Phục Tạng

Lượt đọc: 24 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hậu Ký: Lại Cùng Chúng Ta Kỳ Vọng Vào Tương Lai

❊ ❊ ❊

Những năm này tôi đến Bắc Kinh, luôn thích nhốt mình ở "Đương Đại", đó là tòa nhà phía sau của Nhà xuất bản Văn học Nhân dân. Trong nhiều khu sân viện nổi tiếng, tòa nhà phía sau đều là nơi ở của cán bộ lãnh đạo. Nhưng ở khu sân viện số 166 phố Triều Nội nổi tiếng, nơi đó lại là "Đương Đại". Cho nên dù là "phía sau" của "phía sau", nó lại nhộn nhịp mở rộng hơn tòa nhà phía trước. Đối với tôi, đây là một nơi có chuyện để nói, có sách để xem, có tạp chí để lấy, có cơm để ăn. Điểm cuối cùng này đặc biệt quan trọng, mỗi khi tới giữa trưa, người của "Đương Đại" luôn mang cơm hộp từ nhà hàng đặt cơm về, ngồi giữa những chiếc sofa trong căn phòng chật chội đầy sách, báo, tạp chí, quây quần quanh bàn trà, vừa ăn vừa chuyện trò. Họ biết tôi ăn chay, cơm hộp đưa cho tôi không hề có một chút thịt cá nào, cảm giác thanh mát và thanh tịnh. Dĩ nhiên cũng có những buổi tiệc, nhưng tôi thường hay quên mất đó là tiệc đón gió dành cho mình, tàn cuộc mới nhận ra, ý nghĩ vừa lóe lên lại quên mất, thứ ghi nhớ sâu sắc vẫn là hộp cơm chay đạm bạc và những cuộc trò chuyện không chút gò bó đó.

Ngoài ăn cơm, còn có ăn mặc. Lần đó đi Bắc Kinh tham dự một cuộc họp trọng thể, người ta yêu cầu mặc trang phục trang trọng, tôi lại xềnh xoàng mặc áo T-shirt vào kinh, mà còn là loại không cổ. Tất cả mọi người đều comple giày da, sao anh có thể "gà đứng trong đàn hạc"? Dương Tân Lam ở "Đương Đại" mang đến chiếc áo vest của chồng cô ấy, còn mới nguyên, với lý do "vóc dáng hai người các anh xấp xỉ nhau". Mặc vào một cái, quần rộng đến mức có thể chứa được một bụng rưỡi và ba cái chân của tôi. Nhưng cũng đành phải mặc. Có điều tiểu Dương lấy vest nhưng lại quên cà vạt. Cô ấy chạy ngược chạy xuôi xin được một chiếc về đeo vào, đột nhiên lại ngẩn người: Tất cả mọi người đều không biết thắt cà vạt, ngay cả biên tập viên thế hệ mới tốt nghiệp Đại học Bắc Kinh là Thạch Nhất Phong cũng không biết, ngay cả cô gái thời trang Từ Tử Đồng cũng không biết. Nói là Thanh Ba biết, khó khăn lắm mới đợi được anh ấy tới, anh ấy lại cười hơ hơ bảo: "Không biết, không biết." Thần thái phóng khoáng không gò bó, ngầm ẩn chứa một chút mỉa mai đối với vest và cà vạt, dường như không biết mới là tự hào. Vừa hay vợ của Thanh Ba cũng tới, ướm vài cái trên cổ tôi, đầy hy vọng cô ấy có thể thắt đẹp, kết quả phát hiện cô ấy không phải đang thắt cà vạt mà là đang buộc khăn quàng cổ. Xương Nghĩa lại càng không biết, hớn hở tóm lại một câu: "Đây chính là 'Đương Đại'." Rồi lại không đành lòng giải thích thêm, "Hội này ngày xưa cũng từng biết thắt đấy." Ý của anh ấy là: Khi vest còn là "kỳ trang dị phục", chúng tôi đã mặc rồi, sau này ai nấy đều mặc vest, chúng tôi cũng chẳng thèm coi trọng nó nữa. Nhưng bây giờ không phải lúc tóm tắt lịch sử, bây giờ phải lập tức thắt xong cà vạt. Để không ngượng ngùng, tôi nói: "Lạ thật đấy, hồi bé xíu thắt khăn quàng đỏ mà cả đời không quên, vậy mà cà vạt, cũng coi như thành quả của cải cách mở cửa đi, chớp mắt một cái là quên sạch." May mà Nhà xuất bản Văn học Nhân dân nhân tài dồi dào, cuối cùng từ phòng phát hành cũng có một thanh niên bước tới, ngón tay múa may vài cái đã giải quyết xong xuôi. Cứ như thế họ không ngại phiền phức, ăn diện tôi thành một cán bộ, vểnh đuôi xuất hiện trên đường phố Bắc Kinh.

