A Rược Lạt-ma và Ô Kiên Lâm Ba vừa bước ra khỏi Tây Nhật Quang điện của Bạch Cung, điện thoại của A Rược Lạt-ma liền reo lên. Vị Bất Động Phật chưa từng hiển hình kia lần này lại đổi âm thanh tin nhắn thành bài hát "Double Fantasy" của John Lennon. Hai du khách trẻ tuổi ngoảnh lại nhìn A Rược Lạt-ma, có vẻ ngạc nhiên vì một vị lạt-ma lớn tuổi như vậy mà cũng thích John Lennon. A Rược Lạt-ma vẫn ghét sự thay đổi tùy tiện không theo ý mình này, đợi hai vị du khách trẻ rời đi mới lấy điện thoại ra bấm xem tin nhắn. Ông ngẩn người nhìn tin nhắn một hồi lâu không nói năng gì, lát sau mới nâng chiếc điện thoại bằng lòng bàn tay đặt trước mắt Ô Kiên Lâm Ba.
Ô Kiên Lâm Ba xem xong, vừa có chút phấn khích, lại vừa có chút hoài nghi. Nội dung tin nhắn như sau:
Bất Động Phật minh thị: Ở trong điện Phật mà Ban Đạt Lạp Mỗ không cho phép tháo dỡ.
Ô Kiên Lâm Ba nói: "Bất Động Phật bảo chúng ta từ bỏ Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát ư? Chúng ta theo đuổi suốt dọc đường, cứ thế dễ dàng từ bỏ sao?"
A Rược Lạt-ma nói: "Từ bỏ là đúng, xưa nay chưa từng có chuyện chỉ dựa vào người khác mà có thể thành công làm một quật tạng sư." Ông tin chắc rằng dưới sự cản trở của các lạt-ma khắp nơi lật tìm chuyển động trong Bố Đa Lạp Cung,phục tàng (phục tạng) của "Cửa bảy vị độ mẫu" là cực kỳ khó xuất hiện. "'Điện Phật mà Ban Đạt Lạp Mỗ không cho phép tháo dỡ'? Cậu có biết ở đâu không?"
Ô Kiên Lâm Ba theo thói quen giữ sự im lặng, nhưng rõ ràng là cậu ta biết. Hai người ngầm hiểu ý bước về phía Tây Sình Thố đại điện của Hồng Cung, leo lên hành lang lầu hai.
Nơi này gần như là một triển lãm bích họa, sáu trăm chín mươi tám bức bích họa đã khiến nghệ thuật bích họa Tây Tạng đạt đến một đỉnh cao ở đây. Tiếc là họ không có thời gian thưởng thức nghệ thuật, sức hút của tín ngưỡng còn quan trọng hơn nghệ thuật đang dẫn dắt họ tập trung tư tưởng vào cuộc tìm kiếm sắp mất đi mà cũng sắp có được.
Họ từ hành lang leo lên lầu ba, đến dưới cửa thang của Khúc Kết Trúc Phổ điện.
Khúc Kết Trúc Phổ điện còn gọi là Pháp Vương động, cùng với Thánh Quan Âm điện Phà Ba La Khang ở tầng trên tạo thành di di sản thời Tùng Tạng Cán Bố, là kiến trúc cổ nhất của Bố Đa Lạp Cung, đã có lịch sử hơn một nghìn ba trăm năm. Thời Thương Ương Gia Thố, nhiếp chính vương Tang Kết khi lập phương án tu sửa Hồng Cung đã định tháo dỡ Pháp Vương động và Thánh Quan Âm điện cũ kỹ. Cao tăng ba đại tự khuyên ông ta đừng làm vậy, nói tháo dỡ di tích cổ tức là tháo dỡ ý dân, là điều không may mắn. Tang Kết lần lượt bói toán trước linh cữu của Đạt Lai Lạt-ma đời thứ năm và trước tượng Cát Lường Thiên nữ Ban Đạt Lạp Mỗ, linh cữu Đạt Lai Lạt-ma đời thứ năm hiển thị điềm không cho phép tháo dỡ Thánh Quan Âm điện, còn Ban Đạt Lạp Mỗ hiển thị điềm không cho phép tháo dỡ Pháp Vương động.
A Rược Lạt-ma và Ô Kiên Lâm Ba đứng trước Pháp Vương động, quan sát từ trên xuống dưới, từ trái sang phải. Pháp Vương động nằm trên chóp núi Hồng Sơn, bố cục dạng hang động với tầm nhìn cao nhìn xuống, mang phong cách cổ phác mộc mạc, xuyên qua sự mài giũa của thời gian mà hiên ngang đứng vững, cho thấy trong sự sùng bái của Tây Tạng cổ đại, thấm đẫm sự chuyên một và đơn thuần như tình yêu dành cho núi cao và bầu trời.
Vẫn là trước sau nối tiếp nhau, hai người rón rén bước qua ngưỡng cửa, dường như bên trong là một đứa trẻ đang ngủ, họ không dám đánh thức.
Truyền rằng nơi này từng là nơi tĩnh tu của Tùng Tạng Cán Bố, nhưng không có lấy một tôn tượng Phật lúc tĩnh tu nào, chỉ có cái lò sưởi từng dùng năm xưa cùng nồi đá, cối đá trên bếp làm chứng cho tính chân thực của truyền thuyết. Nhưng có vẻ chân thực hơn cả là những bức tường, chúng bị khói lửa cổ xưa huân đen đến mức sáng bóng, dấu vết rìu đục khoét hang động ẩn hiện trong lớp màu đen ấy, tựa như những nhát cào của bàn tay năm tháng. Ánh đèn đắm chìm trong sự u tối, ngay ở khe kẹp giữa thấy và không thấy, tạo nên sự thần bí của Tây Tạng và sự không thể dò đoán của Phật giáo.
A Rược Lạt-ma và Ô Kiên Lâm Ba đi dọc theo vách tường từ trái sang phải một vòng, nhìn nhau ngầm hiểu, ý là không phát hiện nơi nào có cửa. Trong quan niệm của họ, "Cửa bảy vị độ mẫu" thứ nhất là pháp môn tu luyện, thứ hai là mật môn kinh điển, thứ ba là cửa ra vào của phục tạng và quật tạng. Cửa ra vào đương nhiên phải là thứ nhìn thấy được sờ thấy được. Họ quay người quan sát trước sau những bức tượng đó.
Các bức tượng ở đây đều được sáng tác sau khi Tùng Tạng Cán Bố thăng thiên, có tượng Tùng Tạng Cán Bố, tượng Văn Thành Công chúa, tượng Trì Tôn Công chúa, tượng Vương phi Mang Song Xích Giang, tượng đại thần Thôn Di · Tang Bố Trát, tượng Cát Nhĩ · Đông Tán, tượng vương tử Cống Nhật Cống Tán, đều thuộc nghệ thuật tạo tượng thời kỳ cuối Thổ Lân. Lại có tượng đồng dát vàng Phật Di Lặc, tượng đá điêu khắc Bồ Tát Quan Thế Âm và tượng nổ Thích Ca Mâu Ni, Đại sư Liên Hoa Sinh, Bạch Độ Mẫu, Hộ Pháp Thiên Vương, Đại sư Tông Khát Ba, Tôn giả Mễ La Nhật Ba v.v., đều là tác phẩm sau khi Đạt Lai Lạt-ma đời thứ năm và nhiếp chính vương Tang Kết tái thiết Bố Đa Lạp Cung.
A Rược Lạt-ma và Ô Kiên Lâm Ba vòng qua vòng lại ngắm nhìn, đi trọn ba vòng mà vẫn không nhìn ra manh mối gì. Họ dừng lại, A Rược Lạt-ma đứng trước bức tượng Tôn giả Mễ La Nhật Ba, mệt mỏi thở dài, rũ đầu xuống, nhìn thấy một luồng sáng giống như chiếc bút vẽ quét đi quét lại trên mặt đất, vô thức nhìn về nơi phát ra nguồn sáng, phát hiện một ngọn đèn bơ không gió mà múa, chiếu lên bức tượng Phật Di Lặc bằng đồng dát vàng, Phật Di Lặc liền dùng tay áo hắt ánh sáng rọi xuống mặt đất. Ánh sáng nhảy múa ấy vô thường, không chắc chắn, không chỉ không biết nên chiếu vào đâu, mà còn tiêu tan trong khoảnh khắc. Nghĩ vậy, ông ngẩn người, nheo mắt nhìn về phía trước, không kìm được lắc lắc đầu, lắc ra một màn cảnh tượng, mờ ảo, mờ ảo, rồi dần dần rõ nét.
Đó là một phần thành tựu thiền định của ông, trong thiền định ông không chỉ nhận được sự khải thị của "Cửa bảy vị độ mẫu — Ung Hoà Cung Bắc Kinh", mà còn nhìn thấy chân thực cảnh tượng này, nhìn thấy tiếng gọi của "Cửa bảy vị độ mẫu". Sau đó ông mới phát đi lời hiệu triệu mở "Cửa bảy vị độ mẫu" trên internet:
"Tôn giả đã khuất, thượng sư kính tín, kẻ nào đã ban cho chúng ta giáo huấn ôm dum giữ cố? Sư Tôn ban cho chúng ta ánh sáng chung, thế mà chúng ta lại giấu giếm lẫn nhau, tâm niệm cách trở, đó là nguyên nhân duy nhất cho đến nay hàng ức vạn lần lạy vẫn không thể mở được 'Cửa bảy vị độ mẫu'. Chìa khóa mở 'Cửa bảy vị độ mẫu' ở đâu? Ai là phước điền để gửi gắm linh hồn? Ai là pháp tông truyền miệng trao tai? Ai là tiên nhân tâm tâm tương ấn?"
Tiếc là cảnh tượng này mãi không thể khôi phục, ông không biết nó ở đâu, thậm chí cảm thấy đó có lẽ là nơi tu hành kiếp trước của mình, bỗng nhiên xuất hiện trong cảnh thiền định vượt không gian thời gian.
Nhưng bây giờ, cảnh tượng này không những đã khôi phục, mà còn kỳ diệu xuất hiện trước mắt, chính là nó, chính là Pháp Vương động mà ông đang đối mặt từ góc độ này: những bức bích họa thời kỳ đầu mộc mạc và cũ kỹ, những nhân vật Thổ Lân biểu cảm sống động, hai cột gỗ cổ xưa chống đỡ mái điện vốn không cao khoáng, chạm khắc hình mặt thú trên cột gỗ giống sư tử lại giống chó, ngay giữa hai cột gỗ cũ kỹ ấy, một hàng ma ni bảo châu lấp lánh những đốm sáng lúc ẩn lúc hiện, các đốm sáng hợp thành một hàng chữ Tạng cổ:
Cửa bảy vị độ mẫu
A Rược Lạt-ma quay đầu tóm lấy Ô Kiên Lâm Ba phía sau, giục giã nói: "Tôi thấy rồi, thấy 'Cửa bảy vị độ mẫu' rồi." Đoạn ông bịt miệng lại, nhìn xung quanh, phát hiện không ai chú ý đến mình, bèn thận trọng bước tới, đứng trước hàng ma ni bảo châu đang lấp lánh chớp tắt ấy, kích động đến mức không biết phải làm sao.
Ô Kiên Lâm Ba đi theo phía sau, cậu ta cũng nhìn rõ rồi, sự lấp lánh của các đốm sáng chính là "Cửa bảy vị độ mẫu", nói cách khác, phục tạng của "Cửa bảy vị độ mẫu" rất có thể nằm ở phía sau ma ni bảo châu. Cậu ta hơi căng thẳng, lùi lại một bước, nhắm mắt lại, thầm cầu nguyện một câu.
A Rược Lạt-ma khẽ chạm tay vào ma ni bảo châu, các đốm sáng lập tức biến mất, tựa như đó là một lớp nước quẹt đi là mất, viên ngọc hiện ra những hạt cát cũ kỹ bị khói hương huân nhiễm, khiến toàn bộ Pháp Vương động tối sầm đi rất nhiều. Ông vội vàng rụt tay lại, muốn khôi phục lại những đốm sáng đang chớp tắt, nhưng lại phát hiện sự u ám còn chói lọi hơn sự lấp lánh, viên bảo châu dùng màu đen do khói huân kết thành hai chữ, bay lơ lửng như làn khói. Ông muốn nhìn thêm vài lần nữa, liền nghe thấy Ô Kiên Lâm Ba ở phía sau quay người bỏ đi.
A Rược Lạt-ma đuổi theo, túm chặt lấy Ô Kiên Lâm Ba hỏi: "Cậu thấy gì vậy?"
Ô Kiên Lâm Ba hỏi ngược lại: "Ngài thấy gì thế?"
Hai người đồng thanh đáp: "Quê nhà."
2
Sát thủ đầu lâu vừa rồi còn tóm chặt Hoàng tử Hương Ba bỗng thu lại nụ cười dữ tợn, dùng giọng nói cực nhỏ cực rõ ràng nói: "Đừng tìm nữa, theo tôi, chỉ một mình thôi." Dứt lời, hắn sải hai bước về phía góc tường của ban thờ Phật, vén một tấm vải treo tường hình Vô Lượng Quang hàng phục ma nữ Māmī, đẩy ra một cánh cửa hẹp hòa làm một thể với bức tường.
