Phục Tạng

Lượt đọc: 8 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 9
Con Dấu Tình Ái

❊ ❊ ❊

Điện thoại reo. Hoàng tử Hương Ba không ngờ lần này là Pưn Tso chủ động gọi cho mình, vui mừng hớ hở như vừa tìm được "Cửa Thất Độ Mẫu": "Chắc chắn lời cầu nguyện trước Phật của tôi đã linh nghiệm, cuối cùng em cũng mở máy rồi. Tôi không biết mình đã gọi bao nhiêu lần, cứ tưởng em đã..."

Pưn Tso nói: "Lẽ ra tôi đã nhảy xuống từ lâu rồi, nhưng lại thấy hãy còn điều muốn nói, bèn chờ, chờ đến lúc muốn nói."

"Bây giờ muốn nói rồi à?"

"Không, bây giờ muốn chết, nói xong rồi sẽ chết."

"Vậy em đừng nói nữa, tiếp tục chờ đi, tôi không nghe."

Pưn Tso nài nỉ: "Anh hãy nghe đi, anh không nghe, tôi sẽ mang theo tất cả, tôi sẽ chẳng để lại cho thế giới này chút lời tâm sự nào."

"Được rồi, được rồi, em cứ thong thả nói."

Pưn Tso dùng giọng nói rất nhỏ để kể: "Tôi là một người chín ép, từ khi còn rất nhỏ đã biết rằng, tôi được tạo ra từ khoái cảm trên giường của bố mẹ. Tôi là sản phẩm của tội nghiệt, ngay khi sinh ra tôi đã mang theo tội nghiệt mà họ ép buộc gán cho mình. Tôi lớn lên từng ngày, thường tự hỏi bản thân: Cuộc đời do loại tội nghiệt này mang lại còn có ý nghĩa gì nữa? Tôi căm ghét bố mẹ mình, họ là người Tạng chính cống nhưng lại không tin Phật, thế nên tôi cũng không tin. Những gì họ để lại cho tôi, ngoài sự thờ ơ lạnh nhạt sau khi li hôn đối với tôi và cô em gái câm, thì chỉ là một ngôi nhà. Sau đó, người chồng mới của mẹ, một người đàn ông sùng đạo đã cướp mất nhà của tôi, còn đánh tôi, thế là tôi lại càng không tin. Bố định giúp tôi đòi lại ngôi nhà, nhưng chưa kịp làm gì thì đã qua đời trong một vụ tai nạn xe. May là công ty trả lương cho tôi không thấp, tôi có thể thuê nhà lại còn nuôi được cô em gái câm. Sau chuyện này, cuộc sống của tôi liền thay đổi, thoạt đầu là nghiện ma túy, sau khi cai được thì bắt đầu nghiện rượu, nghiện rượu mang đến cho tôi chứng ngộ độc rượu, cứ uống là thế nào cũng say. Tôi biết mình xinh đẹp quyến rũ, trong thế giới xa hoa trụy lạc này, tôi có thể làm bất cứ điều gì mình muốn. Tôi không có tình yêu, tôi không yêu người khác, người khác cũng chẳng yêu tôi. Mối quan hệ giữa tôi và đàn ông đều là tình dục, tình dục và tình dục, tràn ngập sự mạo hiểm và chiếm hữu. Đến một đêm, khi tôi trao thân cho ba người đàn ông rồi cuồng loạn đến tận sáng hôm sau, tôi bắt đầu cứ hễ nhìn thấy đàn ông là thấy buồn nôn. Sự buông thả tình dục mang lại cho tôi chính là sự chán ghét tình dục, từ đó tôi cạch mặt tình dục. Nhưng rồi sau đó lại thay đổi, tôi phát hiện ra một người phụ nữ chỉ khi sinh ra tình yêu không thể kìm nén, mới bước vào cuộc sống chân thực và đích thực, mới có được niềm vui thực sự, bao gồm cả niềm vui của sự giao hợp. Tôi đã có tình yêu, đến bản thân tôi cũng kinh ngạc vì mình lại có tình yêu. Không chắc anh ấy có yêu tôi không, thế nhưng tôi yêu anh ấy, giống như trong lòng vô tình rụng xuống một hạt giống, rất nhanh đã lớn thành một cái cây, xanh tươi tột cùng. Cảm giác ấy thật đáng sợ, đau đớn, nhưng lại có một thứ kiêu hãnh và dễ chịu khác lạ. Bạn kiêu hãnh vì mình có thể hy sinh tất cả vì người ấy, bạn có thể chết vì người ấy. Ồ, hóa ra tình yêu chính là muốn chết vì người ấy. Anh ấy là một cảnh sát. Chúng tôi quen nhau được ba năm, ba năm nay tôi không hề đụng đến một giọt rượu, cũng không qua lại với bất kỳ người đàn ông nào khác. Khi tôi tin tưởng một trăm phần trăm rằng anh ấy sẽ cưới tôi, anh ấy lại gầm lên với tôi một tiếng: 'Cút ra ngoài.' Lý do là anh ấy phát hiện em gái câm của tôi nghiện ma túy. Tôi cảm thấy đây không phải là lý do, em gái tôi là em gái tôi, tôi là tôi, đâu phải cô em gái câm đáng thương của tôi muốn lấy anh ấy. Tôi đòi anh ấy giải thích, anh ấy bảo 'một người như tôi cần kết hôn với kiểu người nào thì cô phải tự nghĩ lấy'. Tôi có thể làm gì đây? Một con kiến bất cứ lúc nào cũng có thể bị giẫm chết, một người phụ nữ sống chui lủi hèn nhát trong sự hoảng sợ bất an, làm sao có thể ngửa tay xin tình yêu từ một cảnh sát? Nếu không vì em gái câm không ai chăm sóc, tôi đã tự sát từ lâu rồi. Đúng lúc này tôi quen anh, anh là người đàn ông ưu tú nhất mà đời này tôi gặp nhưng cũng là người khiến tôi không dám yêu nhất, thế là ý niệm tự sát lại càng trào trĩu mãnh liệt hơn, mãnh liệt hơn."

