Điện Năng Nhân nằm ở tầng cao nhất của đại điện Tố Khâm, đứng trên cao nhìn xuống, liếc mắt một cái là có thể nhìn thấy ở phía sau bên phải có một kiến trúc sừng sững uy nghiêm.
Hoàng tử Hương Ba quay đầu nhìn ấn quyết thuyết pháp và gương mặt trang nghiêm của Thích Ca Mâu Ni, nói: "Thế này là đúng rồi, dù chúng ta không nghe được các lạt ma hợp xướng tình ca Thương Ương Gia Thố, cũng có thể hiểu vì sao pháp loa xoay phải lại dẫn chúng ta đến bên cạnh tượng Thích Ca Mâu Ni ở điện Năng Nhân. Anh nhìn xem ấn quyết và ánh mắt của Phật tổ đang hướng thẳng về đâu, chính là nơi hợp xướng tình ca, đó chính là đạo tràng Mật tông bị phong tỏa nghiêm ngặt - A Ba Trát Xang, là nơi trú tích duy nhất của Thương Ương Gia Thố tại chùa Drepung."
Mai Tát nói: "Tại sao lại hướng thẳng về A Ba Trát Xang, nó quan trọng lắm sao?"
"Đã A Ba Trát Xang đã trở thành một phần của 'thụ ký chỉ nam', thì đối với việc khai quật kho tàng 'cửa Thất Độ Mẫu', nó e là nơi quan trọng nhất của chùa Drepung. Chùa Drepung có bốn trát xang lớn là Loseling, Gomang, Deyang và Ngagpa. A Ba Trát Xang là đạo tràng Mật tông duy nhất, sở hữu giáo pháp thâm sâu nhất, bí mật nhất, linh thiêng nhất và thuần khiết nhất toàn Tây Tạng, tự nhiên cũng là nơi có uy vọng và địa vị nhất. Sau khi Thương Ương Gia Thố đến đây, nơi này mới có truyền thừa hợp xướng tình ca."
Nói xong, hoàng tử Hương Ba dẫn Mai Tát đi ra ngoài, đột nhiên lại vòng lại, đi đến trước mặt vị du khách không hiểu lạt ma hát, nói: "Các lạt ma không phải hợp xướng thánh ca giống như Thiên Chúa giáo, mà là tình ca, không không, cũng không phải tình ca, đó là pháp âm của Lục thế Đạt Lai Lạt Ma Thương Ương Gia Thố. Biết không, pháp âm của Thương Ương Gia Thố, cũng có thể gọi là đạo ca, tất cả tình ca Thương Ương Gia Thố, đều là đạo ca."
Vị du khách ngẩn ngơ gật đầu: "Anh làm nghề gì vậy?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Lạy Phật."
Hai mươi phút sau, hoàng tử Hương Ba và Mai Tát đã đến bên ngoài A Ba Trát Xang.
Những bậc thềm đá ngoằn ngoèo như dây thừng trói buộc A Ba Trát Xang vào giữa một khoảng đất cao. Trên những bức tường trắng mộc mạc và mái hiên đỏ, khảm những khung cửa sổ đen và song cửa tím đầy vẻ huyền bí, tựa như từng hàng con mắt đang chằm chằm nhìn bạn và nhìn thấu cả bạn, trong khi bạn lại hoàn toàn không tài nào nhìn thấu nội dung bên trong của chúng. Giữa các bức tường có những lối đi "nhất tuyến thiên" (một đường chỉ trời), khiến khi ngước nhìn, bạn sẽ có cảm giác đó là một chiếc thang treo cơ mật nối liền với bầu trời. Kiến trúc thì chen chúc, bố cục thì dốc đứng, phong cách thì đồng nhất. Mai Tát không thể hiểu nổi, vùng đất Tây Tạng rộng lớn là thế, tại sao lại phải chồng chất nhà cửa lên như xếp hình.
Hoàng tử Hương Ba nói: "Đây gọi là tâm lý kim tự tháp, hy vọng được ở gần trời và thần linh hơn."
A Ba Trát Xang - chốn thâm nghiêm của Mật tông - treo tấm biển "Miễn vào tham quan", họ không vào được, cũng chẳng thấy một vị lạt ma nào đi ra, đến cả cơ hội dò hỏi quan hệ cũng không có. Tiếng hợp xướng đã biến mất, tựa như lời dụ dỗ không thành thật của người tình, lúc bạn hừng hực khí thế chạy đến hội ngộ, thứ để lại cho bạn lại chỉ có sự trống trải và cô tịch. Họ đi đi lại lại bên ngoài bức tường.
Hoàng tử Hương Ba nói: "Khi điều tra về Thương Ương Gia Thố, tôi đã từng đến đây. Hồi đó còn có ngày mở cửa, bây giờ thì ngay cả ngày mở cửa cũng bị hủy bỏ rồi. Trong trát xang thờ phụng một trong năm đại bản tôn Mật bộ phái Gelug - Diêm Ma Đức Ca (Yamantaka) chín mặt ba mươi bốn tay mười sáu chân tức Đại Uy Đức Phố Úy Kim Cương, Mahakala Đại Hắc Thiên do Phật Thích Ca Mâu Ni hóa hiện để hàng phục yêu ma, Diêm Ma Địch, Tăng Lộc Thiên Mẫu, v.v.. Quan trọng nhất là một pho tượng Lực Phẫn Nộ La Sát, năm xưa khi đắp tượng Phẫn Nộ La Sát này, đối với từng vốc hương nê, Tông Khát Ba và các đệ tử đều phải niệm mười vạn lần đại Mật tông căn bản chú: 'Mạ, mạ, cách, linh, sát, diện, đạt.' Mười vạn lần lục đạo kim cương chú: 'A, a, tát, sát, mạ, háp.' Đến mức làm cảm động chân thân của La Sát thần, sau khi đắp xong phần thân dưới của Phẫn Nộ La Sát, phần thân trên của nó đã tự động mọc dài ra."
Mai Tát nói: "Nhưng hiện tại chúng ta cần phải tận mắt nhìn thấy những pho tượng thần này."
Hoàng tử Hương Ba nhìn lên nhìn xuống, nhìn trái nhìn phải: "Không trèo vào được, đành phải đi cửa thôi." Anh bước tới, đập mạnh vào cánh cửa, hô lớn: "Thí chủ đến rồi, thí chủ từ phương xa đến rồi." Không một ai để ý đến anh. Anh rút ra một tờ tiền trăm tệ, nhét từ khe cửa vào, lại hô lớn: "Lạt ma kính yêu ơi, thượng sư của tôi ơi, tôi đã nghe thấy tiếng hợp xướng rồi, tôi là người hành hương của Thương Ương Gia Thố, hãy thả tôi vào đi, xin các anh hãy thả tôi vào."
Cánh cửa "kẽo kẹt" một tiếng mở ra, thò ra một cái đầu lạt ma trọc lóc: "Anh không nhìn thấy biển 'Miễn vào tham quan' à? Bọn ta đều đang tĩnh tâm thiền định, nơi này cần sự yên tĩnh, anh có thôi đi không?" Nói xong, ném tờ tiền trăm tệ đó ra ngoài, "rầm" một tiếng đóng sập cửa lại.
Hoàng tử Hương Ba nói: "Lạ thật, sao lại có cả lạt ma từ chối bố thí thế này?"
Vẫn tiếp tục đi đi lại lại ngoài tường. Đột nhiên hoàng tử Hương Ba khựng lại, trân trân nhìn trang trí tường màu đen trên bức tường trắng, nói: "Anh xem đây là cái gì, có giống chữ Tạng không?"
Mai Tát nheo mắt nhìn kỹ: "Đúng thế, là chữ Tạng, hình như là núi tuyết."
Tiếp theo họ liền khẳng định đó đích thị là chữ Tạng của từ "núi tuyết", bởi vì trên một bức tường khác, họ còn nhìn thấy rõ ràng hơn chữ Tạng biểu thị cho từ "suối nước nóng".
Hoàng tử Hương Ba suýt nhảy dựng lên: "Hóa ra A Ba Trát Xang chính là 'núi tuyết' và 'suối nước nóng', điều này chứng tỏ 'niềm tin của chín mươi tám chiếc bình đồng' trong 'thụ ký chỉ nam' của chùa Kumbum biểu thị cho chín mươi tám ngọn núi tuyết và chín mươi tám suối nước nóng Shambhala chẳng qua chỉ là một ẩn dụ, nguồn vui nhân gian mà bảy vị Độ Mẫu mang lại - suối nước nóng Shambhala hẳn là những ngôi chùa mọc lên từ mặt đất, nói một cách chính xác thì đó là những đạo tràng Mật tông."
Mai Tát nói: "Nếu là như vậy, 'niềm tin của chín mươi tám chiếc bình đồng' đại diện cho chín mươi tám đạo tràng Mật tông, chẳng lẽ chúng ta phải tìm khắp Lhasa hay thậm chí là tất cả các đạo tràng Mật tông ở Tây Tạng sao? 'Cửa Thất Độ Mẫu' dường như ngày càng cách xa chúng ta rồi."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Không, ngày càng đến gần rồi. 'Thụ ký chỉ nam' của chùa Kumbum đã đưa chúng ta đến chùa Drepung, mà đạo tràng Mật tông duy nhất của chùa Drepung là A Ba Trát Xang đã nói cho chúng ta biết rõ ràng rằng, nó chính là một trong chín mươi tám ngọn núi tuyết và chín mươi tám suối nước nóng Shambhala, chúng ta bắt buộc phải tiến vào bên trong nó, nó có lẽ chính là mục tiêu duy nhất của chúng ta hiện tại."
Họ lang thang đi lại, cho đến khi một người phụ nữ trẻ tuổi vai đeo thùng sữa, tay xách bình đồng, lưng còng eo uốn đi ra từ cánh cửa lớn của Mật pháp kinh đường.
Hoàng tử Hương Ba bước đến gần hỏi: "Chúng tôi là tín chủ từ xa đến, muốn vào lạy Phật, lúc nào thì tiện vậy?"
Người phụ nữ trẻ chụm ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa của bàn tay phải lại, nhanh chóng xoa xoa vài cái.
Mai Tát hỏi: "Có ý gì thế?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Đòi tiền đấy." Bèn rút ra mười đồng đưa cho người phụ nữ trẻ.
Người phụ nữ trẻ nói: "A Ba Trát Xang không thể nào cho các người vào đâu, ba trăm sáu mươi lăm ngày trong năm đều không thể, đừng nói chi là tín chủ, ngay cả lạt ma của các trát xang khác cũng không được vào."
Mai Tát nói: "Cô cầm tiền rồi, mà chỉ nói cho chúng tôi biết thế thôi à?"
Người phụ nữ trẻ nói: "Tôi nói sự thật mà."
Mai Tát nói: "Nói sự thật là phải đòi tiền á? Thế mà cũng là tín đồ đấy."
"Đừng so đo với cô ta nữa." Hoàng tử Hương Ba lại hỏi: "Sao cô lại vào được?"
Người phụ nữ trẻ nói: "Tôi không vào thì các lạt ma lấy đâu ra trà bơ để uống."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Cô là người đưa sữa, một ngày một lần à?"
"Buổi sáng một lần, buổi chiều một lần."
"Đều là mấy giờ?"
"Buổi sáng mười giờ, buổi chiều ba giờ." Người phụ nữ trẻ vừa nói vừa rảo bước nhanh hơn.
Hoàng tử Hương Ba kéo Mai Tát đi theo. Vẫn là những bậc thang đá đi xuống dốc, đi theo đến nơi kết thúc bậc thang trước sơn môn, lúc muốn quay ngược lên lại A Ba Trát Xang thì đã không còn chút sức lực nào, vừa mệt vừa đói. Thầm nghĩ hôm nay coi như thôi vậy, ngày mai lại đến. Định đi theo con đường lớn Drepung ngợp bóng cây xanh để hướng về khu đô thị Lhasa, thì đột nhiên nhìn thấy trên bãi đất trống trước cửa bệnh viện Tây Tạng chùa Drepung, bày la liệt một loạt bình đồng đỏ rực được trang trí bằng những hoa văn tinh xảo. Chùa Drepung không có sơn môn ra trò đỗ gì, bởi vì đi lên đi xuống ra vào đều phải đi ngang qua bệnh viện Tây Tạng ở đầu phía nam của ngôi chùa, cánh cửa bệnh viện Tây Tạng hoa cúc gấm vóc liền đóng vai trò như sơn môn. Chủ nhân của những chiếc bình đồng, một người phụ nữ trung niên lót tấm đệm thảm satrng ngồi trên bậc thang trước sơn môn, vừa quay kinh luệ vừa hờ hững quan sát từng dòng du khách qua lại.
Hoàng tử Hương Ba tùy tiện hỏi bằng tiếng Tạng: "Bình đồng có bán không?"
Người phụ nữ trung niên nói: "Không bán thì tôi bày ở đây làm gì."
Hoàng tử Hương Ba đột ngột khựng lại, "Bao nhiêu tiền một chiếc?"
Người phụ nữ trung niên nói: "Một trăm."
"Bình đồng đẹp thế này mà chỉ có một trăm tệ thôi á?"
"Thấy rẻ thì cộng thêm một trăm nữa, hai trăm tệ có lấy không?"
Hoàng tử Hương Ba ngắm nghía: "Sao hoa văn chiếc nào cũng giống nhau thế, toàn là núi tuyết?"
Người phụ nữ trung niên nói: "Một mặt là núi tuyết, một mặt là suối nước nóng."
Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát nhìn nhau một cái, ngồi xổm xuống, ôm lấy một chiếc bình đồng, xem xét thật kỹ rồi hỏi: "Tại sao lại là núi tuyết và suối nước nóng?"
"Từ đời tổ tiên của tôi bắt đầu, đã là núi tuyết và suối nước nóng rồi, chúng tôi bán đi một chiếc thì lại làm ra một chiếc, từ trước đến nay vẫn luôn là hoa văn như thế. Chín mươi tám chiếc bình đồng, chín mươi tám ngọn núi tuyết, chín mươi tám suối nước nóng Shambhala, đây là thứ không thể thay đổi được, cũng giống như sông núi không thể biến thành rừng cây vậy. Khi Sipa mổ bò tước nghé, chặt đầu bò đặt chỗ cao, thế nên đỉnh núi mới cao lững lững; khi Sipa mổ bò tước nghé, cắt đuôi bò giấu bóng râm, thế nên rừng cây mới xanh tươi um tùm."
Sipa là vị đại thần sáng thế của người Tạng, chính ngài đã tạo ra trời đất sông núi cỏ cây. Mà trong giọng điệu của người phụ nữ trung niên, dường như đại thần Sipa đồng thời cũng tạo ra bình đồng và hoa văn "núi tuyết", "suối nước nóng" trên bình đồng.
Hoàng tử Hương Ba cảnh giác hỏi: "Cô có chín mươi tám chiếc bình đồng cơ à? Tại sao lại là chín mươi tám chiếc? Tại sao bán đi một chiếc rồi mới làm chiếc khác?"
Người phụ nữ trung niên nói: "Chuyện này ai mà không biết. Thất tỷ muội 'A Chị Lạp Mụ' là hóa thân của bảy vị Độ Mẫu, mỗi người bọn họ đều có mười bốn cánh tay, cầm mười bốn chiếc bình đồng, ít đi thì tay không, nhiều lên thì cầm không xuể."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Nhưng theo tôi được biết, chín mươi tám chiếc bình đồng của Thất tỷ muội 'A Chị Lạp Mụ' đều chẳng còn tác dụng gì lớn nữa, chỉ có thể dùng để nấu trà nấu sữa."
Người phụ nữ trung niên đắc ý hừ một tiếng, thò đầu lại gần, thần bí nói: "Nấu trà nấu sữa là chín mươi sáu chiếc, còn hai chiếc nữa, đó mới là báu vật, nửa cái Lhasa cũng đổi không lại."
"Hai chiếc nào?"
"Tôi mà biết thì đã tự mua lấy rồi."
"Cô cũng không biết à, hình như cô bán hộ thì phải?"
"Đúng vậy, tổ tiên chúng tôi và chúng tôi, đều là những người bán hộ tín ngưỡng cho thần linh."
Hoàng tử Hương Ba kinh ngạc nhìn cô ta: Một người phụ nữ bán hàng vỉa hè mà cũng có thể thốt ra những lời thế này.
Mai Tát nói: "Kỹ năng tiếp thị cao cường, ai cũng sẽ vì muốn có được báu vật này mà mua của cô ta một chiếc bình đồng. Nhưng nếu có người mua hết sạch tất cả bình đồng đi một lúc thì sao?"
Người phụ nữ trung niên nói: "Một ngày tôi chỉ bán một chiếc."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Đến ngày thứ hai cô lại ra đây, thì lại biến thành chín mươi tám chiếc. Bình đồng giống y hệt nhau, cô hoàn toàn không biết chiếc mình mua đi là đồ cổ, hay là mới được làm ra từ tối hôm qua. Cứ như thế, hai chiếc bình đồng báu vật kia rất có khả năng đã được lưu giữ từ tổ tiên cho đến tận bây giờ."
Người phụ nữ trung niên nhìn hoàng tử Hương Ba, đồng tình gật đầu.
Mai Tát nói: "Vậy cũng có khả năng hai chiếc bình đồng báu vật từ lâu đã bị người ta mua mất rồi."
Người phụ nữ trung niên lại nhìn Mai Tát gật đầu.
Hoàng tử Hương Ba ôm lấy chút hy vọng mong manh nói: "Chọn thôi, chúng ta không còn sự lựa chọn nào khác."
