Lhasa đã đến. Vừa nhìn thấy bóng dáng mờ ảo của thành phố, Hoàng tử Hương Ba liền giảm tốc độ, như thể muốn tĩnh tâm lại, tĩnh tâm lại nỗi kích động khó tả sẽ bùng lên trong lòng mỗi người Tây Tạng khi bước vào Lhasa. Mẹ ơi, mẹ ơi. Trong chớp mắt, ngài nhớ đến quê hương Nhã Lạp Hương Ba thần sơn, nhớ đến mẹ, kể từ khi rời khỏi quê hương, lần nào ngài cũng xuất phát từ Lhasa để đi thăm mẹ. Mẹ ơi, con về rồi đây, mẹ ơi, con chuẩn bị đến thăm mẹ đây, mẹ ơi.
Hoàng tử Hương Ba cảm thấy lồng ngực chấn động một cái, là tim, hay là điện thoại di động? Sờ thử, hình như là tim, Lhasa khiến tim của tất cả những người có tín ngưỡng phải đập rộn lên, giống như mẹ khiến tất cả những đứa con phải vô cùng kích động. Lại sờ điện thoại, chợt nhớ ra, ngài vẫn luôn đợi tin nhắn hồi âm của Pưn Tso: Rốt cuộc là cảnh sát nào đã vứt bỏ cô ấy? Biết được ít nhất còn có thể nghĩ cách thông báo cho viên cảnh sát đó: "Có một cô gái đang định tự tử vì anh, anh mau đến cứu cô ấy đi." Nếu viên cảnh sát đó thờ ơ, vậy thì thực sự phải đòi lại công bằng cho cô ấy rồi.
Hoàng tử Hương Ba dừng xe, lấy điện thoại ra, gọi cho Pưn Tso. Tắt máy.
Ngài bước xuống xe, lo âu đi tới đi lui trước đầu xe: "Không lẽ đã..."
Mai Tát thò đầu ra khỏi cửa sổ nói: "Cầu nguyện đi, cầu nguyện sẽ giúp được anh."
Hoàng tử Hương Ba thành kính quỳ gối bên lề đường, hướng về phía cung Potala dập đầu cầu nguyện, xong xuôi lại bấm gọi, cuối cùng cũng thông.
Hoàng tử Hương Ba nói: "Anh lo muốn chết đây, xin em đừng tắt máy."
Pưn Tso nói: "Không muốn để người khác quấy rầy tôi, tôi trốn tránh thế giới này, mãi mới trốn được lên tầng thượng của tòa cao ốc ba mươi sáu tầng, tôi muốn sự yên tĩnh tuyệt đối."
"Em không yên tĩnh được đâu, anh lúc nào cũng muốn quấy rầy em, nghĩ kỹ chưa, nên nói cho anh biết rồi chứ."
"Nói cho anh biết cái gì?"
"Viên cảnh sát đó là ai?"
"Một kẻ tưởng rằng tôi là người sùng đạo Phật." Pưn Tso phát ra một tiếng cười khúc khích, hình như là cười, hoặc là khóc, "Khi anh ta biết cô gái Tây Tạng mà anh ta ôm vào lòng vốn không hề tin Phật, anh ta đã kinh ngạc như thể vô tình phát hiện ra tội phạm vậy. Anh ta nói đây là sự ngạc nhiên lớn nhất trong đời anh ta. Tôi bảo anh ta rằng, việc có tin Phật hay không là do di truyền, bố mẹ tôi không tin, tôi tự nhiên cũng không tin. Nhưng nói thật, cứ hễ nhắc đến tín ngưỡng là tôi lại thấy rất tự ti. Hồi nhỏ, bố mẹ đưa tôi đến Lhasa, tôi thấy rất nhiều người lớn đang nhiệt thành quên mình dập đầu bái Phật, trong khi bố mẹ tôi chỉ đứng lạnh lùng ở một bên, liền cảm thấy chúng tôi thật cô đơn, là những kẻ đáng thương bị sự sủng ái và cuộc sống vứt bỏ. Sau đó tôi kết giao với một vài người bạn Tây Tạng, họ đều tin Phật, khiến tôi cảm nhận được sự ưu việt của họ và sự thấp kém của chính mình. Tôi muốn được như họ phủ phục dưới chân Phật, nhưng dường như họ không cho phép. Họ hỏi tôi, cậu có bao giờ mơ thấy Phật không? Tôi bảo tôi chưa từng mơ thấy bao giờ. Họ bảo thế cậu bái Phật gì? Trong lòng cậu căn bản không có Phật. Họ còn hỏi tôi, nếu cho cậu lựa chọn giữa một căn biệt thự và Phật, cậu sẽ chọn cái gì? Tôi thốt lên ngay: Biệt thự. Họ cười, bảo tôi rằng, không có Phật cậu sẽ chỉ có một căn biệt thự, có Phật, cậu sẽ có cả thế giới. Tôi ngẫm nghĩ rồi nói, tôi vẫn muốn biệt thự, thế giới chẳng có ích gì với tôi cả, rộng lớn thế, tôi đi còn đi không hết. Họ bảo tôi đã hết thuốc chữa. Đúng vậy, tôi chính là kẻ hết thuốc chữa."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Trên thế giới có bốn loại người, một loại vừa có tín ngưỡng, lại vừa cao thượng, ví như nhiều tín đồ Tây Tạng; một loại có tín ngưỡng, nhưng việc tốt việc xấu gì cũng làm, ví như anh; một loại không có tín ngưỡng, nhưng cả đời lại là người tốt; loại cuối cùng là vừa không có tín ngưỡng, lại vừa không có đức hạnh. Em cảm thấy mình là loại nào?"
"Loại cuối cùng, vừa không có tín ngưỡng, lại vừa không có đức hạnh."
"Không, anh thấy em là loại thứ ba, không có tín ngưỡng, nhưng cả đời lại là một người tốt. Bố mẹ em chắc chắn cũng thuộc nhóm người này. Nhóm người này rất nhiều, bao gồm cả rất nhiều người Tây Tạng. Họ không bái Phật, không có nghĩa là họ không có lòng từ bi của Phật, khi quan niệm từ bi tức là người, người tức là từ bi biến thành một hành động vô thức rồi, thì bái Phật hay không bái Phật có gì quan trọng nữa chứ? Ở Tây Tạng có một người tên là Bích Tú Lạp Ba, ông ấy chính là một vị Phật không bái Phật, một vị Bồ Tát không niệm kinh, hơn ba trăm năm trước ông đã sáng lập ra cô nhi viện đầu tiên ở Tây Tạng, năng lượng từ bi còn lớn hơn cả phần lớn các vị sống Phật sinh ra. Để anh kể cho em nghe câu chuyện về Bích Tú Lạp Ba nhé?"
"Xin lỗi, tôi mệt rồi, mệt lắm mệt vừa, chẳng muốn nghe gì nữa cả."
"Vậy thì về nhà ngủ đi, ở trên đỉnh tòa cao ốc ba mươi sáu tầng, gió thổi nắng chiếu, em không thấy khó chịu à?"
"Bây giờ là mùa hè, ở đây gió êm sóng lặng, dễ chịu hơn ở dưới nhiều. Tôi cứ ngủ ở mép sảnh tòa nhà vậy, chỉ cần trở mình một cái, mơ một giấc mơ là sẽ rơi xuống ngay. Biết đâu lại là một giấc mơ đẹp, tôi chết trong giấc mơ đẹp, thật tốt biết bao."
"Nhưng anh muốn gặp em, còn muốn cùng em... tình tứ nữa."
"Tôi không muốn, tôi chỉ muốn kết thúc, kết thúc cuộc sống thôi. Tòa cao ốc này mới có ba mươi sáu tầng, sao không thể cao thêm chút nữa chứ?"
"Có tòa cao hơn nó đấy, em đợi đó, anh quay về sẽ tìm giúp em, anh đang ở Lhasa đây, rất nhanh sẽ quay về rồi. Em chẳng phải muốn chiếc chìa khóa vàng đầu vẹt của anh sao? Em đợi đấy, anh mang đến tặng cho em."
Pưn Tso thở dài nói: "Không kịp nữa rồi. Bây giờ, tất cả ngôn ngữ của tôi đều đã biến thành một từ: nhảy, nhảy, nhảy, tất cả vấn đề đều biến thành một câu nói: khi nào nhảy? Nhảy ngay bây giờ?"
Hoàng tử Hương Ba hét lên: "Nghe anh nói đây, Pưn Tso, em nghe anh nói đây, em vẫn chưa nói cho anh biết viên cảnh sát vứt bỏ em là ai."
"Tôi biết anh muốn để anh ta đến cứu tôi, dẹp cái lòng tốt của anh đi, anh ta cũng đi Tây Tạng giống như anh vậy."
"Hai người vẫn còn liên lạc? Em nói cho anh ta biết em muốn nhảy lầu tự tử à?"
"Không thể nào, trên thế giới này, chuyện thế này, tôi chỉ nói với một mình anh."
Trong lòng Hoàng tử Hương Ba thắt lại: "Viên cảnh sát đó, anh ta đi Tây Tạng làm gì?"
"Cảnh sát thì còn làm gì nữa, bắt tội phạm chứ gì."
"Anh ta là ai? Anh ta là ai?"
"Anh ta là hòn đá của núi Khâm Đế Tư."
"Alo alo, em nói cho rõ xem nào."
Pưn Tso cúp máy. Tâm trạng của Hoàng tử Hương Ba lập tức rơi xuống vực sâu, hồi lâu không leo lên nổi. Đến khi nhận thức được bóng tối vẫn hoàn bóng tối, ánh sáng vẫn cứ sáng ngời, ngài không khỏi sinh lòng e dè lo lắng: Pưn Tso đã nói rất rõ rồi, 'núi Khâm Đế Tư' chiếm cứ phía tây nam Tây Tạng chính là nơi ở của chư thiên thần, là vua của muôn núi, hoặc núi của các vị vua, gọi tắt là 'Vương sơn', 'hòn đá của núi Khâm Đế Tư' chính là hòn đá của Vương sơn. Chẳng lẽ bản thân mình phải chủ động đi tìm viên cảnh sát đó — hòn đá của Vương sơn sao? Ngài theo bản năng nhìn ra phía sau, quan sát xem chiếc xe đang chạy tới có phải là xe cảnh sát hay không.
2
Hoàng tử Hương Ba từ tốn lái chiếc Wrangler vào đường Bắc Kinh Đông, Lhasa, định tìm một khách sạn để nghỉ ngơi gần cung Potala, nhưng khi đi ngang qua ngã ba Thông Tái Khang phía sau Đại Chiêu Tự, ngài bỗng dừng xe lại. Lý do ngài tự nhủ là Thông Tái Khang từng là nơi Thương Ương Gia Thố hẹn hò với người tình, chỉ cần nhìn một cái là có thể thấy bóng dáng quá khứ của vị tình thánh này. Thế nhưng thứ ngài nhìn thấy lại là một cô gái đang chèo kéo khách.
Cô gái mặc trang phục tiên nữ Lạp Mục trên sân khấu Tạng kịch, tay trái giơ tấm biển "Khách sạn Hồng Hoa Tây Tạng", đi tới trước xe nói bằng tiếng Trung: "Tiên sinh có trọ không? Chúng tôi có rượu lúa mạch chính gốc, trà bơ, thịt khô, váng sữa, đều miễn phí cả." Hoàng tử Hương Ba hạ kính cửa sổ xe, nhìn cô gái, đôi mắt không kìm được mà hơi nhòa đi.
Ngài nói: "Trọ ở khách sạn Hồng Hoa Tây Tạng đi, cái tên nghe khá hay đấy chứ."
"Cơ mà người ta đẹp thì có?" Mai Tát nói, "Anh nhìn tay phải của cô ấy kìa."
Bàn tay phải của cô gái ôm trước ngực, nhìn từ mức độ cứng đờ, tình trạng ngón trỏ và ngón útnhếch lên cũng như màu sắc của đất, đó là một chiếc chân tay giả được chế tác thô ráp.
Mai Tát nói: "Một người tàn tật quá xinh đẹp? Khiến người ta cảm thấy cực kỳ khó chịu."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Aphrodite cũng tàn tật đấy, khiến cô khó chịu à?"
Mai Tát nói: "Đó là tác phẩm nghệ thuật, còn cô ta thì sao?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Cũng đúng, người đẹp nên được chăm sóc, đẹp mà lại tàn tật thì càng nên được chăm sóc hơn."
Mai Tát nói: "Vậy sao không mau cất lên khúc tình ca Thương Ương Gia Thố đi?"
Hoàng tử Hương Ba ngẩn ngơ, không nói gì, rõ ràng là khí thế không đủ rồi.
Cô gái nói: "Chúng tôi nhận mua hộ vé máy bay, vé xe khách, vé tàu hỏa, cố gắng cung cấp mọi dịch vụ. Phòng của chúng tôi có thể nhìn thấy sông Lhasa, tu viện Drepung. Trong các khách sạn cùng phân khúc, chúng tôi là rẻ nhất."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Không cần nói nữa, lên xe đi, dẫn chúng tôi đi, em tên gì?"
Cô gái mỉm cười nói: "Dẫn Siêu Mã."
Hoàng tử Hương Ba hít một hơi lạnh: Dẫn Siêu Mã? Ý của Dẫn Siêu Mã là người phụ nữ đoạt hồn.
Khách sạn Hồng Hoa Tây Tạng là một tòa kiến trúc kiểu Tạng mái bằng cao năm tầng, vẻ bề ngoài sặc sỡ khiến những ai ngắm nhìn nó ngỡ như mình đang đối mặt với một bức bích họa nghệ thuật khổng lồ. Sân trước khách sạn có hình chữ "cố", một bãi đá phiến không theo quy tắc nào, đang trải dài vẻ cổ kính u xanh trong ánh nắng chiều tà. Cầu thang làm bằng gỗ, hơi dốc, dốc theo kiểu cổ xưa và truyền thống. Lên hết cầu thang là một cánh cửa gỗ hình chiếc ô rực rỡ màu sắc, phòng khách sảnh rộng rãi bên trong cửa khiến người ta hoa mắt chóng mặt, như thể gom hết cảm nhận về màu sắc của người Tây Tạng chất đống lại đây vậy.
Điều khiến Hoàng tử Hương Ba khó hiểu là, khách sạn Hồng Hoa Tây Tạng nằm bên sông Lhasa ở đoạn cuối đường Lỗ Định Nam phía tây Lhasa, thế nhưng cô gái Dẫn Siêu Mã lại đi chèo kéo khách ở Thông Tái Khang phía đông Lhasa, hỏi cô tại sao, cô đáp: "Du khách đến đó nhiều."
Dẫn Siêu Mã lấy chìa khóa ở quầy lễ tân, dẫn thẳng họ đến phòng ở tầng bốn, mở cửa ra, làm động tác mời họ bước vào.
Mai Tát thò đầu nhìn vào trong phòng một cái, lập tức rụt lại: "Chúng ta việc gì phải ở căn phòng sang trọng thế này?"
Hoàng tử Hương Ba nhìn Dẫn Siêu Mã cười nói: "Ở đây ngay cả con gái cũng sang trọng nữa cơ." Nói xong bước vào phòng xem xét một lúc, đi ra nói: "Chúng ta chắc là không thể ở chung một phòng rồi nhỉ?"
Mai Tát nói: "Tất nhiên rồi, chúng ta có giao ước từ trước."
Dẫn Siêu Mã lại mở thêm một phòng nữa. Mai Tát đi vào, đặt túi xuống, chui thẳng vào phòng vệ sinh.
Dẫn Siêu Mã ra đến cửa nói với Hoàng tử Hương Ba: "Đưa chứng minh thư và tiền đặt cọc cho tôi, tôi đi làm thủ tục đăng ký giúp hai người, tiền đặt cọc một phòng hai nghìn nhân dân tệ."
Mai Tát từ phòng vệ sinh lao ra nói: "Hai phòng là bốn nghìn, không ở nữa."
Dẫn Siêu Mã nói: "Chị đã ở rồi, dùng phòng vệ sinh rồi thì tính là đã ở."
Mai Tát trừng mắt nói: "Cô muốn tống tiền à?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Thôi đi, đã đến đây rồi, chúng ta chịu chơi một chuyến đi."