"Đương Đại" chính là do một nhóm văn nhân đương đại không biết thắt cà vạt như thế gầy dựng và kinh doanh, khí chất văn nhân buông thả hình thể, tư thế đối nhân xử thế thong dong tự tại, làm cho nơi này vẻ ngoài mở rộng mà thư thái. Bạn nhìn xem họ khoác lên mình bộ trang phục trang trọng, có bản có hình, nhưng trên cổ lại không có sự gò bó, muốn gầm gào cái gì thì gầm gào cái đó. Cho nên một tác giả thô ráp, bộc bạch, hoang dại như tôi cũng có được một chỗ đứng. Lại nói về cà vạt, văn học mặc vest thắt cà vạt quá đỗi trang trọng, giống như ngâm thơ trong các dịp lễ nghi; văn học không vest không cà vạt lại quá tùy tiện, giống như cái mồm heo cắm hành tây, được những người nhân hậu ví thành vòi voi; văn học có vest không cà vạt hình như vừa vặn tốt——muốn tiên phong thì đó là sự tiên phong hoài niệm, muốn thời trang thì đó là sự thời trang lắng đọng, muốn lịch sử thì đó là lịch sử mà hiện tại cần, muốn văn hóa thì đó là văn hóa có thể phát hành, đây có lẽ chính là diện mạo của "Đương Đại". Không rơi vào "thường biên", cũng không rơi vào "đoạn biên", trung đạo chính là Phật đạo.

Thích nhốt mình ở "Đương Đại", còn có một tầng ý nghĩa nữa, đó là thẹn thùng không muốn gặp người. Những năm này tôi đã né tránh bao nhiêu cuộc hẹn gặp và đặt bài thì đã không nhớ rõ nữa, mỗi một lần né tránh thành công đều khiến tôi áy náy, có đôi khi là gặp mặt ăn cơm xong rồi mới né tránh, thế thì càng áy náy đến chết. Nhớ lại những người bạn bị tôi né tránh, phần lớn cũng là làm tạp chí, làm xuất bản, bản lĩnh của tôi quá nhỏ, viết quá chậm, không thể lúc nào cũng hứa hẹn mà không thực hiện. Muốn làm một người giữ lời hứa thì chỉ có thể không dự tiệc, không hứa hẹn, thành thành thật thật, có thì có, không thì không, đã hứa với người đầu tiên thì dũng cảm gả đến cùng. Các bạn tôi ơi, tôi đã đắc tội với mọi người rồi, trong sự khẩn thiết ảm đạm động lòng này, có sự bao dung và tha thứ của mọi người, đó chính là ánh mặt trời của tôi.

Chính vào một ngày nhốt mình ở "Đương Đại", Xương Nghĩa hỏi tôi về kế hoạch sau "Tạng Ngao 3", tôi đã nói tới Thương Ương Gia Thố, nói tới "Phục Tạng", nhưng lúc đó tôi vẫn chưa xác định đây nhất định sẽ là "tác phẩm tiếp theo" của mình. Xương Nghĩa nghe xong rất kích động, kích động hơn tôi nhiều, suốt một buổi sáng đều nói về chủ đề này, ăn xong hộp cơm đưa tôi ra sân bay vẫn còn nói. Tôi rất muốn ghi lại cuộc trò chuyện của chúng tôi, nhưng lại không có thời gian, lên máy bay mới ghi thì phát hiện nhiều chi tiết đã biến mất cùng với sự biến mất của niềm kích động. Nhưng tôi biết, tôi không thể do dự nữa, chính là vị Thần Vương âm thanh thơm tho vô địch, vị ca sĩ đã khuất đó——Đạt Lai Lạt Ma đời thứ sáu Thương Ương Gia Thố, đã là chủ tể cuộc sống của tôi rồi, việc duy nhất phải làm tiếp theo là không xao nhãng chuyện gì, chuyên tâm toàn ý.

