Sắp sửa giải mã rồi. Hội trường Tây Tạng nằm ở đường An Huệ Li, vành đai 4 phía Bắc Bắc Kinh không còn một chỗ trống. Tất cả mọi người đều yên lặng, nhìn vào màn hình lớn trên sân khấu với phông nền là dãy Himalaya. Nữ ca sĩ khách mời đóng vai trò MC - A Cơ - khoác trên mình bộ lễ phục Tây Tạng rực rỡ, giọng nói xúc động đến mức hơi run run: "5, 4, 3, 2..."
Viện Nghiên cứu Tạng học Trung Quốc cùng Mạng Đại chúng Tạng học đã tổ chức cho hơn một trăm người yêu thích Tạng học trong và ngoài nước cùng hàng trăm cư dân mạng bình chọn trực tiếp nhân vật Tây Tạng có tầm ảnh hưởng nhất trong hai nghìn năm qua. Top 20 đã được công bố, và lúc này là thời khắc xướng tên vị trí số một.
"1——" A Cơ kéo dài giọng, kỳ vọng vào một hiệu ứng hoàn hảo: Ngay khi tiếng đếm ngược của cô dừng lại, tên của vị trí thứ nhất sẽ xuất hiện trên màn hình lớn.
Nhưng hiệu ứng mà cô mong đợi đã không xảy ra. Màn hình lớn chớp lóe một cái rồi tối om. Trong hội trường vang lên những tiếng "ồ" nghi vấn, sau đó lại rơi vào im lặng như tờ, mọi người kinh ngạc giốm mắt nhìn A Cơ. Một người từ hậu trường vội vã đi lên, đưa cho A Cơ một phong bì màu trắng.
A Cơ cười xin lỗi, hóm hỉnh nói: "Xem ra nhân vật Tây Tạng xếp thứ nhất quả nhiên là người có tầm ảnh hưởng nhất. Khi ngài ấy muốn chính tay tôi xướng tên, màn hình lớn đành phải tắt đèn khóa miệng." Cô mở phong bì, lấy ra một tờ giấy màu hồng, ngẩn người một chút rồi lại mỉm cười giải tỏa, ngẩng đầu dùng giọng nói vang dội truyền cảm xướng lên: "Nhân vật Tây Tạng có tầm ảnh hưởng nhất xếp thứ nhất là..." Bất ngờ cô dừng lại, như thể muốn treo giò sự tò mò của mọi người, lại như xuất phát từ sự chân thành bẩm sinh của một phụ nữ Tạng, cô nói: "Lúc này đây tâm trạng của tôi vô cùng xao xuyến, tôi cảm thấy mình hoàn toàn không đủ tư cách để trực tiếp đọc tên ngài ấy. Tên của ngài ấy chỉ có thể để người có tư cách nhất tuyên bố với mọi người. Xin trân trọng kính mời phó nghiên cứu viên Nhã Lạp Hương Ba lên sân khấu."
Hội trường rơi vào khoảng trầm lặng. A Cơ ngẩn ra một chút rồi lập tức phản ứng lại, nói tiếp: "Phó nghiên cứu viên Nhã Lạp Hương Ba có một bút danh và biệt danh trên mạng khiến các cô gái phải tò mò tưởng tượng, đó chính là 'Hoàng tử Hương Ba'."
Ngay lập tức tiếng pháo tay vang lên, sau đó là những tiếng bàn tán xôn xao. Tất cả mọi người đều đã biết vị trí thứ nhất là ai, bởi vì trong số những người ngồi ở đây, chỉ có Hoàng tử Hương Ba là từng xuất bản hai cuốn tác phẩm nghiên cứu về người đó: một cuốn nghiên cứu về tình ca, một cuốn nghiên cứu về cuộc đời. Người đó có một cái tên vang dội đến nghẹt thở: Thương Ương Gia Thố.
Hoàng tử Hương Ba với mái tóc dài bồng bềnh sải bước lên sân khấu, nhận lấy tờ giấy màu hồng từ tay A Cơ, liếc nhìn một cái rồi cầm lấy micro nói: "Đây chính là kết quả mà tôi mong đợi, thật đấy, đây là một kết quả vô cùng duyên dáng và động lòng người." Sau đó anh cất giọng hát đầy say mê:
Lạt-ma Thương Ương Gia Thố,
Chớ trách ngài phóng túng đào hoa,
Những gì ngài tìm kiếm,
Chẳng khác chi người đời chúng ta.
Hát xong, anh nói: "Đối với tôi, quê hương Tây Tạng là sự kết hợp giữa người mẹ và tình nhân. Nó trao cho tôi bữa tiệc của tình yêu và sự sống, là lòng ân cừu rộng lớn mà Thương Ương Gia Thố bất tử qua muôn đời. Nó giúp tôi hiểu rằng, thời gian là sức mạnh mạnh mẽ nhất, và trong vũ trụ này ngoại trừ sự phát triển của tình yêu thì chẳng có thời gian nào khác. Thương Ương Gia Thố chiếm giữ cội nguồn của thời gian, khiến lịch sử Tây Tạng trở nên nồng nã và đong đầy. Đúng vậy, lịch sử nuông chiều nhân loại, thế nên mới tạo ra cho chúng ta một Thương Ương Gia Thố — người đau đớn trong tình yêu, người tuyệt vời trong khổ nạn. Ngài coi việc theo đuổi tự do và hạnh phúc là thiên tính của con người, dẫn dắt Tây Tạng và chúng ta thoát tục, khiến cả thế giới phải ngẩng đầu lắng nghe những bản tình ca rực rỡ như kim cương. Tây Tạng ẩn chứa số mệnh vĩ đại nhất, sự hoang lường xa hoa nhất và những bí mật thâm sâu nhất, đó chính là tình yêu và được yêu kiểu Thương Ương Gia Thố. Nếu bắt tôi tìm một tính từ có giá trị nhất từ từ điển, tôi nguyện chọn 'Thương Ương Gia Thố'. Nó đại diện cho tình yêu, dũng cảm, kiên nhẫn, ấm áp, cao thượng, và cả khao khát của những đôi lứa thanh xuân; nếu bắt tôi dùng một từ để ca ngợi cây bồ đề duy nhất trong lòng mình, tôi sẽ dùng Thương Ương Gia Thố để so sánh, rồi nói rằng nó 'quá Thương Ương Gia Thố'..."
Hoàng tử Hương Ba thật sự muốn nói tiếp, nhưng anh không thể. Từ lúc bước lên sân khấu đến giờ, chiếc điện thoại trong túi quần anh liên tục rung lên. Anh trả lại tờ giấy hồng và micro cho A Cơ, bước xuống sân khấu, đi dọc theo lối đi ra ngoài hội trường.
2
Hoàng tử Hương Ba lấy điện thoại ra xem, là thầy Biên Ba gọi tới.
Giọng thầy Biên Ba yếu ớt như tiếng muỗi kêu: "Chỉ còn cậu thôi, bây giờ chỉ còn mình cậu..."
"Có chuyện gì thế thầy Biên Ba?" Anh thầm nghĩ ông lão du mục này lại làm sao nữa rồi.
Giọng nói càng lúc càng yếu ớt: "Nhanh lên, nhanh lên... Bệnh viện Hữu nghị Trung - Nhật..." Một tiếng đốp vang lên, hình như chiếc điện thoại đã rơi xuống đất.
Thầy Biên Ba bị bệnh sao? Bệnh gì cơ? Đến nay ông vẫn chưa lập gia đình, sống cô đơn một mình, ai ở bệnh viện chăm sóc ông chứ? Hoàng tử Hương Ba lái chiếc "Jeep Wrangler" yêu quý của mình, hai mươi phút sau đã lao tới Bệnh viện Hữu nghị Trung - Nhật.
Không phải bệnh tật, mà là tai nạn giao thông. Thầy Biên Ba đã qua đời.
Hoàng tử Hương Ba nhìn thấy thi thể của thầy Biên Ba trong nhà thảm thảm của bệnh viện, dáng vẻ thảm khốc không trót nhìn khiến anh sợ hãi quay đầu chạy biến. Anh tìm đến trước mặt bác sĩ cấp cứu, run rẩy vì kinh hãi, làm cho chiếc chìa khóa vàng hình đầu vẹt đeo trên cổ cũng run lên bần bật. Anh hỏi:
"Con người làm sao có thể bị tông đến nông nỗi đó? Tài xế gây tai nạn đâu?"
"Cậu không phải tài xế gây tai nạn sao?"
"Tôi là Hoàng tử Hương Ba, là học trò cũ của ông ấy."
"Hoàng tử Hương Ba? Vừa hay, cái này cho cậu, ông ấy liên tục đợi cậu. Cậu đến sớm mười phút thì đã gặp được mặt rồi. Phiền cậu thông báo cho người nhà người chết."
Bác sĩ giao một chiếc điện thoại và một bản di chúc cho Hoàng tử Hương Ba. Di chúc chỉ có một dòng chữ:
Điện thoại tặng cho Hoàng tử Hương Ba. Biên Ba.
Hoàng tử Hương Ba hỏi: "Vậy ông không biết là ai đã đưa ông ấy đến bệnh viện sao?"
Bác sĩ nói: "Người đưa ông ấy đến vội vã đi ngay, nói là đi báo cảnh sát, đến giờ vẫn chưa thấy quay lại."
Điều vô lý hơn là di chúc lại dành cho anh. Mặc dù anh và Biên Ba có quan hệ thầy trò, nhưng chẳng hề thân thiết. Thầy Biên Ba vốn coi thường đứa học trò này, bảo anh phóng túng đào hoa, không lo làm ăn đàng hoàng, suốt ngày chỉ làm một việc là lãng phí tài năng. Anh cũng công khai cãi lại thầy mình: Đừng nghĩ hồi tôi làm học trò của thầy có mấy năm phóng túng thì sẽ mãi mãi phóng túng. Nếu thầy không thay đổi góc nhìn, chúng ta không thể trò chuyện được. Hơn nữa, dù sau khi ra trường tôi có phóng túng thì đó cũng là do duyên số va vào nhau, có giỏi thì thầy cũng phóng túng đi, thầy không có duyên nên không phóng túng nổi đâu. Còn về việc không lo làm ăn đàng hoàng, đó là định kiến của thầy. Thầy không thể bắt tất cả học trò đều bỏ thời gian sức lực vào đề tài nghiên cứu của thầy, suốt ngày tra tài liệu, chép bản thảo, thậm chí viết bài thay thầy. Tôi có sở thích của tôi, thời gian của tôi chỉ dành cho đề tài của tôi. Anh học xong thạc sĩ với thầy Biên Ba, vốn dĩ có thể ở lại trường làm giảng viên, nhưng vì không muốn làm trợ giảng dưới quyền thầy Biên Ba nên đã tới Mạng Đại chúng Tạng học làm biên tập viên một năm, sau đó chuyển sang Viện Nghiên cứu Tạng học Trung Quốc làm một nghiên cứu viên bình thường, chẳng bao lâu thì thăng tiến lên phó nghiên cứu viên.
Nhưng dẫu sao họ cũng không tuyệt giao. Rời trường bốn năm năm nay, mỗi năm Hoàng tử Hương Ba đều gọi một hai cuộc điện thoại cho thầy Biên Ba, biến thứ năng lượng dồi dào không giải tỏa hết ở phụ nữ và học thuật thành những lời trêu đùa rót vào tai thầy. Thầy Biên Ba giống như một pháp sư dùng những lời độc địa nguyền rủa đứa học trò bị ông gọi là ác ma này, nhưng rốt cuộc không bao giờ nổi giận thật sự, lúc sắp cúp máy còn dặn dò: "Cậu có thể thói nào tật nấy cả đời sao? Mau chóng chốt đối tượng rồi kết hôn, sinh con, lập nghiệp đi. Ở Bắc Kinh không tìm được cô gái tốt thì về Tây Tạng mà tìm, tuyệt đối đừng làm thầy cậu mất mặt vì vấn đề tác phong." Hoàng tử Hương Ba luôn đáp: "Sao thầy biết Bắc Kinh không có cô gái tốt? Sao thầy biết tôi chưa chốt? Chính thầy đến giờ còn chưa có vợ kìa, còn nói tôi."
Có đôi khi thầy Biên Ba sẽ nói: "Làm học thuật nhiều vào, đọc sách nhiều vào, phải sống cho xứng đáng với công ơn đào tạo của Đại học Dân tộc Trung ương."
Hoàng tử Hương Ba vặn lại: "Tôi ở Đại học Dân tộc Trung ương chẳng học được gì, chỉ học được 《Tiên tri lòng đất》, biết đến 'Cửa Thất Độ Mẫu'."
Nguyên nhân thực sự cuối cùng đã lộ ra: Thứ mà cả hai cùng say mê chính là giải mã 《Tiên tri lòng đất》, khai quật phục tạng của 'Cửa Thất Độ Mẫu'. Sở dĩ vẫn giữ liên lạc là vì muốn thăm dò xem đối phương đã có tiến triển gì.
Dĩ nhiên là không thăm dò được gì, ai cũng bảo mật với nhau.