Hoàng tử Hương Ba đi theo vào.
Sát thủ đầu lâu thần bí nói: "Vào trong rồi cậu sẽ biết, biết đâu bên trong chính là 'Cửa bảy vị độ mẫu' thì sao."
Hoàng tử Hương Ba do dự một lát, muốn quay đầu nhìn Mai Tát, liền bị sát thủ đầu lâu đẩy thẳng vào trong. Sát thủ đầu lâu tiếp tục bước vào, nhân tiện buông tấm vải treo tường xuống đóng cửa lại.
Không có cửa sổ, cửa vừa đóng lại là tối đen như mực. Ai cũng không nhìn thấy ai, chỉ có thể dựa vào tiếng thở của đối phương để phán đoán phương vị của họ.
Hoàng tử Hương Ba nói: "Đây là nơi nào?"
Sát thủ đầu lâu nói: "Cậu chẳng phải rất quen thuộc Bố Đa Lạp Cung sao, sao đến nơi này cũng không biết, phòng giam tối."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Anh dẫn tôi đến phòng giam tối làm gì?" Cậu biết phòng giam tối còn gọi là phòng trừng phạt, là nơi Bố Đa Lạp Cung trừng phạt các lạt-ma phạm pháp.
Sát thủ đầu lâu nói: "Hắc Phương Chi Chủ không muốn di ngôn của kẻ ngu ngốc Thương Ương Gia Thố nuốt chửng tâm can chúng ta. Ông ấy hy vọng tất cả những ai quan tâm đến 'Cửa bảy vị độ mẫu' đều từ bỏ việc tu luyện và khai quật, bao gồm cả cậu, nhưng cậu không nghe lời cảnh báo của ông ấy, cậu khăng khăng đi đến bước này." Nói đoạn hắn thọc tay vào túi quần. "Bổn tôn thần Vô Lượng Thọ Phật của ba đời nhà ta, vị phẫn nộ tôn Đại Uy Đức Bửu Uy Cương ở trên, không phải tôi, là viên đạn đã giết chết Hoàng tử Hương Ba."
Lúc này Hoàng tử Hương Ba mới hiểu ra, vị sát thủ đầu lâu bảo vệ cậu đã biến mất, vị sát thủ đầu lâu truy sát cậu đã quay trở lại. Không có thời gian để suy nghĩ căn nguyên trong đó. Cậu lặng lẽ lùi ra sau, hy vọng phòng giam tối có đủ diện tích để cậu tránh thoát viên đạn, nhưng lùi chưa được mấy bước, lưng cậu đã áp sát vào tường. Cậu nghe thấy tiếng bước chân sột soạt của sát thủ đầu lâu đang đến gần mình, vội vàng cầu xin: "Anh đã cứu tôi mấy lần rồi, sao việc thiện lại không làm đến nơi đến chốn? 'Cửa bảy vị độ mẫu' sắp hiển thế rồi cơ mà."
Sát thủ đầu lâu rút súng ra nói: "Đó chính là lý do ngày tàn của cậu đã đến."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Xem ra cuối cùng tôi vẫn không thoát khỏi sự truy sát của anh, anh lấy giết chóc làm tu hành, lấy máu tươi làm pháp, là một kẻ đã vứt bỏ tâm hổ thẹn. Tuy nhiên trước khi chết tôi vẫn muốn biết, người phụ nữ của anh rốt cuộc đã trở về chưa?"
Sát thủ đầu lâu không đáp, có lẽ hắn cảm thấy khó hiểu.
Chính Hoàng tử Hương Ba cũng cảm thấy khó hiểu, nước sôi lửa bỏng đến nơi rồi mà còn quan tâm chuyện nam nữ của sát thủ, đúng là bản tính phong lưu lại thêm chứng chết không hối cải. Nhưng dục vọng "quan tâm" ấy lại không tài nào kìm chế được, hơn nữa còn rất có hứng thú. "Anh không trả lời, chứng tỏ cô ấy vẫn chưa về. Tôi nói cho anh hay, tuyệt đối đừng nhụt chí. Người phụ nữ có thể khiến một tên sát thủ đầu lâu động lòng, chắc chắn cũng là một người phụ nữ hiểu tình biết nghĩa, thế thì anh hãy cất giọng hát lên, kiên trì không ngừng nghỉ mà hát. Ở Tây Tạng, chỉ có người đàn ông không biết hát tình ca Thương Ương Gia Thố, không có người phụ nữ nào nghe không hiểu tình ca Thương Ương Gia Thố. Tôi biết anh đang lén học những bài tình ca Thương Ương Gia Thố do tôi hát, có lẽ đã từng hát cho cô ấy nghe rồi, nếu cô ấy vẫn chưa bị lay động, thế thì là anh hát vẫn chưa tới chốn."
Hoàng tử Hương Ba nói, trong lòng bỗng chùng xuống, nhận ra lời này của mình cũng là nói cho chính nghe: Mai Tát cho đến nay vẫn chưa thực sự bị cậu làm cho rung động, tâm tư linh hồn cô vẫn đang bồng bềnh, không biết đâu là bến đỗ. Không phải tình ca Thương Ương Gia Thố không hay, mà là chính Hoàng tử Hương Ba cậu vẫn chưa hát ra được cái hương vị chạm đến linh hồn. Hoàng tử Hương Ba, bậc thầy tình ca, hiện thân của Thương Ương Gia Thố, cả đời lấy việc hát tình ca Thương Ương Gia Thố làm niềm tự hào, vậy mà lại không thể dùng tình ca để chinh phục trái tim người trong mộng.
Sự chấn động to lớn bao trùm lấy Hoàng tử Hương Ba, cho đến chết vẫn không thể dùng tình ca Thương Ương Gia Thố giành được trái tim và linh hồn của Mai Tát, điều này còn khiến cậu buồn hơn cả cái chết. Sát thủ đầu lâu không còn nữa, "Cửa bảy vị độ mẫu" không còn nữa, sống chết vinh nhục đều không còn nữa, giữa đất trời tồn tại chỉ có nỗi bi thương vô biên và một sợi tình ca không dứt:
Khi tiễn biệt lên đường đi xa,
Gửi anh ánh mắt đa tình,
Mãi mãi bằng nụ cười và chân tình,
Để nhung nhớ đón chào anh.
Đây không phải là bài tình ca lay động nhất của Hoàng tử Hương Ba, nhưng lại khiến khóe mắt cậu ngấn lệ. Cậu phát hiện có một ngọn đèn, đang lặng lẽ thắp lên, đang soi rọi bóng tối trong tận đáy lòng mình. Hoàng tử Hương Ba nắm chặt chiếc chìa khóa vàng đầu vẹt chim anh vũ trước ngực, thầm cầu nguyện, lách người sang một bên, cố gắng không để thân thể cọ sát vào vách tường phát ra tiếng động.
Đột nhiên, "rầm" một tiếng cửa mở ra, tiếp theo là một tiếng súng vang lên.
Bên ngoài phòng giam tối, trước ban thờ của Trường Thọ Phật điện, Mai Tát chăm chú quan sát mấy chục tôn tượng Trường Thọ Phật cuối cùng, vẫn không tìm ra tôn tượng nào khác biệt, cô dụi mắt nói: "Mắt tôi sắp rơi ra ngoài rồi." Không nghe thấy Hoàng tử Hương Ba phản ứng gì, cô ngoảnh đầu nhìn lại, cậu ấy vậy mà không có ở bên cạnh. Cô nhìn về phía đầu ban thờ Phật, lại ngoảnh nhìn phía sau, thắc mắc nghĩ ngợi, cậu ấy đi đâu rồi nhỉ? Theo phản xạ nhìn đồng hồ, phát hiện còn kém mười phút nữa là đến ba tiếng do Bích Tú quy định. Mười phút? Mười phút thì họ có thể khai quật được phục tạng của "Cửa bảy vị độ mẫu" sao? Cô vội quay người tìm kiếm khắp nơi, thứ tìm được lại chính là Bích Tú.
Bích Tú sải bước đi tới, lạnh lùng hỏi Mai Tát: "Đồng đội của cô đâu?"
Mai Tát rùng mình một cái, lùi sang một bên, thầm nghĩ chẳng lẽ Hoàng tử Hương Ba ra ngoài rồi, anh ấy ra ngoài sao không gọi mình? Cô chạy ra cửa tìm kiếm, gọi lớn: "Hoàng tử Hương Ba, Hoàng tử Hương Ba."
Bích Tú len lỏi giữa dòng du khách người đi kẻ đứng, nhìn người này, trừng người nọ, rồi đi đến trước ban thờ Phật nơi Hoàng tử Hương Ba vừa đứng, liếc mắt liền phát hiện nơi khả nghi nhất chính là góc tường của ban thờ Phật, ở đó có treo trướng lệ một cách vướng víu một tấm vải treo tường hình Vô Lượng Quang hàng phục ma nữ Māmī. Anh ta bước tới, "soạt" một tiếng vén tấm vải treo tường lên. Phía sau vải treo tường là bức tường nhẵn nhụi, anh ta thất vọng bồi thêm một cước thật mạnh, chỉ nghe "rầm" một tiếng, một hang đen xuất hiện. Thoạt đầu anh ta tưởng tường sập, nhìn kỹ lại, hóa ra là một cánh cửa đã bị mở ra.
Khoảnh khắc cửa mở, Bích Tú nghe thấy tiếng súng.
May mà Bích Tú đá cửa, làm gián đoạn việc sát thủ đầu lâu nổ súng. Viên đạn sượt qua tai Hoàng tử Hương Ba, găm vào bức tường đất a-ga. Hoàng tử Hương Ba chợt thấy một luồng ánh sáng rọi tới, bèn chồm người vùng lên, lao về phía trước. Cậu lao ra khỏi phòng giam tối, lao về phía dòng người tấp nập trong Trường Thọ Phật điện, ngoảnh lại liếc nhìn sát thủ đầu lâu và Bích Tú đang đuổi theo phía sau, chạy thẳng ra ngoài cửa Trường Thọ Phật điện: "Mai Tát, Mai Tát."
Mai Tát chạy tới: "Anh đi đâu thế?"
Hoàng tử Hương Ba kéo Mai Tát chạy đi. Bức tường người gồm lạt-ma và du khách chặn ngang đường họ, hai người thỉnh thoảng băng qua đám đông, đụng ngã mấy người.
Mai Tát hỏi: "Chúng ta đi đâu?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Kế hoạch không đổi, Tây Nhật Quang điện."
3
Hộ pháp Lãng Sắc được mấy vị lạt-ma khiêng vào Tát Tông Lãng Kiệt điện.
Khi một chiếc giường xếp bằng bạt được bày trước mặt Đại hoặc Phật Ngoại Kiệt Cống Ca, Hộ pháp Lãng Sắc giãy giụa ngồi dậy, tất cả mọi người đều kinh ngạc mở lớn đôi mắt.
Đó là một khuôn mặt trắng bệch không chút sắc máu, trên mặt không có thịt chỉ có da, gò má nhô cao như đầu lâu, sự suy kiệt của sự sống tựa như cây cối đến mùa đông, khô vàng đến mức bóp nhẹ là vỡ vụn. Mặc dù ai cũng biết, ở Tây Tạng, tất cả các thần vu tuyên dụ — người đại diện của các vị hộ pháp thần, đều không thể có thân thể quá cường tráng và tuổi thọ quá dài, nhưng tình trạng mới bốn mươi tuổi mà đã suy nhược tiều tụy như Hộ pháp Lãng Sắc thì vẫn rất hiếm thấy. Nguyên nhân không thể cường tráng và không thể sống thọ là, mỗi một nghi thức giáng thần thành công đều là quá trình hòa quyện khít khao giữa thần linh và thể xác con người, khi thần linh cường đại vạn năng bước vào thể xác con người, bắt buộc phải vắt kiệt tất cả nguyên khí, tất cả tinh thần của con người thì mới có thể phát ngôn ra những lời tiên tri mà con người yêu cầu. Nói cách khác, thần buộc phải có nguồn năng lượng cung cấp đủ thì mới có thể hành sự, những lần giáng thần hết lần này đến lần khác chính là lần này đến lần khác vắt kiệt năng lượng của con người, sự suy kiệt và đoản thọ không thể tránh khỏi cứ thế mà diễn ra. Thế nên mặc dù vị trí của thần vu tuyên dụ hộ pháp thần vô cùng tôn sủng, nhưng lại không phải là một người có đầy đủ phúc thọ lộc.
Lạt-ma Cổ Như Khâu Trạch vừa đỡ Hộ pháp Lãng Sắc, vừa đem nguy cơ kẻ bội thề đã chôn thuốc nổ trong Bố Đa Lạp Cung, trước khi mặt trời lặn sẽ phát nổ kể cho ông nghe. "Đây là nguy cơ lớn nhất mà Bố Đa Lạp Cung gặp phải trong mấy trăm năm qua, xin Hộ pháp Lãng Sắc tuyên dụ thần chỉ, thuốc nổ rốt cuộc được chôn ở đâu?"
