Buổi sáng sớm, ánh sáng nhạt nhòa mở màn cho một ngày mới nữa ở tự viện Labrang. Tiếng chuông vang lên, tín ngưỡng dưới hình thức chùa chiền dần trở nên rõ nét, vẻ huy hoàng của tinh thần quét sơn lên các nóc chùa và tường đền, dùng sự nhiệt thành trong lặng lẽ để ôm ấp càn khôn thế giới. Hoàng tử Hương Ba tìm thấy một vị lạt ma trực ca đêm ở Phật điện Sư Tử Hống, tiện miệng dò hỏi một tiếng, liền nghe ngóng được tin về thợ mộc Trát Tây.
Thợ mộc Trát Tây là một người thợ đã xuất gia, chịu trách nhiệm sửa chữa tất cả đồ gỗ của tự viện Labrang, cối kinh bằng gỗ tự nhiên thuộc quyền quản lý của ông. Do phải thay ổ trục, mấy hôm trước ông đã gọi mấy vị lạt ma giúp mình tháo cõi kinh xuống, dùng xe ngựa chở đến khu làm mộc. Lúc hoàng tử Hương Ba nhìn thấy ông, ông vừa mới ngủ dậy, đang chuẩn bị đi tham gia tụng kinh buổi sáng.
"Thợ mộc cát tường, xin ngài đừng đi, ta tìm ngài suốt một đêm mới thấy." Hoàng tử Hương Ba dang rộng hai tay, chặn thợ mộc Trát Tây lùi lại vào trong viện, rồi nói thêm: "Ta đến từ Bắc Kinh, nghe nói ngài đang sửa chữa cối kinh trong tháp kinh, nếu như ta có thể dùng trán chạm vào chữ 'Mani' bên trong, phúc khí sẽ theo sự xoay chuyển của cối kinh mà tuôn trào không dứt."
Trong mỗi cối kinh đều có một chiếc tráp gỗ, bên trong đựng "Lục tự chân ngôn" hay còn gọi là "Lục tự đại minh chú", tiếng Tây Tạng gọi tắt của "Lục tự đại minh chú" chính là "Mani".
Thợ mộc Trát Tây khách khí nói: "Được chứ được chứ, cậu cứ chạm vào đi."
Hoàng tử Hương Ba hỏi: "Cối kinh có hay hỏng không, các ông thường xuyên sửa chữa chứ?"
Thợ mộc Trát Tây đáp: "Cũng không thường xuyên lắm, năm sáu năm hỏng một lần, chủ yếu là thay ổ trục, chỗ khác không hỏng."
"Tráp ở bên trong cũng không hỏng sao?"
"Tráp đã được bịt kín, không có nắp, không có khe hở, liền một khối nguyên vẹn, mấy trăm năm mấy nghìn năm cũng không hỏng. Chỉ là lần này nó nứt toác ra, giống như nở ra một đóa hoa sen tám cánh."
Hoàng tử Hương Ba thầm nghĩ đó là do nhân duyên thời điểm đã chín muồi, điềm báo phục tạng xuất thế đã hiện ra, bèn hỏi tiếp: "Chữ 'Mani' trong hoa sen thì sao?"
Thợ mộc Trát Tây ngơ ngác nói: "Lạ lắm, không có chữ 'Mani'."
"Không thể nào, trong cối kinh sao lại không có chữ 'Mani'?"
Thợ mộc Trát Tây chỉ vào chiếc cối kinh đang mở ra như vỏ sò ở giữa sân nói: "Chỉ có một tờ giấy trắng, trên đó chẳng có gì cả, chắc lúc nạp tạng ban đầu quên viết."
Hoàng tử Hương Ba giật mình: Nói đúng rồi, "Ký tự thấu quang" rời xa ánh sáng vốn dĩ phải là một tờ giấy trắng. Anh lao về phía cối kinh, quan sát kỹ tráp gỗ đã nứt thành hình hoa sen, phát hiện bên trong hoàn toàn trống rỗng.
"Tờ giấy trắng anh nói đâu?"
Thợ mộc Trát Tây lấy từ một bên cối kinh ra một tấm lụa vàng có in chữ "Mani" màu đen, đặt vào trong tráp gỗ rồi nói: "Tôi vừa đến viện in kinh thỉnh một chữ 'Mani' mới, cậu chạm vào cái này đi."
"Giấy trắng đi theo cối kinh xoay chuyển mấy trăm năm, tôi muốn chạm vào giấy trắng, giấy trắng đâu? Xin lỗi, tôi đã mơ một giấc mơ, mơ thấy chữ 'Mani' trong cối kinh có màu trắng, đây chẳng phải là giấy trắng sao? Tôi nhất định phải chạm vào tờ giấy trắng này."
“Vậy sao hôm qua cậu không tới? Hôm nay đến thì không còn giấy trắng nữa, giấy trắng tôi dùng để viết thư rồi.”
“Viết thư? Thư đâu? Gửi cho ai rồi?”
“Hôm qua gửi cho anh trai, tiến sĩ Jamyang của tu viện Labrang, Gyuba Tratsang.”
Hoàng tử Hương Ba trợn trừng mắt đứng sững nửa ngày không thốt nên lời, đột nhiên nói: “Vậy tôi ra bưu điện tìm bức thư anh đã gửi.” Nói xong liền bước đi, bước ra khỏi xưởng mộc mấy bước lại dừng lại, hoảng sợ ngẫm nghĩ: Tiêu đời rồi, mình rơi vào bẫy rồi.
Anh nhìn thấy ở đầu con hẻm dài kia, rất nhiều người đang đi về phía này, có cảnh sát đồn công an địa phương, có đám người lạt ma A Ru, còn có mấy vị lạt ma hộ tự Labrang vạm vỡ. Đi ở phía trước dẫn đường chính là vị lạt ma béo tối hôm qua đã vặn cánh tay anh và hét lớn “bắt cướp”.
Anh quay người trở lại xưởng mộc, nói với thợ mộc Trát Tây: “Có một vị lạt ma béo đã nói cho tôi biết tên của ông, rồi lại dẫn người đến đây bắt tôi, lạt ma xuất thế mà hãm hại người ta sao lại thuần thục thế?”
“Có phải vị lạt ma béo ở Phật điện Tsongkhapa không? Hừ, kẻ này.”
“Họ coi tôi là cướp, tôi muốn trốn, còn đường nào không?”
“Người tốt đi ở đời, đâu đâu cũng là đường.” Thợ mộc Trát Tây ra cửa viện nhìn người đang đến, quay người vỗ vỗ chiếc cối kinh đang mở ra rồi nói, “Nằm vào trong thử xem, nếu không đi ra được, cậu đúng là kẻ xấu, thế thì không thể trách tôi không cứu cậu.”
Hoàng tử Hương Ba nửa tin nửa ngờ co chân nằm vào trong. Thợ mộc Trát Tây nghiến răng dùng sức nâng nửa còn lại lên, “bịch” một tiếng úp xuống, dùng nắm đấm nện một chiếc mộng to bằng bàn tay vào lỗ mộng.
Lạt ma béo dẫn người bước vào xưởng mộc, vừa nhìn thấy thợ mộc Trát Tây liền hỏi: “Tên cướp đâu?”
Thợ mộc Trát Tây nói: “Sao các anh bây giờ mới tới? Nhanh nhanh nhanh, giúp tôi khiêng cối kinh lên xe, trong tháp kinh mấy ngày nay không có cối kinh rồi, quản gia nói hôm nay mà không lắp cối kinh vào thì bắt tôi hoàn tục đấy.”
Lạt ma béo nhìn quanh một lượt rồi nói: “Xem chừng tên cướp vẫn chưa tới.”
Thợ mộc Trát Tây nói: “Tới rồi đấy chứ, chẳng phải cậu là gì? Mau phụ một tay đi, ngẩn người ra làm gì?”
Lạt ma béo và mấy vị lạt ma hộ tự khiêng cối kinh lên một chiếc xe ba gác, lại phụ giúp thợ mộc Trát Tây đẩy ra ngoài cửa viện. Thợ mộc Trát Tây kéo xe đi thẳng, lớn tiếng nói: “Đến hai người, giúp tôi đẩy vào trong tháp kinh.”
Lạt ma béo bực bội nói: “Đi mau đi mau, bọn tôi còn phải canh ở đây bắt cướp cơ.”
Thợ mộc Trát Tây nói: “Tôi một không tài sản hai không tiền bạc, cướp có phải hạt hướng dương đâu mà chạy đến chỗ tôi?”
Đi qua các con phố ngõ hẻm, hai vị lạt ma hộ tự giúp thợ mộc Trát Tây đẩy cối kinh vào trong tháp kinh. Thợ mộc Trát Tây nói: “Đi nhanh đi nhanh, đi bắt cướp của các anh đi, ở đây tôi tìm người khác giúp.” Hai vị lạt ma hộ tự chỉ mong nghe được câu nói này, quay người bỏ đi.
Thợ mộc Trát Tây mở cối kinh ra, thả hoàng tử Hương Ba ra, im lặng phẩy phẩy tay.
Hoàng tử Hương Ba muốn đi lại thôi, bám sát hỏi: “Sao ông lại dám cứu tôi, một tên cướp này?”
Thợ mộc Trát Tây nói: “Lòng người treo trên lông mày, có phải cướp hay không nhìn là biết ngay.”
Hoàng tử Hương Ba nói: “Tôi đi bưu điện kiểm tra thư của ông trước, nếu không tra được, sẽ đến tu viện Kumbum tìm anh trai ông là tiến sĩ Jamyang, ông có chuyện gì không?”
Thợ mộc Trát Tây nói: “Năm nay tôi đã niệm mười vạn câu 'Mani', tặng cho anh ấy năm vạn, chúc anh ấy khỏe mạnh bình an.”
Hoàng tử Hương Ba nói: “Cũng tặng tôi vài câu 'Mani' đi, tôi cũng cần bình an.”
Thợ mộc Trát Tây nói: “Tôi với cậu chẳng có quan hệ gì, tại sao phải tặng cậu? Công đức của cá nhân thì do cá nhân tích lũy, cậu không tự niệm được à? Nhưng nể tình cậu đã cất lời, tôi cũng không thể keo kiệt, tặng cậu hai vạn vậy. Dù sao tôi cũng là một lạt ma, lạt ma niệm 'Mani' là vì sự hạnh phúc bình an của toàn nhân loại.”
Hoàng tử Hương Ba cúi đầu bày tỏ lòng kính trọng, liên miệng nói “cảm ơn”, tiếp nhận hai vạn câu “Mani”, mang theo tâm tư biết ơn mà rời đi.
Buổi sáng ở tự viện Labrang có rất ít khách du lịch, không nhìn thấy bóng dáng chiếc taxi nào. Hoàng tử Hương Ba đi dọc theo dãy nhà quay kinh bước nhanh về phía phố Nhân Dân Tây, rồi xuôi theo sông Đại Hạ về phía đông, đến bưu điện huyện, nói với người ở quầy số 1 rằng anh muốn tra cứu một bức thư, tên và địa chỉ người nhận là: Tiến sĩ Jamyang, Gyuba Tratsang, tu viện Kumbum, Xining, Thanh Hải.
Người đàn ông trung niên ở quầy bảo anh rằng tra thư phải có giấy giới thiệu của cơ quan và chứng minh nhân dân cá nhân. Hoàng tử Hương Ba vừa nài nỉ vừa giải thích: “Tôi là người ngoại tỉnh, không mang theo giấy giới thiệu của cơ quan.” Người đàn ông trung niên hết lần này đến lần khác tỏ ý không được. Hoàng tử Hương Ba số ruột, cãi nhau với người ta, thu hút rất nhiều khách hàng vây xem. Có người đề nghị gọi cảnh sát. Hoàng tử Hương Ba biết ở cái nơi nhỏ bé này mà lớn tiếng một tiếng là cảnh sát sẽ kéo đến ngay, bèn vội vã rời khỏi bưu điện.
Anh đi dạo trên phố một lúc, lại một lần nữa bước vào bưu điện, đi đến trước quầy số 7, đưa ra yêu cầu tra cứu thư với một cô gái có mày thanh mắt tú ở bên trong.
Cô gái liếc anh một cái nói: “Không được.”
“Cậu còn chưa hỏi tôi có giấy tờ tùy thân không, sao lại không được chứ?”
“Cậu vừa nãy cãi nhau với chủ nhiệm của chúng tôi, chắc chắn là không được rồi.”
Hoàng tử Hương Ba vuốt vuốt mái tóc dài của mình nói: “Biết thế tôi tìm cậu từ đầu thì tốt rồi, tôi biết con gái càng xinh đẹp thì càng dễ nói chuyện, nhưng tôi sốn sắng quá, không nhìn thấy cậu, giờ có hối hận cũng không kịp nữa rồi.”
Cô gái lại liếc anh một cái: “Thư quan trọng lắm à?”
“Là thư tình viết cho bạn gái, mối tình đầu của tôi, không có kinh nghiệm, ngốc nghếch thế nào lại viết cả nhược điểm vào trong. Tôi nói tôi là người đại mã lữ hược, thích đánh thẳng vào vấn đề, nhiệt tình phóng khoáng. Nhưng có người nhắc nhở tôi rằng, con gái bây giờ đều thích kín đáo uyển chuyển, điềm tĩnh không gợn sóng. Quan trọng nhất là tôi viết nhầm địa chỉ rồi, tôi viết cho một vị lạt ma, lạt ma thì hiểu cái quái gì về tình yêu chứ, lại có phải Thương Ương Gia Thố đâu, nhỡ anh ta không chuyển giao cho cô ấy thì phải làm sao?”
Cô gái bật cười: “Xem ra rất quan trọng đấy, cậu đợi đấy, tôi đi xem giúp cho.”
Mấy phút sau, hoàng tử Hương Ba nhận được bức thư trên phong bì có đề “Gửi tiến sĩ Jamyang, Gyuba Tratsang, tu viện Kumbum, Xining, Thanh Hải”. Anh lập tức mở ra, lấy ruột thư ra xem, quả nhiên là một tờ giấy trắng, nhưng trên đó không có bất kỳ nội dung nào mà thợ mộc Trát Tây viết cho anh trai tiến sĩ Jamyang của ông.
Rõ ràng là thợ mộc Trát Tây đã lừa anh, tại sao?
Cô gái nói: “Thực ra bức thư này có gửi đi cũng không được, không dán tem, cũng không thể trả lại, không viết địa chỉ người gửi.” Cô gái mỉa mai nói, “Cậu đúng là đại mã lữ hược thật đấy, đến cả trong thư quên mất cái gì cũng không biết.”