Lúc này, Hoàng tử Hương Ba vừa hút thuốc vừa gọi điện cho Mai Tát - nghiên cứu sinh hiện tại của thầy Biên Ba, nhưng bắt máy lại là một nghiên cứu sinh khác tên Trí Mỹ. Hoàng tử Hương Ba tức giận nói: "Các người đến điện thoại cũng dùng chung rồi à? Thầy không có ở đó là có thể tùy ý 'đánh chó' phải không?" "Đánh chó" là từ lóng chỉ việc hẹn hò lén lút. Người đàn ông trên thảo nguyên phải vượt qua hàng rào chó chăn cừu mới tiếp cận được cô gái mình yêu, không có gan đánh chó thì không thể hẹn hò. Những lời như vậy bình thường chỉ là trò đùa, nhưng lúc này đùa cái gì chứ? Anh cảm thấy mình nói sai nên cất tiếng gầm thảm thiết: "Thầy chết rồi, còn không mau qua đây!"
Gọi điện xong, Hoàng tử Hương Ba lại nhìn bản di chúc, đột nhiên giật mình sực tỉnh: Mình vừa không phải môn đồ học thuật của ông ấy, vừa không phải dòng dõi thân thích, ông ấy tặng điện thoại cho mình làm gì? Anh mở điện thoại ra kiểm tra toàn bộ tin nhắn, cuối cùng trong hộp thư đã gửi thấy một tin nhắn do thầy Biên Ba lưu sẵn.
Hoàng tử Hương Ba, hãy ghi nhớ sứ mệnh chỉ thuộc về một mình cậu, hãy mở "Cửa Thất Độ Mẫu".
Âm mưu hủy hoại phục tạng đã bắt đầu, cậu phải đua với thời gian. Mau tìm A Cơ.
Tin nhắn này được viết sau khi bị tai nạn giao thông hay đã soạn từ trước? Dù là lúc nào thì cũng cho thấy thầy Biên Ba trước khi chết đã cảm nhận mạnh mẽ sự nguy hiểm đang đến gần, ông rất có thể đã bị mưu sát. Nhưng tại sao tin nhắn soạn sẵn lại không gửi đi? Có lẽ ông nhận ra tin nhắn có thể bị tra cứu lịch sử ở tổng đài viễn thông, nên đã chọn cách dùng di chúc để giao điện thoại cho mình. Làm vậy một công đôi việc, vừa giúp mình đọc được tin nhắn, vừa đảm bảo không làm rò rỉ tin tức về 'Cửa Thất Độ Mẫu' cho người khác. Quan trọng hơn, tin nhắn khớp với nội dung trong 《Tiên tri lòng đất》. Sự tương ứng này buộc anh phải tin rằng thầy Biên Ba đang tiếp cận phục tạng "Cửa Thất Độ Mẫu", và chính sự tiếp cận này đã rước lấy họa sát thân cho ông.
Hoàng tử Hương Ba nhanh chóng nhét chiếc điện thoại của Biên Ba vào túi, bước ra khỏi bệnh viện, đi phăm phăm về phía bãi đỗ xe bên cạnh. Thấy trên đầu xe Wrangler của mình có vắt một chiếc áo, anh giật phắt ra ném xuống đất: Cái giẻ rách gì mà cũng dám vắt lên xe mình. Nhìn lại thì cản trước bẩn hủn bẩn xỉu, có tóc, có vết máu, và cả vết móp nhẹ.
Chuyện gì thế này, ai đâm vào xe mình? Anh cảnh giác nhìn quanh nhưng không thấy gì. Trong lòng bận tâm về 《Tiên tri lòng đất》 và "Cửa Thất Độ Mẫu", anh vội vã chui vào xe Wrangler rồi phóng đi.
Trên đường đi, anh gọi điện cho A Cơ: "Giờ cô đang ở đâu? Tôi phải gặp cô ngay lập tức."
Tại Bệnh viện Hữu nghị Trung - Nhật mà Hoàng tử Hương Ba vừa rời đi, hai nghiên cứu sinh của Biên Ba là Mai Tát và Trí Mỹ đã xuất hiện. Họ tới nhà thảm thảm, nước mắt ngắn dài kéo chiếc ngăn kéo lớn có ghi tên Biên Ba ra.
Trí Mỹ mở một góc khăn liệm ra xem rồi thốt lên kinh hãi: "Em đừng nhìn!" Sau đó lấy thân mình che mắt Mai Tát lại, "Mau rời khỏi đây." Trên má anh ta có một vết sẹo cũ, mỗi khi gào lên vết sẹo lại giật giật không ngừng.
Họ lập tức báo cảnh sát. Mười phút sau, cảnh sát đến nhà thảm thảm của bệnh viện, xem xét thi thể rồi tới phòng bảo vệ ở cổng bệnh viện để nắm tình hình. Người ở phòng bảo vệ nói: "Người đó được khiêng vào, lúc khiêng vào vẫn còn sống."
Cảnh sát biết không thể nào khiêng trực tiếp từ hiện trường tai nạn đến bệnh viện được, bèn đi tới bãi đỗ xe bên cạnh bệnh viện.
Người quản lý bãi đỗ xe chẳng cần suy nghĩ liền nói: "Được khiêng xuống từ một chiếc Jeep Wrangler màu đen."
Cảnh sát hỏi: "Wrangler là xe của Anh, khá hiếm gặp, sao anh lại nhận ra?"
Người đó đáp: "Tôi làm ở bãi đỗ xe mười mấy năm rồi, loại xe nào mà chưa từng thấy qua chứ."
3
Một tiếng sau, Hoàng tử Hương Ba bước vào căn biệt thự của A Cơ ở khu biệt thự Cam Lộ Loáy, Bắc Kinh. Đây là một căn biệt thự sang trọng. A Cơ không giống những người Tạng khác sống ở Bắc Kinh — vốn sẽ trải thảm Tạng và đệm Tạp điếm trong nhà, treo tranh Thangka và khăn Hada, bày trí nội thất phong cách Tạng cùng vật phẩm trang trí nghệ thuật Tạng, thờ phụng Hổ Chủ Bồ Tát và Cát Tường Thiên Mẫu, rực rỡ nồng nặc như bước vào bảo tàng văn hóa Tây Tạng. Nhà cô về cơ bản không thể hiện phong cách Tạng, đơn giản, hiện đại, thời thượng, người Bắc Kinh gọi là "chuẩn đét" phong cách Âu Mỹ.
Tuy nhiên cô lại mặc chiếc áo dài không tay "Lamuqie". Chỉ cần ở nhà, cô sẽ mặc bộ trang phục tiên nữ Tạng này. Trang phục tiên nữ vốn là đồ diễn của người Tạng, nhưng cô lại dùng làm thường phục mặc ở nhà. Theo cách nói của Hoàng tử Hương Ba, cô từ trong phim ra ngoài đời đều là tiên nữ, dĩ nhiên trong phim hay ngoài đời đều phải mặc trang phục tiên nữ.
Hoàng tử Hương Ba vừa bước vào cửa đã ôm A Cơ như mọi khi, nhưng không còn sự nồng nhiệt như trước. A Cơ đang lấy làm kỳ lạ thì Hoàng tử Hương Ba nói: "Là thầy Biên Ba bảo tôi tới."
"Tại sao ông ấy lại bảo anh tới?"
"Có lẽ cô sẽ nói cho tôi biết."
A Cơ dẫn anh tới trước chiếc bàn phía sau ghế sofa ở phòng khách, chỉ vào máy tính nói: "Nằm xuống, nhìn cho kỹ đi."
Hoàng tử Hương Ba lắc lắc chuột, chiếc máy tính đang mở sẵn lập tức hiển thị "Mạng Đại chúng Tạng học", mục tìm kiếm ra là: 《Tiên tri lòng đất》 và "Cửa Thất Độ Mẫu".
Hoàng tử Hương Ba nói: "Không ngờ cô cũng hứng thú với cái này?"
A Cơ ngồi xuống bên cạnh anh nói: "Rất hứng thú, tôi muốn nghe xem anh nói thế nào, coi như giảng bài cho tôi đi."
Hoàng tử Hương Ba quan sát cô, nghiêm túc nói: "Sao tôi lại cảm thấy cô chính là một trong 'Thất Độ Mẫu' nhỉ, huyền bí và xa xôi."
A Cơ mỉm cười duyên dáng, giống như lúc hát trên sân khấu, thanh lịch ưỡn ngực.
Hoàng tử Hương Ba nói: "Cô biết đấy, Phật giáo Trung Quốc chúng ta có Phật giáo Hán truyền và Phật giáo Tạng truyền. Phật giáo Tạng truyền lại có nhiều dòng phái, chủ yếu gồm Ninh-mã phái, Cát-cửu phái, Tát-ca phái, Giác-lãng phái và Cách-lỗ phái... Dù là phái nào cũng đều bao gồm Hiển tông chuyên nghiên cứu Phật lý và Mật tông chuyên tu luyện thân thể. Trong đó Cách-lỗ phái (thường gọi là Hoàng giáo) là dòng phái giành được vị trí thống trị ở Tây Tạng suốt gần ba trăm năm qua, ảnh hưởng lan rộng khắp Thanh Hải, Nội Mông, Cam Túc, Tứ Xuyên, Vân Nam và toàn bộ Mông Cổ. Cách-lỗ phái ở vùng Tạng có hai hệ thống truyền thừa lớn, một là hệ thống Đạt-lai, hai là hệ thống Ban-thiền."
A Cơ dịu dàng nói: "Anh có thể đi thẳng vào chủ đề được không?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Vào ngay đây. Trong phạm vi lưu hành rộng lớn của hai hệ thống truyền thừa ấy, 'Cửa Thất Độ Mẫu' luôn là một truyền thuyết cổ xưa. Truyền thuyết kể rằng hơn một nghìn năm trước, tổ sư Mật tông của tất cả các giáo phái Tây Tạng — Liên Hoa Sinh đến từ thánh địa Ô Trượng Na của Ấn Độ — khi rời khỏi Tây Tạng đã để lại bộ phục tạng cuối cùng và cũng là quan trọng nhất. Phục tạng bắt nguồn từ Đại sư Liên Hoa Sinh, là phương thức quan trọng để Đại sư truyền thừa Phật pháp, tức là chôn giấu kinh văn giáo điển lại, đợi đến hàng trăm hàng nghìn năm sau khi một cơ duyên nào đó chín bố, chúng sinh cần đến, sẽ do người giác ngộ và người có duyên khai quật ra, trở thành căn cứ để Phật pháp tái sinh. Nhưng đối với 'Cửa Thất Độ Mẫu', Đại sư Liên Hoa Sinh không làm giống như các kinh giáo điển tịch khác — chôn giấu ở hang đá, hồ nước, chùa chiền, tượng Phật hay hư không vô tận — mà lại chôn giấu ở sâu trong nội tâm và ý thức của Đạt-lai Lạt-ma đời thứ sáu Thương Ương Gia Thố. Nói cách khác, với tư cách là chuyển thế của Đại sư Liên Hoa Sinh, Thương Ương Gia Thố là người mang giữ và thực thi phục tạng, vì vậy phục tạng này lại được xem là di ngôn của Thương Ương Gia Thố."
A Cơ có vẻ nghi ngờ: "Di ngôn của Thương Ương Gia Thố?"
Hoàng tử Hương Ba khẳng định: "Chính xác 100%. Hơn ba trăm năm trước, không lâu sau khi vị thần vương mới hai mươi tư tuổi Thương Ương Gia Thố rời khỏi Tây Tạng, có người nhận được thọ ký của Không Hành Mẫu, đã phát hiện ra 《Tiên tri lòng đất》 tại một nơi gọi là Lỗ Nạp Kiệt ở Tây Tạng. Trong 《Tiên tri lòng đất》 có một vài lời tiên tri, nhưng tiên tri chính vẫn là về 'Cửa Thất Độ Mẫu'. Một mặt nó nói rằng, vào thời đại mà thế giới bắt đầu chọn lại niềm tin, chọn lại lối thoát tinh thần, 'Cửa Thất Độ Mẫu' là pháp môn duy nhất trong cơn khủng hoảng mê muội, là hy vọng để Phật giáo đi tới thế giới tương lai; mặt khác nó lại nói, Thương Ương Gia Thố với tư cách là một thế hệ thần vương bị chính giáo tàn hại áp bức, di ngôn của ngài chứa đựng lời tố cáo về trải nghiệm khổ nạn và lời nguyền rủa đối với sự bức hại tàn khốc. Nó sẽ phá hủy thiên đường và ước mơ, phá hủy tinh thần nhân loại và niềm tin chính giáo, nó đến từ cơn ác mộng và sẽ tạo ra ác mộng. Quan trọng hơn, 《Tiên tri lòng đất》 đã chỉ ra 'Cửa Thất Độ Mẫu' giấu ở nơi nào, còn nói 'Trên đời có người tên Thương Ương Gia Thố là người đầu tiên thành tựu Cửa Thất Độ Mẫu'. Vì thế nó được xem là 'cẩm nang thọ ký' để mở Cửa Thất Độ Mẫu."
A Cơ hỏi: "'Cẩm nang thọ ký'? Ý anh là dựa vào 《Tiên tri lòng đất》 thì có thể khai quật được phục tạng cuối cùng và quan trọng nhất của Đại sư Liên Hoa Sinh là 'Cửa Thất Độ Mẫu'?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Về mặt lý thuyết là vậy. Về 'Cửa Thất Độ Mẫu', 'cẩm nang' của 《Tiên tri lòng đất》 viết như sau:
Người sở hữu bảy cái tên, lồng ngực đọng lại pháp âm của Phật Mẫu, thiên thần đã quyết định ngày sinh của ngươi và thánh giả, đó là chìa khóa mở ra cánh cửa trầm tư ngàn năm.
