cổ của phái Cát Ma Cát Cửu, Kinh sư Khúc Giới đại lạc ma và Cửu Mễ Đa Tiệp hoạt Phật cùng một đám khách quý được mời đến cũng là những nhân chứng, bước về phía bên ngoài cung điện Bố Đạt La. Trái tim của tất cả mọi người đều treo ngược lên, bám sát theo sau sứ giả kim tự, hy vọng nghe được sự chỉ thị rõ ràng của ông, dù chỉ là một lời nửa chữ. Nhưng miệng vàng của sứ giả kim tự nhất quyết không mở, bước chân vội vã đến mức mấy lần vấp ngã trên chiếc cầu thang dốc đứng. Ông băng qua Tư Tây Bình Tố và Thố Khâm Đại Điện uy nghiêm nghiêm ngặt, bước qua cổng Bành Tố Đa Lãng, đi xuống bậc thang dài, ra hiệu cho tùy tùng chuẩn bị ngựa, rồi quay người, nhìn những nhân vật chính trị và tôn giáo của vùng đất tuyết đang ngóng chờ mình với đôi mắt thiết tha nói: 'Vị đại đức Thương Ương Gia Thố đó có phải là hóa thân của Đạt Lai Lạt Ma đời thứ năm hay không, bản thân ta vốn không biết, nhưng với tư cách là thể tướng pháp tướng của bậc thánh nhân thì viên mãn không chút khiếm khuyết.' Nói xong, không có câu thứ hai, ông cúi người hành lễ, xoay người lên ngựa, lập tức quay về kinh đô phục mệnh. Nhiếp chính vương Tang Kết thở phào nhẹ nhõm, sải bước trở lại cung điện, đến trước mặt Thương Ương Gia Thố kích động nói: 'Thể tướng pháp tướng của Tôn giả viên mãn không chút khiếm khuyết, ta đã không chọn nhầm, không chọn nhầm rồi. Tôn giả bình an, thánh giáo bình an, ta cũng không còn gì hối tiếc nữa.'

"Thương Ương Gia Thố nhắm mắt không thèm đếm xỉa đến Nhiếp chính vương, ông đang nhập định, đã rất sâu rất sâu rồi. Sự nhập định Mật pháp rất sâu rất sâu ấy, đối với ông có lẽ chính là một con đường để bước vào cảnh giới thơ tình, con đường như thế là chân thật không hư ảo, là oán thân bất biệt, không lạc bất biệt. Ông khiến mọi người nhìn thấy, trong thiền định Phật pháp huyền bí, cũng có cả tình cảm thế tục nam nữ mến mộ nhau: Mã Cát A Mễ, em đi đâu rồi, sao đến lúc này mới đến tìm anh? Đã không thể phân biệt nổi cô ấy là người, hay là thần. Nhiếp chính vương Tang Kết cầm một nén nhang đã được châm lửa từ chiếc lư hương trước tượng Phật, cắm vào kẽ tay trong ấn thiền định của Thương Ương Gia Thố. Tro nhang rơi vào lòng bàn tay, ông không hề có cảm giác, ngọn lửa cháy bén đến ngón tay, ông cũng không hề có cảm giác, nhang cháy hết, lớp da giữa các kẽ ngón tay có hơi ngả vàng, ông vẫn không hề có cảm giác. Tang Kết lặng lẽ rời đi, thầm nghĩ mặc dù Tôn giả hành vi không đứng đắn, làm trái với giới luật thanh tịnh của cửa Phật, nhưng lại là một vị thánh giả tu pháp bẩm sinh, không thấy ông tu luyện thế nào, nhưng thành tựu nhập định của ông đã là điều mà những người tu luyện Mật tông bình thường ẩn cư trong sâu thẳm núi sâu mười năm cũng không đạt tới được. Thế nhưng Nhiếp chính vương Tang Kết không ngờ rằng, chỉ hơn mười phút sau khi ông rời đi, một câu nói nhẹ nhàng của thị vệ lạc ma Đỉnh Khâm đã đánh thức Thương Ương Gia Thố người mà ngọn lửa nhang đốt cũng không làm tỉnh giấc: 'Thưa chủ nhân, tăng nhân Ninh Mã Tiêu Thu Đan hy vọng được gặp ngài.'

"Tiêu Thu Đan tuy là cao tăng phái Ninh Mã có tư cách quán đỉnh, nhưng không phải là nhân vật cấp lãnh đạo, không có tư cách bước vào đạo tràng Đỉnh Kế Bố Đạt La của phái Cát Lỗ, chỉ có thể đợi Thương Ương Gia Thố ở khu chợ hoặc vùng đồng ruộng bên bờ sông Lhasa. Thương Ương Gia Thố đã đi. Đáng tiếc là, trong tất cả các ghi chép bằng văn bản và truyền thuyết truyền miệng về Thương Ương Gia Thố, đều không lưu lại địa điểm và nội dung của cuộc gặp gỡ này. Chúng ta chỉ biết rằng lấy cuộc gặp gỡ này làm điểm khởi đầu, Thương Ương Gia Thố lại bắt đầu giống như trước đây, thường xuyên bước ra khỏi cung điện Bố Đạt La đến những nơi khác để giết thời gian, hơn nữa thỉnh thoảng lại có những bài thơ tình thốt ra khỏi miệng. 'Sáng thấu văn tự' được gửi vào hộp thư của tôi và 'sáng thấu văn tự' trên "Tờ báo Tây Tạng" đều là những bài thơ tình được sinh ra vào lúc này. Đồng thời, thơ tình Thương Ương Gia Thố bắt đầu lan truyền nhanh chóng trong dân gian Lhasa, chẳng mấy chốc đã là điều ai ai cũng biết, người người ca tụng thơ tình, cũng ca tụng một vị Đạt Lai Lạt Ma đời thứ sáu đã bước xuống thần đàn, tình sâu nghĩa nặng.

"Tiếp đó, giống như những gì được lưu truyền trong dân gian, đã xảy ra sự kiện dùng tên độc bắn chết Nhiếp chính vương Tang Kết. Ngày hôm nay, Tang Kết dẫn người đi đến tự viện Sắc La để chủ trì nghi thức chiêm bái Kim cương chùy thần quái Mã đầu minh vương thường niên, trên đường về thì từ phía trước bên phải có một mũi tên độc bắn tới, cắm vào cổ con ngựa cưỡi, con ngựa chết ngay tại chỗ. Lính vệ đội đuổi theo kẻ bắn tên, nhưng kẻ bị đuổi kịp lại là cái xác của kẻ bắn tên tự sát bằng dao. Kẻ tự sát mặc một bộ trang phục Mông Cổ, nhưng diện mạo lại là người Tạng điển hình, cho nên ngay cả Nhiếp chính vương Tang Kết cũng thấy ngơ ngác: Kẻ kiên cường không chịu để bản thân biến thành nhân chứng sống này, rốt cuộc là do ai sai khiến? Sau khi Thương Ương Gia Thố biết tin, đã đến tẩm cung Nhiếp chính vương ở cung điện Bố Đạt La để thăm hỏi. Ông nói: 'Thượng sư ơi, tôi biết họ không muốn tôi chiếm giữ bảo tọa Sư tử vô sợ hãi của Đạt Lai Lạt Ma, tôi nhường bảo tọa đó ra là được chứ gì, tại sao còn phải nhằm vào ngài mà bắn tên độc chứ?' Nhiếp chính vương Tang Kết nói: 'Tôn giả anh minh ngài không thể nói vậy, mục đích của bọn họ không phải là ngài cũng không phải là tôi, mà là quyền lực. Cho đến nay tôi vẫn chưa giao quyền lực cho ngài, chính là không muốn ngài trở thành mục tiêu bị tên độc bắn hạ. Còn về phần tôi, dù chết cũng không muốn giao đại nghiệp chính giáo của Tây Tạng vào tay người Mông Cổ, Hoàng đế đại đế cũng không muốn, cho nên tôi là đang gánh vác nguy hiểm thay cho Tây Tạng, gánh vác nguy hiểm thay cho Hoàng đế đại đế. Không phải ngài liên lụy tôi, mà là tôi liên lụy ngài. Hãy làm thật tốt vị giáo chủ của ngài đi, sẽ có một ngày, ngài sẽ trở thành vị Đạt Lai Lạt Ma xuất sắc nhất, sẽ dùng sức mạnh của Quán Thế Âm Bồ Tát và Liên Hoa Sinh Đại Sư, tiêu diệt tất cả kẻ thù của chính giáo, kẻ khắc tinh của phái Cát Lỗ, những kẻ phản bội thề nguyện đi về phía âm mưu.'

"Sau khi mưu sát thất bại, tù trưởng bộ lạc Hòa Thạc Đặc Mông Cổ là Lạp Tạng Hãn và tù trưởng bộ lạc Chuẩn Cát Nhĩ là Sách Vãng A Lạp Bố Thản lại một lần nữa dùng những lời lẽ gay gắt dâng tấu lên Khang Hi Hoàng đế, yêu cầu phế truất Thương Ương Gia Thố, trừng phạt Nhiếp chính vương Tang Kết. Bản tấu đưa ra Bát Tư Vượng Thu của phái Tát Gia và Cát Ma Châu Cổ của phái Cát Ma Cát Cửu, nói rằng các vị cao tăng hai phái Tát Gia, Cát Cửu do hai ông đại diện đều đã lạnh giá đến tận xương tủy, nếu Hoàng đế đại đế không quản, các giáo phái ở Tây Tạng sẽ không còn tuân phục chính quyền Cát Đan Phả Chương của phái Cát Lỗ nữa, mà những người Mông Cổ sùng tín phái Cát Lỗ cũng sẽ cải đạo sang các giáo phái khác. Đặc biệt quan trọng là, trong bản tấu lần này, họ đã dùng cả hai thứ tiếng Mông Cổ và Tạng để phụ lục một vài bài thơ tình Thương Ương Gia Thố sưu tầm từ dân gian, đồng thời sửa đổi từ vựng, phóng đại ý nghĩa dâm loạn cái gọi là. Khang Hi Hoàng đế nhận thức được rằng đây đã là điềm báo nội loạn ở Tây Tạng, để ổn định cục diện chính trị, liền ban chiếu chỉ, cùng với tù trưởng bộ lạc Hòa Thạc Đặc Mông Cổ Lạp Tạng Hãn, tù trưởng bộ lạc Chuẩn Cát Nhĩ Sách Vãng A Lạp Bố Thản cùng các bộ lạc Mông Cổ tínngưỡng phái Cát Lỗ khác đồng thời tuyên bố, không thừa nhận Thương Ương Gia Thố là chuyển thế của Đạt Lai Lạt Ma đời thứ năm.