2

Thương Ương Gia Thố và những bài tình ca của ngài lúc nào cũng quyến rũ tôi, nhưng đây không phải là toàn bộ lý do tôi viết "Phục Tạng", lý do quan trọng hơn còn nằm ở xung đột tinh thần ngày càng nghiêm trọng trong cuộc sống hiện tại.

Xung đột tinh thần mỗi ngày đều đang diễn ra theo phương thức mãnh liệt nhất, mà chúng ta lại hoàn toàn không nhận ra. Mối quan hệ nhân sĩ luôn tính toán luồn cúi đang kéo ghì chúng ta bằng một sức mạnh to lớn, ép buộc chúng ta dùng đôi mắt sáng nhất để do thám những sự thế đục ngầu nhất. Nhảm nhí vướng bận, dung tục vướng bận, nhạt nhẽo vướng bận. Chúng ta đã chết, tinh thần vốn dĩ trước cả cuộc xung đột đã chết không còn một mống. Trên thế giới này có bao nhiêu cái xác sống, có bao nhiêu thể xác không có linh hồn, tôi không dám đếm, vừa đếm sẽ đếm luôn cả bản thân vào trong. Có lẽ chỉ vì để khi người khác kiểm đếm những cái xác sống, không đến mức tính luôn cả tôi vào, tôi mới nghĩ đến Thương Ương Gia Thố, nghĩ đến "Phục Tạng".

"Phục Tạng" là một cuốn sách nói về con người và linh hồn. Linh hồn chính là tín ngưỡng.

Tôi là một người tín ngưỡng Phật giáo, một người theo thuyết hữu thần, cuốn sách này cũng là tác phẩm thể hiện Phật giáo. Nhưng tôi không có ý khuyên bảo mọi người quy y Phật giáo, bởi vì tôi không cho rằng tín ngưỡng đồng nghĩa với tôn giáo, không cho rằng quy y tôn giáo đồng nghĩa với việc có tín ngưỡng. Quy y tôn giáo là tìm kiếm một tập đoàn, mà quy y tín ngưỡng mới là lối thoát tinh thần chân chính. Phật nói vừa không có chúng sinh cũng không có Phật, chỉ cần bạn tích đức hành thiện, bạn chính là Phật. Là hiện tượng tinh thần của nhân loại bao gồm cả tôn giáo, tín ngưỡng trước tiên chú trọng vào sự thuần khiết và cao thượng của tinh thần nhân loại, là sự dâng hiến bản thân thành kính chứ không phải vị kỷ hại người đáng hổ thẹn, là nhân ái, hỷ lạc, hòa bình, nhẫn nại, ân từ, lương thiện, tín thực, ôn hòa, thanh bần, tiết chế, vị tha, cứu độ, hòa hợp v.v... chứ không phải ngược lại. Nhưng trong mắt tôi, tín ngưỡng đang trượt xuống vùng đất thấp với tốc độ đáng kinh ngạc, mê mờ và mất chủ định đang trở thành kẻ tiếp tay gặt hái mạng sống, hơi nóng nồng mùi thuốc nổ đang gặm nhấm tất cả sự mát mẻ, lòng người sau khi đi vào đêm tối không chút ngoảnh lại lại không đón nhận được ánh bình minh và mây sáng.

Không có sự ràng buộc của đạo đức, không có sự thức tỉnh của lương tâm, không có thần, không có hồn, không có sự cứu rỗi, không có chủ tể, tự nhiên sẽ không có tín thực, bao dung và lương thiện, thành toàn cho cái đẹp của người khác và ở hòa thuận với người khác đã khó càng thêm khó. Khi cuộc khủng hoảng tinh thần mang tính thế giới lao đến như chớp giật, khi vô số người không thể dùng tín ngưỡng để đảm bảo bản thân sở hữu linh hồn, khi "đáy lòng" vốn đã chìm xuống tận đáy vực sâu vẫn bị chúng ta dẫm đạp đến nát vụn, tôi đã tìm thấy lý do thực tế để viết "Phục Tạng".