Một khắc sau, Dẫn Siêu Mã mang chứng minh thư và biên nhận tiền đặt cọc trả lại cho phòng của Hoàng tử Hương Ba. Hoàng tử Hương Ba chằm chằm nhìn chiếc chân tay giả bên tay phải của cô ấy nói: "Cô gái đừng đi vội."
Dẫn Siêu Mã cười tươi tắn nói: "Tiên sinh có việc gì, xin cứ phân phó."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Chân giả của cô, tôi chưa từng thấy chiếc chân giả nào như thế này bao giờ."
Dẫn Siêu Mã giấu chiếc chân giả ra sau lưng nói: "Tiên sinh chắc chưa ăn tối đúng không?"
Bữa tối là do Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát ăn cùng nhau, ở nhà hàng tầng một. Món ăn Tây Tạng chính gốc mà mộc mạc, ngay cả bộ đồ ăn cũng tỏ ra vô cùng thuần chất: tsampa (bột lúa mạch) đựng trong túi dệt bằng lông cừu, bơ và churpi (bã phô mai) đựng trong túi dạ dày cừu; trà bơ được đựng trong ấm đồng, cần rót ra bát gỗ để thưởng thức, rượu lúa mạch đựng đầy trong thùng gỗ, cần dùng muôi gỗ múc vào bát bạc để uống cạn; thịt khô được bọc trong da cừu, váng sữa được đặt trên mâm gỗ, zhou (cháo tsampa) đựng trong nồi đất. Hoàng tử Hương Ba cúi đầu thưởng thức, không nói một lời, cứ như thể chỉ cần nói chuyện, những món ăn từng được A Mã nuôi dưỡng mình hồi nhỏ này sẽ bay biến mất vậy.
Đột nhiên ngài ngẩng đầu hỏi Mai Tát: "Cô ăn có quen không?"
"Ăn quen, thích món ăn gì là do di truyền."
Hoàng tử Hương Ba thèm thuồng vớ lấy hai thanh thịt khô, định nhét vào miệng.
Mai Tát nói: "Giao ước: giới tửu, giới yên, giới nhục, từ bỏ mọi thói quen và tật xấu không thanh tịnh."
Hoàng tử Hương Ba nuốt nước bọt, đặt thịt khô xuống nói: "Khó chịu, khó chịu, khó chịu, tôi không ăn là khó chịu. Thế còn rượu lúa mạch thì sao?"
"Rượu lúa mạch do chính khách sạn nấu thì anh có thể uống một chút, nó không phải là rượu, là đồ uống."
Hoàng tử Hương Ba dùng muôi gỗ múc cho mình một bát bạc từ trong thùng gỗ, đưa lên miệng định uống một hơi cạn sạch, bỗng lại đặt xuống: "Thôi đi, vẫn có vị rượu. Tôi phải tuân thủ nghiêm ngặt giao ước, không thể làm kẻ phản bội lời thề, bởi vì..." ngài nhìn Mai Tát, "bởi vì bây giờ tôi có hai mục tiêu, đều rất thần thánh, một là khai quật vật giấu 'Cửa Thất Độ Mẫu', hai là cuối cùng chiếm được cô gái trong mộng."
Hoàng tử Hương Ba uống thêm một ít cháo tsampa, nhìn chiếc ấm đồng trên bàn nói: "Đẹp thật đấy."
Mai Tát uống một ngụm trà bơ nói: "Tôi vẫn luôn nghĩ, tại sao anh lại nghiên cứu Thương Ương Gia Thố, còn xuất bản cả hai cuốn sách? Tại sao lại tự xưng là tình thánh Thương Ương Gia Thố? Ngoài sự tự đại, cái tôi trương phềnh ra, thì còn có thể tìm được lý do nào khác không?"
Hoàng tử Hương Ba không đáp rõ là phải hay không, ợ một cái rõ to rồi tìm kiếm trên bàn: "Sao không có dưa chua nhỉ?"
Mai Tát không có hứng thú với dưa chua, lại nói: "Anh không phải là sống Phật, lại càng không phải là giáo chủ, anh sinh không gặp thời, Thương Ương Gia Thố đối với anh rất có thể chỉ là một vũng bùn cuốn hút sâu sắc. Mà cái tên gọi khác của vũng bùn này chính là 'Cửa Thất Độ Mẫu' mà anh không có cách nào tự thoát ra được."
Hoàng tử Hương Ba hét lên: "Phục vụ, phục vụ, dọn dưa chua lên."
Dẫn Siêu Mã bước nhanh tới: "Hôm nay chỉ có trà bơ, không có dưa chua."
Mai Tát nói: "Khách sạn đã thu tiền đặt cọc bốn nghìn mà đến dưa chua cũng không được ăn sao?"
"Hôm nay cả Lhasa không đâu có dưa chua, dưa chua để dành cho ngày mai rồi."
“Để dành cho ngày mai, tại sao?” Chưa đợi Dẫn Siêu Mã trả lời, Hoàng tử Hương Ba đã chồm tót dậy: “Ái chà tôi quên mất, Mai Tát, ngày mai là lễ hội Shoton.”
Mai Tát lạnh nhạt nói: “Lễ hội Shoton ư? Tôi biết lễ hội Shoton rất náo nhiệt, nhưng chúng ta đâu phải đến để dự lễ hội.”
Hoàng tử Hương Ba hào hứng nói: “Chúng ta chính là đến để dự lễ hội đấy chứ. Cô nghĩ mà xem, ‘Sách chỉ dẫn ký ức’ của tu viện Kumbum chính là phương pháp làm dưa chua, mà chữ ‘Sho’ trong lễ hội Shoton có nghĩa là ‘sữa chua’, ‘phô mai’, còn ‘ton’ là yến tiệc, lễ hội Shoton – đại tiệc sữa chua, hoặc là, lễ hội ăn sữa chua.”
Mai Tát bừng tỉnh nói: “Ồ, hóa ra là thế.”
Hoàng tử Hương Ba nói: “Trước thế kỷ 17, ‘Shoton’ là một hoạt động tôn giáo thuần túy. Tháng sáu tháng bảy mùa hè, trời ấm đất nóng, vạn vật bắt đầu trồi lên xuất hiện, thỏa sức hoạt động. Các tăng ni thuộc phái Gelug không muốn vô tình làm tổn thương chúng, nên vào khoảng thời gian từ tháng sáu đến tháng bảy theo lịch Tây Tạng hàng năm, họ tự giam mình trong tu viện, thực hiện sự tĩnh lặng, tuân giữ giới luật nghiêm ngặt, gọi là ‘Hạ an cư’. Ngày giải nghiêm, những tu sĩ bị kìm nén mấy chục tháng nay lần lượt ra khỏi tu viện, bách tính thế tục đã sớm chuẩn bị sẵn những thực phẩm ngon nhất mùa này để đợi họ. Thực phẩm ngon nhất chính là sữa chua, bởi vì vào mùa hè cỏ xanh cỏ béo, sữa của bò và cừu là đặc nhất và nhiều nhất. Ngoài việc bố thí sữa chua, tu viện Drepung còn biểu diễn Tạng kịch để chúc mừng sự kết thúc của ‘Hạ an cư’. Tạng kịch là sự thăm hỏi của tín chúng đối với các tu sĩ. Để đáp lại, tu viện Drepung liền tổ chức hoạt động ‘Phơi Phật lớn’, cầu nguyện cho chúng sinh bình an hạnh phúc, cho nên lễ hội Shoton ban đầu được gọi là ‘Drepung Shoton’. Sau này, ‘Hạ an cư’ tuân giữ giới luật của các tu sĩ đã biến mất, chỉ trơ trọi lại các hoạt động ăn sữa chua, xem Tạng kịch, phơi Phật lớn, trở thành một lễ hội có sự tham gia chung của cả tăng nhân và người tục.”
Mai Tát hỏi: “’Sách chỉ dẫn ký ức’ của tu viện Kumbum yêu cầu chúng ta đi đến tu viện Drepung?”
Hoàng tử Hương Ba chằm chằm nhìn chiếc ấm đồng xinh đẹp nói: “Đây là phỏng đoán hợp lý duy nhất, bởi vì ngoài sự khải thị của ‘dưa chua’, còn có ‘Cát Thái Lộ Đinh’: ‘Sữa chua của Cát Thái Lộ Đinh là sữa chua ngon nhất toàn Tây Tạng.’ Ở Tây Tạng có rất nhiều nơi, rất nhiều người tên là Cát Thái Lộ Đinh. Nhưng nếu chúng ta xác định sự chỉ dẫn của ‘Sách chỉ dẫn ký ức’ hướng về tu viện Drepung, thì có lẽ chỉ có một sự lựa chọn duy nhất. Ở vùng lân cận tu viện Drepung thời cổ đại, có một khu vườn mang tên ‘Cát Thái Lộ Đinh’, là nơi bắt buộc phải đi qua để đến tu viện Drepung. Các tu sĩ của tu viện Drepung khi nghênh đón khách quý, thường sẽ bước ra khỏi tu viện, đến ‘Cát Thái Lộ Đinh’ để đợi. Cho nên nơi này còn được xem là khu vực ngoại vi của tu viện Drepung, hoặc là khu vườn phía trước của tu viện Drepung.”
Mai Tát cảnh giác liếc nhìn Dẫn Siêu Mã một cái. Dẫn Siêu Mã lẳng lặng rời đi.
Mai Tát nói: “Chúng ta không nên nói những điều này trước mặt cô ta.”
Hoàng tử Hương Ba nói: “Anh chính là nói cho cô ta nghe đấy chứ, muốn xem phản ứng của cô ta thế nào. Đi mau, chúng ta không thể ở lại khách sạn nữa, phải đi thẳng đến tu viện Drepung ngay trong đêm. Ngày mai sau khi mặt trời mọc, chúng ta sẽ được nhìn thấy bức Phật lớn nhất Tây Tạng và vở Tạng kịch đầu tiên của lễ hội Shoton.”
Mai Tát đập bàn nói: “Bốn nghìn tiền đặt cọc bỏ đi thế à?”
Nhưng Hoàng tử Hương Ba nghe ra được, cô ấy rất vui mừng.
3
Đi tu viện Drepung không lái chiếc Wrangler, Hoàng tử Hương Ba bảo: “Đây là để thể hiện sự thành kính đối với lễ hội Shoton.”
Những người thành kính đều đang đi bộ, rất nhiều rất nhiều, trong màn đêm u tối của Lhasa, từng con phố ngõ ngách, hướng về tu viện Drepung, âm thầm tuôn chảy. Là dòng chảy từ dưới lên trên, hơi tốn sức, tiếng thở dốc giống như tiếng rên rỉ của dòng sông, cũng là tiếng thở sâu thẳm không lời. Không ai lớn tiếng nói chuyện, trong sự ngầm hiểu lẫn nhau, hàng vạn người đang tiến về tu viện Drepung đều thấm nhuần: Đây là một khoảnh khắc tĩnh mịch làm sao, không ai trong chúng ta có thể trốn tránh sự thần thánh. Con người là một sinh linh kiểu gì, mà lại cần đến hành động thế này chứ?
Hoàng tử Hương Ba không kìm được ho khan một tiếng, dường như cả Lhasa đều nghe thấy. Gió thổi vù vù, cuốn tiếng ho không đúng lúc ấy bay lên tận trời cao. Ngay cả việc tụng kinh niệm chú cũng là thầm lặng, ngay cả chiếc bánh xe mani trong tay cũng lí nhí nhỏ nhẹ, ngay cả đứa trẻ dù cậu bé hay cô bé ấy chỉ mới mấy tháng tuổi cũng đều biết rằng lúc này không được lớn tiếng khóc lóc gào thét.
Giống như trăm sông đổ về một biển, mọi người dần tụ tập lại trên đại lộ Drepung, hàng cây tối thui hộ tống một dòng người đang đi ngược lên trên. Bỗng xuất hiện ánh đèn, soi rọi những dải khăn Hada đang treo và cành bách, lúa mạch, bơ đang được đốt để cúng dường. Rất nhiều du khách bên ngoài đi qua, bỏ ra một ít tiền, nhận lấy một dải khăn Hada hoặc một gói bơ, cành bách, lúa mạch. Còn người dân thành phố Lhasa, các tín đồ từ khắp nơi ở Tây Tạng thì đã chuẩn bị sẵn khăn Hada, bơ từ lâu, chớp lấy cơ hội này, bước nhanh hơn vài bước, tiến lên phía trước, chiếm trước chỗ ngồi rồi.
Ở nơi cây cối rậm rạp, đại lộ Drepung uốn cong thành một góc vuông, tụ tập một số kẻ lang thang lười biếng. Họ là tầng lớp đáy của Lhasa, cả đời chỉ làm hai việc, lang thang khắp nơi và nhận sự bố thí. Nhất là trong các dịp lễ hội, họ luôn đến nơi nào đông người. Lúc này, họ đang im lặng đối mặt với một cuộc chiêu mộ tàn độc.
Kẻ chiêu mộ họ là một người có gò má cao lồi lên, hắn giơ xấp tiền nhỏ giọng nói với từng người: “Đến lúc đó tôi đẩy ngã người đó một cái, các người liền xông tới giẫm lên, giẫm một cái mười đồng, giẫm hai cái hai mươi đồng, giẫm mười cái một trăm đồng. Giẫm chết hắn ta, tôi sẽ mời mọi người ăn cơm ở tiệm ‘Bánh bao Ngọc’. Tôi ứng trước cho mỗi người mười đồng đây, cầm cho chắc vào, còn nhiều tiền hơn ở phía sau cơ.” Người giơ tay đòi tiền có kẻ mặc thường phục cũng có kẻ mặc áo tu hành, nhưng những kẻ quen thuộc với đám lang thang đều biết rằng, kẻ mặc thường phục chưa chắc đã không phải là lạt ma, kẻ mặc áo tu hành chưa chắc đã là lạt ma. Việc đòi tiền quyết định vẻ bề ngoài của họ: đối mặt với người tu hành, mặc thường phục tốt hơn, đối mặt với người thế tục, mặc áo tu hành trội hơn.
Kẻ có gò má cao hạ thấp giọng nói: “Mọi người cứ nhìn lá cờ của tôi mà đi, đừng rớt lại phía sau, cầm tiền mà không đi là sẽ bị trừng phạt đấy, ai sẽ trừng phạt các người? Hãy nhớ lấy tên tôi: tôi tên là Sát thủ Đầu lâu.” Vừa nói, hắn vừa giơ một con dao đầu lâu ra lắc lắc, lại giơ một lá cờ trắng ra lắc lắc.
Một đám đông lang thang đen kịt hòa vào dòng người, đại lộ Drepung càng trở nên chật chội hơn.
Tu viện Drepung nằm trong lòng núi GampUtse, nó là một trong sáu đại tự của phái Gelug trong Phật giáo Tây Tạng, lại cùng với tu viện Ganden, tu viện Sera gọi chung là “Ba đại tự Lhasa”, đồng thời cũng là tu viện Phật giáo lớn nhất thế giới, thời kỳ đỉnh cao số lượng tăng ni lên tới hơn vạn người. Nó được xây dựng vào năm 1416 Công nguyên, năm Vĩnh Lạc thứ mười bốn nhà Minh. Tên đầy đủ là “Drepung Loseling Chokhor Ling”, ý nghĩa là đảo Thắng Tướng Trưởng Thọ Tràng Chân Phật pháp lớn như đống gạo. Người Tây Tạng thích ẩn dụ, tu viện Drepung liền trở thành một điển phạm của sự ẩn dụ. Nhìn từ trên trời bằng đôi mắt của thần, những điện thờ nóc vàng tường trắng kia, chính là một đống gạo đổ tung tóe trên sườn núi, màu trắng là hạt gạo, màu vàng là vỏ trấu. Cho nên cái tên này không phải do con người đặt, mà là do thiên thần đặt.
Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát đi đi dừng dừng, cuối cùng cũng đến trước ngọn núi Phơi Phật hướng về phía đông nằm cạnh tu viện Drepung. Đây là một ngọn núi chất đầy đá lớn, trong bầu không khí xám xanh, sáu chữ chân ngôn sặc sỡ phấp phới trên những tảng đá kinh giống như cờ hiệu. Những chiếc giá hàn bằng sắt được bố trí dọc theo sườn núi, một mảng dốc lớn như vậy đều bị che phủ.