Cả không gửi đi được, cũng không trả lại được, vậy thì chỉ có thể là có người đến tra cứu, đến lấy. Anh chợt bừng tỉnh đại ngộ: Thợ mộc Trát Tây, thợ mộc Trát Tây, hóa ra anh cũng là một sứ giả truyền "Ký tự thấu quang" trên chuỗi mắt xích của "Cổng bảy nữ thần". Anh chắc chắn không biết tờ giấy trắng trong cối kinh dùng để làm gì, nhưng anh kiên định tin rằng, sứ mệnh của mình là vào một ngày đã được tổ tiên định sẵn từ lâu, trao tờ giấy trắng cho người đi tìm giấy trắng.
Thế nhưng, tại sao anh không trực tiếp giao cho tôi chứ?
Giao cho tôi là nguy hiểm, trước khi tôi rời khỏi tự viện Labrang, quyền tự do hành động của tôi thực ra vô cùng hạn chế, tuyệt đối không thể trong lúc bắt tôi hoặc giết tôi, đồng thời cũng hủy hoại "Ký tự thấu quang". Nhưng nếu tôi có thể đến bưu điện, điều đó chứng minh tôi đã thoát khỏi nguy hiểm, "Ký tự thấu quang" có thể hoàn toàn an toàn đi theo tôi rồi.
Xe taxi phóng như bay. Hoàng tử Hương Ba nhìn lại vùng đồng nguyên Zhadai tươi đẹp như ngày hôm qua, tạm biệt Cung Đâu Suất Cầu Hữu Châu Hữu Hướng được Long Sơn và Phượng Lĩnh bảo vệ, mang theo tâm trạng vui vẻ rời khỏi thành phố Hạ Hà.
Phía trước, Lan Châu, chính là Mai Tát, còn có Trí Mỹ. Quan trọng nhất là Trí Mỹ, bởi vì đã đánh cược rồi. Sự thành công của anh sẽ khiến Trí Mỹ rời xa Mai Tát. Mai Tát sắp thuộc về anh rồi, chỉ cần hát tình ca Thương Ương Gia Thố mà bất chấp tất cả theo đuổi, cô gái nào mà không thuộc về anh chứ?
2
Lúc quay trở lại Lan Châu, trời đã đứng bóng, hoàng tử Hương Ba bước vào khách sạn Gaolan Mountain nằm ở phía đông thành phố.
Trong quán cà phê ở một phía đại sảnh khách sạn, ba viên cảnh sát đồng thời thẳng lưng dậy.
Trác Mã nói: "Tôi nói có sai đâu, chỉ cần chằm chằm theo dõi chiếc Wrangler, là sẽ tìm được hoàng tử Hương Ba."
Bích Tú nói: "Nhưng chúng ta hoàn toàn không biết nửa ngày anh ta mất tích đã đi làm những gì."
Trác Mã nói: "Quan trọng là, tiếp theo anh ta muốn làm gì."
Bích Tú nói: "Tiếp theo anh ta sẽ giết thêm một người nữa, thế thì chẳng khác nào chúng ta phạm tội."
Vương Nham nói: "Nhiệm vụ của chúng ta là ngăn chặn sự lan rộng của vụ án Chhaya Ogyen, ngăn chặn lạt ma Ogyen lẻn vào Trung Quốc gây ra án mạng, nhưng án mạng vẫn cứ xảy ra hết lần này đến lần khác. Điều tôi đang cân nhắc lúc này là, cho dù hoàng tử Hương Ba không phải là kẻ gây ra án mạng, không phải là kẻ đại diện cho hành vi tội ác của lạt ma Ogyen, nhưng hành vi mở 'Cổng bảy nữ thần' của anh ta về mặt khách quan đã trở thành ngòi nổ dẫn đến án mạng, bắt buộc phải lập tức ngăn chặn. Bích Tú nói đúng, anh ta đi đến đâu, ở đó sẽ xuất hiện người chết, cứ tiếp tục chết nữa, chính là sự thất trách của chúng ta."
Trác Mã nói: "Anh còn nên cân nhắc rằng 'Cổng bảy nữ thần' là pháp môn duy nhất có thể chống lại Liên minh tín ngưỡng mới, hành động mở 'Cổng bảy nữ thần' của hoàng tử Hương Ba chính là sự uy hiếp nghiêm trọng đối với Liên minh tín ngưỡng mới cũng như lạt ma Ogyen. Chúng ta những cảnh sát này, ngàn vạn lần đừng trở thành công cụ để lạt ma Ogyen tiêu diệt đại địch."
Vương Nham nói: "Nói rất đúng, nhưng tiền đề là hoàng tử Hương Ba phải tự rửa sạch cho mình. Rất tiếc, hiện tại vẫn chưa có, anh ta vẫn là nghi phạm duy nhất lọt vào tầm ngắm của chúng ta."
Bích Tú sốt ruột nói: "Hành động thôi sếp Vương, cơ hội không thể bỏ lỡ."
Vương Nham nói: "Lên lầu, lập tức bắt giữ."
Trác Mã nhanh chân nhảymổm dậy, sải bước đi tới.
Cửa thang máy, hoàng tử Hương Ba chằm chằm nhìn tấm đá cẩm thạch sáng bóng ngay cạnh thang máy. Tấm đá cẩm thạch giống như một chiếc gương, phản chiếu rõ mồn một chính anh ta và Trác Mã đang phi thân bước tới ngay sau lưng.
Cửa thang máy mở ra, anh cúi đầu bước vào, lập tức gọi điện cho Mai Tát và Trí Mỹ đang đợi sẵn ở phòng 703: "Làm phiền hai người rồi, chắc không lại là chen chân vào lúc kẽ hở chứ? Gần như là du lịch kết hôn rồi đấy. Tôi đang rất bực mình anh có biết không? Đi mau lên, cảnh sát đến rồi." Ba người hội ngộ ở cửa thang máy, nhìn thấy một chiếc thang máy khác ở bên cạnh đang đi lên, đã lên đến tầng năm rồi, vội vàng đi xuống dưới.
Họ đến bãi đỗ xe ngầm, chui ùm vào chiếc Wrangler, nổ máy phóng tẩu.
Nửa tiếng sau, hoàng tử Hương Ba đỗ xe ở bãi đỗ xe ven đường trên đường Đông Cương Tây. Ở hàng ghế sau lưng anh, ánh nắng chiếu xiên đang rọi sáng tờ giấy trắng mà anh mang về. Lại là "Ký tự thấu quang" thần bí, đến từ "Vòng tròn viên mãn đầu tiên" cấu thành từ hơn năm trăm dãy nhà quay kinh, đến từ tháp kinh được gọi là "Kinh điển Cáp Bố đầu tiên", càng đến từ "Cối kinh đầu tiên" bên trong tháp. Bản dịch của Mai Tát đã bắt đầu. Hoàng tử Hương Ba vừa hút thuốc vừa cảm thấy đói bụng, liền kéo cửa xe định xuống mua chút đồ ăn. Trí Mỹ ngăn anh lại: "Anh đừng cử động, nguy hiểm lắm." Tự mình xuống xe, mua cho hoàng tử Hương Ba hai chai bia, một con gà nướng và mấy cái bánh mì. Hoàng tử Hương Ba vừa ăn vừa nhìn Mai Tát, đợi lúc anh ta ăn no uống đủ rồi, bản dịch của Mai Tát cũng kết thúc. Cô lập tức giao lại cho hoàng tử Hương Ba.
Hoàng tử Hương Ba đọc từ đầu đến cuối một lượt rồi nói: "'Thụ ký' cho chúng ta vẫn là tình ca Thương Ương Gia Thố, đằng sau tình ca là 'Cẩm nang', giống với 'Ký tự thấu quang' của Đền Lama, cấu thành nên một bộ 'Cẩm nang thụ ký' hoàn chỉnh." Vừa nói, anh vừa nhìn ra ngoài cửa sổ, phát hiện ở ngã tư đường không xa phía trước, xe cảnh sát Land Rover đang bị đèn đỏ và dòng xe cộ chặn lại ở đằng kia, anh nói: "Hỏng rồi, hổ đuổi tới rồi." Nổ máy chiếc Wrangler, vội vàng trốn chạy.
Suốt dọc đường vẫn đang ngẫm nghĩ lại "Ký tự thấu quang" vừa mới đọc qua, tim đập thình thịch, chiếc Wrangler yêu quý cũng đang nhảy cẫng lên, thậm chí cả con đường lớn cũng đang nhảy nhót. Tim đập thình thịch là vì sự tâm ý tương thông, tựa như sự tâm ý tương thông ấy là một cây cầu nối bắc ngang qua thời gian, kết nối trái tim anh và trái tim Thương Ương Gia Thố, đó là trái tim tình yêu đã qua tôi luyện, tiếp diễn sức mạnh xuyên qua thời không dưới hình thức những bài tình ca, mũi nhọn khiến người ta nhức nhói không hề trở nên cùn mòn đi mà ngày càng sắc bén hơn. Hoàng tử Hương Ba hy vọng có thể nhanh chóng chia sẻ sự tâm ý tương thông kỳ lạ này với hai người bạn đồng hành, gặp đường là đi, tung tăng mấy nhịp, đã hất văng được chiếc xe cảnh sát Land Rover.
Hoàng tử Hương Ba đỗ xe vào tán cây ở đầu cầu sông Hoàng Hà đường Đôn Hoàng, chỉ vào "Ký tự thấu quang" đã được dịch ra, nói cho Mai Tát và Trí Mỹ biết rằng, bài tình ca này là tác phẩm thời kỳ đầu của Thương Ương Gia Thố, anh từng chuyên tâm khảo cứu, giờ đây lại hiên ngang trở thành một bản "Thụ ký" thần bí về "Cổng bảy nữ thần":
Cầu xin giáo huấn thần thánh,
Lạt ma địa vị có cao đến đâu,
Ngài ấy cũng sẽ chân thành giảng giải;
Người tình thân thiết thuở nhỏ,
Người chị đã hẹn ước đợi em,
Nay lại từ giã ra đi không lời từ biệt.
Anh vừa hát vừa nói: "Bài tình ca này lúc mới lưu truyền, còn có một 'chú thích' theo kiểu hỏi đáp, hiện tại xem ra, có vẻ như 'chú thích' còn quan trọng hơn cả bài tình ca." Hoàng tử Hương Ba ngâm nga đoạn "chú thích":
Tôn giả, ngài từ giã ra đi không lời từ biệt vào lúc nào?
Sáu ngả nhân mã xuất hiện sau Lhokha.
Mai Tát hỏi: "Tôn giả là ai? Ai đang đối thoại với Tôn giả?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Tôn giả chính là Thương Ương Gia Thố, người đối thoại với ngài, có thể là chính Tôn giả, cũng có thể là một người nào khác. Nhưng dù là ai đi nữa, nó cũng đang nhắc nhở chúng ta rằng, bối cảnh sản sinh ra bài tình ca này và trải nghiệm của Thương Ương Gia Thố, là vấn đề bắt buộc phải quan tâm khi khai quật 'Cổng bảy nữ thần'."
Mai Tát nói: "Phục tạng là sự kéo dài của tạng mai danh ẩn tích, hôm nay là sự tiếp nối của ngày hôm qua, lịch sử mà 'Thụ ký' trao cho chúng ta, chúng ta bắt buộc phải hiểu rõ, đây là yêu cầu của khoa học phục tạng."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Tôi lo lịch sử đang lặp lại. Chúng ta nhắc đến những vụ mưu sát trong lịch sử, chính là để đối mặt với những vụ mưu sát ngày hôm nay."
"Lại là mưu sát ư?"
"Thương Ương Gia Thố cả đời đều trải qua mưu sát, lần sau nguy hiểm hơn lần trước và lần sau quan trọng hơn lần trước."
Mai Tát phấn khích nói: "Xem ra tôi và Trí Mỹ rất may mắn, vừa rời khỏi thầy Biên Ba, lại gặp được thầy Hương Ba, kể nhanh đi."
Trí Mỹ xuống xe, đổi hoàng tử Hương Ba ra hàng ghế phía sau.
3
Hoàng tử Hương Ba nói: "Lhokha là trang viên của cậu ruột Đạt Lai Lạt Ma đời thứ năm, đồng thời cũng là nơi Đạt Lai Lạt Ma đời thứ năm thường đến giảng kinh, lại là khu vực trung tâm giao thông giữa Ü-Tsang và Tsang cũng như Gyantse và Lhasa. Không hành hộ mệnh, sơn thủy điềm lành, Thương Ương Gia Thố tạm trú ở đây. Tạm trú là vì từ năm trước Nhiếp chính vương Sangye Gyatso đã thỉnh vị Hộ pháp Nechung giáng thần hỏi ý kiến, kết quả là: 'Ngày đón linh đồng vào cung Potala nên là trong mười ngày cuối của tháng mười lịch Tạng.' Bây giờ là tháng tư, thời gian hãy còn sớm. Lại còn vì vào ngày mười bảy tháng chín lịch Tạng do thần linh ấn định, Đức Phật Vô Lượng Thọ hóa thân của Ban Thiền Ngạch Lơ Đắc Nê Lobsang Yeshe sẽ ban Sa-di giới cho linh đồng ở đây. Thọ Sa-di giới, mới được coi là một tăng nhân chân chính. Lại càng vì cho dù ở Lhasa, việc Đạt Lai Lạt Ma đời thứ năm viên tịch và Đạt Lai Lạt Ma đời thứ sáu giáng lâm, vẫn cứ là một bí mật mà ít người biết đến. Đã mười lăm năm trôi qua kể từ khi vị đời thứ năm viên tịch, tại sao lại giấu giếm không phát tang, linh đồng chuyển thế đã mười sao cho đến tận bây giờ mới công khai? Mọi thứ đều cần phải giải thích. Sự giải thích được triển khai toàn diện trong hai tháng tư và năm, Nhiếp chính vương Sangye đã phái sáu ngả nhân mã ra đi.