Họ xem xét qua một lượt chín mươi tám chiếc bình đồng, rồi lại xem xét thêm một lượt nữa, mặc dù giữa các bình đồng vẫn có những điểm khác biệt nhỏ, nhưng đó chẳng qua là lúc thủ công làm ra thừa một búa thiếu một búa mà thôi, hoàn toàn không cách nào phân biệt được đâu là báu vật đâu không phải. Người phụ nữ trung niên có chút mất kiên nhẫn, hỏi rốt cuộc họ mua bình đồng hay là đang giết thời gian, cô ta sắp dọn hàng rồi đấy. Mai Tát đành bất lực đứng dậy: Phải làm sao đây? Hoàng tử Hương Ba dùng ánh mắt kiên định ra hiệu cho cô tìm lại một lượt nữa.
Anh nói: "Đừng so sánh nữa, sự khác biệt giữa chiếc bình đồng này và chiếc bình đồng kia vốn không có ý nghĩa gì, em cứ xem trên mỗi chiếc bình đồng có thông tin nào chúng ta quan tâm hay không, thông tin về hoa văn, thông tin về chế tác, quan trọng nhất là thông tin bị hư hại. Đã là bình đồng của Thất tỷ muội 'A Chị Lạp Mụ', lại bị ác quỷ đánh cắp, lại trải qua sự mài giũa của năm tháng, lại khiến nhiều người quan tâm như vậy, thì không thể nào không để lại dấu vết gì."
Nhưng cuối cùng họ cũng chẳng thu được thông tin gì khao khát, ủ rũ ngồi bệt xuống đất, vẻ mặt đầy bất đắc dĩ, nhưng lại chẳng nỡ rời đi.
Trời đã chập tối, ánh hoàng hôn vắt vẻo trên đỉnh núi, một luồng ánh nắng rực rỡ khác thường xiên xẹo quét tới, chiếu rọi lên những chiếc bình đồng. Điểm quan trọng là nó chỉ chiếu rọi lên duy nhất một chiếc bình đồng, chứ không chiếu lên những chiếc bình đồng khác. Chiếc bình đồng ấy bỗng chốc trở nên cao lớn, sáng lòa rực rỡ như đang bốc cháy. Hoàng tử Hương Ba vốn chẳng còn hy vọng gì bỗng nhìn thấy tia hy vọng, chợt ngẩng phắt người lên, thầm nghĩ tại sao mình lại không thể xem sự chiếu rọi của ánh nắng mặt trời này là sự dẫn dắt của thần linh cơ chứ? Anh chồm tới, ôm lấy chiếc bình đồng đó rồi nói: "Không cần xem mấy cái khác nữa, chính là nó." Anh rút ra hai trăm tệ, ném cho người phụ nữ trung niên, cất bước bỏ đi.
Mai Tát đuổi theo sau, số ruột hỏi: "Anh phát hiện ra cái gì thế?" Thấy hoàng tử Hương Ba lắc đầu, cô lại hỏi tiếp: "Không phát hiện ra cái gì mà anh mua nó làm gì?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Anh có cảm giác nó chính là thứ chúng ta đang tìm kiếm."
Mai Tát hỏi: "Cảm giác của anh đáng tin lắm à?"
Anh nói: "Không biết."
Một chiếc xe taxi chạy tới dừng lại bên cạnh họ, giống như chuyên đến để đón họ vậy. Họ lên xe, dọc theo đại lộ Drepung thẳng tiến đến khách sạn Saffron.
2
Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát vội vã ăn cơm ở nhà hàng tầng một, rồi ôm chiếc bình đồng vừa mua trở về phòng của hoàng tử Hương Ba, nghiên cứu từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới suốt nửa buổi tối, cho đến khi ngáp ngắn ngáp dài, vẫn chẳng nghiên cứu ra được manh mối có giá trị nào.
“Đi ngủ thôi, ngày mai tính tiếp.” Mai Tát nói xong liền quay về phòng của mình.
Hoàng tử Hương Ba tắt đèn, vừa nằm xuống là ngủ thiếp đi, lại nhớ đến Pưn Tso, bèn lập tức gọi điện thoại cho cô. Quả nhiên đúng như dự đoán của anh, gọi mấy lần đều không thông, bèn gửi tin nhắn cho cô: "Chờ cảnh sát mà em yêu, cũng chờ cả anh nữa, anh sắp xoay chuyển càn khôn, đem lại bất ngờ cho em rồi." Sau đó ngửa đầu nhắm mắt lại.
Anh nhanh chóng ngáy khò khò, âm điệu trầm bổng vang dội đến mức ngoài hành lang cũng nghe thấy. Có một bóng đen từ lối cầu thang đi tới, tắt chiếc đèn ở hành lang, dừng lại trước cửa phòng hoàng tử Hương Ba một lát, rồi móc chìa khóa mở cửa, lẻn vào trong.
Mục tiêu của bóng đen là chiếc bình đồng, chiếc bình đồng đang nằm sát cạnh hoàng tử Hương Ba trên giường. Bóng đen nhẹ nhàng ôm lấy nó, nhanh chóng sải bước đi ra ngoài. Tiếng ngáy vẫn vang lên đều đặn, nhưng đôi mắt của hoàng tử Hương Ba thì đã mở trân trân. Anh nhìn bóng đen ra khỏi cửa, liền đứng dậy bám theo. Ngoài hành lang tối đen như mực, chỉ có tiếng bước chân sột soạt truyền từ cầu thang lên.
Hoàng tử Hương Ba đi thang máy xuống tầng một, định chặn bóng đen ở lối cầu thang tầng một. Nhưng anh đợi một lúc lâu mà chẳng thấy ai đi xuống, bèn theo cầu thang đi ngược lên trên, đi thẳng một mạch đến tầng bốn nơi mình ở.
Anh chẳng chạm trán bất kỳ ai, điểm khác lạ duy nhất là, một tia sáng từ khe cửa phòng anh đang rọi ra, lọt thỏm vào hành lang tối mịt. Anh chạy đến đẩy cửa bước vào, liền thấy chiếc bình đồng đã quay trở về, vẫn nằm ngoan ngoãn trên giường, trông như chưa từng có ai động đến nó cả. Anh ôm chiếc bình đồng, mở cửa chạy dọc cầu thang xuống dưới, đến phòng Solar sáng rực ánh đèn, thì nghe thấy ngoài cánh cửa gỗ hình lọng che, trên bậc thang bằng gỗ, có tiếng bước chân lộc cộc đang đi xuống. Anh đuổi theo ra ngoài, nhìn thấy bóng dáng của Y Trác Lạp Mụ vụt qua khoảng sân hình chữ "U" của khách sạn, để lại một chuỗi tiếng gõ lanh lảnh trên những phiến đá xanh u tịch.
Đã không kịp đuổi theo nữa rồi, Y Trác Lạp Mụ trong chớp mắt đã biến mất vào một chiếc xe van màu đỏ. Chiếc xe van phóng vun vút ra khỏi cổng khách sạn. Cùng lúc đó, một chiếc ô tô màu đen lặng lẽ bám theo sau. Bóng đêm trước rạng đông ở Lhasa bỗng chốc trở nên kỳ dị, tĩnh mịch đến mức quỷ dị như một cơn ác mộng.
Hoàng tử Hương Ba ngẩn ngơ nhìn theo, hít hít cái mũi, một mùi thơm ngậy của sữa từ chiếc bình đồng trong ngực đột nhiên tỏa ra ngào ngạt. Anh mở nắp bình, nhìn vào bên trong, rồi quay người bước đi.
Anh mò xuống nhà hàng tầng một, bật đèn đi vòng quanh khắp nơi, thậm chí còn bước vào cả nhà bếp, muốn tìm lại chiếc bình đồng đẹp đẽ mà anh và Mai Tát đã dùng để uống trà bơ vào bữa tối hôm qua. Anh tìm không thấy, bèn khẳng định chiếc bình đồng tỏa mùi sữa thơm ngậy trong ngực mình chính là chiếc bình đó.
Anh quay về phòng, vứt chiếc bình đồng lên giường rồi nằm xuống ngủ thiếp đi. Lúc anh tỉnh dậy, trời đã hửng sáng, Mai Tát đang ôm chiếc bình đồng đứng trước giường.
“Ngủ say thật đấy, sao em cứ thấy chiếc bình đồng này không giống ngày hôm qua nhỉ.”
Hoàng tử Hương Ba cười khổ một tiếng: “Đúng là không giống rồi, sao em nhìn ra hay vậy?”
“Tối qua chúng ta xem đi xem lại mấy lần mà có thấy mấy chữ Tạng này đâu.”
Hoàng tử Hương Ba cúi đầu nhìn xuống, giật phăng lấy chiếc bình đồng, mấy chữ Tạng khắc dưới đáy bình ấy rên rành rành dòng chữ “Cát Thái Lộ Đinh”. “Thụ ký chỉ nam” trong chùa Kumbum có nói: “Sữa chua Cát Thái Lộ Đinh là loại sữa chua ngon nhất toàn Tây Tạng.”
Anh trầm ngâm suy nghĩ, đột nhiên nói: “E là chúng ta đã tìm được một chiếc bình đồng của Thất tỷ muội ‘A Chị Lạp Mụ’ rồi.” Anh sơ lược kể lại chuyện tối qua Y Trác Lạp Mụ đánh tráo bình đồng, rồi nói tiếp: “Ngoài chúng ta ra, không một ai có được ‘Thụ ký chỉ nam’ của chùa Kumbum cả, thế nên bọn họ tuyệt đối không thể nào biết được bản thân đã sở hữu một chiếc bình đồng của Thất tỷ muội ‘A Chị Lạp Mụ’. Điểm này người khác cũng hiểu rõ, thế là họ bám lấy chúng ta, cứ đinh ninh rằng phàm là thứ chúng ta lấy được thì nhất định phải là chiếc bình đồng báu vật phi phàm.”
Mai Tát nói: “Cô ta tráo mất đồ giả, để lại đồ thật, chúng ta phải làm sao đây?”
“Trên bình đồng xuất hiện hai chữ ‘Cát Thái Lộ Đinh’, chứng tỏ ‘Cát Thái Lộ Đinh’ mà ‘Thụ ký chỉ nam’ của chùa Kumbum nhắc đến vừa có thể chỉ chùa Drepung, lại càng có khả năng chính là chiếc bình đồng này. Nhưng hiện tại chúng ta vẫn chưa biết chiếc bình đồng này và ‘Cát Thái Lộ Đinh’ có thể cho chúng ta biết kho tàng ‘cửa Thất Độ Mẫu’ nằm ở đâu hay không. Có lẽ nó vẫn đang dẫn đường cho chúng ta đến gần hơn, có lẽ chính nó là kho tàng, chỉ là sự chứng ngộ của chúng ta chưa đủ tầm để phát hiện ra mà thôi. Có lẽ chiếc bình đồng còn lại sẽ cho chúng ta biết, chúng ta nên đi tìm nó.”
“Chiếc bình đồng còn lại ở đâu? Có phương hướng nào không?”
“Hai phương hướng, đều là những nơi hôm qua đã tìm qua, một là chín mươi tám chiếc bình đồng trên sạp hàng trước cửa bệnh viện Tây Tạng chùa Drepung, chúng ta không từ bỏ khả năng chiếc bình đồng còn lại của Thất tỷ muội ‘A Chị Lạp Mụ’ nằm trong số đó; hai là đạo tràng Mật tông A Ba Trát Xang, đã xác định nó là một trong số ‘chín mươi tám ngọn núi tuyết’ và ‘chín mươi tám suối nước nóng Shambhala’ duy nhất hiển hiện trước mắt chúng ta, thì tuyệt đối phải tra cho ra ngô ra khoai đến cùng.”
Họ lập tức ăn sáng, rồi lái chiếc Wrangler hướng về chùa Drepung. Đi qua hải quan Lhasa, rẽ trái lên đường Bắc Kinh Tây, đi thẳng khoảng hai trăm mét, đột nhiên phát hiện xe cảnh sát Land Rover đang chạy ngược chiều tới. Xe cộ phía sau nối đuôi nhau không dứt, quay đầu lại là điều không thể, đành phải cắn răng lao thẳng về phía trước. Hoàng tử Hương Ba vô thức tăng tốc độ.
3
Xe cảnh sát Land Rover đi từ quốc lộ Thanh Tạng tới, người trên xe vừa đi vừa dò hỏi chim lạt ma, bám đuôi theo suốt dọc đường, đến hôm nay mới đến được Lhasa, không ngờ vừa vào trong nội thành là đụng ngay phải tội phạm đang trốn chạy.
Người lái xe là Trác Mã, hắn vừa nhìn thấy chiếc Wrangler, liền muốn đánh lái ngang qua để chặn lại. Phát hiện Vương Nham và Bích Tú vẫn đang ngủ, hắn lại đánh lái tà tà ra lề đường, lững thững muốn dừng mà lại thôi. Chiếc xe Wrangler vùn vụt lướt qua.
Lúc này Bích Tú ở phía sau gầm lên: “Cậu làm ăn cái kiểu gì thế, sao không chặn lại?” Hóa ra hắn vẫn còn thức, “Kẻ phản bội, phản bội, cậu đích thị là kẻ phản bội, thấy tội phạm trốn chạy mà lại nhường đường cho chúng đi.”
Vương Nham tỉnh giấc, gầm lên một tiếng: “Đuổi theo.”
Trác Mã vội vàng quay đầu xe, bám đuổi theo.
Vương Nham nói: “Sao chúng lại chạy về hướng tây, hình như muốn rời khỏi Lhasa ấy.”
Bích Tú nói: “Không đâu, chắc chắn là đi chùa Drepung rồi, đây là con đường độc đạo bắt buộc phải qua để đến chùa Drepung mà.”
Xe cảnh sát Land Rover đuổi theo chưa được nửa cây số, thì chuyện bất ngờ đã xảy ra. Chỉ thấy chiếc xe Wrangler đang chạy trốn bỗng đột ngột quay ngoắt 180 độ rồi dừng phắt lại, cửa xe mở ra, một người bước xuống, chính là hoàng tử Hương Ba.
Hoàng tử Hương Ba nhìn chiếc xe cảnh sát Land Rover, trong ánh mắt tràn ngập sự nghi ngại và sợ sệt.
Mai Tát ở ô cửa sổ lớn tiếng gọi: “Anh có đào bảo nữa không hả?”
Hoàng tử Hương Ba quay đầu nhìn lại, trong lòng tràn đầy vẻ hổ thẹn: Mình chỉ đành làm thế này thôi, ai là con người mà chẳng thế, vừa mâu thuẫn muốn trốn chạy lại vừa muốn tự sát chui đầu vào rọ.
Giọng Mai Tát càng thêm sốt sắng hơn: “Còn em nữa, anh có nghĩ đến em không?”
Câu nói này ngược lại đã trở thành cú hích cuối cùng: Anh nghĩ em sẽ không thích một kẻ sợ chết thèm sống đâu nhỉ? Hoàng tử Hương Ba không do dự nữa, kiên định bước về phía xe cảnh sát Land Rover, giơ cao hai tay lên.
Xe cảnh sát Land Rover dừng hẳn lại, ba viên cảnh sát trong xe nhìn nhau một cái. Bích Tú nhanh chân xuống xe trước, lăm lăm súng lao bổ tới.
Hoàng tử Hương Ba sắc bén nhìn chằm chằm Bích Tú: “Đừng động vào tôi, cái đồ Kiếm đen Monyul khoác chiếc áo cảnh sát, tôi tìm Vương Nham.”
Vương Nham đã đi tới, tay xách chiếc còng số tám.
Hoàng tử Hương Ba lại hướng ánh mắt sắc như dao ấy sang phía Vương Nham, nói: “Tôi có lời muốn nói với anh.”
“Nói cái gì, chúng ta có khối thời gian.” Vương Nham vừa nói vừa định còng tay anh lại.
Hoàng tử Hương Ba lùi lại một bước nói: “Các anh nào là còng tay nào là súng lục, vũ trang tận răng, còn tôi tay không tấc sắt, lại còn chủ động bước tới, các anh căng thẳng cái gì? Hạ súng xuống, đừng chĩa nòng súng vào một người biết hát tình ca Thương Ương Gia Thố. Các anh mà dám bắn chết tôi, cả đời này các anh sẽ không có tình yêu, Thương Ương Gia Thố sẽ trừng phạt các anh.” Anh vừa nói thế, trong lòng bỗng chẳng còn sợ bất cứ thứ gì nữa, tựa như tình ca, tựa như Thương Ương Gia Thố đã trở thành chỗ dựa vững chắc cho anh, cho anh lá gan dám trừng mắt đối đầu với những tên cảnh sát đang bắt giữ mình:
“Nói ở đâu, là chuyện riêng của anh à?”
“Tôi không có chuyện riêng.”
“Pưn Tso……”
Vương Nham sững sờ, săm soi đánh giá hoàng tử Hương Ba rồi gật đầu, nói với Bích Tú: “Cậu quay lại xe đi.”
Bích Tú ném cho hoàng tử Hương Ba một cái lườm sắc lẹm mang tính cảnh cáo, rồi quay người bỏ đi.
Hoàng tử Hương Ba thấp giọng nói một cách dồn dập: “Cứu Pưn Tso đi, cô ấy đang ở tầng cao nhất của cao ốc Cảnh Tinh, khu Hải Điến, Bắc Kinh, tầng cao nhất cao ba mươi sáu tầng, sắp nhảy xuống rồi, mau nghĩ cách cứu cô ấy đi.”