"Thương Ương Gia Thố đã biết, nhà thơ và ca sĩ đã biết, đối với ông mà nói đây ắt hẳn là đả kích lớn nhất. Trước đó cho dù có sự tính toán ngầm và tấn công ngoài mặt của Lạp Tạng Hãn và Sách Vãng A Lạp Bố Thản, nhưng dù sao vẫn có triều đình, có sự công nhận của Hoàng đế đại đế và sự chống lưng công khai hay ngầm, nhưng lần này thì khác, trời sập xuống rồi, con người biết trốn đi đâu? Thương Ương Gia Thố không hề ôm bất kỳ ảo tưởng và nỗ lực nào, phản ứng duy nhất chính là làm thơ ca hát:

Con rồng dữ làm điều xấu ở sau lưng,

Dù cho nó có hung ác đến đâu,

Để hái được quả táo ở phía trước,

Ta dám liều cái mạng này.

Lại hát rằng:

Dòng nước cuồn cuộn trôi đi rồi,

Con cá nhảy nhót chẳng còn đây,

Chỉ có Long nữ Trác Ma Cầm Mễ,

Đó là người bạn đồng hành suốt đời không đi xa.

"Trác Ma Cầm Mễ đã xuất hiện, cô ấy là ai? Ở đâu? Tại sao vào thời khắc vô cùng nguy cấp trời sập đất nứt, vận mệnh lâm nguy này, cô ấy lại trở thành chốn gửi gắm duy nhất của ông?"

Mai Tát nói: "Có phải anh muốn nói Thương Ương Gia Thố lại có người tình mới, đã thay lòng đổi dạ rồi không?"

Hoàng tử Hương Ba nói: "Đúng, người yêu này quá quan trọng, bởi vì tiếp theo chính là sự mất tích của Thương Ương Gia Thố. Ông ấy có thể mất tích đi đâu được chứ? Là Lạp Tạng Hãn hay Sách Vãng A Lạp Bố Thản đã bắt cóc ông ấy? Xem chừng khả năng không lớn, Thương Ương Gia Thố là kẻ đã rời xa chính quyền Tây Tạng, không còn được chúng thí chủ Mông Cổ và triều đình thừa nhận trong mắt bọn họ chẳng qua chỉ là một kẻ phế vật. Là Nhiếp chính vương Tang Kết giam lỏng ông ấy? Khả năng này càng nhỏ hơn, Tang Kết lúc này đã đưa ra quyết định tránh mũi nhọn, lấy việc thoái vị để ổn định Tây Tạng, đang sắp xếp các công việc bàn giao quyền lực của Nhiếp chính vương, không đời nào rảnh rỗi để lo chuyện khác. Là tăng nhân Ninh Mã Tiêu Thu Đan ẩn giấu ông ấy? Cũng không hợp lý, bởi vì Thương Ương Gia Thố phải đối mặt không phải là nguy hiểm đến tính mạng, mà là sự phế truất, có ẩn giấu hay không cũng không thể thay đổi được vận mệnh của ông ấy. Khả năng duy nhất là, Thương Ương Gia Thố cảm thấyKý nhiên ngay cả Hoàng đế đại đế cũng không thừa nhận mình là Đạt Lai Lạt Ma đời thứ sáu, chi bằng dứt khoát làm một kẻ bình dân an phận thủ thường. Ông đến bên cạnh Long nữ Trác Ma Cầm Mễ, không bao giờ quay lại cung điện Bố Đạt La nữa. Đương nhiên đối với chúng ta mà nói, điều quan trọng không phải là Thương Ương Gia Thố có ở cùng với Trác Ma Cầm Mễ hay không, mà là 'cẩm nang thụ ký' của tự viện Chợ Bát Tự đã chỉ ra cho chúng ta biết Trác Ma Cầm Mễ chính là mục tiêu tiếp theo để chúng ta mở 'cửa ải thất độ mẫu'. Bất kỳ thông tin nào về Trác Ma Cầm Mễ, đều có thể có liên quan đến phục tạng, thậm chí có thể trực tiếp dẫn đến sự thành công của việc khai quật phục tạng."

Mai Tát nói: "Nhưng hiện tại chúng ta hoàn toàn không biết Trác Ma Cầm Mễ rốt cuộc đang ở đâu, điểm chung của hai loại 'sáng thấu văn tự' mang lại cho chúng ta vẫn là sự mơ hồ."

Hoàng tử Hương Ba nói: "Nhưng cũng không phải là không có dấu vết để tìm. Nửa tháng sau khi Thương Ương Gia Thố mất tích, ở Lhasa đã xảy ra một vụ hỏa hoạn, các tín đồ chiêm bái đã bắt tại trận kẻ phóng hỏa, không ngờ lại là một vị lạc ma. Nhưng vị lạc ma này nhanh chóng bị Dạ xoa một mắt và Dạ xoa sứt môi - những pháp sư Mặc Trúc Huyết đang vội vã đến dập lửa - đánh chết. Đã vậy kẻ phóng hỏa đã bị trừng phạt, thì cũng không còn ai đi truy cứu tại sao hắn lại phóng hỏa nữa, vụ án phóng hỏa cứ thế bỏ xó. Tôi hiện tại có một sự liên tưởng như thế này: Tại sao lại đánh chết kẻ phóng hỏa? Rất có thể là không muốn để lại nhân chứng sống. Ai không muốn để lại nhân chứng sống? Chắc chắn là đồng bọn, nói cách khác là Dạ xoa một mắt và Dạ xoa sứt môi cùng một bọn với kẻ phóng hỏa, đều thuộc về 'Điện huyết chú người ẩn hình'. Bọn họ vẫn luôn truy sát Mã Cát A Mễ và đứa con của cô ấy, bây giờ lại xuất hiện ở hiện trường vụ hỏa hoạn, tại sao?"

Mai Tát nói: "Ý anh là bọn họ đến hiện trường vụ hỏa hoạn cũng là để truy sát, truy sát Trác Ma Cầm Mễ, phóng hỏa là một hình thức truy sát khác?"

Hoàng tử Hương Ba nói: "Đúng. Mặc dù Mã Cát A Mễ đã chết, nhưng 'Điện huyết chú người ẩn hình' vẫn chưa bao giờ từ bỏ việc truy sát những người tình khác của Thương Ương Gia Thố. Đặc biệt là đối với những người phụ nữ mang thai, bất kể cô ta mang thai con của ai, chỉ cần từng qua lại với Thương Ương Gia Thố, giết không tha."

"Bọn họ đã thiêu chết Trác Ma Cầm Mễ rồi sao?"

"Chắc chắn là không, bởi vì sau vụ hỏa hoạn Thương Ương Gia Thố vẫn đang mất tích, quan trọng hơn là, chúng ta không nhìn thấy nhà thơ có bất kỳ bài thơ nào oán trách vụ hỏa hoạn cả."

"Vậy chúng ta mau đến hiện trường vụ hỏa hoạn thôi, còn ngồi đực ra đây làm gì?"

Hoàng tử Hương Ba nói: "Trong tất cả các ghi chép về vụ hỏa hoạn này, đều không đề cập đến hiện trường, chỉ nói là Lhasa. Lhasa lớn như vậy, lại không phải là nơi được bao quanh bởi tường thành cổng thành, không thể nào cháy rụi cả thành được, chắc chắn là cố ý không ghi chép lại. Tại sao, nơi xảy ra vụ án phóng hỏa lại cơ mật đến mức ngay cả kinh điển sử sách cũng phải che đậy? Đương nhiên thứ càng cơ mật thì lại càng có giá trị, nơi ở của Trác Ma Cầm Mễ và hiện trường vụ hỏa hoạn chắc chắn là một, chỉ cần tìm được một cái, là có thể phát hiện ra tung tích của Thương Ương Gia Thố, cũng có thể tiếp cận mục tiêu của chúng ta. Anh tin chắc rằng chúng ta càng lúc càng đến gần hơn với sự hé lộ cuối cùng của 'cửa ải thất độ mẫu'."

Mai Tát nói: "Anh vừa nói các tín đồ chiêm bái đã bắt tại trận kẻ phóng hỏa? Có các tín đồ chiêm bái, điều đó chứng tỏ hiện trường vụ hỏa hoạn chính là một ngôi chùa."

Hoàng tử Hương Ba nói: "Đã là chùa bị hỏa hoạn thiêu rụi, chắc chắn sẽ được tu bổ hoặc xây dựng lại, nếu chúng ta tra cứu tình hình tu bổ và xây dựng lại các ngôi chùa ở Lhasa trong vòng một hai năm sau vụ hỏa hoạn, chẳng phải có thể khóa chặt hiện trường vụ hỏa hoạn rồi sao?"

Mai Tát nói: "Đúng vậy, nên đến Viện Khoa học Xã hội Tây Tạng hỏi xem, ở những nơi thế này luôn có một vài người yêu thích lịch sử bản địa, biết triều đại nào đời nào ngôi chùa nào mọc thêm một viên đá hay bớt đi một viên gạch."

Hai người đứng dậy, đồng thời hô lên: "Tính tiền."

6

Vừa bước ra khỏi nhà hàng, họ đã nhìn thấy ở lối cầu thang và đại sảnh có tới mấy viên cảnh sát đang đứng. Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát vội vàng thụt lùi trở lại nhà hàng, hỏi người phục vụ ăn mặc theo kiểu Hán tử Kham Ba rằng còn có con đường nào khác có thể đi ra ngoài không?

Người phục vụ nói: "Các người chỉ cùng nhau nói chuyện vài câu thôi, sợ cái gì?"