"Ngả thứ nhất là giải thích với đại doanh của quân đội Tatar đóng ở Lhasa. Tatar là thủ lĩnh bộ lạc Oirat Mông Cổ Khoshut kiểm soát Tây Tạng, dựa vào hàng nghìn lính kỵ binh Mông Cổ lều nỉ đen, ông ta lẽ ra phải là nhà thống trị tối cao có quyền sinh quyền sát ở Tây Tạng. Nhưng ở nơi mà tín ngưỡng tinh thần vượt xa vũ khí quân đội này, ông ta rõ ràng có phần thất thế, Nhiếp chính vương xuất thân từ cung Potala vậy mà lại có thể che giấu những đại sự như Đạt Lai Lạt Ma đời thứ năm viên tịch và Đạt Lai Lạt Ma đời thứ sáu giáng lâm suốt hơn mười năm trời. Tatar không biểu lộ sự đau buồn đối với vị đời thứ năm, cũng không biểu lộ sự chúc mừng đối với vị đời thứ sáu, chấp nhận khăn Hada của sứ giả cung Potala, nhưng lại không tặng lại khăn Hada, tức giận nói: 'Trong mắt các ngươi chúng ta vẫn là thí chủ người Mông Cổ sao? Chuyện thế này cớ sao không phải nói cho chúng ta biết chứ. Mặc dù chúng ta tín ngưỡng phái Gelug của bậc thánh nhân Tsongkhapa, nhưng sự tồn vong của thủ lĩnh phái các ngươi thì chúng ta không xứng đáng được biết sao.' Đuổi sứ giả đi, Tatar lập tức gọi hai người con trai của mình tới để thương lượng đối sách. Cả trưởng nam Wangyal nói: 'Mặt trời đã mọc lên, kẻ không công nhận chỉ có thể vĩnh viễn ở trong đêm tối.' Thứ nam Lhazang Khan nói: 'Công nhận Đạt Lai Lạt Ma đời thứ sáu, chẳng khác nào công nhận sự có hay không có chúng ta ở Tây Tạng cũng như nhau. Chúng ta đang giám hộ Tây Tạng, tại sao không thể có mặt trời của chính mình? Đừng quên Đạt Lai Lạt Ma đời thứ tư vốn dĩ là người Mông Cổ.' Nói xong, trừng mắt nhìn người cha Tatar, nặn ra từ kẽ răng một câu: 'Nhân lúc triều đình chưa ban chiếu sắc phong, hãy giết chết vị Đạt Lai mới này.'
"Ngả thứ hai là giải thích với thủ lĩnh bộ lạc Dzungar Mông Cổ ở tận Tân Cương. Đối với Nhiếp chính vương Sangye, đây là một chiến lược xa giao gần đánh — lợi dụng Tsewang Arabtan để kiềm chế Tatar, khiến Tatar không dám coi mình là vị vua trời Mông Cổ duy nhất có thể kiểm soát Tây Tạng. Mà Tsewang Arabtan cũng muốn lợi dụng Nhiếp chính vương Sangye để vươn tay đến Tây Tạng, cho nên khi sứ giả cung Potala mang đến tin tức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ năm đã viên tịch, Đạt Lai Lạt Ma đời thứ sáu đã giáng lâm, ông ta lập tức quyết định: Phái cháu trai Urant mang trọng lễ đến chúc mừng.
"Ngả thứ ba là giải thích với phái Nyingma của Phật giáo Tây Tạng. 'Nyingma' có nghĩa là 'Cổ phái', đây là phái cổ xưa nhất của Phật giáo Tây Tạng, hình thành vào năm 1055 sau Công nguyên, tôn tổ sư là Liên Hoa Sinh từ Udyana ở Ấn Độ đến Thổ Bồn truyền pháp vào năm 757 sau Công nguyên. Do gia tộc Yarlung mà Đạt Lai Lạt Ma đời thứ năm xuất thân từng tín ngưỡng phái Nyingma, sau khi phái Gelug giành được chính quyền Tây Tạng, đa số tăng nhân tầng lớp cao cấp đã có thái độ dung thứ, chiếu cố, lợi dụng đối với phái Nyingma. Sứ giả cung Potala đi giải thích được chia thành hai nhóm, một nhóm lao đến tu viện Dorje Drak thuộc hạt Gonga, Shannan, tổ miếu của phái Nyingma truyền Bắc; một nhóm lao đến tu viện Mindroling thuộc hạt Zhanang, Shannan, tổ miếu của phái Nyingma truyền Nam. Hai ngôi tu viện lập tức cử hành Phật sự, tiếng kinh tiếng trống vang dội cứ như thể chính Hoạt Phật của phái Nyingma đã chuyển thế, sau đó Trì chủ tu viện Dorje Drak là Thubten Lãng Kiệt Hoạt Phật và Trì chủ tu viện Mindroling là Tenzin Choegyal Hoạt Phật lần lượt rời tu viện, mang theo lễ vật, lên đường đến Lhokha triều kiến.
"Ngả thứ bốn là giải thích với phái Sakya của Phật giáo Tây Tạng. Người sáng lập phái Sakya là Khon Konchog Gyalpo vào năm 1073 sau Công nguyên đã xây dựng tu viện Sakya dưới vách đá màu xám trắng ở bờ bắc sông Zhongqu miền nam Tây Tạng, cho nên gọi là Sakya, 'Sakya' chính là 'đất màu xám trắng'. Tu viện Sakya lấy sông Zhongqu làm ranh giới, chia thành hai ngôi chùa Bắc và Nam, cách Lhasa ba trăm bảy mươi cây số, là tổ miếu của phái Sakya. Giữa thế kỷ XIII đến thế kỷ XIV, dưới sự nâng đỡ của triều đình nhà Nguyên, nơi đây trở thành trụ sở của chính quyền Sakya thống trị toàn bộ Tây Tạng. Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt vô cùng sùng kính giáo pháp Sakya, tôn một trong Sakya Ngũ tổ là Phăng-ba-tư-ba làm Kim cương thượng sư, tiếp nhận quán đảnh mật pháp, nghe theo mọi lời chỉ bảo của ông. Phăng-ba-tư-ba được sắc phong là 'Đại Nguyên Đế sư', tên tuổi lừng lẫy thiên hạ, toàn quốc bái lạy. Sau này triều đoàn Sakya tuy bị triều đại Phagmodru Kagyu thay thế, nhưng vị Pháp vương Sakya thế tập đời đời trong giới Phật giáo Tây Tạng, địa vị vẫn lừng lẫy như ánh sao chiếu sáng mặt đất. Đại quản gia của Pháp vương Sakya là Phăng-ba-vượng-thu đã hội kiến với sứ giả cung Potala tại tu viện Ngor Ewam Chodan ở tu viện Sakya Nam, nghe tin Đạt Lai Lạt Ma đời thứ năm đã viên tịch từ lâu, lập tức đẫm lệ tuôn rơi, nghe tin Phật bảo đời thứ sáu đã giáng lâm, liền lập tức phá lệ mỉm cười. Ngay sau đó quyết định, ông sẽ đại diện cho Pháp vương Sakya, đích thân bái lạy dưới chân Đạt Lai Lạt Ma mới.
"Ngả thứ năm là giải thích với phái Kagyu của Phật giáo Tây Tạng. 'Kagyu' có nghĩa là 'Truyền thừa giáo ngôn', chỉ sự truyền khẩu tu mật của Kim cương đàn thừa tức Phật pháp mật tông, là phái huyền bí và cao siêu nhất trong Phật giáo Tây Tạng. Phái Kagyu bắt nguồn từ thế kỷ XI, sản sinh ra bốn đại sư mật tông nổi tiếng nhất Tây Tạng: Marpa, Milarepa, Rechungpa và Gampopa. Trong đó nhánh Phagmodru Kagyu vào năm 1349 sau Công nguyên đã lật đổ chính quyền Sakya, thiết lập chính quyền Kagyu Tây Tạng kéo dài gần ba trăm năm. Quan trọng hơn lịch sử thống trị ba trăm năm này là, một nhánh khác của phái Kagyu là hệ Mũ Đen Karma Kagyu với Đại sư Karmapa Dusum Khyenpa không chỉ khai hoang ra chế độ Hoạt Phật chuyển thế, mà còn khai hoang ra thói quen tụng xướng 'Lục tự chân ngôn', sự tụng xướng của ông tính từ năm 1227 khi ông hai mươi mốt tuổi, đã kéo dài gần tám trăm năm, lan tỏa vào trong miệng và trong lòng của nhân dân Tây Tạng qua các thế hệ. Chính quyền Kagyu bắt đầu từ Phagmodru Kagyu, kết thúc bởi Karma Kagyu, nhà cai trị vào thời điểm kết thúc có tên là 'Tsangpa Desi', có nghĩa là 'Vua vùng Thượng Tsang'.
"Tsangpa Desi vào năm 1612 sau Công nguyên đã chinh phục các thế lực địa phương, thống trị toàn bộ Tây Tạng, lại vào năm 1618 đánh bại bộ lạc Khalkha Mông Cổ được mời đến bởi thí chủ phái Gelug là Gyurpa, tàn phá tu viện Sera và tu viện Drepung. Ở ngọn núi phía sau hai tu viện, sát hại hơn năm nghìn vị lạt ma phái Gelug. Năm 1635, phái Gelug lại một lần nữa hứng chịu các cuộc tấn công cả trong lẫn ngoài từ thí chủ phái Karma Kagyu. Đặc biệt là ở Thanh Hải và khu vực Kham, rất nhiều lạt ma lớn bị bắt giam vào ngục, hoặc thảm sát dã man. Các tu viện của phái Gelug, Sakya, Nyingma đều bị tàn phá. Trong lúc nguy cấp, đại quản gia của Đạt Lai Lạt Ma đời thứ năm là Sonam Chophel và Gyurpa phái người đến Dzungar, cầu cứu thủ lĩnh bộ lạc Oirat Mông Cổ Khoshut là Gushri Khan.
"Năm 1636, Gushri Khan dẫn quân tiến vào khu vực Tây Tạng, lần lượt đánh bại và xử tử Chogtu Khan ở Thanh Hải, thổ ty Baili ở khu vực Kham, Tsangpa Desi ở Hậu Tạng — những kẻ bức hại phái Gelug cùng các phái khác, và lấy danh nghĩa Cung Ganden Phodrang ở tu viện Drepung — nơi trú tích của Đạt Lai Lạt Ma, vào năm 1642 chính thức thiết lập chính quyền phái Gelug thống trị toàn bộ Tây Tạng, ép buộc các tu viện phái Kagyu do Tsangpa Desi cai quản cải đạo sang phái Gelug. Phái Karma Kagyu liên tiếp phản kháng, từng chiếm giữ nhiều nơi ở Hậu Tạng và Shannan, có khí thế lật đổ phái Gelug. Con trai của Gushri Khan là Tatar dẫn quân đến trấn áp, đập phá phần lớn các tu viện Karma Kagyu, đánh dấu lên tay tất cả các tăng nhân phái Karma Kagyu, giao cho các tu viện phái Gelug quản lý, chỉ chừa lại tu viện Tsurphu không tham gia kháng cự vẫn kiên cường bám trụ trận địa giáo tông của Karma Kagyu trong gió mưa bập bùng.
"Tu viện Tsurphu là tổ miếu hệ Mũ Đen của phái Karma Kagyu, nằm ở bờ bắc thượng nguồn sông Tsurphu trong địa phận Doilungdeqen, cách Lhasa bảy mươi cây số. Trụ trì Hoạt Phật Karma Tulku đã tiếp đón sứ giả cung Potala tại hành lang sáng sáu cột trước Đại điện Dukang, rồi nói với vị lạt ma thị giả bên cạnh: 'Đã đành Hoạt Phật của phái Gelug có thể chuyển thế từ thế gia Nyingma, thì tại sao lại không thể chuyển thế từ thế gia Karma Kagyu chứ? Phái Gelug gần có người Mông Cổ giám hộ, xa có triều đình nâng đỡ, khí thế ngày càng lớn mạnh. Nếu chúng ta vẫn hy vọng Karma Kagyu đông sơn tái khởi, thì chỉ có một cách duy nhất, đó chính là dựa vào chế độ chuyển thế để thẩm thấu, cải tạo và thay thế. Giáo pháp Kim cương (mật tông) của Karma Kagyu là vô địch thiên hạ, đã đến lúc phải hành động rồi, mau đi chuẩn bị đi, ta muốn đi yết kiến vị Đạt Lai mới của phái Gelug này.'
Mai Tát cắt lời hoàng tử Hương Ba: "Hóa ra lịch sử bên trong Phật giáo Tây Tạng cũng không hề trong sạch như vậy."
"Đâu chỉ là không trong sạch, giữa các phái với nhau, giữa Phật với Phật thường xuyên là sống mái với nhau, máu chảy thành sông. Điều này cho thấy một khi giáo phái biến thành tập đoàn chính trị và tập đoàn lợi ích, thì liền chẳng còn liên quan gì đến Thích Ca Mâu Ni nữa. Gọi là Phật chứ không phải Phật, niệm kinh chứ không phải kinh, cái bộ trò tranh quyền đoạt lợi, lừa gạt lẫn nhau trong cõi thế tục, hoàn toàn có đủ. Hơn nữa còn đen tối hơn, tàn khốc hơn, càng là cội nguồn tàn sát sinh linh." Hoàng tử Hương Ba dừng lại, châm một điếu thuốc, rít sâu một hơi.
Trí Mỹ sốt ruột nói: "Nói tiếp đi, vẫn còn ngả thứ sáu cơ mà."
"Ngả thứ sáu là giải thích với triều đình. Đây là ngả quan trọng nhất, đã xuất phát từ hồi tháng giêng, lúc việc giải thích bắt đầu, vừa vặn là tháng tư. Xét thấy có kẻ tố giác mà triều đình đã có chỉ dụ khẩn cấp nghiêm khắc quở trách, Nhiếp chính vương Sangye đã tự mình soạn thảo tấu chương sợ tội cầu xin, lời lẽ khẩn thiết, kính cẩn tột cùng: 'Vì chúng sinh bất hạnh, Đạt Lai Lạt Ma đời thứ năm đã thị tịch vào năm Nhâm Tuất, chuyển sinh tịnh thể, nay đã mười bốn tuổi. Trước kia sợ dân chúng Tangut sinh biến, cho nên không truy điếu báo tang, cúi xin Hoàng đế đại lượng dung tha tội lỗi. Bản thân ta kính thờ Đạt Lai Lạt Ma, người Tây Tạng chỉ nguyện dưới vòm trời Hoàng đế triều đình làm hộ pháp chủ, nơi đây vẫn còn dị tâm, Tam bảo soi xét, uy linh chứng giám...' Hoàng đế Khang Hi đọc tấu chương xong liền phán: 'Trẫm nghiêm khắc ban chiếu chỉ, Nhiếp chính vương hoảng sợ, đã như vậy, có thể khoan dung tội lỗi của hắn, chuẩn y theo thỉnh cầu. Nhiếp chính vương ắt sẽ mang ơn, mà đám người Mông Cổ cũng sẽ hoan hỉ vậy.' Bèn phái Mông Cổ Thanh Hoạt Phật Đại quốc sư Chương Gia Hô Đồ Khắc Tố đang thường trú tại triều đình làm sứ thần, đi Tây Tạng tham gia đại lễ lên ngôi của Đạt Lai Lạt Ma đời thứ sáu trong cung Potala. Đây là lần đầu tiên chính quyền nhà Thanh phái người vào Tây Tạng đốc sát linh đồng chuyển thế, đánh dấu sự thừa nhận của triều đình đối với Đạt Lai Lạt Ma đời thứ sáu Thương Ương Gia Thố.