Trong "Phục Tạng", tôi cố gắng biểu đạt một niềm tin như thế này——thực ra cũng là sự thật: Dùng hận thù xóa bỏ hận thù mãi mãi không phải là nhu cầu của chúng ta. Sức mạnh của thế giới, sức mạnh có thể lay động chúng ta nhất định phải là sự thân thiện và cao thượng, là tư tưởng của tình yêu. Phương thức thể hiện tín ngưỡng ít làm giả nhất chính là tình yêu. Trong phạm vi văn học, những mưu cầu tinh thần được nuôi dưỡng bởi khổ nạn mà vượt qua khổ nạn nhất định sẽ cùng đích đến với tín ngưỡng, chúng cùng nhau tạo thành phong cảnh tuyệt vời nhất của nhân loại, giống như sự chảy trôi đối với sông ngòi, sự tươi tốt đối với cây rừng. Hugo nói với chúng ta: Nhan sinh hoàn hảo không phải là nhân sinh không có tội lỗi, mà là nhân sinh có tội lỗi liền sám hối liền chuộc tội. Dostoevsky dùng mệnh đề "Tội và Phạt" để tra hỏi linh hồn nhân loại đang do dự giữa thiện và ác, sau đó rút ra kết luận: Có tình yêu là có tất cả. Mà Tolstoy lại khiến chúng ta giật mình tỉnh ngộ: Khi khủng hoảng sinh tồn, sự đối xử bất công, sự chênh lệch giàu nghèo đã thành sự thật, thứ có thể cứu rỗi nhân loại chỉ có tình yêu thương rộng lớn yêu tất cả mọi thứ bao gồm cả yêu kẻ thù. Cái chết vì tình yêu là sự tái sinh, sự tái sinh vì hận thù là cái chết. Tình yêu thuộc về tình cảm, tinh thần, cũng thuộc về kinh tế, chính trị, là biểu hiện cao nhất của chính trị: Sự không kháng cự của Gandhi là tình yêu, ông nhờ đó đã giành lại một Ấn Độ độc lập. Sự không kháng cự của Martin Luther King cũng là tình yêu, ông nhờ đó đã thực hiện giấc mơ của một chủng tộc: Bình đẳng. Sự không kháng cự của Mandela lại càng là tình yêu, ông cho chúng ta thấy bề rộng mà chính trị có thể đạt tới, thấy được một Nam Phi hòa bình.

Còn có Mẹ Teresa.

3

Mẹ Teresa là người Albania, năm mười tám tuổi bà đến Ấn Độ, việc làm mỗi ngày chính là đẩy một chiếc xe nhỏ, đi vào đống rác, dưới mương nước, trước cửa nhà thờ, trên bậc thang của các tòa nhà công cộng, nhặt về những bệnh nhân và trẻ bị bỏ rơi thoi hóp sắp chết, cùng những người già yếu sắp lìa đời, sau đó bôn ba khắp nơi, tìm kiếm thức ăn và thuốc men cho họ. Rất nhiều người coi bà là kẻ ăn xin và mụ điên, chửi mắng bà, đánh đập bà, đuổi bà đi. Nhưng khi họ nhìn thấy bà bế từ dưới mương nước lên người ăn xin bị dòi bọ ăn mất một bên chân, nhìn thấy bà dán trán mình lên mặt bệnh nhân sắp chết, nhìn thấy bà giằng lại đứa trẻ sơ sinh còn đang khóc thét từ trong mõm một con chó, nhìn thấy bà ôm chặt người mắc bệnh AIDS vào lòng, cuối cùng họ đã bị cảm động. Những người bà giải cứu đa số là tín đồ Ấn Độ giáo có tín ngưỡng khác với bà, bà tôn trọng họ, xử lý hậu sự cho họ theo đúng tín ngưỡng của họ.

Hội Dòng Nữ Tu Thừa Sai Bác Ái do bà sáng lập có tài sản hơn bốn trăm triệu đô la Mỹ, các công ty giàu có nhất trên thế giới đều tranh nhau quyên góp tiền cho bà. Nhưng cả đời bà lại kiên trì giữ sự nghèo khó. Nơi ở của bà chỉ có hai món đồ điện: Đèn điện và điện thoại. Toàn bộ tài sản của bà là một bức tượng Chúa Jesus, ba bộ quần áo, một đôi dép sandal. Bà nỗ lực làm cho bản thân trở thành người nghèo, các tu sĩ và nữ tu của bà cũng đều tự biến mình thành người nghèo. Bởi vì chỉ có như vậy, những người nghèo mà họ phục vụ mới có được một chút tôn nghiêm. Bà cho rằng, trao đi tình yêu và tôn nghiêm còn quan trọng hơn trao đi thức ăn và quần áo.