Chính giữa Văn Thù đạo tràng, bốn trăm tám mươi tư tượng thần, ngàn trăm ức hóa thân Phật, đến từ cây bồ đề nơi núi quốc ngột ngạt, phía sau là Cửa Thất Độ Mẫu.
Ngươi muốn mở Cửa Thất Độ Mẫu để đi tới phục tạng cuối cùng, phải nhớ kỹ phía sau vạt váy của Bảy Đời Phật, viên mã não đen lớn, chuỗi nào, hạt thứ mấy, ấn mấy cái.
"Kể từ khi 《Tiên tri lòng đất》 ra đời, 'Cửa Thất Độ Mẫu' đã trở thành pháp môn thần bí nhất cũng như gây tranh cãi nhất của Phật giáo. Có người ca ngợi nó, xem nó là gốc rễ thánh giáo, pháp môn cao nhất, vắt óc suy nghĩ mà không có kết quả; có người căm thù nó, nói nó là cửa hủy giáo, pháp phản thệ, tả ngợi sự xấu xa, dơ bẩn, tăm tối của nó nhưng lại không cách nào tiêu diệt được nó. Tóm lại vô số cao tăng vì nó mà tức giận, vô số đại đức vì nó mà vui mừng, giữa giận và vui đã diễn ra những cuộc tranh đấu ngầm, sống chết có nhau. Nhưng cho dù sự căm thù dành cho nó có sâu sắc đến đâu, hầu như tất cả các ngôi chùa có truyền thừa Hoạt Phật chuyển thế ở vùng Tạng Trung Quốc đều có các Hoạt Phật Lạt-ma nghiên cứu 《Tiên tri lòng đất》, tìm cách mở 'Cửa Thất Độ Mẫu'. Chỉ có điều sự nghiên cứu của các chùa là độc lập và bảo mật, nó từ chối giao lưu, cấm đoán tiết lộ, không ai nắm được tiến triển nghiên cứu. Chỉ có một điểm cả trong lẫn ngoài giáo giới đều biết, đó là nghiên cứu không có kết quả, bởi vì 《Tiên tri lòng đất》 đã bảo cho mọi người biết:
Kết quả của việc mở Cửa Thất Độ Mẫu sẽ tự động lan xa, vào ngày chúng sinh rơi vào mê muội, nó là chứng nhân như mặt trời của Phật pháp viên mãn.
"Không có kết quả không có nghĩa là đã chấm dứt. Trên thực tế việc nghiên cứu 《Tiên tri lòng đất》 và khai quật 'Cửa Thất Độ Mẫu' từ lâu đã biến thành phương thức tu luyện Mật tông của Phật pháp, vẫn luôn diễn ra trong 'đường ngầm'. 'Cửa Thất Độ Mẫu' nằm ở đâu? Tại sao lại là phục tạng cuối cùng, pháp môn duy nhất, hy vọng tương lai? Sự khám phá riêng rẽ của hàng chục thế hệ Phật tử suốt bao năm không có kết quả nhưng tại sao vẫn tiếp tục riêng rẽ? Sự ngu muội bao phủ lịch sử, che lấp 'Cửa Thất Độ Mẫu', mọi người quen giấu kín quy tắc, cô độc tu luyện pháp này một mình, không một ai giống như đứa trẻ ngây thơ hỏi người bên cạnh: 'Anh nhìn thấy gì rồi?' Nhưng có một người ngoại lệ, đó là lão Lạt-ma A Nhược·Quýnh Nãi của chùa Ung Hòa. Lạt-ma A Nhược·Quýnh Nãi rõ ràng thuộc phe ca ngợi và là người tu luyện 'Cửa Thất Độ Mẫu'. Ông chắc chắn không phải người đầu tiên tìm hiểu nguyên nhân, nhưng tuyệt đối là nhân vật cấp cao trong giáo giới đầu tiên phá vỡ sự im lặng, công khai thách thức thói quen giữ bí mật."
Hoàng tử Hương Ba tìm thấy blog của A Nhược·Quýnh Nãi từ "Mạng Đại chúng Tạng học", chỉ vào một bài viết nói: "Lạt-ma A Nhược đã nói thế này: 'Các đấng tôn giả đã khuất, các vị thượng sư kính tín, có ai cho chúng ta lời dạy bảo hủ lậu tự khép kín đâu? Liên Sư ban cho chúng ta ánh hào quang chung, vậy mà chúng ta lại bảo mật lẫn nhau, tâm niệm ngăn cách. Đó là nguyên nhân duy nhất khiến cho hàng ức lượt dập đầu từ trước tới nay vẫn không thể mở được Cửa Thất Độ Mẫu.' Đồng thời Lạt-ma A Nhược còn công bố thành tựu minh tưởng của mình:
Cửa Thất Độ Mẫu —— Chùa Ung Hòa Bắc Kinh
"Lạt-ma A Nhược nói: 'Bây giờ thứ còn thiếu chính là chìa khóa. Chìa khóa mở Cửa Thất Độ Mẫu ở đâu? Ai là phúc điền được gửi gắm linh hồn? Ai là pháp tự được truyền miệng nối giáo? Ai là tiên nhân tâm tâm tương ấn?' Thấy chưa, Lạt-ma A Nhược đã để lại số điện thoại và địa chỉ của mình. Đáng tiếc là thành tựu minh tưởng của ông ấy đã công bố được một trăm linh bảy ngày rồi, cả thế giới không có ngôi chùa nào, giáo phái nào,Hoạt Phật Lạt-ma, cao tăng đại đức, giáo sư học giả nào đưa ra bất kỳ phản hồi nào, một khoảng trầm lặng tuyệt đối."
A Cơ nói: "Không phải anh đã đăng một bài viết ở đây sao?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Đó chỉ thể hiện tôi quan tâm tới 'Cửa Thất Độ Mẫu', không tính là phản hồi."
A Cơ hỏi: "Tại sao anh không đưa ra phản hồi?"
Hoàng tử Hương Ba đứng dậy, dang hai tay nói: "Còn phải hỏi sao? Tôi không phải phúc điền được gửi gắm linh hồn, không phải pháp tự truyền miệng, không phải tiên nhân tâm tâm tương ấn. Tôi nghiên cứu mấy năm trời, đến việc rốt cuộc có chìa khóa hay không còn chẳng biết."
"Có lẽ tìm không tốn công sức, khi anh tuyệt vọng về việc tìm chìa khóa thì chìa khóa sẽ tự động đi về phía anh."
"Tôi chưa bao giờ gặp chuyện tốt lành như thế."
"Anh đã gặp rồi đấy."
"Ý gì đây?"
A Cơ cười nói: "Chìa khóa, tôi có một chiếc chìa khóa. 'Cẩm nang thọ ký' của 《Tiên tri lòng đất》 nói, 'Người sở hữu bảy cái tên, lồng ngực đọng lại pháp âm của Phật Mẫu, thiên thần đã quyết định ngày sinh của ngươi và thánh giả, đó là chìa khóa mở ra cánh cửa trầm tư ngàn năm.' Anh chắc chắn không biết, hồi nhỏ mẹ từng đặt cho tôi bảy tên mụ, bảy tên mụ đại diện cho từng ngày trong tuần."
Hoàng tử Hương Ba ngẩn ngơ, hình như không hiểu đối phương đang nói gì.
A Cơ lại nói: "Anh không lẽ đến cả tên tiếng Tạng của từng ngày trong tuần cũng không biết chứ?"
"Dĩ nhiên là biết, thứ Hai là Đạt Oa, thứ Ba là Mễ Mã, thứ Tư là Lạp Ba, thứ Năm là Phổ Bố, thứ Sáu là Ba Tang, thứ Bảy là Biên Ba, Chủ nhật là Ni Mã."
"Trong đó có ba ngày là ngày bê con bú sữa."
Hoàng tử Hương Ba gật đầu nói: "Đó là Chủ nhật đại diện cho mặt trời (Ni Mã), thứ Hai đại diện cho mặt trăng (Đạt Oa), thứ Sáu đại diện cho Kim tinh (Ba Tang)."
"Lại từ ba ngày này tìm ra thời gian bê con bú sữa, chính là sinh nhật của tôi."
Hoàng tử Hương Ba suy ngẫm: Bê con bú sữa là câu chuyện trong kinh Phật — Có một người chăn cừu, vào ngày mặt trời ông cho bê con đi bú lúc 11 giờ, bò mẹ hết sữa; lại vào ngày mặt trăng ông cho bê con đi bú lúc 3 giờ chiều, bò mẹ vẫn không có sữa. Một Lạt-ma bảo ông, vào ngày Kim tinh ông cho bê con đi bú lúc 1 giờ trưa, nhất định sẽ có. Quả nhiên ngày hôm đó bê con bú no căng bụng. Người chăn cừu hỏi nguyên nhân tại sao? Lạt-ma nói, đó chính là Phật đạo, Phật đạo là Trung đạo, Trung đạo chính là đạo có sữa, đạo trước không sau có, cũng là đạo rộng lớn như ngàn sao Kim tinh trên trời. Tìm ra thời gian bê con bú sữa trong ba ngày chính là 1131, 1131 là sinh nhật của A Cơ? Hoàng tử Hương Ba lập tức nghĩ tới, con số này cũng là sinh nhật của Thương Ương Gia Thố.
"Mặc dù sinh nhật của tôi là ngày 31 tháng 11, sinh nhật Thương Ương Gia Thố là ngày 1 tháng 3 năm Thủy Hợi thuộc Nhiêu Quýnh thứ 11 Tạng lịch, nhưng rút các con số ra thì đều là 1131. 'Thiên thần đã quyết định ngày sinh của ngươi và thánh giả'. Còn nữa, 'lồng ngực đọng lại pháp âm của Phật Mẫu' của tôi."
Hoàng tử Hương Ba đánh giá A Cơ: Tên và sinh nhật đều trùng hợp như thế, hoàn toàn có thể coi là một cách mà người chôn giấu phục tạng cài cắm mật mã, khiến cô nhớ mật mã và có cơ hội được người khác phát hiện. Nhưng tại sao lại cài cắm lên người A Cơ? Đột nhiên anh hỏi: "Vừa rồi cô nói gì? Lồng ngực cô đọng lại pháp âm của Phật Mẫu?"
"Muốn xem không?"
Hoàng tử Hương Ba gật đầu.
A Cơ chỉ vào thảm cỏ ngoài cửa sổ nói: "Nhìn kỹ xem, đó là gì."
Hoàng tử Hương Ba nhìn sang, một lúc lâu mới nhìn rõ, trong sắc xanh đậm nhạt ẩn hiện một chữ Tạng "Om".
Hoàng tử Hương Ba nói: "Không tệ, đây đúng là pháp âm thật sự. Chữ đầu tiên của Độ Mẫu chú, Phật Mẫu chú, Thắng Mẫu chú và rất nhiều chú kinh khác đều là chữ 'Om'. Nhưng cái này là trồng lên, không phải lồng ngực tự đọng lại." Nói rồi quay đầu lại, anh phát hiện A Cơ đã thướt tha rời đi, trên tầng truyền đến tiếng bước chân vội vã. Còn trên chiếc ghế cô vừa ngồi, giống như rắn lột da, rơi lại bộ trang phục tiên nữ nhẹ nhàng mềm mại "Lamuqie".
Rất nhanh truyền đến giọng của A Cơ: "Hương Ba Vương Tử anh nghe đây."
Anh nhìn lên tầng, không thấy cô đâu, mới nhận ra âm thanh phát ra từ máy tính.
"Mời mở trò chuyện video."
Hoàng tử Hương Ba mở ra, thấy trên màn hình xuất hiện một mảng thịt trắng nõn. Anh giốm mắt nhìn một hồi mới hiểu ra, đó là bộ ngực nhô cao của một phụ nữ. Thứ thu hút anh dĩ nhiên không phải bộ ngực, mà là khe ngực sâu thẳm, nơi đó nằm phẳng lặng một chữ Tạng màu xanh lam: "Om".
Anh căng thẳng hỏi: "Của ai, ngực của ai đây?"
"Của tôi." Giọng A Cơ trong máy tính có một vẻ mỹ miều như đã được lọc tinh xảo.
"Của cô? Quả nhiên lồng ngực cô đọng lại pháp âm của Phật Mẫu. Là vết bớt hay là hình xăm?"
"Không phải vết bớt, cũng không phải hình xăm, mà là thọ ký và gửi gắm."
Hoàng tử Hương Ba không giấu nổi sự nghi ngờ: "Thọ ký và gửi gắm của ai?"
A Cơ bật ra tiếng cười kiêu hãnh: "Tôi chỉ có thể nói là của mẹ tôi. Sự gửi gắm của mẹ chính là di truyền, di truyền cả gen, cả thể xác lẫn tinh thần. Nó khiến tôi cảm thấy tôi không phải là tôi, tôi là một phục tạng đang chờ đợi được người ta khai quật. Mẹ nói, chờ đợi chính là mạng sống của tôi, chính là lao về phía ước hẹn cổ xưa của 《Tiên tri lòng đất》: 'Bắt đầu từ bây giờ'."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Đến cái này cô cũng biết? Hình như cô cũng đang nghiên cứu 《Tiên tri lòng đất》, hoặc cô chính là một phần của 《Tiên tri lòng đất》, là cẩm nang của 'Cửa Thất Độ Mẫu'?"