“Sao anh biết? Anh quen cô ấy à?”
“Pưn Tso mà tự sát, anh không tài nào chối bỏ được can tag đâu, bởi vì nguyên nhân cái chết trực tiếp chính là do anh đã vứt bỏ cô ấy.”
Vương Nham trừng mắt nhìn anh, nửa ngày không thốt lên lời.
“Anh không tin tôi ư? Có thể gọi điện cho cô ấy. Tôi gọi suốt dọc đường, phần lớn thời gian đều không gọi được. Nhưng rồi sẽ có lúc gọi được, cứ gọi mãi, gọi mãi, chỉ cần anh muốn cứu cô ấy, thì có khối cách. Bởi vì anh là người duy nhất mà cô ấy từng yêu. Nhưng anh tuyệt đối đừng báo cảnh sát.” Hoàng tử Hương Ba thuật lại nguyên văn lời của Pưn Tso cho Vương Nham nghe, “Một người thực sự muốn tự sát thì chẳng ai cản nổi đâu, anh báo cảnh sát chính là ép tôi phải chết sớm thôi. Cảnh sát vừa xuất hiện, tôi sẽ nhảy xuống ngay lập tức. Không phải đe dọa, mà là lời thề. Trong thế giới của người Tạng, thứ duy nhất không thể làm trái, chính là lời thề.”
“Tại sao anh lại đến để nói cho tôi biết, anh không sợ nguy hiểm à?”
“Bây giờ thì sợ rồi, ‘cửa Thất Độ Mẫu’ vẫn đang chờ tôi cơ mà.”
Hoàng tử Hương Ba quay người cắm cổ chạy. Vương Nham nhìn theo bóng lưng anh, chần chừ không lao đến: Một kẻ bất chấp nguy hiểm tính mạng để cứu mạng người khác, cũng sẽ trở thành một tên sát nhân trốn nợ tày đình ư? Hắn lướt mắt nhìn qua phần đầu xe của chiếc Wrangler, phát hiện trên cản va, quả thực vẫn dính rất nhiều vết máu hoen ố, một ít trong số đó là cái gọi là tang chứng sát hại Biên Ba, một ít do chính tay hắn bôi lên - vết máu của Y Trác Lạp Mụ. Hoàng tử Hương Ba có vẻ rất đỗi thản nhiên, hoàn toàn chẳng thèm đếm xỉa đến chuyện chùi rửa.
Thế nhưng, mọi phỏng đoán mang thiện ý đều sẽ bị một khả năng khác đập tan tành, đó chính là hoàng tử Hương Ba không hề đơn giản hay xảo quyệt thông thường, việc cứu người khác và không chùi rửa vết máu, tất cả đều nhằm che đậy tội ác của hắn, và hơn hết là để đánh lạc hướng kẻ bám đuổi, nhằm loại bỏ chướng ngại đạt được mục đích mà hắn vẫn chưa hoàn thành.
Bích Tú từ trong xe nhảy xổ ra, định đuổi theo, Vương Nham liền giật thốc áo lại: “Để cậu ta đi.”
“Tại sao?”
“Để cậu không trở thành một tên cảnh sát tồi giết nhầm người vô tội.” Vương Nham nói, nhưng trong lòng lại thầm nghĩ: Hoàng tử Hương Ba à, tôi trả lại cho anh mộtân huệ, từ nay xem như xóa sổ tất cả, anh vẫn là tội phạm trốn chạy, tôi vẫn là cảnh sát, tôi vẫn cứ phải bắt anh cho bằng được.
Sự bình an trở về của hoàng tử Hương Ba khiến Mai Tát khâm phục không thôi.
“Anh cứ như biết chắc là hắn không bắt anh vậy.”
“Anh chỉ tin là cảnh sát cũng là con người thôi.”
Chiếc xe Wrangler lại bắt đầu lăn bánh.
4
Xe cảnh sát Land Rover chạy về hướng nội thành, nửa tiếng sau, đoàn người Vương Nham vào ở khách sạn New Century nằm gần cung điện Potala.
Vương Nham nói: “Mấy ngày nay chẳng được nằm ngủ tử tếmọi người nghỉ ngơi một lát đi, hai tiếng sau tập trung ở xe.”
Bích Tú nói: “Tội phạm đang trốn chạy, mà cảnh sát lại đi ngủ.”
Trác Mã nói: “Cậu chẳng phải nói hắn đã đến chùa Drepung rồi cơ mà? Chạy đằng trời.”
Đương nhiên Vương Nham cũng sẽ không đi ngủ, hắn bảo người khác nghỉ ngơi là muốn chừa ra chút thời gian để giải quyết chuyện riêng của mình. Hắn đóng chặt cửa phòng, nằm bẹp trên giường gọi vào điện thoại di động của Pưn Tso, gọi ít nhất hai mươi cuộc, toàn bộ đều tắt máy. Hắn đành phải gọi điện cho đồng nghiệp ở Bắc Kinh, nhờ họ lập tức đến đó cứu người. Đồng thời cũng không quên nhắc nhở họ, nhất định phải mặc thường phục, bởi vì Pưn Tso đã thề là hễ nhìn thấy cảnh sát là sẽ nhảy lầu, lời thề của người Tạng là thứ không thể làm trái.
Sau đó Vương Nham nhanh chóng rời khỏi phòng, chui vào quán nét của khách sạn.
Hắn mở QQ, để lại lời nhắn cho "Tình yêu Độ Mẫu": "Biết là em bận, anh cũng rất bận, ban đầu nói đợi qua đợt bận rộn này chúng ta sẽ nói chuyện sau. Bây giờ đang bận tối mặt tối mày, thế mà lại nổi lên cái thèm muốn trò chuyện cơ chứ, tối nay, nếu lên mạng, nhất định phải đợi anh, không gặp không về." Nhấn gửi xong, định tắt máy, thì nghe thấy tiếng "tít tít" phát ra báo hiệu đối phương đã trả lời. Vương Nham vui mừng khôn xiết, nói chung người phàm tục bình thường sẽ chẳng ai lên mạng trò chuyện vào ban ngày ban mặt cả, thế mà một vị lạt ma thức khuya dậy sớm tu luyện Mật pháp như hắn ta lại đang online.
"Tình yêu Độ Mẫu" nói: "'Đứa trẻ Uḍḍiyāna', biết thế nào anh cũng sẽ liên lạc với tôi mà, tôi đang ẩn thân đợi anh đây."
Vương Nham vội vã hồi âm: "Sao em biết hay vậy? Hỏi thừa rồi, em có con mắt thứ ba cơ mà, những kẻ tu luyện 'cửa Thất Độ Mẫu' chẳng lẽ ai cũng có con mắt thứ ba à?"
"Tình yêu Độ Mẫu" nói: "Khó nói lắm, tôi cũng chỉ có linh cảm trước đối với những người có duyên thôi, ví dụ như đối với anh chẳng hạn, anh đang gặp rắc rối rồi."
Vương Nham nói: "Đúng vậy, rắc rối to lắm, không thể nói với bất kỳ ai ngoài em. Anh đã tông chết một người. Điều rắc rối là anh có thể dễ dàng phủi sạch can tang, thế nhưng lương tâm lại không cho phép anh làm thế."
“Tình yêu Độ Mẫu” nói: “Có thể kể cho tôi nghe về hoàn cảnh của cô ấy không?”
Vương Nham nói: "Cô ấy tên là Y Trác Lạp Mụ, chẳng hiểu sao cô ấy lại lao thẳng vào xe của anh, anh chạy nhanh quá, không phanh kịp. Sau đó anh đã bôi máu của Y Trác Lạp Mụ lên cản va của chiếc Wrangler, đó chính là chiếc xe của tên tội phạm mà anh đang truy nã. Hoàn toàn là hành động mang tính tiềm thức, anh cũng chẳng biết mình muốn đạt được mục đích gì nữa."
“Tình yêu Độ Mẫu” nói: “Anh muốn hãm hại hắn ta ư?”
“Có khả năng này, đằng nào hắn cũng đã giết người rồi, giết hai người với giết ba người cũng như nhau cả thôi, đều là tội chết. Cũng có khả năng là muốn xem lần tới khi nhìn thấy chiếc Wrangler, vết máu trên cản va còn đó hay không, nếu hắn chột dạ thì sẽ nhanh chóng chùi rửa sạch sẽ.”
“Tình yêu Độ Mẫu” nói: “Rõ ràng là anh tông người ta, sao hắn phải chột dạ?”
Vương Nham nói: "Trước khi anh bôi lên, trên cản va vốn dĩ đã có vết máu rồi, đó là tang chứng vụ sát hại người thầy Biên Ba của hắn."
“Tình yêu Độ Mẫu” nói: “Vậy đó là sự nhắc nhở, anh đang nhắc nhở hắn nhanh chóng xóa bỏ tang chứng.”
Vương Nham nói: "Một cảnh sát như anh mà lại làm thế á?"
“Tình yêu Độ Mẫu” nói: “Cũng là tác dụng của tiềm thức thôi, tận trong xương tủy anh đang đồng tình với hắn.”
“Không.” Vương Nham dứt khoát gõ xuống từng chữ, nhưng trái tim bỗng chốc hụt hẫng rơi tòm xuống, rơi mãi xuống tận đáy, trống rỗng, tựa như kẻ chột dạ không phải là hoàng tử Hương Ba, mà chính là hắn.
“Tình yêu Độ Mẫu” thỏa hiệp nói: “Vậy có lẽ anh muốn làm một phép thử, xem tên tội phạm này có cung cấp cho anh thêm lý do truy nã đầy đủ hơn hay không.”
Vương Nham nói: "Em nói vậy thì anh mừng lắm, nhưng rắc rối vẫn còn tồn tại."
“Tình yêu Độ Mẫu” nói: “Người bị anh tông chết lại mang cái tên của người tình Thương Ương Gia Thố - Y Trác Lạp Mụ, thế thì đành trách hồng nhan bạc mệnh vậy thôi. Cô ấy có lẽ nghĩ mình kiểu gì cũng phải chết, nên mới chọn cách để anh tông chết.”
Vương Nham nói: "Tại sao lại chọn cách để anh tông chết?"
“Tình yêu Độ Mẫu” nói: “Có lẽ cô ấy muốn ngăn cản anh truy nã tên tội phạm kia.”
Vương Nham nói: "Anh cũng nghĩ vậy, em cứ như tận mắt đến hiện trường xem rồi ấy, phán đoán chuẩn xác thế. Chứng cứ chứng minh cô ấy chắc chắn phải chết chính là, sau khi bị anh tông chết, cô ấy lại chết thêm một lần nữa. Có kẻ dùng một loại dụng cụ khoan chuyên dụng khoan trên người cô ấy mười bốn lỗ máu, những kẻ rành chuyện nói rằng, đó chính là mười bốn huyệt vị của ‘Thận kinh huyệt’.”
“Tình yêu Độ Mẫu” nói: “Huyệt vị trên cơ thể người là do Độ Mẫu tạo ra, một trong những giai đoạn quan trọng của việc tu luyện ‘cửa Thất Độ Mẫu’ chính là tu luyện kinh lạc huyệt vị, có kẻ phá hoại huyệt vị của cô ấy, chính là không muốn cô ấy đầu thai chuyển thế nữa. Rất có khả năng cô ấy được cho là hóa thân của Độ Mẫu, nếu cô ấy không thể chuyển thế, thì việc khai quật kho tàng sẽ không thể thực hiện được, ‘cửa Thất Độ Mẫu’ cũng đồng nghĩa với việc tự động biến mất. Ai mà lại làm thế, anh biết không?”
Vương Nham nói: "Đương nhiên không phải Liên minh Tân tín ngưỡng cũng chẳng phải Ô Kiên lạt ma rồi, hắn ta hòng mong ‘cửa Thất Độ Mẫu’ hiện thế ngay lập tức ấy chứ. Có phải em là người đã nói cho anh biết về 'Phái căm thù' mang sứ mệnh phong ấn, đoạn tuyệt và hủy diệt 'cửa Thất Độ Mẫu' tức 'Điện Huyết chú Ẩn thân nhân' không?"
“Tình yêu Độ Mẫu” nói: “Chắc là vậy rồi. Như vậy có thể phán đoán rằng Ô Kiên lạt ma ở cách anh không xa đâu, nói không chừng đang ở ngay bên cạnh anh đấy. Hơn nữa tôi đã đoán ra rồi, đã thế tội phạm mà anh truy nã lại nhận được sự đồng tình của Y Trác Lạp Mụ tức hóa thân của Độ Mẫu, vậy thì hắn hoặc cô ta chắc chắn là một kẻ có liên quan đến ‘cửa Thất Độ Mẫu’.”
Vương Nham nói: "Về vụ án này anh không muốn nói nhiều nữa. Theo em thì anh nên giải quyết rắc rối của mình thế nào đây?"
“Tình yêu Độ Mẫu” nói: “Làm tròn trách nhiệm của một người cảnh sát, quy y cửa Phật từ bi.”
Vương Nham nói: "Chuyện này có khả thi không? Ngày nào anh cũng phải đối mặt với tội ác, với bạo lực và những vụ án mạng."
“Tình yêu Độ Mẫu” nói: “Chỉ cần do số trời định sẵn, thì chẳng có gì là không thể cả. Một vị cảnh sát hướng Phật, tất yếu sẽ là hóa thân của chính nghĩa, giống như Hộ pháp thần uy hiếp tà ác. Hơn nữa dù sao anh cũng đã tông chết một người, niệm Phật chính là sám hối, độ người chính là chuộc tội.”
Những chuyện không thể xảy ra thì chẳng cần thiết phải thảo luận nữa, Vương Nham bèn đổi chủ đề: "Anh có hai đồng nghiệp, một kẻ muốn giết chết tên tội phạm, hắn ta đại khái là căm thù 'cửa Thất Độ Mẫu', một kẻ muốn phóng sinh cho tên tội phạm, hắn ta đại khái là rất thích 'cửa Thất Độ Mẫu'. Em nói xem anh nên làm thế nào đây?"
“Tình yêu Độ Mẫu” nói: “Thực ra anh biết mình nên làm thế nào mà. Anh là muốn nói cho tôi biết, tên tội phạm của anh rốt cuộc làm nghề gì, tại sao lại trốn chạy. Tôi hiểu rồi, lúc tu luyện, có lẽ tôi sẽ quán tưởng ra hắn.”
Vương Nham nhìn đồng hồ, gõ xuống: "Không có thời gian trò chuyện nữa rồi, tạm biệt."
Bước ra khỏi quán nét, Vương Nham tiến thẳng đến chiếc xe cảnh sát Land Rover đỗ trước cửa khách sạn. Bích Tú đã đến từ bao giờ, đang ngồi chễm chệ trên ghế lái, có vẻ như định tranh lái xe.
Vương Nham hỏi: "Sao không ngủ đi?"
Bích Tú buồn bã bực dọc nói: "Tôi ra phố lượn một vòng xem có chạm trán hoàng tử Hương Ba không."
“Cậu lại muốn làm càn à?”
“Tôi thấy hai người chẳng phải đang bắt tội phạm gì cả.”
“Không, nhất định phải bắt được hắn, nhưng không được bắn chết hắn.” Vương Nham nói xong liền bấm máy gọi cho Trác Mã.
Trác Mã nói: "Đang ngủ mà, vội cái gì, chưa đủ hai tiếng đâu."
Vương Nham nói: "Vậy cậu cứ ngủ tiếp đi, bọn tôi xuất phát trước đây."
Trác Mã nói: "Đầu lĩnh Vương à, không có tôi là anh hỏng việc đấy nhé, Bích Tú là một tên cảnh sát thích làm càn làm quấy cơ mà."
5
Trước cửa bệnh viện Tây Tạng chùa Drepung, người phụ nữ trung niên bán bình đồng vẫn chưa tới. Nơi bày bình đồng ngày hôm qua đã bị những kẻ bán trang sức chiếm lĩnh, nào là trân châu mã não, san hô thạch thiết, phỉ thúy vàng bạc, đồ thật đồ giả cuồn cuộn chảy trôi dưới đất như nước sông.
Hoàng tử Hương Ba hỏi một tiểu thương: "Người bán bình đồng đâu rồi? Đã muộn thế này cơ mà."
Tiểu thương nói: "Tôi cũng thấy lạ, sao cô ta vẫn chưa tới nhỉ. Hôm qua đã bán đi một chiếc rồi, chẳng lẽ vẫn chưa gom đủ chín mươi tám chiếc bình đồng ư."
Hoàng tử Hương Ba quyết định để Mai Tát đợi ở đây, còn mình thì đi trước đến A Ba Trát Xang.
Những bậc thềm đá kéo dài dẫn về phía A Ba Trát Xang dường như còn ngoằn ngoèo và chông chênh hơn ngày hôm qua, có lẽ là do hôm nay có nhiều sương mù. Càng lên cao sương mù càng dày đặc, mãi cho đến khi đâm sầm vào bức tường của A Ba Trát Xang anh mới biết mình đã đến nơi. Anh vội vã lùi lại phía sau, lùi lại năm mươi mét thì dừng lại, nhìn đồng hồ.
Hoàng tử Hương Ba đợi đến chín giờ bốn mươi phút thì nhìn thấy người phụ nữ trẻ đưa sữa ấy. Giống như hôm qua, người phụ nữ trẻ vai đeo thùng sữa, tay xách bình đồng, lom khom bước tới.