Hoàng tử Hương Ba sững sờ, lúc này mới nhận ra cảnh sát lấy cớ kiểm tra hoạt động mại dâm mua dâm, bọn họ dồn sự chú ý vào các phòng lưu trú, không ngờ rằng đã nửa đêm rồi mà vẫn có người ngồi trong nhà hàng uống trà sữa. Mà đối với những cuộc kiểm tra như thế này, các khách sạn nhà trọ đều vô cùng chán ghét, không có ai chủ động nói cho cảnh sát biết trong nhà hàng vẫn còn một nam một nữ.

Hoàng tử Hương Ba nói: "Dù sao chúng ta cũng không phải vợ chồng, nếu cảnh sát phản ánh lại với chồng cô ấy, thì nói không rõ đâu."

Mai Tát nói: "Sao anh không nói là phản ánh lại với vợ anh?"

Hoàng tử Hương Ba nói: "Thế thì lại càng nói không rõ nữa, vốn dĩ anh đã hơi lăng nhăng mà."

Người phục vụ ăn mặc theo kiểu Hán tử Kham Ba nói: "Được rồi, theo tôi."

Họ đi về phía phòng vệ sinh, rồi lại đi về phía phòng tạp hóa, mở cửa đi ra ngoài, liền có một chiếc cầu thang hẹp ngoài trời, thông ra phía sau viện của nhà trọ. Người phục vụ dẫn họ đi xuống cầu thang, chỉ vào bức tường rào bằng lưới sắt, rồi bỏ đi. Họ đến trước hàng rào lưới sắt, cảm thấy hơi cao, đi vòng quanh một vòng, thấy một chỗ trên mặt đất chất đống mấy khúc gỗ, liền bước lên đó.

Hoàng tử Hương Ba nói: "Em tự trèo qua, hay để anh ôm em trèo?"

"Anh ôm nổi em không?"

"Thử xem." Hoàng tử Hương Ba dang tay định ôm, Mai Tát theo bản năng né tránh.

"Thôi để em tự trèo." Cô nhấc chân bước lên, hai chân cùng lúc nhấc lên rồi hạ xuống trèo ra ngoài hàng rào, chuẩn bị nhảy xuống, không kìm được kêu lên một tiếng kinh hãi, "Dưới đó có cảnh sát."

Nhưng đã không kịp nữa rồi, cơ thể nghiêng ngả kéo theo trọng lượng của Mai Tát khiến cô chỉ còn cách nhảy xuống.

Hoàng tử Hương Ba với tay bắt nhưng không túm được cô, kêu lên: "Ái chà, ái chà, sao chúng ta xui xẻo thế này." Kêu xong, không chút do dự nhảy xuống theo, mặc dù anh đã ngửi thấy và nhìn thấy rõ ràng, thứ đang chờ đợi bọn họ bên dưới còn đáng sợ hơn cả cảnh sát.

Hai người trước sau rơi tõm xuống một hố phân lớn. Có vẻ như hố phân này không phải là hố chính tông, mà là một cái hố móng bỏ hoang, trải qua năm tháng tích tụ đầy nước thải và nước rửa bát, phân chó và phân người. Hoàng tử Hương Ba đứng trong hố phân, chất bẩn gần như ngập đến cổ họng anh. Anh một tay đỡ Mai Tát, một tay khua khoắng trên đám vật thể nổi lềnh bềnh không nỡ nhìn, chật vật bơi về phía bờ hố.

Bích Tú nói: "Đội trưởng Vương, anh được đấy, mỗi lần lục soát một khách sạn, anh lúc nào cũng dẫn chúng tôi đứng đợi ở phía sau, quả nhiên đợi được mục tiêu rồi." Hóa ra Bích Tú đã để Đội trinh sát trọng án hỗ trợ vây bắt, người của Đội trinh sát trọng án đi vào từ cửa trước một cách công khai, còn ba người bọn họ bao vây từ phía sau thì rất bí mật.

Bích Tú nhặt một hòn đá ném về phía Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát, nhưng không trúng, những bọt phân bắn tung tóe ngược lại khiến anh ta liên tục lùi bước, anh ta rút súng ra định ngắm bắn.

Vương Nham nghiêm khắc nói: "Bất kỳ tội phạm nào, chỉ cần không đe dọa đến tính mạng của cậu thì không được bắn chết. Nếu cậu còn u mê không tỉnh ngộ, cố ý giết người, thì cứ chờ mà gánh hậu quả đi."

Bích Tú: "Tôi chẳng qua chỉ làm bộ làm tịch chút thôi, để uy hiếp bọn chúng."

Vương Nham nói: "Dùng đá ném, cũng là làm bộ làm tịch sao?"

Bích Tú nghiến răng nghiến lợi nói: "Đó là để cho bọn chúng ăn cứt."

Trác Mã bẻ một cành cây từ cây liễu cách đó không lâu, chìa sang để họ bám vào, rồi kéo họ lên bờ. Cậu ta che mũi nói: "Sao các người lại nhảy xuống cái chỗ này thế, đui mù à?"

Hoàng tử Hương Ba từng vốc từng vốc chất bẩn trên đầu, trên cổ ra, nói: "Người chạy trốn lấy mạng, đâu còn quản được nhiều thế."

Mai Tát "ọe ọe" nôn ọe, nước thải chảy lênh láng khắp mặt đất.

Bích Tú nói: "Đây gọi là chó cùng rứt dậu."

Hoàng tử Hương Ba nói: "Cậu mắng tôi thế nào cũng được, đừng mắng chó, mắng chó chính là mắng bản thân cậu đấy."

Bọn họ quá bẩn, Vương Nham và Bích Tú giơ tay định tóm, nhưng rồi đều rụt tay lại. Hoàng tử Hương Ba lập tức nhận ra sự xuất hiện của hố phân hóa ra là để ngăn cản cảnh sát bắt giữ bọn họ, anh cởi chiếc áo gió bên ngoài ra, dùng sức vung vẩy những giọt nước bẩn về phía cảnh sát, ép bọn họ không dám đến gần, rồi kéo Mai Tát bỏ chạy thục mạng.

Hoàng tử Hương Ba rất quen thuộc các con phố ở Lhasa, cộng thêm sự che chở của bóng đêm, chạy điên cuồng nửa tiếng đồng hồ sau, cuối cùng đã cắt đuôi được cảnh sát. Bọn họ thở hổn hển đi về phía sông Lhasa.

Họ tách ra một khoảng cách, trốn trong rừng liễu rậm rạp bên bờ sông, cởi sạch quần áo, chui xuống sông Lhasa. Cho dù là mùa hè, sông Lhasa vẫn lạnh buốt thấu xương. Nhưng sự dơ bẩn còn đáng sợ hơn cả cái lạnh, họ cọ rửa thật mạnh, hứa hẹn chỉ muốn lộn cả ngũ tạng lục phủ ra mà rửa sạch một phen, rửa mãi cho đến tận sáng hôm sau mới thôi.

Hoàng tử Hương Ba mặc bộ quần áo ướt đã được giặt sạch rời khỏi bờ sông, lúc quay lại, trên tay xách theo hai bộ quần áo mới tinh từ trong ra ngoài cùng khăn mặt xà phòng. Hai người lại một lần nữa tách ra, nhảy xuống sông xát xà phòng tắm gội thêm một lần nữa, lúc này mới thoải mái ấm áp ngồi lên những hòn đá bên bờ sông. Bên cạnh là tiền mặt, giấy tờ và điện thoại di động phơi đầy đất.

Hoàng tử Hương Ba ném chiếc túi nhựa đựng bánh mỳ dẹt và nước khoáng cho Mai Tát rồi nói: "Ăn đi, ăn no rồi chúng ta đến Viện Khoa học Xã hội."

Mai Tát "ọe" một tiếng lại nôn: "Mau đừng nói chuyện ăn uống nữa." Vừa nói vừa dùng chân đá văng chiếc túi nhựa ra sau lưng.

Hoàng tử Hương Ba nói: "Cũng phải rửa sạch ruột gan chứ." Vừa nói vừa ực ực uống cạn một chai nước khoáng, rồi ngửa người nằm ngửa ra, nheo mắt nhìn bầu trời xanh thẳm, cảm thán một tiếng, "Chúng ta thật là may mắn, ngay cả phân cũng đang giúp chúng ta."

Mai Tát không thèm nhìn anh: "Nói câu này thật là buồn nôn. Còn ăn nữa, đừng ăn nữa được không?"

"Đâu có ăn đâu." Hoàng tử Hương Ba bất chợt ngồi bật dậy.

Một tràng âm thanh chóp chép vang lên từ phía sau. Hai người gần như đồng thời quay đầu lại, đồng thời hét lên: "Yêu tinh núi?"

Yêu tinh núi đã không còn ở trong lồng sắt nữa, mà bị vị lạc ma râu xồm của tự viện Lạp Bốc Lăng dắt bằng dây thừng như dắt chó, đang thưởng thức chiếc bánh mỳ dẹt mà Mai Tát vừa đá ra sau lưng. Khoảng cách gần như thế, họ sợ chết khiếp, vội vàng đứng dậy.

Mai Tát nhanh chóng nhặt tiền mặt, giấy tờ và điện thoại di động đang phơi trên mặt đất lên, trốn ra phía sau Hoàng tử Hương Ba.

Vị lạc ma râu xồm nói: "Chúng ta hình như đã gặp nhau rồi."

Hoàng tử Hương Ba nói: "Đúng vậy, từng gặp rồi, ở tự viện Lạp Bốc Lăng."

Vị lạc ma râu xồm nói: "Nó hình như rất quen thuộc với các người, người không quen, cho nó đồ ăn, nó cũng không thèm ăn."

Hoàng tử Hương Ba nói: "Nó là con quỷ một chân Thái Ô Nhượng, là thần linh hộ trì phục tạng, lại là linh thú ký thác linh hồn của một hiền giả đã khuất, vị hiền giả này tên là Biên Ba, là thầy của hai chúng tôi. Cả đời ông nghiên cứu về 'cửa ải thất độ mẫu', bây giờ chết đi, lại ký thác linh hồn vào yêu tinh núi, muốn tiếp tục quan tâm đến 'cửa ải thất độ mẫu'."