Cô ấy không nói nữa, hoàng tử Hương Ba trầm mặc một lát rồi mới hỏi: "Có thể nói cho tôi biết người cảnh sát vứt bỏ em là ai không? Tôi có thể gọi điện thoại, giảng vài đạo lý về tình yêu cho anh ta nghe."

"Sao anh ta có thể nghe anh chứ?"

"Tôi có thể cho anh ta một loại thuốc, sau khi ăn vào anh ta sẽ yêu em trở lại, và vĩnh viễn không bao giờ vứt bỏ."

"Thuốc gì mà linh nghiệm vậy?"

"Tình ca Thương Ương Gia Thố."

Pưn Tso hét lên: "Đừng nói chuyện cổ tích cho tôi nghe, tôi không phải trẻ con."

“Phật tổ ở trên, tôi là thật lòng. Hay là thế này, chúng ta sút văng tên cảnh sát đó đi, nói chuyện giữa chúng ta đi. Em nói người ta không yêu em, lại còn nói tôi là người đàn ông ưu tú nhất, một người đàn ông ưu tú nhất mà em không dám yêu giờ đây đã bắt đầu yêu em rồi đây. Em nghe cho rõ, tôi không phải kẻ lừa đảo, tôi nói câu nào thật câu ấy. Chỉ cần em từ bỏ ý định tự sát, em muốn tôi thế nào tôi sẽ thế ấy. Chúng ta quen nhau được hai tháng rồi nhỉ? Không ngắn đâu, đủ để nảy sinh tình yêu rồi.”

“Anh chẳng qua chỉ muốn cứu tôi, đợi tôi không tự sát nữa, anh sẽ hết yêu. Cho nên tôi nhất định phải tự sát, mang theo lời hứa yêu tôi của anh, nhảy xuống từ nơi này. Tòa nhà ba mươi sáu tầng không cao lắm đâu, từ lúc nhảy xuống cho đến khi chết, chắc chỉ mười mấy giây thôi nhỉ, hay thật, thể xác tan thành mảnh vụn, linh hồn xuất vỏ.”

“Hóa ra em tin là có linh hồn, linh hồn của em đang thiếu đi một chủ tể.”