Anh bước ra đón, cười "hì hì" vài tiếng, rút ra một trăm tệ đưa qua: "Hôm nay cô gặp may rồi đấy. Tôi cho cô một trăm tệ, là muốn để cô nghỉ ngơi, cứ nghỉ ngơi ngay ở đây đi, tôi đi đưa sữa thay cô cho."
Người phụ nữ trẻ ngẩn người ngơ ngác, ánh mắt đầy vẻ hoang mang nghi ngờ.
“Là thế này.” Hoàng tử Hương Ba nói, “Tôi đến để hoàn thành tâm nguyện của A Mát nhà tôi, thắp một trăm linh tám ngọn đèn bơ trước pho tượng Phẫn Nộ La Sát, thế nên tôi bắt buộc phải vào trong.” Thấy người phụ nữ trẻ cứ dán mắt vào tiền, anh bèn bồi thêm một trăm nữa, “Xin cô đấy, cô thành toàn cho tôi cũng chính là thành toàn cho A Mát tôi, A Mát tôi sắp chết đến nơi rồi.” Vừa nói anh vừa rặn ra hai giọt nước mắt.
Người phụ nữ trẻ đặt chiếc bình đồng xuống, quay lưng lại phía hoàng tử Hương Ba. Hoàng tử Hương Ba ôm trọn chiếc thùng sữa, nhấc nó xuống khỏi lưng cô ta. Người phụ nữ trẻ lại quay người ôm lấy thùng sữa, đặt lên lưng anh, sau đó nhấc bình đồng lên lắc lắc vài cái, rồi vô cùng trọng thị giao nó vào tay phải của anh. Hoàng tử Hương Ba ướm thử trọng lượng chiếc bình đồng, thầm nghĩ sao chiếc bình đồng đầy ắp sữa này lại nặng thế nhỉ. Cúi đầu nhìn kỹ, lại thầm nghĩ hoa văn trên chiếc bình đồng này cũng là núi tuyết và suối nước nóng, chắc chắn cũng được mua từ chỗ người phụ nữ trung niên kia rồi.
Hoàng tử Hương Ba tiến về phía cánh cửa lớn của Mật pháp kinh đường thuộc A Ba Trát Xang.
Cửa mở ra, vẫn là cái đầu trọc lóc của ngày hôm qua, hắn ta có lẽ là lạt ma canh cửa, trợn trừng mắt nhìn hoàng tử Hương Ba đầy kinh ngạc: "Mày? Mày là ai? Mày muốn làm gì?"
Hoàng tử Hương Ba nói bằng tiếng Tạng: "Cô ấy bị ốm rồi, tôi đến đưa sữa thay."
Đầu trọc nói: "Cô ấy ốm thì bọn ta sẽ cử người ra lấy, không cần người khác đưa hộ." Nói xong liền định đóng cửa lại.
Hoàng tử Hương Ba thò một chân vào chặn cánh cửa lại: "Tôi vất vả lắm mới vác đến tận đây rồi, sao lại không cần?"
Đầu trọc nói: "Ta biết mày muốn vào mà, ngày hôm qua mày cũng muốn vào rồi còn gì."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Tôi nghe nói các lạt ma ở chùa Drepung ai cũng biết, vào ngày lễ Shoton này, nếu có ai đó hỏi thăm về 'niềm tin của chín mươi tám chiếc bình đồng', thì nhất định đó là điềm báo chấn động trời đất. Mấy trăm năm nay, các lạt ma vẫn luôn ngóng chờ."
Đầu trọc "ồ" lên một tiếng: "Mày chính là kẻ đã hỏi thăm về 'niềm tin của chín mươi tám chiếc bình đồng' đó à?" Hắn ta toàn thân run bắn lên, trừng trừng nhìn chiếc bình đồng trong tay hoàng tử Hương Ba, căng thẳng hét lên một tiếng: "Sao mày lại cầm nó, đặt xuống mau."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Anh cho tôi vào đi, vào trong rồi tôi khắc đặt xuống."
“Mày sẽ mang tai họa đến cho chúng ta đấy.” Đầu trọc lao bổ tới giật lấy.
Hoàng tử Hương Ba liên tục lùi lại phía sau, thùng sữa và bình đồng nặng trịch suýt kéo ngã nhúm anh xuống, nếu không vì nghĩ đến chúng là lý do duy nhất giúp anh bước vào A Ba Trát Xang, thật sự anh đã muốn vứt quách chúng đi cho rồi.
“Đưa đây, đưa đây, đưa đây.” Đầu trọc gầm lên, ôm chầm lấy chiếc bình đồng.
“Tranh cái gì chứ, có phải không đưa cho anh đâu nào.” Vừa nói, anh vừa đột nhận ra chiếc bình đồng này rất quan trọng, nếu không thì đối phương đã chẳng tranh cướp dữ dội thế. Hoàng tử Hương Ba vừa siết chặt tay giữ khư khư chiếc bình đồng không buông, vừa cởi sợi dây đeo thùng sữa ra khỏi vai. "Rầm" một tiếng, thùng sữa rơi bịch xuống đất, sữa văng trắng xóa cả người đầu trọc. Nhân lúc hắn ta đang lau mặt lau đầu, hoàng tử Hương Ba nhấc bổng chiếc bình đồng lên rồi cắm cổ chạy.
Anh chạy ngược về đường cũ, tiện tay hắt tung số sữa trong bình về phía người phụ nữ trẻ đang định chặn mình lại.
Người phụ nữ trẻ khóc lóc nói: "Trả lại chiếc bình đồng gia truyền cho tôi, chiếc bình đồng gia truyền đưa sữa mấy trăm năm nay của nhà tôi, trả lại cho tôi." Đột nhiên cô ta quỳ sụp xuống gào khóc: "Tổ tông ơi là tổ tông, ngài bảo Độ Mẫu sẽ đến lấy bình đồng trên đường đưa sữa cơ mà, giờ Độ Mẫu chẳng đợi được đâu, lại đợi được một tên cướp."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Tôi không phải cướp, tôi là sứ giả của Độ Mẫu, tôi chính là đến để lấy bình đồng đây." Nói xong, anh lướt qua người phụ nữ trẻ, cắm cổ chạy bán sống bán chết.
Đầu trọc đuổi theo sau, tấm áo cà sa dài lê thê vướng víu cả bước chân, chạy chưa được mấy bước đã bị hoàng tử Hương Ba bỏ xa một đoạn. Hắn ta lớn tiếng hò hét, giọng điệu quái dị tựa như tiếng thần gầm. Lập tức có những tiếng vọng lại kỳ quái không kém. Tất cả các lạt ma nghe thấy tiếng hò hét của thần linh, dù già hay trẻ, đều từ các gian điện và tăng xá hai bên bậc thang nhào ra đuổi theo hoàng tử Hương Ba. Thủy triều đỏ tía cuồn cuộn chảy xiết trong những ngõ hẻm chật hẹp huyền bí ấy, chốc chốc lại phát ra những tiếng gầm giận dữ đầy kinh hoàng.
Hoàng tử Hương Ba ngoảnh đầu nhìn lại, cắm cổ cuồng chạy.
Bậc thang khúc khuỷu quanh co suốt dọc đường, dốc xuống suốt dọc đường, hoàng tử Hương Ba giống như một chú thỏ chân trước ngắn chân sau dài, suýt ngã nhào mấy bận. Các lạt ma ngày một đông thêm, rất nhiều lạt ma trẻ tuổi quấn ngược cà sa lên eo, thoăn thoắt đuổi theo. Khoảng cách ngày một thu hẹp, con đường cũng ngày một nhỏ dần, hai bức tường cao ngất chạm đến tận trời oằn mình ép sát lại, ở giữa chỉ chừa lại một đường kẽ hở vừa đủ cho một người lách qua. Một vị lạt ma đứng chặn ngay phía trước, hoàng tử Hương Ba khựng lại, ngoảnh đầu nhìn đám lạt ma đang bám đuổi đằng sau, rồi lại cắm cổ chạy tiếp. Địa hình là từ cao xuống thấp, anh lao đầu lao cổ cắm xuống, cả người đâm sầm vào vị lạt ma kia. Vị lạt ma ngã quỵ xuống đất, anh cũng lăn lộn mấy vòng dưới đất. Chờ đến khi anh chật vật bò dậy để trốn chạy, cơn đau nhói ở đầu gối phải khiến anh hít hà xuýt xoa. Anh khập khiễng chạy đi, đám lạt ma đằng sau vừa la vừa hét đuổi sát gót, ba mươi mét, hai mươi mét, mười mét. Tệ hơn là phía trước lại xuất hiện kẻ chắn đường, một gã đàn ông mặc áo tăng bào màu đỏ tía đứng chặn ngang đường đi cứng ngắc không hở một kẽ hở.
Hoàng tử Hương Ba một tay ôm bình đồng, vung đấm hô lên: "Tránh ra, tránh ra."
Gã đàn ông hình như sợ hãi, người lách phắt sang một bên, nhường chỗ cho hoàng tử Hương Ba sượt qua, đồng thời hắn ngã rạp xuống đất, thân người nằm xoài chắn ngang, khom người lại, chặn đứng đám lạt ma đang bám đuổi đằng sau.
Nhân cơ hội này, hoàng tử Hương Ba rẽ phải rồi lại rẽ trái, chệnh choạng lết đến trước cửa bệnh viện Tây Tạng chùa Drepung, chợt nhận ra gã đàn ông mặc áo tăng bào màu đỏ tía vừa nhường đường cho mình lúc nãy chính là kẻ đã bảo vệ anh trên bãi phơi đại Phật ngày hôm qua. Gã đàn ông này rốt cuộc là ai, tại sao lại bảo vệ anh?
Hoàng tử Hương Ba lao đầu chui tọt vào chiếc Wrangler, hô lớn: "Đi mau."
Mai Tát khởi động xe. Hoàng tử Hương Ba căng thẳng nhìn chăm chăm ra phía sau. Một đám lạt ma điên cuồng đuổi theo, tên chạy đầu đàn tóm được chiếc xe Wrangler. Xe Wrangler khựng lại một nhịp rồi lao tới hất ngã bọn chúng.
“Mấy tên lạt ma này liều mạng thật đấy.” Mai Tát nói.
Xe Wrangler vùn vụt phóng đi dọc theo đại lộ Drepung. Các lạt ma vẫn tiếp tục bám theo đuổi bắt. Chiếc xe cảnh sát Land Rover vừa đến chùa Drepung vội vã đánh lái đuổi theo sau.
Hoàng tử Hương Ba thở hồng hộc, sờ sờ đầu gối phải đang đau nhức, ôm chiếc bình đồng ngắm nghía.
Mai Tát hỏi: "Đâu ra chiếc bình đồng thế này?"
Hoàng tử Hương Ba im thin thít chẳng nói một lời. Cũng ở dưới đáy bình, anh nhìn thấy ngay dòng chữ Tạng được khắc trên đó: "Bàn tay bị đánh cắp của Phẫn Nộ La Sát". Anh nhắm nghiền mắt trầm ngâm suy nghĩ: Hai chiếc bình đồng của bảy vị Độ Mẫu, hai chiếc bình đồng bị ác quỷ đánh cắp, hai chiếc bình đồng biểu tượng cho hai ngọn núi tuyết và hai suối nước nóng Shambhala, chiếc bình đồng có thể sản sinh ra hai vở Tạng kịch, hai chiếc bình đồng dẫn đến cái chết bi thảm của Thất tỷ muội 'A Chị Lạp Mụ', cuối cùng cũng tìm thấy rồi. Một chiếc bình đồng khắc chữ "Cát Thái Lộ Đinh", một chiếc bình đồng khắc chữ "Bàn tay bị đánh cắp của Phẫn Nộ La Sát". Mối quan hệ giữa chúng là gì? Rốt cuộc một trong hai chiếc bình đồng ấy có phải là chiếc bình đồng của Tông Khát Ba hay không? Quan trọng hơn là, trong những chữ khắc trên bình đồng, có chứa đựng thông tin gì về 'cửa Thất Độ Mẫu', chỉ nam về 'kho tàng cuối cùng' hay không?
Mai Tát lại hỏi: "Trên đó có gì thế anh?"
Hoàng tử Hương Ba kể lại cho cô nghe.
Mai Tát nói: "Tây Tạng e là có đến hàng vạn pho tượng Phẫn Nộ La Sát, rốt cuộc là pho tượng nào cơ chứ?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Đã chiếc bình đồng khắc chữ 'Bàn tay bị đánh cắp của Phẫn Nộ La Sát' xuất phát từ A Ba Trát Xang, mà A Ba Trát Xang lại là sự hiển hiện duy nhất của 'chín mươi tám ngọn núi tuyết' và 'chín mươi tám suối nước nóng Shambhala' tức chín mươi tám đạo tràng Mật tông, thì 'Phẫn Nộ La Sát' này chắc chắn chính là pho tượng Phẫn Nộ La Sát của A Ba Trát Xang."
Mai Tát nói: "Mấu chốt là chúng ta không tài nào ra vào được A Ba Trát Xang, không thể so sánh với bàn tay chưa bị đánh cắp, không cách nào biết được cái gọi là 'bàn tay bị đánh cắp' này trông như thế nào cả."
Hoàng tử Hương Ba nói: "A Ba Trát Xang đối với chúng ta có lẽ không còn ý nghĩa gì nữa, bởi vì có thể khẳng định rằng, sau khi có kẻ đánh cắp bàn tay của Phẫn Nộ La Sát đi, lại lắp cho nó một bàn tay khác, thế nên trong những tài liệu thông thường về chùa Drepung, chúng ta mới không nhìn thấy ghi chép nào về việc Phẫn Nộ La Sát bị cụt mất một bàn tay. Bây giờ điều quan trọng cấp bách là, chúng ta bắt buộc phải biết bàn tay bị đánh cắp của Phẫn Nộ La Sát có hình dáng thế nào, ấn quyết ra sao, kích thước lớn bao nhiêu, chất liệu bằng đất nung hay bằng đá, màu sắc gì, là màu khoáng Tây Tạng hay màu khoáng Ấn Độ."
Mai Tát nói: "Làm sao chúng ta có thể biết tường tận đến thế được?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Anh nghĩ đến 'Phật Thủ Điện'. 'Phật Thủ Điện' là một sự tồn tại trong lịch sử, ngoài việc sưu tầm mấy ngàn chiếc bàn tay Phật đến từ Tây Tạng, Trung Nguyên và Ấn Độ ra, nó còn hội tụ những ấn quyết Mật pháp cổ xưa nhất. Tu luyện Mật tông đòi hỏi phải kết hợp ba mật 'thân', 'ngữ', 'ý', đây là nền tảng để nhục thân thành Phật, đời này thành Phật. Thân mật là mô phỏng chính xác ấn quyết và tư thế ngồi của bổn tôn, ngữ mật là tụng niệm thật to những câu chú thuộc về bổn tôn, ý mật là hoàn toàn sở hữu tư tưởng và ý thức của bổn tôn tu luyện. Trong đó ấn quyết chính là biểu cảm đầu tiên của hình tượng bên ngoài và điều kiện tiên quyết của pháp lực thần kỳ. Tiếc là ấn quyết cổ xưa còn lưu lại chẳng còn bao nhiêu, theo sự biến mất của 'Phật Thủ Điện' mà trở thành truyền thuyết, kho tàng ấn quyết mà chúng ta có thể nhìn thấy chỉ có mấy chục loại. Thế nhưng sự lý giải của các cao tăng đời trước đối với mấy ngàn bàn tay Phật cũng như ấn quyết trong 'Phật Thủ Điện' thì vẫn chưa biến mất, những sự lý giải này đã được Đại sư khai quật Pemalingpa hội tụ lại trong cuốn sách 《Diệu Cát Tường Tĩnh Mãnh Ấn Quyết》."
“《Diệu Cát Tường Tĩnh Mãnh Ấn Quyết》 đang ở đâu, chúng ta tìm thấy được không?”
“Không tìm thấy cũng phải tìm, tất cả khải thị và chứng ngộ mà chúng ta có được cho đến nay đều có liên quan đến chùa Drepung, thế nên vẫn phải bắt đầu tìm kiếm từ chùa Drepung.”
“Nhưng lại giải thích thế nào về dòng chữ khắc ‘Cát Thái Lộ Đinh’ trên chiếc bình đồng kia?”
Hoàng tử Hương Ba nói: “Anh đã nói rồi, ‘Cát Thái Lộ Đinh’ vừa có thể là chùa Drepung, lại càng có khả năng chính là chiếc bình đồng đó. Xem ra bây giờ, bình đồng xuất phát từ chùa Drepung, đích đến suy cho cùng của nó có lẽ chính là: ‘Cát Thái Lộ Đinh’ là nơi tọa lạc của ‘bàn tay bị đánh cắp của Phẫn Nộ La Sát’, đồng thời cũng là nơi tọa lạc của ‘cửa Thất Độ Mẫu’. Bây giờ mấu chốt là phải xem trong ý nghĩa và sự định hướng của ấn quyết, có sự ứng chiếu và gia trì nào đối với ‘Cát Thái Lộ Đinh’ hay không.”
Kít một tiếng, Mai Tát đạp phanh gấp. Năm vị lạt ma và một chiếc ô tô xuất hiện giữa đường, chặn đứng chiếc xe Wrangler lại. Hoàng tử Hương Ba không kìm được thốt lên kinh hãi: "Chim lạt ma?" Tiếp theo liền nhận ra A Rược lạt ma và Ô Kiên Lâm Ba.
A Rược lạt ma bước tới, gõ gõ cửa xe. Hoàng tử Hương Ba đành bất lực hạ cửa kính xuống.