Bà có hơn sáu trăm chi nhánh tại một trăm hai mươi bảy quốc gia trên toàn thế giới. Bà phát triển tổ chức với tốc độ nhanh nhất, hiệu suất cao nhất, chỉ riêng năm 1960, đã dựng lên hai mươi sáu trung tâm thu dung và mái ấm trẻ em tại Ấn Độ. Thế nhưng trụ sở chính của bà chỉ có hai nữ tu, một chiếc máy đánh chữ đời cũ. Văn phòng của bà chỉ có một chiếc bàn, một chiếc ghế, bà tiếp đón người đến thăm từ khắp nơi trên thế giới luôn ở tại vị trí làm việc của mình——khu ổ chuột, viện trẻ mồ côi, phòng bệnh lâm chung, viện phong, nơi thu dung bệnh nhân AIDS v.v... Những người đến chỗ bà phục vụ có các nhà ngân hàng, nhà doanh nghiệp lớn, nhà chính trị, hiệu trưởng đại học, sinh viên đại học, diễn viên, người mẫu, tiểu thư nhà giàu v.v... Họ không quản đường xá xa xôi đến bên cạnh Mẹ Teresa, làm những việc họ chưa từng làm bao giờ: Rửa bát, mặc quần áo cho bệnh nhân, đút nước đút cơm, giặt đồ đưa thuốc, khênh vác thi thể. Sau đó mới nhận ra: "Chúng ta vẫn luôn né tránh sự nghèo khổ và bất hạnh thực sự của nhân loại, thực ra chúng ta chưa từng yêu thương một cách chân chính." Ảnh hưởng của Mẹ Teresa có thể khiến hai bên chiến đấu trên chiến trường Balkan lập tức ngừng bắn, bà đến rồi, tình yêu đến rồi, bà muốn đưa phụ nữ và trẻ em rời khỏi mưa bom đạn lạc. Cuộc chiến tranh gay gắt đột nhiên có được sự trữ tình mềm mại, súng đạn chờ đợi, cho đến khi bà và những người được cứu đó rời đi.

Năm 1979, Mẹ Teresa nhận giải Nobel Hòa bình, bà mặc một chiếc áo Sari Ấn Độ chỉ trị giá một đô la bước lên bục nhận giải, bởi vì bà không có bộ quần áo nào khác. Bà coi như không thấy những người hiển hách, ngọc ngà châu báu phía dưới bục, nói: "Vinh dự này, cá nhân tôi không xứng đáng, tôi thay mặt cho tất cả những người nghèo khổ, bệnh tật và cô đơn trên thế giới đến nhận giải. Bởi vì tôi tin rằng, các vị sẵn lòng thông qua việc trao giải cho tôi mà thừa nhận người nghèo cũng có tôn nghiêm." Khi bà biết bữa tiệc của lễ trao giải tốn mất bảy nghìn đô la Mỹ, bèn khẩn cầu chủ tịch hủy bỏ bữa tiệc. Bà nói các vị dùng từng này tiền chỉ để chiêu khao một trăm ba mươi lăm người, mà số tiền này đủ cho một vạn năm nghìn người nghèo ăn trong một ngày. Yến tiệc bị hủy bỏ, Mẹ Teresa đã nhận được số tiền này. Cùng nhận được lúc đó, còn có bốn trăm nghìn Krona Thụy Điển quyên góp sau khi bị câu nói này của bà làm cảm động. Cả đời bà đều sống dưới danh nghĩa của người nghèo, chưa từng mặc những bộ quần áo ngoài ý nghĩa che thân chống rét, bởi vì trên thế giới vẫn còn rất nhiều người không có quần áo mặc. Bà vừa nhận được huy chương giải Nobel Hòa bình liền hỏi, đi chỗ nào có thể bán nó đi, bởi vì những người nghèo đó thứ cần không phải là huy chương mà là thực phẩm và quần áo.