Hộ pháp Lãng Sắc gật đầu, hít sâu một hơi, nhắm mắt kiết già ngồi một lúc, dường như bỗng nhiên có lại tinh thần, duỗi chân xuống dưới giường, vững vàng đứng xuống mặt đất.
Sau đó, ông được chính Đại hoặc Phật Ngoại Kiệt Cống Ca mời lên pháp tọa giáng thần.
Các lạt-ma căng thẳng xua đuổi du khách, tín đồ và tăng nhân ngoài Bố Đa Lạp Cung, nhanh chóng đóng kín cánh cửa gỗ đen kín như bưng của Tát Tông Lãng Kiệt điện.
Tát Tông Lãng Kiệt điện còn gọi là Thù Thắng Tam Giới điện, là gian điện cao nhất của Hồng Cung, chính giữa thờ tấm bài vị viết bằng bốn thứ tiếng Tạng, Hán, Mãn, Mông "Hoàng đế đương kim vạn tuế vạn vạn tuế", phía trên bài vị là bức chân dung Hoàng đế Càn Long đang ngồi thiền niệm Phật. Có lẽ bắt đầu từ Đạt Lai Lạt-ma đời thứ bảy, cứ đến dịp Tết Tạng lịch, các đời Đạt Lai Lạt-ma đều phải dẫn dắt các quan chức tăng tục Kà-sơ-ba và các lạt-ma cao cấp của ba đại tự nghiêm cẩn bái lạy bài vị và chân dung. Vì có hoạt động này, Tát Tông Lãng Kiệt điện trở nên vô cùng tôn sủng trong Bố Đa Lạp Cung, rất nhiều nghi thức quan trọng, ví dụ như nghi thức giáng thần, nghi thức quán đảnh cao cấp, nghi thức thọ giới của đại hoặc Phật, đều được tổ chức ở đây.
Bên trái điện áp sát vách tường, nơi thờ tượng Quan Thế Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn, một bức thăng-ka trân quý có sắc màu trầm uồng từ trên không rủ xuống. Trên bức thăng-ka chính là vị thần mà Hộ pháp Lãng Sắc làm người đại diện — Bắc phương Đa Văn Thiên Vương, ánh mắt hắn hung ác, mặt mày dữ tợn, thân sắc là màu vàng mang chút rỉ đồng xanh đậm, tay phải cầm phang uy phục, tay trái nắm giữ bảo thú nhả châu, chân đạp ma quái tam giới, mang một khí thế bạt ngàn, phá nát mọi ma chướng.
Pháp tọa giáng thần được bố trí ngay trước bức thăng-ka này.
Lạt-ma Cổ Như Khâu Trạch bước đến trước mặt Hộ pháp Lãng Sắc, giúp ông mặc pháp y lụa vàng. Vạt pháp y dài chấm đất, trên đó đan cài đầy những đám mây giận dữ, ngọn lửa cuồn cuộn, hai họa tiết đỏ trắng quấn quýt từ thân dưới và sau lưng tới, nâng đỡ tấm kính hộ tâm bằng ngọc thạch trước ngực. Cổ Như Khâu Trạch dùng lòng bàn tay lau tấm kính hộ tâm càng thêm sáng bóng, sau đó trùm chiếc áo khoác lớn mười hai lá đúc bằng vàng lá từ đầu Hộ pháp Lãng Sắc trùm xuống, đoạn thắt cho ông chiếc tạp dề dệt mặt nạ hộ pháp thần và chiếc đai lưng trang trí đầu lâu, rồi ngồi xổm xuống, xỏ đôi bốt trắng ống cao đính đầy hạt vàng vào chân ông.
Hộ pháp Lãng Sắc tay cầm kim cang chử, đoan trang ngồi nghiêm nghị.
Lạt-ma Cổ Như Khâu Trạch lùi sang một bên. Đại hoặc Phật Ngoại Kiệt Cống Ca dẫn đầu kiết già ngồi trên đệm bồ đoàn, rất nhiều lạt-ma có mặt cũng lần lượt ngồi xuống. Tiếng tụng niệm kinh chú bùng lên như sóng dữ, tám vị lạt-ma phía sau Hộ pháp Lãng Sắc thổi tù và xương ống chân, gõ trống đầu lâu Kapala, chập cõi đồng vọng, còn có cả từng trận tiếng phách lóc cóc.
Cổ Như Khâu Trạch đứng cạnh lư hương, chắp tay cất lời, thốt ra không phải kinh chú, mà là một câu hết sức bình thường: "Thần ngài hãy đến, thần ngài hãy đến, mau nói thuốc nổ giấu ở đâu?" Đoạn ông châm hương trầm ở lư hương bên trái, hương bách ở lư hương bên phải, thắp sáng hai mươi mốt ngọn đèn bơ bấc to.
Hộ pháp Lãng Sắc nhắm nghiền hai mắt, miệng lẩm bẩm kinh chú, bỗng mở trừng hai mắt, bắn ra hai đạo ánh sáng lạnh lẽo, đứng phắt dậy, tung người nhảy vọt lên không trung, rồi lại ngồi xuống, nhắm mắt, lắc lư từng vòng. Khi mở mắt ra lần nữa, liền trở nên hổn hận đằng đằng. Khuôn mặt ông lộ vẻ hung ác dữ tợn khiến người ta sợ hãi, thở dốc, thở dốc thật mạnh, thở dốc mạnh hơn nữa, đột nhiên ngừng bặt, rồi thở ra một hơi thật dài, sắc mặt trắng bệch dần ửng hồng, càng lúc càng đỏ, tựa như trái tim đã dồn ép toàn bộ máu lên mặt, sắp rách toạc cả da thịt. Đôi gò má không thịt chỉ có da phồng lên, gò má biến mất, sự sống tựa như thực vật đến mùa hè, sinh sôi ra một vẻ đầy sức sống.
Lạt-ma Cổ Như Khâu Trạch theo lệ thường bước tới, cầm chiếc pháp quan đỉnh nhọn trên bàn thờ đội lên đầu Hộ pháp Lãng Sắc, lại dùng một sợi dây tơ vàng siết chặt cổ ông. Pháp quan có hai lớp, lớp trong bằng bạc trắng, lớp ngoài bằng vàng, trên những chùm lá vàng nhô lên từng cục được khảm những viên ngọc đỏ. Pháp quan nặng tới mười bảy cân, người bình thường đội lên đầu có thể làm cong cả cổ, thế nhưng cổ của Hộ pháp Lãng Sắc không những không cong, mà còn ưỡn thẳng hơn. Tứ chi ông co giật, đứng bật dậy, một tay nắm kim cang chử, một tay lắc chuông kim cang, múa may quay cuồng, lúc thì chậm rãi như mây bay, lúc thì gấp gáp như gió cuốn.
Đột nhiên ông cảm thấy đau đớn, nỗi đau đớn này chính là thứ mà mọi người đang mong đợi, nó nói cho mọi người biết đây là khoảnh khắc thần linh nhập vào thể xác con người, nỗi đau đớn giống như người phụ nữ sau khi sinh con, đứa trẻ lại quay trở về tử cung vậy. Hộ pháp Lãng Sắc ngã nhào về pháp tọa, trên biểu cảm đau đớn, hai khóe môi và hai lỗ mũi đều tách rời nhau, đôi mắt dường như dựng đứng lên, lông mày chạy xuống dưới mắt. Thân thể ông oằn oại, run rẩy, rồi bắt đầu co giật, đầu rõ ràng sưng to lên, toàn thân rõ ràng phù thũng, trong miệng thoạt đầu sủi bọt trắng, tiếp đến nôn ra tinh dịch, cuối cùng nôn ra máu tươi.
Lạt-ma Cổ Như Khâu Trạch hắt một vại rượu lúa mạch trắng phau tự ủ của Bố Đa Lạp Cung lên người ông, hắt một bát bạc nước trà Phổ Lịch đặc quánh đến mức ngả đen lên người ông, tung một chậu vàng lúa mạch lên người ông.
Ông bất động, Hộ pháp Lãng Sắc đột nhiên bất động, dường như ngay cả hơi thở cũng không còn.
Lạt-ma Cổ Như Khâu Trạch quay đầu nhìn Đại hoặc Phật Ngoại Kiệt Cống Ca. Đại hoặc Phật Ngoại Kiệt Cống Ca gật đầu với ông, ý là: Ngài hỏi đi, bây giờ có thể hỏi rồi.
Cổ Như Khâu Trạch quỳ trước mặt Hộ pháp Lãng Sắc, lớn tiếng hỏi: "Thuốc nổ ở đâu?"
Hộ pháp Lãng Sắc nhắm mắt, lầm bầm lẩm bầm nói tiếng Phạn, không ai nghe hiểu, bởi vì đây là ngôn ngữ của thần, ngôn ngữ của thần chuyển đổi thành ngôn ngữ của con người còn phải mất vài giây.
Cổ Như Khâu Trạch dùng giọng lớn hơn hỏi lại: "Thuốc nổ ở đâu?"
Hộ pháp Lãng Sắc đột ngột ngậm miệng.
Cổ Như Khâu Trạch lại hỏi: "Kẻ bội thề đã chôn thuốc nổ ở nơi nào?"
Hộ pháp Lãng Sắc há miệng. Cổ Như Khâu Trạch vội vàng áp tai lại gần, nhưng một chút hơi thở cũng không nghe thấy.
Cổ Như Khâu Trạch nói: "Thuốc nổ, thuốc nổ, chôn ở đâu? Thần linh ơi, xin hãy mau nói cho chúng con biết, Bắc phương Đa Văn Thiên Vương ơi, xin hãy mau nói cho chúng con biết."
Hộ pháp Lãng Sắc đột nhiên mở trừng hai mắt, dường như đôi mắt đang biết nói, thứ thốt ra chính là nước mắt, hai dòng nước mắt phun trào. Lúc này, ông thốt ra một câu rõ ràng đến mức không thể rõ hơn: "Tôi không phải thần, tôi không biết thuốc nổ ở đâu. Tôi cũng không phải Hộ pháp Lãng Sắc, tên của tôi là Sô Già. Mẹ già mục dân của con ơi, con trai Sô Già của mẹ sắp đi đây." Dứt lời, ngửa người ngã gục trên pháp tọa.
Mọi người chết lặng: Thần linh đều là như vậy, cuối cùng đều sẽ biến thành con người.
Cổ Như Khâu Trạch đứng dậy, đỡ Hộ pháp Lãng Sắc dậy. Nhưng ông lập tức cảm thấy thân thể Hộ pháp Lãng Sắc đang cứng đờ lại. Ông lay lay đối phương, gọi lớn: "Hộ pháp Lãng Sắc, Hộ pháp Lãng Sắc." Gọi mấy tiếng liền biết, những lần ngửa người ngất xỉu khi giáng thần trước kia là hôn mê, nhưng lần này không phải, lần này là cái chết.
Lạt-ma Cổ Như Khâu Trạch ôm lấy Hộ pháp Lãng Sắc, oà khóc.
Các lạt-ma im lặng hướng ánh nhìn về phía Đại hoặc Phật Ngoại Kiệt Cống Ca, nội dung ánh nhìn đều đồng nhất: Bây giờ phải làm sao đây?
Quản gia nói: "Rất nhiều người đã biết Bố Đa Lạp Cung chôn giấu thuốc nổ."
Đại hoặc Phật Ngoại Kiệt Cống Ca u sầu hỏi: "Cảnh sát thì sao?"
Quản gia nói: "Tốc độ lùng sục của họ quá chậm."
Đại hoặc Phật Ngoại Kiệt Cống Ca nói: "Dọn dẹp khách du lịch và tín đồ thế tục, thông báo cho tăng chúng, đại pháp hội tụng kinh không thể hủy bỏ, nhưng việc tham gia đến đi là tự do, bao gồm cả các lạt-ma của Bố Đa Lạp Cung. Ai muốn đi đều được, nếu đều đi hết, chỉ còn lại một mình ta, ta chính là người dẫn kinh, cũng là tăng chúng tụng kinh."
Cổ Như Khâu Trạch lớn tiếng nói: "Còn có tôi nữa."
Quản gia nói: "Tất cả chúng ta sẽ không rời đi." Lúc này điện thoại reo, quản gia lôi ra "A lô a lô" mấy tiếng, sắc mặt lập tức nghiêm nghị như thể mất đi ngũ quan, khiêm tốn nói: "Đại hoặc Phật đang ở đây." Ông ta nhanh chóng đưa điện thoại cho Đại atau Phật Ngoại Kiệt Cống Ca, thấy Ngoại Kiệt Cống Ca không nhận, lại nói thêm, "Là Hiệp hội Phật giáo Tây Tạng gọi tới, có vẻ sự việc rất khẩn cấp."