Hoàng tử Hương Ba có lý do để kinh ngạc. Họ quen nhau bốn năm năm nay. Cô là sư tỷ, anh chưa tốt nghiệp thì cô đã đi. Cô từ nghiên cứu sinh của thầy Biên Ba biến thành quán quân Cuộc thi Ca sĩ Trẻ Toàn quốc, rồi biến thành ca sĩ nổi tiếng, biến thành thần tượng của bao người. Anh vẫn luôn theo dõi cô, thích cô. Cô muốn dùng phương pháp hát nguyên sinh thái để thể hiện một bài tình ca Thương Ương Gia Thố nên mới tìm sự trợ giúp của Hoàng tử Hương Ba. Hoàng tử Hương Ba nói: 'Tôi biết hát điệu nhạc của chính Thương Ương Gia Thố hơn ba trăm năm trước, đây là kết quả vất vả điều tra, khai quật ký ức dân gian của tôi, tôi không thể dạy không cho cô được. Tôi muốn trao đổi với cô, dùng tình ca Thương Ương Gia Thố để đổi lấy tình yêu của cô.' Cô nói: 'Tình ca Thương Ương Gia Thố thuộc về cả thế giới, còn tình yêu của tôi chỉ thuộc về tôi.' Anh nói: 'Cô nói vậy không công bằng, tình ca chính là tình yêu của tôi.' Cô lại nói: 'Tình yêu của anh quá nhiều quá nhiều, giống như Thương Ương Gia Thố vậy. Còn phụ nữ, tất cả phụ nữ đều mong muốn người đàn ông mình yêu chỉ yêu một mình cô ấy.' Nhưng rốt cuộc, họ đã ở ngay đây, trên chiếc sofa này trải qua một cuộc tẩy lễ tình ái. Khi đó, cô sống chết không chịu cởi áo trên. Hoàng tử Hương Ba bây giờ mới hiểu ra, cô không muốn anh phát hiện lồng ngực cô đọng lại pháp âm của Phật Mẫu.
Thấy Hoàng tử Hương Ba ngẩn ngơ, A Cơ nói: "Anh có biết tại sao bài tình ca Thương Ương Gia Thố mà tôi yêu cầu anh dạy cho tôi lại là bài 'Cơ Cơ Bố Xích' không?" Thấy Hoàng tử Hương Ba lắc đầu, cô lại nói: "Bởi vì tôi tên là Cơ Cơ Bố Xích. Cơ Cơ Bố Xích là tình nhân của Thương Ương Gia Thố, tôi là hậu duệ tình nhân của Thương Ương Gia Thố." Nói xong, cô cất giọng hát:
Rừng Vũ Đà vuông vắn bốn phương,
Có con chim linh Cơ Cơ Bố Xích,
Liệu có nguyện cùng uyên ương trống,
Đến ao nước phía Đông dạo chơi.
Hát xong cô nói: "Lên đây đi, tôi có thể nói cho anh biết tất cả."
Hoàng tử Hương Ba bất an hỏi: "Những bí mật này của cô, thầy Biên Ba có biết không?"
"Dĩ nhiên biết, chính thầy Biên Ba bảo tôi nói cho anh đấy. Thầy nói trên đời chỉ nên có hai người biết bí mật của tôi, một là thầy, hai là anh."
"Thầy bảo cô nói cho tôi từ khi nào?"
"Hôm qua."
Trong lòng Hoàng tử Hương Ba run lên một trận. Suy đoán của mình không sai, thầy Biên Ba đang tiếp cận phục tạng "Cửa Thất Độ Mẫu", họa sát thân chính là sự trừng phạt cho việc tiếp cận đó. Trước khi chết thầy cảm nhận được sự trừng phạt đang đến, biết mình không thể né tránh nên đành gửi gắm cho một người cùng chí hướng. Không thể giấu giếm nữa, phải lập tức nói cho cô biết tin thầy Biên Ba đã chết. Cơ Cơ Bố Xích, Cơ Cơ Bố Xích cũng rất nguy hiểm, nguy hiểm giống như thầy Biên Ba.
Hoàng tử Hương Ba đi lên tầng. Mặc dù anh từng đến căn biệt thự này nhưng chưa từng lên tầng, hôm nay là lần đầu tiên. Anh có chút đau thương, lại có chút rụt rè, không giải thích nổi lúc này mình đang tiếp cận thứ gì — một người phụ nữ đột nhiên trở nên cao quý như nữ thần? Hay là "Cửa Thất Độ Mẫu" đã nghiên cứu nhiều năm? Hay là mối nguy hiểm qua đời?
"Cơ Cơ Bố Xích, Cơ Cơ Bố Xích." Anh gọi lớn.
Không có ai trả lời. Sàn đá cẩm thạch chói mắt phản chiếu những vòng sáng màu sắc lên tường. Trên tường treo một loạt ảnh của các ngôi sao ca nhạc: Elvis Presley, John Lennon, Michael Jackson, Mariah Carey, Celine Dion, Sarah Brightman, Enya, Thôi Kiện, Châu Kiệt Luân. Còn có một số người Hoàng tử Hương Ba không nhận ra, nhưng nhìn qua là biết họ đều là thần tượng của Cơ Cơ Bố Xích. Cơ Cơ Bố Xích hình như nằm mơ cũng muốn nổi tiếng như Mariah Carey và Celine Dion, ít nhất cũng phải là Châu Kiệt Luân phiên bản nữ của thế giới Hoa ngữ. Ở cuối hành lang tầng hai biệt thự, một cánh cửa màu trắng có treo hình Cơ Cơ Bố Xích lặng lẽ mở ra, một luồng hương Tạng kích thích tỏa ra chiêu dụ Hoàng tử Hương Ba. Hoàng tử Hương Ba rảo bước đi tới, một chân bước vào trong cửa.
Một tiếng thét nhọn giật nảy. Hoàng tử Hương Ba chưa bao giờ biết mình có thể phát ra tiếng thét quái dị đến thế, hình như tiếng thét của chính mình đã làm anh sững sờ, chứ không phải cảnh tượng trước mắt.
Một mảng máu khiến người ta choáng váng bết trên cánh tay trái của Cơ Cơ Bố Xích. Cơ Cơ Bố Xích nằm ngửa trần trụi trên mặt đất. Hoàng tử Hương Ba cảm thấy ruột gan co thắt một trận, hai tay ôm lấy bụng.
Cơ Cơ Bố Xích mở mắt nhìn anh, bờ môi khó khăn cử động. Anh vội vàng ngồi xuống, liền nghe cô gọi tên anh một cách mơ hồ.
Anh gật đầu thật mạnh: "Sao cô lại thành ra thế này, ai là hung thủ? Cô mau nói đi." Anh đột nhiên nhận ra bản thân mình cũng đang gặp nguy hiểm, căng thẳng nhìn quanh bốn phía, tay thò vào túi móc điện thoại ra định báo cảnh sát hoặc gọi xe cứu thương.
Lời nói của Cơ Cơ Bố Xích đột nhiên trở nên rõ ràng: "Mẹ đã nói rồi, chỉ cần tôi nói ra bí mật của mình thì tôi sẽ chết. Tôi sống là để nói bí mật cho người mà tôi đợi tới, sau đó đi chết. Biết tại sao tôi làm ca sĩ không? Mẹ nói, người con chờ đợi là một người biết hát tình ca Thương Ương Gia Thố."
Hoàng tử Hương Ba sờ vào mặt cô, đầm đìa nước mắt.
Cơ Cơ Bố Xích nói: "Tôi muốn nghe anh hát, Cơ Cơ Bố Xích."
Hoàng tử Hương Ba nén đau thương, cất giọng ngâm hát nho nhỏ với tiếng run rẩy hoảng sợ:
Rừng Vũ Đà vuông vắn bốn phương,
Có con chim linh Cơ Cơ Bố Xích
---❊ ❖ ❊---
Hoàng tử Hương Ba ngấn lệ hát xong, Cơ Cơ Bố Xích đã qua đời.
Anh đứng dậy, giốm mắt nhìn cô, đứng chết trân tại chỗ. Trong một khoảnh khắc anh nghĩ tới, sao lại có kiểu giết người thế này? Từ nách cánh tay trái kéo dài đến tận đầu ngón tay út, ít nhất bị khoét ra tám lỗ máu sâu thẳm. Thầy Biên Ba là một giáo sư am hiểu Tạng y và Đông y, tinh thông văn hóa Mật tông, lại coi trọng tu luyện thực tế. Là học trò của ông, Hoàng tử Hương Ba nhìn một cái là nhận ra đường đi của các lỗ máu chính là đường đi của "Thủ thiếu âm tâm kinh huyệt" trên cơ thể người. Từ Cực Tuyền dưới nách đến Thiếu Hải ở khuỷu tay rồi đến Thiếu Phủ ở lòng bàn tay, tám huyệt vị chính đã bị khoét ra một cách chính xác tới cực điểm.
Sát thủ không gây ra tiếng động, Cơ Cơ Bố Xích không phát ra tiếng kêu. Sự giết người của một chuyên gia kinh lạc giống như phán quyết của Diêm Vương nơi địa ngục, lặng lẽ mà đáng sợ.
Đầu óc Hoàng tử Hương Ba đình trệ, giống như có một bức tường thành chặn đứng mọi tư duy, khiến anh cảm thấy vụ mưu sát thế này dường như đã gặp ở đâu đó nhưng lại không nhớ ra đã thấy ở đâu. Anh run rẩy quay người định đi, đột nhiên phát hiện hai kẻ bịt mặt đang chặn ở cửa. Anh "á" lên một tiếng, theo bản năng lùi lại, chân vấp vào thi thể của Cơ Cơ Bố Xích suýt nữa ngã sấp mặt.
Hai kẻ bịt mặt tiến lại gần anh. Kẻ bịt mặt cao lớn cầm trong tay một chiếc dao lá trúc hai lưỡi dùng trong phẫu thuật Tạng y, kẻ bịt mặt thấp bé cầm một dụng cụ khoan chế tạo đặc biệt, trông vừa giống pháp khí vừa giống đồ khui nút chai rượu vang. Dao lá trúc dính máu và dụng cụ khoan khua khua trước mặt anh.
Kẻ bịt mặt cao lớn nói: "Trong kế hoạch của chúng tao vốn không có mày, là do mày tự dẫn xác tới, không trách bọn tao được."
Hoàng tử Hương Ba rùng mình một cái, chợt bừng tỉnh. Thủ đoạn giết người bằng cách khoét huyệt dọc theo kinh lạc, anh đã từng thấy trong bề dày lịch sử, từng thấy trong trải nghiệm khổ nạn của Thương Ương Gia Thố. Đó là dấu vết giết người của "Ẩn Thân Nhân Huyết Chú Điện Đường", là sự truyền thừa của Mặc Trúc Huyết Tế Sư Độc Nhãn Dạ Xoa và Hát Chuỷ Dạ Xoa. Trong ký ức lịch sử, những người họ truy sát thường là tình nhân và hậu duệ của Thương Ương Gia Thố.
Hoàng tử Hương Ba lắc đầu nói: "Không thể nào? 'Ẩn Thân Nhân Huyết Chú Điện Đường' đã sụp đổ từ lâu rồi mà."
Kẻ bịt mặt cao lớn hờ hững cười lạnh nói: "Thứ sụp đổ chỉ có thể là 'Cửa Thất Độ Mẫu', chứ không phải 'Ẩn Thân Nhân Huyết Chú Điện Đường'. Chúng tao sẽ trừ khử tất cả những ai có liên quan tới 'Cửa Thất Độ Mẫu'." Nói xong, hắn lao tới dùng hổ khẩu kẹp chặt lấy họng anh.
Hoàng tử Hương Ba giãy giụa. Khi lắc đầu anh mới chú ý tới đây là phòng ngủ của Cơ Cơ Bố Xích. Trên tường đầu giường là một mảng màu thịt, đó là bức ảnh bán nụ của Cơ Cơ Bố Xích. Trong khe ngực sâu thẳm chính là pháp âm của Phật Mẫu — chữ Tạng màu xanh lam: "Om". Một chiếc máy tính xách tay đang mở đặt trên giường. Trên bàn thờ màu đen nằm giữa giường và cửa sổ có đặt một tượng thần hung tợn cao nửa người: ba mặt sáu tay, mặt chính màu xanh lam, mặt phải màu trắng, mặt trái màu đỏ. Hai tay ôm Minh Phi, các tay khác cầm bảo vật, kim cang, hoa sen và kiếm. Ba con mắt tuệ phun lửa bừng bừng, há to chiếc miệng thú cắn nát thế giới, tóc xoăn bốc cháy, rắn quấn quanh mình, da người thồ dưới đất, đại dục đại lực, trụ tại chỗ không nhúc nhích. Một nén hương Tạng màu đen vẫn đang bốc khói, sắp cháy hết, nửa lư hương đầy tro chứng tỏ Cơ Cơ Bố Xích ngày nào cũng bái thắp hương.
Cam Lộ Loáy Minh Vương —— biểu tượng của khu biệt thự Cam Lộ Loáy và căn biệt thự này? Hoàng tử Hương Ba đã nhận ra. Cùng lúc đó anh bật ra một câu từ cuống họng đang bị kẹp chặt: "Chạy đi, mau chạy đi."