Sau khi Mẹ Teresa qua đời, người Ấn Độ nói: "Mẹ của chúng ta qua đời rồi." Tất cả mọi người đều quỳ xuống, trong đám đông quỳ xuống còn có cả Thủ tướng Ấn Độ. Khi thi thể đi qua đại lộ, người ở trên tầng hai bên đường đều chạy xô xuống, bởi vì họ——bất luận là quan lớn hiển quý hay bình dân bách tính, không ai dám đứng cao hơn bà. Thủ tướng Ấn Độ nói: "Bà là thiên sứ từ bi hiếm có, là tượng trưng của ánh sáng và hy vọng, bà đã lau đi nước mắt khổ nạn của hàng ngàn hàng vạn người, bà đã mang lại vinh dự cho thế giới." Tội lỗi vốn có của nhân loại: Tham lam, giả dối, hưởng lạc, kiêu ngạo, hư vinh v.v..., trên người Mẹ Teresa không có một chút dấu vết nào, chỉ có danh ngôn được bà phụng hành cả đời: "Các con phải yêu thương lẫn nhau."

Tôi kể câu chuyện về Mẹ Teresa cho một lạt ma nghe, lạt ma nói: "Anh không biết đâu, người nữ tu anh nói đó, bà ấy chính là Quán Thế Âm Bồ Tát chuyển thế đấy." Cho nên, trong "Phục Tạng", cửa thứ bảy của "Cửa Thất Độ Mẫu" là cửa thực hành, tôi mong rằng có nhiều "Bồ Tát chuyển thế" hơn nữa bước ra khỏi điện đường, ban ơn cho chúng sinh.

4

Nhân tính là sự thể hiện tính đạo đức và tính xã hội của con người, làm cho Phật giáo tỏa sáng ánh sáng nhân tính là con đường tất yếu để Phật giáo hiện đại làm rạng rỡ chính mình. Vì vậy tôi vẫn luôn tìm kiếm, hy vọng có một loại trụ cột tinh thần cải tạo thế tục chứ không phải dấn thân vào thế tục, tẩy rửa tội lỗi sai lầm chứ không phải tái tạo tội lỗi sai lầm, có thể từ trong sự sùng tín đục ngầu và mù quáng mà đứng thẳng dậy một cách tỉnh táo và khỏe mạnh. Tuy rằng chưa tìm thấy, nhưng dù sao cũng đã có ánh sáng bình minh. Đó chính là Thương Ương Gia Thố, là mối tình vô lượng thà chết thân xác chứ không chết tình yêu của Thương Ương Gia Thố và Phật tính tự nhiên hy sinh bản thân để xóa bỏ hận thù mới cũ, là cái ôm ấm áp của ngài dành cho thế giới lạnh giá bằng tình yêu thuần khiết thương rộng lớn, là khả năng vô hạn hướng tới sự cao thượng và nỗ lực tái tạo tâm hồn mà "Phục Tạng" cung cấp cho chúng ta. Nó trong tiểu thuyết của tôi đã biến thành "Cửa Thất Độ Mẫu".

"Phục Tạng" chính là chôn giấu tín ngưỡng hoặc kinh điển đi, để tín đồ hàng ngàn hàng trăm năm sau khai quật mà trở thành tài nguyên tinh thần đương đại. "Địa phục tạng" là phục tạng chôn giấu trong đá ngầm, hồ nước, chùa miếu, "Ý phục tạng" là phục tạng chôn giấu trong linh hồn, nội tâm và ý thức của người đời sau. Từ cuối năm 2007 sau khi từ biệt "Tạng Ngao Tam Bộ Khúc", tôi liền lao vào "Phục Tạng", đứt đoạn trải qua hơn hai năm. Tôi cho rằng đây là một sự khai quật, với tư cách là biên tập viên phụ trách, Chu Xương Nghĩa bằng sự chấp trước và nhiệt tình của một Đắc Tạng Sư đã khai quật ra phục tạng của tiền nhân hoặc tiền thánh trong sâu thẳm tâm hồn tôi, sự đốc thúc quan tâm cùng với những trợ giúp về mọi mặt của anh ấy, những lời kiến nghị dài tám ngàn chữ của anh ấy, những cuộc điện thoại kéo dài ba tiếng đồng hồ anh ấy gọi từ nhà vào buổi đêm, những email "nửa đêm tỉnh giấc", "bừng tỉnh ngộ ra" của anh ấy, giống như nước đề hồ quán đỉnh, đánh thức sự ngu đần của tôi, lại như kinh chú mạnh mẽ cương nghị, luôn làm cho tinh thần tôi thời thời vững chãi. Khi hạ dấu chấm câu, tôi phát hiện "Phục Tạng" là cuốn tiểu thuyết dài tập có thời gian viết lâu nhất từ trước đến nay của tôi. Thời gian dài là vì khó viết, điều khó nhất là tôi bắt buộc phải cùng các nhân vật trong tác phẩm suy ngẫm những mật mã văn hóa tôn giáo đó, cùng trải qua những nguy hiểm, khủng bố và tất cả những điều chưa biết, hầu như mỗi một bước tôi đều không biết bước tiếp theo sẽ đi như thế nào, cho đến khi viết ra kết cục mới bừng tỉnh ngộ ra: Hóa ra là như thế này.