Đại hoặc Phật Ngoại Kiệt Cống Ca nhấc điện thoại, chỉ nghe mà không nói, nhưng vẻ mặt càng lúc càng căng thẳng cho mọi người biết, một sự việc vô cùng trọng đại đang xảy ra. Suốt cuộc gọi ông chỉ nói một câu: "Chúng ta sẽ chuẩn bị sẵn sàng." Câu nói này thâm trầm tựa như chính Bố Đa Lạp Cung vậy. Ông trả lại điện thoại cho quản gia, bảo lạt-ma Cổ Như Khâu Trạch: "Ngươi bảo mọi người đều đến Tây Sình Thố đi." Đoạn nhấc chân cất bước, đi được mấy bước, ngoảnh đầu gọi quản gia lại gần, hạ giọng nói: "Ngươi, đi cùng ta đến Phà Ba La Khang."
Quản gia đầy vẻ lo âu nói: "Nhưng còn thuốc nổ thì sao? Nó bất cứ lúc nào cũng sẽ..."
Ngoại Kiệt Cống Ca cắt ngang lời ông ta, trầm giọng bảo: "Nhất định phải tra cho ra, cuộc tập hợp thứ bảy bắt đầu rồi." Nói đoạn sải bước rời đi.
Quản gia ngẩn ngơ: Cuộc tập hợp thứ bảy bắt đầu rồi? Lại quay đầu nói với lạt-ma Cổ Như Khâu Trạch: "Đại hoặc Phật nói cuộc tập hợp thứ bảy bắt đầu rồi, chẳng lẽ lời tiên tri ba năm trước của ngươi ở Phà Ba La Khang sắp thành sự thật rồi sao?"
Cổ Như Khâu Trạch không nghe thấy, ông hối thúc mọi người mau đến Tây Sình Thố, lại chỉ huy mấy vị lạt-ma đặt Hộ pháp Lãng Sắc lên chiếc giường xếp bằng bạt, rồi nói: "Dùng khăn ha-đạt che lại, không thể để người ngoài nhìn ra người khiêng là một cái xác." Ông cùng mấy vị lạt-ma khiêng thi thể Hộ pháp Lãng Sắc ra khỏi Tát Tông Lãng Kiệt điện.
4
Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát một mạch chạy thẳng đến Tây Nhật Quang điện. Nơi này yên tĩnh đến kỳ lạ, chỉ có mấy vị lạt-ma túc trực đang ngáp ngắn ngáp dài đứng ở cửa. Phía trước họ là tấm biển "Khách du lịch dừng bước", tấm biển lặng lẽ ngăn bước chân mọi người, nào ngờ lại bị Hoàng tử Hương Ba sút văng ra.
Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát vén cửa bước vào. Mấy vị lạt-ma túc trực không kịp chặn họ lại, nhưng vừa vặn kịp chặn sát thủ đầu lâu và Bích Tú đang đuổi theo phía sau.
Bích Tú nói: "Tôi là cảnh sát."
Lạt-ma đáp: "Vậy cũng không được vào Tây Nhật Quang điện bắt người, đợi chúng tôi đuổi họ ra đây đã."
Sát thủ đầu lâu và Bích Tú đành đứng canh ở cửa.
Bích Tú vươn tay về phía sát thủ đầu lâu: "Trả súng cho tôi."
Sát thủ đầu lâu cười lạnh: "Trả cho anh để anh lại nổ súng vào tôi à?"
Bích Tú nói: "Bây giờ tôi không có tâm trí đâu mà giết anh, tốn đạn lắm."
Hai vị lạt-ma theo sát Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát đi vào, định đuổi họ ra ngoài, nhưng lại phát hiện họ đã quỳ rạp xuống tấm thảm của Đại Phúc Diệu Toàn cung. Bộ dạng thành kính cầu nguyện, ngũ thể đầu địa ấy khiến hai vị lạt-ma dù thế nào cũng không nỡ cưỡng chế xua đuổi. Một vị lạt-ma nói: "Lạy thì cứ lạy đi, lạy xong mau chóng rời đi đấy."
Thứ mà Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát bái lạy chính là Trường Thọ Phật. Họ vừa bước vào Đại Phúc Diệu Toàn cung, cái nhìn đầu tiên đập vào mắt chính là Trường Thọ Phật, lập tức hiểu ra, phán đoán của họ không hề sai. Hồi thế kỷ thứ năm, Ban Chân gia trì hệ phái Đạt Lai, thực sự đã thỉnh Trường Thọ Phật của Đức Đan Cát điện đến Tây Nhật Quang điện. Trường Thọ Phật trước mặt hoàn toàn khác với tất cả Trường Thọ Phật trong Trường Thọ Phật điện, sắc thái của nó trầm hơn một chút, có xu hướng thiên về nữ tính, rõ ràng mang phong cách Hy Lạp mang đến sau khi Alexander chiếm đóng lưu vực sông Ấn. Đây là đặc điểm của tạo tượng Phật giáo Ấn Độ thời kỳ đầu. Trong khi một nghìn tôn Trường Thọ Phật trong Trường Thọ Phật điện lại mang sắc vàng tươi, thiên về nam tính, mang nhiều đặc trưng của Trung thổ hơn.
Mai Tát vừa bái lạy vừa hỏi: "Tìm được tôn Trường Thọ Phật này rồi, tiếp theo chúng ta phải làm thế nào?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Tôi không biết, tôi nghĩ Trường Thọ Phật sẽ nói cho chúng ta biết." Đoạn đứng dậy bước về phía hương án. Đột nhiên lại khựng lại, kinh ngạc nhìn những món đồ được bày một dãy trên thảm gồm mười hai phiến ngọc thạch ma-ni, bảy túi lúa mạch bảy màu, chiếc bánh tsampa lớn in nổi tiền cổ Tây Tạng và cặp hoa bơ hươu cát tường vỡ nát. "Ái chà, đây là cái gì?"
Mai Tát nói: "Trông giống như cúng phẩm dâng lên Trường Thọ Phật."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Ai dâng thế? Sao lại bày ở đây đúng vào lúc này chứ?"
Mai Tát nói: "Chúng ta không còn thời gian nữa đâu, còn bận tâm mấy thứ này làm gì."
Hoàng tử Hương Ba suýt hét lên: "Vẫn chưa hiểu sao, chúng chính là cẩm nang quật tạng đấy."
Mai Tát đang sốt ruột bốc hỏa cũng hét lên: "Thế anh giải thích mau lên xem nào, còn bày đặt ra vẻ bí hiểm gì nữa?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Bây giờ tôi muốn nhờ cô giải thích, trước tiên nói về những phiến ngọc thạch ma-ni đi, 'ma-ni' là gì?"
Mai Tát nói: "Ma-ni là gọi tắt của Lục tự đại minh chú."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Nó còn là chân ngôn căn bản của Liên hoa bộ thuộc Mật tông Phật giáo Tây Tạng, là sự khái quát cao độ về toàn bộ lý nghĩa và tín ngưỡng phổ thế của Đại thừa Phật giáo. Kể từ khi đại sư Karmapa Hắc Mạo hệ của phái Karma Kagyu khai sáng thói quen tụng xướng vào năm 1227 sau Công nguyên, nó đã nhào nặn nên Tây Tạng trong các hoạt động tín ngưỡng gột rửa trụ cấu, đoạn trừ phiền não, giải thoát luân hồi, chứng ngộ thanh tịnh, phát Bồ đề tâm, đầy đủ mọi công đức, cung cấp nguồn lương thực tinh thần căn bản nhất cho một dân tộc trường tồn mãi mãi."
Mai Tát trừng mắt nhìn anh, tựa như đang hỏi: Nói những cái này làm gì?
Hoàng tử Hương Ba nói: "Trong mắt Thương Ương Gia Thố, 'ma-ni' quan trọng như vậy nhất định phải có một chốn về thật tốt, thế nên khi vị trang chủ sùng tín Thương Ương Gia Thố khắc 'ma-ni' lên mười hai phiến ngọc thạch để tiến cúng cho ông, ông liền mang tặng người tình của mình. Tôi vẫn luôn không tài nào hiểu nổi rốt cuộc ông đã tặng cho người tình nào, lại là ai đã có được những phiến ngọc thạch ma-ni này từ tay vị hoặc những người tình đó. Lúc Thương Ương Gia Thố rời Lạp Tả, có người chia chúng thành hai phần, sáu phiến phần dùng để hối lộ khâm sứ triều đình Sác Nạp lạt-ma và tướng quân áp tống của Lạp Tạng Hãn là Ôn Đạt Khách, hy vọng họ đối xử thật tốt với Thương Ương Gia Thố dọc đường. Sác Nạp lạt-ma lập tức bày tỏ, cúng phẩm Phật trân quý thế này tôi vẫn nên trả lại cho Thượng sư thôi. Thương Ương Gia Thố không nhận, nói, anh hãy đội nó lên đầu, đối với anh sẽ có lợi đấy. Tướng quân Ôn Đạt Khách thì giắt sáu phiến của mình vào lưng, Thương Ương Gia Thố nhìn thấy liền bảo, đừng làm vậy, anh nên treo trên đỉnh lều của anh kìa. Nghe nói từ đó về sau, Ôn Đạt Khách trở thành một vị tướng may mắn, vào sinh ra tử không m tổn hại chút nào, thọ đến bảy mươi lăm tuổi mới qua đời. Một võ phu Mông Cổ sống đến tuổi này, xấp xỉ bằng một trăm tuổi của người bình thường. Nhưng không hiểu sao những phiến ngọc thạch ma-ni lại xuất hiện ở đây, hơn nữa lại đủ mười hai phiến không thiếu một phiến."
Mai Tát nói: "Tôi không nghe ra anh muốn biểu đạt điều gì cả, kể chuyện à? Bây giờ không phải lúc đâu."
Hoàng tử Hương Ba tức giận nói: "Những câu chuyện này sớm đã quên mất rồi, nhìn thấy phiến ngọc thạch ma-ni mới nhớ ra, không kể ra thì chúng ta làm sao phán đoán được ý nghĩa sự xuất hiện của chúng."
Mai Tát nói: "Thế thì kể đi kể đi, tôi đang nghe đây." Đoạn cô nhìn đồng hồ, thời hạn ba tiếng đã qua, mà hy vọng quật tạng vẫn vô cùng mịt mờ.
Hoàng tử Hương Ba nói: "Lúa mạch bảy màu thì sao, cô có biết nó dùng để làm gì không?"
Mai Tát nói: "Là lời chúc phúc mà hoặc Phật tung rắc cho tín chúng, có thể giúp con người thoát khỏi luân hồi, vãng sinh tịnh thổ."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Lúc Thương Ương Gia Thố rời Lạp Tả, nóc nhà hiết sơn đầu tiên của Hồng Cung Bố Đa Lạp Cung đang lợp ngói, vốn đã bàn bạc xong xuôi là đợi lợp ngói xong sẽ do ông khai quang, nào ngờ ông lại u sầu rời đi. Khi lợp ngói xong, Thương Ương Gia Thố đang trên đường bị áp giải đã đến cách xa ngàn dặm tận Đương Hùng. Tăng nhân tưởng nhớ ông cưỡi ngựa phi nước đại đến tìm, kiên quyết đòi ông khai quang. Thương Ương Gia Thố đứng trên thảo nguyên Đương Hùng, miệng tụng kinh chú, vốc từng nắm lúa mạch bảy màu tung lên bầu trời theo hướng Lạp Tả. Chẳng mấy chốc, trên mái hiết sơn mới tinh của Hồng Cung Bố Đa Lạp Cung cách xa ngàn dặm, liền rơi xuống một lớp lúa mạch bảy màu. Mọi người kinh ngạc thán phục xong, đã thu gom lúa mạch bảy màu lại, đem cúng dường trong Bố Đa Lạp Cung. Nhưng sau đó lúa mạch bảy màu kỳ diệu bỗng biến mất, có người bảo bị Lạp Tạng Hãn thiêu hủy, có người bảo bị các tăng nhân giấu đi. Hơn ba trăm năm nay, không một ai truy lùng tung tích lúa mạch bảy màu nữa, thánh giáo đã quên mất nó. Ngoại trừ tôi, khi nghiên cứu về cuộc đời Thương Ương Gia Thố tôi đã biết chuyện này, không ngờ lại được tận mắt nhìn thấy nó ở đây lần nữa."
Mai Tát nói: "Làm sao anh biết bảy túi lúa mạch bảy màu trước mặt này nhất định là do Thương Ương Gia Thố tung rắc từ thảo nguyên Đương Hùng đến?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Nó đã đóng vai trò là cẩm nang quật tạng của 'Cửa bảy vị độ mẫu', thì nhất định sẽ có liên quan đến Thương Ương Gia Thố, không hành hộ pháp sẽ không dùng đồ giả để lừa gạt chúng ta đâu."
Mai Tát nói: "Nó là cẩm nang quật tạng ư? Sao anh lại nói chắc nịch thế?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Không còn thời gian để do dự nữa. Nói tiếp về bánh tsampa lớn..."