Kẻ bịt mặt cao lớn hỏi: "Ai chạy?"
Hoàng tử Hương Ba lại nói: "Trát Tây cậu mau chạy đi."
Kẻ bịt mặt thấp bé chộp lấy ga giường lau chùi dụng cụ khoan, hình như hắn bắt buộc phải làm sạch vết máu trên đó mới có thể khoan khoét huyệt vị của người tiếp theo.
Kẻ bịt mặt cao lớn quay đầu nhìn một cái: "Còn có một người nữa? Ở đâu?" Tay hắn hơi lỏng ra.
Hoàng tử Hương Ba bộc phát sức lực, dồn sức đẩy hắn ra, quay người lao tới ôm lấy Cam Lộ Loáy Minh Vương đập thẳng vào đầu kẻ bịt mặt cao lớn. Kẻ cao lớn kêu "ái ôi" một tiếng rồi ngã gục xuống. Lúc này kẻ bịt mặt thấp bé vứt dụng cụ khoan lao tới. Hoàng tử Hương Ba nhảy lên bàn thờ màu đen, bưng lư hương hất tro hương vào mặt đối phương. Tro hương như thể có mắt, vừa hay bít kín mặt kẻ thấp bé, khiến hắn vừa dụi mắt vừa ho sặc sụa. Hoàng tử Hương Ba thừa cơ giật phắt cửa sổ nhảy xuống.
4
Lạt-ma A Nhược trải qua một trăm linh bảy ngày chờ đợi khắc khoải mà không nhận được bất kỳ phản hồi nào. Sư huynh đệ cùng môn phái của ông là Ô Kiên Lâm Ba nói: "Người có duyên nắm giữ chìa khóa vẫn còn mờ mịt, chứng tỏ cơ hội đánh thức sự mê muội không thuộc về 'Cửa Thất Độ Mẫu', huynh đừng quá chấp niệm nữa Lạt-ma A Nhược." Lạt-ma A Nhược nói: "Đệ không tin sự mê mẩn của đệ dành cho 'Cửa Thất Độ Mẫu' lại không phải là khởi duyên cát tường." Ô Kiên Lâm Ba nói: "Khởi duyên cát tường có lẽ ở kiếp sau, kiếp sau hãy hay." Lạt-ma A Nhược có vẻ tuyệt vọng nói: "Kiếp sau, kiếp sau..."
Nhưng ngay tối hôm đó, khi đang ngồi thiền tụng kinh, Ô Kiên Lâm Ba nói cho Lạt-ma A Nhược biết: "Kỳ tích luôn xuất hiện vào ngày thứ một trăm linh tám. Một người tên Hoàng tử Hương Ba đã đăng một bài viết trên blog của huynh, nói rằng anh ta thề trước Đại sư Liên Hoa Sinh là anh ta nắm giữ chìa khóa mở 'Cửa Thất Độ Mẫu', nhưng anh ta không cho rằng 'Cửa Thất Độ Mẫu' nằm ở chùa Ung Hòa Bắc Kinh."
Cuối cùng cũng thấy ánh sáng bình minh. Lạt-ma A Nhược xúc động lao tới máy tính, truy cập vào blog của mình trên "Mạng Đại chúng Tạng học", để lại cho Hoàng tử Hương Ba ba chữ:
Gặp một lần!!!
Ông hy vọng mình là sứ giả chữ vàng xuất thân từ chùa Ung Hòa, mang theo chỉ thị và lòng thành của hoàng thiên hậu thổ để đón nhận chiếc chìa khóa mở "Cửa Thất Độ Mẫu". Ông có đủ tự tin khiến đối phương tin rằng: "Cửa Thất Độ Mẫu" chính là ở chùa Ung Hòa. Bây giờ mấu chốt nằm ở đối phương, có thật sự nắm giữ chìa khóa hay chỉ là nói khoác.
Một lúc sau, Hoàng tử Hương Ba gọi điện tới nói: "Không cần gấp gáp gặp mặt, nói lý do trước đã, bằng tiếng Tạng."
Lạt-ma A Nhược rất hài lòng với sự cẩn trọng của đối phương. Chuyện này quá lớn, lớn tới mức anh hoàn toàn không thể đong đếm được, bất kỳ sự cẩn thận nào cũng là cần thiết. Ông dùng tiếng Tạng nêu ra lý do tại sao "Cửa Thất Độ Mẫu" nhất định ở chùa Ung Hòa Bắc Kinh. Để có sức thuyết phục, ông thậm chí còn nhắc tới ngôi điện Phật và tượng Phật giấu "Cửa Thất Độ Mẫu".
Sau đó hỏi: "Làm sao anh có thể khiến tôi tin rằng anh thật sự nắm giữ chìa khóa mở 'Cửa Thất Độ Mẫu'?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Tôi đã nói rồi, tôi thề trước Đại sư Liên Hoa Sinh."
Lạt-ma A Nhược nói: "Tôi cần chi tiết, giống như những gì tôi đã nói với anh."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Tôi chỉ muốn nhắc nhở ông, đây là phục tạng cuối cùng, mọi thứ phải tuyệt đối giữ bí mật."
Điện thoại cúp máy. Lão Lạt-ma A Nhược·Quýnh Nãi sốt ruột chờ đợi, ông tin rằng Hoàng tử Hương Ba vẫn sẽ liên lạc với mình. Nhưng cuộc điện thoại ông đợi được lại là một cuộc gọi khác.
Giọng nói đối phương trầm đục: "Trước khi gặp Hoàng tử Hương Ba, ông nên gặp tôi một lần trước đã. Tôi tên Biên Ba. Tới đi, số 133 phố Bình Fang Bắc, quận Triều Dương."
Lạt-ma A Nhược đã tới. Mọi khả năng ông đều phải tranh thủ, mọi cơ hội ông đều phải nắm lấy. Ông gọi sư huynh Ô Kiên Lâm Ba, ngồi trên chiếc xe chuyên dụng của chùa Ung Hòa được các tín đồ gọi là "chim Lạt-ma", cấp tốc đi tới phố Bình Fang Bắc ở ngoại ô phía Đông Bắc Kinh. Họ dễ dàng tìm thấy số 133, không khỏi có chút thắc mắc: Sao lại là đài hóa thân?
Đài hóa thân được gọi mỹ miều là nhà tang lễ. Khi Lạt-ma A Nhược tới nơi thì vừa hay gặp có người đưa tang. Hỏi ra một hồi mới giật mình kinh hãi: Người sắp được hóa thân chính là Biên Ba mà ông muốn gặp. Biên Ba là một giáo sư, người đưa tang đa phần là học sinh.
Lạt-ma A Nhược hỏi nghiên cứu sinh Trí Mỹ và Mai Tát phụ trách tiếp đón: "Chết từ khi nào?"
Mai Tát nói: "Hai ngày trước."
Lạt-ma A Nhược hít một hơi khí lạnh: "Không đúng, hai tiếng trước ông ấy còn gọi điện cho tôi."
Trí Mỹ nói: "Không thể nào."
Lạt-ma A Nhược hỏi: "Chết thế nào?"
Trí Mỹ và Mai Tát nhìn nhau, gần như đồng thanh nói: "Tai nạn giao thông."
Lạt-ma A Nhược ngẩn người, nghĩ tới việc mình và người chết còn có cuộc hẹn "gặp một lần", liền đi theo một số người đang đau thương rơi lệ tới bên cạnh di thể của Biên Ba ở đài hóa thân, thầm nói: "Sự tồn tại của chúng ta giống như cơn gió thoảng ngoài đồng trống, giống như điệu múa của chú ong, giống như ngôi sao sáng buổi sớm, giống như hạt mưa ngày nắng, vội vã mà bất lực. Mạng sống đã trôi qua, hãy yên tâm đi đi, các pháp sư còn sống chúng tôi sẽ tu pháp vì ông, phúc báo của ông lớn biết bao." Nói rồi nhìn qua một cái. Chỉ một cái nhìn này đã khiến đầu ông nổ tung một tiếng gầm, giống như bị sét đánh trúng. Ông nhắm mắt lại, quay đầu đi chỗ khác, chỉ cảm thấy tim đập chân run.
Là một lão Lạt-ma tu pháp nhiều năm, ông không nhớ nổi mình đã siêu độ cho bao nhiêu mạng sống đã khuất, một cuốn 《Trung Ấm Văn Giáo Đắc Độ Kinh》 ông đều thuộc lòng. Ông đối với sự qua đời ở chốn trần tục từ lâu đã siêu thoát và bình thản. Nhưng lần này, ông lại cảm nhận được sự nanh nanh và đáng sợ của cái chết một cách chân thực hơn bất kỳ người trần mắt thịt nào.
Chỉ vì ông nhìn ra từ di dung của Biên Ba rằng đây là một người tu luyện Mật pháp giống như mình? Chỉ vì ông nhìn thấy lỗ máu trên huyệt Thượng Tinh từ đỉnh đầu bị đè bẹp? Huyệt Thượng Tinh là nơi linh thức rời đi, tai nạn giao thông sao có thể đè ra lỗ máu ở vị trí này được? Một người chuốc lấy họa sát thân chắc chắn không phải là người bình thường.
Ai? Ai là kẻ đã dồn ông ấy vào chỗ chết? Ông hoảng sợ nhìn quanh bốn phía.
Bộ y phục Tạng màu vàng và chiếc cà-sa màu tím của Lạt-ma A Nhược khiến ông nổi bật lên giữa bao nhiêu người đưa tang, rất nhiều người đều nhìn ông. Ông thấy cửa lò đã mở, người chết Biên Ba sắp sửa bị công nhân đốt xác đẩy vào trong lửa lớn, bèn vội vàng rời đi, tới đại điện tổ chức lễ nghi của nhà tang lễ, giống như đã nín thở rất lâu, thở ra một hơi thật dài.
Hai cảnh sát xông vào, gặp ai cũng hỏi: "Người chết đâu? Đã đốt chưa? Tiên từ từ đừng đốt."
Lạt-ma A Nhược nghĩ: Đã không kịp nữa rồi. Ông cúi đầu bước ra khỏi nhà tang lễ, đi qua một chiếc xe cảnh sát Land Rover màu xanh trắng rồi đi về phía bãi đỗ xe.
Trong chiếc xe chim Lạt-ma, Ô Kiên Lâm Ba đang bấm chuỗi hạt gỗ đàn hương khảm đá dạ quang mắt mèo, tụng xướng 《A Di Đà Phật Vãng Sinh Tâm Chú》, đây là ý cầu chúc cho người chết được sinh về thế giới Cực Lạc. Thấy Lạt-ma A Nhược bước vào, ông liền đưa qua một bức thư.
"Ai gửi tới thế?"
"Là một người có lỗ máu trên huyệt Thượng Tinh ở đỉnh đầu, người đó nói mình là 'Bất Động Phật'."
Ông giật mình: "Bất Động Phật có lỗ máu trên đỉnh đầu?"
Bức thư được đóng phong ấn Bố Uy Kim Cang, dùng chữ Tạng viết "Thượng sư A Nhược·Quýnh Nãi đích thân mở". Bóc ra lại không có ruột thư. Toàn thân Lạt-ma A Nhược run lên một trận, cũng không biết là xúc động hay căng thẳng, vừa run một cái đã gạt sự kinh hãi mà di dung của Biên Ba mang lại sang một bên. Ông ngẩn ngơ, thầm nghĩ lẽ nào chính là hôm nay? Chính là vào lúc này? Ông lật đi lật lại xem bức thư, ai là sứ giả? Thật hay giả? Ông phát hiện khi ước hẹn cổ xưa ghi trong 《Tiên tri lòng đất》 nhẹ nhàng bay tới như chim hạc, ông lại chưa chuẩn bị sẵn sàng, thế nên ông không dám tin phúc duyên của mình lại lớn tới mức có thể trở thành người gánh vác ước hẹn cổ xưa đó. Ước hẹn viết thế này:
Một bức thư không có nội dung, đó là thọ ký Liên Sư do Không Hành Mẫu gửi tới: Bắt đầu từ bây giờ.
Bây giờ bắt đầu? Có phải chìa khóa mở "Cánh cửa Thất Độ Mẫu" sắp xuất hiện rồi không? A Nhược Lạt-ma trấn tĩnh lại cảm xúc, trịnh trọng cất bức thư vào trong ngực áo rồi nói: "Mau về Ung Hòa Cung, có người sắp đến."
"Ai thế ạ?" Ô Kiên Lâm Ba hờ hững hỏi.
A Nhược Lạt-ma không trả lời. Ô Kiên Lâm Ba liền không hỏi thăm thêm nữa, khởi động chiếc xe "Lạt-ma điểu", tiếp tục xướng tụng "A Di Đà Phật Vãng Sinh Tâm Chú", lái từ từ, đi vội vã mà vững chãi. Y là một tăng nhân tu luyện cảnh giới Hư Vô, nhìn mọi thứ đều như có như không, A Nhược Lạt-ma nói y là "người đạm như cúc, thân không như khí, mệnh thanh như hư, cảnh rộng như vũ".
A Nhược Lạt-ma nói: "Ta có một điềm báo, 'Cánh cửa Thất Độ Mẫu' có lẽ sắp được mở ra rồi."
Ô Kiên Lâm Ba nói: "'Cánh cửa Thất Độ Mẫu' là cánh cửa trầm tư, thay vì mở ra rồi mới trầm tư, chi bằng hãy để chúng ta kiên trì giữ vững sự trầm tư ban đầu."