“Sự chỉ thị rõ ràng của Bất Động Phật bảo chúng tôi đến Chợ Tông Tự tìm anh, không ngờ anh ra ngoài nhanh như vậy. Tôi muốn nói chuyện với anh.” A Rược lạt ma với vẻ mặt lạnh băng.
Hoàng tử Hương Ba nhìn lướt qua phía sau rồi nói: “Tôi xuống, hay anh lên đây?”
“Ngay ở đây,” A Rược lạt ma nói. “Phật tổ là bậc chí tôn vô thượng truyền đạt chân lý không hề giả dối, thường thức thế này chắc anh không thể không biết chứ? Phật tổ hy vọng các tín đồ của ngài đạt được kim cang bất diệt thân thoát khỏi khổ đau sinh tử, hy vọng khi thế giới bắt đầu nhìn nhận lại tín ngưỡng và tìm kiếm lối thoát tinh thần, Phật pháp có thể chiến thắng ma chướng u mê, cô độc, trầm uất, và kim cang bất diệt thân có thể kiến thiết nên thành phố tương lai rực rỡ, thế nên mới phó thác cho Đại sư Liên Hoa Sinh chôn giấu ‘Cửa bảy vị độ mẫu’ ở nhân gian. Tôi nói vậy chắc anh không phản đối chứ? Chú ý này, để đạt được kim cang bất diệt thân thoát khỏi khổ đau sinh tử, chỉ làm được việc sợ hãi ba đường ác là súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục, hay mong cầu chuyển sinh vào ba đường thiện là người, thiên thần, phi thiên (tức bán nhân bán thần) thôi là chưa đủ. Những thiện pháp thế gian như vậy vốn dĩ không phải là mục tiêu theo đuổi của người tu hành. Tất cả luân hồi bao gồm luân hồi của con người, phi thiên và thiên thần, đều tràn ngập khổ đau sinh tử lưu ly, đều là ngôi nhà búa lửa ngút trời, biển khổ mịt mùng. Phật pháp chân chính yêu cầu chúng ta xuất ly ba cõi sinh tử, thoát khỏi sáu đường luân hồi, nó phủ định hoàn toàn thế giới ba đường ác, cũng phủ định hoàn toàn ý nghĩa của ba đường thiện. Anh có tâm xuất ly, ý giải thoát như thế này không? Anh là một kẻ phàm phu tục tử, hoàn toàn không thể có được, cho nên……”
“Cho nên tôi bắt buộc phải nói kết quả mình thám hiểm cho các anh biết à?”
“Tôi không cần kết quả, tôi cần quá trình, tôi hy vọng anh hợp tác với chúng tôi.”
“Nếu tôi từ chối thì sao?”
“Tôi chưa từng thấy kẻ phạm tội nào to gan như anh.”
“Tôi đã giết người, lại còn trộm văn vật, bây giờ lại còn chuẩn bị trộm văn vật quan trọng hơn nữa, bất cứ lúc nào các anh cũng sẽ bắt tôi lại. Anh muốn nhắc nhở tôi như vậy phải không?”
A Rược lạt ma không nói gì, trừng trừng nhìn một đám lạt ma Chợ Tông Tự đang đuổi theo phía sau và chiếc xe cảnh sát Land Rover phía sau các lạt ma.
Hoàng tử Hương Ba gầm lên một tiếng: “Tránh ra.”
A Rược lạt ma đột nhiên cởi áo choàng và áo cà sa của mình ra, ném qua cửa xe cho Hoàng tử Hương Ba: “Cho anh mượn đấy, có ích đấy.” Đoạn quay người bước về phía xe Lạt Ma.
Hoàng tử Hương Ba chộp lấy áo choàng và áo cà sa của A Rược lạt ma, vo tròn lại định ném ra ngoài cửa sổ, nhưng bỗng nhiên khựng lại, thầm nghĩ đúng là một tên lạt ma thông minh tuyệt đỉnh, lại biết trước lúc xuống xe mình sẽ làm gì. Anh ta lắc lắc áo choàng và áo cà sa rồi hét lớn: “Cũng là sự chỉ thị rõ ràng của Bất Động Phật sao?”
A Rược lạt ma ngoảnh đầu lại nói: “Phải.”
Xe Lạt Ma nhường đường. Xe Wrangler phóng vụt đi.
Các lạt ma Chợ Tông Tự đuổi tới nơi, nhìn theo bóng chiếc Wrangler, thở hồng hộc ngã vật xuống đất. Xe cảnh sát Land Rover hú còi, lao ầm tới chiếc Wrangler.
Mai Tát liếc nhìn gương chiếu hậu, căng thẳng nói: “Có lẽ chạy không thoát rồi.”
Ngã rẽ phía trước đột ngột lao ra một chiếc xe tải chở đầy xi măng, chắn ngang giữa đường đang từ từ rẽ phải, xe Wrangler đành phải dừng lại. Xe cảnh sát Land Rover đuổi kịp, dừng sát rạt phía sau xe Wrangler.
“Mẹ kiếp, sao mà xui xẻo thế.” Hoàng tử Hương Ba ném cái bình đồng vất vả lắm mới cướp được lên ghế, quặt tay ôm lấy sau gáy, ra vẻ phó mặc cho số phận. Chân Mai Tát chán nản rời khỏi bàn đạp ga, xe chết máy.
Thế nhưng trong xe cảnh sát Land Rover hình như đã xảy ra chuyện gì đó, cho đến khi chiếc xe tải phía trước hoàn thành khúc cua rẽ phải, nhường đường, cho đến khi Mai Tát khởi động lại xe Wrangler chạy về phía trước, cảnh sát vẫn không lao ra.
Người lái xe Land Rover là Bích Tú, cậu ta đuổi theo xe Wrangler, rút súng định bước xuống thì đẩy cửa mới phát hiện cửa xe không mở được. Xe Land Rover có thiết bị tự động khóa cửa, nhưng đáng lẽ người bên ngoài không vào được chứ không thể có chuyện người bên trong không ra được. Bích Tú bấm nút thế nào ở trước xe cũng không thấy cửa xe có phản ứng, định hạ kính xuống để chĩa súng bắn, thì kính cũng bị liệt luôn. Cậu ta quay đầu quát lên với Trác Mã: “Có phải mày giở trò quỷ gì không? Trưởng nhóm Vương, chắc chắn là hắn giở trò quỷ.”
Vương Nham trừng trừng nhìn Trác Mã ở ghế phụ lái, nghiêm giọng hỏi: “Có phải không?”
Trác Mã không trả lời, chỉ nói: “Để tôi xem nào.” Dứt lời, rướn người lên các nút bấm khua khoắng loạn xạ, ấn hồi lâu thì nghe "tách" một tiếng, cửa xe bật mở. Bích Tú lao vút ra ngoài.
Đã không kịp nữa rồi, lao ra ngoài ngược lại chỉ là lãng phí thời gian, chiếc Wrangler sớm đã mất dạng. Bích Tú giơ súng bắn một phát lên trời, giận dữ gào lên: “Trác Mã, Trác Mã.”
Trác Mã đang bước xuống từ trên xe, Bích Tú lao tới, giáng cho một đấm lệch cả mũi.
Trác Mã ôm mũi bình tĩnh nói: “Đây là Lhasa, dưới mí mắt của chư Phật, cửa xe không mở được là ý trời, có bản lĩnh thì anh đi mà tính sổ với Phật, trút giận lên tôi thì có ích gì?” Nói đoạn, chẳng chịu thiệt thòi chút nào đấm trả lại một cú, đánh lệch cả mũi Bích Tú.
Vương Nham bước về phía Trác Mã, nhỏ giọng hỏi: “Cậu bắt buộc phải nói thật cho tôi biết, tại sao cửa không mở được?”
Trác Mã nói: “Với tư cách là một cảnh sát hình sự quốc tế, tôi đến đây để tìm kiếm chứng cứ, chứ không phải để bắt bớ giết người bừa bãi, đây chính là sự thật.” Dứt lời, chui tọt vào xe cảnh sát Land Rover.
Vương Nham trầm mặc, anh ta đang nghĩ: Có nên báo cáo tình hình của Bích Tú và Trác Mã lên cấp trên không? Báo cáo chắc chắn đồng nghĩa với việc mất đi Trác Mã hoặc Bích Tú, mà mất đi Trác Mã sẽ dung túng cho sự nôn nóng thậm chí làm càn của Bích Tú; còn mất đi Bích Tú lại sẽ dung túng cho sự trầm ổn quá mức thậm chí vô vi của Trác Mã. Sự nôn nóng của Bích Tú và sự trầm ổn của Trác Mã thực ra đều là một loại nhu cầu, bây giờ chỉ xem Vương Nham anh ta ngả về bên nào. Còn suy nghĩ của anh ta là, Hoàng tử Hương Ba tốt nhất nên lộ ra sơ hở mới, chứng minh hắn chính là Ô Kiên lạt ma, hoặc người do Ô Kiên lạt ma phái tới. Nếu Hoàng tử Hương Ba cứ khăng khăng bước về phía cái chết, thì không ai cản nổi. Nghĩ vậy, anh ta trừng mắt nhìn Trác Mã rồi nói: “Bộ ba chúng ta thì tôi là trưởng nhóm, hai người phải nghe tôi.” Sau đó vẫy một tay, “Lên xe.”
Trong chiếc Wrangler đang lao vun vút, Mai Tát hỏi: “Bây giờ đi đâu?”
Hoàng tử Hương Ba nói: “Đến Tổng lãnh sự quán Nepal, thả tôi xuống, cô cứ tiếp tục đi.”
Gần như cùng lúc đó, trên xe Lạt Ma, A Rược lạt ma nói với Ô Kiên Lâm Ba đang lái xe: “Cởi cà sa của anh đưa cho tôi, đến chỗ khúc cua phía trước thì thả tôi xuống, anh bám theo sau, cố gắng để người phụ nữ lái xe kia phát hiện ra anh đang bám theo hắn.”
Ô Kiên Lâm Ba hỏi: “Có lẽ người lái xe bây giờ không phải phụ nữ, mà là Hoàng tử Hương Ba.”
A Rược lạt ma nói: “Hoàng tử Hương Ba đã xuống xe rồi.”
Ô Kiên Lâm Ba chỉ vào những lạt ma khác nói: “Hay là hai chúng ta cùng đi đi, việc bám theo giao cho bọn họ.”
6
Hoàng tử Hương Ba gọi điện cho Mai Tát, sau khi xác nhận xe Lạt Ma vẫn đang bám theo xe Wrangler, anh ta mới bước xuống từ chiếc taxi, yên tâm thoải mái sải bước đi về phía trước.
Đây là lần thứ ba anh ta bước vào Chợ Tông Tự, hiện tại anh ta là một lạt ma. Anh ta vừa có thể là lạt ma từ nơi khác đến, cũng có thể là lạt ma của Chợ Tông Tự. Chợ Tông Tự rất lớn, lạt ma rất đông, việc lạt ma các trát thương không quen biết nhau là chuyện thường xảy ra. Anh ta bước qua những con hẻm sâu thẳm ngoằn ngoèo, chốc chốc lại chạm mặt các lạt ma, ai nấy trừng mắt nhìn nhau, không một ai nhận ra anh ta chính là kẻ đã cướp đi chiếc bình đồng dâng sữa.
Anh ta đi thẳng đến Cam Châu Nhĩ Lạp Khang ở phía đông tầng hai của đại điện Thố Khâm, lễ bái Văn Thù Bồ Tát, cúng dường tiền nhang đèn, rồi hỏi một lạt ma trực gác xem mình có thể xem cuốn "Diệu Cát Tường Tĩnh Mãnh Thủ Ấn" do Đại sư quật tàng Bôn Ba Lạp Băng biên soạn hay không. Lạt ma trực gác trên dưới đánh giá anh ta rồi không nói gì.
Anh ta hỏi lại một lần nữa, lạt ma trực gác nói: “Anh ở đâu đến?”
Anh ta khách sáo đáp: “Tôi từ Bắc Kinh xa xôi tới.”
“Không có, ở đây không có "Diệu Cát Tường Tĩnh Mãnh Thủ Ấn".”
Vừa nghe khẩu khí của đối phương, Hoàng tử Hương Ba liền hiểu là hắn biết cuốn sách này, bèn nói: “Cam Châu Nhĩ Lạp Khang chẳng phải là tàng kinh các của Chợ Tông Tự sao, sao lại không có?”
Dường như lạt ma của Chợ Tông Tự tự cho rằng mình đang ở trung tâm giáo pháp Cách Lỗ phái (Gelugpa), có tư cách kiêu ngạo trước mặt lạt ma từ nơi xa đến, liền dùng giọng điệu quở trách nói: “Cái cậu lạt ma này thật hồ đồ, đã là Cam Châu Nhĩ Khang chuyên cất giữ Đại tạng kinh "Cam Châu Nhĩ" (Ganur) của Hiển tông, sao lại có những bí tịch Mật tông như "Diệu Cát Tường Tĩnh Mãnh Thủ Ấn" chứ?”
Hoàng tử Hương Ba cúi đầu, chắp hai tay nói: “Đối với thánh giáo mà nói, Lhasa là trung tâm, những nơi khác đều là chốn biên viễn xa xôi. Tôi, một lạt ma chốn biên viễn, hôm nay đã được mở rộng tầm mắt trước phong thái của lạt ma trung tâm, cảm ơn sự chỉ điểm của thượng sư bác học.”
Anh ta thêm từ “bác học” vào trước từ “thượng sư” làm tôn xưng, đó là cách đồ đệ dùng để gọi sư phụ. Lạt ma trực gác rất vui mừng, buông lỏng thái độ nói: “Tất cả những bí tịch quan trọng nhất của Chợ Tông Tự đều ở trong mật thất Giàng Ưng Khúc Kiệt, bao gồm cả "Diệu Cát Tường Tĩnh Mãnh Thủ Ấn".”
Hoàng tử Hương Ba khiêm tốn hỏi: “Xin thỉnh giáo thượng sư, làm thế nào tôi có thể đi vào?”
“Anh làm tài liệu tham khảo để tạc tượng phó hoạ phải không? Có thư giới thiệu của tự viện các anh là được.”
“À, thư giới thiệu ư? Có, có chứ. Xin hỏi đại danh của thượng sư?”
“Vân Đan Đa Cát.”
“Tôi sẽ mãi mãi ghi nhớ cái tên đã chỉ đường dẫn lối cho tôi vào thời khắc mấu chốt này.”
Hoàng tử Hương Ba biết rằng, mật thất Giàng Ưng Khúc Kiệt nằm ngay phía sau đại điện Thố Khâm. Năm xưa Tông Khát Ba (Tsongkhapa) muốn bế quan tĩnh tu ở ‘Nhương Quýnh Mã’, sau đó đệ tử của Tông Khát Ba là Giàng Ưng Khúc Kiệt·Trát Tây Ban Đan, người sáng lập Chợ Tông Tự, hy vọng được ở bên cạnh bầu bạn với tôn sư, nên đã cho dựng một gian mật thất tu luyện mật pháp ở không xa ‘Nhương Quýnh Mã’. Trong thời gian tu luyện, trong mật thất đã tự nhiên sinh ra một cỗ tượng đá Văn Thù Bồ Tát, vô cùng linh thiêng, khiến đại sư Giàng Ưng Khúc Kiệt trong khoảnh khắc cực ngắn đã nội sinh đại lạc vi tế, ngoại biến khổ lạc thành bạn, đạt được sự ngộ chứng của vô thượng du già. Từ đó mật thất trở thành thiên đường của các bậc thánh nhân, cảnh giới diệu kỳ của thành tựu, danh tiếng lẫy lừng khắp cõi, muôn nơi cùng chiêm ngưỡng.
Hoàng tử Hương Ba vội vã chạy đến cửa mật thất Giàng Ưng Khúc Kiệt, phát hiện ra ở đó ngoài tấm biển “Miễn tham quan” ra thì không có ai canh gác, bèn thò đầu thò cổ bước vào.
Một lạt ma trẻ tuổi khoanh chân ngồi trên sập đang lật xem một hòm (hán) kinh sách dài.
Hoàng tử Hương Ba bước lên mấy bước, "phịch" một tiếng quỳ sụp xuống, dập đầu trước cỗ tượng đá Văn Thù Bồ Tát tự nhiên sinh ra ở chính giữa, rồi ngẩng đầu quan sát, thấy bốn bức tường đều là tủ cửa kính, bên trong tôn thờ rất nhiều cuộn kinh sách bọc lụa vàng. Anh ta đứng dậy đi qua, định mở một cánh cửa kính thì nghe lạt ma trẻ tuổi hỏi:
“Anh đến đây làm gì?”
“Tra cứu "Diệu Cát Tường Tĩnh Mãnh Thủ Ấn", có thể nói cho tôi biết nó ở đâu không?”
“Giới thiệu thư.”
“Tôi từ Bắc Kinh xa xôi tới, quên mang theo rồi. Lạt ma Vân Đan Đa Cát của Cam Châu Nhĩ Lạp Khang là đệ của tôi, em trai nói các lạt ma ở mật thất Giàng Ưng Khúc Kiệt đều cực kỳ tốt bụng dễ nói chuyện, họ sẽ không làm khó tôi đâu, bảo tôi quay về Bắc Kinh lấy thư giới thiệu.”
“Anh từ Bắc Kinh đến, là chùa Ung Hòa à?”
“Đúng vậy.”
“A Rược lạt ma của chùa Ung Hòa dạo này thế nào?”