Vị lạc ma râu xồm nói: "Hóa ra các người là học sinh của nó, học sinh gặp thầy mà không hành lễ, chạy trốn cái gì chứ?"

Hoàng tử Hương Ba vội vàng cúi gập lưng xuống: "Thầy Biên Ba chào thầy."

Mai Tát cũng nói: "Thầy Biên Ba, thầy nhất định phải phù hộ cho chúng tôi nhé, chúng tôi đến đây để khai quật 'cửa ải thất độ mẫu', đây cũng là di nguyện của thầy mà."

Yêu tinh núi phát ra một tiếng kêu "vê vê" giống như tiếng người, hình như đang đáp lại: "Chào các người." Cái đầu thì cúi gầm xuống, tham lam gặm nhấm chiếc bánh mỳ dẹt.

Hoàng tử Hương Ba nói: "Xem ra nó rất lâu rồi không được ăn gì, anh hình như không cho nó ăn à?"

Vị lạc ma râu xồm nói: "Tôi là một tăng nhân tha phương, dựa vào việc khất thực qua ngày, bản thân tôi còn ăn không đủ no, làm sao còn lo nổi cho nó?"

Yêu tinh núi ngẩng đầu lên, khóc, nước mắt tí tách rơi xuống.

Mai Tát nói: "Đáng thương quá, thầy Biên Ba."

Hoàng tử Hương Ba nói: "Tôi đưa tiền cho anh, đưa tiền cho anh, anh không được để thầy Biên Ba bị đói đấy."

Hoàng tử Hương Ba giật lấy mấy tờ tiền mệnh giá một trăm nhân dân tệ vẫn chưa phơi khô hẳn từ tay Mai Tát đưa qua, thấy không đưa tới tay vị lạc ma râu xồm được, bèn bước lên trước hai bước. Ngay lúc đó, yêu tinh núi lao vút lên, vươn đôi chi trước dài ngoằng, cào Hoàng tử Hương Ba một cái. Trên cổ Hoàng tử Hương Ba lập tức xuất hiện mấy vết máu hằn lên, vội vàng vứt tiền xuống rồi lùi lại phía sau. Yêu tinh núi hung hãn quẫy đạp, nhăn mũi và môi, khè khè thổi khí về phía anh.

„Tại sao? Tại sao? Thầy Biên Ba tại sao lại thế?“ Hoàng tử Hương Ba hỏi.

Vị lạc ma râu xồm kéo chặt sợi dây thừng, vui vẻ nói: "Thôi được rồi, cào một cái là đủ rồi." Lại nói với Hoàng tử Hương Ba: "Nó là đang trách cậu đấy, cậu chắc chắn đã làm sai chuyện gì rồi."

„Tôi có thể làm sai chuyện gì chứ? Thầy Biên Ba, thầy nói xem.“

Yêu tinh núi lại một lần nữa lao về phía anh. Vị lạc ma râu xồm níu không nổi nó, lảo đảo bước về phía trước: "Mau đi đi, còn đứng đực ra đó làm gì?"

Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát vội vàng rời đi, đi được mấy bước lại dừng lại quay đầu nhìn lại.

Mai Tát rưng rưng nước mắt: "Thầy Biên Ba, thầy bảo trọng."

Yêu tinh núi hình như rất lưu luyến cô, lập tức không còn hung dữ nữa, ngồi bệt xuống đất, dùng đôi mắt màu hổ phách vô cùng thâm tình tiễn biệt hai luồng ánh sáng nước mắt rất sáng rất sáng, rồi "vê vê vê" kêu lên. Vừa kêu vừa bắt đầu tru lên, tủi thân giống như một đứa trẻ bị người ta vứt bỏ.

7

Viện Khoa học Xã hội Tây Tạng nằm trên đường Sắc La Nam, phía đông cung điện Bố Đạt La, phía bắc tự viện Đại Chiêu. Sau khi đi taxi đến đây, họ mới biết hôm nay là thứ bảy. Phòng bảo vệ bảo họ hôm mốt hãy đến.

Hoàng tử Hương Ba nói: "Chúng tôi từ Bắc Kinh đến, tìm chuyên gia, tham khảo một vấn đề quan trọng, hôm mốt chúng tôi phải đi rồi."

Phòng bảo vệ thông cảm hỏi: "Các anh chị muốn tìm chuyên gia lĩnh vực nào, tham khảo vấn đề gì?" Vừa nói vừa cầm điện thoại lên.

Hoàng tử Hương Ba nói: "Vấn đề của chúng tôi là trong vòng hai năm sau năm 1703 tức là năm Khang Hi thứ 42, những ngôi chùa nào ở Lhasa đã tiến hành tu bổ và xây dựng lại, anh xem tìm ai thì phù hợp?"

Phòng bảo vệ bấm một cuộc gọi rồi nói: "Thầy Thứ Đăng, có hai người từ Bắc Kinh đến tìm anh." Sau đó đưa điện thoại cho Hoàng tử Hương Ba.

Hoàng tử Hương Ba khách sáo vài câu, rồi nêu ra vấn đề.

Đối phương nói: "Các người vẫn nên đi hỏi Trát Tây Vượng Đôi đi?" Điện thoại cúp máy.

Phòng bảo vệ lầm bầm câu gì đó, lại gọi mấy cuộc điện thoại nữa, người ở đầu dây bên kia đều nói, vấn đề thế này, tốt nhất là đi hỏi Trát Tây Vượng Đôi.

Hoàng tử Hương Ba chắp tay vái chào phòng bảo vệ nói: "Cầu xin anh đấy, nhất định phải giúp chúng tôi tìm cho ra Trát Tây Vượng Đôi."

Phòng bảo vệ "phì" một tiếng bật cười, nói: "Trát Tây Vượng Đôi là con trai tôi, bọn họ trả lời không được vấn đề của các anh, liền đá sang con trai tôi. Bởi vì tôi từng nói, con trai tôi sau này một địch nổi một trăm người bọn họ. Bọn họ đây là nhớ thù cũ của tôi, mỉa mai tôi đấy."

Hoàng tử Hương Ba nói: "Vậy thì đi hỏi con trai anh đi."

Phòng bảo vệ cười càng tươi hơn: "Con tôi biết cái gì chứ, nó mới bảy tuổi, không thích đi học, suốt ngày trốn học ở nhà, chữ Tạng chữ Hán còn chưa nhận diện hết đâu. Có thời gian này, các anh chị chi bằng đến Đại học Tây Tạng hỏi thử, các chuyên gia giáo sư ở đó còn nhiều hơn Viện Khoa học Xã hội chúng tôi."

Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát đi thẳng taxi đến Đại học Tây Tạng trên đường Giang Tô. Mặc dù là thứ bảy, nhưng các giáo sư giảng viên khoa lịch sử đều đang họp, một phần đang họp xét chức danh, một phần đang họp giao lưu học thuật có sự tham gia của nhà Tây Tạng học người Mỹ. Bốn vị uyên bác được gọi ra từ hai phòng họp, kết quả thỉnh giáo là nhận được câu trả lời gần như đồng nhất: Việc tu bổ và xây dựng lại quy mô lớn của các ngôi chùa quan trọng đều có thể tra cứu được, nhưng duy chỉ không có ghi chép về việc tu sửa chùa chiền ở Lhasa trong vòng hai năm sau năm 1703. "Hay là các anh chị đi hỏi Trát Tây Vượng Đôi thử xem?"

Lúc bước ra khỏi Đại học Tây Tạng, Mai Tát nói: "Một câu nói cuồng ngôn về tương lai của con trai từ một gã bảo vệ mà lại gây ra tiếng vang lớn đến vậy trong giới học thuật Tây Tạng, đâu đâu cũng biết, đâu đâu cũng mang ra mỉa mai một cách cực kỳ nghiêm túc, tâm địa cũng hẹp hòi quá đấy chứ."

Hoàng tử Hương Ba nói: "Đằng sau sự mỉa mai nghiêm túc đó e rằng còn có nguyên nhân khác, chính là đứa trẻ này đáng để bọn họ làm như vậy, huống hồ chưa chắc đã là mỉa mai đâu."

Mai Tát nói: "Ý anh là chúng ta đi gặp đứa trẻ đó?"

Bọn họ không ngờ rằng từ sớm đã có một vị uyên bác bám theo sau bọn họ, và đang cung kính gọi điện thoại báo cáo cho một người tên là Khâu Cát Tang Bô: "Sư phụ, một nam một nữ này thực sự đang ngậm ngùi dò la chuyện tu bổ và xây dựng lại các ngôi chùa ở Lhasa sau năm 1703." Trong điện thoại truyền đến giọng nói già nua của Khâu Cát Tang Bô: "À, có lẽ, có lẽ thời gian chờ đợi bấy lâu nay đã đến rồi, bất cứ lúc nào cũng hãy báo cáo tung tích của bọn chúng cho ta."

Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát lại quay trở lại Viện Khoa học Xã hội Tây Tạng.

Phòng bảo vệ đắc ý hỏi: "Thế nào, con trai tôi nổi tiếng lắm chứ?"

Hoàng tử Hương Ba nói: "Anh bảo chúng tôi chạy ngược chạy xuôi hóa ra chỉ để khoe con trai anh thôi à?"

Phòng bảo vệ đắc ý cười cười nói: "Sinh được một đứa con trai thế này đâu phải chuyện dễ, đi, đi gặp con trai tôi." Cái điệu bộ đó, cứ như con trai ông ta đã là một nhân vật lớn rồi vậy.

Phòng bảo vệ dẫn họ đến dưới tòa nhà khu tập thể của Viện Khoa học Xã hội. Con trai ông ta - một đứa trẻ má đỏ tím ngắt, da ngăm đen - đang đùa giỡn rượt đuổi với một chú chó con. Phòng bảo vệ vẫy tay gọi lớn: "Mau qua đây mau qua đây, có người đến thỉnh giáo vấn đề này, bọn họ từ Bắc Kinh đến đấy." Ông ta cố tình nói từ "thỉnh giáo" vừa vang dội vừa nghiêm túc, rồi long trọng giới thiệu: "Đây chính là Trát Tây Vượng Đôi mà các anh chị muốn gặp."