Mai Tát biết anh lại chuẩn bị khảo hạch mình, bèn tranh nói trước: "Cúng phẩm dâng lên Phật."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Nói một cách chính xác, là cúng phẩm cao nhất dâng lên Phật. Nguyên liệu, hình dáng, diện mạo của bánh tsampa lớn đều được làm tuân thủ nghiêm ngặt theo 'nghi thức của Ấn Độ Mật tông vô thượng Du-già bộ' do Liên Hoa Sinh phục tạng, không được phép tùy tiện thay đổi. Nhưng trên chiếc bánh tsampa lớn trước mặt này lại lưu lại dấu vết ngoài nghi thức — dấu ấn của tiền cổ Tây Tạng. Ai có quyền làm thế? Chỉ có Đạt Lai Lạt-ma, chỉ có Thương Ương Gia Thố. Người tình của Thương Ương Gia Thố không có thứ gì hay ho để tặng ông, bèn tặng ông một đồng tiền cổ Tây Tạng lưu thông trong dân gian. Thương Ương Gia Thố trân quý như bảo vật, dùng dây chuyền vàng xâu lại đeo trên người, hễ cứ đến lúc tăng nhân Bố Đa Lạp Cung làm bánh tsampa lớn, ông sẽ dùng tiền cổ Tây Tạng in lên vị trí nổi bật nhất giống như đóng dấu vậy, ý là bánh tsampa lớn là sự dâng hiến của người tình ông, xin Phật bảo hộ cô ấy được hạnh phúc bình an. Bánh tsampa lớn là tượng trưng của Tu Di Sơn, Tu Di là tiếng Phạn, có nghĩa là 'Diệu Cao', giải thích về 'Diệu Cao' trên kinh Phật là: 'Diệu ở chỗ chất bằng vàng, cao ở chỗ đội trời đạp đất'." Nói đoạn, anh dừng lại, nhìn phản ứng của Mai Tát.
Mai Tát nói: "Anh nói mây mưa mù mịt thế, tôi càng nghe càng không bắt được trọng tâm."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Kiên nhẫn một chút xem nào, trọng tâm cần cô tự mình ngộ ra. Bây giờ nói về hoa bơ. Hoa bơ sớm nhất là lễ vật cúng thần của giáo phái Bôn. Khi Văn Thành Công chúa mang theo tượng Thích Ca Mâu Ni mười hai tuổi đến Lạp Tả, đã là mùa đông cỏ tàn hoa rụng, quả rời khỏi cây. Theo phong tục Ấn Độ, trước Phật bắt buộc phải cúng dường sáu phẩm: hoa, đồ thơm, thánh nước, xông hương, hoa quả và đèn Phật. Trong sáu phẩm thiếu mất hoa và hoa quả, người Tạng bèn dùng bơ trộn màu sắc nặn ra một bó hoa và một mâm quả dâng lên Thích Ca Mâu Ni. Đây là sự khởi đầu của việc tạo hình hoa bơ trong Phật giáo. Sau đó biến thành nghệ thuật tạo hình quy mô lớn là nhờ sự thúc đẩy của Đại sư Tông Khát Ba — tổ sư phái Cách Lỗ. Vào tháng Giêng năm 1409 sau Công nguyên, trước thềm đại pháp hội nguyện cầu Đại Chiêu Tự Lạp Tả lần đầu tiên, Tông Khát Ba nằm mơ thấy một giấc mơ, chỉ thấy hoa tươi khắp chốn, màu sắc rực rỡ muôn màu, trên người Phật tổ hào quang cầu vồng rực rỡ, châu báu ngập tràn đất trời. Ông tỉnh giấc liền phân phu tăng chúng làm hoa bơ theo giấc mơ, đồng thời long trọng trưng bày tại đại pháp hội nguyện cầu Đại Chiêu Tự Lạp Tả, đây là lần đầu tiên hoa bơ xuất hiện trên sân khấu Phật giáo với nội dung là những bức tượng Phật Bồ Tát cỡ lớn và các câu chuyện nhân vật. Hoa bơ được làm vào mùa đông, tan chảy vào mùa hè, giống như một giấc mơ hoa lệ, thoáng chốc tan biến, điều này vừa vặn lại là sự thể hiện của vô thường, vô sắc, vô tự tính, thế nên hoa bơ lại là sự diễn múa sinh động về lý nghĩa Phật giáo. Cặp hoa bơ hươu cát tường này do chính tay Thương Ương Gia Thố làm, ngoài bơ ra ông còn cho thêm bột đá băng hàn và băng phiến vào, có tác dụng hạ nhiệt đông đặc, cộng thêm bên ngoài quét một lớp sơn tự nhiên rất dày, cho nên bốn mùa trong năm vẫn duy trì nguyên trạng cũ."
Mai Tát hỏi: "Thương Ương Gia Thố làm nó để làm gì, có dụng ý gì không?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Ấn Độ cổ đại có một vị thiện thần tên là Lộc Mục Nữ, bà hóa thân từ một con nai cái, là vị thần thủ hộ của đại đồng cỏ. Bà có một đôi mắt to và sáng, có thể nhìn rất xa rất xa. Có một ngày bà nhìn thấy bên kia núi có mấy khóm lúa thơm mọc tự nhiên, bèn phái người đi hái hạt giống lúa thơm về, gieo trồng trên đồng cỏ. Thế là đồng cỏ có những thửa ruộng lúa bạt ngàn, con người có cuộc sống no đủ. Thế nên trong quan niệm của người Ấn Độ cổ đại, loài nai không chỉ cát tường, mà còn có ý nghĩa đứng cao nhìn xa. Cho nên tạo hình hươu cát tường thường sẽ xuất hiện ở trên mái bằng hoặc chóp mái của các ngôi chùa. Lại vì sau khi Thích Ca Mâu Ni thành Phật, trước tiên đã đến vườn Lộc Uyển thành Bồ-la-nại, tuyên thuyết 'Tứ đế', 'Thập nhị nhân duyên' đại triệt đại ngộ của mình cho năm người hầu từng đi theo ông. Năm người hầu lập tức được cảm hóa, tâm sinh hoan hỉ, trở thành năm đệ tử đầu tiên của Phật Đà. Đây là lần thuyết pháp đầu tiên của Phật Đà, được gọi là 'Sơ chuyển pháp luân', diễn ra ở vườn Lộc Uyển nơi loài nai sinh sống. Cho nên khi hươu cát tường xuất hiện trên mái bằng hoặc chóp mái của chùa chiền, thường là hướng đầu vào nhau, ở giữa là bánh xe pháp vàng. Bánh xe pháp có hình tròn, đường viền ngoài lại có hình trái tim, tượng trưng Phật giáo chính là giáo lý của tâm linh, một lòng một dạ, tâm Phật không hai là cao nhất."
Mai Tát nói: "Không sai, chúng ta đi dọc đường, trên mái chùa của Lạp Bặc Lăng Tự, Tháp Nhĩ Tự, Triết Bàng Tự, Đại Chiêu Tự đều có hươu cát tường và bánh xe pháp vàng."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Bốn món thánh vật có bốn câu chuyện, bốn câu chuyện có một điểm chung, cô có nghe ra không?"
Mai Tát nói: "Nói thẳng ra đi, đừng hỏi nữa."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Về phiến ngọc thạch ma-ni, Thương Ương Gia Thố bảo với Sác Nạp lạt-ma rằng, anh hãy đội nó lên đầu. Lại bảo với tướng quân Ôn Đạt Khách rằng, anh nên treo trên đỉnh lều, ở đây nói là 'đỉnh đầu' và 'đỉnh lều'. Về lúa mạch bảy màu, nó bay từ ngàn dặm xa xôi tới, rơi xuống mái hiết sơn của Hồng Cung Bố Đa Lạp Cung, ở đây nói là 'mái hiết sơn'. Về bánh tsampa lớn, nó hàm chứa 'Diệu Cao', 'Diệu ở chỗ chất bằng vàng, cao ở chỗ đội trời đạp đất', rút chữ 'vàng' và chữ 'đỉnh' ra, nói chính là 'kim đỉnh'. Về hoa bơ hươu cát tường, nói chính là 'mái bằng' hoặc 'chóp mái'. Cả bốn món thánh vật đều làm nổi bật chữ 'đỉnh', mà 'cẩm nang thọ ký' Đại Chiêu Tự bảo chúng ta rằng, 'sự trợ giúp của bốn vị thượng sư dẫn dắt thăng lên'. Đã là 'thăng lên', thế thì nên là leo lên đỉnh, mà ở đây, tại Bố Đa Lạp Cung, đỉnh chính là kim đỉnh."
Mai Tát nói: "'Cẩm nang thọ ký' nói là 'sự trợ giúp của bốn vị thượng sư', không nói 'sự trợ giúp của bốn món thánh vật'."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Đây cũng chính là điều tôi đang nghi ngờ."
Đột nhiên có một giọng nói từ phía sau họ truyền tới: "Các người không cần nghi ngờ nữa, bốn món thánh vật này chính là minh chứng cho pháp lực của bốn vị thượng sư."
Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát giật mình quay ngoắt lại, nhìn thấy một vị tăng nhân khí chất hiên ngang đang mỉm cười nhìn họ.
"Tôi là lạt-ma Cổ Như Khâu Trạch, nghe nói có người xông vào Tây Nhật Quang điện, nên qua xem thử, những câu chuyện cậu vừa kể tôi đều nghe thấy cả rồi." Đoạn ông lại nói: "Bốn vị mật tông thượng sư tiên tri bốn nơi chôn giấu thuốc nổ, nào ngờ thứ tìm được lại là bốn món thánh vật, cảm ơn cậu đã kể cho tôi nghe nguồn gốc của chúng, tôi tin rằng trong Bố Đa Lạp Cung chưa có ai biết rõ ràng chi tiết đến thế."
Trong lòng Hoàng tử Hương Ba thắt lại, lên tiếng hỏi: "Nơi chôn giấu thuốc nổ chôn bốn món thánh vật ư? Thế còn thuốc nổ thì sao, đã tìm thấy chưa? Nó ở Tây Sình Thố cơ mà."
Cổ Như Khâu Trạch thẳng thắn nói: "Thế à? Lời tiên tri của bốn vị thượng sư đều thất bại rồi, cậu đừng nói những lời vô căn cứ nữa, chúng ta đã đủ rối tung lên rồi đây."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Bốn vị thượng sư không hề thất bại đâu, sự đưa đẩy của quỷ thần khiến họ trở thành trợ lý quật tạng của chúng ta, giúp chúng ta tìm ra cẩm nang mới nhất để khai quật 'Cửa bảy vị độ mẫu'. Phiền ngài nói với họ một tiếng, cảm ơn nhé."
Mai Tát hỏi: "Bốn vị thượng sư nào cơ?"
Hoàng tử Hương Ba quả quyết nói: "Không quan trọng, quan trọng là làm thế nào mà bốn vị thượng sư lại biết nên bày bốn món thánh vật ở đây?"
Cổ Như Khâu Trạch nói: "Nơi này là phòng làm việc của Đại hoặc Phật Ngoại Kiệt Cống Ca giữ ghế đỉnh núi Bố Đa Lạp Cung."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Ông ta làm việc ở đây à? Nhất định là ông ta hy vọng tôn Trường Thọ Phật của Ban Chân thần kỳ vô song này có thể mang lại may mắn cho mình."
Cổ Như Khâu Trạch nói: "Phải đấy, sao cậu lại biết? Ông ta đã nằm một giấc mơ, trong mơ không hành mẫu bảo ông ta rằng, ông ta nên đợi sự giáng lâm của một luồng ánh sáng Phật mới trước mặt Trường Thọ Phật của Ban Chân. Tôi nghĩ ông ta đợi được bốn món thánh vật chính là đợi được một luồng ánh sáng Phật mới rồi. Tiếc là ông ta vẫn chưa biết, ông ta đang sứt đầu mẻ trán vì việc tra tìm thuốc nổ để nổ tung Bố Đa Lạp Cung đấy."
Mai Tát hỏi: "Luồng ánh sáng Phật mới?"
Cổ Như Khâu Trạch gật đầu. Có một suy nghĩ ông chưa nói ra miệng: Luồng ánh sáng Phật mới tương đương với bốn món thánh vật, bốn món thánh vật tương đương với Thương Ương Gia Thố, Thương Ương Gia Thố tương đương với rời kinh điển mà không phản bội đạo giáo, luồng ánh sáng Phật tương lai nhất định là cuộc sống dân gian thoát ly khỏi kinh sách, thoát ly khỏi chùa chiền, thoát ly khỏi tập đoàn tôn giáo, nó vừa đời thường lại vừa lý tưởng.
Hoàng tử Hương Ba nói: "'Sự trợ giúp của bốn vị thượng sư dẫn dắt thăng lên', mau đi thôi, lên kim đỉnh."
5
Thời hạn ba tiếng đã qua, Phó đội trưởng Bích Tú đứng đợi bên ngoài cửa Tây Nhật Quang điện ít nhất cũng phải hơn mười phút, thấy Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát mãi không chịu ra, lúc này mới lấy điện thoại ra. Dù sao mình cũng là cảnh sát, mình phải chịu trách nhiệm cho Bố Đa Lạp Cung, mình không thể đợi thêm được nữa. Nghĩ đoạn anh ta bấm gọi cục trưởng.