“A Rược lạt ma á? Ổng rất khỏe, rất khỏe.” Hoàng tử Hương Ba sờ sờ chiếc áo cà sa của A Rược lạt ma trên người mình, vẻ thành kính nói, “Thượng sư, ngài có thể thỏa mãn tôi chứ?”
Lạt ma trẻ tuổi gật đầu, đứng dậy, đi ra sau tượng đá Văn Thù, mở một cánh cửa kính, lấy ra một tập kinh sách, hai tay dâng cho Hoàng tử Hương Ba. Hoàng tử Hương Ba đón lấy, ngồi xuống đệm tọa, chụm hai chân lại, mở lớp lụa vàng trên đầu gối ra. Kinh sách hiện ra, là loại trang rời bằng kẹp gỗ, có cả chữ lẫn tranh, trên kẹp gỗ có khắc chìm mạ vàng dòng chữ Tây Tạng “Diệu Cát Tường Tĩnh Mãnh Thủ Ấn”, màu sắc của giấy và hình dáng của chữ tranh đều thể hiện sự cổ xưa và giá trị của nó.
Hoàng tử Hương Ba thầm nghĩ một bộ điển tịch trân quý như thế này mà mình lại được xem dễ dàng thế sao, dường như có chút không dám tin, cẩn thận mơn trớn, rồi lại nhìn lạt ma trẻ tuổi.
Lạt ma trẻ tuổi đoán được tâm tư của anh ta, nghiêm sắc mặt nói: “Bảo điển thế này là không dễ gì hiển thị cho người ta xem đâu.”
“Vậy tại sao tôi lại xem được?”
Lạt ma trẻ tuổi mỉm cười đầy bí ẩn: “Hôm qua ta đã mơ thấy anh, mơ thấy anh mặc cà sa của người khác, anh là một kẻ quật tàng giả, trăm năm khó gặp.”
Hoàng tử Hương Ba toàn thân run lên.
“Đừng sợ, mau xem đi.”
Anh ta lật từng trang từng trang một, mỗi trang đều vẽ ít nhất ba bàn tay Phật, mô tả bằng chữ có cái đơn giản có cái phức tạp, có cái nhận ra có cái không nhận ra. Anh ta phát hiện ra mấy ngàn bàn tay Phật của “Phật Thủ Đường” vậy mà không có cái nào trùng nhau. Cuối cùng cũng lật đến thủ ấn của Phẫn Nộ La Sát, tổng cộng có mười sáu loại, xem xét tỉ mỉ từng loại một, không thấy nhìn thấy ghi chép nào liên quan đến “Bàn tay bị đánh cắp của Phẫn Nộ La Sát” ở A Ba Trát Thương cả, thậm chí còn chẳng có nổi mấy chữ “A Ba Trát Thương”. Anh ta nghiên cứu hồi lâu, đột nhiên phát hiện thủ ấn của Phẫn Nộ La Sát được đánh dấu là mười bảy loại, thế nhưng hình vẽ của loại thứ mười bảy lại để trống, chỉ có một dòng mô tả đơn giản:
Kỳ khắc ấn, như bàn tay người, đất sét đúc phương bắc, sắc người Tạng miền nam.
Hoàng tử Hương Ba đương nhiên biết: “Kỳ khắc ấn” chính là ngón giữa, ngón vô danh và ngón cái chạm vào nhau, ngón trỏ và ngón út chổng ngược lên, rất nhiều vị mãnh liệt thần, hộ pháp minh vương đều dùng loại thủ ấn này, thế nên còn gọi là phẫn nộ ấn và cấm phục ấn. Nếu cả hai tay đều làm kỳ khắc ấn, thì lại gọi là Kim Cương Hùng Già Lô ấn. “Như bàn tay người” chính là to lớn bằng bàn tay người bình thường. “Đất sét đúc phương bắc” chỉ loại đất sét đúc thần linh sản xuất ở núi niệm Thanh Đường Cổ Lạp. “Sắc người Tạng miền nam” chính là sắc thịt nhạt, cái này là so với người Tạng miền bắc và miền đông mà nói, miền bắc và miền đông Tây Tạng độ cao lớn, tia cực tím mãnh liệt, màu da của con người tương đối đen, sử sách gọi là người Tạng đầu đen.
Vấn đề bây giờ là: Tại sao lại không có hình vẽ? Lẽ nào bàn tay La Sát này vẫn chưa bước vào “Phật Thủ Đường”? Có khả năng lắm, sau khi bàn tay La Sát bị đánh cắp, vẫn luôn lưu lạc trong dân gian, sở dĩ Đại sư quật tàng Bôn Ba Lạp Băng để trống hình vẽ, chính là muốn nói cho mọi người biết sự thật này. Nếu phỏng đoán này chính xác, thì cũng đồng nghĩa với việc cuối cùng đã biết được hình mạo cụ thể của “Bàn tay bị đánh cắp của Phẫn Nộ La Sát”. Vậy thì, hiện giờ nó đang ở đâu?
Khải thị của bình đồng là “Cát Thái Lộ Đinh”, tức là Chợ Tông Tự, mà khải thị của Chợ Tông Tự lại là “Kỳ khắc ấn”. “Kỳ khắc ấn” đại diện cho “nước” trong bốn nguyên tố vật chất đất, nước, lửa, gió; hướng chỉ của nó là phương nam; hàm nghĩa của nó là “tinh tấn” trong sáu ba-la-mật đa gồm bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ; cảnh giới của nó là tâm xuất ly — xuất ly khỏi cái khổ của ba cõi dục giới, sắc giới, vô sắc giới, xuất ly khỏi cái khổ của sáu đường luân hồi gồm súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục, loài người, loài bán nhân bán thần, loài thiên thần; thứ tự Mật tông của nó là sự chiếu rọi của Phật mẫu: Minh phi mới hạ giáng, tắm rửa ao sen, Độ mẫu giáp mặt, bên nước khởi hoa chương.
“Nước” tự nhiên phải là sông Lhasa, sông Lhasa nằm ở phía “nam” của Lhasa, nước sông ngày đêm không ngừng, “tinh tấn” suốt dọc đường, dáng vẻ nhảy nhót vui tươi y hệt như trạng thái tình thức linh hồn “xuất ly khổ ba cõi”. Tất cả những điều này đều rành rành trước mắt, nghĩa là, anh ta buộc phải đi tới sông Lhasa. Còn về thứ tự Mật tông của “Kỳ khắc ấn” là “sự chiếu rọi của Phật mẫu”, có lẽ có thể giải thích rằng sông Lhasa là dòng sông của Phật mẫu, là nơi tiên nữ giáng trần vào dịp lễ tắm rửa; bên bờ sông Lhasa, Độ mẫu thường trụ, tự nhiên sẽ có Lạp Chương hoa lệ chăng?
Hoàng tử Hương Ba xếp chồng mấy trang giấy rời vừa lật lên, dùng lụa vàng bọc lại, đứng dậy giao cho lạt ma trẻ tuổi, cúi người một cái rồi quay người bước đi, trong lòng lẩm bẩm: Sông Lhasa, sông Lhasa, bên bờ sông Lhasa có Độ mẫu ư? Anh ta bước một bước qua ngưỡng cửa mật thất Giàng Ưng Khúc Kiệt, vội vã bước về phía trước, nhưng ngặt nỗi vấp phải một cú ngã sóng xoài xuống đất. Trèo dậy nhìn lại, người ngáng chân anh ta hóa ra lại là một người. Kẻ đó úp mặt xuống đất, vặn vẹo đau đớn, trong tay nắm chặt một con dao xương sọ sáng loáng, kít kít cào từng nhát lên mặt sàn đá.
Hoàng tử Hương Ba kinh hãi đứng trân trân: Sát thủ xương sọ, hắn vậy mà lại bám theo đến tận đây ư? Giá mà mình có bản lĩnh giết người thì tốt biết mấy, bây giờ có thể giết quách hắn ta rồi, giết cái tên thích khách của tín ngưỡng, kẻ địch của quật tàng này đi.
Sát thủ xương sọ bò dậy, từng bước từng bước lết về phía Hoàng tử Hương Ba.
Hoàng tử Hương Ba nói: “Sao anh vẫn không chịu dừng tay vậy, anh cứ truy sát tôi thế này, thực ra anh còn nguy hiểm hơn cả tôi, bởi vì anh đang lấy Thương Ương Gia Thố làm kẻ địch, bất kỳ ai sùng bái Thương Ương Gia Thố đều có thể trừ khử anh.”
Sát thủ xương sọ nói: “Thương Ương Gia Thố không giết người, các người mà trừ khử tôi thì không những phản bội thánh giáo, mà còn phản bội chủ nhân của các người nữa.”
Hoàng tử Hương Ba nói: “Giết anh không phải là giết người, mà là giết quỷ, giết quỷ là do quỷ bức ra đấy chứ.”
Sát thủ xương sọ không thèm hé răng nửa lời, chỉ cắm cổ tiến về phía trước, dường như vết thương đã biến mất, con dao trong tay kêu lất phất.
Hoàng tử Hương Ba lùi lại phía sau, anh ta hoàn toàn có thể quay đầu chạy mất, thế nhưng anh ta không làm thế, trong lòng đột nhiên dâng lên một luồng cảm xúc kích động mãnh liệt, xuyên qua đôi mày nhíu lại vì căng thẳng, trào ra một thứ sắc bén của sự quả cảm và hy vọng, đâm phập một cái thật mạnh. Không phải dao, không phải mũi nhọn, mà là tình ca Thương Ương Gia Thố:
Bảo vật ở trong tay mình,
Không biết được giá trị của nó,
Một khi đã về tay kẻ khác,
Không nhịn được lại vừa giận vừa sốt ruột.
Sát thủ xương sọ khựng lại, dường như bài tình ca thực sự đã đâm nhói hắn ta.
Hoàng tử Hương Ba hỏi: “Có phải anh chưa từng nghe tình ca Thương Ương Gia Thố bao giờ không?”
Sát thủ xương sọ nói: “Tôi có phải nghe cậu hát lần đầu đâu.”
Hoàng tử Hương Ba vui mừng nói: “Anh vậy mà vẫn nhớ, nhớ tôi đã hát cái gì ư?”
Sát thủ xương sọ gật đầu. Hoàng tử Hương Ba nói: “Vậy anh hát đi, hát cho tôi nghe xem nào.”
Sát thủ xương sọ lại lắc đầu. Hoàng tử Hương Ba nói: “Tôi biết rồi, anh chỉ nhớ lời ca chứ không biết hát. Muốn học không?”
Sát thủ xương sọ “hừ” một tiếng, đột nhiên lại gào lên: “Tôi là một sát thủ, học nó để làm gì?”
“Thế thì thiệt thòi lớn rồi, một người Tây Tạng mà không biết hát tình ca Thương Ương Gia Thố thì người đó không hiểu về tình yêu.” Hoàng tử Hương Ba tin tưởng sức mạnh của Thương Ương Gia Thố, tin rằng sự lay động và xuyên thấu của tình ca Thương Ương Gia Thố là thứ mạnh mẽ nhất trong tất cả những thứ mạnh mẽ, bởi vì thứ nó khích lệ là bản năng của con người, là sự theo đuổi và lưu luyến bẩm sinh của con người đối với hạnh phúc. Cho dù lúc này tình ca phải đối mặt với ma quỷ, thì đó cũng là ma quỷ do con người biến thành, con người biến thành thì vẫn có nhân tính, chỉ là ít hơn người bình thường một chút mà thôi. Anh ta tiếp tục hát:
Cô nương đâu phải do mẹ sinh ra,
Chẳng lẽ là sinh từ cây đào ư?
Sự thay đổi sớm nắng chiều mưa này,
Sao lại còn nhanh hơn hoa đào rụng thế?
Sát thủ xương sọ ngẩn ngơ đờ đẫn, dường như có chung cảm xúc: Phải đấy, sao lại còn nhanh hơn hoa đào rụng thế?
Hoàng tử Hương Ba nói: “Hán tử trên thảo nguyên Rô Man Ni, đừng quên cách mà tôi dạy cho anh, chỉ cần anh biết kể câu chuyện về Thương Ương Gia Thố, biết hát tình ca Thương Ương Gia Thố, thì trên thảo nguyên sẽ không có người phụ nữ nào là không yêu anh cả. Bất kể cô ta là người cũ, hay người mới, bất kể từng là của anh, hay sau này sẽ là của anh.”
Sát thủ xương sọ cảm thấy mình sắp sụp đổ đến nơi, sợ hãi nói: “Tôi nói lại lần nữa, tôi là chủ nhân hộ pháp thế gian của ‘Ẩn Thân Nhân Huyết Chú Điện Thư Tường’, tôi không thể nào đi hát mấy cái bài tình ca Thương Ương Gia Thố gì sất, tôi giết anh chính là để giết chết tình ca.”
“Anh có thể giết được tôi, nhưng anh không giết nổi tình ca, cũng giống như không giết nổi nỗi niệm tưởng của anh đối với phụ nữ vậy. Buông con dao xương sọ của anh xuống, bước qua đây, nghe tôi dạy anh hát, anh cứ hát lên là sẽ biết mình rốt cuộc cần gì nhất, tu luyện rốt cuộc cần gì nhất ngay thôi.”
“Không không.” Tựa như tình ca Thương Ương Gia Thố đối với hắn ta là lời nguyền độc địa, là đao kiếm loang lổ máu tươi, sát thủ xương sọ không kìm được lảo đảo một cái, lại nói, “Đừng để tôi sập bẫy, tôi không thèm hát tình ca Thương Ương Gia Thố gì sất, kiếp này kiếp sau đều không hát.”
“Anh không hát, thì nghe vậy.” Hoàng tử Hương Ba lại cất giọng hát:
Con vẹt hoa biết nói,
Từ quê nhà đến phương này,
Người trong mộng của ta ơi,
Có bình an khỏe mạnh không?
Sát thủ xương sọ đầy rẫy nghi ngờ sợ hãi hét lên: “Đừng hát nữa, tôi không nghe.”
“Anh không nghe cũng phải nghe, đây là âm thanh vang dội nhất trên đời, cũng là âm thanh duy nhất có ích.”
“Mày mà còn hát nữa, tao ra tay đấy.” Lại là một trận dao xương sọ kêu lất phất.
“Tình ca Thương Ương Gia Thố là kết quả không sợ chết, ai mà dọa cho lùi bước được chứ. Đến đi, giơ con dao xương sọ của anh lên đi.” Hoàng tử Hương Ba hát với vẻ thắm thiết vô hạn:
Dưới đôi mắt phượng rợp bóng,
Giọt lệ tuôn rơi tựa mưa xuân,
Oan gia ơi nếu chàng có lương tâm,
Hãy quay về nhìn em một cái.
Sát thủ xương sọ chần chừ, dần dần tĩnh lại. Tinh thần Hoàng tử Hương Ba phấn chấn hẳn lên, hát lại một lần nữa. Sát thủ xương sọ với vẻ mặt đờ đẫn, dường như đã chìm đắm trong tiếng ca rồi.
Hoàng tử Hương Ba nói: “Người phụ nữ của anh, nhất định sẽ quay về bên anh. Nhưng anh trước tiên phải hát tình ca Thương Ương Gia Thố cho cô ấy nghe, hát cho đến khi cô ấy rơi nước mắt và cảm động, rồi lại hát tình ca Thương Ương Gia Thố đón cô ấy về nhà, sau đó cứ hát mãi như thế, chính là đầu bạc răng long.” Dứt lời, chắp hai tay làm tư thế chúc phúc, cắm cổ chạy mất dép.
Vừa chạy anh ta vừa nghĩ: Lúc sát thủ xương sọ sắp sửa giơ dao xông vào mật thất Giàng Ưng Khúc Kiệt, có người đã ra tay ngăn cản hắn ta. Là ai nhỉ? Ai có thể ngăn cản được sát thủ xương sọ? A Rược lạt ma? Ô Kiên Lâm Ba? Hay là cái tên đàn ông mặc áo cà sa màu bã trầu mấy lần ra tay cứu giúp ấy?
Anh ta chạy một mạch đến trước Bệnh viện Tây Tạng, chui tọt vào một chiếc taxi nói: “Bờ sông Lhasa nào gần đây nhất, mau.” Rồi rút điện thoại gọi cho Mai Tát.
Mai Tát nói cô ấy vừa lái xe Lạt Ma đi qua Xung Tắc Khang, đang hướng về phía tiểu Chiêu Tự.
Hoàng tử Hương Ba nói: “Quay đầu lại, đến bờ sông Lhasa ở vùng ngoại ô phía tây tìm tôi.”
Mai Tát nói: “Em nhìn thấy Dẫn Siêu Mã ở đầu hẻm Xung Tắc Khang rồi.”
Hoàng tử Hương Ba nói: “Dẫn Siêu Mã? Cô ta vẫn mặc trang phục tiên nữ ‘Lạp Mộ Thiết’ để lôi kéo khách hàng à?”
Nước sông Lhasa hơi đục, nhưng không phải đục do ô nhiễm, mà là đục do xói mòn đất đá. Ngay cả trong thời đại dân số, công nghiệp, nhà cao tầng ở trong và ngoài Lhasa tăng vọt như hiện nay, thì trong số các con sông ở tất cả các thành phố của Trung Quốc, sông Lhasa vẫn là con sông sạch nhất. Ánh hoàng hôn chiếu rọi xuống mặt sông, ánh sáng mềm mại, chảy trôi sống động. Ánh sáng mờ ảo bốc lên, đưa từng đợt sóng vỗ thanh tao vào sát bờ. Tiếng chim hót, tiếng rừng rậm, lời thơ bên bờ, đều tô điểm rực rỡ trong khoảng thời gian vô tận mông lung. Hoàng tử Hương Ba vất vả đứng vững dưới một gốc liễu xiêu vẹo, gặm khô một chiếc bánh mì mua ở cửa hàng ven đường, quan sát thật kỹ dòng sông và hai bên bờ, không hiểu tại sao “Kỳ khắc ấn” của “Bàn tay bị đánh cắp của Phẫn Nộ La Sát” lại dẫn dắt anh ta đến đây. Anh ta cởi áo cà sa và áo choàng của A Rược lạt ma ra, xách trên tay, đi về hướng đông, đi một lúc thì nhìn thấy Mai Tát lái chiếc Wrangler tới hội hợp.