Hàng vạn người tụ tập ở đây, mà thung lũng vẫn tĩnh mịch như tờ.
Mặt trời sắp xuất hiện, chân trời phía đông dần ửng đỏ kim. Tại một nơi có các lạt ma vây quanh, tiếng tù và vang lên ầm ầm, khói lam chiều của cành bách bốc lên nghi ngút. Đây là khúc dạo đầu cho sự xuất hiện của Phật, che khuất đi sự nghiêm trang của đám người. Ở phía đầu thung lũng, bảy tám chục vị lạt ma xếp thành hàng uốn lượn, vác những cuộn tranh cuộn khổng lồ dài không thấy điểm cuối, lượn lờ trườn đi như rồng dài. đám đông lần lượt tránh ra.
Chẳng mấy chốc, các lạt ma đã đứng đến đầu trên của giàn sắt, cuộn tranh khổng lồ được lăn dọc theo bề mặt dốc của giàn sắt, một tiếng rào rào vang lên như thác đổ, sóng trắng tuôn trào ào ạt. Ô-i — khắp thung lũng là tiếng hò reo đều đặn và vang dội, dường như chỉ vì tiếng hò reo này mà họ đã giữ im lặng suốt chín nghìn năm.
Thế nhưng Phật lớn vẫn chưa lộ diện, một lớp lụa mỏng trắng như tuyết che phủ lên trên, làm mờ đi thánh tượng rực rỡ. Sự tĩnh nhã và trang nghiêm, sự đắm chìm và hoan hỉ, vẫn cứ là sự chờ đợi. Lúc chờ đợi thì ngước nhìn phương đông, ánh mắt của tất cả mọi người đều đang nói: Ra rồi, ra rồi.
Mặt trời mọc rồi, chỉ lộ ra một dải đỏ rực như ráng sớm. Cùng lúc đó, bốn sợi dây kéo tấm lụa trắng đó lên, Phật lớn từ từ khai mạc, trước tiên là pháp thân, rồi đến pháp tướng. Dường như ánh vàng của mặt trời là do con người điều khiển, chiếu rọi đến một cách vừa vặn, phủ kín sườn núi, rực rỡ huy hoàng. Cứ như thể thứ mọc lên không phải là mặt trời, mà là Phật lớn. Không, thứ mọc lên vừa là mặt trời, vừa là Phật lớn, mặt trời và Phật lớn đồng thời chiếu sáng thung lũng tu viện Drepung, trong thung lũng người đông như nêm cõi. Có người định trèo lên để chiêm bái thân thể của Phật lớn, một đội lạt ma lập tức nối đuôi nhau kéo đến, canh gác ngay bên dưới Phật lớn.
Một tràng tiếng hò reo vang dội như sấm dậy, từ nay không cần phải giữ im lặng nữa, tiếng kinh vang dội, tất cả mọi người đều phát ra âm thanh, kích động không thể diễn tả bằng lời. Khăn Hada xòe đôi cánh, bay lượn là chim, rơi xuống là sông. Dòng sông khăn Hada tuôn chảy trước tòa Phật, các tín đồ quỳ rạp xuống, sau đó là ngũ thể đầu địa. Sự chiêm bái vừa là hình thức thân thể, lại càng là của tâm hồn. Rất nhiều người hy vọng dùng đầu của mình chạm vào kim thân Phật tượng, tranh nhau chen lấn, đợt này xuống, đợt khác lại lên. Đám đông và tín ngưỡng đều đang chìm ngập, sau khi chìm ngập chính là sự thăng hoa, là niềm vui trong lòng.
Những người không phải tín đồ, phần lớn đều đứng đó, giơ máy ảnh lên, còn có một số người đang len lỏi chèn ép về phía Hoàng tử Hương Ba.
Hoàng tử Hương Ba quay đầu nhìn họ, khó chịu nói: “Chen cái gì mà chen? Sao không quỳ xuống? Các người ngoài việc tranh thủ chụp ảnh ra thì còn biết cái gì? Chỉ biết săn lùng chuyện lạ.”
Có người vừa chen vừa hét: “Anh chẳng phải cũng không quỳ xuống đấy thôi?”
Hoàng tử Hương Ba định quỳ xuống thì Mai Tát kéo giật lại: “Chỗ chen chúc thế này, quỳ xuống là không đứng dậy nổi đâu.”
Hoàng tử Hương Ba nhìn trước ngó sau trái phải, kéo Mai Tát rời khỏi nơi gần Phật lớn. Ngài muốn đứng cách xa ra một chút, nhìn cho rõ toàn cảnh Phật lớn, chứ ở vị trí vừa rồi, chỉ có thể nhìn thấy một phần — dải lụa áo Phật thánh thiện.
Đây là một bức tượng Thích Ca Mâu Ni khổng lồ được dệt bằng tơ màu.
Hoàng tử Hương Ba hỏi: “Nhìn rõ chưa?”
Mai Tát nói: “Cái này còn phải hỏi à, người có mắt ai chẳng nhìn rõ.”
Hoàng tử Hương Ba nói: “Tôi hỏi là có nhìn rõ thứ mà người khác không nhìn thấy không. Đã đành ‘Sách chỉ dẫn ký ức’ của tu viện Kumbum ám chỉ chúng ta chú ý đến ‘Drepung Shoton’, thì mọi thứ liên quan đến ‘Drepung Shoton’ đều có khả năng hiển thị ‘Cửa Thất Độ Mẫu’.”
Mai Tát nói: “Lý lẽ là thế, nhưng vật giấu hiển hiện dựa trên Phật tính tự nhiên và Phật duyên của người khai quật, Phật tính tự nhiên của tôi không tốt bằng anh, những thứ người khác không nhìn thấy thì tôi cũng chịu.”
Hoàng tử Hương Ba lắc đầu: “Nhưng Phật tính của tôi ở đâu chứ?” Vừa nói, ngài vừa quụp một tiếng quỳ sụp xuống. Ngài cho rằng sự thành kính mới có thể mang lại linh cảm và vận may. Nào ngờ vừa quỳ xuống, một chiếc ủng chắc nịch đã dẫm lên sống lưng ngài. Ngài kêu “ái chà” một tiếng ngã sấp xuống đất, muốn quay đầu lại xem kẻ nào dám dẫm mình. Đột nhiên một đám người xông tới, dùng mấy đôi chân dẫm lên người ngài, đồng thời cũng giẫm ngã một người đàn ông mặc áo bào Phổ Lỗ (pulu) màu tía. Người đàn ông ngã ngay lên người ngài, gánh chịu những cú giẫm đạp thay ngài. Ngài vừa hét vừa bò về phía trước, người đàn ông ấy cũng bò về phía trước, càng lúc càng có nhiều đôi ủng và giày da giẫm nện lên người đàn ông đó.
Mai Tát lao tới, xô đẩy những kẻ đó: “Giẫm chết người rồi, giẫm chết người rồi.”
Sát thủ Đầu lâu dùng phấp phới kinh luân quấn đầu, chỉ để lộ đôi mắt, giơ cờ trắng chỉ huy một số kẻ nắm tay lại, vây thêm nhiều người hơn nữa, ép họ phải bước qua người Hoàng tử Hương Ba và người đàn ông kia. Một kẻ trông giống lạt ma ở phía trước rắc những sợi tơ đỏ có thắt nút cát tường, mọi người tranh giành nhau, người ngày càng đông, chen chúc chật như nêm cõi.
Mai Tát nhận ra họ cố tình, lớn tiếng nói: “Các người là đang giết người, trước mặt Phật lớn mà dám giết người, ác đạo! Ma quỷ!”
Hoàng tử Hương Ba cõng người đàn ông chật vật bò về phía khe hở giữa các đôi chân, lại chuốc lấy thêm những cú giẫm đạp tàn nhẫn hơn. Đang lúc không biết phải làm sao, thì thấy người đàn ông lật từ trên người ngài xuống, dùng đầu đỉnh lấy ngài, dùng sức đẩy mạnh ngài vào một hốc đá. Ngài kêu thảm một tiếng, co ro vào trong hốc đá, mặt úp xuống đất, bất động.
Vẫn là những cú giẫm đạp mạnh tay tàn nhẫn. Người đàn ông nằm đè lên người Hoàng tử Hương Ba, khắp mặt khắp người toàn là máu.
Có người lớn tiếng nói: “Hắn chết rồi, chết thật rồi.”
Điều này giống như một tín hiệu, những kẻ nắm tay vây người không vây nữa, những kẻ tung rắc nút cát tường không rắc nữa, chúng hòa vào đám đông chen chúc điên cuồng luồn lách ra tứ phía.
Mai Tát lao tới túm chặt lấy vị lạt ma tung rắc nút cát tường, hét lên: “Hung thủ, hung thủ.”
Vị lạt ma sợ hãi rụt người lại. Sát thủ Đầu lâu quấn đầu bằng phấp phới kinh luân bước lớn tới, giáng cho Mai Tát một bạt tai khiến cô lệch cả người sang bên trái, đến khi cô hoàn hồn lại, thì tất cả hung thủ đều biến mất tăm.
Rất nhiều người vây quanh người đàn ông đó và Hoàng tử Hương Ba cầu nguyện. Mai Tát chen đến bên cạnh cẩn thận lật bả vai người đàn ông đó lên, người đàn ông rên rỉ ngồi dậy.
Mai Tát hét lên: “Mau đưa anh ấy đến bệnh viện đi.”
Mấy vị lạt ma duy trì trật tự đi tới, đỡ người đàn ông đứng dậy. Mai Tát nhìn thấy, từ bên trong chiếc áo bào Phổ Lỗ màu tía của người đàn ông lộ ra tấm thép sáng loáng, kinh ngạc thầm nghĩ người này vậy mà lại sớm có phòng bị. Người đàn ông được mấy vị lạt ma khiêng đến phòng y tế tu viện Drepung băng bó, Hoàng tử Hương Ba đang nằm sấp trong hốc đá cảm thấy sống lưng nhẹ bẫng đi một trận, oằn mình quay người lại, kinh hãi nhìn đám đông.
Mai Tát mừng rỡ nói: “Tôi cứ tưởng anh chết rồi chứ.”
Hoàng tử Hương Ba nói: “Suýt chút nữa thôi, nếu không có người bảo vệ tôi, hôm nay e rằng tôi đã phải tế máu tu viện Drepung rồi. Còn người đàn ông đó, anh ta thế nào rồi?” Ngài ngồi dậy, lắc lắc đôi vai, đau đớn đến mức hít hà, nghiến răng nói, “Chắc chắn là người của ‘Điện đường huyết chế Người tàng hình’ rồi, bọn họ có mặt ở khắp mọi nơi.” Ngài ngẩng đầu nhìn bức Phật lớn siêu nhiên ngoài thế gian mà lại đầy lòng từ bi trước nhân thế, trước mắt chợt lóe lên một tia sáng chói chang, ngẩn người: Là thứ gì, mà có thể thu hút ánh nhìn của ngài hơn cả Phật lớn cơ chứ? Ngài dụi dụi mắt, nhắm lại, mở ra, khi ngài lại một lần nữa ngắm nhìn Phật lớn, phát hiện ra thứ đang tỏa sáng chói lọi trong mắt mình lúc này chính là những đám mây sặc sỡ làm nền cho Phật lớn.
Trong chớp mắt ngài quên đi cơn đau, chỉ vào những đám mây mà đếm. Ngài đếm được chín mươi tám đóa.
“Mai Tát, cô cũng đếm một lần xem nào, những đám mây đằng sau Phật lớn ấy, đếm cho kỹ vào.”
Mai Tát bắt đầu đếm, đếm đến ba mươi thì xua tay: “Không được không được, hoa hết cả mắt rồi.”
Hoàng tử Hương Ba nói: “Tôi đếm lại lần nữa.” Hồi nhỏ ngài từng đi chăn cừu, tối nào cũng phải kiểm điểm lại đàn cừu đang chạy nhảy. Mà những đám mây thêu bằng chỉ lụa trước mặt thì không động đậy, đếm chẳng khác nào rút lông trong bơ, dễ quá thể, kết quả vẫn là chín mươi tám đóa. “Cô nhìn lại xem chín mươi tám đám mây trông giống cái gì?”
Mai Tát nhìn không ra.
“Có giống chín mươi tám chiếc ấm đồng nằm úp không?”
Mai Tát đờ đẫn nhìn: “Giống lắm.”
“Mau, đỡ tôi đứng dậy.”
Cũng may, xương cốt của Hoàng tử Hương Ba không bị giẫm gãy, vết thương ngoài da tuy đau đớn nhưng nghiến răng vẫn có thể đi lại được. Ngài được Mai Tát dìu, chen chúc lách mình trong đám đông, đi về phía hàng lạt ma canh gác bên dưới Phật lớn.
Hoàng tử Hương Ba quỳ rạp xuống trước mặt một vị lạt ma già đeo kính, dùng giọng điệu vô cùng thành kính nói: “Xin hỏi thượng sư, ‘Niềm tin của chín mươi tám chiếc ấm đồng’ là gì vậy?”
Vị lạt ma già đeo kính chợt mở trừng to đôi mắt, đánh giá ngài, nhỏ giọng nói: “Cuối cùng cũng có người đến hỏi thăm về chín mươi tám chiếc ấm đồng rồi. Cậu là ai? Cậu ngay cả áo cà sa còn không mặc, vậy mà cũng biết ‘Niềm tin của chín mươi tám chiếc ấm đồng’ ư?”
Hoàng tử Hương Ba nói: “Tuy rằng Phật mặc áo cà sa, nhưng người mặc áo cà sa lại có mấy ai là Phật? Tôi không mặc áo cà sa là vì tôi là người phàm tục, mà Phật chính là Phật của người phàm tục.”
Lạt ma đeo kính nói: “Ý của cậu là Phật ở ngoài cửa Phật, trong lòng người phàm? Không thèm quản nữa, dù sao thì các lạt ma của tu viện Drepung chúng tôi đều biết, vào ngày lễ hội Shoton, nếu có ai đến hỏi thăm ‘Niềm tin của chín mươi tám chiếc ấm đồng’, thì nhất định đó là điềm báo kinh thiên động địa. Tốt thì là Phật quang tái hiện, xấu thì là tai họa diệt giáo. Mấy trăm năm nay, chúng tôi vẫn luôn chờ đợi.”
Hoàng tử Hương Ba nói: “Xin chỉ giáo thượng sư, Phật quang đã là giữa trời trúng nhật, sao còn có thể tái hiện? Thánh giáo vốn là giáo lý tiêu tai, sao chính mình lại có tai họa?”
“Cho dù Phật quang tương đương với mặt trời, mặt trời cũng sẽ lụi tàn. Mặt trời của ngày hôm qua thuộc về ngày hôm qua, chúng ta cần sự rực rỡ mới mẻ. Đợi câu trả lời của tôi đi.” Nói xong, vị lạt ma đeo kính liếc nhìn Mai Tát ở bên cạnh Hoàng tử Hương Ba rồi bỏ đi.
Lạt ma đeo kính đi rồi không thấy trở lại, câu trả lời đó chẳng qua chỉ là ngôn ngữ của gió. Từ phía Ganden Phodrang truyền tới tiếng trống mở màn Tạng kịch. Hoàng tử Hương Ba ngẩng đầu nhìn Phật lớn, phát hiện đã không thể nhìn thấy chín mươi tám đóa mây — chín mươi tám chiếc ấm đồng nằm úp nữa rồi, chỉ có bảy đóa sóng nước dưới tòa sen đang trôi nổi trước mắt theo cách bắt mắt nhất.
Hoàng tử Hương Ba nói: “Trong kinh Phật nói, có tám đóa sóng nước, tám loại diệu đế. Nhưng tại sao sóng nước ở đây lại là bảy đóa? Nhìn kìa, bên dưới bảy đóa sóng nước...”
Đột nhiên một tiếng gầm vang lên. Có người thét chói tai, có người hét lớn: “Tránh ra, tránh ra.”