Cục trưởng hỏi: "Biết có chôn thuốc nổ từ bao giờ?"
Bích Tú đáp: "Ba tiếng trước, nhưng lúc đó chúng tôi cảm thấy rất có thể là tin đồn do kẻ địch của đạo giáo tung ra, muốn loại trừ càng sớm càng tốt, bây giờ xem ra... là thật."
Cục trưởng nổi giận: "Cậu gan to thật đấy, đến bây giờ mới báo cáo. Hai tên tội phạm trốn lệnh truy nã đâu rồi?"
Bích Tú nói: "Đang dưới sự giám sát chặt chẽ của chúng tôi, chúng tôi phát hiện chúng có đồng bọn quan trọng, muốn đợi chúng lộ diện rồi tóm gọn một mẻ."
Cục trưởng nói: "Đừng đợi nữa, nghe tôi, lập tức tiến hành bắt giữ. Sau đó sơ tán tăng nhân và du khách, tôi dẫn người tới ngay đây."
Bích Tú cúp điện thoại, ngẩn người một hồi lâu, bước tới nói với một thuộc cấp vẫn đi theo mình từ nãy đến giờ: "Truyền lệnh của tôi, từ bây giờ, đội trinh sát trọng án chia làm ba tổ, toàn lực điều tra thuốc nổ, tuyến đường điều tra không thể giống với tuyến đường quật tạng của hai tên tội phạm trốn lệnh nữa. Bây giờ chúng ta phải dốc toàn lực bảo vệ Bố Đa Lạp Cung, phấn đấu tìm cho ra thuốc nổ trước khi cục trưởng dẫn đại quân đến, nếu không chúng ta sẽ tỏ ra vô dụng quá đấy."
Thuộc cấp hỏi: "Còn hai tên tội phạm trốn lệnh thì sao ạ?"
Bích Tú nói: "Để tôi xử lý."
Sát thủ đầu lâu nhìn Bích Tú cách đó không xa, bước đến chỗ mấy vị lạt-ma túc trực đang đứng chặn không cho vào, cúi đầu chào, cực kỳ cung kính hỏi: "Tây Nhật Quang điện còn có cửa nào khác không?"
Lạt-ma túc trực đáp: "Không có, có đường cửa sổ, đường cửa sổ là thông lên kim đỉnh."
Sát thủ đầu lâu ngẩn người một thoáng, quay người bỏ đi.
Bích Tú vội vàng bám theo, theo chưa được bao lâu thì mất dấu, dòng người đông đúc náo nhiệt quá, giống như mất hút một con sóng giữa biển khơi.
6
Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát chạy về phía bên ngoài Tây Nhật Quang Điện, sắp đến cửa lại đột ngột dừng bước. Sát thủ Bộ Xương và Bích Tú đang đứng ngoài cửa nhìn vào trong, nếu không có mấy vị lạt ma trực gác xếp thành một hàng chặn ở cửa, bọn họ đã sớm xông vào rồi. Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát vô cùng sốt ruột, lúc này chạy ra ngoài chẳng khác nào tự đâm đầu vào nòng súng, nhưng kỳ hạn ba tiếng đã qua, đại quân cảnh sát sẽ xuất hiện bất cứ lúc nào, nếu còn do dự ở đây, bọn họ sẽ tiến thoái lưỡng nan.
Chỉ đành xông lên phía trước, hoặc là bị đánh chết, hoặc là xông lên Kim Đỉnh. Hạt kéo Mai Tát vừa định xông lên, liền nghe lạt ma Cổ Như Khâu Trạch nói: "Theo tôi đi."
Bọn họ quay người trở lại Đại Phúc Diệu Tuyền Cung, dưới sự dẫn dắt của lạt ma Cổ Như Khâu Trạch đi về phía nam xuyên qua Phúc Túc Dục Tụ Cung, đi đến trước cửa sổ chật hẹp của Hỉ Túc Tuyệt Đỉnh Cung.
Cổ Như Khâu Trạch nói: "Đi từ đây ra, rẽ trái rồi lại rẽ phải, là có thể nhìn thấy cầu thang dẫn lên Kim Đỉnh Hồng Cung. Nếu có người canh giữ, các cậu cứ nói là bạn của tôi."
"Tại sao ngài lại giúp chúng tôi?" Hoàng tử Hương Ba đẩy cửa sổ ra, cửa sổ rất cao, anh đỡ Mai Tát lên trước.
Cổ Như Khâu Trạch nhỏ giọng nói: "Vì 'Cửa Thất Độ Mẫu'."
Hoàng tử Hương Ba tự leo lên bệ cửa sổ, lại hỏi: "Có thể nói cụ thể hơn một chút không?"
Cổ Như Khâu Trạch nói: "Tôi vẫn luôn tu luyện 'Cửa Thất Độ Mẫu', cửa thứ sáu của 'Cửa Thất Độ Mẫu' chính là Cửa Phục Tàng. Tôi vẫn luôn ảo tưởng khai quật kho tàng, cũng đã chuẩn bị sẵn sàng. Không ngờ phúc duyên lại thuộc về các cậu, các cậu đã bắt đầu rồi. Biết không, hoặc là thiên đường, hoặc là địa ngục, các cậu chỉ có mười phần trăm hy vọng, chín mươi phần trăm là cái chết."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Ngài đã phóng đại hy vọng lên rồi, thực ra hy vọng chỉ có một phần vạn. Con người sống là vì một phần vạn hy vọng đó, chứ không phải vì chín nghìn chín trăm chín mươi chín phần vạn cái chết." Nói xong, anh nhảy xuống cửa sổ rời đi.
Lạt ma Cổ Như Khâu Trạch suy ngẫm lời nói của hoàng tử Hương Ba, trên mặt xuất hiện hai vệt đỏ hổ thẹn, lắc đầu, lẩm bẩm tự nói: "Ta không bằng người rồi, kém xa lắm, lạt ma không bằng người phàm tục, Phật không bằng chúng sinh, 'Cửa Thất Độ Mẫu' bị chặn chết của ta, có lẽ sắp xuất hiện ánh sáng rồi."
Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát đi đến cầu thang dẫn lên Kim Đỉnh Hồng Cung, ngước lên nhìn, phát hiện cửa sắt cao nửa người đã bị khóa, bên trên treo một tấm biển "Hôm nay Kim Đỉnh không mở cửa", một tiểu lạt ma đang canh gác ở đó.
Hoàng tử Hương Ba bước đến trước mặt tiểu lạt ma nói: "Chúng tôi là bạn của lạt ma Cổ Như Khâu Trạch, ngài ấy bảo chúng tôi lên xem thử. Cậu cũng thấy rồi đấy, chúng tôi trèo từ cửa sổ Hỉ Túc Tuyệt Đỉnh Cung của Tây Nhật Quang Điện ra, rồi dọc theo mái nhà đi đến đây. Đây là lối đi nội bộ của các cậu mà."
Tiểu lạt ma nhìn bọn họ, muốn cung kính lại không biết cung kính thế nào, mặt đỏ bừng, run rẩy mở cửa cho bọn họ. Ở Cung Potala, lạt ma Cổ Như Khâu Trạch đối với một tiểu lạt ma làm việc thô như cậu ta là một nhân vật cao không với tới, bạn của nhân vật cao không với tới tự nhiên cũng là người cao không với tới. Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát suôn sẻ vượt qua cửa sắt, thẳng tiến Kim Đỉnh.
Hội trường chính của Đại Tụng Kinh Pháp Hội nằm ở Đại điện Tư Tây Bình Thố, vừa vặn nằm ngay dưới Kim Đỉnh, để giữ sự trang nghiêm và tĩnh mịch, trong thời gian pháp hội Kim Đỉnh không mở cửa. Trước khi hoàng tử Hương Ba và Mai Tát đến, nơi này vắng bóng người.
Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát vừa lên Kim Đỉnh, liền có cảm giác không chịu nổi ánh sáng chói lọi, mặt trời đập nát sự rực rỡ to lớn rồi bôi lên chóp cung, chóp cung phát ra ánh nắng rực rỡ nhất, giống như triều biển vàng đang ào ạt cuộn trào. Bọn họ lấy tay che mắt, bước tới trước vài bước, xoay người nhìn tất cả các Kim Đỉnh, tất cả sự huy hoàng trong quần thể Kim Đỉnh, kinh ngạc đến mức câm nín hồi lâu.
Hoàng tử Hương Ba nói: "Tôi đã đến Kim Đỉnh rất nhiều lần, mỗi lần đến đều là một tầng người, sự ồn ào đã che khuất đi vẻ huy hoàng. Hôm nay hình như là lần đầu tiên đến."
Mai Tát nói: "Trong giấc mơ của tôi, thiên đường đáng lẽ phải như thế này."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Kim Đỉnh của Cung Potala tổng cộng có bảy tòa, đều là ngói đồng dát vàng, kiểu mái chồng diềm hiết sơn. Trang trí trên chóp sống mái và tường hoa bên ngoài có bảo tháp, bảo tràng, bảo bình, điểu kim sí mặt người, kim cương linh, đầu ưng, mặt sư tử, cá cát tường, hoa sen, pháp luân. Gần như tượng trưng cho tất cả lý nghĩa cơ bản nhất, quan trọng nhất của Phật giáo."
Mai Tát nói: "Đều nói Cung Potala có Hồng Cung và Bạch Cung, là cung điện của màu đỏ và trắng, lên đến Kim Đỉnh tôi mới hiểu ra, hóa ra nó là 'Tam sắc cung tự' đỏ, trắng, vàng."
Hoàng tử Hương Ba nói: "'Tam sắc cung tự'? Ý em là 'Thụ Ký Cẩm Nang'? Rất chính xác, phản ứng của em còn nhanh hơn anh." Vừa nói vừa đọc nhẩm những câu trong "Thụ Ký Cẩm Nang" của Chùa Jokhang, "'Tam sắc cung tự, tổ ấm mùa đông của người chăn cừu', câu này bây giờ thì dễ hiểu rồi, 'Tam sắc cung tự' rõ ràng chỉ Cung Potala, 'Người chăn cừu' chỉ dòng thế hệ Đạt Lai. Đã thế hệ Đạt Lai Lạt Ma thứ nhất Căn Đôn Châu Ba tự nhận là 'người chăn cừu', thì tất cả các đời Đạt Lai Lạt Ma đều nên là 'người chăn cừu'. Bởi vì ông ấy là kiếp trước của họ, kiếp sau của ông ấy — các đời Đạt Lai Lạt Ma đều là sự tái sinh của ông ấy, là các hình thái sinh mệnh khác nhau của một vị thần."
Mai Tát nói: "Vậy còn 'Tổ ấm mùa đông' thì sao?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Kể từ giữa thế kỷ XVIII, đại thần trú tạng tuân theo ý chỉ của triều đình nhà Thanh, giúp Đạt Lai Lạt Ma thứ bảy Kế Tề Gia Thố xây dựng công trình đầu tiên của Norbulingka tại Lạc Tát Lạp Ngõa Phan Sinh Thái tức rừng cây bụi ở Lhasa, Norbulingka đã trở thành nơi sinh hoạt và làm việc mùa hè của các đời Đạt Lai Lạt Ma. Hàng năm vào ngày mười tám tháng ba âm lịch Tạng lịch, Đạt Lai Lạt Ma chuyển từ Cung Potala đến Norbulingka, đến đầu tháng mười lại quay về Cung Potala. Cho nên Norbulingka được gọi là 'Cung điện mùa hè', Cung Potala được gọi là 'Cung điện mùa đông'. Đã Đạt Lai Lạt Ma là 'người chăn cừu', thì 'Cung điện mùa đông' đương nhiên phải là 'tổ ấm mùa đông'."
Mai Tát nói: "Kim Đỉnh của 'tổ ấm mùa đông' được xây dựng rực rỡ như thế, chắc chắn là để mô tả tín ngưỡng, đây là đỉnh cao của tín ngưỡng. Chọn 'Cửa Thất Độ Mẫu' làm Phục Tàng ở đây, chắc chắn là phù hợp với logic. Trong học thuyết Phục Tàng vốn có Điện tàng và Đỉnh tàng, Điện tàng chỉ việc giấu trong mật thất, Đỉnh tàng chỉ việc giơ lên nơi cao. Người Tạng sùng bái trời, Phục Tàng càng gần trời càng thần thánh, Không Hành Mẫu và Không Hành Nam hộ tạng chăm sóc cũng thuận tiện hơn một chút."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Nhưng chúng ta không thể cậy ngói vàng ra tìm Phục Tàng, chúng ta vẫn phải cảm ngộ khải thị, dùng khải thị để đối chiếu với 'Thụ Ký Cẩm Nang'."