Mai Tát dừng xe bước xuống, vừa nói vừa đi cùng anh ta, lúc thì đi trên đường Kim Châu, lúc thì đi trên kè sông, chẳng mấy chốc đã đi ngang qua Khách sạn Saffron nơi họ đang trọ.
Khách sạn Saffron nằm ở tận cùng phía nam đường Lỗ Định cách sông Lhasa chưa đầy năm chục mét, nhìn từ bờ sông, khách sạn trông giống như một chú chim bảy sắc đang ấp trứng bên bờ nước, vừa hoa lệ vừa sặc sỡ. Họ không quay về khách sạn mà tiếp tục đi về phía trước. Đã tối rồi, trời tối sầm lại một cách điên cuồng, sông Lhasa vì sự bao trùm của bóng đêm mà có chút bực dọc, dang tay duỗi chân gầm thét lên. Đèn đóm tụ tập thành cụm, các vì sao cũng tụ tập thành cụm, chỗ nào càng sáng càng không nhìn rõ rốt cuộc là thứ gì. Họ gom đầy một thân mệt mỏi bước quay về, đi đến chỗ đỗ xe Wrangler, rồi lại lái xe hướng về Khách sạn Saffron.
“Đường Lỗ Định Nam?” Hoàng tử Hương Ba liếc nhìn biển báo giao thông trước cửa Khách sạn Saffron rồi nói, “Chẳng phải ‘Lỗ Định’ chính là ‘Lộ Đinh’ của ‘Cát Thái Lộ Đinh’ sao? Mà đường Lỗ Định lại có cả nam lẫn bắc, cắt ngang toàn bộ phía tây Lhasa, dài mười mấy cây số, chúng ta vẫn hoàn toàn mù tịt.”
Mai Tát nói: “Có phải anh muốn đi hết mười mấy cây số đường Lỗ Định không?”
Hoàng tử Hương Ba nói: “Không, ý tôi là, ‘Cát Thái Lộ Đinh’, tại sao lại là ‘Cát Thái Lộ Đinh’? Liệu nó có trùng khớp với Khách sạn Saffron không nhỉ?” Anh ta đập đập trán vắt óc suy nghĩ, bỗng thở dài thườn thượt rồi nói, “Mệt rồi, hết cảm hứng rồi, nghỉ ngơi thôi.” Anh ta sải bước đi tới, lái chiếc Wrangler tới đỗ vào trong sân Khách sạn Saffron.
Họ ngáp ngắn ngáp dài ăn tối ở nhà hàng tầng một. Rất đói, nhưng lại ăn không nổi, đều bảo mặc kệ xừ nó đi, tối nay ngủ một giấc thật ngon rồi tính tiếp. Ăn xong, Hoàng tử Hương Ba đảo mắt nhìn quanh nhà hàng.
Mai Tát hỏi anh ta đang tìm gì.
Anh ta nói: “Em chẳng phải bảo em nhìn thấy Dẫn Siêu Mã lôi kéo khách hàng ở đầu hẻm Xung Tắc Khang đấy ư? Cô ta đã tráo đổi bình đồng của chúng ta, anh muốn biết sao cô ta còn dám mặt dày đối mặt với chúng ta đây.”
Mai Tát cười lạnh một tiếng nói: “Thích thì cứ thích thôi, đừng tìm cớ cho bản thân nữa. Sao anh lại đi thích một người thiếu mất một bàn tay cơ chứ?”
Hoàng tử Hương Ba không cam lòng đi hỏi một nhân viên phục vụ: “Dẫn Siêu Mã về chưa?”
“Dẫn Siêu Mã? Dẫn Siêu Mã nào cơ?”
“Chính là cái cô gái đưa chúng ta từ đầu hẻm Xung Tắc Khang đến đây ngày hôm qua ấy.”
Nhân viên phục vụ lắc đầu, tỏ ý không nhớ ai đã đưa họ đến đây.
Mai Tát không giấu nổi sự bực tức nói: “Chính là cái cô gái lắp chân giả ấy.”
Nhân viên phục vụ “à” lên một tiếng: “Cát Thái Lộ Đinh á? Vẫn chưa về.”
“Cát Thái Lộ Đinh? Em nói gì cơ, cô ấy tên là Cát Thái Lộ Đinh ư?”
Hoàng tử Hương Ba chao đảo ngã nhào, anh ta định chồm lên trước thì bị cái ghế cản lại nên ngã nhào vào đống thức ăn trên bàn, một chậu sữa chua văng tung tóe, hắt lên người họ lấm lem hoa hòe hoa sói. Anh ta đẩy bàn ra hét lớn: “Mai Tát, đi mau.” Tiện chân đá văng chiếc ghế trước mặt.
7
“Hóa ra Dẫn Siêu Mã chính là Cát Thái Lộ Đinh, bây giờ thì hoàn toàn khớp rồi.” Hoàng tử Hương Ba lái chiếc Wrangler phóng bạt mạng nói, “‘Cát Thái Lộ Đinh’ vừa là Chợ Tông Tự, vừa là bình đồng, hơn nữa còn là một cô gái có liên quan mật thiết đến ‘Cửa bảy vị độ mẫu’. Cô ấy chính là Độ mẫu, Độ mẫu giáp mặt, bên nước khởi hoa chương, hoa chương chính là Khách sạn Saffron, Khách sạn Saffron được xây dựng là vì cô ấy. Cho dù là vô thức, nhưng sự sắp đặt của thần linh thường thể hiện trong sự vô thức của con người.”
Mai Tát nói: “Cô ấy rõ ràng tên là Cát Thái Lộ Đinh, sao lại phải lừa chúng ta?”
Hoàng tử Hương Ba nói: “Có lẽ Dẫn Siêu Mã là một cái tên khác của cô ấy, có lẽ là sự thử thách của người quật tàng dành cho chúng ta, thử thách xem chúng ta có trí tuệ để tìm ra cô ấy cuối cùng hay không. Hơn nữa, nếu không phải chúng ta tìm thấy hai chiếc bình đồng thất lạc, thì cho dù ngay từ đầu đã biết cô ấy tên là ‘Cát Thái Lộ Đinh’, thì đối với chúng ta có ích gì chứ? Cô ấy đã tráo đổi chiếc bình đồng có khắc chữ ‘Cát Thái Lộ Đinh’ ở đáy cho chúng ta, vô tình trở thành một sự thúc đẩy, thúc đẩy chúng ta đi tìm chiếc bình đồng còn lại. Bởi vì thực ra ‘Bàn tay bị đánh cắp của Phẫn Nộ La Sát’ trên chiếc bình đồng kia, mới có thể khiến chúng ta hiểu được giá trị của cô ấy.”
Mai Tát nói: “Em vẫn không hiểu, không hiểu sự xuất hiện của cô ấy, sự xuất hiện của ‘Cát Thái Lộ Đinh’ có quan hệ gì với việc quật tàng ‘Cửa bảy vị độ mẫu’.”
Hoàng tử Hương Ba nói: “Bây giờ mấu chốt là tìm được cô ấy, tìm được cô ấy rồi khắc hiểu.”
Đầu hẻm Xung Tắc Khang đèn đuốc sáng trưng, trên khu chợ người qua kẻ lại, đã không còn nhìn thấy bóng dáng của Cát Thái Lộ Đinh đâu nữa. Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát đi dò hỏi khắp nơi: “Cái cô gái tàn tật lắp chân giả bên tay phải ấy, cái cô gái rất xinh đẹp mặc trang phục tiên nữ ‘Lạp Mộ Thiết’ ấy.” Rất nhiều người đều nói, nửa tiếng trước cô ấy vẫn còn ở đây. “Cô ấy đi đâu rồi?” Lại rất nhiều người nói: “Cô ấy lôi kéo được khách hàng rồi, chắc chắn đã đến Khách sạn Saffron rồi.”
“Khách hàng ở đâu ra, đi xe gì đi?”
Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát lập tức quay trở lại Khách sạn Saffron, khi đi đến một phía Bảo tàng Tây Tạng trên đường Lạp Bố Lâm Khả, con đường bị chặn lại. Rất nhiều xe dừng lại, tài xế và những người trên xe đều chạy về phía rặng cây ven đường, nơi đó tụ tập một đám đông đen nghịt, dưới ánh đèn đường, vô số gương mặt hoảng sợ bàng hoàng cứ lướt qua lướt lại.
Có người hô lên: “Đã gọi 110 chưa?”
Hoàng tử Hương Ba muốn đi vòng qua, nhưng vòng thế nào cũng bị xe chặn lại, giống như không ép họ đỗ xe bước xuống thì không chịu thôi vậy.
Lại có người hét lên: “Giết người rồi, giết người rồi.”
Sự hiếu kỳ lạnh lẽo ảm đạm buộc họ phải xuống xe, đi theo dòng người chen về phía trước.
Dưới rặng cây nằm một cõi thi thể phụ nữ. Ngay cái nhìn đầu tiên đã khiến trái tim Hoàng tử Hương Ba suýt nhảy thốc lên cổ họng, a, a…… Anh ta lắp bắp không thốt nên lời.
Còn Mai Tát thì tái mét mặt mày, kinh hoàng kêu lên: “Cát Thái Lộ Đinh?”
Đúng vậy, đây chính là một cô gái tên là Cát Thái Lộ Đinh.
Hoàng tử Hương Ba nhớ lại truyền thuyết “vụ án thảm khốc năm xưa” mà lạt ma cận thị ở Chợ Tông Tự đã kể cho anh ta nghe: “Có người đã phát hiện ra thi thể của bảy chị em ‘A Tỷ Lạp Mụ’ ở Đang Nhã Ung Thố, họ bị chặt đứt tay chân múa hát, cắt đứt cổ họng ca hát, những bím tóc của họ bị nhổ trơ trụi, máu me đầm đìa khắp đầu, họ không còn cả tai nữa. Bi thảm hơn nữa là, mỗi người bọn họ đều bị khoét đi một huyệt đạo kinh lạc.”
Là lịch sử biến thành hiện thực, hay hiện thực quay trở lại lịch sử? Giống như những gì anh ta từng chứng kiến, Cát Thái Lộ Đinh thảm hại trần truồng khắp người, trên người chi chít những lỗ máu lồ lộ đập vào mắt. Tổng cộng có chín lỗ máu, rõ ràng là hướng đi của “Túc Thái Dương Bàng Quang Kinh Huyệt”. Cát Thái Lộ Đinh nằm sấp trên mặt đất, chiếc chân giả đè dưới bụng, dường như trước khi chết cô ta đã dốc hết sức lực để bảo vệ chiếc chân giả của mình.
Hoàng tử Hương Ba run lẩy bẩy, vô thức sờ sờ chiếc chìa khóa vàng đầu vẹt ở cổ, đẩy Mai Tát một cái: “Mau ra xe đợi anh.” Đoạn nghiến răng lao tới, phủ phục lên người Cát Thái Lộ Đinh khóc rống lên. Dường như nỗi bi thương đã khiến anh ta chẳng màng gì nữa, người anh ta dính đầy máu của Cát Thái Lộ Đinh, đỏ rực một một mảng.
Cảnh sát tới nơi, vội vàng kéo anh ta dậy, hỏi: “Anh là gì của cô ấy?”
Hoàng tử Hương Ba đau đớn tột cùng, không nói nên lời. Cảnh sát an ủi anh ta, kéo anh ta rời khỏi hiện trường, nhưng lại không phát hiện ra rằng, lúc Hoàng tử Hương Ba phủ phục trên người Cát Thái Lộ Đinh khóc rống, anh ta đã tháo chiếc chân giả tay phải của cô ấy xuống, đeo lên tay mình. Bây giờ anh ta có tới ba tay, nhưng dưới ánh đèn đường lốm đốm, cảnh sát không phát hiện ra anh ta có ba tay. Anh ta ôm tay trước ngực, lủi vào bóng tối lùi lại mấy bước, đột nhiên quay người, sải bước chạy vụt đi, đâm sầm vào chiếc xe Wrangler đang mở toang cửa.
Mai Tát khởi động xe Wrangler.
Xe Lạt Ma trong chỗ kín bám theo sau, chiếc xe cảnh sát Land Rover còn kín đáo hơn cũng bám theo sau, kẻ bám theo cuối cùng là một chiếc SUV Hyundai màu đen. Lhasa chìm trong căng thẳng, một đợt sấm lăn qua đỉnh đầu, nhưng trời lại không mưa.
Hoàng tử Hương Ba trầm tư, trong chớp mắt, bài tình ca Thương Ương Gia Thố thoáng qua trong tâm trí:
Ban ngày nhìn em đẹp tuyệt trần,
Ban đêm ngửi hương da thịt thơm nức mũi,
Người bạn đời trọn đời của anh,
Xinh đẹp y hệt như Cát Thái Lộ Đinh.
Anh ta đau đớn nói: “Chúng ta dựa theo chỉ dẫn của "Địa Hạ Dự Ngôn", mưu cầu mở ra ‘Cửa bảy vị độ mẫu’, làm rõ rốt cuộc ‘Quật tàng cuối cùng’ là gì. Đây là sự nỗ lực vì tín ngưỡng, muốn đạt được kết quả mây tan thấy mặt trời, nhưng lại không ngờ theo sau đó lại là sự máu me, cái chết, khủng bố vô cùng tàn khốc. Ở Bắc Kinh, Cơ Cơ Bố Xích chết rồi; ở tu viện Labrang, Nhân Tăng Vượng Mẫu chết rồi; ở tu viện Kumbum, Y Trác Lạp Mụ chết rồi; đến Chợ Tông Tự, lại chết thêm Cát Thái Lộ Đinh. Những cái chết này dường như đều do chúng ta mang lại, anh không biết còn sinh mệnh nào đang đợi phải trả giá vì chúng ta nữa, anh chẳng muốn tiếp tục nữa rồi.”
Mai Tát nói: “Nhưng anh đã đâm lao phải theo lao rồi, nếu không tiếp tục, cả em cả anh đều phải chết.”
Hoàng tử Hương Ba thở dài: “Đúng vậy, chúng ta không chi phối được tất cả mọi thứ, bao gồm cả bản thân mình.”
“Hơn nữa máu me và cái chết chứng minh tầm quan trọng của ‘Cửa bảy vị độ mẫu’, những đại quật tàng đều là sự quang phục cũ đổi mới, nối tiếp quá khứ mở ra tương lai, sự quang phục tôn giáo theo nghĩa mật pháp đều mang theo hơi thở máu me nguyên thủy, điều này từ thời Liên Hoa Sinh đã có rồi. Sở dĩ Đại sư Liên Hoa Sinh tiên phong mở ra phong trào quật tàng, chính là bởi vì khi kinh giáo từ Ấn Độ truyền đến Tây Tạng, cuộc đọ sức giữa tín ngưỡng mới và tín ngưỡng cũ luôn đi kèm với mưa máu gió tanh. Ngài đem chôn giấu kinh giáo để chờ ngày mai sau, đồng thời cũng tiên tri rằng: Ma quỷ đang quật tàng tín ngưỡng cũ, Phật tử đang quật tàng tín ngưỡng mới. Giống như không có ma quỷ thì không có thiên sứ, không có tín ngưỡng cũ thì không dẫn dụ được tín ngưỡng mới vậy.”
Hoàng tử Hương Ba lắc đầu: “Tín ngưỡng chân chính sẽ không cũ, cũng không mới, nó vẫn luôn bất biến, giống như bản tính của con người, phát triển mấy ngàn mấy vạn năm rồi, nó có thay đổi đâu chứ?”
Mai Tát biết bây giờ không phải lúc để bàn những chủ đề này, lập tức ngậm miệng lại.
Bầu trời rải những giọt mưa sao, mặt đất đang khóc, màn đêm từng trận từng trận co rút. Cảm xúc cứ mãi luẩn quẩn trong sự bi thương thê lương, mà đối với Hoàng tử Hương Ba, dường như cách duy nhất có thể giải tỏa sự uất ức chính là hát tình ca Thương Ương Gia Thố. Anh ta nặng nề đau đớn cất giọng hát, cho đến khi hát đến mức rơi nước mắt, rồi nghẹn ngào dừng lại.
Mai Tát vừa lái xe vừa nghe anh ta hát, một giọt nước mắt trào ra trong khóe mắt, tầm nhìn lập tức mờ mịt. Cô ấy nghĩ đến lời hẹn ước giữa mình và Hoàng tử Hương Ba, vội vã nuốt ngược vào trong, không để giọt nước mắt trong suốt lăn xuống. Bỗng nhiên nói: “Em muốn biết, nếu có một ngày, em chết đi, anh cũng sẽ hát như thế này, cũng lấy tình ca làm tiếng khóc chứ?”
“Sẽ chứ.” Anh ta đáp, rồi lại đổi lời, “Sao em lại chết được chứ, có anh ở bên cạnh em cơ mà.”