A Nhược Lạt-ma nói: "Chưa mở cửa là sự trầm tư của con người, mở cửa rồi là sự trầm tư của Phật, lẽ nào ngươi không muốn thành Phật?"
Y đáp: "Không muốn."
A Nhược Lạt-ma kinh ngạc "A" lên một tiếng: "Vậy ngươi niệm Phật tu Phật để làm gì?"
Y đáp: "Để làm người thôi."
Chiếc "Lạt-ma điểu" màu trắng mang theo một trái tim thành Phật và một trái tim làm người, lăn bánh về phía Ung Hòa Cung.
5
Hoàng hôn đã buông xuống, bầu trời âm u một cách quỷ quái, so với mọi ngày dường như u tối hơn nhiều. A Nhược Lạt-ma ngẩn người, ông nhìn thấy người đang chờ ở cổng Ung Hòa Cung lại chính là hai viên cảnh sát và chiếc xe cảnh sát Land Rover mà ông từng gặp ở nhà tang lễ. Xe cảnh sát hú còi gầm rú đến Ung Hòa Cung, thông suốt một mạch, đến sớm hơn chiếc "Lạt-ma điểu" nửa tiếng đồng hồ.
Đoàn du khách cuối cùng vừa mới rời đi, cánh cổng lớn hướng ra đường ở viện phía nam Ung Hòa Cung đang chuẩn bị đóng lại, nhìn thấy chiếc "Lạt-ma điểu" chạy tới liền mở rộng ra lần nữa. A Nhược Lạt-ma bảo Ô Kiên Lâm Ba dừng xe, tự mình bước xuống, đứng ở vị trí cách hai viên cảnh sát mười bước chân. Hai viên cảnh sát đều là người trung niên, nhìn tướng mạo thì một người là dân tộc Hán, một người là dân tộc Tạng.
Hai viên cảnh sát bước tới, đều dùng đôi mắt nghề nghiệp sắc bén và u ám như Hộ Pháp Thần chằm chằm nhìn A Nhược Lạt-ma.
Viên cảnh sát đi đầu nói: "Chào thầy, vừa rồi ở nhà hỏa táng tôi đã gặp thầy, thầy tên là A Nhược·Quýnh Nãi? Tôi tên Vương Nham. Nghe nói người chết là Biên Ba hôm nay từng gọi điện thoại cho thầy, thầy có thể giải thích một chút không?"
A Nhược Lạt-ma nói: "Sắc không không khác, người Phật không khác, lúc sống và sau khi chết tự nhiên cũng không khác. Huyễn thân đã là đổi thân, khi linh thức phiêu dạt, gọi một cuộc điện thoại thì có gì mà không thể?"
Vương Nham nói: "Chúng tôi nghi ngờ anh ta chết trong một vụ tai nạn giao thông do cố ý gây ra."
A Nhược Lạt-ma nửa ngày không có phản ứng, đột nhiên nghiến răng nói: "Ma quỷ."
"Ai là ma quỷ?"
"Tham, sân, si, mạn, nghi chính là ma quỷ."
"Chúng tôi đã tìm thấy một chiếc Jeep Wrangler, trên xe có vết móp do va chạm, dính tóc và vết máu trên đó chính là của người chết Biên Ba, chủ xe thầy có quen đấy, anh ta tên là Hoàng tử Hương Ba."
"Hoàng tử Hương Ba? Không, tôi không quen."
Vương Nham cười cười nói: "Đúng, hai người vẫn chưa từng gặp mặt. Tôi đã xem blog của thầy, rất muốn biết nếu mở được 'Cánh cửa Thất Độ Mẫu', thầy dự định sẽ làm gì?"
"Được tắm mình trong ánh hào quang tái tạo thế giới của Phật giáo, tu trì đúng pháp mà thôi."
"Có phải bất kể ai có được chìa khóa thì đều có thể mở được 'Cánh cửa Thất Độ Mẫu'?"
"Điều đó phải xem người đó có nhận được phát nguyện quán đảnh hay không."
"Thế nào gọi là phát nguyện quán đảnh?"
"'Cánh cửa Thất Độ Mẫu' là Phục tạng, khai quật Phục tạng cần có sự ủy quyền của Thần Phật."
"Hoàng tử Hương Ba liệu đã nhận được sự ủy quyền của Thần Phật chưa?"
A Nhược Lạt-ma lắc đầu nói: "Phật cơ sẽ không tiết lộ cho tôi, tôi đang dùng tâm linh để chăm chú lắng nghe."
Vương Nham ngẩng đầu nhìn bức tường đỏ cao vút của Ung Hòa Cung nói: "Bất luận anh ta có nhận được sự ủy quyền của Thần Phật hay chưa, anh ta đều là nghi phạm trọng yếu của vụ án mưu sát Biên Ba. Chúng tôi chú ý tới bài đăng anh ta gửi trên blog của thầy —— anh ta thề trước Đại sư Liên Hoa Sinh rằng mình đã nắm giữ chìa khóa mở 'Cánh cửa Thất Độ Mẫu', mà thầy lại dự định 'gặp mặt một lần' với anh ta."
A Nhược Lạt-ma hơi căng thẳng hỏi: "Không thể gặp sao?"
"Không, nhất định phải gặp." Vương Nham móc ra một tấm danh thiếp, nhét vào tay A Nhược Lạt-ma nói, "Thầy biết đấy, một công dân có nghĩa vụ tố giác nghi phạm tội phạm. Ngoài ra, chúng tôi còn muốn nói cho thầy biết, người chết Biên Ba là một chuyên gia nghiên cứu về 'Dự ngôn dưới lòng đất' và 'Cánh cửa Thất Độ Mẫu', Hoàng tử Hương Ba chính là học trò của anh ta."
A Nhược Lạt-ma gật đầu, muốn nói lúc nhìn thấy thi thể của Biên Ba ông đã có cảm giác, Biên Ba không chỉ là một người nghiên cứu, mà còn là một người tu luyện, nhưng dòng suy nghĩ của ông đột nhiên trượt sang người Hoàng tử Hương Ba. Ông nói: "Lẽ nào là học trò hại chết thầy giáo? Tại sao?"
"Thầy chắc phải rõ hơn chúng tôi chứ." Vương Nham vừa nói vừa nhìn viên cấp dưới bên cạnh.
Cấp dưới Bích Tú lắc đầu, ra hiệu không còn gì để hỏi. Hai viên cảnh sát rời đi.
6
A Nhược Lạt-ma vừa bước vào cổng viện phía nam Ung Hòa Cung hướng ra mặt phố, cánh cổng lớn liền bị vị lạt-ma bảo vệ viện đóng chặt lại.
Một lạt-ma trẻ tuổi nhanh bước tiến lại, nhỏ giọng nói bằng tiếng Tạng: "A Nhược Lạt-ma, có một hương khách tìm thầy, nói là đã hẹn trước với thầy." Vừa nói vừa chỉ vào cửa hàng đồ Phật giáo trang trí hoa lệ ở phía tay phải.
A Nhược Lạt-ma bước tới, nhìn thấy trong cửa hàng ngoài nhân viên bán hàng ra thì không còn ai khác, định lùi ra ngoài, thì nghe có người nói: "A Nhược Lạt-ma xin dừng bước." Hóa ra người đó đang ở giữa những nhân viên bán hàng phía sau quầy.
Người đó tiện tay ném điếu thuốc trên tay, nhanh bước ra khỏi quầy, đến trước mặt A Nhược Lạt-ma.
"Cậu là ai?"
"Tôi tên là Hoàng tử Hương Ba."
Thắt lưng A Nhược Lạt-ma thắt lại: Hoàng tử Hương Ba? Sát thủ đã sát hại Biên Ba? Người đã thề trước Đại sư Liên Hoa Sinh rằng mình nắm giữ chìa khóa mở 'Cánh cửa Thất Độ Mẫu'? Ông đánh giá kỹ anh ta: Không béo không gầy, gương mặt hơi ngăm đen, dáng người cao ráo, độ tuổi từ hai mươi lăm đến ba mươi lăm, trên cổ đeo một chiếc chìa khóa vàng hình đầu vẹt sáng bóng.
Hoàng tử Hương Ba huyền bí nói: "Bắt, đầu, ngay, bây, giờ."
Dù bọn họ đã thỏa thuận sẽ "gặp mặt một lần", nhưng A Nhược Lạt-ma vẫn kinh ngạc "Ồ" lên một tiếng. Ông vạn lần không ngờ tới, một tên sát nhân lại có thể cùng ông trở thành người gánh vác lời hẹn ước cổ xưa của "Dự ngôn dưới lòng đất".
"Sao cậu lại nắm giữ chìa khóa?"
"Thế sao thầy lại biết 'Cánh cửa Thất Độ Mẫu' ở đâu?"
"Hôm nay ta đi nhà hỏa táng tiễn một người, tên ông ấy là Biên Ba."
"Biên Ba là thầy của tôi. Cả hai chúng tôi đều đang nghiên cứu 'Dự ngôn dưới lòng đất', đều mơ ước khai quật được Phục tạng của 'Cánh cửa Thất Độ Mẫu'. Nhưng thầy ấy giỏi hơn tôi, nếu thầy ấy không chết, hôm nay người đến gặp thầy nhất định là thầy ấy. Trước khi chết thầy ấy đã nói cho tôi biết nơi cất giấu chìa khóa."
A Nhược Lạt-ma suýt chút nữa đã thốt ra: Nhất định là cậu đã giết chết Biên Ba, sau đó trộm lấy chìa khóa mở "Cánh cửa Thất Độ Mẫu". Ông nghĩ đến tấm danh thiếp mà cảnh sát Vương Nham để lại, thò tay nắm lấy chiếc điện thoại, nhưng trong một khoảnh khắc lại nhận ra, đối với mình, điều quan trọng nhất không phải là đối phương đã giết người, mà đối phương là người duy nhất nắm giữ chìa khóa, bỏ lỡ sẽ không còn cơ hội nữa. Ông thả lỏng bản thân, tự dặn lòng đợi mở được "Cánh cửa Thất Độ Mẫu" rồi gọi điện cho cảnh sát cũng chưa muộn, nơi này là Ung Hòa Cung mang phong thái hoàng cung, tường cao viện chắc, chỉ cần đóng cửa lớn lại, người lạ có chắp cánh cũng khó thoát.
A Nhược Lạt-ma dẫn Hoàng tử Hương Ba bước ra khỏi cửa hàng, Ô Kiên Lâm Ba vốn đang nói chuyện với người khác ở ngoài cửa liền đi theo bọn họ.
Trời đang tối đi rất nhanh, ánh đèn chiếu sáng viện phía nam Ung Hòa Cung, bức bình phong khổng lồ còn kiên định hơn cả tường đỏ trong việc ngăn chặn sự náo nhiệt của kinh thành, đồng thời thời gian cũng bị chặn lại ở bên ngoài. Ba tòa bài lâu chín đỉnh khói tỏa không hương, trông như Nam Thiên Môn trong mây vậy. Một đôi sư tử đá cổ xưa khoác lên mình dải lụa tươi thắm, hộ vệ Ung Hòa Cung vốn chưa từng tỏ ra cũ kỹ.
Hoàng tử Hương Ba ngắm nhìn bài lâu, đột nhiên hối hận thốt lên một tiếng "Hái", tự trách trong lòng thật đáng tiếc thật đáng tiếc, tiếc là mình đã bỏ qua Ung Hòa Cung. Ung Hòa Cung được xây dựng vào năm 1694 Công nguyên, năm Khang Hi thứ ba mươi ba, ban đầu là Phủ Ung Thân Vương, từng sinh ra hai vị hoàng đế Ung Chính và Càn Long, là "Long Tiềm Phúc Địa" đúng như tên gọi, thế nên điện vũ là ngói vàng tường đỏ, cùng quy cách với hoàng cung Tử Cấm Thành. Sau này Ung Hòa Cung đổi thành chùa Lạt-ma, trở thành triều đình liên lạc với các giáo phái tôn giáo vùng Mông Tạng, là ngôi chùa hoàng gia tượng trưng cho sự hợp nhất Hán Mông Tạng, cũng trở thành một danh thắng Phật giáo có quy cách cao nhất toàn Trung Quốc. Một ngôi chùa quan trọng như vậy mà lại bị anh loại ra khỏi tầm mắt, ít nhất đã hai năm không tới đây rồi. Trong lúc giải mã "Dự ngôn dưới lòng đất", cố gắng mở "Cánh cửa Thất Độ Mẫu", anh hầu như đã nghĩ tới tất cả các ngôi chùa được ghi chép trong văn kiện ở khu vực Tạng Trung Quốc, duy chỉ không nghĩ tới Ung Hòa Cung ở trong thành Bắc Kinh, bởi vì nó quá lộng lẫy, quá sáng rực, quá nổi bật, nổi bật rực rỡ đến mức làm mất đi tất cả sự thần bí, tất cả sự ẩn khuất. Mà "Cánh cửa Thất Độ Mẫu" lại là Phục tạng cuối cùng và vĩ đại nhất, gần như là đồng nghĩa với thần bí và ẩn khuất.
Ba người xuyên qua viện phía nam, đi qua cổng kiểm tra an ninh dưới bài lâu, bước lên con đường kiệu hoàng gia lát bằng những viên gạch vuông lớn. Bóng cây rậm rạp vây con đường kiệu thành một đường hầm, đèn đường giấu trong bóng cây như những con mắt đêm, đường hầm trông thật u thâm và bảo mật.