Đứa trẻ và chú chó con cùng nhau chạy tới. Hoàng tử Hương Ba cảm thấy để bản thân đi thỉnh giáo một đứa trẻ bảy tuổi còn đang chảy nước mũi thì thật là mất thể diện, bèn chống nai, "hừm" một tiếng cười nói: "Hôm nay tôi đến để khảo thí cậu đấy."

Đứa trẻ dùng ống tay áo quệt nước mũi rồi nói: "Hi hi, chú không phải thầy giáo, sao chú cũng nói là khảo thí chứ."

Hoàng tử Hương Ba nói: "Sao cậu biết tôi không phải thầy giáo?"

Đứa trẻ nói: "Thầy giáo của cháu bên cạnh không có phụ nữ, cạnh chú có phụ nữ."

Hoàng tử Hương Ba nói: "Nói như vậy thầy giáo của cậu là Phật gia, còn cậu là Phật tử à?"

Đứa trẻ gật đầu.

Hoàng tử Hương Ba nói: "Nghe cho kỹ đây, tôi hỏi cậu, trong vòng hai năm sau năm 1703 tức là năm Khang Hi thứ 42, những ngôi chùa nào ở Lhasa đã tiến hành tu bổ và xây dựng lại?"

Đứa trẻ nói: "Cái chú dò la là bí mật."

Hoàng tử Hương Ba lập tức sững sờ: "Sao cậu biết đó là bí mật?"

Đứa trẻ nói: "Biết được việc tu bổ và xây dựng lại, thì sẽ biết những ngôi chùa nào từng xảy ra hỏa hoạn, hỏa hoạn chính là bí mật."

Hoàng tử Hương Ba hỏi: "Ai nói với cậu hỏa hoạn là bí mật?"

"Không ghi chép lại đều là bí mật, các lạc ma ở tự viện Sắc La đều nói thế."

"Cậu từng đến tự viện Sắc La à?"

"Nhà cháu ở tự viện Sắc La."

"Nhà cậu không ở tự viện Sắc La, nhà cậu ở đường Sắc La."

"Đường Sắc La đi đến cuối chính là tự viện Sắc La." Trát Tây Vượng Đôi vừa nói vừa định chuồn.

Hoàng tử Hương Ba chợt ngồi xổm xuống túm lấy nó nói: "Cậu còn biết những gì nữa?"

"Còn biết các chú... cháu không nói nữa." Giãy giụa thoát khỏi tay Hoàng tử Hương Ba, đuổi theo chú chó con đã chạy ra xa.

Phòng bảo vệ chép chép miệng nói: "Thế nào, các anh chị đánh giá thế nào." Nhìn đứa trẻ ngã nhào xuống đất một cú, xót ruột chạy tới: "Đi chậm thôi, đi chậm thôi."

Hoàng tử Hương Ba ngẩn ngơ nhìn đứa trẻ nói: "Chúng ta gặp linh đồng rồi, nó chắc chắn là chuyển thế của hoạt Phật nào đó, chỉ là hiện tại vẫn chưa được thỉnh vào chùa mà thôi. Nó mới bảy tuổi, nếu không phải là sự an trụ của kiếp trước, sự phụ thể của linh thức, cho dù nó có sớm thông minh, nó là thiên tài, thì cũng tuyệt đối không thể biết những điều này. Hơn nữa nó hình như biết chúng ta sẽ đến, chúng ta là người làm gì, nó tin tưởng duyên phận của chúng ta với nó, cuối cùng vẫn thốt ra bí mật mà chỉ có nó mới biết — tự viện Sắc La."

Trên mặt Mai Tát thoáng qua một vẻ ưu sầu: "Không, tôi không cho rằng nó là linh đồng chuyển thế của hoạt Phật nào cả."

„Sao em lại nói vậy?“

Mai Tát nhìn xuống mặt đất, suy ngẫm rồi nói: "Tôi có lẽ đang đối mặt với một ví dụ nghiên cứu học thuật về phục tạng. Từ phục tạng đến khai quật phục tạng, trong khoảng thời gian dài đằng đẵng mấy nghìn năm, mấy trăm năm, có thể biến hóa ra vô số loại truyền thừa. Trong đó có một loại là các vị không hành mẫu sử dụng thần biến nguyện lực mượn bụng truyền thụ thai, người nhận được sự truyền thụ thai đó chính là một khâu trung gian. Giống như đứa trẻ đưa thư lông gà, hễ người khai quật phục tạng xuất hiện, sẽ vô tình hay cố ý truyền thông tin khai quật nhận được từ thai thụ ra ngoài. Truyền ra ngoài rồi thì hoàn thành sứ mệnh, nguyện lực của không hành mẫu sẽ biến mất, có đôi khi chỉ là sự biến mất của linh tính và năng lực biểu đạt, có đôi khi là sự biến mất của sinh mạng. Điều này có nghĩa là, trong chuỗi truyền thừa, người khai quật phục tạng cuối cùng thực chất là một kẻ qua cầu rút ván. Anh ta phải phá hủy rất nhiều cây cầu, bởi vì việc khai quật phục tạng chính xác và vĩ đại chỉ có thể xuất hiện một lần, các loại thông tin về phục tạng cũng chỉ có thể xuất hiện một lần. Nếu xuất hiện lần thứ hai, thì đó sẽ là một quá trình hỗn loạn vừa không có phục tạng, vừa không có sự khai quật, điều đó đồng nghĩa với việc 'lần xuất hiện đầu tiên' không có kết quả. Đã không có quả, thì cũng không có nhân, từ đó hình thành nên một hiện tượng vừa không có nhân cũng không có quả. Mà Phật chính là sự hội tụ của nhân quả, có nhân ắt có quả, có quả ắt có nhân, hoặc là, nhân chính là quả, quả chính là nhân, thế giới không nhân không quả hoặc chỉ có nhân không có quả là thế giới ngoài Phật."

Hoàng tử Hương Ba gật đầu nói: "Ý em là, chúng ta đã hại chết đứa trẻ rồi sao?"

Mai Tát căng thẳng nói: "Có lẽ là đứa trẻ đã hại chúng ta."

Trong sân đột nhiên xuất hiện một đám lạc ma mà Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát chưa từng nhìn thấy bao giờ, bọn họ đội ngũ Phật quan màu vàng trên đầu, khoác áo choàng lớn màu đỏ có đính dải ruy băng đá quý phía sau, hình như từ hiện trường pháp hội Mật tông hốt hoảng chạy tới, có người trong tay còn cầm pháp khí chày kim cương. Bọn họ nhìn xung quanh bốn phía, lao thẳng đến nơi có đứa trẻ.

"Trát Tây Vượng Đôi, ai là Trát Tây Vượng Đôi?" Một vị lạc ma mặt chữ quốc hỏi.

Phòng bảo vệ dắt tay đứa trẻ hỏi: "Các anh cũng là đến thỉnh giáo vấn đề à? Ngày mai hãy đến nhé, hôm nay Trát Tây Vượng Đôi rất bận." Ông ta vẫn nói từ "thỉnh giáo" vừa vang dội vừa nghiêm túc.

Vị lạc ma mặt chữ quốc lao tới chỗ đứa trẻ, túm lấy nó, mặt sắc như dao hỏi: "Mày đã nói gì với hai người kia rồi?"

Đứa trẻ sợ hãi, "oà" khóc lớn lên. Sự truy vấn của vị lạc ma mặt chữ quốc càng lúc càng cấp thiết.

Phòng bảo vệ nói: "Các anh muốn làm gì, thỉnh giáo mà lại có thái độ như thế này à?"

Vị lạc ma mặt chữ quốc to con lực lưỡng giật phắt đứa trẻ bế lên, dọa nạt: "Nói mau, không nói thì tao bế mày đi." Vấy lạc ma khác thì đẩy phòng bảo vệ sang một bên.

Phòng bảo vệ nhận ra sự việc có vẻ hơi nghiêm trọng, chút đắc ý nào cũng không còn nữa, gạt những tên lạc ma đó ra, lao tới ôm chầm lấy con trai, kể lại đầu đuôi cuộc trò chuyện giữa con trai mình và Hoàng tử Hương Ba vừa rồi.

"Tự viện Sắc La, Trát Tây Vượng Đôi đã nhắc đến tự viện Sắc La." Vị lạc ma mặt chữ quốc lấy điện thoại ra gọi cho Khâu Cát Tang Bô - người đã cử hắn ta đến, nhận được chỉ thị là bắt cặp nam nữ đó đưa đến tự viện Đại Chiêu, nói cho bọn chúng biết không thể đi tự viện Sắc La, đó là sự chỉ dẫn của ma quỷ, là tự chui đầu vào lưới, tất cả những kẻ nghịch duyên, sẽ chặn đánh bọn chúng ở cửa tự viện Sắc La. Vị lạc ma mặt chữ quốc cúp điện thoại, chỉ huy đám lạc ma đuổi theo Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát.

Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát đã chạy ra ngoài cổng Viện Khoa học Xã hội từ lúc nào. Bọn họ từ Bắc Kinh bắt đầu, vẫn luôn chạy trốn, đã rèn luyện thành những chuyên gia chạy trốn, một đám lạc ma đội Phật quan, khoác áo choàng lớn sao có thể là đối thủ của họ. Chạy trốn và truy đuổi gần như chưa kịp hình thành, bọn họ đã biến mất tăm tích.

Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát thực ra không chạy đi đâu xa. Bọn họ đến bên ngoài Viện Khoa học Xã hội chạy dọc theo tường rào nửa vòng, đột nhiên lại trèo tường quay trở lại trong viện. Bọn họ thực sự muốn biết, có phải giống như Mai Tát nói, đứa trẻ đó một khi thốt ra bí mật mà chỉ có mình nó biết tức là đem thông tin khai quật thai thụ truyền ra ngoài, thì sẽ mất đi linh tính và khả năng biểu đạt, thậm chí cả tính mạng.

Khắp sân toàn là người, đều đang bàn tán về chuyện vừa xảy ra. Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát nghe ngóng một lúc, biết rằng đám lạc ma vừa đi, đứa trẻ liền không biết nói năng gì nữa, giống như hồn vía bị dọa bay mất vậy. Đứa trẻ và người cha bảo vệ tự hào vì con trai đã đến bệnh viện rồi.