"Vào năm 1697 ở Tây Tạng, khi mùa hè sắp sửa kéo đến, sáu ngả nhân mã từ các hướng khác nhau, tiến về vùng đất lành Tạng Nam Lhokha — nơi tạm trú của Đạt Lai Lạt Ma đời thứ sáu Thương Ương Gia Thố, cách Lhasa một trăm sáu mươi bốn cây số.
"Thương Ương Gia Thố tạm trú ở Lhokha vô cùng tò mò đối với vùng đất xa lạ này, mỗi ngày sau khi học xong kinh khóa dưới sự hướng dẫn của kinh sư Chokey, liền thích mặc thường phục bước ra khỏi căn phòng Zangri Khangmar nơi mình cư trú để đi dạo khắp nơi. Chokey nghĩ rằng Lhokha là vùng đất tịnh thổ của phái Gelug, chẳng có nguy hiểm gì, bèn phái hai tăng nhân đi theo, dặn dò rằng: 'Cậu ta đi đến đâu, thì đi theo đến đấy, ngàn vạn lần đừng để lạc mất.' Hai tăng nhân này một người chột mắt, một người sứt môi. Sở dĩ phái họ đi theo tùy tùng, là bởi vì khuôn mặt khó coi mang vẻ hung ác của Hộ pháp Mahakala, ai nhìn thấy cũng phải né tránh. Đột mắt và Sứt Môi là những pháp sư hiến tế máu đến từ vùng Medrogungkar. Hiến tế máu là nghi thức tế bái thần trời của tôn giáo Bön, một năm hai lần, mỗi lần đều phải giết súc vật sát sinh tước mạng người, để cầu sự vui vẻ thỏa mãn của thần trời. Pháp sư hiến tế máu chính là tín đồ chuyên trách việc sát sinh. Họ nhân danh hung thần Ya-zang và mười hai nữ thần Damchen để sát sinh tước mạng người mà không hề chớp mắt, cho nên khi chính quyền Ganden Phodrang khởi dụng 'Điện chú máu người tàng hình', 'Điện chú máu người tàng hình' liền triệu thỉnh họ làm dạ xoa hộ pháp của phái Gelug vào thời khắc tồn vong nguy hiểm.
"Hai vị dạ xoa mặt đen dữ tợn biết rõ người mà họ canh giữ là Đạt Lai Lạt Ma chí tôn vô thượng, bèn kè kè không rời, vô cùng cẩn thận. Nhưng dẫu sao họ cũng là tín đồ Bön quen sống phóng túng ngoài hoang dã, không có sự kính úy và yêu mến thấu tận xương tủy đối với lãnh đạo Phật giáo, thời gian lâu dần, không chỉ có phần lơi lỏng, mà cử chỉ cũng trở nên tùy tiện. Có một ngày, dạ xoa Chột Mắt đột nhiên nâng hạt mã não đen trước ngực Thương Ương Gia Thố lên và nói: 'Ta cũng có một hạt mã não đen, giống y như của cậu vậy.' Vừa nói vừa móc hạt mã não đen của mình ra, khoe khoang trước mặt Thương Ương Gia Thố. Thương Ương Gia Thố kinh hãi kêu lên: 'Lấy ở đâu ra vậy?' Anh có một đôi mã não đen, là do Nhiếp chính vương Sangye nhờ người gửi tặng vào năm anh mười tuổi, anh giữ lại một hạt, tặng cho Makye Ame một hạt, nào ngờ hạt tặng cho Makye Ame lại xuất hiện trong tay tên Chột Mắt. Dạ xoa Chột Mắt nói: 'Khi hung thần Ya-zang và mười hai nữ thần Damchen cần thi thể để uống máu ăn thịt, sẽ ban thưởng trân châu mã não cho ta.'
"Thương Ương Gia Thố không hỏi gì thêm, leo lên lưng ngựa vừa đi vừa nói: 'Makye Ame em có khỏe không? Bây giờ anh đi thăm em đây Makye Ame.' Rồi cất giọng hát:
Chim cu gáy xanh biếc,
Khi nào muốn đến Monyul,
Anh muốn gửi cho cô gái đẹp,
Ba lần gửi lời thăm hỏi.
"Vừa hát vừa quất ngựa phi nước đại về phía xa, thế nhưng lại không giục ngựa quay về như mọi khi. Dạ xoa Chột Mắt và dạ xoa Sứt Môi ngóng cổ chờ đợi, đến khi mặt trời lặn xuống, mới nhận thức được rằng Đạt Lai Lạt Ma mà họ canh giữ đã mất tích rồi. Họ hoảng hốt chạy đi báo cáo với kinh sư Chokey, chớp mắt tin tức linh đồng chuyển thế mất tích lan truyền khắp Lhokha. Lhazang Khan vừa mới đến Lhokha nghe xong một trận cuồng hỉ, mật lệnh bộ hạ lập tức đi tìm, tìm thấy là giết.
"Từ Gonga đến Lhokha, ở giữa có một ngọn núi Kamba La gần hồ Yamdrok. Trong núi có một hang động lớn tên là 'Bậc thềm cửa mật Yamantaka'. Đây là nơi đại sư phục tạng Nyangral Nyima Özer của phái Nyingma khai quật kinh điển và pháp khí mật tông, sau đó trở thành nơi tiên tri và hội họp mật. Mỗi khi Tây Tạng sắp xảy ra sự kiện quan trọng, những tăng nhân tầng cao có giác tri trước của phái Nyingma đều sẽ đến đây tiếp nhận pháp chỉ của đại sư Liên Hoa Sinh và Yamantaka tức Kim cương Đại uy đức, cùng nhau phóng chú mật để ngăn chặn hoặc thúc đẩy sự việc phát sinh. Thế nhưng hôm nay, Thubten Lhündrup Hoạt Phật khi đi qua đây trên đường đến hội kiến ở Lhokha, nhìn thấy không phải là pháp chỉ cát tường gì, mà là cảnh tượng hung ác lấy lớn hiếp nhỏ. Bảy tám kỵ sĩ Mông Cổ đang đuổi giết một thiếu niên. Thiếu niên không còn đường trốn chạy, vứt bỏ tọa kỵ, chạy vào bậc thềm cửa mật, trèo lên pháp tòa Yamantaka. Đó là một bệ đài cao hai trượng rộng thước rưỡi. Các kỵ sĩ giơ cung cong lên, sắp sửa giương tên bắn. Thubten Lhündrup Hoạt Phật dang rộng hai tay về phía các kỵ sĩ nói: 'Từ từ từ, đây là thánh địa của phái Nyingma, không phải bãi giết người của người Mông Cổ các anh.' Nói xong, thành thạo trèo lên bệ đài, ôm chầm lấy thiếu niên, lùi về phía sau, đột nhiên biến mất. Đến lúc kỵ sĩ Mông Cổ trèo lên tìm kiếm, mới phát hiện phía sau bệ đài là một cái giếng nghiêng, bên dưới giếng nghiêng lấp ló có một tia sáng, chứng minh bên dưới có lối thoát.
"Thubten Lhündrup Hoạt Phật mang theo thiếu niên trèo ra khỏi cửa động ngầm dưới đáy giếng nghiêng, đi vòng qua sườn núi trở về cửa bậc thềm cửa mật, ôm thiếu niên lên ngựa của mình. Thiếu niên hỏi: 'Tôn giả tại sao lại cứu tôi?' Thubten Lhündrup Hoạt Phật đáp: 'Ta cứu chính là Đạt Lai Lạt Ma.' 'Sao ngài biết tôi là Đạt Lai Lạt Ma?' 'Một vị Hoạt Phật phái Nyingma tu luyện đến chốn thì thấu triệt vạn vật.' Họ quất ngựa chạy về phía Lhokha, các kỵ sĩ đuổi theo sau, mũi tên bắn xối xả từ phía sau rơi lộp bộp lên người Thubten. Chạy chưa được bao lâu, họ đã chạm trán với đội kỵ mã do chính Lhazang Khan dẫn đầu. Lhazang Khan ra lệnh cho thủ hạ: 'Giết cả hai, không để lại người sống.' Các kỵ sĩ ai nấy tay xách đao hình trăng lưỡi liềm, mặt mày dữ tợn, sát khí đằng đằng. Thubten Lhündrup Hoạt Phật không hề sợ hãi đứng thẳng trên lưng ngựa, thản nhiên đi tới, dùng bước chân kiên định áp đảo đối phương: Tránh ra, tránh ra. Lhazang Khan một tay níu cương ngựa một tay giơ đao, trừng mắt nhìn Thubten Lhündrup Hoạt Phật đang ôm Thương Ương Gia Thố trong ngực, đột nhiên hít một ngụm khí lạnh, buông đồ đao xuống. Hắn nhường đường, tất cả kỵ sĩ đều nhường đường.
"Sau lưng Thubten Lhündrup Hoạt Phật cắm mười sáu mũi tên có lông vũ, mũi nào mũi nấy ngập sâu vào da thịt thịt xương. Máu tươi thấm đẫm áo cà sa, tấm áo cà sa đỏ rực ướt sũng nhỏ giọt, nhuộm đẫm yên ngựa thân ngựa. Mà ngài vẫn ngẩng cao đầu đứng thẳng trên lưng ngựa, mở trừng đôi mắt phái Nyingma tựa như Yamantaka đỏ rực, hộ pháp mà đến. Thubten Lhündrup Hoạt Phật đã chết, ngài dùng thân mình bảo vệ Thương Ương Gia Thố vốn đã sớm về với Tây Thiên. Nhưng sứ mệnh vẫn chưa kết thúc, Thương Ương Gia Thố cần ngài, ngài buộc phải dùng uy vũ vô ngôn như thế này để thét lui những kẻ chém giết.
"Lhazang Khan nghi ngờ đầy sợ hãi nhìn Thubten Lhündrup Hoạt Phật, đột nhiên lại hối hận vì đã bỏ qua Thương Ương Gia Thố, giục ngựa đuổi theo. Ngay lúc sắp đuổi kịp, vị Hoạt Phật đã khuất Thubten bỗng ngả người ngửa ra sau, dùng đầu mình đâm thẳng vào đầu ngựa của Lhazang Khan. Con ngựa hoảng sợ, hí lên hất tung hai chân trước, rồi lại một cú quay ngoắt gấp. Lhazang Khan ngã nhào xuống, không lệch chút nào ngã đè lên người Thubten. Hắn muốn bò dậy, tấm cà sa của vị Hoạt Phật quá cố vướng vào chuôi đao và ống tên, giống như dùng tay ôm ngang thắt lưng hắn lại. Hắn hoảng hốt kêu lên, mấy kỵ sĩ chạy đến nâng hắn dậy. Nhìn lại phía trước, vị Đạt Lai Lạt Ma đời thứ sáu Thương Ương Gia Thố mà hắn muốn đuổi giết đã hoàn toàn biến mất bóng dáng.
"Thương Ương Gia Thố bình an vô sự trở về Lhokha. Chàng trai muốn đến quê nhà thăm Makye Ame mà không thành lại càng thêm một phần đau thương: Để bảo vệ mình, Thubten Lhündrup Hoạt Phật đã chết.
"Trong mùa hè ở Lhokha, hồ Yamdrok chính là chốn bồng lai tiên cảnh. Từng đàn ngỗng đầu sọc, sếu cổ đen, vịt vàng chiếm lĩnh bầu trời và các hòn đảo lớn nhỏ trong hồ. Thảm cỏ ven bờ tươi tốt đến nhỏ giọt ngọc, trên chỏm cỏ vươn cao những chú chim Yamdrok nhung xanh và chim lạt ma đỏ rực. Cừu trắng bò đen, ngựa đỏ chó vàng, bên ngoài những ngôi nhà đá kiên cố của trang viên, chính là nhà của những người mục dân.
"Kể từ sau khi Thương Ương Gia Thố mất tích một lần, kinh sư Chokey liền không cho phép ngài rời khỏi Zangri Khangmar nữa. Hơn nữa Nhiếp chính vương Sangye đã đến, tức là sự giám hộ và quản thúc đã đến. Sangye là một nhà chính trị nghiêm khắc, không thể vì chiếu cố đến tính cách bồng bột hồn nhiên, tình cảm chín muộn của một thiếu niên mà làm tăng thêm phiền phức cho đại nghiệp chính giáo. Thương Ương Gia Thố đành phải ngày ngày đứng trên ban công lệch tầng của nhà đá, không thể làm gì khác hơn là nhìn ra mặt nước hồ và bóng người cùng lều trại chập chờn như bấc đèn bên thảo nguyên, nhìn những chú chim bay hay thậm chí cả những chú ong tự do, ngắm mãi ngắm mãi rồi sẽ cất tiếng hát:
Trong lòng con ong vàng óng,
Chẳng biết làm sao lại nhớ người tình,
Mà nguyện vọng của ngọn cỏ xanh non nhà tôi,
Chính là mong mỏi mưa móc và ánh dương.
Ngài hứng cảnh tùy ý cất lời ca, dùng giai điệu ca khúc lưu hành ở vùng núi Monyul, còn ca từ thì toàn là tự biên soạn:
Căn bản không gặp gỡ là tốt nhất,
Cũng đỡ phải thần hồn điên đảo,
Hóa ra không quen biết cũng chẳng sao,
Khỏi phải vương vấn tình ý.
"Có đôi khi kinh sư Chokey sẽ đến bên cạnh ngài, tay cầm kinh sách khuyên bảo: 'Tôn giả, hãy về tẩm cung nghe ta giảng kinh, nếu ngài không nghe lời ta, Nhiếp chính vương lại sắp mắng mỏi ta rồi.' Ngài lúc thì nghe, lúc thì không nghe, nghe hay không nghe trong đầu cũng chỉ nghĩ đến một người: Makye Ame. Ngài đối diện với bức tượng đại sư Liên Hoa Sinh cầu nguyện: 'Nguyện lực của ngài đủ để chinh phục tất cả ma quỷ ở Tây Tạng, bây giờ xin ngài hãy thay đổi chủ ý của Nhiếp chính vương, cho tôi được tự do, thả tôi về nhà.' Thế nhưng cầu nguyện không có tác dụng, sự tự do của ngài ngày càng ít đi, vì thế ngài thường xuyên nổi giận với kinh sư Chokey.
"Là một vị lạt ma cao cấp tinh thông cả hiển mật và việc tu luyện mật pháp đã bước lên bậc cao trong cung Potala, Chokey tự nhiên từng thụ nhận niềm vui tiếp xúc thể xác giữa nam và nữ. Cũng biết rằng trong bí truyền âm dương song tu, tinh dịch có sức mạnh siêu phàm nhập thánh, nó sẽ dẫn dắt dục vọng thể xác vào kênh tinh thần khiến tín ngưỡng trở thành vĩnh hằng. Nhưng với tư cách là một người tín đồ kiên định đến mức lạnh lùng, ông từ chối việc thấu hiểu thứ tình cảm phàm tục và bao la ấy, không biết rằng thứ tình cảm này chính là người cha tinh thần, càng là chúa tể của tinh dịch. Nó đại diện cho sự nhớ nhung, lưu luyến, ấm áp, thuần khiết, thơm ngát, say đắm, tình ý dịu dàng và sự quan tâm che chở tựa như người mẹ. Nó đứng ngoài sức mạnh tính dục và sự giao hợp, cũng đứng ngoài bí truyền âm dương song tu của Hoan Hỷ Kim cương. Nó dẫn dắt những bộ óc tín ngưỡng thấu hiểu rằng, về việc thực thi sắc dục, ngoài sự kích động của bí nghĩa Tantra, còn có sự khao khát hòa quyện như nước với sữa của sinh mệnh.