Một hòn đá to bằng cái nồi từ trên lăn xuống, nghiền qua thân thể Phật lớn, nện về phía Hoàng tử Hương Ba. Hoàng tử Hương Ba trừng mắt nhìn những đóa sóng nước trên bức Phật thêu chỉ lụa mà bất động. Mai Tát giống như một con chim ưng, lao tới đè ngã ngài xuống. Rất nhiều người đang chạy tháo thân, một tiếng kêu hoảng loạn.
Mọi người nhìn thấy hòn đá tung người nhảy lên, vượt qua Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát, rơi xuống đất vỡ tan tảng một tiếng ‘beng’, trên mặt đất xuất hiện một cái hố lớn, trên trời một vòng bụi đất bay tung mù, không đè trúng ai cả. Một tràng tiếng thở phào nhẹ nhõm biểu thị niềm vui của mọi người: Hòn đá tưởng chừng sắp đè trúng, đột nhiên nhảy qua người, hòn đá vốn không thể vỡ nát, đột nhiên lại vỡ tan, đây chính là Phật pháp. Hòn đá lăn xuống, hễ đi qua thân thể Thích Ca Mâu Ni liền biến thành bông gòn, hơn nữa còn là bông gòn có mắt.
Sự kinh ngạc khiến mọi người quên mất việc truy cứu: Ai lăn hòn đá xuống vậy? Mục đích để làm gì?
Sát thủ Đầu lâu quấn đầu bằng phấp phới kinh luân đứng cách đó không xa, ngẩn ngơ nghĩ: Vẫn có người muốn giết chết Hoàng tử Hương Ba, bọn họ là ai? Hắn lấy điện thoại ra, rất muốn gọi cho Đại hộ pháp Hắc Phương Chi Chủ của Mật đạo vô hình: “Ngươi không tin ta, ngươi đang trách ta, ngươi lại phái người khác đến, hoặc là ngươi đang tự mình ra tay.” Nhưng hắn đã kìm lại được, Hắc Phương Chi Chủ luôn xuất hiện vào thời điểm thích hợp, để hắn xua tan đi những mối nghi ngờ không ngừng sinh ra đó.
Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát bò dậy, dìu dắt lẫn nhau rời khỏi nơi đó, bỗng lại dừng bước.
Hoàng tử Hương Ba quay đầu nói: “Nhìn kìa, bên dưới bảy đóa sóng nước, trên đầu vị nữ hộ pháp đó, có một từ tiếng Tạng ‘A Chị Lạp Mụ’.”
Mai Tát trợn tròn mắt nói: “Đúng thế, là ‘A Chị Lạp Mụ’.”
Hoàng tử Hương Ba nói: “Hèn gì sóng nước dưới tòa sen của Phật lớn lại là bảy đóa, bởi vì chúng đại diện cho ‘A Chị Lạp Mụ’ của bảy chị em và nguồn gốc của Tạng kịch.” Thấy Mai Tát đang đờ đẫn, ngài lại nói, “Khoảng giữa thế kỷ 15, tăng sĩ phái Kagyu Thang Tong Gyalpo thấy người dân khó khăn qua sông, bấy giờ phát nguyện sẽ xây cầu trên khắp các con sông lớn ở đất Tạng. Để quyên góp kinh phí, ông bôn ba khắp nơi. Có một hôm, ông đến Qonggyai ở Shannan, thấy bảy chị em nhà Baina nhan sắc nổi bật, ca múa giỏi, liền nghĩ đến điềm báo giáng trần của Độ Mẫu thuở nào, bèn nảy sinh cơ trí, dùng uy quyền của một tu sĩ tổ chức nên một gánh hát. Thang Tong Gyalpo gom nhặt các câu chuyện trong kinh Phật, lại biên soạn các đoạn hát cho các nhân vật trong câu chuyện, biểu diễn lưu động dưới hình thức ca vũ kịch để quyên góp kinh phí tu sửa cầu cống. Cuối cùng cầu được xây xong, Tạng kịch đồng thời cũng ra đời. Cho nên ở Tây Tạng, cách gọi của Tạng kịch chính là ‘A Chị Lạp Mụ’, có nghĩa là ‘Tiên nữ Đại tỷ’. ‘A Chị Lạp Mụ’ chính là hóa thân của bảy vị Độ Mẫu, đến thế gian dưới hình thức bảy chị em, tạo nên Tạng kịch thuở ban đầu.”
Mai Tát trầm ngâm: “Tạng kịch của bảy chị em? Hóa thân của Thất Độ Mẫu?”
Hoàng tử Hương Ba nói: “Đã ‘A Chị Lạp Mụ’ là hóa thân của bảy vị Độ Mẫu, thì chắc chắn có liên quan đến ‘Cửa Thất Độ Mẫu’. Chúng ta đã nhìn thấy chín mươi tám đám mây — chín mươi tám chiếc ấm đồng nằm úp trên bức Phật thêu chỉ lụa, lại nhận được sự khải thị đi xem ‘A Chị Lạp Mụ’ tức là Tạng kịch. Quan trọng hơn là, trong lúc hai loại khải thị xuất hiện đồng thời, chúng ta đã né tránh được hai lần ám sát. Đây có lẽ là nhân duyên tốt đẹp, cho thấy vật giấu của ‘Cửa Thất Độ Mẫu’ — ‘Pháp môn duy nhất’ đã rất gần với chúng ta rồi, có lẽ ở ngay tu viện Drepung.”
Hai người bước đi về hướng Ganden Phodrang của tu viện Drepung.
Sát thủ Đầu lâu đi theo sau, đi chưa được bao xa, điện thoại reo lên. Hắc Phương Chi Chủ? Hắn vội vàng rút ra áp vào tai.
Hắc Phương Chi Chủ nói: “Hoàng tử Hương Ba vẫn còn sống, ngươi huy động nhiều kẻ lang thang như vậy mà không đạt được mục đích.” Hắn ngưng lại một chút, “Tuy nhiên hiện tại, ngươi vẫn là người mà ta tin tưởng nhất.”
Lòng Sát thủ Đầu lâu nóng bừng lên một trận, ngay lập tức lại lạnh ngắt. Hắn nghe ra được, đây vừa là đốc thúc vừa là uy hiếp, “hiện tại” rồi sẽ qua đi, nếu hắn vẫn không thể giết được Hoàng tử Hương Ba, thì sứ mệnh đẫm máu và sự tu hành viên mãn đi kèm với sứ mệnh đó sẽ tuột mất khỏi tầm tay hắn. Hắn nơm nớp lo sợ nói: “Tôi biết, tôi biết, tôi sẽ khiến ngài hài lòng, sẽ khiến ngài hài lòng.”
Hắc Phương Chi Chủ nói: “Có người muốn dùng đá đập chết Hoàng tử Hương Ba, ngươi thấy rồi chứ? Kỳ thực cuộc thi đã sớm bắt đầu rồi, ai ai cũng đang tu hành, ai ai cũng đang theo đuổi sự viên mãn, ai ai cũng muốn dẫn đầu.”
“Không lẽ là ngươi và trợ thủ Bệnh ma đầu kèn của ngươi đấy chứ?”
“Không biết.” Hắc Phương Chi Chủ cúp máy.
Giống như mọi khi, sau cuộc gọi của Hắc Phương Chi Chủ, Sát thủ Đầu lâu luôn cảm thấy u uất, khiến hắn càng thêm nhung nhớ Gelsang Drolma. Hắn giống như mọi khi bấm gọi số điện thoại của Gelsang Drolma, Gelsang Drolma cũng giống như mọi khi nhấc ống nghe lên. Hai người lại giống như mọi khi im lặng, lắng nghe tiếng thở của đối phương.
Sắp đến lúc Gelsang Drolma cúp máy rồi, cô ấy không nghe thấy tiếng gọi “Em về nhà đi, anh cũng về nhà” của hắn, lại sắp thất vọng rồi. Từ đáy lòng Sát thủ Đầu lâu trào dâng nỗi buồn miên man, dâng lên đến khóe miệng, biến thành một chuỗi từ ngữ biết uốn lượn:
Dưới đôi mắt phượng trong veo,
Giọt lệ tuôn rơi tựa mưa xuân dầm dề,
---❊ ❖ ❊---
Sát thủ Đầu lâu ngẩn người, hóa ra mình đang hát, mình vậy mà vẫn biết hát, hơn nữa lại còn là khúc tình ca Thương Ương Gia Thố mà Hoàng tử Hương Ba — kẻ đang bị hắn truy sát — từng hát. Hơn nữa — đã qua thời hạn rồi, Gelsang Drolma vẫn đang áp ống nghe, không cúp máy.
Sát thủ Đầu lâu định hát tiếp câu dưới, nhưng phát hiện ra câu dưới hắn không thuộc nữa rồi. Vội vàng quay lại hát lại từ đầu, chỉ có hai câu, lặp đi lặp lại hết lần này đến lần khác, cho đến khi Gelsang Drolma thở dài một tiếng, đầu dây bên kia trở nên im ắng không tiếng động.
4
Một tòa kiến trúc kiểu Tạng cổ kính mà hùng vĩ xuất hiện trên nền đất của núi GampUtse, trước mắt là một mảng rực rỡ sắc màu, phấp phới kinh luân mang sắc màu đến, sắc màu bao phủ tầm nhìn.
Hoàng tử Hương Ba đột nhiên kích động lên: “Đây chính là Ganden Phodrang.”
Mai Tát nói: “Tôi phát hiện tu viện Drepung thật thâm sâu khó lường, càng đi vào trong càng hoành tráng.”
Gandy Phodrang có nghĩa là Cung điện Cực Lạc, là công trình nổi tiếng nhất của tu viện Drepung, được xây dựng vào thời kỳ Đạt Lai Lạt Ma thứ hai Gendun Gyatso đảm nhận vị trí Trì ba (trụ trì) thứ mười của tu viện Drepung. Sau đó các đời Đạt Lai Lạt Ma thứ ba, thứ tư, thứ năm đều tọa thảm ngồi tòa và đảm nhận chức vụ Trì ba của tu viện Drepung tại đây. Năm 1580 Công nguyên, khi Đạt Lai Lạt Ma thứ ba Sonam Gyatso đảm nhận chức Trì ba tu viện Drepung, từng theo lời mời của Altan Khan người Mông Cổ, đến Thanh Hải giảng kinh truyền pháp, tiếng tăm lừng lẫy, Altan Khan liền phong cho Sonam Gyatso danh hiệu “Thánh tri thức hết thảy Vajradhara Đạt Lai Lạt Ma”. “Thánh tri thức hết thảy” chính là “biết rõ tất cả”, “Vajradhara” là tiếng Phạn có nghĩa là “Kim Cương Giữ”, “Đạt Lai” là tiếng Mông Cổ có ý nghĩa là “Biển lớn”, “Lạt Ma” là tiếng Tạng có nghĩa là “Thượng sư”. Từ đó mới có danh hiệu “Đạt Lai Lạt Ma”. Sau khi Sonam Gyatso có được tôn hiệu này, ông đã truy nhận đệ tử của Tsongkhapa là Gendun Drub làm Đạt Lai Lạt Ma đời thứ nhất, sự chuyển thế của Gendun Drub và cũng là tiền kiếp của chính mình Gendun Gyatso làm Đạt Lai Lạt Ma đời thứ hai, dòng dõi Đạt Lai Lạt Ma từ đó mà sinh ra. Vào thời kỳ Đạt Lai Lạt Ma đời thứ sáu, phái Gelug bỗng nhiên trỗi dậy mạnh mẽ, dựa vào lực lượng của thủ lĩnh bộ lạc Qoshot Mông Cổ Gushri Khan, lấy Ganden Phodrang làm chỗ dựa, thiết lập nên trung tâm chính giáo thống trị toàn Tây Tạng, Ganden Phodrang từ đó nổi danh khắp trong ngoài Tây Tạng. Năm 1652 Công nguyên, Đạt Lai Lạt Ma đời thứ sáu vào kinh yết kiến Hoàng đế Thuận Trị nhà Thanh, năm sau quay về Tạng, dọc đường đã tiếp nhận phong hiệu Kim sách Kim ấn của Hoàng đế Thuận Trị: “Tây Thiên Đại Thiện Tự Tại Phật sở lĩnh thiên hạ giáo pháp phổ thông Vajradhara Đạt Lai Lạt Ma”. Hoạt động biểu diễn Tạng kịch hàng năm của tu viện Drepung, chính là sau khi Đạt Lai Lạt Ma đời thứ sáu thiết lập chính quyền Ganden Phodrang đã biến thành nghi thức quan trọng để ăn mừng sự kết thúc của “Hạ an cư”.
Khi Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát đến sân lớn tầng hai, nơi đó đã chật như nêm cõi, bầu không khí sôi sục của khán giả suýt nữa thì nhấc bổng cả sân khấu lên. Đoàn kịch Giang Khắc Khúc Tông đến từ Gyantse đang biểu diễn vở kịch truyền thống “Vương tử Norzang”, nữ nhân vật chính Y Trác Lạp Mụ bi thương kêu lên:
A Mã mẹ ơi,
Trong lòng con đau đớn biết bao,
Nghìn tư vạn tưởng,
Thật sự khôn nỡ rời xa Norzang.
Vương tử Norzang ca lên rằng:
Ta vâng lệnh phụ vương,
Đi tiêu diệt kẻ địch,
Ta nếu thuận theo lòng em,
Chính là trái lệnh phụ vương.
Lúc này xuất hiện hai người ngoài cốt truyện, họ đóng vai hai nam không hành (khecaras) trắng đen nhảy nhót ngâm nga khúc tình ca Thương Ương Gia Thố:
Y Trác Lạp Mụ yêu dấu,
Vốn là thợ săn là ta đây bắt được,
Lại bị kẻ có quyền có thế nhà quan,
Vương tử Norzang cướp mất.
Hai nam không hành trắng đen đi đến rìa sân khấu, làm ra đủ loại động tác kỳ quái khó hiểu để thu hút khán giả. Bỗng nhiên họ lao về phía trước, muốn ôm lấy một khán giả, rồi lại vụt rụt lại, sau đó liền chạy vòng quanh sân khấu, chốc chốc lại làm ra hành động lao tới ôm lấy, gây ra từng đợt náo động trong khán giả. Sự né tránh của khán giả vừa ngạc nhiên vừa sợ hãi, dường như ai cũng hy vọng hai nam không hành chấm trúng mình nhưng lại không muốn bị họ ôm lấy. Hai nam không hành xoay vòng hết vòng này đến vòng khác, có lẽ đến vòng thứ bảy thì cuối cùng cũng ôm lấy một người, người này không ai khác, chính là Hoàng tử Hương Ba.
Hai nam không hành kéo đẩy Hoàng tử Hương Ba lên sân khấu, một trong số đó chỉ vào ngài nói: “Ai là yêu ma oán địch muốn sát hại thánh giáo ấy chứ, kẻ nào đã tạo nên tội ác trộm đi ‘A Chị Lạp Mụ’ của bảy chị em, ngươi, ngươi, ngươi, ngươi là ai?”
Hoàng tử Hương Ba căng thẳng nói: “Đừng hỏi tôi như thế, tôi có biết diễn kịch đâu.” Ngài định thoát thân chuồn đi, hai nam không hành túm chặt lấy không buông, trên sân khấu giằng co thành một cục.
Lúc này từ trong đám khán giả đang sôi sục đột nhiên lao ra vị lạt ma đeo kính nọ, chỉ vào hai nam không hành trắng đen nói: “Hai người các ngươi không hành trong Phật lý, lại đến xuyên không trong Tạng kịch, rốt cuộc muốn làm gì? Nhớ lại năm xưa, hai chiếc ấm đồng mất tích không thấy tăm hơi, là Thang Tong Gyalpo vĩ đại mang lên trời, hay là ma quỷ trộm xuống địa ngục? Hai người nói xem.”
Nam không hành đen chỉ vào vị lạt ma đeo kính nói: “Đúng là một con quỷ, nếu không phải ngươi trộm đi hai chiếc ấm đồng, sao lại đến đây chịu trói?”
Lạt ma đeo kính kéo Hoàng tử Hương Ba đi nói: “Không diễn kịch với bọn chúng nữa, chúng ta đi.”