“Tôi không tin, không tin trên đời này có thần linh, không tin quả báo, không tin Phật có ích lợi gì với chúng ta, thậm chí tôi còn không tin con người ta có thể có một tinh thần tách biệt khỏi thể xác.”

“Vậy em có tin tôi không? Tin tôi có thể khiến em tin Phật không?”

“Anh có thể khiến tôi tin Phật? Lúc nào, ngay bây giờ á?”

“Sắp rồi, đợi tôi mở 'Cửa Thất Độ Mẫu' ra, em sẽ tin.”

“Tại sao? 'Cửa Thất Độ Mẫu' là cái gì?”

“Ánh sáng Phật, ánh sáng Phật có thể khiến người khác yêu em, cũng có thể khiến em yêu người khác.”

Pưn Tso khinh miệt nói: “Lại là Phật, Phật vốn dĩ chưa từng giải quyết vấn đề gì cả, gặp phải người không muốn chết, ngài bảo hay lắm, mau kết thúc cuộc đời đau khổ này đi, chết rồi để chuyển thế. Gặp phải người đói khát, ngài bảo kiếp này đói khát là vì kiếp trước không tích đức, mau đi làm việc thiện đi. Gặp phải kẻ khác bắt nạt mình, ngài bảo chịu thiệt là phúc đấy, lấy ân báo oán đi. Cuối cùng người không muốn chết vẫn chết, kẻ đói khát vẫn cứ đói khát, người chịu thiệt vẫn hoàn chịu thiệt. Đặc biệt là khi gặp chiến tranh, động đất, lũ lụt, người chết nhiều như vậy, Phật ở đâu?”

“Đó là vì lòng người không hướng Phật, hơn nữa là vì...”

“Đừng nói nữa, tôi không muốn nghe.”

“Lời này em bắt buộc phải nghe, em chết rồi thì em gái câm của em sống thế nào?”

“Mặc kệ nó, muốn quản cũng không quản nổi nữa, nó vẫn đang nghiện ma túy, vốn là do tôi lây cho nó, tôi cai được rồi, nó thì không tài nào cai nổi. Tiền tôi kiếm được đều để cho nó nướng vào đó hết, vẫn không đủ, còn phải bán cả trang sức, quần áo và mọi thứ có giá trị, còn phải đi ăn cắp. Tôi hết cách với nó rồi. Có lẽ tôi chết đi thì tốt hơn, tôi từng đi xem bói rồi, người ta nói kết cục của nó nhất định sẽ tốt hơn tôi.”

“Em chẳng qua chỉ đang tìm cho mình một cái cớ để từ bỏ em gái câm mà thôi.”

“Tôi đã mua bảo hiểm nhân thọ, tôi chết rồi, em gái câm sẽ có tiền.”

“Nó cầm tiền rồi lại đi mua ma túy thì em tính sao?”

“Tôi sống còn chẳng có cách nào, chết rồi thì còn tính thế nào được nữa?”

Pưn Tso nói xong liền dứt khoát cúp máy. Hoàng tử Hương Ba gọi lại lần nữa, cô không bắt máy, khiến anh sốt ruột dùng điện thoại đập mạnh vào đầu mình: Phải làm sao đây? Phải làm sao đây? Pưn Tso sắp chết rồi thì phải làm sao đây?

Mai Tát cười nhạo: "Cô ta tự sát gì chứ, chẳng qua chỉ mượn chuyện tự sát để yêu đương với anh thôi."

Hoàng tử Hương Ba lớn tiếng nói: "Đã Pưn Tso dùng cả sinh mạng để yêu đương, vậy thì lại càng không thể không yêu. Dừng lại, dừng lại."

"Dừng lại để làm gì? Anh không khai quật phục tàng nữa à?" Mai Tát nói rồi đưa phần "Văn tự thấu quang" đã được dịch cho anh, "Xem nhanh đi, rốt cuộc là thứ gì."

Hoàng tử Hương Ba ôm "Văn tự thấu quang" mà một chữ cũng không tài nào đọc lọt vào đầu, trong đầu cứ hiện lên hình ảnh Pưn Tso: "Là cảnh sát đã vứt bỏ cô ấy, cô ấy vì cảnh sát mới tự sát, giá mà tôi biết viên cảnh sát đó là ai thì tốt quá." Anh lập tức gửi một tin nhắn cho Pưn Tso: Viên cảnh sát đó là ai? Ai? Ai? Ai? Ai? Ai?