"Chính vì sự hòa quyện như nước với sữa, vì sự nhớ nhung và lưu luyến, Thương Ương Gia Thố lại một lần nữa trốn chạy. Ngài cởi bỏ tấm áo cà sa thường mặc, thay vào một chiếc áo choàng len trắng chưa từng mặc bao giờ, dùng một chiếc mũ rộng vành che kín khuôn mặt, lẻn ra khỏi tẩm cung, bước ra khỏi Zangri Khangmar, sải bước chạy thật nhanh về phía đồng hoang lúc hoàng hôn. Phía trước, có người đang quỳ, ngài vòng qua, đi tiếp về phía trước, lại có người đang quỳ, ngài lại vòng qua. Cứ vòng qua vòng lại như thế, lúc nào cũng có người quỳ, những kẻ đang quỳ đều là binh lính Tây Tạng. Bỗng nhiên chạm trán với hai vị tăng nhân không quỳ, nhìn là biết ngay cụt hứng, hóa ra lại là hai vị dạ xoa Chột Mắt và Sứt Môi mà ngài không muốn gặp nhất. Họ cung kính cúi đầu làm động tác mời mọc hướng về phía ngài: 'Tôn giả, xin hãy hồi cung.' Nhìn lại lần nữa, bao quanh Zangri Khangmar, đâu đâu cũng là binh lính Tây Tạng.
"Trốn chạy không thành, đành phải giả vờ bệnh. Thương Ương Gia Thố nói toàn thân đau nhức, tứ chi rã rời, mở miệng ra là đòi tìm tiểu thủ đan Nyingmapa tên là Xiaodan ở làng Xuna, Monyul đến chữa bệnh cho mình. Vị cao tăng phái Nyingma — Hoạt Phật Tenzin Choegyal, người mới được Nhiếp chính vương bổ nhiệm làm kinh sư nói: 'Xiaodan là đệ tử của ta, bệnh mà cậu ta chữa được thì ta tự nhiên cũng dư sức.' Tenzin Choegyal là một danh y Tây Tạng nổi tiếng ở Shannan, hai tay đặt lên mạch cổ tay Thương Ương Gia Thố, thân thể và tâm lý liền thấu tỏ hoàn toàn, bèn kê cho ngài một loại thuốc, gọi là 'Yết ma cam lộ'. 'Cam lộ' đâu có chút ý nghĩa 'cam' nào đâu, chính là đắng, đắng đến mức khiến ngài run lẩy bẩy.
"Bệnh khỏi chưa được mấy ngày, lại bắt đầu quậy phá. Dạy kinh cho ngài thì ngài hát, bảo niệm Phật thì ngài múa. Hở một tí là chạy ra ban công lệch tầng của nhà đá Zangri Khangmar, nhìn chằm chằm vào bóng người và lều trại trên thảo nguyên ven hồ, nhảy cẫng lên, nhảy mệt rồi thì lăn ra ngủ, chẳng màng mặt trời vẫn đang chiếu rọi trên cao. Nếu kinh sư can thiệp, ngài liền bảo ngài muốn ra bờ hồ Yamdrok thì mới niệm kinh. Chokey và Hoạt Phật Tenzin Choegyal đều khuyên nhủ: 'Vì chúng sinh mà suy nghĩ, Đạt Lai Lạt Ma không thể như thế được.' Ngài đáp: 'Tôi chưa thụ giới cũng chưa ngồi ngai, tôi không phải Đạt Lai Lạt Ma.'
"Để khiến ngài nhanh chóng thoát khỏi sự bướng bỉnh của trẻ con, một ngày nọ, Nhiếp chính vương Sangye đến tẩm cung của ngài, lui hết tả hữu, tận miệng kể lại di ngôn của Đạt Lai Lạt Ma đời thứ năm, cái chết của 'Đoàn sứ thần bảy người', vật phục tạng của kẻ bội thề, kẻ địch của chính giáo cuối cùng đã phơi bày, khắc tinh của phái Gelug đã phát ra ánh sáng lạnh lẽo buốt giá cho ngài nghe. Nhiếp chính vương dặn dò: 'Sáu ngả nhân mã đã đến Lhokha, Lhokha bề ngoài thì bình yên thanh thản, nhưng thực chất là sát cơ tứ phía. Sự an nguy của Tôn giả chính là sự an nguy của toàn bộ đất Tạng thậm chí cả Mông Cổ. Nghe lời ta, ngàn vạn lần đừng bước chân ra khỏi Zangri Khangmar.' Sau đó, Sangye dẫn ngài đến kinh đường tầng cao nhất của Zangri Khangmar, sau khi cầu nguyện trước Dược Sư, Di Lặc, Văn Thù, Sangye ân cần nói: 'Đến đây, cậu ra nhìn cửa sổ xem kìa.'
"Từ kinh đường có thể nhìn thấy bãi cỏ ở phía bên kia của Zangri Khangmar, ở đây không nhìn thấy hồ Yamdrok tươi đẹp, nhưng lại có những dãy núi hùng vĩ nâng cao độ cao của bãi cỏ. Gần như trên tất cả các sườn dốc thoai thoải ở gần hay xa, đều có những chiếc lều mùa hè trắng xóa. Sangye nói với Thương Ương Gia Thố: 'Khu vực kia là lều trại của Lhazang Khan — con trai thứ hai của thủ lĩnh bộ lạc Khoshut Mông Cổ, đối với chúng ta mà nói, bọn chúng là con sói ở bên cạnh. Khu vực kia là lều trại của Urant — cháu trai của thủ lĩnh bộ lạc Dzungar Mông Cổ, đối với chúng ta mà nói, hắn là con sói ở nơi xa. Người Mông Cổ cũng giống như người Tây Tạng chúng ta, các bộ lạc với nhau, các giáo phái với nhau là phải đấu đá lẫn nhau. Con sói ở xa và con sói bên cạnh kiềm chế lẫn nhau, có lợi cho chúng ta. Một khi hai con sói biến thành một con sói, chúng ta sẽ gặp nguy hiểm. Trong những chiếc lều ở phía đông kia, ở đại quản gia của Pháp vương Sakya là Phăng-ba-vượng-thu, đối với phái Gelug chúng ta mà nói, ông ta là con trâu bò, có thể làm bạn, nhưng không phải đồng loại. Trong những chiếc lều ở phía tây kia, ở vị trụ trì tu viện Tsurphu — Hoạt Phật Karma Tulku, ông ta là con chim ưng, giáo pháp có lợi cho chúng ta, nhưng nếu không đề phòng, ông ta sẽ nuốt chửng chúng ta. Trong chiếc lều xa nhất kia, ở kinh sư mới của ngài — lãnh đạo phái Nyingma, Trì chủ tu viện Mindroling — Hoạt Phật Tenzin Choegyal, ông ta đại diện cho sự thân cận và đông đúc, ông ta là con cừu, ông ta sẽ giống như Hoạt Phật Thubten Lhündrup, dùng tính mạng bảo vệ ngài. Tất cả những người này, chẳng mấy chốc sẽ đều đến yết kiến ngài.' Thương Ương Gia Thố đột nhiên hỏi: 'Tôi gặp họ thì phải làm sao?' Nhiếp chính vương Sangye nói: 'Ngài chúc phúc cho họ, xoa đỉnh đầu cho họ. Lúc xoa đỉnh đừng duỗi thẳng cánh tay, đừng đặt tay lên đỉnh đầu họ, hãy bảo họ cúi gập lưng dùng trán chạm vào tay ngài.' Thương Ương Gia Thố lại hỏi: 'Cả Lhazang Khan cũng xoa đỉnh đầu cho hắn ư? Hắn ta chính là kẻ thù của chính giáo đấy.' Sangye nói: 'Hiện tại thì chưa chắc, kẻ thù nguy hiểm nhất chắc chắn là những kẻ bề ngoài ôn hòa thuần phục, kẻ bội thề rốt cuộc đã đem thù hận và năng lực tàn phá chính giáo phục tạng cho ai, thần linh vẫn chưa giáng chỉ cho chúng ta.' Thương Ương Gia Thố vẻ mặt đầy ngờ vực sợ hãi: 'Tại sao kẻ thù của phái Gelug lại nhiều như vậy?' Sangye đáp: 'Bởi vì chúng ta đã sở hữu Tây Tạng, lãnh đạo Đạt Lai Lạt Ma của chúng ta đã leo lên ngôi báu tối cao, ngai vàng này một khi đã trở thành biểu tượng của quyền lực, sẽ thu hút tất cả tham vọng và sân mạn của cõi hữu tình, đó chính là cái miệng lớn của dã thú lúc nào cũng muốn nuốt chửng ngài. Ngày thụ giới sắp đến rồi, ngài phải cảnh giác, bất kỳ ai bước qua trước mặt ngài, đều có khả năng biến thành khắc tinh của phái Gelug, rút ra ám khí đoạt mạng đối với ngài.'
“Năm 1697 sau Công nguyên, ngày mười bảy tháng chín năm Hỏa Sửu theo lịch Tạng, là một ngày vô cùng quan trọng. Theo kết quả giáng thần hỏi ý và sự sắp xếp của nhiếp chính vương Sanggye, vị Ban Thiền Ngạch Erdini Lobsang Yeshe đời thứ năm lúc ấy ba tuổi, từ tu viện Tashi Lhunpo ở Shigatse đã đến Lhünzub để cắt tóc cho Tsangyang Gyatso, thọ giới Sa-môn, ban pháp danh là Phổ Huệ La Bố Tạng Nhân Thanh Thương Ương Gia Thố. Ngày hai mươi, Phổ Đà Bản Chương tổ chức đại lễ long trọng tại Lhünzub. Đại sư Ban Thiền trước đông đảo chúng nhân đã khoác pháp y màu vàng lên người Thương Ương Gia Thố, lại dâng lên kinh tự Hát-đạt, tượng Phật Thích Ca, tháp vàng bình vàng, mạn-đà-la và tràng hạt. Ngoài đường ranh giới do binh lính Tạng canh giữ là các bậc đại quan hiển quý, tăng già lạt-ma, cùng trăm họ bình dân từ bốn phương tám hướng kéo tới. Trên bãi cỏ ven hồ Yamzhog Yumco, từng nhóm người cúi đầu đảnh lễ hết đợt này đến đợt khác.
Điều quan trọng nhất đương nhiên là tiếp nhận triều bái. Một vị Đạt Lai Lạt Ma chưa từng cử hành lễ ngồi tòa, cũng chưa từng thọ nhận vô thượng quán đảnh thì chưa đủ tư cách giảng kinh pháp sự cho đông đảo cao tăng và sứ thần, nhưng có thể xoa đỉnh, hơn nữa bắt buộc phải xoa đỉnh, đây là yêu cầu thấp nhất của người đến triều bái.
Nguy hiểm đã xuất hiện trong quá trình triều bái xoa đỉnh. Thương Ương Gia Thố theo lời dặn dò của nhiếp chính vương Sanggye, duỗi thẳng cánh tay, để những người đó xếp hàng cúi người đi lướt qua phía dưới lòng bàn tay mình. Đại quản gia của Pháp vương Sakya là Phaus Wangchug đã qua, trụ trì tu viện Tsurphu là Karmapa Zugu Hoà thượng đã qua, lãnh tụ phái Nyingma kiêm chủ sự tu viện Mindroling là Gyurme Dorje Hoà thượng đã qua, cháu của thủ lĩnh bộ lạc Dzungaria là Ulan Te đã qua, con trai thứ hai của thủ lĩnh bộ lạc Khoshut là Lhazang Khan cũng đã qua. Nhưng Lhazang Khan không dùng đỉnh đầu chạm vào tay Thương Ương Gia Thố như những người khác, rõ ràng là cố ý, trong cử động nhỏ này đã ẩn giấu sự khinh miệt của hắn đối với vị Đạt Lai mới.
Tiếp theo là một quý tộc Mông Cổ. Y mặc áo lông thú hoa lệ, bám sát phía sau Lhazang Khan. Binh lính Tạng ở đường ranh giới tưởng y đi cùng Lhazang Khan nên không ngăn cản. Y cố sức cúi gập người, che giấu khuôn mặt, bước những bước nhỏ vụn, đi đến dưới lòng bàn tay Thương Ương Gia Thố, đột ngột dùng tay bị chặt lấy miệng. Trong miệng, cất giấu ám khí chí mạng.
Lúc này bỗng có người gọi: 'Tsang, Tsang.' Thương Ương Gia Thố ngẩng đầu nhìn lên, ngẩn người, hắn không thể tin người gọi mình lại chính là Makye Ame. 'Tsang, Tsang.' Tiếng gọi ngày càng cấp bách, hắn không kìm được nhảy phốc khỏi pháp tòa, chạy tới, đứng trước mặt Makye Ame, vẫn không thể tin nổi, cảm thấy mình đang nằm mơ. Makye Ame xắn tay áo lên, cho hắn xem vết bớt lông đuôi công màu xanh ở bấy trái, lúc này hắn mới tin, vui mừng nói: 'Ta tưởng nàng đã chết rồi.' Makye Ame nói: 'A-mả chết thay cho ta, a-mả biết ma quỷ muốn giết ta nên đã mặc đôi bốt mềm pulu đỏ của ta vào.' Nói rồi liền òa khóc.
Tên thích khách giả dạng quý tộc Mông Cổ kia đã nhổ ám khí ra khỏi miệng, nuốt không trôi nữa liền nắm chặt trong tay đuổi theo. Mấy tên binh lính Tạng trên đường ranh giới lập tức lao tới. Quý tộc Mông Cổ không còn đường trốn chạy, liền nhảy vọt lên pháp tòa, đợi lúc hắn ngã nhào từ trên pháp tòa xuống thì ám khí đã rạch rách cổ họng của chính mình.