Tạng kịch tiếp tục biểu diễn: Vương tử Norzang xuất chinh xa xứ, lòng đố kỵ từ trong tâm năm trăm cung phi bước ra, bức bách Y Trác Lạp Mụ phải rời khỏi vương cung. Y Trác Lạp Mụ đau đớn tột cùng cất giọng ca:
Vị ngự trị trên hư không kia,
Phật pháp Tam bảo không lừa dối,
Xin hãy từ cõi trời trí tuệ,
Đoái hoài đến kẻ mệnh khổ như tôi.
Hai nam không hành đi về phía khán giả, trừng mắt nhìn Mai Tát rồi lao tới. Mai Tát thét chói tai một tiếng, chui vào đám đông liều mạng chen ra ngoài. Hai nam không hành dừng lại, cười lạnh lẽo.
Hoàng tử Hương Ba nói: “Sao các người có thể cho phép quấy rầy buổi biểu diễn thần thánh cơ chứ?”
Lạt ma đeo kính nói: “Đây là nét độc đáo khi biểu diễn vở ‘Vương tử Norzang’ ở tu viện Drepung Ganden Phodrang. Nó bắt nguồn từ câu chuyện thế này: Thuở ban đầu bảy vị Độ Mẫu mỗi vị đều có mười bốn cánh tay, mỗi một bàn tay cầm một chiếc ấm đồng, cộng lại chính là chín mươi tám chiếc ấm đồng. Trong ấm đồng đựng nước sông Hằng ở Ấn Độ. Họ đã tìm thấy bảy chiếc bồn ngọc tự nhiên bên bờ sông Qonggyai, một vị Độ Mẫu canh giữ một chiếc bồn ngọc, mỗi ngày đổ một ấm nước vào bồn. Mười bốn ngày sau, khi ấm nước cuối cùng được đổ xong, trong bảy chiếc bồn ngọc liền hiện lên bảy vị tiên nữ xinh đẹp. Họ tự xưng là bảy chị em ‘A Chị Lạp Mụ’, đến nhân gian dùng ca vũ và kịch nghệ để siêu độ linh hồn chúng sinh. Họ nói, chín mươi tám chiếc ấm đồng của chúng ta, chính là chín mươi tám vở Tạng kịch. Chúng ta muốn mỗi năm diễn một vở, diễn đến năm thứ chín mươi tám, trên chín mươi tám ngọn núi tuyết ở tuyết vực Tây Tạng, sẽ xuất hiện chín mươi tám dòng suối nước nóng Shambhala. Đó là nguồn cội niềm vui mà bảy vị Độ Mẫu mang đến cho nhân gian, những ai từng tắm qua suối nước nóng Shambhala, sẽ không bao giờ còn phiền muộn và khổ nạn nữa. Thế nhưng chín mươi tám dòng suối nước nóng Shambhala đã không xuất hiện, bởi vì ma quỷ đã đánh cắp hai chiếc ấm đồng, họ chỉ diễn được chín mươi sáu năm. Bảy chị em ‘A Chị Lạp Mụ’ lên đường tìm kiếm những chiếc ấm đồng đã mất, nhưng đi mãi không thấy về, từ đó bóng dáng của họ hoàn toàn biến mất trên đại địa Tây Tạng. Sự truy vấn của người đời sau là: Hai chiếc ấm đồng đó ở đâu? Hai vở kịch đó là gì? Bảy chị em ‘A Chị Lạp Mụ’ vì sao mà qua đời? Mà trong Tạng kịch, thường là hai chiếc ấm đồng cho đến nay vẫn mù mịt không hiện hình lại hóa hiện thành hai nam không hành trắng đen, đang truy tìm ma quỷ đã đánh cắp chúng, bởi vì đánh cắp chúng cũng đồng nghĩa với việc đánh cắp Tạng kịch và bảy chị em ‘A Chị Lạp Mụ’.”
Hoàng tử Hương Ba nói: "Hóa ra là thế, 'niềm tin của chín mươi mTám chiếc bình đồng' chính là chín mươi tám suối nước nóng Shambhala. Phải chăng điều này có nghĩa là, kho tàng của 'cửa ngõ thất độ mẫu' — 'pháp môn duy nhất', chính là chín mươi tám suối nước nóng Shambhala trên chín mươi tám ngọn núi tuyết? Nếu phải, chín mươi tám ngọn núi tuyết và chín mươi tám suối nước nóng Shambhala rốt cuộc ở đâu?"
Lạt ma kính mắt sáng rực mắt: "'Cửa ngõ thất độ mẫu'? Hôm nay là ngày gì mà lại có người nhắc đến nó. Tiếc là tu viện Drepung không biết kho tàng chính là chín mươi tám suối nước nóng Shambhala trên chín mươi tám ngọn núi tuyết, lại càng không biết chín mươi tám ngọn núi tuyết ở đâu, chín mươi tám suối nước nóng Shambhala ở đâu."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Có lẽ hai chiếc bình đồng bị đánh cắp sẽ cho chúng ta biết."
Lạt ma kính mắt nói: "Tiếc là không thể tìm lại được chúng nữa. Nhiều năm trước, một vị đại thành tựu giả của phái Cách Lỗ là Hùng Ba Lạp Lỗ đã nhận được sự chỉ điểm thân thiết từ Liên Hoa Sinh đại sư, tất cả những ai tìm kiếm hai chiếc bình đồng đều là vừa làm trộm vừa la làng."
Hoàng tử Hương Ba kinh ngạc nói: "Ý ông là chiếc bình đồng hóa hiện thành nam không hành, đang che đậy tai mắt để tự tìm kiếm chính mình? Việc này lại cần gì chứ? Bình đồng đâu phải là quỷ dữ, lại chẳng sợ bị người ta tìm thấy."
Lạt ma kính mắt ranh mãnh nheo mắt lại, nói: "Kẻ vừa làm trộm vừa la làng, đương nhiên không phải là bình đồng. Quỷ dữ căm ghét nhất vẫn là quỷ dữ, tạng hí của chúng ta, 'A Già Lạp Mụ' của bảy chị em, quả báo nhân quả mang đến cho người Tạng là điều không ai có thể dự đoán được. Trong vụ án thảm khốc năm xưa, lại là những kẻ nào đã làm sứ giả tử thần, La Sát đoạt mệnh đây?"
"Vụ án thảm khốc năm xưa? Tại sao lại gọi là vụ án thảm khốc năm xưa?"
"Truyền thuyết kể rằng có người đã phát hiện thi thể của 'A Già Lạp Mụ' thuộc bảy chị em ở Tang Dữ Ung Thố. Họ bị chặt đứt tay chân múa múa, cắt bỏ cổ họng ca hát. Tóc mai của họ bị nhổ trọc, đẫm máu, họ không còn tai nữa. Đáng tiếc hơn nữa là, mỗi người trong số họ đều bị khoét đi một đường kinh mạch huyệt vị, lần lượt là kinh mạch thông qua tâm luân, kinh mạch thông qua vị luân, kinh mạch thông qua phế luân, kinh mạch thông qua can luân, kinh mạch thông qua đởm luân, kinh mạch thông qua sinh dục luân, kinh mạch thông qua đỉnh luân."
Hoàng tử Hương Ba rùng mình nói: "Đây là phong cách mưu sát của 'điện huyết chú người tàng hình', ta đã từng kiến thức qua rồi."
Lạt ma kính mắt gật đầu nói: "Trong 'Địa Đức Mã Bảo Man' có ghi chép lại tình hình năm xưa. Một số tăng lữ cấp cao cho rằng tạng hí của Thang Đông Kiệt Bố đã làm lộ bí mật bên trong Phật giáo, nên đã đứng lên phản đối, lại còn âm mưu sát hại Thang Đông Kiệt Bố. Thang Đông Kiệt Bố trốn vào núi sâu tĩnh tu không ra, móng vuốt ma quái của vụ ám sát liền chĩa vào 'A Già Lạp Mụ' của bảy chị em."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Nói vậy, cũng có thể những tăng lữ cấp cao đó chính là con quỷ đã đánh cắp hai chiếc bình đồng? 'A Già Lạp Mụ' của bảy chị em đã tìm thấy bọn họ, muốn dùng sức đoạt lại bình đồng, nhưng lại gặp phải sự sát hại của bọn họ?"
Lạt ma kính mắt lắc đầu nói: "Ta chỉ muốn cho ngươi biết, ở vùng tuyết vực Tây Tạng, có hai loại bình đồng: Một loại là chín mươi sáu chiếc bình đồng đã biến thành tạng hí, loại đó không còn tác dụng lớn nữa, chỉ có thể dùng để nấu trà nấu sữa; một loại là hai chiếc bình đồng chưa biến thành tạng hí, loại đó cũng không có tác dụng lớn, trừ khi có người phát hiện ra đại dụng của chúng." Nói xong, ông ta có thâm ý liếc Hoàng tử Hương Ba một cái, đột nhiên nương theo người trên sân khấu hát lên:
Đỉnh đá giăng mắc lớp lớp lưới trời,
Ốc xoay chiều phải phù hộ hùng ưng cát tường.
Vừa hát, ông ta vừa rời khỏi Hoàng tử Hương Ba.
Hoàng tử Hương Ba không kìm lòng được mà đi theo. Bọn họ xuyên qua đám đông, bước ra khỏi khoảng sân lớn, dọc theo những bậc đá hẹp, đi về phía Đại điện Thố Khâm ở phía Tây Bắc.
Mai Tát thở hổn hển đuổi theo hỏi: "Sao anh không gọi em?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Đang định gọi em đây."
Mai Tát hỏi: "Đi đâu thế?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Nơi phụng thờ ốc xoay chiều."
5
Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát theo đuôi Lạt ma kính mắt đi đến trước Đại điện Thố Khâm. Tựa như chỉ để dẫn đường cho họ, vừa đặt chân lên quảng trường Thố Khâm lát bằng đá khối, Lạt ma kính mắt liền biến mất.
Hoàng tử Hương Ba chỉ vào Đại điện Thố Khâm tọa bắc triều nam nói: "Đây chính là trái tim của tu viện Drepung."
Mai Tát nhìn về phía trước, thấy những bậc đá dẫn vào đại điện đã bị mài mòn góc cạnh, rất nhiều hốc chân in hằn trên đó, sắc xanh tro cổ kính thể hiện sự trôi qua của thời gian, ánh nắng rải đều trên đó, không có bóng râm, trầm mặc như cái miệng lõm, linh hoạt như con mắt. Mà ở quảng trường trước bậc đá, trái phải dựng đứng hai cột kinh tráng kiện, đằng sau cột kinh bên trái dựng một đống củi khổng lồ, Lạt ma kính mắt đã biến mất ở phía sau hoặc bên trong đống củi đó.
Hoàng tử Hương Ba bước tới tìm kiếm, phát hiện trên đống củi có treo cà sa và tăng y mặc sát người của Lạt ma kính mắt, giật mình nghĩ: Lẽ nào ông ta cởi trần mà biến mất? Ngước nhìn những đám mây, tựa như Lạt ma kính mắt đã vũ hóa bay lên trời. Nhìn lại tăng y, liền thấy trên đó dùng phấn vẽ nhạt một chiếc bình đồng, nắp bình là một chiếc ốc xoay chiều màu trắng.
Anh gọi lớn: "Mai Tát mau qua đây xem."
Mai Tát lao tới, không kịp nhìn cái gì, kéo Hoàng tử Hương Ba chạy đi. Đống củi cao đúng lúc này đổ sụp xuống, những khúc gỗ thô to và khối rễ lần lượt rơi xuống, chôn vùi nơi Hoàng tử Hương Ba vừa đứng. Mấy tiếng hô vang truyền đến từ phía đống củi, chỉ thấy mấy vị lạt ma trẻ tuổi kẹp lấy Lạt ma kính mắt phi nước đại rời đi.
Hoàng tử Hương Ba chạy trốn đến cách đó mười mét, toàn thân run rẩy nói: "Bọn họ đã chuẩn bị từ trước, khoét rỗng phần bên dưới, nếu không đống củi lớn thế này mấy người đẩy không đổ. Điều không thể hiểu nổi là, Lạt ma kính mắt đã muốn hại ta, sao còn phải báo trước cho ta sự tồn tại của bình đồng?"
Mai Tát hỏi: "Bình đồng ở đâu?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Chính ở Đại điện Thố Khâm, dưới đáy ốc xoay chiều."
Họ đi lên theo bậc đá, đến dưới bức màn màu vàng đen, trong hành lang sáng với tám chiếc cột lớn. Hai lạt ma canh cửa cúi đầu đọc tụng những trang kinh dài trong ngực, liếc mắt cũng không thèm nhìn. Họ nhanh chóng bước qua ngưỡng cửa.
Trang trí hoa lệ ập đến như thủy triều, ánh đèn bơ và màu sắc của vật treo, thảm, thảm lót, vật cúng dường chất chồng nồng đậm, từng trận tiếng kinh vang dội văng vẳng quanh xà nhà, cộng thêm các bích họa như Thích Ca Mâu Ni bách hành chuyển đồ, Nhân gian hình thành đồ, Sinh tử luân hồi đồ..., Đại điện Thố Khâm đã đẩy sự ưa thích của tăng ni Phật tử đối với âm thanh sáng lóa đến cực hạn. "Thố Khâm" chính là đại pháp đường, nó là kinh đường có quy mô lớn nhất toàn khu Tạng và chắc chắn là lớn nhất thế giới, có thể chứa đồng thời tám nghìn lạt ma tụng kinh.
Họ vòng qua các trụ cột, đi về phía trước dọc theo lối đi bên phải, đi qua "Long Băng Khang" phụng thờ Long Băng thần tháp và linh tháp của Đạt Lai Lạt Ma đời thứ ba, đời thứ tư, Tạng vương Xích Liệt Gia Thố; đi qua tượng Văn Thù Bồ Tát cao lớn và Phật mẫu Đảnh Ký Bạch Tán Cái; đi qua Di Vượng Lạp Khang phụng thờ tượng Cường Ba Phật mạ vàng ở chính giữa hậu điện và Đôi Tùng Lạp Khang - ngôi thần miếu sớm nhất của tu viện Drepung. Hoàng tử Hương Ba đột nhiên dừng lại, bước vào Đôi Tùng Lạp Khang, chắp tay trước ngực, cúi đầu bái lạy tượng Tam thế Phật, Kim cương đại lực sĩ, Mã đầu minh vương và tượng Đạt Lai đời thứ ba cùng đệ tử bên trong.
Hoàng tử Hương Ba chỉ vào một chỗ ngồi được phủ gấm vàng nói: "Đây là nơi Đạt Lai Lạt Ma đời thứ ba Tác Lãng Gia Thố khi đảm nhiệm Xích Ba của tu viện Drepung từng ngồi thiền định tĩnh tu, em nhìn kỹ xem, có thể nhận ra điều gì?" Thấy Mai Tát lắc đầu, anh lại nói, "Em chẳng lẽ không nhìn ra nó có hình dáng của một chiếc bình đồng sao?"
Mai Tát nói: "Ạ, hơi giống đấy, sao anh biết được vậy?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Tu viện Drepung anh đã đến tám lần, trước kia vẫn thấy hình dáng chiếc ghế này rất đặc biệt, vừa rồi mới nghĩ ra nó chính là tạo hình của bình đồng cổ."
Mai Tát hỏi: "Tại sao tu viện Drepung lại có nhiều duyên phận với bình đồng thế?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Chắc chắn là một sự truyền thừa của Phật pháp, nhưng hiện tại vẫn chưa biết là loại Phật pháp nào, có quan hệ thế nào với kho tàng của 'cửa ngõ thất độ mẫu'. Anh chỉ biết Tông Khách Ba khi bế quan tĩnh tu tại 'Nhương Quỳnh Mã' của tu viện Drepung, bên người luôn mang theo một chiếc bình đồng, các đệ tử cứ mỗi tuần lại lấy bình đồng ra một lần, đổ đầy trà sữa rồi lại đưa vào trong."
Hai người đi đến phía đông Đại điện Thố Khâm, trước một cái hang nhỏ giống như nhà trình tường.
Hoàng tử Hương Ba nói: "Đây chính là 'Nhương Quỳnh Mã', Tông Khách Ba đại sư đã lưu lại thánh tích tĩnh tu khai ngộ ở đây, sau khi từ đây bước ra, ngài liền trở thành 'Phật Đà thứ hai' trong mắt người Tạng. Có thể nói chiếc bình đồng đã duy trì sinh mệnh của Tông Khách Ba, giúp ngài tu chứng đến cảnh giới cao nhất của Mật pháp. Các đệ tử của ngài mang ơn bình đồng, từ đó mà sùng kính bình đồng."