Mai Tát nói: "'Thụ Ký Cẩm Nang' nói rằng, 'Tổ ấm mùa đông của người chăn cừu, nó là nơi Tam Bảo bằng vàng'. 'Tam Bảo' chẳng lẽ chỉ Phật, Pháp, Tăng Tam Bảo?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Không phải chứ? Phật Pháp Tăng Tam Bảo không thể đơn thuần dùng màu vàng để hình dung, quy luật màu sắc thông thường là: Phật là vàng, tượng trưng cho vĩ đại quang minh; Pháp là trắng, tượng trưng cho bao la vô biên; Tăng là đỏ lam đen, tượng trưng cho chúng, rộng, phồn, nhiều."
Mai Tát nói: "Vậy thì nên là Tam Bảo trên Kim Đỉnh."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Anh cũng nghĩ vậy, có phải là bảo tháp, bảo tràng, bảo bình có số lượng nhiều nhất, thể tích lớn nhất trên Kim Đỉnh không."
Mai Tát nói: "Nhưng chúng ta không di chuyển nổi, cũng không có thời gian để di chuyển."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Chẳng lẽ người Phục Tàng ngay cả điều này cũng không nghĩ tới sao?"
Mai Tát nói: "Nên nghĩ tới chứ, 'Cửa Thất Độ Mẫu' là Phục Tàng vĩ đại, tất cả các thiết kế đều hoàn mỹ nhất, có lẽ mục tiêu nằm ở một nơi mà chúng ta đã nhìn thấy nhưng lại không ngờ tới."
Bọn họ đến gần một ngọn bảo tháp, quan sát kỹ lưỡng.
Hoàng tử Hương Ba nói: "Vẫn nên tìm kiếm trong ý nghĩa."
Mai Tát nói: "Ý nghĩa gì, nói đi."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Ý nghĩa của bảo tháp rất nhiều, nhưng quan trọng nhất là Phật diệt mà tháp vẫn còn, tượng trưng cho 'Hữu' của thắng nghĩa. Bảo tràng vốn là cờ quân đội của Ấn Độ cổ đại, có ý nghĩa tôn thắng. Mà đối với Phật giáo mà nói, tôn thắng chính là giải thoát phiền não, chính là giác ngộ lòng từ bi và thoát khỏi định kiến, tượng trưng cho sự 'Tịch' của niết bàn, sự 'Tịch' của tính không. Bảo bình còn gọi là tịnh bình hoặc bản ba, là một loại pháp khí quán đỉnh, khi cam lộ cát tường thanh tịnh trào ra, nó tượng trưng cho sự 'viên mãn' của diệu thiện và phúc trí. Bây giờ, em hãy nối ba ý nghĩa tượng trưng của 'Tam Bảo bằng vàng' lại với nhau, xem nó là gì?"
Mai Tát nói: "'Hữu', 'Tịch', 'Viên mãn'?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Đúng vậy, Hữu Tịch Viên Mãn, dịch sang tiếng Tạng chính là Tư Tây Bình Thố, Tư Tây Bình Thố còn gọi là Tây Đại Điện hoặc Đại Điện Tập Hội, ngay ở dưới chúng ta."
Mai Tát nói: "Lại xuống dưới nữa á? Không thể nào chứ, chúng ta đã leo lên Kim Đỉnh rồi, đây là độ cao của tín ngưỡng, mà quy luật của Phục Tàng là bước lên từng bậc theo chiếc thang tín ngưỡng."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Dù sao Kim Đỉnh trước hết là độ cao của kiến trúc, có lẽ trong mắt người Phục Tàng, đã là độ cao của tín ngưỡng thì không liên quan gì đến độ cao của Kim Đỉnh. Độ cao chỉ là một chiếc thước đo trong lòng, em đo ở đâu, độ cao ở đó."
Mai Tát nói: "Nếu là thế này, chúng ta leo lên Kim Đỉnh để làm gì? Hoàn toàn có thể lĩnh ngộ 'Hữu Tịch Viên Mãn' từ nghĩa đen của 'Tam Bảo bằng vàng' mà."
Hoàng tử Hương Ba nói: "'Thụ Ký Cẩm Nang' bảo chúng ta đến đây, nhất định còn có lý do đầy đủ nhất không thể không đến, chia ra tìm, nhanh lên."
Bọn họ một nam một bắc, di chuyển nhanh chóng trên mặt phẳng khu vực Kim Đỉnh, tìm kiếm một lý do kiên cố hơn để họ kiên quyết tiến về "Hữu Tịch Viên Mãn" — Đại điện Tư Tây Bình Thố. Bọn họ biết trước khi tìm thấy lý do này, họ không thể rời khỏi đây, một khi rời đi, rất khó quay lại. Quy luật khai quật kho tàng là, chỉ có thể tiến về phía trước theo con đường Phục Tàng, không thể quay đầu lặp lại, cơ duyên và lý do không thể chờ đợi sự ghé thăm lần thứ hai của cùng một người khai quật kho tàng.
Tuy nhiên, thứ mà họ đi tới đi lui tìm thấy, không phải là lý do đầy đủ nhất, mà là một khoảnh khắc liên quan đến sinh mệnh.
7
Lạt ma A Nhược và Ô Kiên Lâm Ba bước ra khỏi Cung Potala với bước chân kiên định hơn từng bước, cả hai đều tin rằng chỉ thị trong Pháp Vương Động đến từ ý nguyện của Liên Hoa Sinh không bao giờ phai mờ từ sâu thẳm thời gian bao la, cũng đến từ nhân duyên của họ. Nhân duyên khai quật kho tàng thuộc về họ, chứ không thuộc về hoàng tử Hương Ba và Mai Tát.
Bọn họ đi về phía xe lạt ma, đổi mấy vị lạt ma của Ung Hòa Cung đang canh giữ bên trong ra, lái xe chạy về phía Đông. Vừa mới lao đi, điện thoại của lạt ma A Nhược liền reo lên, vị Phật Bất Động vẫn luôn đồng hành cùng họ đã đổi âm thanh tin nhắn thành bài hát "Such a Night" của Elvis Presley.
Phật Bất Động minh thị: Quê nhà là tâm nguyện duy nhất.
Lạt ma A Nhược nói: "Minh thị của Phật Bất Động đến muộn rồi, chúng ta đang trên đường đến 'quê nhà' đây."
Ở Tây Tạng cổ đại, mỗi khi lạt ma xuất hiện sự mê mảng, sẽ hiện thế một Phục Tàng. Phục Tàng kiểu này phần lớn là "ý Phục Tàng", chính là do đại sư Liên Hoa Sinh giấu trong ý thức của người tu hành. Một khi thế giới bên ngoài cần đến, sẽ không kìm chế được mà tuôn trào ra — bằng lời nói, bằng tiếng hát, hoặc bằng chữ viết. "Quê nhà" mà lạt ma A Nhược và Ô Kiên Lâm Ba sắp đến bây giờ, chính là một nơi từng có nhiều tăng nhân khổ hạnh tuyên thuyết "ý Phục Tàng". Gọi là "quê nhà" là vì người tu hành có thói quen gọi nơi mình đạt được sự chứng ngộ cao nhất là nơi phúc bảo gột rửa linh hồn, sinh ra tính pháp — quê nhà. Cũng vì Phục Tàng được tuyên thuyết ở đó, phần lớn là Phật pháp quy nguyên phản phác đến từ quê nhà Ấn Độ.
Lạt ma A Nhược và Ô Kiên Lâm Ba sùng bái nơi này, bởi vì trong số những người tu hành từng tuyên thuyết "ý Phục Tàng", có tổ tiên của tông sư chung của họ là A Lô Tang. Tổ tiên của A Lô Tang là người khai quật "ý Phục Tàng", còn họ là người khai quật "địa Phục Tàng". Nói chung, "địa Phục Tàng" quan trọng hơn "ý Phục Tàng", việc khai quật kho tàng của họ do đó cũng có ý nghĩa sóng sau đuổi sóng, đời sau hơn đời trước trong sự truyền thừa Phật pháp.
Một tiếng rưỡi sau, họ đến cửa thung lũng Trác Mã Lạp thuộc núi Lâm Châu. Con đường đã hết, họ xuống xe, Ô Kiên Lâm Ba tiện tay bỏ tua vít và kìm sửa xe vào chiếc túi vải đeo chéo.
Bọn họ đi vào trong thung lũng mười phút, nhìn thấy một vách đá xanh tươi sừng sững chọc trời, thực vật rậm rạp xào xạc như đang chào đón, "quê nhà" đã đến. Một thánh địa mà lạt ma A Nhược và Ô Kiên Lâm Ba đều từng chiêm bái, vô cùng thân thiết đã hiện ra trước mặt.
Hai người dừng lại, đứng ngắm nhìn vẻ trang nghiêm trong chốc lát, rồi bước qua, dọc theo bậc đá cổ kính và dốc đứng, đi đến nền tảng ở cửa động. Hai bên nền tảng là thung lũng sâu, một bên là vách đá, một luồng khí lạnh ẩm ướt ập vào mặt.
Sự im lặng. Vách đá trước mặt buộc họ phải im lặng.
Lạt ma A Nhược nghĩ: Hơn một nghìn năm trước, khi đại sư Liên Hoa Sinh đem Phục Tàng cuối cùng cũng là quan trọng nhất "Cửa Thất Độ Mẫu", giấu sâu trong nội tâm của Đạt Lai Lạt Ma đời thứ sáu Thương Ương Gia Thố, mà Thương Ương Gia Thố với tư cách là sự chuyển thế của đại sư Liên Hoa Sinh và người gánh vác Phục Tàng, lại một lần nữa tiến hành Phục Tàng dưới hình thức di ngôn, thì làm sao có thể dự đoán được thời gian Phục Tàng hiện thế, các lạt ma khai quật kho tàng chứ? Lại là ai vào lúc nào theo ý chỉ của Liên sư hoặc Thương Ương Gia Thố khắc chúng lên vách đá bị cỏ xanh che khuất vậy?
Những chữ khắc trên vách đá thật sự rất nổi bật:
Vào giờ mặt trời lặn A Nhược·Quýnh Nãi khai quật Phục Tàng tại đây.
Lạt ma A Nhược nhìn sắc trời, đúng là giờ mặt trời lặn. Ông "phịch" một tiếng quỳ sụp xuống, vùi trán lâu vào đám cỏ ở cửa động, cảm thấy đại sư Liên Hoa Sinh và Thương Ương Gia Thố đang từ trên vách đá hiền từ nhìn xuống mình, cảm thấy sự mong đợi của hai vị đại sư đang kết nối kỳ diệu với khao khát trong lòng mình, một luồng lực lượng bùng phát ngay khoảnh khắc kết nối đó.
Ông nén lại sự kích động, nhắm mắt lại. Ông biết thứ mình cần nhất lúc này là sự bình tĩnh. Ông nhẩm đọc kinh chú, dùng "Lời cầu nguyện băng tuyết" của nữ thần Tư Đông để lấp đầy sự bình tĩnh không thể phá vỡ vào khắp cơ thể. Sau đó từ từ đứng dậy, từ từ ngẩng đầu, vẫn nhắm mắt, mở miệng, để cơn gió mát thổi qua trái tim mình: Hóa ra là thế này, tất cả sự minh tưởng, tất cả những lời báo mộng, tất cả sự mê mảng, đều là để đưa ông đến ngày hôm nay, đến nơi này. Nơi này là thung lũng Trác Mã Lạp thuộc dãy núi Lâm Châu, tức thung lũng Độ Mẫu, là nơi vinh quang to lớn giáng xuống đỉnh đầu, chiếc vương miện của "Đại sư khai quật Phục Tàng" đếm trên đầu ngón tay từ xưa đến nay đã nằm trong tầm với, à, trong tầm với.
Đương nhiên đối với ông mà nói, quan trọng không chỉ là làm một "Đại sư khai quật Phục Tàng", mà là nhanh chóng giải mã và tìm hiểu "Cửa Thất Độ Mẫu" thù thắng và vĩ đại, sau đó đắc pháp, tu pháp, tái tạo Phật pháp. Thời đại mê mảng lớn, những năm tháng thiếu thốn linh hồn, không có chủ tể, Phục Tàng chính là mặt trời sau đêm tối, khai quật Phục Tàng ví như đón mặt trời từ từ mọc lên.
Lạt ma A Nhược mở mắt ra, nhìn chằm chằm vào tên của mình được khắc trên vách đá, nhẹ tay nhẹ chân đến gần, dường như đó là con chim trong giấc mộng thanh, chút âm thanh nhỏ cũng sẽ khiến nó giật mình bay đi. Ông nhìn thấy rêu xanh trên vách đá mọc thành một chữ "Vạn" lớn không đứt đoạn, nhìn thấy bên dưới chữ "Vạn" không đứt đoạn đang đung đưa bốn cây cây triệt khước rậm rạp, ở giữa những cái cây có một hang động, hình dạng cửa động giống y như nụ hoa liền cành. Không có gì nghi ngờ, Phục Tàng ở ngay trong hang động, mà việc ông phải làm là chui vào hang động, khai quật Phục Tàng.