Thích khách đã tự sát, hắn chịu sự sai khiến của ai? Y ăn mặc kiểu quý tộc Mông Cổ, nhưng cả Lhazang Khan của bộ lạc Khoshut và Ulan Te của bộ lạc Dzungaria đều nói không quen biết hắn. Sau này con đường mật vô hình của "Điện huyết chú người tàng hình" qua nhiều lần điều tra cũng không tra ra được hung thủ thuộc về phe nào. Sự xuất hiện của hắn chẳng qua chỉ chứng thực cho mối lo ngại của nhiếp chính vương Sanggye: kẻ bội thề cuối cùng đã gieo rắc lòng thù hận và khả năng phá hủy chính giáo cho ai, không ai có thể hay biết. Bất cứ kẻ nào đi qua trước mặt vị Đạt Lai mới đều có thể biến thành khắc tinh của phái Gelug, tung ra ám khí đoạt mạng.
Makye Ame dùng tiếng gọi cứu mạng Thương Ương Gia Thố, nhưng lại tự phơi bày chính mình. Khi Thương Ương Gia Thố và nàng đứng nắm tay nhau, bên cạnh họ ngoài tăng nhân phái Nyingma Tiêu Thu Đan, ngoài một số tín dân bò rạp xuống đất dùng đầu chạm vào bốt của vị Đạt Lai mới ra, còn có Dạ xoa một mắt và Dạ xoa sứt môi chạy tới hộ vệ. Họ tóm chặt chiếc áo pulu của Makye Ame, trừng mắt nhìn nàng ngẩn ngơ: ở ngôi nhà đá bị khói củi huân đen tại thôn Xujia, cô gái này chẳng phải đã bị từng người bọn họ đâm một dao giết chết rồi sao? Chiếc mã não đen giật xuống từ đôi bốt mềm pulu chính là chứng cứ, giọt máu bắn tóe lên mặt Dạ xoa một mắt cũng là chứng cứ, nhưng chứng cứ có sức nặng hơn lại chính là việc nàng vẫn sống sờ sờ, nàng vẫn đang với thân phận người tình, thân phận minh phi mà đi theo Thương Ương Gia Thố.
Makye Ame nhận thức được nguy hiểm, hất tay Thương Ương Gia Thố ra, kéo Tiêu Thu Đan quay người bỏ chạy. Thương Ương Gia Thố hét lên: 'Makye Ame nàng đừng chạy, ta là Đạt Lai Lạt Ma ta có thể bảo vệ nàng, nàng đừng chạy.' Nhưng Makye Ame và Tiêu Thu Đan vẫn chạy mất, cảm giác về sự nguy hiểm của họ nhạy bén hơn Thương Ương Gia Thố rất nhiều.
Thương Ương Gia Thố ở Lhünzub và trên con đường đi Lhasa sau đó, không còn gặp lại Makye Ame nữa, chỉ còn nỗi nhớ nhung cay đắng quẩn quanh không dứt, chỉ còn khúc ca tình ái bi thương vang vọng mãi trong tâm can:
Cầu xin giáo huấn thần thánh,
Lạt ma địa vị dẫu cao,
Ngài ấy vẫn chân thành giảng giải;
Người tình thân thiết thủa nhỏ,
Chị đã hứa đợi em,
Nay lại chẳng từ mà biệt.
“Ngày hai mươi mốt tháng chín, dưới sự hộ tống của kinh sư Qujie, Gyurme Dorje Hoà thượng cùng các quan chức Potala, đội kỵ mã nghênh đón với thanh thế rầm rộ đã rời khỏi Lhünzub, ngày hòm bảy đến Nyethang Zhaxigang. Thủ lĩnh Mông Cổ Khoshut giám sát Tây Tạng là Dalai Khan, nhiếp chính vương Sanggye từ Lhünzub vội vã chạy đến đây đã dẫn đầu hơn một nghìn quan viên tăng tục Mông Tạng cùng đại diện ba tu viện lớn ra sức nghênh đón. Ngày hai mươi tư tháng mười, đội kỵ mã xuất phát từ Nyethang Zhaxigang tiến về Lhasa, đi được nửa đường thì sứ thần triều đình là Đại quốc sư Changkya Khutukhtu dẫn theo hơn trăm người ra đón, dâng lên sắc phong và chiếu thư của Hoàng đế Khang Hi. Ngày hai mươi lăm tháng mười là tiết Đăng Thập - ngày kỷ niệm Tông Khapa viên tịch. Dưới sự dẫn dắt của nhiếp chính vương Sanggye, Thương Ương Gia Thố bước vào cung Potala, lên ngôi bảo tòa Sư tử vô úy tại điện Siphel Phuntsok ở cung Hồng. Giữa tiếng pháp hạc và âm nhạc trống lụt trong đại lễ ngồi tòa, trước kim sách kim ấn mà Hoàng đế Thuận Trị nhà Thanh sắc phong cho vị Đạt Lai Lạt Ma đời thứ năm là "Tây thiên đại thiện tự tại Phật sở lĩnh thiên hạ thích giáo phổ thông Vô-sát-la-đát-la Đạt Lai Lạt Ma", cuộc đời Đạt Lai chính thức bắt đầu.”
Hoàng tử Hương Ba thở hổn hển, không nói nữa. Cả ba người đều trầm mặc.
4
Thời tiết trở nên oi bức, hình như trời sắp mưa nữa rồi. Lan Châu xưa nay là một thành phố khô hạn ít mưa, những năm nay lượng mưa bỗng nhiên nhiều lên, hơn nữa nói mưa là mưa, chẳng cần ấp ủ. Chiếc Pajero đỗ ở đầu cầu Hoàng Hơi, hơi nóng và mồ hôi quấn quýt lấy nhau, cộng thêm việc Hoàng tử Hương Ba hút hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác, ba người vừa khóc vừa ho. Nhưng sự chú ý không hề phân tán chút nào, cứ như thể thế giới này không hề tồn tại, ngoại trừ Thương Ương Gia Thố, Makye Ame cùng những khúc ca tình ái.
Bỗng nhiên Mai Tát nói: “Xem ra nếu không có Makye Ame thì sẽ không có tình ca Thương Ương Gia Thố.”
Hoàng tử Hương Ba nói: “Nghĩ vậy là đúng rồi, trong cuộc đời của Thương Ương Gia Thố, Makye Ame chiếm vị trí quan trọng nhất, không có nàng thì chẳng những không có tình ca, mà cũng chẳng có Thương Ương Gia Thố. Nếu nói Thương Ương Gia Thố là biểu tượng của tình yêu, thì Makye Ame chính là bảo mẫu của tình yêu, chính nàng đã gợi mở và bồi dưỡng tình yêu của Thương Ương Gia Thố. Nàng giống như tổ tông của núi sông, xuất phát từ đó, núi cao trùng điệp, nước rộng mênh mông.”
Mai Tát xuất phát từ đáy lòng nói: “Thật khiến người ta hâm mộ.”
Hoàng tử Hương Ba nói: “Biết tại sao lông đuôi công lại là biểu tượng của Makye Ame không? Bởi vì trong truyền thuyết dân gian Ấn Độ, công chúa Khổng Tước là người phụ nữ xinh đẹp nhất trên trời dưới đất, là sự hiển hiện của tinh hoa trời đất. Phật giáo dựa vào đó để phát huy, nói rằng tất cả các vị nữ thần Tara trước khi hóa hiện thành nữ thần cửa Phật thông qua Quan Thế Giới, đều là sự chuyển thế của chim công, đều từng có trải nghiệm từ công chúa Khổng Tước cho đến người phụ nữ chốn phàm trần. Chim công là linh vật xinh đẹp thánh thiện, người phụ nữ do nó chuyển thế, trên người đều có vết bớt lông đuôi công màu xanh.”
Mai Tát nói: “Makye Ame, Makye Ame lấy lông đuôi công làm biểu tượng.”
Hoàng tử Hương Ba nói: “Thương Ương Gia Thố cũng có biểu tượng loài vật, đó chính là chim yểng ương, trong truyền thuyết người Tạng, chim yểng ương là biểu tượng của tình yêu.”
Mai Tát nhìn chiếc chìa khóa vàng hình đầu chim yểng ương trước ngực Hoàng tử Hương Ba rồi nói: “Anh chắc không phải đang nói chính mình đấy chứ? Tiếc là cái đầu yểng ương của anh là do rèn đúc thành, nếu như mọc ra được, mọc ngay trên người anh, vậy thì anh chính là sự chuyển thế của Thương Ương Gia Thố rồi.”
“Đây chính là sự rèn đúc của thần linh, báu vật của tổ tiên ta, quan trọng như mạng sống của ta vậy.”
“Vậy thì cũng không tránh khỏi sự lặp lại, thần linh rèn đúc một lúc cả đống, mỗi người phát một cái, tổ tiên anh may mắn có được một cái. Mà em tin rằng, 'chim yểng ương' có thể đại diện cho Thương Ương Gia Thố, tuyệt đối là con chim yểng ương duy nhất trên đời này.”
Trí Mỹ thong thả nói: “Hai người có thể nói chuyện đàng hoàng được không, lúc nào cũng lạc đề.”
Hoàng tử Hương Ba nói: “Đây chính là mị lực của tình yêu, chính tình yêu đã khiến việc quật tàng lạc đề.”
Mai Tát nói: “Nói chung, mục đích của phục tàng là để thánh giáo không biến mất, giáo ngôn không pha tạp, gia trì không suy yếu, truyền thừa không đứt đoạn. Thế nhưng phục tàng của 'Cửa bảy vị Tara' lại hoàn toàn ngược lại, những lời 'thọ ký' liên tục hiện diện - tình ca Thương Ương Gia Thố khiến chúng ta chạm đến là linh hồn của một kẻ phản nghịch tôn giáo, hắn dùng tình yêu thế tục để phủ nhận giới luật thần thánh, khiến thánh giáo cảm thấy hoảng sợ. Hoảng sợ có lẽ là món quà duy nhất mà vị giáo chủ này mang lại cho thánh giáo, trong khi thánh giáo mang lại cho hắn lại là sự áp bức, muộn phiền và phẫn nộ.”
Hoàng tử Hương Ba nói: “Chỉ có thể nói tạm thời là vậy, tôi không tin Thương Ương Gia Thố sẽ bị áp bức đến cùng, muộn phiền đến cùng, phẫn nộ đến cùng. Đây chính là điểm khác biệt giữa chúng ta, các người tin rằng phẫn nộ là cực đoan và kéo dài, còn tôi chỉ tin vào tình yêu. Thương Ương Gia Thố đã cất cao tiếng hát tình ca khắp Tây Tạng, dùng tình ca dễ như trở bàn tay để thống trị tinh thần con người. Tại sao? Bởi vì Tây Tạng cần tình yêu giống như cần tôn giáo vậy, tình yêu và tôn giáo không chỉ không mâu thuẫn, mà còn là thể kết dính biểu lý cho nhau, là sự hòa quyện nước với sữa đệ nhất thiên hạ.”
Trí Mỹ nói: “Đây chỉ là nguyện vọng của anh mà thôi, thứ mà chúng ta đối mặt là một thế giới tẩy rửa tội lỗi, sự tồn tại của tôn giáo trước hết không phải vì theo đuổi tình yêu, mà là để rửa sạch tội nghiệt.”
Hoàng tử Hương Ba kích động nói: “Nếu không có tội nghiệt thì tôn giáo tẩy rửa cái gì? Thương Ương Gia Thố không có, tôi không có, tôi tin hai người cũng không có.”
Trí Mỹ nói: “Cho nên thế giới này không cần tôn giáo.”
Mai Tát thấy Hoàng tử Hương Ba trợn tròn mắt muốn phản bác, vội vàng nói: “Đừng nói những chuyện này nữa, tập trung tinh thần quật tàng tiếp đi.” Cô cầm “Văn tự thấu quang” lên xem. Đại khái là do quay kinh luân lâu ngày nên các góc có chút hư hỏng, trên mặt giấy là một tầng nếp nhăn dày đặc, nhưng dưới ánh nắng, ngôn ngữ phục tàng cổ xưa vẫn có thể phân biệt rõ ràng, bên cạnh ngôn ngữ phục tàng chính là bản dịch của cô. Cô nói, “Đã hiểu lịch sử mà 'thọ ký' ban cho chúng ta, bây giờ chúng ta phải đối mặt với hiện thực, 'hướng dẫn' bên dưới có nghĩa là gì?” Vừa nói vừa đọc lên:
Máu cuống rốn, màu xanh thành đạo, sư tử gầm Văn Thù.
Tháp tụ liên, tự Di Lặc, Kumbum Jampa Ling.
Bên trong cửa thánh, dấu chân vạn mã, Yidrol Lhamo Kyi.
Hoàng tử Hương Ba nói: “Tôi muốn nghe cao kiến của hai người.”
Mai Tát sốt ruột nói: “Đừng có thừa nước đục thả câu nữa, chúng tôi không có cao kiến gì cả, chỉ muốn nghe anh thôi.”
Hoàng tử Hương Ba châm một điếu thuốc, hút một hơi.
Mai Tát lấy khăn giấy lau mắt nói: “Đừng hút nữa được không? Anh vừa hút vừa uống, trên người toàn là độc bẩn, chẳng thanh tịnh chút nào, theo quy củ, người không thanh tịnh thì không được đến gần phục tàng.”
Hoàng tử Hương Ba nói: “Người không thanh tịnh còn có cả tâm hồn, tâm hồn tôi còn dơ bẩn hơn, suy nghĩ vẫn vơ. Tôi biết mình không xứng đáng quật tàng, nhưng tại sao lại cứ giáng xuống đầu tôi cơ chứ?”
Mai Tát nói: “Cơ hội đến rồi, anh buộc phải thay đổi bản thân.”
Hoàng tử Hương Ba nói: “Rất khó. Không nói chuyện của tôi nữa, nói về 'hướng dẫn' đi. 'Máu cuống rốn', rõ ràng chỉ Tông Khapa và nơi sinh của ngài. 'Tông Kha' là địa danh cổ tiếng Tạng, chỉ vùng đất phía tây đỉnh chính Côn Kha Kiệt Nhật thuộc núi Tích Thạch phía nam Cam Nam, phía đông hồ Thanh Hải, phía nam sông Hoàng Thủy. Thuở ban đầu, Nguyên đế Hốt Bật Liệt cảm niệm Đại quốc sư Xina Lama có công với triều đình, muốn ban thưởng đất phong, bèn mời ngài chọn lựa ở khu vực lưu hành Lạt-ma giáo gồm Cam, Thanh, Tây Tạng. Xina Lama mất bốn năm đi khắp nơi, cuối cùng đã chọn Tông Kha, bẩm báo với hoàng đế rằng, đây là vùng đất báu sinh ra các bậc thánh nhân, Đại hoàng đế Văn Thù có sắc phong hay không, ta cũng đều sẽ an trú tại nơi này. Nơi Xina Lama an trú, tám thung lũng tám dòng sông hình dáng sắp xếp như đóa hoa sen, gọi là núi sen Tông Kha. Chín mươi năm sau, vào rạng sáng ngày 10 tháng 10 năm 1357 sau Công nguyên, bậc Phật thứ hai Tông Khapa đã giáng sinh vào trong lòng núi sen Tông Kha. Mẹ ngài là Shasa Achu cắt đứt cuống rốn, máu tươi nhỏ xuống, thấm qua tấm thảm len chui xuống đất, chẳng mấy chốc, nơi đó mọc lên một cây bồ đề kỳ diệu, cành lá xanh tươi vươn lên thành tán, nhanh chóng làm rách tung căn lều nhỏ. Sau này Tông Khapa sáng lập phái Gelug ở Tây Tạng, núi sen Tông Kha liền trở thành ngọn núi tổ của phái Gelug.”