Nơi gần Viện Khoa học Xã hội nhất chính là Bệnh viện Nhân dân khu vực đường Lâm Quản Bắc.

Trên chiếc giường bệnh ở khoa cấp cứu tầng một, Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát lại một lần nữa nhìn thấy đứa trẻ đó. Đứa trẻ đang truyền nước biển. Phòng bảo vệ mang bộ mặt khổ sở canh chừng bên giường bệnh, vừa nhìn thấy họ, liền chán ghét quay mặt đi. Mai Tát vội vàng áy náy khom lưng cúi đầu.

Hoàng tử Hương Ba làm mặt quỷ với đứa trẻ nói: "Hôm nay tôi đến để khảo thí cậu đấy."

Đứa trẻ ngây ngốc dùng lưỡi liếm dòng nước mũi đang chảy xuống, lại đút ngón tay vào miệng mút chụt chụt, hoàn toàn không còn chút lanh lợi nào nữa, giống như ngốc đi rồi, đã không còn nhận ra họ nữa.

Hoàng tử Hương Ba còn muốn nói gì đó, Mai Tát kéo áo anh nói: "Mau đi đi, ở lại nữa là rắc rối đấy."

Chiếc taxi phóng ra khỏi đường Lâm Quản Bắc, dọc theo đường Sắc La đi về phía bắc, lao thẳng đến núi Sắc La Ô Tư. Dưới núi chính là tự viện Sắc La.

8

Trong và ngoài tự viện Sắc La có rất nhiều ánh mắt đang quan sát những chiếc ô tô trên đường đến, đó là những ánh mắt đang trực chờ sẵn sàng, ẩn nấp trong lùm cây xanh, trong ô tô, trong đám đông du khách, trước cửa sổ các tòa điện. Những ánh mắt đó lại không cùng chung chí hướng: Vương Nham, Bích Tú và Trác Mã một nhóm, lạc ma A Rược, Ô Kiên Lâm Ba cùng mấy lạc ma tùy tùng khác của chùa Hòa Khánh một nhóm, Trí Mỹ và Sang Lỗ Ban Tông một nhóm.

Sát thủ xương sọ vẫn giữ vẻ độc hành, nhưng lại tỏ ra điên cuồng hơn bất kỳ ai. Hắn dứt khoát cạo đầu trọc, mặc áo cà sa, dùng khăn vải đen che kín mặt mũi, ngồi dưới cửa sổ phòng bán vé bên phải sơn môn. Đao xương sọ nằm ngay trong tay áo, chỉ cần Hoàng tử Hương Ba đến mua vé, hắn sẽ lập tức đâm một nhát vào bụng đối phương. Hắn lại lấy điện thoại ra xem, ở đó có tin nhắn mà Hắc Phương Chi Chủ vừa gửi cho hắn: Cho đến giờ vẫn chưa ra tay, cơ hội của mày không còn nhiều nữa đâu.

Ô Kiên Lâm Ba đi vòng quanh khắp nơi, nói vài câu nhạt nhẽo không đầu không đuôi với mấy vị lạc ma tự viện Sắc La, rồi lấy điện thoại ra gọi cho Trí Mỹ: "Đối với một người khai quật phục tạng độc lập thanh sạch nhằm mở 'cửa ải thất độ mẫu', bất kỳ ai mưu đồ tham gia hoặc ngăn cản việc khai quật đều là đá ngáng đường, kẻ nghịch duyên, mà nghịch duyên lớn nhất đến từ tự viện Sắc La, ban quản lý tự viện Sắc La đã khẩn cấp thông báo cho tất cả các lạc ma các Trát Tang, hễ nhìn thấy cặp nam nữ đó, lập tức bắt đến Trát Tang A Ba nghe xử lý. Bây giờ bức ảnh của Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát đang được truyền tay nhau xem giữa các lạc ma."

Trí Mỹ hỏi: "Ai đã thông báo tung tích của người khai quật phục tạng cho tự viện Sắc La vậy?"

Ô Kiên Lâm Ba nói: "Khâu Cát Tang Bô, hắn không chỉ thông báo cho chúng ta, mà còn gọi điện cho ủy ban quản lý tự viện Sera: 'Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát đang đến gần tự viện Sera, tự viện Sera sẽ thu hút sự quan tâm của các phái và các tăng đoàn trong giới tôn giáo, ai là kẻ thù của chính giáo, là khắc tinh của phái Gelug, là kẻ bội ước bước vào âm mưu? À, ta không nói các ngươi cũng biết, bây giờ chỉ đang chờ "Cửa Thất Độ Mẫu" của kho tàng Terma hiện thế thôi.'" Khoảnh khắc đó, giọng nói già nua của Khâu Cát Tang Bô biến thành một khúc ca cổ: "Tự viện Sera, tự viện Sera, tự viện Sera đại diện cho sự kiên trì, tự viện Sera đại diện cho Tây Tạng." Khâu Cát Tang Bô nổi danh trong giới tôn giáo, được chúng tăng tôn sùng, lời nói của hắn rất có sức nặng.

Trí Mỹ lại hỏi: "Ngươi cho rằng như thế là không tốt sao?"

Ô Kiên Lâm Ba nói: "Không hẳn, tốt cũng không tốt. Đạo tràng Mật tông của tự viện Sera là Aba Dratsang do Lạp Tạng Hãn - thủ lĩnh bộ lạc Mông Cổ Hoả Sơ Đặc đồn trú tại Tây Tạng thời Thương Ương Gia Tố - chủ trì xây dựng, là viện tụng kinh tu pháp của Lạp Tạng Hãn. Công trình do Lạp Tạng Hãn chủ trì xây dựng còn có đại điện Sera Choechen một trăm tám mươi cột - kiến trúc hùng vĩ nhất của tự viện Sera. Lạp Tạng Hãn là kẻ thù của Thương Ương Gia Tố, Hoàng tử Hương Ba - người kính tin Thương Ương Gia Tố và mưu cầu hoằng dương tinh thần Thương Ương Gia Tố - sẽ nhận được đối đãi thế nào tại Aba Dratsang của tự viện Sera là điều có thể tưởng tượng được."

Trí Mỹ nói: "Đã có người trong giới tôn giáo của các ngươi cho rằng "Cửa Thất Độ Mẫu" là một kho tàng Terma vĩ đại, vậy thì cần phải kiên định kiên cường khai quật, cũng cần phải kiên định kiên cường bảo vệ hơn nữa. Đối với tự viện Sera, điều họ phải làm chính là biến mình thành pháo đài bảo vệ di ngôn của Thương Ương Gia Tố, dù phải trả giá bằng sinh mạng của tất cả các lạt ma. Mà điều người khai quật kho tàng phải làm, chính là trải qua những thử thách ngày càng khắc nghiệt hơn. Nếu hắn không thể chịu đựng được, điều đó chứng minh các vị không hành hộ pháp đã dựa trên ý chỉ của Liên Hoa Sinh đại sư trong cõi Phật, tước bỏ tư cách người khai quật kho tàng của hắn."

"Dù thế nào đi nữa, hành vi ngăn cản khai quật kho tàng của Khâu Cát Tang Bô là tội không thể tha."

"Có lẽ Khâu Cát Tang Bô chỉ ngăn cản việc khai quật kho tàng của Hoàng tử Hương Ba mà thôi. Cùng lên đường khai quật kho tàng với Hoàng tử Hương Ba còn có Mai Tát và tôi, tôi là thần bói toán, bên cạnh tôi hiện giờ còn có chuyển thế của Sang Lỗ Ban Tông - người tình của Thương Ương Gia Tố, cô ấy đã trở thành pháp lữ giúp tôi khai quật kho tàng."

"Ngươi nói những điều này với ta để làm gì? Không phải ta không biết. Ta tràn đầy kỳ vọng vào ngươi, kỳ vọng ngươi là người khai quật kho tàng duy nhất, nhưng cho đến nay, ngươi chưa có bước nào đi trước cả. Ngươi thuê người cướp "Quang thấu văn tự", cũng không dịch ra được, tự viện Sera cũng là do Khâu Cát Tang Bô thông báo cho chúng ta."

Trí Mỹ nói: "Tôi đã tìm chuyên gia quen thuộc với ngôn ngữ kho tàng Terma, và cũng đã dịch ra được. Tuy nhiên rất khó hiểu, vẫn phải dựa vào bói toán của tôi, tôi vẫn luôn cầu nguyện, nhưng vị thần bói toán vẫn chưa an trú vào trong tâm, tạm thời chưa có kết quả, cho nên tôi rất hoài nghi tính đáng tin của thông báo từ Khâu Cát Tang Bô."

Ô Kiên Lâm Ba nói: "Ồ, hóa ra là vậy, vậy thì đành phải tin vào thông báo của Khâu Cát Tang Bô thôi. Ở chỗ Lạt Ma A Rược, sự hiển thị rõ ràng của Phật Bất Động cũng không xuất hiện, không biết tại sao."

Xuyên qua cửa sổ chiếc xe taxi, Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát căng thẳng quan sát tự viện Sera phía trước. Nhìn từ xa, tự viện Sera với những bức tường trắng, mái đỏ, trang trí ngói vàng giống như một chiếc quạt đang mở ra, những rặng cây xanh chính là viền, cũng là tay cầm của nó. So với Đại tự Drepung chồng chất từng lớp, nó có vẻ phẳng phiu và lưu loát hơn, bớt đi chút uy nghiêm và bá khí, lại thêm vào chút thần bí và siêu thoát.

Sắp đến rồi, chiếc taxi chậm dần lại. Hoàng tử Hương Ba nhìn chằm chằm bức tường triển phật màu trắng trên thềm đất bên trái tự viện Sera, đột nhiên vỗ một chưởng lên trán mình: "Dừng xe."

Xe taxi dừng lại, cách cổng núi còn hai trăm mét.

Hoàng tử Hương Ba đột nhiên hỏi: "Chúng ta tại sao phải đến tự viện Sera?"

Mai Tát nói: "Bởi vì chúng ta xác định đó chính là hiện trường vụ hỏa hoạn."