Bây giờ, ông cách cửa động, cách "Cửa Thất Độ Mẫu" trong tưởng tượng chỉ còn hai bước rưỡi. Tiếng của Ô Kiên Lâm Ba lại khiến khoảng cách hai bước rưỡi này đột nhiên trở nên vô cùng xa xôi:
"Lạt ma A Nhược, anh bây giờ vẫn chưa thể vào trong."
Ông quay đầu nhìn đối phương với vẻ kinh ngạc.
Ô Kiên Lâm Ba nói: "Tôi ở đây, anh đã phớt lờ sự tồn tại của tôi."
Lạt ma A Nhược thành thật nói: "Xin lỗi, tôi quá khích động."
Ô Kiên Lâm Ba nói: "Anh có biết tại sao tôi lại đi cùng anh suốt dọc đường không?"
Lạt ma A Nhược sững sờ: "Chẳng lẽ cậu không phải để giúp tôi sao?"
Ô Kiên Lâm Ba dùng giọng điệu lạnh lùng chưa từng có nói: "Có lẽ chỉ vì muốn vào phút cuối nhắc nhở anh đừng làm càn. Lạt ma A Nhược, tại sao anh lại khai quật Phục Tàng?"
"Điều này có gì mơ hồ chứ? Để giống như Thương Ương Gia Thố — người đầu tiên trên thế gian thành tựu 'Cửa Thất Độ Mẫu', thực hiện lý tưởng cao nhất của một tăng nhân tự nhào nặn bản thân, để Phục Tàng cuối cùng mang lại sự viên mãn và vinh quang cuối cùng cho thánh giáo, càng để âm mưu sỉ nhục Phật giáo của liên minh tín ngưỡng mới và lạt ma Ogyen phá sản."
Ô Kiên Lâm Ba lắc đầu: "Lỡ như di ngôn của Thương Ương Gia Thố không phải nội dung anh hy vọng, mà là nội dung lạt ma Ogyen hy vọng thì sao?"
Lạt ma A Nhược nói: "Người Phục Tàng có trách nhiệm của người Phục Tàng, người khai quật có sứ mệnh của người khai quật. Nội dung và hậu quả của Phục Tàng không thể thay đổi sứ mệnh của người khai quật."
Ô Kiên Lâm Ba muốn nói lại thôi. Sự lo lắng và sợ hãi chôn sâu dưới đáy lòng ấy lại trỗi dậy dày vò ông: Nếu di ngôn của Thương Ương Gia Thố thực sự là cánh cửa hủy giáo, pháp phản thệ, thực sự chứa đầy sự phẫn nộ đối với việc mình chịu nạn và người tình bị hại, chứa đầy sự thất vọng và nguyền rủa đối với chính giáo tranh giành quyền lực và đẫm máu, thực sự khiến thánh giáo phải đối mặt với tình cảnh sỉ nhục bùng nổ và tự diệt vong mà không cần đánh, trong khoảnh khắc ông và lạt ma A Nhược sẽ trở thành tội nhân và ma quỷ trợ Trụ vi ngược mà không còn mặt mũi để sống sót. Ông nghĩ, biết mình nên làm gì rồi, bèn quay đầu đi nói: "Theo thông lệ, trước đại khai quật, bắt buộc phải cử hành nghi lễ trừ tai, nếu không Phục Tàng được khai quật sẽ không thể bảo lưu lâu dài; bắt buộc phải có từ mười vị lạt ma trở lên làm chứng, nếu không việc khai quật sẽ không được tính, anh cũng sẽ không có danh hiệu 'Đại sư khai quật Phục Tàng'. Mọi người sẽ nói, lạt ma A Nhược khai quật được Phục Tàng ở đâu chứ, chẳng qua là mua kinh văn giả từ phố Bát Quạ ở Lhasa mà thôi."
Lạt ma A Nhược kinh ngạc nói: "Việc khai quật ở ngay lúc này, tôi đi đâu tìm hơn mười vị lạt ma làm chứng và phó thác họ cử hành nghi lễ trừ tai chứ?"
Ô Kiên Lâm Ba nói: "Anh quên rồi à, từ đây đi về phía tây hai km chính là động Thiên Tu, từng có một nghìn vị 'Nhật Triều Ba' trốn đời tu luyện ẩn dật ở đó. Bây giờ không có nhiều như vậy, nhưng tìm mười vị lạt ma tu hành vẫn được, chỉ xem anh có thuyết phục được họ đến đây làm chứng cho việc khai quật vĩ đại của anh không."
Lạt ma A Nhược ngẩng đầu nhìn về phía xa, phát hiện thung lũng Trác Mã Lạp vừa vặn là hướng Đông Tây, hướng động Thiên Tu vành đai rừng rậm rạp, một mảnh xanh ngắt, liền nói: "Cậu canh giữ 'quê nhà' của chúng ta đợi tôi, tôi đi nhanh về nhanh."
Lạt ma A Nhược bước xuống nền tảng ở cửa động, nhanh chóng biến mất vào vành đai rừng trên sườn dốc râm của thung lũng.
Ô Kiên Lâm Ba nhìn vành đai rừng, hít một hơi thật sâu, ngũ thể đầu địa hướng về hang động: "Đại sư Liên Hoa Sinh ở trên, xin hãy ban cho con cơ duyên và tư cách, để con là người đầu tiên mở 'Cửa Thất Độ Mẫu'; xin hãy thấu suốt nội tâm con, vì sự thịnh suy của thánh giáo, con sẽ gánh vác sứ mệnh hộ pháp. Nếu di ngôn của Thương Ương Gia Thố thực sự là cánh cửa hủy giáo, con sẽ là người đầu tiên hủy diệt di ngôn này, dù sét đánh sấm sét dội xuống con cũng không chối từ. Nếu di ngôn của Thương Ương Gia Thố đích thực là báu vật cứu thế, con sẽ giao nó cho sư huynh cùng môn phái của con là lạt ma A Nhược. Chính anh ấy đã đưa con từ Ung Hòa Cung đến tận đây, anh ấy mới là đại sư khai quật Phục Tàng thực sự." Nói xong, trèo dậy, sờ chuỗi hạt trước ngực, nhanh chóng đi về phía hang động.
Dưới lớp rêu xanh của chữ "Vạn" không đứt đoạn, phía sau bốn cây cây triệt khước rậm rạp, cửa hang giống như nụ hoa liền cành dường như được thiết kế đo ni đóng giày cho Ô Kiên Lâm Ba, vừa vặn với chiều cao và chiều rộng của ông. Ô Kiên Lâm Ba không tốn chút sức lực nào chui vào cửa hang, chuỗi hạt gỗ đàn hương khảm ngọc dạ quang mắt mèo lập tức sáng bừng lên, ánh sáng ban đêm không tắt dẫn dắt ông đi sâu vào trong hang động lạnh thấu xương, cũng đi đến một chiếc tráp đá tự nhiên đặt Phục Tàng.
Rõ ràng chiếc tráp đá này đã bị cạy mở rất nhiều lần, nhưng điều này không có nghĩa là bên trong không có Phục Tàng. Bởi vì Phục Tàng do Không Hành hộ pháp kiểm soát và bảo vệ, vị ấy có thể lấy đi Phục Tàng khi Phục Tàng nguy hiểm, cũng có thể thực hiện Phục Tàng thông qua việc vận chuyển của cõi hư không vào thời điểm thích hợp nhất. Điều Ô Kiên Lâm Ba lo lắng nhất chính là, sự xuất hiện của ông sẽ bị Không Hành hộ pháp coi là nguy hiểm sắp đến mà lấy đi Phục Tàng, dù sao trên vách đá ở cửa động cũng khắc dòng chữ "A Nhược·Quýnh Nãi khai quật Phục Tàng tại đây".
Ông lấy tua vít và kìm từ trong túi vải ra, gõ trên rãnh lõm giống như con rắn uốn lượn, gõ một vòng, lại gõ một vòng. Khi chiếc tua vít bị kìm đánh cong, khe hở dần dần hé mở. Ông đưa kìm thẳng vào trong, dùng sức cạy một cái, tráp đá liền há miệng giống như con trai sông, nhả ra báu vật.
Đó là một tờ giấy kinh màu trắng không có chữ được bọc bằng da hươu. Ô Kiên Lâm Ba biết bên trên là "chữ thấu quang", bèn nhẹ nhàng cầm lên.
Ông lao vút ra khỏi hang động, đến trên nền tảng, đưa tờ giấy kinh trắng hướng về phía mặt trời, muốn xem "chữ thấu quang" hiện lên rốt cuộc là gì. Đột nhiên phát hiện lạt ma A Nhược đang đứng ở một bên nền tảng, vẫn đang thở dốc, có vẻ như vừa mới đi lên theo bậc đá. Ông sững sờ, lạt ma A Nhược cũng sững sờ.
Ô Kiên Lâm Ba hỏi: "Anh không đi đến động Thiên Tu của 'Nhật Triều Ba' sao?"
Lạt ma A Nhược nhìn tờ giấy kinh trắng trong tay đối phương, cười lạnh nói: "Tôi lo anh không cưỡng lại được sự cám dỗ của 'Đại sư khai quật Phục Tàng', quả nhiên anh đã đến trước một bước rồi."
Ô Kiên Lâm Ba đỏ bừng mặt biện bạch: "Tôi không muốn làm 'Đại sư khai quật Phục Tàng', tôi chỉ..."
Lạt ma A Nhược cười khổ lắc đầu, thứ ông lo lắng nhất hiện tại, không phải là danh tiếng "Đại sư khai quật Phục Tàng" rơi vào tay người khác, mà là sau khi Phục Tàng hiện thế, Ô Kiên Lâm Ba vì không có năng lực giải mã và tìm hiểu mà tiếp tục che giấu, điều đó chẳng khác nào đặt mặt trời mọc sau đám mây đen, tâm hồn mê mảng vẫn không thấy ánh nắng quang đãng. Ông gầm lên một tiếng: "Đưa nó cho tôi." rồi lao tới cướp.
Ô Kiên Lâm Ba tránh ông đi: "Tôi phải xem trước xem rốt cuộc nó là gì."
Lạt ma A Nhược làm sao nghe lời ông, lại nhào tới, lại cướp. Ô Kiên Lâm Ba né tránh, né tránh hết lần này đến lần khác, tránh không thoát liền đẩy một cái. Cú đẩy này dùng sức quá lớn, cũng là trong lúc cấp bách quên mất hai bên nền tảng là thung lũng sâu, lạt ma A Nhược bị đẩy văng ra ngoài mấy mét, đột nhiên biến mất, giống như thần nhân, giống như mộng nhân, giống như ảnh nhân biến mất vậy, chỉ có tiếng kêu vọng thẳng lên trời: "A —" là tiếng kêu dài dài, là tiếng kêu kinh hoàng kinh hoàng. Phải mất một lúc lâu Ô Kiên Lâm Ba mới phản ứng lại, lạt ma A Nhược rơi xuống dưới rồi, ông đã đẩy lạt ma A Nhược xuống đáy thung lũng sâu rồi. Ông quay người nhảy về phía bậc đá, run lẩy bẩy suýt thì lăn từ trên bậc đá xuống.
Một khắc sau, Ô Kiên Lâm Ba đã tìm thấy lạt ma A Nhược ở đáy thung.ạt ma A Nhược hơi thở mỏng manh như tơ, gặp lại Ô Kiên Lâm Ba, không có sự oán hận, không có sự hối hận, thậm chí không có lấy một chút oán trách, trên mặt hiện lên nụ cười an hòa, bình tĩnh nhìn ông: "Cậu đừng khóc, cậu nghe tôi nói."
Ô Kiên Lâm Ba nén nước mắt, nghe lạt ma A Nhược nói xong những lời cuối cùng.
Ông vứt tờ giấy kinh trắng trong tay sang một bên, bò lên người lạt ma A Nhược, khóc lớn đau đớn: "Đại sư Liên Hoa Sinh tổ tông của con, Thương Ương Gia Thố tổ tông của con, các người không thể nhìn việc khai quật 'Cửa Thất Độ Mẫu' lại ra kết quả thế này được, hãy cứu lạt ma A Nhược, hãy cứu Phục Tàng." Bộ dạng đó hoàn toàn không giống một vị lạt ma tu hành đã nhìn thấu sinh tử vinh yểu nữa.
Máu tươi nhuộm đỏ đám cỏ. Ngọn lửa rực rỡ mãnh liệt của mặt trời chiếu rọi tới, ôm ấp lấy tờ giấy kinh trắng trên bãi cỏ. "Chữ thấu quang" trên giấy kinh đã hiện lên. Ô Kiên Lâm Ba ngấn lệ nhìn vào, biết đó là ngôn ngữ Phục Tàng chuyên dụng thời cổ đại, liền vồ lấy trong tay, thì nghe thấy tiếng chuông báo tin nhắn điện thoại của lạt ma A Nhược vang lên, là bài hát "Sức mạnh của tình yêu" của Celine Dion. Ông vội vàng tìm điện thoại từ người lạt ma A Nhược ra xem:
Phật Bất Động minh thị: Trái tim của hoàng tử Hương Ba chính là trái tim của Phục Tàng