Mai Tát hỏi: “Vậy còn 'màu xanh thành đạo, sư tử gầm Văn Thù' thì sao?”
Hoàng tử Hương Ba nói: “'Thành đạo' chỉ cái cây, chính là cây chiên đàn, tên khoa học là đinh hương bạo mã, tên Phật gọi là cây bồ đề, người Ấn Độ gọi là cây A-phối-đà-la. Năm xưa Thích Ca Mâu Ni xuất gia làm tăng, khổ tu sáu năm rồi đến dưới cây bồ đề, kiết già ngồi vững, thề với trời rằng: 'Thành đạo ở ngay chỗ này, nếu không thành, ta không rời thiền tọa.' Sau quả nhiên đắc đạo, cây bồ đề từ đó cũng trở thành cây thành đạo, cây tư duy. Cây bồ đề được nuôi dưỡng bởi dòng máu cuống rốn của mẹ Tông Khapa cành lá xum xuê, mười vạn chiếc lá tỏa hương thơm ngát, gân trên mỗi chiếc lá hiện rõ hình tượng Phật Sư Tử Hống. Tượng Phật có màu xanh sậm hoặc xanh nhạt, trên vỏ cây còn hiện lên ngũ tự tâm chú của Bồ Tát Văn Thù. Phật Sư Tử Hống là hóa thân thứ bảy của Thích Ca Mâu Ni, thác sinh qua Bồ Tát Văn Thù tại núi sen Tông Kha, đó chính là Tông Khapa.”
Mai Tát nói: “Thế còn 'tháp tụ liên, tự Di Lặc, Kumbum Jampa Ling' là gì?”
Hoàng tử Hương Ba nói: “Chính là tu viện Kumbum ở Thanh Hải. Khi đó Tông Khapa đang học pháp ở Tây Tạng đã nhờ người mang thư về, thỉnh cầu mẹ bảo vệ cây bồ đề. Mẹ của Tông Khapa cùng với các thí chủ và tín dân địa phương, dùng một tượng Phật Sư Tử Hống làm thai tạng, dùng lụa vàng bọc thân cây bồ đề lại, khảm xung quanh bằng các phiến đá, xây thành một ngọn tháp Tụ Liên. Tháp Tụ Liên là kiến trúc Phật giáo sớm nhất ở núi sen Tông Kha.
Sau đó, Đại thiền sư Rinchen Choekyi Gyaltsen dựa theo điềm báo trong giấc mơ của chư Phật bồ tát, xây dựng lên một tòa cung điện kiểu Hán thời nhà Minh, trong điện dùng bùn thuốc đắp nắn một tượng đồng ngồi thếp vàng của Phật Di Lặc, tượng Phật cao lớn vạm vỡ, bên trong chứa xá lợi tử của Như Lai, xá lợi mẫu, linh tro thánh cốt của đại sư Atisha, pháp y pháp vật của đại sư Shakya Sribhadra, tóc và cà-sa của đại sư Tông Khapa, xương trán hiển hiện tượng Bồ Tát Văn Thù của cha Tông Khapa, những pho tượng đồng nhỏ của Thích Ca Mâu Ni đến từ Ấn Độ và Nepal,... Đây là ngôi chùa Phật giáo đầu tiên ở núi sen Tông Kha, gọi là chùa Di Lặc.
Trong lòng núi sen Tông Kha, trước có một tháp, sau có một chùa, các tín dân người Hán vì muốn cho gần gũi nên gọi 'tháp' là 'Tháp Nhi', hợp lại với 'chùa' thành 'Tháp Nhi tự' hoặc 'tu viện Kumbum'. Còn tiếng Tạng vẫn duy trì cách gọi cho đến ngày nay là 'Kumbum Jampa Ling', 'Kumbum' là 'thân tượng Phật', 'bum' là 'mười vạn', 'Kumbum' chính là 'mười vạn thân tượng Phật', 'Jampa Ling' là chùa Di Lặc, hợp lại chính là 'Thập vạn Phật thân Di Lặc châu'.”
Mai Tát nói: “Thế còn 'Bên trong cửa thánh, dấu chân vạn mã' thì có ý gì?”
Hoàng tử Hương Ba nói: “Sau này tháp Tụ Liên trải qua mấy lần trùng tu, lại dùng Phật điện che phủ lên, biến thành tháp bạc lớn bồ đề sừng sững trong giếng trời thông gió của điện Đại Kim Ngõa như hiện nay. Hình dáng tháp nguy nga, chân tháp rộng lớn, lớp vỏ bên ngoài bằng bạc nguyên chất, đan xen trang trí mạ vàng, khảm rất nhiều mã não, san hô, lưu ly xanh, ngọc phỉ thúy. Ở phần trên trong tháp có một Phật khám, xung quanh viền những hình đại bàng, voi báu, sư tử dữ, hươu lành, mẫu thắng, bên trong là tượng mạ vàng của Tông Khapa đội mão thông nhân. Tháp bạc lớn bồ đề là vật cúng thần báu bậc nhất của tu viện Kumbum, được mệnh danh là ngọn tháp số một của phái Hoàng giáo, một cảnh quan trang nghiêm trên thế giới.
Tháp bạc lớn bồ đề từ khi xuất hiện cho đến nay đã có hơn sáu trăm năm lịch sử, dù có cải tạo trùng tu thế nào đi nữa, trên chân tháp vẫn lưu giữ một cánh cửa thánh, thông đến cây bồ đề, mười vạn chiếc lá và mười vạn tượng Phật Sư Tử Hống ở bên trong. Cửa thánh rất ít khi được mở ra, trong tất cả các tư liệu về tháp bạc lớn bồ đề, chỉ có một ghi chép duy nhất về việc mở cửa thánh, đó là cuốn do vạn mã Hoà thượng viết, ông nói rằng khoảng tám mươi năm trước, vì muốn cạo lấy nhựa của cây bồ đề làm keo thánh để gắn kết đầu Phật làm bằng bùn thuốc bị trộm rồi lại được mang về, tu viện quyết định mở cửa thánh, toàn thể tăng già bầu vạn mã Hoà thượng chui vào trong cửa thánh để cạo keo thánh. Khi ông hoàn thành nhiệm vụ đi ra, phát hiện một chiếc lá rơi trên bơ vai, trên đó hiện lên vô cùng rõ ràng một tượng Phật Sư Tử Hống.”
Mai Tát nói: “'Cửa thánh' đã rõ, 'vạn mã' cũng cơ bản đã rõ, có thể hiểu thế này không: Bên trong cửa thánh của tháp bạc lớn bồ đề, nơi vạn mã Hoà thượng từng lưu lại dấu vết, chính là nơi tọa lạc của 'Cửa bảy vị Tara'?”
Hoàng tử Hương Ba nói: “Rất có thể là như vậy. Bởi vì tiếp ngay sau đó chính là 'Yidrol Lhamo Kyi', 'Kyi' là từ viết tắt của 'Dechen', 'Dechen' chính là hạnh phúc. Ví dụ như 'Dolma Kyi', chính là 'Tara hạnh phúc'; 'Yidrol Lhamo Kyi', chính là 'Yidrol Lhamo hạnh phúc'. 'Yidrol Lhamo' cũng giống như Makye Ame, Gichu Buchi, Rinchen Wangmo, đều xuất phát từ tình ca Thương Ương Gia Thố.” Vừa nói anh ta vừa hát lên:
Yidrol Lhamo yêu kiều,
Vốn là người thợ săn như ta bắt được,
Lại bị quan gia có quyền có thế,
Hoàng tử Norzang cướp mất.
Mai Tát nói: “Thương Ương Gia Thố thất tình rồi, giọng điệu bi thảm quá.”
Hoàng tử Hương Ba nói: “Theo đuổi mà không được, gọi là thất tình. Khúc tình ca này hình như đang nói về tôi vậy, tôi có tâm cảnh thế nào thì có thể khai quật ra 'thọ ký' thế đó.”
Mai Tát lập tức đổi chủ đề: “Em phát hiện anh rất quen thuộc với tu viện Kumbum đấy.”
Hoàng tử Hương Ba nói: “Tất cả các tu viện có liên quan đến Thương Ương Gia Thố, tôi đều đã đến hơn một lần. Trong một số truyền thuyết, tu viện Kumbum là nơi quy tụ cuối cùng của Thương Ương Gia Thố, thi hài của ngài từng được hỏa t hóa ở đây, khi hỏa táng trên bầu trời xuất hiện mây cầu vồng kỳ dị, di thể dần nhỏ lại, nhỏ đến tầm một thước rồi biến lúc ấy xuất hiện vô số thiên thần thiên nữ, mặc y phục hoa lệ trang sức đẹp đẽ, tấu vang tiên nhạc đón linh thức Thương Ương Gia Thố đi về phương nam, phía nam vùng Tạng chính là nơi ngài chuyển thế.”
Mai Tát nói: “Vậy thì đi nhanh thôi, tu viện Kumbum Thanh Hải.”
Lúc này họ phát hiện ra rằng chiếc Pajero đã lăn bánh từ lâu, chạy thẳng về hướng đường cao tốc Lan-Ning (Lan Châu đi Tây Ninh). Hoàng tử Hương Ba “hừ” lên một tiếng nói: “Trí Mỹ rốt cuộc cũng là hậu đại của pháp sư tuyên dụ, đã sớm biết chúng ta muốn đi đâu rồi.”
Trí Mỹ nói: “Tôi đã bấm quẻ rồi, giống như lời anh nói vậy.”
Thế nhưng Trí Mỹ lập tức lại dừng xe lại, dừng ở một nơi rất gần nhà vệ sinh công cộng. Mai Tát xuống xe đi về phía nhà vệ sinh. Hoàng tử Hương Ba nhìn theo bóng lưng cô, thầm nghĩ hai người bọn họ thật sự rất ăn ý, Mai Tát vốn chẳng nói gì mà Trí Mỹ đã biết cô cần đi giải quyết nỗi buồn.
Hoàng tử Hương Ba nói: “Trí Mỹ tôi phải nhắc nhở cậu, bây giờ là lúc cậu thực hiện lời hứa rồi đấy.”
Trí Mỹ nói: “Tu viện Labrang là phúc địa của anh, tôi biết mình nên làm thế nào. Tuy nhiên, tôi nhắc nhở anh, cho dù tôi có từ bỏ cô ấy, thì anh cũng chưa chắc đã có được cô ấy.”
Hoàng tử Hương Ba mỉm cười nói: “Cậu yên tâm, tôi hiểu lòng Mai Tát, giống như hiểu lòng mình vậy.”
Lúc lên đường trở lại, Hoàng tử Hương Baẹo đầu ngủ gật trên ghế, trong giấc mơ cứ lơ lửng một bóng người cao ngất, anh thầm nghĩ mày là ai vậy? Hỏi mấy lần cũng không trả lời, bỗng nhiên lớn tiếng kêu lên: “Mai Tát, Mai Tát, sao em còn muốn nhảy xuống nữa?”
Mai Tát lay anh tỉnh dậy: “Anh nói nhảm gì thế? Người nhảy xuống là Phentso của anh cơ mà.”
Hoàng tử Hương Ba dụi mắt nói: “Phentso, sao tôi lại quên mất Phentso chứ.”
5
A-rược Lạt-ma đứng ở cửa phòng trưng bày bảo vật tu viện Labrang tiếp điện thoại của Makye Ame.
Trong tuệ nhãn của ông lộ ra sự tự tin nhìn thấu vạn vật, thầm nghĩ đại thiên thế giới vạn vật đều là không, bao gồm cả cuộc gọi của Makye Ame, nhưng đằng sau sự không đó lại chân thật không hư cấu, không có gì là không giả, cũng chẳng có gì là không thật. Makye Ame này rốt cuộc là tiếng vang của lịch sử, hay là cốt nhục đang tồn tại? Giới tôn giáo bao la, đông tây nam bắc, vẫn luôn truyền tụng sự tồn tại của Makye Ame, giống như truyền tụng về hai mươi mốt vị Tara, mười sáu nữ thiên, mười hai nữ thần Danma vậy. Điểm khác biệt là, Makye Ame sở hữu vật mang cốt nhục, là sắc thân có tâm thần của thần mà diện mạo của người, trong khi Tara và nữ thiên đều là những vị thần thuần túy trong cảnh giới mộng ảo, là tinh thần không thể chạm tới.
Chưa từng có ai gặp Makye Ame, kể cả A-rược Lạt-ma.
A-rược Lạt-ma tuy không muốn tin đối phương thực sự chính là Makye Ame, nhưng âm thanh tựa tiếng suối róc rách ấy vẫn khiến lòng ông sinh lòng vui mừng. Ông nói: “Makye Ame? Chính là Makye Ame của Phật báu đời thứ sáu Thương Ương Gia Thố? Sao cô biết số điện thoại của tôi? Cô tìm tôi có chuyện gì?”
Tất cả các câu hỏi đối phương đều không trả lời, chỉ bằng giọng điệu nhạt nhòa nói: “Ông ở tu viện Labrang, nhưng ông lại chẳng hề biết vì sao mà đến, vì sao mà đi. Từ bỏ đi A-rược Lạt-ma, khi Hoàng tử Hương Ba và đồng bọn của anh ta tiến về con đường mật của 'Cửa bảy vị Tara', ông không thể truy đuổi họ, mà nên vượt qua họ. Nếu ông đến đích trước họ, khai quật được phục tàng của 'Cửa bảy vị Tara', ông chính là vị đại sư quật tàng cuối cùng cũng là vĩ đại nhất. Cơ duyên vĩnh viễn chỉ đền đáp những ai đã xác định rõ mục tiêu và chuẩn bị đầy đủ, chư Phật bồ tát trên trời, ai mà không biết ông A-rược Quýnh Nãi đã hao tâm tổn trí vì 'Cửa bảy vị Tara' chứ?”
“Nhưng, nhưng dựa vào đâu mà tôi phải tin cô, chỉ dựa vào cuộc gọi này sao?”
“Còn có tin nhắn, ông đọc là hiểu ngay.”