Hoàng tử Hương Ba nói: "Nhưng ta lại nghĩ, đã có kẻ muốn phóng hỏa thiêu chết Thố Mạn Cát Mỗ ở tự viện Sera mà không thiêu chết được, thì Thố Mạn Cát Mỗ còn ở lại tự viện Sera nữa không? Hoặc là trước vụ hỏa hoạn, hoặc là sau vụ hỏa hoạn, cô ấy và Thương Ương Gia Tố chắc chắn đã rời khỏi nơi đó để trốn đến nơi khác rồi. Bởi vì nửa tháng sau vụ hỏa hoạn, Thương Ương Gia Tố mới chấm dứt việc mất tích, tức là tự viện Sera không phải là nơi trú ẩn cuối cùng của hắn và người tình Thố Mạn Cát Mỗ. Đã mang tiếng Thố Mạn Cát Mỗ và Thương Ương Gia Tố rời khỏi tự viện Sera, chúng ta còn đến đó làm gì?"

Mai Tát nói: "Đúng vậy, tư duy này của anh rất kỳ lạ, dường như cũng rất chính xác. Điều chí mạng là, anh đã coi Thố Mạn Cát Mỗ của ba trăm năm trước và Thố Mạn Cát Mỗ mà chúng ta hiện đang tìm kiếm là cùng một người."

Hoàng tử Hương Ba nói: "Tại sao không thể chuyển thế? Người tình của Thương Ương Gia Tố ba trăm năm trước đột nhiên xuất hiện trước mặt chúng ta, lại không phải là lần đầu tiên. Hơn nữa, trong "Cẩm nang thụ ký" của "Tây Tạng nhật báo" và các bài ca tình ái của Thương Ương Gia Tố, khi nhắc đến Thố Mạn Cát Mỗ, đằng trước đều có thêm hai chữ "Long nữ". Đã là Long nữ, chúng ta nên đến những nơi có rồng để tìm kiếm. Năm xưa sau khi Văn Thành công chúa vào Tây Tạng, nhìn thấy trong đá và đất ở Tây Tạng lại có vỏ ốc biển và vỏ sò, cho rằng đó là đồ trang sức của La Sát nữ dưới đáy biển, địa hình Tây Tạng chính là một ả La Sát nữ dưới đáy biển đang nằm ngửa, mà hồ Ngọa Đường ở phía đông cung Potala nơi nàng sinh sống chính là trái tim của La Sát nữ dưới đáy biển, bắt buộc phải xây miếu để trấn yểm nó. Ngôi miếu được xây dựng trên trái tim của La Sát nữ dưới đáy biển này chính là Đại Chiêu Tự sớm nhất. La Sát nữ dưới đáy biển chính là con gái của Long vương, tự nhiên chính là Long nữ rồi. Ở đây, Thương Ương Gia Tố đã coi Thố Mạn Cát Mỗ như Long nữ, như chỗ gửi gắm duy nhất trong thời kỳ số phận chông chênh, kỳ thực ẩn chứa sự tiên tri của hắn đối với tương lai và tình yêu sâu sắc đối với Tây Tạng. Ả La Sát nữ dưới đáy biển nằm ngửa đại diện cho toàn bộ Tây Tạng, người tình của Tây Tạng và Tây Tạng của người tình, đối với Thương Ương Gia Tố mà nói thì không có sự khác biệt."

"Ý anh là "Long nữ" đã ám chỉ Đại Chiêu Tự? Đã như vậy, tại sao chúng ta không trực tiếp đến Đại Chiêu Tự, mà còn tốn nhiều công sức như vậy để điều tra hiện trường hỏa hoạn?"

Hoàng tử Hương Ba có chút kích động nói: "Không điều tra hiện trường hỏa hoạn, thì sẽ không dẫn tới tự viện Sera, sau khi dẫn tới tự viện Sera rồi, chúng ta mới có thể phán đoán xem nó có nên bị loại trừ hay không, nếu không chúng ta vẫn sẽ do dự. Hơn nữa, lựa chọn mà chúng ta đối mặt vô cùng quan trọng, chỉ dựa vào sự ám chỉ của "Long nữ" là chưa đủ, bắt buộc phải hoàn toàn loại trừ tự viện Sera, thì Đại Chiêu Tự mới có thể trở thành mục tiêu duy nhất không phải bàn cãi. Em đã nói rồi, tính duy nhất là thiết luật của kho tàng Terma, khi đạt đến tiêu chuẩn lựa chọn duy nhất, con đường duy nhất, khai quật duy nhất này, vạn bất nhất thất là yêu cầu cơ bản nhất. Chúng ta tuyệt đối không được vào lúc này, vì sự nôn nóng nhất thời mà để "Cửa Thất Độ Mẫu" đang đi tới trước mặt tan thành mây khói, hoặc đánh mất tư cách được gia trì và cơ hội được trao phó sứ mệnh của chính chúng ta. Đương nhiên còn có điều quan trọng hơn, đó là mặc dù phía trước là tự viện Sera, nhưng ta không nhìn thấy ánh sáng tươi vui và rực rỡ. Sự tươi vui và rực rỡ nằm ở phía sau, phía sau chính là Đại Chiêu Tự. Ta cảm thấy bây giờ là buổi sáng, mặt trời đang từ từ mọc lên từ Đại Chiêu Tự, chiếu sưởi ấm vùng sau gáy ta."

Mai Tát bình tĩnh hỏi: "Bây giờ anh có thể đảm bảo đã hoàn toàn loại trừ tự viện Sera chưa?"

"Được, bây giờ thì được, một phút trước thì chưa."

Mai Tát gật đầu, lại gật đầu nói: "Có một câu vốn dĩ tôi không muốn nói, nhưng bây giờ không nhịn được nữa: Tôi thực sự rất khâm phục anh. Kho tàng Terma vốn dĩ đã có tính cách đánh lạc hướng, nói cho anh biết nó ở tự viện Sera, thực tế thì nó lại xuất hiện ở Đại Chiêu Tự."

Tự viện Sera và Đại Chiêu Tự vừa vặn nằm ở hai đầu nam bắc trên cùng một đường thẳng. Xe taxi quay gắt trở lại, lao thẳng về phía nam hướng tới Đại Chiêu Tự.

9

Điện thoại di động reo lên. Hoàng tử Hương Ba nhìn hiển thị cuộc gọi đến, mừng rỡ ngoài sức tưởng tượng: Pưn Tso vốn rất ít khi chủ động gọi điện lần này lại chủ động gọi tới. Cậu ta nói: "Tuyệt quá, tuyệt quá, có thể nghe thấy giọng nói của anh thật tốt, về nhà rồi chứ, cảm giác thế nào, vẫn sống là tốt phải không?"

Bên kia là một khoảng im lặng.

"Nói đi chứ, Pưn Tso."

Truyền đến tiếng nấc nghẹn ngào mơ hồ. Sau đó là sự phẫn nộ: "Ai bảo anh báo cảnh sát hả? Cảnh sát đã đến, đã đến từ lâu rồi, rất nhiều rất nhiều, mặc dù bọn họ không một ai mặc đồng phục cảnh sát, nhưng em nhìn một cái là biết ngay đó là cảnh sát. Em vốn dĩ không muốn thừa nhận bọn họ là cảnh sát, càng không muốn để bọn họ phát hiện, muốn lén lút chuồn đi, nhưng bọn họ vẫn phát hiện ra rồi."

Hoàng tử Hương Ba kinh ngạc nói: "Em vẫn ở trên đỉnh tòa cao ốc ba mươi sáu tầng à? Vậy thì mau xuống đây, cảnh sát phát hiện ra cũng không sao, bọn họ chắc chắn là đến để cứu em mà."

Pưn Tso kìm nén tiếng nấc nói: "Em đã không thể xuống được nữa rồi, cảnh sát từ ngày hôm qua đã bao vây cao ốc Cảnh Tinh, em đã chặn chết cửa cầu thang rồi, bọn họ đang chuẩn bị trèo qua từ những ô cửa sổ cao nhất."

"Vậy thì em đừng để cảnh sát trèo nữa, mở cửa cầu thang ra, tự mình đi xuống."

Giọng điệu của Pưn Tso vô cùng nghiêm nghị và khẩn cấp: "Hoàng tử Hương Ba, anh quên lời em rồi sao, em đã nói anh báo cảnh sát chính là bức em đi đến cái chết, chỉ cần cảnh sát xuất hiện, em lập tức nhảy xuống, đây không phải là đe dọa, mà là lời thề, trong thế giới của người Tạng, thứ duy nhất không thể trái lệnh, chính là lời thề."

Hoàng tử Hương Ba ngẩn người đờ đẫn, chắc chắn là Vương Nham đã báo cảnh sát, nhưng giải thích là không cần thiết, đối với Pưn Tso mà nói, kết quả đều như nhau, cô ấy phải tuân thủ lời thề: Chỉ cần cảnh sát xuất hiện, cô ấy lập tức sẽ nhảy. Hoàng tử Hương Ba hận không thể lập tức tóm lấy Vương Nham, bắt hắn chết thay cho Pưn Tso.

"Nghe em nói này, Pưn Tso, anh bây giờ chính thức tuyên bố với em: Anh yêu em, yêu đến mức em muốn anh làm gì anh cũng đồng ý, bao gồm cả kết hôn, bao gồm cả đời này chỉ yêu một mình em. Gả cho anh đi Pưn Tso, mang theo người em gái câm của em gả cho anh, anh sẽ đối xử thật tốt với em, cũng sẽ chăm sóc thật tốt cho em gái em, nhất định nghĩ cách để em gái em cai nghiện, cai nghiện." Hoàng tử Hương Ba liếc nhìn Mai Tát ở bên cạnh lại nói, "Lời thề của em có thể thay đổi, có thể dùng lời thề mới thay thế lời thề cũ, chúng ta thành kính thờ Phật, Đức Phật sẽ đồng ý thôi."