Hang núi nhỏ đến mức chỉ đủ một người ra vào, bên trong âm khí lạnh người, có thể tưởng tượng được vào thời điểm không có kiến trúc, xung quanh hoang vu lúc bấy giờ, việc tu hành của "Phật Đà thứ hai" gian nan và kiên định biết nhường nào.
Mai Tát muốn đi xuống xem thử, vừa cúi người xuống, liền nghe thấy một lạt ma hét lên: "Không được."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Không cần đi nữa, bình đồng của Tông Khách Ba không còn ở đây nữa."
Mai Tát hỏi: "Ở đâu?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Chiếc bình đồng này xuất hiện ở rất nhiều nơi, nhưng chắc chắn đều là mượn danh giả mạo. Điều bây giờ cần phải suy xét là, bình đồng của Tông Khách Ba có quan hệ gì với chiếc bình đồng bị mất của 'A Già Lạp Mụ' bảy chị em? Trong 'hướng dẫn thọ ký' của 'cửa ngõ thất độ mẫu', 'niềm tin của chín mươi tám chiếc bình đồng', có bao gồm chiếc bình đồng này không? 'A Già Lạp Mụ' bảy chị em đã bị người ta sát hại, sự truyền thừa của vụ sát hại cho đến nay vẫn còn tồn tại, bọn họ vẫn đang không ngừng lặp lại vụ án máu lịch sử, bọn họ là ai, em biết không?"
Mai Tát nói: "'Điện huyết chú người tàng hình'."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Càng có khả năng là Ô Kim Lạt ma, hoặc là sự đồng mưu có chủ ý hay vô ý của bọn họ. Ta đã được kiến thức những kẻ của 'điện huyết chú người tàng hình' rồi, bây giờ điều muốn biết nhất chính là Ô Kim Lạt ma ở đâu?"
Hai người đi về phía lầu ba Đại điện Thố Khâm, đến trước Phật điện Cường Ba Thông Chân.
Hoàng tử Hương Ba nói: "Ở đây có pho tượng đồng mạ vàng tỷ lệ bằng người thật lúc tám tuổi của chủ tôn tu viện Drepung — Cường Ba Phật. Nó do chính tay Tông Khách Ba khai quang, trong tất cả các pho Cường Ba Phật ở Tây Tạng, đây là tôn tượng có linh quang nhất, có thần thông lực nhất." Anh dẫn Mai Tát đến trước Cường Ba Phật, lại nói, "Cường Ba Phật chính là Di Lặc Phật, là vị Phật tương lai được Thích Ca Mâu Ni tiên tri, sẽ giáng lâm nhân gian Hoa Lâm viên của Kê Đầu thành, thành Phật dưới cây Long Hoa, chuyển động pháp luân, hoằng dương Phật pháp sau khi Thích Ca Mâu Ni diệt độ, qua bốn nghìn năm trên trời tức là năm tỷ sáu trăm bảy mươi triệu năm dưới nhân gian. Bởi vì ngài hiện tại vẫn đang ở Đâu Suất thiên cung chờ đợi hạ sinh, vẫn chưa thành Phật, là bồ tát kém Phật một bậc, thế nên ngài cũng là Bồ tát Di Lặc mang trang phục bồ tát. Bồ tát Di Lặc bụng phệ cười toe toét trong Phật giáo Hán truyền, chính là chuyển thế của Phật Di Lặc tương lai. Trong Phật giáo Tạng truyền, đãi ngộ của Phật Di Lặc càng được tôn sùng đặc biệt, nguyên nhân là thế giới Di Lặc tương lai tốt đẹp vô ngần, mọi người kỳ vọng Di Lặc sớm ngày hạ thế, nhanh chóng kết thúc khoảng thời gian thực tế dài đẵng đẵng và khổ cực này. Trong tự viện, Di Lặc đứng và ngồi trên ghế biểu thị thân phận bồ tát hiện tại của Di Lặc; mà trong Tam thế Phật đại diện cho quá khứ, hiện tại, tương lai, Di Lặc ngồi kiết già song hành, tóc ốc nhục kế lại đại diện cho thân phận tương lai thành Phật của Di Lặc."
Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát cùng nhau quỳ xuống, thành kính bái lạy, sau đó bước ra khỏi Phật điện Cường Ba Thông Chân, rảo bước đi về phía Phật đường phụng thờ ốc xoay chiều.
Hoàng tử Hương Ba nói: "Ốc xoay chiều là vật tín ngưỡng cao nhất của tu viện Drepung, cao hơn bất kỳ pho tượng Phật nào, được gọi là 'pháp khí báu vật trấn tự'. Năm xưa Thích Ca Mâu Ni đã đem chiếc vỏ ốc trời ban này tặng cho đại đệ tử Mục Kiền Liên, Mục Kiền Liên lại đem nó giấu vào kho pháp núi Vượng Nhĩ nơi người Tạng đầu đen tụ tập, tiên tri rằng sẽ có một vị thánh nhân đến đây xây chùa hoằng pháp, và khai quật được pháp loa (pháp la) làm lợi cho chúng sinh. Năm 1409 công nguyên, tông sư phái Cách Lỗ của Phật giáo Tạng truyền là Tông Khách Ba khởi xướng xây dựng ngôi tự viện phái Cách Lỗ đầu tiên ở địa phương Đạt Tắc Tây Tạng — tu viện Ganden, đánh dấu sự ra đời chính thức của phái Cách Lỗ. Cùng lúc xây chùa, dựa vào gợi ý trong điển tích, mộng báo của không hành và thần hộ pháp giáng thần, người ta đã khai quật được chiếc vỏ ốc này. Tông Khách Ba vô cùng trân trọng yêu quý, ngày ngày đảnh lễ, đợi đến khi nhân duyên chín muồi, liền ban nó cho đệ tử Giáng Ương Khúc Kiệt · Trát Tây Ban Đan, hy vọng ông xây một ngôi tự viện phái Cách Lỗ làm vật cúng dường. Thế là tu viện Drepung mọc lên từ mặt đất, ốc xoay chiều kỳ diệu từ đó trở thành bảo vật hàng đầu trong mắt tăng tục." Hoàng tử Hương Ba vừa nói, vừa siết chặt bả vai Mai Tát: "Nhìn kìa, ốc xoay chiều."
Ốc xoay chiều trải qua năm tháng lâu đời lóe lên ánh sáng cùn cũ, giống như sự hiện diện dưới đáy biển Himalaya cổ đại, phai đi sắc trắng, nổi lên màu tím nhạt, năm tháng và sự thần thánh đều có thể nhìn thấy được. Nhưng họ không phải đến để chiêm bái vỏ ốc, họ muốn biết bên dưới ốc xoay chiều là gì? Lạt ma kính mắt dùng phấn vẽ nhẹ một chiếc bình đồng trên tăng y, nắp bình là một chiếc ốc xoay chiều màu trắng, chẳng phải điều này có nghĩa là dưới vỏ ốc chính là bình đồng sao? Thế nhưng không có, không có bình đồng, chỉ có một hàng chữ màu đồng đỏ lấp lánh dưới vỏ ốc: Năng Nhân.
Mai Tát hỏi: "Năng Nhân là gì?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Đi mau."
Anh dẫn cô đến Giác Lạp Khang ở lầu bốn Đại điện Thố Khâm, mới nói cho cô biết: "Năng Nhân chính là Thích Ca Năng Nhân tức là Thích Ca Mâu Ni, Giác Lạp Khang chính là Thích Ca Phật điện tức là Năng Nhân điện."
Trong Năng Nhân điện phụng thờ tượng Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp, hai bên là mười ba tháp bạc. Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát trước tiên trân trừng nhìn tượng Thích Ca một hồi lâu, sau đó lần lượt quan sát từng tòa tháp bạc tinh xảo, không bắt được bất kỳ thông tin nào về bình đồng. Đang lúc liếc mắt nhìn quanh, đắn đo xem có nên sang đường La Hán bên cạnh xem La Hán và tượng báo thân của các đại hoặc Phật chính tu viện Drepung không, một nhóm du khách bước vào, trong điện đường lập tức trở nên náo nhiệt.
Mai Tát nhíu mày nói: "Ghét thật."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Phật tổ nói, 'Tự tịnh kỳ ý, thị chư Phật giáo'. Không phải người ta ồn ào, mà là lòng em không yên tĩnh." Sau đó giơ ngón trỏ lên, "Suỵt — nghe xem, em nghe thấy âm thanh gì không?"
Mai Tát lắng nghe: "Hình như là... pháp hiệu."
"Đằng sau pháp hiệu, âm hưởng to lớn không thể che giấu..."
"Thần vũ?"
"Không phải thần vũ là ca vũ."
Lúc này liền nghe thấy một du khách nói: "Các người nghe kìa, các lạt ma vậy mà lại hợp xướng thánh ca, sao lại giống Thiên Chúa giáo thế chứ?"
Hoàng tử Hương Ba chấn động tâm can: Tình ca Thương Ương Gia Thố? Kéo Mai Tát đến cửa sổ Năng Nhân điện. Gió đang thổi, tiếng hát cuồn cuộn kéo đến, rồi lại cuồn cuộn trôi đi, bỗng chốc biến mất. Lại nghe, ngoài pháp hiệu và tiếng gió gào thét ra, chẳng có gì cả. Thế nhưng ban nãy quả thực đã từng có tiếng hát, đó là tiếng hợp xướng những bài tình ca của Thương Ương Gia Thố.
Mai Tát thò đầu ra ngoài cửa sổ, lắng tai nghe ngóng: "Sao mà huyền bí thế nhỉ? Giống như một hồn ma, có vẻ như đã đến, lại có vẻ như chưa đến. Có lẽ đây chính là bước chân của kho tàng."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Không sai, là bước chân của kho tàng, nhẹ nhàng và uốn lượn như thế, giống như ánh mắt của người tình, rực rỡ trong sự vô sắc. Nghe đi, nghe đi, nghe thấy chưa?" Nương theo tiếng hát của các lạt ma, anh nhỏ giọng hát lên:
Cô nương vừa hé môi cười,
Đã ngoạm mất hồn cướp phách tôi,
Liệu có thể chân tình yêu mến,
Xin hãy thề một lời xem sao.
Mai Tát nhắm mắt lại, dùng sức lắng nghe một hồi, lắc đầu: "Không có đâu, chỉ có tiếng của anh thôi."
Hoàng tử Hương Ba say sưa nói: "Anh cảm giác âm thanh đó giống như thấm ra từ bức tường đá, một nỗi bi thương cổ xưa, đinh đinh đang đang trong nỗi sầu muộn. Tiếng hợp xướng kết thúc rồi, bây giờ là đơn ca, anh dám khẳng định đó là giọng ca gốc của Thương Ương Gia Thố. Nghe đi, dùng tâm mà nghe. A, anh biết rồi, em không có tim, ý anh là em không có một trái tim Thương Ương Gia Thố."
"Em là con gái, vốn dĩ nên không có trái tim Thương Ương Gia Thố chứ."
"Vậy thì nên có trái tim của người tình, trái tim của Ma Già A Mễ."
"Nhưng nó có quan hệ gì với 'cửa ngõ thất độ mẫu' chứ?"
"Thương Ương Gia Thố đã dẫn dắt chúng ta mở từng cánh cửa của 'cửa ngõ thất độ mẫu', bây giờ chúng ta cần phải làm rõ là, tại sao lại dẫn dắt chúng ta đến đây?"
"Đúng vậy, tại sao chứ?"
"Anh sẽ nói cho em biết, không, Thương Ương Gia Thố sẽ nói cho em biết." Hoàng tử Hương Ba phủ phục trên bệ cửa sổ, nghiêng tai lắng nghe, "Nghe kìa, vẫn là đơn ca." Anh nhỏ giọng hát:
Dẫu có mấy lần hoan hội,
Vẫn chẳng dò được nông sâu cô nương,
Chi bằng khoanh vòng trên đất,
Mới đo được sự gần xa của tinh tú.
Thấy vẻ sốt ruột của Mai Tát, anh lại nói: "Em đương nhiên không thể nghe ra câu chuyện đằng sau những khúc tình ca rồi, vẫn để anh trực tiếp nói cho em biết, tại sao Thương Ương Gia Thố lại đưa chúng ta đến đây."
6
Hoàng tử Hương Ba trầm mặc một lúc rồi nói: "Lần trước nói đến đâu rồi?"
Mai Tát nói: "Ở tu viện Tả Tp Lũn Bố (Tashilhunpo), Thương Ương Gia Thố từ chối thọ giới, sau đó quay về Lhasa, một nhóm các bà mẹ mất con khóc lóc tố cáo hắn trên đường phố Lhasa. Nhìn thấy Thương Ương Gia Thố vì mang lại nỗi đau vô tận cho người khác mà tự trách sâu sắc, đã rút một con dao Tạng từ trên người một người phụ nữ gầy gò ốm yếu, đâm một dao vào tim mình."
Hoàng tử Hương Ba gật đầu nói: "Lúc này, Nhiếp chính vương Tang Kết ở bên cạnh hắn kiên quyết chìa ra một cánh tay đỡ lấy mũi dao sắc bén. Thương Ương Gia Thố đâm thêm một dao nữa, nhát dao này đâm bị thương bả vai của chính hắn. Tang Kết ôm chặt lấy hắn. Những người phụ nữ đầm đìa nước mắt trước mặt hắn không kìm được mà khóc lớn: 'Mặt trời thần thánh ơi, ngài không thể chảy máu.' Con dao Tạng rơi xuống đất, chủ nhân của con dao Tạng là người phụ nữ gầy gò run lẩy bẩy nhặt lên, hầu như không do dự, đâm con dao Tạng thẳng vào cổ họng mình. Bà cảm thấy kẻ đâm bị thương Đạt Lai Lạt Ma không phải là chính hắn, mà là con dao Tạng của bà, bà và con dao Tạng của bà đều tội ác tày trời, bà phải dùng cái chết để chuộc tội. Bà đâm vừa chuẩn vừa ác, trong lúc ngã quỵ xuống đất, liền trút hơi thở cuối cùng. Thương Ương Gia Thố sợ đến mức mặt cắt không còn giọt máu, liên tục lùi về phía sau, sau đó khóc lớn, khóc lóc thảm thiết giống như những người phụ nữ trước mặt hắn. Hắn được đỡ lên lưng ngựa, vừa khóc vừa đi về phía trước, vừa hát vừa tiến bước:"
"Quả óc chó, có thể đập ra ăn,
Quả đào, có thể nhai để ăn,
Năm nay táo chua đầy đất,
Thật sự là không có cách nào ăn nổi."
"Khi Thương Ương Gia Thố đi ngang qua tu viện Drepung, đã được các lạt ma nghe tin vội vã chạy đến đón lấy: 'Tôn giả trên người ngài có thương tích, ngài cần được điều trị, chúng tôi có y thánh chữa khỏi bách bệnh, là hóa thân của đại dược vương nổi danh khắp Tây Tạng.'"