Bên ngoài tường đỏ phía đông con đường kiệu là một khu Phật thương mang đậm vẻ cổ kính, một cột kinh quấn lụa màu mọc lên từ trong Phật thương. Trên cột kinh thắp một ngọn đèn, treo một lá cờ dải, trên cờ có in mấy chữ "Phổ Đà Lạc Già".
Lá cờ dải dường như vừa mới xuất hiện, A Nhược Lạt-ma kinh ngạc nói: "Ai treo cờ kinh thế này?"
Ô Kiên Lâm Ba và Hoàng tử Hương Ba nhìn sang, thì thấy bên vòm cửa tường đỏ dẫn vào Phật thương, cũng đang tung bay một lá cờ vuông nhỏ Phổ Đà Lạc Già, cánh cửa gỗ phía sau lá cờ vuông nhỏ kêu "két" một tiếng, rồi lại kêu thêm tiếng nữa.
Bọn họ nhanh chóng đi hết con đường kiệu dài, đến trước Chiêu Thái Môn - cổng lớn của Ung Hòa Cung. A Nhược Lạt-ma đẩy cửa ra. Bọn họ đi vào, đi qua lầu Chuông Bát và chiếc nồi đồng lớn nấu cháo Lạp Bát nặng tám tấn kia, đi tiếp, nhìn thấy trước đình bia tám cạnh có một lạt-ma mặc áo ngắn đứng đó. Vị lạt-ma mặc áo ngắn cung kính cúi người, hai tay chắp lại, kẹp một lá cờ kinh nhỏ, trên đó cũng có mấy chữ "Phổ Đà Lạc Già".
A Nhược Lạt-ma nhìn lá cờ kinh, nghi hoặc "Ưm" một tiếng.
Vị lạt-ma mặc áo ngắn vội vã đáp: "Có người đánh rơi đấy, khắp nơi đều có." Vừa nói vừa liếc nhìn Hoàng tử Hương Ba một cái.
Bọn họ tiếp tục đi về phía trước, nhanh chóng bước vào Thiên Vương Điện có treo tấm biển do Càn Long đề chữ "Ung Hòa Môn". Đi qua Thiên Vương Điện, lại đi qua đỉnh đồng trong bóng tối, đình bia ngự chế Càn Long tự tay soạn "Lạt-ma Thuyết", núi Tu Di bằng đồng xanh trên bệ đá cẩm thạch trắng và cột Ma-ni, tiếng bước chân sột soạt chìm nghỉm trong điện chính Ung Hòa Cung tức Đại Hùng Bảo Điện.
Hoàng tử Hương Ba dừng lại, ngẩng đầu nhìn pho tượng Phật. Nơi đây thờ phụng ba pho tượng Tam Thế Phật bằng đồng, ở giữa là Thích Ca Mâu Ni Phật đại diện cho hiện tại, bên trái là Nhiên Đăng Phật đại diện cho quá khứ, bên phải là Di Lặc Phật đại diện cho tương lai. Đây là "Thụ Tam Thế Phật" nổi tiếng của Ung Hòa Cung trong giới Phật giáo, nó lấy ý niệm từ thời gian, biểu thị sự lâu đời dài lâu, kéo dài vô tận của Phật. Còn trong Đại Hùng Bảo Điện của các chùa Phật ở nội địa, thông thường đều là Hoành Tam Thế Phật đại diện cho không gian: Ở giữa là Thích Ca Mâu Ni Phật của thế giới Ta Bà, bên trái là Dược Sư Phật của thế giới Phương Đông, bên phải là A Di Đà Phật của thế giới Phương Tây, thể hiện Phật không bao la, đâu đâu cũng có Phật. Hoàng tử Hương Ba coi việc coi trọng thời gian là một đặc điểm của Phật giáo Tây Tạng, ý nghĩa của Phật chính là ý nghĩa của cuộc sống, ý nghĩa đều ở kiếp sau ở tương lai, cuộc sống lấy huyễn diệt làm phương thức, lấy không chết làm mục đích, vĩnh hằng là lý do duy nhất để sống.
Anh ngẩn ngơ, tự dặn lòng tự nhiên không phải ở đây rồi, ở đây là "Tam Thế Phật", không phải "Thất Thế Phật".
A Nhược Lạt-ma ở phía trước gọi: "Đi thôi."
Hoàng tử Hương Ba vội vàng đi theo, ánh mắt nhanh chóng quét qua tượng đứng Quán Thế Âm ở góc đông bắc, tượng đứng Di Lặc Phật ở góc tây bắc và mười tám vị La Hán hai bên đại điện. Anh nghĩ ở đây có hai mươi tư vị Thần Phật, sao chỉ thắp hai mươi ba ngọn đèn? Nhìn kỹ lại, không khỏi có chút nghi hoặc: Ở bên phải Thích Ca Mâu Ni Phật, vốn dĩ còn có một pho tượng Phật vàng vô danh cao một thước, sao giờ lại không thấy đâu nữa?
Sau đại điện Ung Hòa Cung là Vĩnh Hữu Điện. Bọn họ đi vòng qua bên trái, nhìn thấy một lạt-ma trẻ tuổi đang ngồi xếp bằng niệm kinh ở trong góc, chú nhắm mắt không thèm để ý đến bọn họ, thứ để ý đến bọn họ chỉ là một lá cờ kinh nhỏ "Phổ Đà Lạc Già" đang được chú đung đưa qua lại.
Phổ Đà Lạc Già? Ở những nơi khác chưa từng thấy lá cờ kinh nhỏ như thế này, Ung Hòa Cung sao lại lắm thế? Hoàng tử Hương Ba mang theo sự suy đoán về lá cờ kinh nhỏ, bước ra khỏi Vĩnh Hữu Điện, đến Pháp Luân Điện.
Đây là một kiến trúc dân tộc Tạng truyền thống, hình mặt bằng chữ thập, trên mái điện có năm tòa âm lầu và năm tòa bảo tháp dát vàng, chính giữa trong điện trên tòa sen khổng lồ là Tông Khách Ba đại sư - người sáng lập phái Cách-lỗ của Phật giáo Tây Tạng cao lớn uy nghi đang ngồi xếp bằng. Phía sau tượng đồng là Ngũ Bách La Hán Sơn - một trong ba tuyệt tác điêu khắc gỗ của Ung Hòa Cung, thân núi do gỗ tử đàn chạm khắc thành, đỉnh núi nối liền tháp lầu, nhấp nhô đan xen, các vị La Hán đúc bằng vàng, bạc, đồng, sắt, thiếc rải rác bên trong. Nói là năm trăm, thực ra chỉ có bốn trăm bốn mươi chín pho, ngũ mươi mốt pho còn lại nghe nói đã bị người ta lấy trộm trong thời gian chiến tranh.
Hoàng tử Hương Ba nhìn Ngũ Bách La Hán Sơn bước tới, một câu hỏi trước đây từng nghĩ tới lại xuất hiện lần nữa: Tại sao thứ bị mất không phải là La Hán vàng, mà là La Hán đồng sắt thiếc? Lẽ nào tên trộm ngốc đến mức không biết vàng đắt giá hơn sao?
Tiếp tục đi về phía trước, đón mặt bọn họ là Vạn Phúc Các - kiến trúc cao nhất của Ung Hòa Cung. Vạn Phúc Các với mái hiên bay bổng lơ lửng trong đêm tối như một con chim lớn đang vỗ cánh bay lên. Bọn họ bước lên bậc thang, bước qua ngưỡng cửa, đến trước một bàn chân Phật khổng lồ.
A Nhược Lạt-ma và Ô Kiên Lâm Ba dừng lại.
Hoàng tử Hương Ba nói: "Đây là Phật gì? 'Cánh cửa Thất Độ Mẫu' sao lại ở đây?"
A Nhược Lạt-ma nói: "Chúng ta gọi là Tường Ba Phật, tiếng Mông Cổ gọi là Mại Đạt La Phật, phiên âm tiếng Phạn là Di Lặc, có nghĩa là Phật tương lai, người Hán gọi là Từ Thị Bồ Tát. 'Cánh cửa Thất Độ Mẫu' là pháp môn liên quan đến tương lai, tự nhiên phải ẩn cất ở chỗ Phật tương lai này rồi. Pho tượng Di Lặc Phật này cao hai mươi sáu mét, nặng khoảng một trăm tấn..."
Hoàng tử Hương Ba cảm thấy đối phương coi thường mình, nối tiếp ngay: "Di Lặc Phật búi tóc chọc trời đỡ lấy thiên đường, hai chân cắm xuống đất đạp lên địa ngục, được chạm khắc từ một cái cây bạch đàn hương hiếm có trên đời, là pho tượng Phật khắc từ một cây gỗ duy nhất lớn nhất thế giới, trọng lượng vô hạn. Năm xưa Càn Long hoàng đế để chạm khắc đại Phật, đã trích ngân khố vô số, sau khi chạm khắc thành công, lại thếp vàng toàn thân, khảm vô số châu báu, chỉ riêng chiếc áo cà sa đại Phật khoác trên người, đã dùng hết vạn thước lụa vàng."
A Nhược Lạt-ma kinh ngạc trố mắt nhìn anh.
Hoàng tử Hương Ba nói: "Ý tôi là 'Cánh cửa Thất Độ Mẫu' nên ở cùng với 'Thất Thế Phật'."
A Nhược Lạt-ma nói: "Đâu chính là 'Thất Thế Phật'. Năm xưa Càn Long hoàng đế ban chỉ, giao đại quyền trị Tạng cho Thất thế Đạt-lai Lạt-ma Cách-tang Gia-thố. Thất thế Đạt-lai Lạt-ma để báo đáp hoàng ân, đã thu thập lượng lớn châu báu từ khắp nơi ở Tây Tạng, cử người sang Nepal đổi về cây bạch đàn hương hiếm có trên thế giới này, từ Tây Tạng qua Tứ Xuyên, Thiểm Tây, Hà Nam, Hà Bắc, mất ba năm ba tháng mới vận chuyển đến Bắc Kinh. 'Thất Thế Phật', chính là pho tượng Phật do Thất thế Đạt-lai Lạt-ma dâng cúng chế tạo."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Ý thầy là hơn một nghìn năm trước khi Đại sư Liên Hoa Sinh ẩn cất 'Cánh cửa Thất Độ Mẫu', đã dự ngôn Thất thế Đạt-lai Lạt-ma sẽ dâng cúng chế tạo 'Thất Thế Phật'?"
"Không phải dự ngôn, là thụ ký, giống như việc quy hoạch tương lai bây giờ vậy."
"Đây là sự quy hoạch đối với lịch sử và số phận, có khả năng thực hiện một cách tỉ mỉ không mảy may sai lệch không?"
"Thế thì phải xem cậu rồi, xem chìa khóa của cậu có thể mở được 'Cánh cửa Thất Độ Mẫu' hay không."
Hoàng tử Hương Ba ngẩng đầu quan sát, giống như nhiều lần trước đây cảm nhận được, một luồng khí thế tạo tượng khổng lồ chấn động anh, khiến anh cảm nhận rõ ràng hiệu quả mà nghệ thuật đạt được trong bầu không khí tôn giáo. Đó là sự cao lớn của từ bi và sự vĩ đại của phúc điền, treo cao lên, trút đổ xuống, có thể trong một khoảnh khắc đập tan bất kỳ trái tim phàm phu nào có duyên với Phật nhưng lại quyến luyến trần tục. Anh thu hồi ánh mắt, nhìn lại sự kết hợp tầng lầu của điện đường, ánh nến chồng lên nhau từng tầng, cảnh giới Phật được vẽ trang trí, chạm khắc hành lang mái hiên, vòm trần hoa lệ, tượng trưng cho kết cấu của thế gian, mà thế gian lớn chừng nào, Phật liền lớn chừng ấy.
A Nhược Lạt-ma vẫy vẫy tay. Hoàng tử Hương Ba và Ô Kiên Lâm Ba bám sát theo sau, vòng qua hàng rào gỗ màu đỏ hộ vệ, đi tới phía sau pho tượng Phật khắc từ một cây gỗ duy nhất.
Ba người lặng lẽ đứng chầu.
Hoàng tử Hương Ba nhìn thấy tà váy của thân Phật rủ xuống như muốn rơi, đường nét chạm khắc có lực mà lưu loát, là loại tay rìu vung vẩy công lực phi thường, nhìn thấy mặt sau của thân Phật như một vách núi dốc đứng, áo quần chảy xuống như thác nước, đầy sống động. Anh chưa bao giờ đến phía sau tượng Phật, cảm giác mới mẻ khiến anh nhìn lên nhìn xuống, nhìn trái nhìn phải.
A Nhược Lạt-ma âm lượng dồi dào nói: "Chính là ở đây, 'Cánh cửa Thất Độ Mẫu'."
Hoàng tử Hương Ba nhẩm đọc "Chỉ nam thụ ký" của "Dự ngôn dưới lòng đất":
Chính giữa Văn Thù đạo tràng, bốn trăm tám mươi tư thần tượng, hàng trăm nghìn tỷ hóa thân Phật,
Đến từ cây bồ đề của núi quốc oi nóng, phía sau là cánh cửa Thất Độ Mẫu.