Hoàng tử Hương Ba biết Pưn Tso sẽ không trả lời, bèn ném điện thoại và "Văn tự thấu quang" lên ghế, hai tay ôm lấy đầu. Thế nhưng điện thoại reo lên, là tiếng tin nhắn đến.

Pưn Tso nói: Có nên nói cho anh biết không? Để tôi suy nghĩ đã.

Điều này có nghĩa là vẫn còn thời gian, còn thời gian là còn hy vọng, anh lập tức nhắn lại: Cứ thong thả suy nghĩ, tôi không ăn không uống chờ em.

2

Một tiếng sau, chiếc Wrangler đã đến trấn Đa Ba. Trấn Đa Ba là trạm dừng chân bắt buộc trên tuyến quốc lộ Thanh - Tạng, đi về phía đông ba mươi kilômét là Tây Ninh, đi về phía tây chính là một số nơi hùng vĩ phóng khoáng: huyện Hoàng Nguyên, núi Nhật Nguyệt, Thanh Hải Hồ, Sái Đàm, núi Côn Lôn. Khi chiếc Wrangler chạy về phía tây qua cổng của Cơ sở huấn luyện thể thao cao nguyên quốc gia, hoàng tử Hương Ba ngẩn ngơ xem "Văn tự thấu quang" của chùa Tháp Nhĩ đã được dịch. Lần này anh đã đọc lọt vào trong, thần sắc đờ đẫn, tròng mắt trợn trừng, tư duy sâu thẳm trong lịch sử liên kết xâu chuỗi lại, có thể tìm thấy bóng dáng Thương Ương Gia Thố vắt vẻo qua lại trong dòng thời gian tựa nước chảy.

Trí Mỹ bật nhạc: 《Hoài niệm đại sư Ban Thiền》. Anh ta vẫn giữ thái độ hờ hững trước "Văn tự thấu quang" như mọi khi, dường như anh ta đã quen với việc này: Khi người khác thể hiện sự khôn ngoan, anh ta thể hiện sự ngu ngốc, khi người khác thể hiện sự hứng thú, anh ta thể hiện sự vô vị. Nhưng anh ta không thực sự ngu ngốc và vô vị, một khi người khác phớt lờ anh ta, sự khôn ngoan và hứng thú của anh ta sẽ bất ngờ bùng nổ.

Hoàng tử Hương Ba nói: "Hình thức của 'Văn tự thấu quang' chùa Tháp Nhĩ cũng giống như phần trước, thoạt đầu là tình ca Thương Ương Gia Thố mang tính 'thọ ký', sau đó là 'chỉ nam'."

Mai Tát nói: "Cái này không cần anh nói."

"Không cần tôi nói, vậy thì tôi hát." Hình như tình ca trong "Văn tự thấu quang" chùa Tháp Nhĩ đặc biệt trữ tình, hoàng tử Hương Ba nhắm mắt lại, lắc lư cái đầu hát lên:

"Chữ đen viết trên giấy,

Mưa thấm rồi mờ phai,

Tình ý viết trong tim,

Xóa thế nào cũng không trôi.

Con dấu in trên giấy,

Chẳng cất lời tâm sự,

Xin hãy đóng con dấu tình ái,

Lên trái tim của mỗi người."

Hoàng tử Hương Ba mở mắt ra, dán mắt vào bụng Mai Tát rồi nói: "Đây là hai đoạn của một bài tình ca, lý do duy nhất sinh ra bài tình ca này chính là Ma Cát A Mễ mang thai."

Mai Tát nói: "Ma Cát A Mễ mang thai?"

Rất nhiều người tôn sùng Thương Ương Gia Thố sẽ bị sốc trước lời nói của tôi, Ma Cát A Mễ vậy mà lại mang thai, bởi vì trong mắt họ, Thương Ương Gia Thố là một người theo chủ nghĩa thuần tình, tình ái của ngài chẳng liên quan gì đến việc nối dõi tông đường, giống như người ta vẫn nói: "Chẳng có phụ nữ bầu bạn, từ trước tới nay chưa từng ngủm; tuy có phụ nữ bầu bạn, từ trước tới nay chưa từng vấy bẩn."