"Đây là lần đầu tiên Đạt Lai Lạt Ma đời thứ sáu Thương Ương Gia Thố đến tu viện Drepung. Các lạt ma đã đón hắn vào đạo tràng Mật tông được niêm phong nghiêm ngặt Aba Tratsang, bởi vì y thánh chữa khỏi bách bệnh chính là Khám bố trưởng của Aba Tratsang. Y thuật thần kỳ của y thánh khiến vết thương do dao chém của Thương Ương Gia Thố chỉ năm ngày đã liền sẹo. Ngay trong năm ngày này, Nhiếp chính vương Tang Kết đã có một cuộc nói chuyện vô cùng quan trọng với Thương Ương Gia Thố. Tang Kết nói với Thương Ương Gia Thố: 'Ngài không chịu giới tăng lữ, nhưng lại chịu giới thần tiên thiên, chịu giới thần tiên thiên ngài mới có thể trở thành chuyển thế của Đạt Lai Lạt Ma đời trước. Là giáo chủ chuyển thế, ngài nên biết sự tồn vong của phái Cách Lỗ là trên hết, vì điều này, tất cả tăng lữ phái Cách Lỗ đều có thể hy sinh tính mạng.' Thương Ương Gia Thố nói: 'Bắt tôi hy sinh tính mạng, được, bắt tôi từ bỏ tình cảm, không được.' Nhiếp chính vương quỳ xuống nói: 'Ngài không thể như vậy thưa Tôn giả, phái Cách Lỗ là của ngài, vùng đất Tạng là của ngài, chúng sinh là của ngài, ta chẳng qua chỉ đang quản lý thay ngài. Nếu ngài không nghe lời ta, ta sẽ giao quyền lực của Nhiếp chính vương cho ngài.' Đối với Thương Ương Gia Thố mà nói, điều này hầu như giống như dùng dao ép hắn, hắn sợ hãi. Hắn không sợ cái chết, mà sợ quyền lực, sợ bản thân nắm giữ quyền lực. Hắn run lẩy bẩy rời khỏi Nhiếp chính vương Tang Kết vẫn đang quỳ gối không đứng dậy, lẩm bẩm nói: 'Vậy cứ thế đi, các người ép thế nào, ta liền làm thế nào, dù sao không đợi ta chết, ta tuyệt đối không được tự do.' Đột nhiên hắn hô lên với sự cuồng phóng của một nhà thơ, 'Nhưng ta có linh hồn, linh hồn ơi, linh hồn thuộc về Ma Già A Mễ ngài hãy bay đi, bay đi, bay đến những vùng núi hoang dã ngoài Lhasa mà đi thôi!'"
Thương Ương Gia Thố không rời khỏi tu viện Drepung ngay lập tức, có vẻ như sự bố trí khoáng đạt với độ chênh lệch nhỏ của các điện đường sân viện trong tu viện Drepung khiến hắn thấy thoải mái hơn so với sự cao chọc trời của Potala. Kinh sư đại lạt ma Khúc Giới và cao tăng phái Ninh Ma Cửu Mễ Đa Tiệp hoạt Phật từ Potala vội vã đến giảng kinh cho hắn. Hắn dùng sự yên lặng cực độ khi nhắm mắt nghe giảng để chào đón họ, khiến hai vị kinh sư có chút kinh ngạc: Sao đột nhiên lại trở nên bất động như vậy, giống như pháp tướng tĩnh sâu của Bất động Kim cương? Buổi giảng kinh tiếp tục diễn ra, giảng về kinh điển Hiển giáo 'Dựa vào kinh giáo' và 'Pháp Hoa kinh'. Một tuần trôi qua, có một ngày, trong thời gian mặc niệm ngẫm nghĩ, Khúc Giới đột nhiên nghe thấy một câu kinh chú mà ông chưa từng giảng dạy. Câu kinh chú phát ra từ miệng Thương Ương Gia Thố, giống như đôi cánh của chim cu cúc uyển chuyển lướt về phía bầu trời ngoài cửa sổ. Ông không kìm được mà giật mình thon thót: Sao lại là nó? Vội vàng bàn bạc với Cửu Mễ Đa Tiệp, cũng để Cửu Mễ Đa Tiệp lắng tai nghe. Lần này, trốn sau bức màn trụ, họ nghe càng rõ ràng hơn, đó là ba chú thân, ngữ, ý của Đại tịch tĩnh độ mẫu: Úm đạt nhiệt đô đạt nhiệt đô nhiệt tác ha. Họ kinh ngạc vén màn trụ, đi đến trước mặt Thương Ương Gia Thố.
"Khúc Giớiụp một tiếng quỳ xuống, nghiêm khắc nói: 'Tôn giả là Đạt Lai Lạt Ma, chúng tôi không tiện quản thúc nghiêm ngặt, nhưng hành động hiện tại của ngài liên quan đến tính mạng của chúng tôi, chúng tôi không thể không hỏi đến.' Phải đấy, phải đấy. Hoạt Phật Cửu Mễ Đa Tiệp cũng quỳ xuống, dập một cái đầu nói, 'Tôi là một tăng lữ Ninh Ma Ba, tôi gánh không nổi trách nhiệm khiến phái Cách Lỗ vong giáo diệt môn.' Thương Ương Gia Thố chậm chạp mở mắt ra, như muốn nói: 'Chuyện gì chứ, cứ hỏi đi.' Khúc Giới nói: 'Ngài đã có bổn tôn rồi, chính là Đại tịch tĩnh độ mẫu của phái Ninh Ma, ai quán đảnh cho ngài?'"
Bổn tôn là pháp yếu tu luyện của Mật tông, là đại thần chiếm lĩnh đông tây nam bắc trung của đàn thành, nó thống trị cảnh giới tu luyện và linh hồn của người tu luyện, nó khiến quán tưởng trở nên có hình có sắc, có căn có cội, mà lại thăng hoa lên cảnh giới Diệu Cao Thiên, vừa chân vừa ảo. Ý của Khúc Giới là, theo thiết luật của phái Cách Lỗ, người chưa tu luyện hệ thống kinh điển Hiển giáo tuyệt đối không được học tu Mật tông, ngài bây giờ Hiển giáo mới nhập môn không lâu, sao đã có pháp yếu tu luyện Mật tông rồi? Tu luyện Mật tông cần sư phụ quán đảnh tức là trao quyền, sư phụ nào đã trao quyền cho ngài? Hơn nữa Đại tịch tĩnh độ mẫu lại là bổn tôn Mật giáo của phái Ninh Ma, là trụ cột ý niệm dùng để nam nữ song tu, mà Đạt Lai Lạt Ma với tư cách là lãnh tụ phái Cách Lỗ, chỉ có thể chọn bổn tôn của phái Cách Lỗ, ví dụ như Đại úy uy đức phó úy kim cương được phụng thờ ở Aba Tratsang. Nếu đổi sang tu bổn tôn phái khác, đó chính là hành vi phản giáo, là phải đuổi khỏi môn phái.
"Thương Ương Gia Thố không trả lời. Nhưng Khúc Giới lập tức hiểu ra: 'Chắc chắn là sư phụ phái Ninh Ma Tiêu Thu Đan, hắn vẫn luôn đi theo Tôn giả, từ thôn Na Mẫu Tố Na theo đến Lhasa, hiện giờ hắn ở đâu?' Câu hỏi này khiến Thương Ương Gia Thố đột ngột ngẩng đầu lên: Phải rồi, hiện giờ hắn ở đâu? Đã rất lâu không thấy rồi. Tiêu Thu Đan là sư phụ khải minh Mật pháp của hắn, càng là cái bóng của Ma Già A Mễ, cái bóng đi theo cái thân, điều duy nhất Tiêu Thu Đan phải làm, chính là đi khắp chân trời góc bể để tìm kiếm Ma Già A Mễ. Một tia hy vọng trỗi dậy trong lòng Thương Ương Gia Thố: Trên thế giới này, rốt cuộc vẫn có một người, nghĩ điều hắn nghĩ, làm điều hắn làm. Hắn đứng dậy, nói với hai vị kinh sư rằng hắn muốn đi dạo trong thành Lhasa. Khúc Giới và Cửu Mễ Đa Tiệp không cho hắn đi, ôm chặt lấy hắn không buông. Hắn giãy giụa chạy ra ngoài, hai vị kinh sư già nua lảo đảo đuổi theo ra ngoài. Lúc này Khám bố trưởng của Aba Tratsang, y thánh chữa khỏi bách bệnh xuất hiện, ngăn hai vị kinh sư lại nói: 'Cứ để ngài ấy đi đi, ta đã nhìn thấy mạch pháp Mật tông kiếp trước của ngài ấy rồi, Liên Hoa Sinh đại sư vĩ đại và bất diệt đã trở thành Thương Ương Gia Thố ngày hôm nay, vì sự kéo dài của thánh giáo ngài nhất định phải gánh chịu tất cả khổ nạn của Tây Tạng. Ma Già A Mễ là sự dẫn dắt khổ nạn của ngài ấy, tất cả các Phật mẫu nhân gian một phần là sự dẫn dắt thể xác của ngài ấy, một phần là sự dẫn dắt tinh thần của ngài ấy.' Đại khái âm lượng của y thánh già quá mức sung mãn, hoặc là gió Vấn Tang đã mang lời nhắn gửi đi, Thương Ương Gia Thố chạy đã rất xa nghe thấy vậy, đột nhiên quay lại, cung kính đứng trước mặt y thánh nói: 'Tôn giả kính yêu, tất cả mọi người đều nói ta phản giáo, phản giáo, phản giáo, tại sao ngài lại nói ta là vì thánh giáo?' Y thánh mỉm cười, vẫy tay về phía hắn, cung kính nói: 'Tôn giả vĩ đại ngài đi đi, chỉ khi bước vào tâm hồn ngài, ngài mới là lữ khách tự do, chỉ khi đi về phía chúng sinh của ngài, ngài mới là biển lớn bao la (Đạt Lai).'"
"Thương Ương Gia Thố dẫn theo lạt ma thị vệ Đỉnh Khâm cưỡi ngựa rời khỏi tu viện Drepung, đi đến Xung Tế Khang gần Đại Chiêu Tự. Hắn đã gặp Ưng Kim mà hắn từng tặng vòng cổ mã não, gặp Lặc Tông mà hắn từng tặng trang sức vàng, gặp Đạt Oa mà hắn từng tặng dao tạng hoa mỹ, gặp Lạp Mao mà hắn từng tặng đai lưng lụa, gặp Tang Mỗ cô gái đẹp nhất Tông Giác Lộc Khang, gặp Khúc Trân cô gái nóng bỏng nhất, gặp tất cả các nữ chủ quán từng cho hắn uống rượu, giữ hắn qua đêm. Hắn ôm các cô, ôm tất cả những cô gái quen thuộc, gọi từng cái tên một: 'Ma Già A Mễ, Ma Già A Mễ, em chính là Ma Già A Mễ, tất cả các cô gái đều là Ma Già A Mễ.' Hắn lại trở về rồi, hắn là thanh niên phong trần đến từ Môn Dư Tố Na, là thiên mã bay lượn trên không, là lạt ma đa tình quen chịu tự do nơi núi hoang chùa Ba Tang, là vị hoàng tử tuấn tú yêu các cô gái đến chết đi sống lại mà cũng bị các cô gái yêu đến chết đi sống lại. Ánh mắt vui mừng của các cô gái nói cho hắn biết: Đằng Tang Vượng Bù đến từ bụng quỷ nữ này, chính là tình thánh của toàn bộ Tây Tạng." Hắn không kìm lòng được mà hát lên:
"Khi ở trong cung Potala,
Là lạt ma Thương Ương Gia Thố,
Khi đến đường phố Lhasa,
Là lãng tử Đằng Tang Vượng Bù."
"Hắn lại hát rằng:
Cô nương là sẽ không chết,
Mỹ tửu là uống không hết,
Hy vọng cả đời của ta,
Đều gửi gắm trọn ở đây."
"Hắn còn hát rằng:
Nếu đem nỗi lòng tương tư,
Dùng vào tu hành học pháp,
Thì ngay trong kiếp này,
Nhất định tu thành bồ tát."
Nhiếp chính vương Tang Kết biết được tung tích của hắn, lập tức phái người mời hắn về cung Potala, hắn không tuân theo, đành phái binh đến bắt cóc. Binh lính Tạng bắt cóc Thương Ương Gia Thố đến dưới chân cung Potala, nhìn thấy rất nhiều tăng quan lớn và tục quan lớn đều đến đảnh lễ nghênh đón, mới biết rằng họ đã bắt cóc Đạt Lai Lạt Ma đời thứ sáu, từng người một lăn lộn xuống đất, thấp giọng cầu xin, không biết chết hay sống tốt hơn. Thương Ương Gia Thố mặc kệ những tăng quan và tục quan đó, từ trong sợi thừng chìa ra một bàn tay, xoa đỉnh đầu cho mấy tên lính Tạng ở gần, hiền hòa gật đầu, bảo bọn họ, không sao đâu, chẳng phải chỉ là trói Đạt Lai Lạt Ma thôi sao? Đạt Lai Lạt Ma cũng chỉ là một thân xác phàm tục gân cốt, mang theo thất tình lục xúy, chẳng có gì khác biệt so với bất kỳ ai mà bọn họ từng trói lúc bình thường. Sau đó, từ chối các quan chức đến cởi trói cho mình, bước lên những bậc thềm của cung Potala.
Ngay ngày hôm nay, tại tẩm cung của Thương Ương Gia Thố là điện Đức Đan Cát thuộc cung Potala, trước mặt Nhiếp chính vương Tang Kết và kinh sư Khúc Giới lạt ma, hoạt Phật Cửu Mễ Đa Tiệp, Thương Ương Gia Thố nói với hai vị lạt ma đang run lẩy bẩy cởi trói cho mình: 'Sợi thừng trói ta thuộc về ta, con dao cắt đứt sợi thừng cũng thuộc về ta, đưa đây, đưa đây.' Hắn lấy được sợi thừng và con dao, bình tĩnh nói với Nhiếp chính vương Tang Kết: 'Ngươi là sư phụ của ta, ngươi nói cho ta biết, ta nên dùng thừng treo cổ, hay dùng dao đâm chết?' Tang Kết nói: 'Tôn giả, ngài mà chết, ta cũng sẽ không sống nữa.' Thương Ương Gia Thố nói: 'Vậy là ngươi hy vọng ta sống tiếp rồi? Nhưng sao ta có thể sống theo tâm nguyện của ngươi? Ta phải sống theo tâm nguyện của chính mình, nếu không cho phép, chi bằng chết, chi bằng chết.' Sắc mặt Nhiếp chính vương Tang Kết đại biến, run rẩy nói: 'Tôn giả, sao ngài lại không cân nhắc hoàn cảnh của ta chứ? Ngài ép ta thế này, ta còn có thể nói gì nữa? Tây Tạng đáng thương, chúng sinh đáng thương, hãy nhìn Thần vương của các ngươi xem, sao ngài ấy lại thế này.' Nói xong, che mặt khóc lóc, lảo đảo bước ra ngoài.
Đêm hôm đó, Đạt Lai Lạt Ma đời thứ sáu Thương Ương Gia Thố quả nhiên treo cổ tự tử, nhưng không thành. Lạt ma thị vệ Đỉnh Khâm canh gác ngoài cửa tẩm cung, thỉnh thoảng lại ngó vào bên trong, chủ nhân vừa quàng sợi thừng vào cổ, hắn liền lao vào. Lập tức báo cáo lên Nhiếp chính vương Tang Kết, Tang Kết thở dài thườn thượt, tức giận tự tát mình một cái rồi nói: 'Vậy thì chiều theo ngài ấy đi, chỉ có thể như thế thôi.' Từ đó không còn quản thúc nghiêm ngặt nữa. Thương Ương Gia Thố dùng việc treo cổ tự tử để tranh thủ cho mình một khoảng thời gian tự do, ban ngày hắn tu luyện Mật tông, ban đêm lang thang trong các quán rượu, nhà của dân nữ. Hắn đeo nhẫn đá quý, để tóc xõa ngang vai, mỗi ngày đều có rượu ngon, mỗi ngày đều hát ca khúc mới, hoa đào nở rộ, hỏi liễu chốn đồng quê, mặc cho bản tính tự do rong ruổi giữa đôi bên tình tứ, đóng vai đại vương tình ca, công tử phong lưu, người tình đại chúng. Đến sau này, cuối cùng thậm chí còn mặc trang phục thường ngày bằng lụa là hoa lệ vào cung Potala. Lúc này tin tức truyền đến: Có người tìm thấy thi thể của Ma Già A Mễ và đứa trẻ. Thương Ương Gia Thố nghe xong ngửa mặt cười lớn: 'Cô ấy vẫn còn sống, sao lại có thi thể được?' Kinh sư Khúc Giới hỏi: 'Sao ngài biết cô ấy vẫn còn sống?' Hắn nói: 'Mật pháp đã nói cho ta biết, bổn tôn đã nói cho ta biết.' Hắn kiên định tin rằng Ma Già A Mễ chưa chết, kiên định tin rằng sự chờ đợi của mình sẽ có kết quả sáng bừng trời trong một ngày cỏ mới hoa tươi nhìn thấy khi quán tưởng bổn tôn.