Hoàng tử Hương Ba nói: "Tượng Phật sớm nhất trong chính điện Ung Hòa Cung ít nhất có năm trăm ba mươi lăm pho."
A Nhược Lạt-ma nói: "Nếu trừ đi ngũ mươi mốt pho La Hán trên Ngũ Bách La Hán Sơn thì sao?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Sao có thể trừ đi? Ngũ mươi mốt pho La Hán là bị mất trong thời gian chiến tranh, trừ phi... á, trừ phi... không thể có khả năng này chứ?"
A Nhược Lạt-ma nói: "Ai cũng nghĩ không thể có khả năng đó, nhưng chính dạo gần đây, ta từ sự gia trì bí mật của Bổn Tôn Phật của ta mà biết được, bảo vật Ngũ Bách La Hán Sơn của Ung Hòa Cung thực ra chưa từng bị mất ngũ mươi mốt pho La Hán trong thời gian chiến tranh, nó vốn dĩ chỉ có bốn trăm bốn mươi chín pho La Hán mà thôi. Nói cách khác, nếu không tính ngũ mươi mốt pho La Hán vốn dĩ không có, không tính hàng nghìn pho Phật vàng, Phật đồng, Phật chiên đàn thêm vào sau này ở hai gian điện phối, thì vào thời kỳ cực thịnh khi Ung Hòa Cung trở thành chùa hoàng gia, tượng Phật trong chính điện vừa vặn là 'bốn trăm tám mươi tư' pho."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Nhưng 'Chính giữa Văn Thù đạo tràng' giải thích thế nào đây? Ai cũng biết, núi Phổ Đà ở Chiết Giang là Quán Âm đạo tràng, núi Nga Mi ở Tứ Xuyên là Phổ Hiền đạo tràng, núi Cửu Hoa ở An Huy là Địa Tạng đạo tràng, mà Văn Thù đạo tràng là núi Ngũ Đài ở Sơn Tây, không có bất kỳ liên quan gì tới Ung Hòa Cung ở Bắc Kinh."
A Nhược Lạt-ma nói: "Đạo tràng chẳng qua là tâm của Bồ Tát, tâm đến đâu, đạo tràng liền đến đó. Các vị hoàng đế có chí xưa nay đều là hóa thân của Văn Thù Bồ Tát, Văn Thù Bồ Tát an trí đại trí đại dũng trong lồng ngực của đế vương, để cầu giáo hóa khắp thiên hạ. Như vậy, 'Văn Thù đạo tràng' chính là vương thổ, 'chính giữa' của vương thổ tự nhiên chính là Bắc Kinh rồi."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Đây là sự hiểu biết của lạt-ma tu hành, không phải giải thích của học giả nghiêm cẩn."
A Nhược Lạt-ma lại nói: "Nếu vừa là lạt-ma tu hành vừa là học giả nghiêm cẩn thì sao? Còn về 'Hàng trăm nghìn tỷ hóa thân Phật', chỉ chính là Di Lặc Phật, câu kệ cổ xưa như thế này, 'Di Lặc chân Di Lặc, hóa thân thiên bách ức, thời thời thị thời nhân, thời nhân tự bất thức'. 'Đến từ cây bồ đề của núi quốc oi nóng' thì càng dễ giải thích, 'núi quốc' là Nepal, Phật nói 'bồ đề bản vô thọ', lại nói 'oi nóng đàn sinh hương', cây đàn hương chỉ phát triển ở vùng đất oi nóng."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Mấy trăm năm nay, rất nhiều người đều điên cuồng tìm kiếm 'Cánh cửa Thất Độ Mẫu', 'bốn trăm tám mươi tư thần tượng' trong dự ngôn hầu như đã chắn ngang tất cả các bước chân thăm dò, tại sao mãi cho đến gần đây, thầy mới nhận được sự gia trì bí mật của Bổn Tôn Phật của thầy?"
A Nhược Lạt-ma nói: "Không phải thời gian nào cũng có duyên khởi thù thắng, Ô-trượng-na Phật Tổ Liên Hoa Sinh Đại Sư của chúng ta ngay ở trên đầu, đến ngày mở 'Cánh cửa Thất Độ Mẫu', mới truyền đến tâm niệm Bổn Tôn gia trì cho ngươi."
Hoàng tử Hương Ba gật đầu: "Xem ra tôi không hỏi ngã được thầy rồi A Nhược Lạt-ma, bây giờ thầy hỏi tôi đi."
A Nhược Lạt-ma nói: "Không muốn hỏi nhiều, chỉ hỏi cậu chìa khóa ở đâu?"
Hoàng tử Hương Ba nhỏ giọng đọc nhẩm "Chỉ nam thụ ký" của "Dự ngôn dưới lòng đất":
Ngươi muốn mở cánh cửa Thất Độ Mẫu, đi về phía Phục tạng cuối cùng, phải nhớ kỹ phía sau vạt váy Thất Thế Phật, đá mã não đen lớn, chuỗi nào, hạt thứ mấy, ấn mấy cái.
A Nhược Lạt-ma và Ô Kiên Lâm Ba mắt không chớp chằm chằm nhìn Hoàng tử Hương Ba.
Hoàng tử Hương Ba đặt tay lên ngực, tiếp tục đọc nhẩm "Chỉ nam thụ ký" của "Dự ngôn dưới lòng đất":
Người sở hữu bảy cái tên, lồng ngực chứa đựng pháp âm của Đức Mẫu, thiên thần đã quyết định ngày sinh của ngươi và thánh giả, đó là chìa khóa mở ra cánh cửa trầm tư nghìn năm.
Hoàng tử Hương Ba nói: "Chìa khóa chính là 1131, sinh nhật của Cơ Cơ Bố Xích, sinh nhật của thánh giả Thương Ương Gia Thố. Tương ứng 1131 và 'Chỉ nam thụ ký' của 'Dự ngôn dưới lòng đất' lại, thì nên là chuỗi thứ 11, hạt thứ 3, ấn 1 cái."
Hoàng tử Hương Ba vòng trước vòng sau đếm từ trên xuống dưới, sau đó đặt tay lên phía sau vạt váy của pho tượng đại Phật khắc từ một cây gỗ duy nhất, ở đó có đồ trang trí bằng gỗ chạm khắc mã não. Anh mân mê gỗ chạm mã não, đột nhiên tay run lên một cái.
Anh không tin tưởng nhìn tay mình nói: "Hay là thầy đến đếm đi A Nhược Lạt-ma."
A Nhược Lạt-ma nói: "Chuỗi thứ 11, hạt thứ 3, ấn 1 cái?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Có khi nó còn là mật khẩu thẻ tín dụng đấy, thầy không được đi tiêu xài đâu nhé."
A Nhược Lạt-ma nói: "Hay là chúng ta cùng đếm, nhất định không được sai sót."
Hoàng tử Hương Ba, A Nhược Lạt-ma và Ô Kiên Lâm Ba vòng ra trước pho tượng đại Phật khắc từ một cây gỗ duy nhất, ngẩng đầu đếm các chuỗi mã não trên người đại Phật, khi bọn họ cùng nhau đếm từ trên xuống dưới đến chuỗi thứ 11, vừa khéo là chỗ gỗ chạm mã não phía sau vạt váy đại Phật mà Hoàng tử Hương Ba vừa mân mê.
Hoàng tử Hương Ba đè nén sự hưng phấn, nhỏ giọng nói: "Tốt quá rồi, tốt quá rồi, điều này chứng minh không sai."
Bọn họ lại đếm tiếp, cũng là từ trên xuống dưới, đếm đến hạt thứ 3 thì dừng lại. A Nhược Lạt-ma nhìn kỹ, đặt ngón tay cái lên một hạt gỗ chạm mã não đen bóng.
Hoàng tử Hương Ba và Ô Kiên Lâm Ba giốm giốm nhìn A Nhược Lạt-ma.
A Nhược Lạt-ma thành kính niệm một lượt Bạch Độ Mẫu chú, lại niệm một lượt Lục Độ Mẫu chú, sau đó dùng sức ấn một cái, chỉ nghe "Tách" một tiếng, ngay tại cuối vạt váy, giữa nếp gấp và nếp gấp, một mảnh áo Phật may quần áo thiên nhiên đột nhiên bật ra.
Ba người đồng thời "A dế" một tiếng, kinh ngạc đến mức giọng nói đều biến điệu.
"Cánh cửa Thất Độ Mẫu"? Thật sự là "Cánh cửa Thất Độ Mẫu"? Dường như trong chớp mắt mọi người lại không dám tin, ngẩn ngơ.
Đột nhiên, A Nhược Lạt-ma lao tới trước tiên, tiếp theo là Hoàng tử Hương Ba, cuối cùng là Ô Kiên Lâm Ba.
Cánh cửa bật ra rộng chừng ba thước, trong hốc cửa đen ngòm.
Hoàng tử Hương Ba bấm sáng điện thoại. Ba người ghé vào cửa nhìn vào bên trong, phát hiện bên trong là một khe hở tự nhiên rất sâu, vị trí vừa khéo ở giữa hai chân đại Phật Di Lặc, một luồng hương thơm bạch đàn hương thoang thoảng chui vào mũi. Anh muốn bò vào trong xem sao, liền bị một bàn tay đầy lực lượng của A Nhược Lạt-ma túm lấy.
Hoàng tử Hương Ba kích động nói: "Phục tạng cuối cùng, Phục tạng cuối cùng, tôi vào lấy ra."
A Nhược Lạt-ma nghiêm khắc nói: "Không được lỗ mãng." Sau đó lại niệm Bạch Độ Mẫu chú và Lục Độ Mẫu chú lần nữa, khi niệm chú ông dùng lồng ngực chặn hốc cửa lại, sợ Hoàng tử Hương Ba đi vào, cũng sợ Ô Kiên Lâm Ba đi vào.
Một lát sau, A Nhược Lạt-ma chui vào hốc cửa, cầm một cây nến lớn do Ô Kiên Lâm Ba đưa cho ông, bò vào trong.
Hoàng tử Hương Ba và Ô Kiên Lâm Ba nín thở ngưng khí nhìn cửa hang, không dám có một chút xáo động.
Hai mươi phút sau, A Nhược Lạt-ma bò ra.
Hoàng tử Hương Ba trợn to mắt, thấy ông đi ra tay trắng, liền hỏi: "Phục tạng đâu?"
A Nhược Lạt-ma thất vọng tới cực điểm ném cây nến xuống đất: "Trống rỗng, bên trong trống rỗng."
"Không thể nào." Hoàng tử Hương Ba chộp lấy A Nhược Lạt-ma, định khám xét người ông.
A Nhược Lạt-ma đẩy anh ra, cởi áo cà sa, chỉ còn lại quần áo lót, xòe hai tay ra, nhìn Hoàng tử Hương Ba, lại nhìn người sư huynh đệ đồng phái im lặng Ô Kiên Lâm Ba nói: "Ta thề trước đại Phật Di Lặc, ta sạch sẽ."
Hoàng tử Hương Ba làm sao chịu từ bỏ, bò vào hốc cửa, dùng điện thoại soi sáng bên trong, tìm kiếm kỹ càng một lượt, chẳng tìm thấy gì cả. Anh bò ra, đứng trên mặt đất, nét mặt đầy vẻ kinh ngạc nhìn A Nhược Lạt-ma: "Sao lại thế chứ, trống rỗng?"
A Nhược Lạt-ma nói: "Đã có người mở qua rồi."
Hoàng tử Hương Ba hỏi: "Ai?"
A Nhược Lạt-ma nheo mắt lại, dùng ánh mắt như mũi kim đâm vào Hoàng tử Hương Ba nói: "Lẽ nào không phải là cậu sao?"
"Tôi? Hơ, tôi lại là tên trộm rồi sao?"
"Cậu đã giết chết thầy giáo Biên Ba của cậu, trộm lấy chìa khóa, cậu đã sớm mở qua 'Cánh cửa Thất Độ Mẫu' rồi."
"Thầy là một lạt-ma niệm Phật sao có thể ăn nói hàm hồ thế hả?"
A Nhược Lạt-ma "Hừ" một tiếng nói: "Không phải ta nói, là cảnh sát nói, cảnh sát đã tìm thấy xe của cậu, trên xe có vết móp va chạm, tóc và vết máu trên đó là của người chết Biên Ba."
Hoàng tử Hương Ba gầm lên: "Vu khống, vu khống, đều là vu khống, tôi nếu đã sớm mở qua 'Cánh cửa Thất Độ Mẫu', còn đến đây làm gì?"
"Xảo quyệt ma quỷ, cậu đang diễn trò, cậu muốn chứng minh cậu chưa từng đến đây, muốn che giấu tội ác của cậu."
Hoàng tử Hương Ba nhìn Ô Kiên Lâm Ba, phát hiện ánh mắt của đối phương cũng mang theo vẻ bất thiện như vậy, liền nhìn hốc cửa hít một hơi hương đàn từ bên trong pho tượng đại Phật khắc từ một cây gỗ duy nhất, phẫn nộ "Ha ha" một tiếng nói: "Nghi ngờ tôi ăn trộm Phục tạng bên trong? Các người cứ việc đi báo án đi, đó là của cải mà cả Ung Hòa Cung cũng không đổi lại được đâu." Nói xong nhấc chân bước đi.
Tại cổng Vạn Phúc Các, một lạt-ma béo lớn uy phong lẫm lẫm đã chặn đứng Hoàng tử Hương Ba lại.