Viết đến đây, lại nhớ tới cà vạt. Khi "Phục Tạng" xuất bản, tôi vẫn không biết thắt cái thứ này như cũ. Điều này cho thấy cuộc sống của tôi vẫn như trước đây, không thích ứng thù, không thích hội họp, không thích hoạt động xã hội, không thích những dịp nhộn nhịp. Cũng không viết bài ứng cảnh, không làm nhân vật công chúng——đi trên đường lớn mà bị người ta nhận ra là điều vô cùng bất hạnh, trong phút chốc liền phân lập bản thân trên ngọn đồi ánh sáng xa xôi không có cỏ dại, mà tôi xưa nay luôn cho rằng bình thường, bình đạm, bình hòa, bình tĩnh là trạng thái tốt nhất.——Tôi là cỏ, một cây cỏ không hoa đung đưa theo gió, mà còn là cỏ dại. Cô vân dã hạc, lão tử bà ta, độc lập và trong sạch trong sự tịch mỹ giữ gìn sự vụng về, quyến luyến quấn quýt với thế giới chỉ thuộc về riêng mình, ca hát than khóc đến đau thương. Đối với những lời mời đã qua và sắp tới của bạn bè, đối với sự từ chối đã qua và sắp tới của tôi, tôi chỉ có thể cáo lỗi, và chân thành cúi đầu, chỉ mong họ vì sự vắng mặt của tôi mà càng thêm vừa lòng vừa ý.

Cuối cùng tôi muốn trân trọng cảm ơn các thầy cô đã cho tôi tài nguyên kiến thức và tài nguyên tư tưởng: Vu Đạo Tuyên, Tằng Giảm, Nha Hàm Chương, Cát Tang Lạt, Lý Tuyết Thẩm, Lưu Gia Cú, Lưu Hy Võ, Vương Nghi Noãn, Tạc Lãng Gia Thố, Chu Lương Phái, Hoàng Hạo, Ngô Bích Vân, Phan Tri Thường, Hà Huấn Điền, Trần Khánh Anh, Giáng Đại Nhậm, Đoạn Bảo Lâm, Mao Kế Tổ, Vu Nãi Xương, Vương Chấn Hoa, Hồ Bỉnh Chi, Dương Ân Hồng v.v..., chính họ đã cho tôi cảm hứng sáng tác. Trong đó 124 bài tình ca Thương Ương Gia Thố do thầy Trang Tinh sưu tầm dịch thuật, vì số lượng vượt qua người khác, đã trở thành bản gốc chủ yếu để tôi thưởng thức, học tập, tham chiếu, trích dẫn. Đặc biệt quan trọng là, nhà Tạng học nổi tiếng Nặc Bố Vượng Đan, người mà tôi thu hoạch được rất nhiều từ các tác phẩm của ông, trong lúc bận rộn nghiên cứu khoa học và giảng dạy, đã "dành thời gian dài cân nhắc từng câu chữ nghiên đọc" tác phẩm vụng về của tôi, cuối cùng đã khích lệ tôi và đưa ra ý kiến với "thái độ thận trọng", những ý kiến thỏa đáng này đã trở thành lần sửa chữa cuối cùng của "Phục Tạng". Có thể nói, không có "thọ ký" của các thầy cô ở trên thì không có "Phục Tạng" của tôi. Một lần nữa xin cảm ơn. Ngoài ra ở cuối tiểu thuyết tôi có trích dẫn bài "Ngày Đó, Tôi Nghe Phạn Bái Suốt Một Đêm" mà không ít người đang chuyền tay nhau chép lại, đây là một bài tình ca Thương Ương Gia Thố bản hiện đại, là tác phẩm tuyệt đẹp của người chuyển thế hoặc người phát ngôn, cũng là lời nguyện cầu từ tận đáy lòng mà tôi mượn để truyền tải——nguyện cầu bạn bè như ý, nguyện cầu tất cả mọi người cát tường.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.