Quả thực là cỏ mới hoa tươi, ngày hôm trước vừa đổ một trận mưa, sau đó liền xanh biếc một màu. Ánh nắng trong vắt trút xuống như thác đổ, tất cả những nụ hoa đều nở, tất cả màu sắc xanh tươi đều ngọc ngà rực rỡ. Nhưng đối với Thương Ương Gia Thố mà nói, số phận lại không phải là ơn huệ sáng bừng trời. Hắn đứng bên cửa sổ điện Đức Đan Cát, nhìn xa về phía khung cảnh ruộng đồng đẹp đẽ nối liền bầu trời ở thung lũng sông Lhasa, đột nhiên nhìn thấy trước thôn Tuyết rất gần cung Potala, có rất nhiều người đang tụ tập. Bản tính hắn thích náo nhiệt, liền muốn đi xem thử. Lạt ma thị vệ Đỉnh Khâm đi sát theo hắn, hết lần này đến lần khác khuyên nhủ: 'Chủ nhân, ngài đừng đi nữa, đừng đi nữa.' Thương Ương Gia Thố há lại là người mà thị vệ có thể ngăn cản, phi thân chạy xuống bậc thang, chạy về phía thôn Tuyết, chạy về phía một cảnh tượng thảm thương không nỡ nhìn. Đầu tiên hắn nhìn thấy Dạ Xoa một mắt và Dạ Xoa sứt môi, hai tên Mặc Trúc huyết tế sư vẫn luôn truy sát Ma Già A Mễ hôm nay trông vô cùng oai phong lẫm liệt, chúng cầm dao trong tay, ngẩng đầu ưỡn ngực, giống như Năng Ngu Mẫu và Năng Úy Mẫu vậy, mỗi tên giẫm một người dưới chân. Điểm khác biệt là, dưới chân Dạ Xoa một mắt là một người phụ nữ, dưới chân Dạ Xoa sứt môi là một bé gái chưa đầy một tuổi. Chúng đối mặt với đám đông, đang dữ tợn cười lắng nghe một vị sĩ quan quân đội Tạng tuyên bố. Ý của lời tuyên bố là người phụ nữ này và đứa bé gái này đã mạo phạm thần linh, sỉ nhục Đạt Lai Lạt Ma thần thánh, lại phạm vào các tội cực ác ở nhân gian như dâm dục, tham lam, lừa dối, phỉnh gạt, vô sỉ v.v., cho nên bọn chúng đáng phải chết. Nói xong liền bắt đầu ra tay, Dạ Xoa một mắt và Dạ Xoa sứt môi đồng thời đâm dao vào tim người phụ nữ và bé gái. Bọn họ không phản kháng, thậm chí cũng không giãy giụa, đặc biệt là người phụ nữ, cô nghiêng mặt nhìn Thương Ương Gia Thố đang liều mạng chen chúc từ trong đám đông ra, lẩm bẩm gọi tên hắn, sau đó hộc máu ra mà chết. Thương Ương Gia Thố lao tới, nhưng lại không lao đến gần được, thét lên thảm thiết, ngất xỉu tại chỗ. Ma Già A Mễ, Ma Già A Mễ, cuối cùng hắn đã gặp lại Ma Già A Mễ, lại là một kết cục thảm thương đến mức khiến người ta ngất lịm.
"Trong những người có mặt, có người quan tâm đến người đã khuất, cũng có người quan tâm đến Thương Ương Gia Thố, bọn họ từ thái độ của Thương Ương Gia Thố biết rằng, lần này không phải giết nhầm người vô tội, kẻ chết dưới dao búa hẳn là Ma Già A Mễ thực sự và đứa con của cô ấy. Mật thám của thủ lĩnh bộ tộc Chuẩn Cáp Nhĩ Tân Cương Tắc Vượng A Lạp Bố Thản vẫn luôn âm thầm thăm dò Ma Già A Mễ, lặng lẽ rời đi; nhãn tuyến của thủ lĩnh bộ tộc Hòa Thạc Đặc Mông Cổ Lạp Tạng Hãn, lặng lẽ rời đi; phái viên của đại quản gia Pháp vương Tát Gia Bát Tư Vượng Thu, lặng lẽ rời đi; tùy tùng của nhân vật cốt cán phái Cát Ma Cát Cử Cát Ma Châu Cổ, lặng lẽ rời đi; lạt ma của 'điện huyết chú người tàng hình' đang âm thầm giám sát những người này, lặng lẽ rời đi. Bọn họ đều đi báo cáo những gì nhìn thấy nghe được cho chủ nhân của mình. Hai tên Mặc Trúc huyết tế sư Dạ Xoa một mắt và Dạ Xoa sứt môi dường như sợ người ta trả thù, chớp mắt đã biến mất không dấu vết. Mấy tên lính Tạng dùng tấm nỉ cuộn hai cỗ thi thể đi. Thương Ương Gia Thố vẫn đang hôn mê. Lạt ma thị vệ Đỉnh Khâm vừa khóc vừa gọi: 'Chủ nhân, chủ nhân.'"
"Cái chết công khai của Ma Già A Mễ và đứa con của cô ấy, rõ ràng là ý của 'điện huyết chú người tàng hình'. Bọn họ muốn tất cả các âm mưu chính trị tôn giáo xoay quanh Ma Già A Mễ và đứa trẻ đều ngừng lại, cũng muốn để Thương Ương Gia Thố hiểu rằng, tất cả những người phụ nữ giao hợp với hắn và sinh con đều sẽ có kết cục này. Ngươi là Đạt Lai Lạt Ma hóa thân của lòng trắc ẩn, ngươi nên lập tức chấm dứt sự qua lại giữa ngươi và các cô gái. Nhưng 'điện huyết chú người tàng hình' không ngờ rằng, chính từ ngày hôm nay, tình hình Tây Tạng đã nhen nhóm những thay đổi mới. Đầu tiên là lập trường của thủ lĩnh bộ tộc Chuẩn Cáp Nhĩ Tân Cương Tắc Vượng A Lạp Bố Thản đột ngột thay đổi, ông ta cho rằng Ma Già A Mễ đã chết, chiến lược dùng cô làm mồi nh dụ, lôi kéo và khống chế Thương Ương Gia Thố đã thất bại, chi bằng quay sang phản đối Thương Ương Gia Thố. Ông ta liên tiếp dâng sấu lên triều đình tội trạng Nhiếp chính vương Tang Kết dung túng cho Đạt Lai phóng túng, tuyên bố: 'Nhiếp chính vương gian trá, Đạt Lai mới là giả.' Tiếp theo, thủ lĩnh bộ tộc Hòa Thạc Đặc Mông Cổ giám sát Tây Tạng Lạp Tạng Hãn cũng cấp tấu lên triều đình: 'Đạt Lai Lạt Ma đời thứ sáu vi phạm thệ nguyện tu đạo, hành vi phóng túng, đều do Nhiếp chính vương xui giục mà thành, người Mông Cổ chúng ta sùng tín Hoàng giáo đều thấy xấu hổ khi đến bái kiến', hy vọng triều đình trị tội Nhiếp chính vương, và phế truất Đạt Lai giả, nhanh chóng lập Đạt Lai mới. Hai thế lực chính trị và quân sự đã như vậy, Bát Tư Vượng Thu của phái Tát Gia cho rằng cơ hội không thể mất, nhanh chóng ngả về phía thủ lĩnh bộ tộc Hòa Thạc Đặc Lạp Tạng Hãn và thủ lĩnh bộ tộc Chuẩn Cáp Nhĩ Tắc Vượng A Lạp Bố Thản, đổ thêm dầu vào lửa cho việc phế cũ lập mới, thậm chí còn bày tỏ linh đồng có thể chuyển thế, cũng có thể thế tập, càng có thể chuyển thế rồi lại thế tập, rốt cuộc làm thế nào, ai là Pháp vương thì người đó quyết định? Nói cách khác, phái Tát Gia kiên trì chế độ thế tập, từ sớm đã chuẩn bị sẵn sàng cho việc sản sinh ra linh đồng mới. Mà Cát Ma Châu Cổ của phái Cát Ma Cát Cử lại phát động tăng lữ bổn phái tung tin khắp nơi: Nhiếp chính vương Tang Kết không hề che giấu việc tang tóc, Đạt Lai Lạt Ma đời thứ năm viên tịch chưa qua năm năm, linh đồng chuyển thế vẫn đang chờ tìm kiếm. Đồng thời lại tung tin, kẻ có tính cách dị biệt đã ra đời, sinh ra vào ngày thứ ba đã nói: 'Ái chà, 《Thủy Tinh Bảo Giám》 của ta đâu rồi?' Sinh ra vào ngày thứ năm đã nói: 'Ta muốn xem 《Hằng Hà Thủy Lưu》 của ta, các ngươi mang tới đây cho ta.' Sinh ra vào ngày thứ bảy lại nói: '《Tiếng hót chim cu cúc》 của ta đặt ngay trên án thư Sư tử rống Văn Thù của ta.' 《Thủy Tinh Bảo Giám》, 《Hằng Hà Thủy Lưu》, 《Tiếng hót chim cu cúc》 đều là tác phẩm của Đạt Lai Lạt Ma đời thứ năm, nếu hắn không phải là chuyển thế của Đạt Lai Lạt Ma đời thứ năm sao sinh ra chưa đến mười ngày lại có thể nói ra những lời này?"
Bây giờ, điều quan trọng là triều đình, là thái độ của Khang Hi hoàng đế. Bởi vì che giấu việc tang không báo và tự ý tôn lập Thương Ương Gia Thố làm Đạt Lai mới, Khang Hi hoàng đế vô cùng bất mãn với Nhiếp chính vương Tang Kết. Nhưng Khang Hi cũng nhìn thấu dã tâm khống chế Tây Tạng của Lạp Tạng Hãn và Tắc Vượng A Lạp Bố Thản, biết rằng việc phế lập Thương Ương Gia Thố liên quan đến vận mệnh của Tây Tạng, hoặc là hòa bình, hoặc là chiến tranh. Ngài một cách sáng suốt áp dụng thái độ điều hòa, ban chiếu chỉ xuống: Thương Ương Gia Thố với tư cách là Đạt Lai Lạt Ma là thật hay giả, triều đình sẽ cử sứ giả chữ vàng tinh thông tướng số, xét soi tường tận đến kiểm tra, sau khi kiểm tra quả nhiên như tấu sớ, rồi xét xử cũng chưa muộn.
"Sứ giả chữ vàng thong thả đi tới, Lạp Tạng Hãn phái yếu nhân đợi ở Nagqu miền bắc Tây Tạng, Tắc Vượng A Lạp Bố Thản cũng phái yếu nhân đợi ở Qamdo, bọn họ mang theo trọng lễ, bề ngoài là nghênh đón, thực chất là hối lộ. Nhiếp chính vương Tang Kết cũng phái mỗi bên năm quan chức tăng tục đợi ở Damxung, chỉ mang theo khăn Ha-đa và thức ăn cần thiết, lại để 'điện huyết chú người tàng hình' thông qua mật đạo vô hình, với tốc độ nhanh nhất đi thẳng đến Thanh Hải Hồ nơi có thể nhìn thấy sứ giả chữ vàng sớm nhất. Đây là khoảng hai tháng chờ đợi trong tâm trạng như ngồi trên đống lửa, tất cả mọi người đều hiểu rõ, Thương Ương Gia Thố rốt cuộc có phải là Đạt Lai thật hay không, hoàn toàn nằm ở một câu nói của sứ giả chữ vàng. Ông ta nói phải, thì chính là phải, ông ta nói không phải, trong chớp mắt sẽ trời lở đất rung, rơi đầu rụng máu. Người lo lắng nhất đương nhiên vẫn là Nhiếp chính vương Tang Kết, ông ta biết một khi Thương Ương Gia Thố bị phủ nhận, thứ sụp đổ ầm ầm còn có ông ta với tư cách là Nhiếp chính vương, còn có cả vương triều Gaden Phodrang, còn có tất cả các cao tăng và tự viện phái Cách Lỗ, còn có địa vị và lợi ích của phái Cách Lỗ trên toàn bộ vùng đất Tạng. Ông ta đến điện Đức Đan Cát cung Potala, tường tận trần tình với Thương Ương Gia Thố cục diện hiện tại và nguy cơ đang đối mặt. Thương Ương Gia Thố đờ đẫn thừ người, lẩm bẩm nói: 'Giá như Ma Già A Mễ còn sống thì tốt biết mấy, giá như ta không phải là Đạt Lai Lạt Ma thì tốt biết mấy, giá như bọn họ đều là Phật đồ chuyên tâm niệm kinh thì tốt biết mấy.' Vừa nói vừa hát lên, dường như tiếng hát có thể bày tỏ bản thân tốt hơn là lời nói:
Mây đen viền vàng lòng đen,
Là căn nguyên sinh ra mưa đá,
Người xuất gia không tăng không tục,
Là mầm họa của thánh giáo Phật pháp.
Hai chữ 'không tăng không tục' ở đây không biết là đang nói về chính hắn, hay là những kẻ tin theo đạo giáo lòng đầy dục vọng quyền lực, hở một tí là động đao động binh. Lại hát rằng:
Hộ pháp kim cương có thệ nguyện,
Ngự trị pháp giới thập địa,
Nếu có thần thông pháp lực,
Xin hãy tiêu diệt kẻ thù của Phật giáo."
Khi mùa thu đến, sứ giả chữ vàng do Khang Hi hoàng đế phái đến đã đến nơi. Nhiếp chính vương Tang Kết dự cảm điềm gở đã chuyển dời Thương Ương Gia Thố đến đạo tràng Mật tông được niêm phong nghiêm ngặt của tu viện Drepung là Aba Tratsang, bảo hắn, ngày mai chính là ngày sứ giả chữ vàng kiểm tra, ngươi ở đây niệm kinh cho tốt, toàn thể lạt ma tu viện Drepung sẽ thức trắng đêm cầu nguyện vận may cho ngươi, ta và toàn thể lạt ma cung Potala cũng sẽ cầu nguyện vận may cho ngươi. Nhìn bóng lưng vội vã rời đi của Nhiếp chính vương, Thương Ương Gia Thố nghẹn ngào một tiếng, nước mắt trào ra như suối: 'Xin lỗi ngài nhé sư phụ, ngài gánh vác cho ta quá nhiều, quá nhiều rồi.'
"Ngày hôm thứ hai, Nhiếp chính vương Tang Kết trực tiếp dẫn người, đón Thương Ương Gia Thố rời khỏi tu viện Drepung. Sứ giả chữ vàng đang đợi ở cung Potala. Tất cả các tự viện phái Cách Lỗ ở Tây Tạng đều vào khoảnh khắc này đánh trống pháp chuông pháp, thổi pháp hiệu pháp la, tụng chú Độ mẫu tiêu trừ mọi tai họa hung ác. Rốt cuộc Thương Ương Gia Thố sẽ được định là Đạt Lai thật, hay Đạt Lai giả, toàn bộ Tây Tạng đều đang chờ đợi."
Hoàng tử Hương Ba dừng lời, đờ đẫn nhìn Mai Tát.
Mai Tát mặt đầy bi thương, khóe mắt lấp lánh ngấn lệ.
Trong lòng Hoàng tử Hương Ba mừng rỡ, lại hát một bài tình ca Thương Ương Gia Thố. Sán lại gần tỉ mỉ ngắm nghía Mai Tát. Nước mắt trong khóe mắt Mai Tát không hề lăn xuống, vẻ bi thương trên mặt ngược lại đã biến mất. Hoàng tử Hương Ba thất vọng nói: "Em là đang nhớ đến lời thề của chúng ta, nhịn không khóc đấy à?"
Mai Tát lắc đầu, đầy vẻ mỉa mai: "Anh có biết hay không, bài tình ca anh vừa hát không phải tình ca Thương Ương Gia Thố."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Không thể nào, sao anh lại nhầm được chứ? Hoàng tử Hương Ba sao lại nhầm được chứ?"
Mai Tát nói: "Anh vậy mà lại chậm chạp đến mức độ này, cùng một bài hát, qua miệng Thương Ương Gia Thố hát ra, đó mới là tình ca Thương Ương Gia Thố. Qua giọng hát của anh mà xướng lên, liền không còn là tình ca Thương Ương Gia Thố nữa rồi."