Trong điện thoại truyền đến giọng nói u sầu thảm thiết của Pưn Tso: "Em không tin thần, không tin Phật, em chỉ giữ lại cho bản thân một chút xíu lòng tin, đó chính là lời thề của con người. Bây giờ, chẳng lẽ ngay cả chút lòng tin cuối cùng này cũng phải vứt bỏ sao? Em sống còn có ý nghĩa gì nữa? Em là một người không tốt, nhưng em không muốn nuốt lời, nuốt lời là vô sỉ."

"Đừng nói vậy, em có thể đến Lhasa tìm anh, anh dẫn em đi dạo qua các tự viện, xem thế nào là thần thánh, thế nào là sự thành kính và tín ngưỡng. Xong xuôi anh đảm bảo em sẽ tin Phật, đảm bảo em vĩnh viễn đều muốn sống thật tốt."

Cần gì chứ, bộ não của em đã không thể điều khiển được em nữa rồi, điều khiển em chính là cái mông. Em đang ngồi trên gờ lầu, hai chân vắt vẻo bên ngoài, cái mông nhấc lên một cái, là em đi xuống luôn, cái mông không nhấc lên, thì em vẫn cứ ngồi."

"Vậy thì em hãy ngồi cho thật vững, đừng nhấc mông lên, hãy nghĩ đến anh, nghĩ đến người em gái câm của em."

"Không, em đã nhấc lên rồi, đây là lần cuối cùng nói chuyện với anh."

"Nhưng anh cảm thấy mới chỉ bắt đầu, chúng ta cứ từ từ nói."

Giọng nói của Pưn Tso đột nhiên có chút run rẩy, là sự tiêu điều run rẩy, là lời từ biệt đẫm nước mắt đã hạ quyết tâm: "Không nói nữa, cảnh sát đã trèo qua cửa sổ, đã đứng lên bệ phẳng trên đỉnh tầng rồi, đang đi tới, cảnh sát đang đi tới rồi. Kỳ thực em hiểu, cái chết không phải là sự hủy diệt, mà chỉ là rời khỏi cõi đời đáng ghét này, để lựa chọn lại một lần nữa: Xuống địa ngục, hay lên thiên đường? Em đi đây, tạm biệt, Hoàng tử Hương Ba, em yêu anh."

"Pưn Tso, Pưn Tso..."

Điện thoại của Pưn Tso không tắt, truyền đến một tiếng thét chói tai, tiếp theo là một tiếng "vù" vang lên, rõ ràng là âm thanh không khí ma sát trên không trung. Hoàng tử Hương Ba có thể tưởng tượng ra cảnh tượng Pưn Tso nắm chặt điện thoại nhảy xuống, đỉnh tòa cao ốc ba mươi sáu tầng, cô ấy cứ thế nhảy xuống rồi.

Một tiếng động vang lên rền trời, tiếp theo chính là sự tĩnh mịch chết chóc, hoàn toàn không còn chút động tĩnh nào nữa.

Hoàng tử Hương Ba ném điện thoại đi, trầm mặc, đôi mắt đờ đẫn nhìn thẳng về phía trước.

"Cô ấy vẫn chết rồi, anh không đi cứu cô ấy. Cô ấy kỳ thực là đang đợi anh đi cứu cô ấy, thế nhưng anh không đi, cô ấy liền chỉ có thể chết thôi. Một cô gái tuyên bố tự sát, vào lúc người cô ấy yêu không cứu cô ấy, cô ấy liền chỉ có con đường chết duy nhất."

"Không, anh đã cứu cô ấy rồi, là bạn trai của cô ấy..."

"Đừng nhắc đến Vương Nham trước mặt tôi, tôi căm hận cái tên này." Hoàng tử Hương Ba cảm thấy nên lập tức đi tìm Vương Nham tính sổ, lại nghĩ cho dù Vương Nham từng sống chung với Pưn Tso, Pưn Tso lại vì hắn mà tự sát, nhưng hắn là cảnh sát, cảnh sát vốn dĩ nên là người tâm như sạch đá, chí công vô tư. Sai lầm hay là, tội lỗi cũng được, điều nghiêm trọng không phải là Vương Nham, mà chính là Hoàng tử Hương Ba hắn. Hắn đấm vào lồng ngực mình nói: "Anh thật là hối hận mà, nếu như anh không ôm ảo tưởng đối với Vương Nham, không nói cho hắn biết chuyện của Pưn Tso, Pưn Tso liệu có chết không?"

Mai Tát thở dài nói: "Dọc đường đi này em nhìn rất rõ ràng, anh đã cố gắng hết sức rồi."

"Không, em nhìn không rõ đâu, kỳ thực anh làm rất ích kỷ, cảm giác nói cho người bạn trai cũ của cô ấy biết rồi thì anh không còn trách nhiệm gì nữa, có thể được giải thoát rồi. Nhưng cô ấy từ đầu đến cuối đều ỷ lại vào anh, tin tưởng anh, chính là anh đã đẩy cô ấy ngã xuống lầu." Hoàng tử Hương Ba sờ vào chiếc chìa khóa vàng hình đầu chim yến trên cổ, lại nói, "Cô ấy từng muốn chiếc bùa hộ mệnh của anh, anh đã không cho, nếu đưa cho cô ấy, cô ấy có lẽ đã không chết rồi."

Hắn trách cứ, hắn hối hận, hắn bi thương, hắn cứ bi thương là sẽ hát, hoặc là hắn cứ hát là sẽ bi thương:

Mạ non gieo năm ngoái,

Năm nay đã thành cây nhỏ,

Thân hình già nua của người tình,

Còn cong hơn cả cánh cung phương Nam.

Mai Tát lắng nghe, đau lòng đến mức sụt sịt mũi, không nói một lời. Hoàng tử Hương Ba mắt đẫm lệ nhìn bầu trời ngoài cửa sổ xe, hát càng thêm bi ai lay động lòng người:

Anh và đại tỷ trên phố,

Kết đứt ba câu thề,

Giống như con rắn cuộn tròn,

Tự mình tản ra trên mặt đất.

Mai Tát lấy khăn giấy bảo hắn lau nước mắt, nước mắt của chính cô ấy lại không nhịn được mà rơi lộp bộp lộp bộp.

Hoàng tử Hương Ba quay đầu nhìn cô ấy, ngẩn người: "À, em khóc rồi."

Toàn thân Mai Tát run lên: "Tôi khóc ư? Tôi khóc Pưn Tso, còn có cả Trí Mỹ nữa."

Hoàng tử Hương Ba lắc đầu nói: "Em đừng che giấu nữa, em đã bị các bài ca tình ái của Thương Ương Gia Tố làm cho cảm động rồi, anh nhìn thấy trong nước mắt của em có bóng dáng của bài ca tình ái."

Mai Tát ngẩng nhìn bầu trời, nước mắt đầm đìa, bỗng nhiên thở dài một tiếng nói: "Đúng vậy, tôi không kiềm chế được, tôi đã khóc rồi. Anh yên tâm, tôi không quên lời thề của mình, tôi sẽ tuân thủ nó. Từ bây giờ trở đi, thể xác của tôi, tình cảm của tôi, đều thuộc về anh. Anh bây giờ muốn, tôi bây giờ liền cho anh."

Hoàng tử Hương Ba ôm chầm lấy Mai Tát, dùng sức hôn lên những giọt nước mắt trên mặt cô ấy, sự xúc động và kích động khiến toàn thân hắn run lên bần bật.

Nước mắt Mai Tát tuôn rơi như suối, chảy mãi không ngừng. Hoàng tử Hương Ba hôn mãi hôn mãi, bỗng nhiên cảm thấy có gì đó không đúng, sự nồng nhiệt và quên mình của hắn không hề nhận được sự đáp lại của Mai Tát, cô ấy lạnh ngắt và cứng đờ, mang theo sự kiên định không thể bị tan chảy. Cơ thể hắn ngả ra sau, nhìn kỹ đôi mắt của Mai Tát, kinh ngạc nghi ngờ khôn nguôi, phát hiện trên mặt cô ấy tràn ngập sự bi thương thậm chí là bi mẫn, nước mắt cô ấy rơi không phải là nước mắt hạnh phúc. Đồng thời cô ấy lại khiến hắn cảm thấy, cô ấy quả thực có khí chất phi phàm, đó là loại khí chất cao quý và kiêu kỳ xa cách của người phụ nữ, là loại khí chất đơn thuần đến trong suốt, siêu nhiên đến vô trôi trước khác phái, giống như bầu trời xanh sạch sẽ của Tây Tạng, mang theo ánh sáng mặt trời đến nhân gian. Hắn thầm nghĩ ta chưa từng nhìn thấy đôi mắt nào sáng ngời đến thế, giống như ngọn núi tuyết và sông băng mà ta vĩnh viễn luôn ngước nhìn từ xa.

Hoàng tử Hương Ba không biết phải làm sao, cẩn thận hỏi: "Mai Tát, em bị làm sao vậy?"

Mai Tát thở dài nói: "Anh có nhớ nguyên văn lời thề của em không? Không sai một chữ."

Hoàng tử Hương Ba nói: "Nhớ chứ."

Mai Tát nói: "Anh đọc lại cho em nghe đi."

Hoàng tử Hương Ba gật đầu nói: "'Em cũng thề, chỉ cần người tên là Hoàng tử Hương Ba ở bên cạnh em đây, dùng bài ca tình ái của Thương Ương Gia Tố hát cho em nghe có thể làm em cảm động, khiến em rơi nước mắt, em liền thuộc về anh, bao gồm thể xác của em, tình cảm của em, trái tim của em, linh hồn của em!' Có phải không sai một chữ nào không?"

Mai Tát nhìn chằm chằm hắn, không trả lời. Hoàng tử Hương Ba chợt bừng tỉnh, vừa rồi Mai Tát đồng ý cho hắn chỉ là "thể xác của tôi, tình cảm của tôi", hoàn toàn không có "trái tim của tôi, linh hồn của tôi".

"Mai Tát, tại sao?" Hoàng tử Hương Ba hạ giọng hỏi, tâm trạng vô cùng nặng nề.

"Đáp án nằm trong lời thề của em." Mai Tát nói, "Anh đã nhớ nó, nhưng lại không nghe hiểu nó."

Lúc này chiếc taxi dừng lại. Tài xế nói: "Đến rồi, Đại Chiêu Tự."

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.