Giọng nói biến mất. A-rược Lạt-ma nhìn màn hình hiển thị cuộc gọi đến, lập tức gọi lại, đổ chuông mấy tiếng thì bị đối phương cúp máy. Ông nghĩ nếu việc mở cửa 'Cửa bảy vị Tara' đã trở thành 'ý nguyện phó thác' mà liên sư vạn đại chôn giấu trong đầu óc mình, thì sự xuất hiện đột ngột của Makye Ame nhất định đồng nghĩa với sự xuất hiện của khải thị mới. Sự chấp nhất và u mê đối với việc quật tàng khiến ông không màng đến việc đây rất có thể là một cú lừa - có người đang mưu toan lợi dụng ông để đạt được mục đích của mình. 'Tin nhắn, tin nhắn.' Ông dán mắt vào điện thoại đầy mong đợi lầm bầm. Tin nhắn đến rồi, trong đó nói rằng dưới sự truy tìm của Hoàng tử Hương Ba, tu viện Labrang kinh hoàng xuất hiện 'Cửa bảy vị Tara', sau khi mở ra đã phát hiện 'Văn tự thấu quang', nội dung là một khúc tình ca Thương Ương Gia Thố đóng vai trò là 'thọ ký' và 'hướng dẫn' về phục tàng.
A-rược Lạt-ma dán mắt vào khúc tình ca và 'hướng dẫn', đọc đi đọc lại mấy lần, chẳng hiểu mấy, nhưng lại chợt hiểu ra một đạo lý: bản thân và Hoàng tử Hương Ba thực chất là đối thủ cạnh tranh, chứ không phải đuổi bắt nhau. Bất kể Hoàng tử Hương Ba là giết người hay trộm cắp, anh ta chắc chắn là một người từng thọ nhận quán đảnh phát nguyện của Liên Hoa Sinh Đại sư, anh ta thông minh hơn người lại gặp gỡ cơ duyên trùng hợp, hình như có khả năng trở thành đại sư quật tàng hơn bất kỳ cao tăng đại đức nào trong giáo phái. Thế nhưng bây giờ, cơ duyên của Hoàng tử Hương Ba đã có sự ngưng trệ, ông A-rược Lạt-ma nhận được sự sủng ái của Makye Ame, sắp bước lên con đường quật tàng, tranh đấu đến cùng rồi. Phục tàng cuối cùng, báu vật cứu thế trong thời kỳ mê mang hỗn loạn, vinh quang của đại sư quật tàng, chỉ có thể thuộc về lão lạt-ma A-rược·Quýnh Nãi của ngôi hoàng tự đệ nhất thiên hạ Dung Hòa Cung. Bởi vì trong mắt A-rược Lạt-ma, khổ tu Phật pháp là sự chuẩn bị tốt nhất để khai quật phục tàng, ông đã chuẩn bị ròng rã mấy chục năm như một ngày rồi, giống như lời Makye Ame nói, cơ duyên vĩnh viễn chỉ đền đáp những ai đã xác định rõ mục tiêu và chuẩn bị đầy đủ.
A-rược Lạt-ma gọi mấy vị lạt-ma tùy tùng vội vã đi về phía chiếc Lama Bird.
Ô Kiên Lâm Ba đang niệm kinh thấy họ lên xe, vặn chìa khóa là phóng đi.
A-rược Lạt-ma hỏi: “Đi đâu thế?”
Ô Kiên Lâm Ba nói: “Tôi làm sao mà biết được.”
A-rược Lạt-ma đưa điện thoại qua.
Ô Kiên Lâm Ba dừng xe đọc tin nhắn, kinh ngạc nói: “Ai gửi vậy? Sao lại gửi cho chúng ta? Chúng ta có hiểu tình ca Thương Ương Gia Thố đâu.”
A-rược Lạt-ma nói: “Dù hiểu hay không, chúng ta đều phải thay đổi sách lược. Bây giờ có thể khẳng định Hoàng tử Hương Ba vẫn chưa lấy được 'phục tàng cuối cùng' trong 'Cửa bảy vị Tara' ở Dung Hòa Cung, thứ lấy được chỉ là 'hướng dẫn thọ ký', thế nên bọn họ mới đến tu viện Labrang, bọn họ còn sẽ đi đến những nơi khác nữa.”
Ô Kiên Lâm Ba nói: “Tôi hiểu rồi, mục đích của chúng ta không phải là bắt họ, mà là đi theo họ.”
A-rược Lạt-ma nói: “Không chỉ đi theo họ, mà còn phải vượt qua họ. Chúng ta và họ, đều là những kẻ quật tàng được 'thọ ký', nhưng chúng ta là lạt-ma, sự tu hành của chúng ta chính là tu công đức. Công đức vô lượng, phục tàng mới có thể vô lượng. Ngay cả khi chúng ta không theo đuổi sự thành công cuối cùng, thì thành công cuối cùng cũng sẽ tìm đến chúng ta.”
Ô Kiên Lâm Ba nói: “Tôi không quan tâm đại đạo lý, chỉ quan tâm bây giờ xe chạy đi đâu?”
A-rược Lạt-ma dán mắt vào tin nhắn, đọc đi đọc lại khúc tình ca Thương Ương Gia Thố và 'hướng dẫn' phục tàng, hồi lâu mới nói: “Có nên hỏi Bất Động Phật không?” Lại nói tiếp: “Thôi quên đi, Bất Động Phật không có minh thị, chứng tỏ vẫn chưa tới thời điểm minh thị, đợi thêm chút nữa rồi tính.”
Ô Kiên Lâm Ba khởi động chiếc Lama Bird, lang thang trên đường cao tốc. Hai tiếng sau, điện thoại của A-rược Lạt-ma mới reo lên, là bài hát ám ảnh của Chu Triết Cầm: “Nhanh đánh trống của Nyima, trống của Dawa, trống của Mima, trống của Lhaba, trống của Phubu, trống của Pasang, trống của Pema, ơ kìa ơ kìa.” A-rược Lạt-ma luống cuống ấn mở tin nhắn, lớn tiếng đọc lên:
Bất Động Phật minh thị: Tu viện Kumbum.
A-rược Lạt-ma nhìn phong cảnh núi non ngoài cửa sổ: “Chúng ta bây giờ đang ở đâu?”
Ô Kiên Lâm Ba nói: “Đã qua Lâm Hạ, bước vào dãy núi Tích Thạch, nếu rẽ trái, đi không xa chính là Khu bảo tồn thiên nhiên Manda Thanh Hải, đây là con đường tiện nhất để đi tu viện Kumbum Tây Ninh.”
“Tuyệt quá, cố gắng đến tu viện Kumbum sớm hơn bọn họ.”
Ô Kiên Lâm Ba lại hỏi: “Có cần báo cảnh sát Vương Nham không?”
A-rược Lạt-ma nói: “Cậu nói xem? Nếu Hoàng tử Hương Ba đồng thời cũng là một người có duyên quật tàng, nếu chúng ta và họ là cạnh tranh, là thi đấu trí tuệ và vận may, thì chúng ta không thể dựa vào việc tố giác với cảnh sát để đạt được mục đích, công bằng là quy tắc của chúng ta. Nếu Liên Hoa Sinh Đại sư thiên vị người khổ tu Phật pháp, đã thông qua quán đảnh phát nguyện, biến việc mở 'Cửa bảy vị Tara' thành 'ý nguyện phó thác' chôn giấu trong đầu óc tôi, thì tôi việc gì phải dựa vào cảnh sát.”
Ô Kiên Lâm Ba kêu lên một tiếng hay, tăng tốc độ, phi thẳng đến tu viện Kumbum cách đó năm trăm cây số.
6
Hoàng tử Hương Ba cẩn thận gọi điện cho Phentso, thầm nghĩ mong rằng cô ấy lúc này đang ở nhà nghỉ ngơi, hoặc đang đi làm ở cơ quan.
Truyền đến một giọng nói suy yếu và u ám: “Alo?”
“Em có khỏe không?” Anh hỏi.
Câu trả lời của Phentso khiến Hoàng tử Hương Ba cảm thấy bất ngờ: “Khỏe. Cảnh sát đã đến rồi, nhưng tôi trốn đi nên họ không tìm thấy tưởng người báo án báo sai, lừa gạt. Một người thực sự muốn tự sát thì không ai có thể ngăn cản được, anh cứ tiếp tục báo án đi, anh báo án chính là ép tôi chết sớm. Lần sau hễ cảnh sát xuất hiện, tôi lập tức nhảy xuống. Không phải đe dọa, là lời thề, anh nên biết, trong thế giới của người Tạng, thứ duy nhất không thể trái lời chính là lời thề.”
“Em đang ở đâu thế này?”
“Tôi đang ngồi trên gờ tường, hai chân vắt vẻo bên ngoài, chỉ cần nhấc mông lên là tôi xuống dưới ngay.”
Hoàng tử Hương Ba nói: “Em nghe lời anh, lùi về phía sau, rời khỏi gờ tường, đến một nơi an toàn, hướng về bầu trời, dùng những lời cay độc nhất mắng chửi vài câu đi. Mắng ai cũng được, mắng anh, mắng em, mắng cha mẹ, mắng thế giới, rồi đi theo cầu thang xuống dưới, chuyện tốt đang đợi em ở dưới đấy.”
“Chuyện tốt gì chứ?”
“Em vẫn còn sống, em vẫn là một sinh mệnh rực rỡ, đó chính là chuyện tốt nhất.”
“Vậy thì tôi lại trèo lên tiếp thôi, tôi ghét cuộc sống, ghét tất cả sự rực rỡ, tất cả sinh mệnh. Tôi cảm thấy trạng thái hiện tại của mình là tốt nhất, ở trên đỉnh tòa nhà ba mươi sáu tầng, nhìn xuống dưới từ trên cao. Tôi chưa từng nhìn con người từ độ cao thế này bao giờ, cảm thấy ánh mắt thần linh nhìn con người chính là ánh mắt của tôi lúc này, dưới đất toàn là kiến, từng bầy từng lũ, bận rộn tất bật, chẳng biết bọn chúng đang làm gì. Tôi từng là một thành viên trong số đó, một con kiến đang lúc nhúc, cái chân dẫm chết bạn có thể sập xuống bất cứ lúc nào, tôi lúc nào cũng nơm nớp lo sợ, chỉ cần có chút gió thổi, tôi liền nghĩ, nó hướng về phía mình kìa, nó sẽ thổi bay mình, xóa sổ mình khỏi trái đất. Tôi sống hèn nhát, sống thấp thỏm lo âu, ủ rũ chán chường. Thế nhưng bây giờ, tôi không nghĩ vậy nữa, tôi sắp chết rồi, chủ động bước đến cái chết mới là hành vi của kẻ dũng cảm. Hoàng tử Hương Ba, tốt nhất là anh mau chóng đến đây, cùng tôi nhảy xuống từ tòa nhà cao ba mươi sáu tầng này. Hai người tự sát dù sao cũng bi tráng hơn một người, anh 'phịch' một tiếng, tôi 'phịch' một tiếng, thế giới liền biến mất, tất cả đều bị hủy diệt.”
Hoàng tử Hương Ba gào lên: “Nhưng rốt cuộc tại sao em lại phải làm thế này? Tại sao? Em nói cho anh biết đi, anh có thể giúp em mà.”
“Tự sát là vận mệnh của tôi, vận mệnh thì không có nguyên nhân.”
“Dù sao đi nữa, em nhất định phải đợi anh quay về. Anh rất muốn gặp em, anh yêu em.”
“Yêu với đương cái gì, tôi chưa từng tin. Vẫn câu nói đó, tôi đợi sự kiên nhẫn của mình cạn kiệt, trước khi cạn kiệt anh đến, chúng ta cùng nhảy, sau khi cạn kiệt anh đến thì anh thu xác hộ tôi nhé.”
“Sự kiên nhẫn là sợi dây giữa anh và em, nó vĩnh viễn sẽ không đứt.”
“Không, sắp đứt rồi đây. Nhìn đi, tôi đang đi giày cao gót, chúng đang chênh vênh trên đầu ngón chân tôi, chỉ cần ngón chân tôi co lại là sẽ rơi xuống. Anh nói xem tôi phải làm sao đây, là để chúng rơi xuống, cứ để chúng lơ lửng, treo lơ lửng như thế, cuối cùng cùng tôi chìm từ bầu trời vào lòng đất?”
Hoàng tử Hương Ba nói: “Vấn đề này em nên đi hỏi đôi giày cao gót của em xem chúng nói thế nào, chúng chắc chắn không muốn rơi xuống từ nơi cao thế này đâu. Chúng đưa em đi lại, cũng mang lại cho em vẻ đẹp, chúng cũng có sinh mệnh. Sao em có thể đi làm chuyện mà ngay cả giày cao gót cũng không muốn làm cơ chứ?”
“Tôi chính là muốn làm chuyện mà người bình thường không muốn làm, giày cao gót đã rơi xuống rồi, cả hai chiếc đều rơi xuống rồi. Lúc đầu tôi còn có thể nhìn thấy chúng, bây giờ không nhìn thấy nữa rồi, tôi muốn nghe thấy âm thanh, nhưng âm thanh không truyền lên được. Chúng chính là tôi, tôi và đôi giày cao gót của tôi đều rơi vào một khoảng không vô tận rồi.”
“Em tự sát chính là vì em trống rỗng. Mà Phật muốn nói với chúng ta, chính là thoát khỏi sự trống rỗng, lao vào cuộc sống vừa không vừa có, vừa trần tục vừa thanh tịnh. Em là người Tạng, ít nhất cũng phải biết rằng, em muốn hủy diệt là điều không thể, bởi vì cái chết không phải là hủy diệt, mà là sự tái sinh, đã định sẵn là em còn tái sinh, chi bằng bây giờ đừng chết.”
Phentso cười lạnh một tiếng: “Giọng điệu nói chuyện của anh giống như một tên lạt ma giáo điều, nhưng anh biết tôi không tin Phật mà. Hồi học đại học, giáo viên nói bản ngã là thứ mạnh mẽ nhất, tôi liều mạng muốn tìm kiếm bản ngã, càng tìm càng hoang mang, chẳng có chỗ nào cả, tìm tới tìm lui mới biết, bản ngã hay Phật, căn bản không thể thay đổi vận mệnh của chúng ta, căn bản không thể khiến kẻ ác gặp tai họa người tốt được hạnh phúc, không thể xóa bỏ quy luật sinh lão bệnh tật, không thể khiến tất cả tai nạn, tất cả bóng tối, tất cả tội ác tan thành mây khói. Giống như bây giờ, vị Phật mà anh tín ngưỡng nếu cho rằng tôi đáng thương, ngài ấy nên để tôi không chết khi tôi nhảy xuống chứ. A, tôi chóng mặt quá, chóng mặt quá, hình như trời đất quay cuồng rồi, hình như càn khôn đảo lộn rồi.”
Hoàng tử Hương Ba hét lên: “Phentso, Phentso.”
Phentso đã cúp điện thoại. Hoàng tử Hương Ba liên tục gọi, liên tục gọi lại.