Mai Tát nhìn ra ngoài cửa sổ, hỏi: “Bây giờ chúng ta đi đâu?”
“Đi đâu cũng nguy hiểm, cứ ở trên đường đã.”
Hoàng tử Hương Ba lấy giấy lau nước mắt, cũng lau sạch vết máu dính đầy ngực, ôm chiếc chân giả của Cát Thái Lộ Đinh vào lòng, cẩn thận nghiên cứu: “Không sai, giống hệt như ghi chép trong "Diệu Cát Tường Tĩnh Mãnh Thủ Ấn", kỳ khắc ấn, to bằng bàn tay con người, dùng đất sét đúc phương bắc, sắc thịt nhạt. Quá cao tay, vậy mà lại biến ‘Bàn tay bị đánh cắp của Phẫn Nộ La Sát’ thành chân giả. Lúc mới gặp cô ấy anh đã có cảm giác rồi, nhưng lúc đó chưa nói được, cứ tưởng là vẻ đẹp của cô ấy cùng với thứ ngôn ngữ cung cấp miễn phí rượu lúa mạch, trà bơ, thịt khô, váng sữa, cùng với trang phục tiên nữ ‘Lạp Mộ Thiết’ của cô ấy đã mê hoặc anh. Bây giờ anh mới hiểu ra, thứ thực sự mê hoặc anh hóa ra lại là chiếc chân giả của cô ấy. Rõ ràng là người của ‘Ẩn Thân Nhân Huyết Chú Điện Thư Tường’ đã sát hại cô ấy, bởi vì bọn họ phát hiện ra cô ấy là mấu chốt của ‘Sách chỉ dẫn thọ ký’. Nhưng ‘Ẩn Thân Nhân Huyết Chú Điện Thư Tường’ lại không trải qua quá trình quật tàng, nên không biết tại sao cô ấy lại là mấu chốt, bằng không chiếc chân giả đã sớm không cánh mà bay rồi.”
Anh ta mơn trớn từng ngón tay của chiếc chân giả, rồi lại nhìn từ cổ tay hướng vào trong, bên trong có một trục tròn bằng gỗ dài chừng nửa gang tay, muốn lấy ra, bẻ bẻ, phát hiện ra nó được cố định: “Làm sao bây giờ? Đây chính là một món văn vật trân quý, đập nát thì tiếc quá.”
Mai Tát nói: “Nếu anh mà đập nát được, thì ở đây đã chẳng có quật tàng nào nữa rồi, vật quật tàng đều cứng như kim cang, nhất định nó đã được thiết lập cơ quan rồi đấy, tìm kỹ lại xem.”
Hoàng tử Hương Ba dùng chiếc chân giả gõ gõ lên cửa xe, quả nhiên cứng đến mức xe hỏng mà nó không suy suyển. Anh ta lật qua lật lại tìm cơ quan, chỗ này ấn chỗ nọ bóp, hì hục nửa ngày trời cũng chẳng nghe thấy tiếng “tách” nào vang lên. Anh ta nghĩ chắc là chỗ nào đó đã bị mình sơ suất rồi, bèn cau mày vắt óc nhớ lại tất cả mọi chi tiết, nhớ đến mức đầu đau như búa bổ.
Mai Tát liếc nhìn gương chiếu hậu nói: “Xe Lạt Ma lại bám theo kìa.”
Hoàng tử Hương Ba nói: “Thứ bọn họ cần bây giờ là kết quả chứ không phải chúng ta, không thể dừng lại được, đáp án bắt buộc phải tìm ra trong xe. Mau lên, mau nghĩ đi, Mai Tát em nên thông minh hơn anh chứ.”
Mai Tát tăng tốc độ: “Đến phía trước mua chai nước đi, khát quá.”
Họ mua mấy chai nước khoáng ở một sạp hàng ven đường, nhanh chóng rời đi. Hoàng tử Hương Ba vặn nắp chai, đưa cho Mai Tát. Xe tròng trành, nước tràn ra hắt lên chiếc chân giả. Hoàng tử Hương Ba vội dùng tay áo cẩn thận lau sạch.
Mai Tát uống một ngụm nước rồi nói: “Vào thời đại Thương Ương Gia Thố, có một vị quật tàng sư đã chia quật tàng thành sáu loại: Thiên quật tàng, địa quật tàng, kinh quật tàng, ý quật tàng, hỏa quật tàng, thủy quật tàng. Thiên quật tàng là hư không quật tàng giáng xuống từ trời, địa quật tàng là nham thạch quật tàng chôn dưới đất, kinh quật tàng là cuộn giấy vàng ẩn giấu trong kinh văn có sẵn, ý quật tàng là linh thức quật tàng chôn sâu trong lòng người, hỏa quật tàng là thánh khí quật tàng được nung qua lửa, còn thủy quật tàng chính là hộp mật bắt buộc phải vớt trong nước. Chân giả của Cát Thái Lộ Đinh nếu là quật tàng hoặc vật quật tàng, thì nên được coi là hỏa quật tàng, bởi vì nó là phôi đất sét, bắt buộc phải qua nung bằng lửa than.”
Hoàng tử Hương Ba nói: “Hỏa quật tàng với thủy quật tàng gì chứ, nói mấy cái này có ích gì đâu.”
Mai Tát nói: “Hỏa quật tàng sợ nước, thủy quật tàng sợ lửa, nước lửa không dung nạp, sao chúng ta không thử dùng nước xem sao?”
Hoàng tử Hương Ba ngẫm nghĩ nói: “Đúng thế, vừa khéo nó lại là kỳ khắc ấn, đại diện cho nước, hướng chỉ là sông Lhasa, mà thứ tự Mật tông của nó lại là minh phi mới hạ giáng, tắm rửa ao sen, Độ mẫu giáp mặt, bên nước khởi hoa chương.”
Xe Wrangler băng băng qua màn đêm Lhasa, từ đường Đoạt Đề hướng bắc đến đường Tề Lạp, rồi đến đường Nương Nhiệt, đường Đang Nhã, sau đó lái vào đường Lỗ Định, đường Kim Châu, dọc theo sông Lhasa hướng về phía đông đi qua đường Giang Tô, quay về đường Đoạt Đề. Đây gần như là một cung đường vành đai vòng quanh Lhasa, Mai Tát lái hết vòng này đến vòng khác.
Mai Tát nói: “Bám theo chúng ta không chỉ có xe Lạt Ma, hình như còn có xe cảnh sát Land Rover và một chiếc SUV Hyundai nữa. Phải làm sao đây? Sắp hết xăng rồi.”
“Không sao cả, dừng lại đổ xăng đi, bây giờ chưa phải lúc bọn chúng ra tay đâu.”
Khi dùng nước khoáng ngâm mềm chân giả, lấy cái trục tròn bằng gỗ dài nửa gang tay ra từ bên trong, thì trời đã về khuya. Trục tròn bằng gỗ được khép chặt bằng mộng, tâm trục khảm một viên ngọc bích. Ấn nhẹ vào viên ngọc bích, trục tròn liền bật mở, bên trong là một cuộn da thú mỏng như cánh ve. Miếng da thú rất chắc chắn, quấn bọc một tờ giấy trắng trông tựa như lụa là.
Xe Wrangler đang đi ngang qua Hạc Xanh Hada. Hoàng tử Hương Ba mở tờ giấy trắng ra, nhìn thấy trên đó chẳng có gì cả, không giấu được vẻ kích động nói: “Lại là ‘Quang thấu văn tự’ rồi.”
“Để em xem nào.” Mai Tát dường như quên mất mình đang lái xe, quay phắt người lại định xem, xe Wrangler lướt phắt qua lề đường, lao thẳng lên vỉa hè. May mà trên vỉa hè không có ai, đợi đến khi xe lăn xuống lại, xe Lạt Ma bỗng tăng tốc, lao ngang chặn ngay trước mặt.
Mai Tát đạp thốc phanh, suýt chút nữa hất văng Hoàng tử Hương Ba ra ngoài. A Rược lạt ma và mấy lạt ma khác từ trên xe Lạt Ma bước xuống, nhanh chóng tiến lại gần xe Wrangler.
Hoàng tử Hương Ba hạ cửa kính xe xuống, với tay cầm lấy chiếc áo choàng và áo cà sa mà A Rược lạt ma cho mượn bên cạnh, ném ra ngoài: “Cảm ơn nhé, phiền anh tránh ra.”
A Rược lạt ma đón lấy rồi nói: “Anh đã thu được gì rồi, giao ra đây, thứ đó không thuộc về anh, anh không phải lạt ma, thậm chí còn chẳng phải là một tín đồ thấy Phật liền lạy.”
Hoàng tử Hương Ba giật mình: “Chúng tôi có thu được gì đâu.”
A Rược lạt ma nói: “Nhất định là thu được rồi, hai người không chịu quay về Khách sạn Saffron chính là chứng minh.”
Hoàng tử Hương Ba nói: “Nói một câu thật lòng, cho dù có đưa cho các anh, các anh cũng không thể nào mở được ‘Cửa bảy vị độ mẫu’, trên ‘Quang thấu văn tự’ chỉ có ‘Sách chỉ dẫn thọ ký’, các anh không có năng lực giải mã nó đâu.”
A Rược lạt ma nói: “Có khó khăn tôi sẽ thỉnh giáo anh. Nhưng anh phải hiểu rằng, anh không thể nào lấy được ‘Quật tàng cuối cùng’ đâu. Quật tàng là sự tái sinh của Phật pháp, nó dựa vào sự kết hợp của Phật pháp tăng tam bảo, dựa vào căn khí, chứ không dựa vào một kẻ phàm phu tục tử người ngợm đầy uế trược. ‘Quang thấu văn tự’ đối với anh chỉ là trò chơi chữ, còn đối với chúng tôi nó là kinh chỉ, là pháp âm.”
Hoàng tử Hương Ba nói: “Nói hay lắm, dựa vào căn khí, sao anh lại cho rằng căn khí của tôi không bằng anh cơ chứ? ‘Cửa bảy vị độ mẫu’ là di ngôn của Thương Ương Gia Thố, anh thì biết được mấy phần về Thương Ương Gia Thố? Phiền anh hát một bài tình ca cho tôi nghe xem nào, hát đi chứ, ngại à, tình ca Thương Ương Gia Thố chính là pháp âm cơ mà, anh ngại cái gì chứ?” Nói đoạn, tiện tay nhét “Quang thấu văn tự” xuống dưới đệm ghế.
A Rược lạt ma bị chế nhạo đột nhiên vẫy tay một cái, mấy lạt ma phía sau liền lao vút tới, giật cửa xe, lôi xệch Hoàng tử Hương Ba ra ngoài.
Hoàng tử Hương Ba nói: “Được được được, tôi đưa cho các anh, đưa cho các anh.” Nói rồi, xoay người xách từ ghế sau xe Wrangler ra hai chiếc bình đồng, giơ lên ném thẳng vào mấy tên lạt ma. Hắn ta ném bình đồng "độp độp độp" vào người mấy tên lạt ma, đập bẹp dí “Cát Thái Lộ Đinh”, lại đập bẹp dí “Bàn tay bị đánh cắp của Phẫn Nộ La Sát”, đập cho mấy tên lạt ma ôm đầu lùi lại liên hồi. A Rược lạt ma bất chấp hiểm nguy lao tới ôm chặt lấy vòng eo Hoàng tử Hương Ba, Hoàng tử Hương Ba ném cả hai chiếc bình đồng vào người hắn, hắn hét thảm một tiếng, nhưng đôi tay ôm lấy đối phương thì quyết không buông.
Lúc này Ô Kiên Lâm Ba vẫn ngồi im phăng phắc trên ghế lái từ nãy đến giờ mới mở cửa bước xuống, lớn tiếng nói: “Hoàng tử Hương Ba, bất cứ lúc nào anh cũng sẽ bị cảnh sát bắt đi, giao ‘Quang thấu văn tự’ cho chúng tôi là an toàn nhất và hiệu quả nhất.”
Tựa như lời hắn ta là một tiếng hiệu triệu, chiếc xe cảnh sát Land Rover lao tới "vút" một tiếng dừng lại. Vương Nham, Bích Tú, Trác Mã chui ra, lao thẳng về phía Hoàng tử Hương Ba. Hoàng tử Hương Ba xoay người định chạy, nhưng bị Bích Tú đá cho một cước ngã sấp mặt xuống đất. Bích Tú lao tới chồm lên đè chặt lấy anh ta, tháo còng số 8 bên hông xuống định còng lại, bỗng nghe Ô Kiên Lâm Ba gầm lên một tiếng: “Nguy hiểm.”
Chiếc xe SUV Hyundai bám theo phía sau cùng lúc đó phóng như điên cuồng lao tới, tông thẳng về phía Bích Tú. Bích Tú buông Hoàng tử Hương Ba ra, lộn một vòng né sang một bên. Chiếc SUV Hyundai đột ngột phanh ngắt, “tóp tóp tóp” nhảy phóc xuống sáu bảy gã tạng dân tráng kiện, kẻ dẫn đầu chính là cái tên đàn ông mặc áo cà sa màu bã trầu mấy lần bảo vệ Hoàng tử Hương Ba ở Chợ Tông Tự. Bọn họ cầm gậy gộc lao tới, tóm chặt Vương Nham, Bích Tú và Trác Mã, cũng tóm luôn cả Hoàng tử Hương Ba.
Gã mặc áo cà sa màu bã trầu kéo Hoàng tử Hương Ba về phía vệ đường, gầm lên: “Nằm sấp xuống, đừng nhúc nhích.”
Hoàng tử Hương Ba hỏi: “Anh là ai? Tại sao lại cứu tôi?”
Gã mặc áo cà sa màu bã trầu không trả lời, sờ soạng lục lọi lung tung trên người anh ta. Lúc này A Rược lạt ma và Ô Kiên Lâm Ba dẫn người vây lại. Hai tên tạng dân lập tức vung gậy gộc, không cho họ đến gần Hoàng tử Hương Ba.
Còn ở phía bên kia, mấy tên tạng dân và Vương Nham, Bích Tú, Trác Mã đang giằng co đánh đấm hỗn loạn. Cả ba cảnh sát đều rút súng ra, nhưng không dọa được đối phương, cuộc ẩu đả càng thêm kịch liệt. Vương Nham biết cậy mạnh xông pha kiểu này sẽ có án mạng người chết, đành ra lệnh cho hai đồng đội chủ động rút lui.
Xe cảnh sát Land Rover đi rồi, tiếp theo là xe Lạt Ma, cuối cùng là chiếc SUV Hyundai. Khi sáu bảy gã tạng dân tráng kiện rời đi còn cất tiếng hát tình ca Thương Ương Gia Thố:
Anh đối với em tựa mây trên trời,
Mưa phùn lất phất quấn quýt yêu thương,
Em đối với anh giống như cuồng phong vô tình,
Hết lần này đến lần khác thổi tản mây đi.
Bọn họ hát đi hát lại một hai lần, giống như cố ý kích thích Hoàng tử Hương Ba.
Hoàng tử Hương Ba đang nằm sấp dưới đất đứng dậy, nhìn thấy Mai Tát đang nằm cách đó không xa, bèn bước tới đỡ cô ấy dậy rồi hỏi: “Sao đến cả em mà chúng cũng đánh, em là con gái cơ mà.”
Mai Tát lau vết máu trên mặt: “Em không cho bọn chúng lên xe Wrangler, bọn chúng xông vào xé áo là đánh luôn.”
Hoàng tử Hương Ba lao phắt tới chiếc Wrangler, thò tay vào dưới đệm ghế sờ soạng hồi lâu, rồi lại sờ, hét lên: “Mai Tát qua đây.”
Mai Tát đi tới, hai tay ôm lấy eo: “Ôi chao, ôi chao.”
Hoàng tử Hương Ba nói: “Còn ‘Quang thấu văn tự’ đâu? Anh giấu ở đây cơ mà.”
Mai Tát nói: “Em không thấy anh giấu nó ở đây.”
Hoàng tử Hương Ba giật phăng lấy mái tóc của chính mình, gào lên một tiếng: “Tiêu đời rồi.”
Mai Tát oán trách: "Sao anh không giao cho em? Anh giấu dưới đệm thì ai mà chẳng tìm thấy."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Giao cho em á? Người ta cũng sẽ lục soát em thôi."
Mai Tát nói: "Có những chỗ không thể lục được, em là phụ nữ, Lạp Sa là vùng đất Phật thần linh, cho dù bọn chúng có là thổ phỉ thì chút đạo đức ấy vẫn phải có."
"Anh quên mất em là phụ nữ." Hoàng tử Hương Ba tức tối giấm dấm đấm vào mình một cú, quát lớn: "Mẹ kiếp, tao uổng công giữ mình trong sạch rồi. Giờ thì, giờ thì, giờ thì, mày biết tao muốn làm gì nhất không? Chính là uống rượu, ăn thịt, hút thuốc, chơi phụ nữ."
Mai Tát bất đắc dĩ lại oán hận nói: "Vậy anh đi đi."
Hoàng tử Hương Ba giận dữ sập cửa xe, sải bước bỏ đi, một lúc sau lại quay về, mặt mày ỉu xìu nói: "Làm gì có phụ nữ nào? Phụ nữ của tôi chẳng phải đang ở đây sao?"
Mai Tát mặt mày âm trầm: "Ai là phụ nữ của anh? Phụ nữ của anh ở trên trời, ở trên đỉnh tòa nhà cao ba mươi sáu tầng không rõ sống chết kìa."
Hoàng tử Hương Ba ngẩn người, không nói thêm câu nào nữa, tay vội vã sờ soạng khắp người.