Nhưng tôi phải nói rằng, Ma Cát A Mễ quả thực đã mang thai, "con dấu" chính là bằng chứng, tôi đã phỏng vấn được một bài dân ca cổ ở Môn Ngung: "Ngựa đực bảo ngựa cái, ngựa con chính là con dấu của anh." Thanh niên Môn Ngung Thương Ương Gia Thố biết rõ, ngài đã để lại con dấu của mình cho Ma Cát A Mễ. Cho nên sau khi Ma Cát A Mễ mất tích, ngài đã hết lần này đến lần khác nói với Nhiếp chính vương Tang Kết rằng, nếu không phải bị cưỡng ép bắt cóc, vào lúc này Ma Cát A Mễ tuyệt đối sẽ không rời xa ngài. "Vào lúc này" chính là thời điểm mang thai. Nhưng điều tôi muốn nói không phải bản thân việc mang thai, mà là nguyên nhân Ma Cát A Mễ mất tích, nguyên nhân duy nhất chính là mang thai.

Thương Ương Gia Thố cố gắng duy trì tình yêu thuần khiết chung thủy với Ma Cát A Mễ, thực chất là tự đẩy mình vào một cái bẫy khổng lồ. Những ánh mắt xa gần, rất nhiều rất nhiều, công khai hay lén lút nhìn chằm chằm vào ngài, cũng nhìn chằm chằm vào Ma Cát A Mễ. Bọn họ quan sát sự thay đổi vóc dáng của cô ấy còn tỉ mỉ hơn cả Thương Ương Gia Thố, hơn cả chính bản thân cô ấy. Lại bắt đầu đặt cược, các thế lực chính trị và thế lực tôn giáo khác nhau đã đặt cược toàn bộ vận mệnh Tây Tạng lên cái bụng đang nhô lên của Ma Cát A Mễ.

Về phía Nhiếp chính vương Tang Kết, ông ta có thể dung túng cho sự phóng túng của Thương Ương Gia Thố, nhưng tuyệt đối không cho phép ngài có ý định sánh đôi gắn bó với bất kỳ người phụ nữ nào, đặc biệt không thể dung thứ việc Ma Cát A Mễ mang thai. Trong mắt ông ta, sở dĩ phái Tát Gia, phái Cát Cử, phái Ninh Ma dần dà suy tàn, không thể sánh ngang với phái Cách Lỗ để trở thành giáo phái uy quyền trên toàn cọc Tây Tạng, chính là vì ba phái này giữ giới không nghiêm, cho phép Tăng nhân lấy vợ sinh con. Hay nói cách khác, chính bầu không khí Mật tông thiên về song tu nam nữ đã dẫn đến sự suy tàn của phái Tát Gia, Cát Cử, Ninh Ma. Mà chìa khóa cho sự hưng thịnh của phái Cách Lỗ nằm ở chỗ, nó từ chối sự quan tâm của Tăng nhân đối với phụ nữ, cho dù là tu luyện Mật đạo bắt buộc phải có bạn tu nữ, thì giáo truyền tối cao vô vọng cũng yêu cầu người tu luyện phải loại bỏ dục vọng tính giao, cấm tiệt bất kỳ dấu vết nào do sự kết hợp giữa tinh dịch và trứng để lại. Tinh dịch là gốc rễ của chuyển thế, tu luyện Mật tông chính là phải biến tinh dịch thành tinh thần bất diệt và linh thức bay lượn, tìm kiếm chốn an trú trong hư không bao la, bước vào cõi trời hoặc leo lên núi Tu Di. Nếu còn muốn phát Bồ đề tâm giáo hóa chúng sinh, thì phải tìm được chỗ dựa để nương náu, tức là thân xác phàm trần, đây chính là chuyển thế. Nhưng nếu Thương Ương Gia Thố có hậu duệ biến từ tinh dịch, thì hậu duệ đó chính là linh đồng, là chuyển thế đích thực, nó sẽ phủ nhận tất cả các linh đồng được chọn từ nơi khác và bất kỳ sự chuyển thế nào từ nơi khác, điều này chẳng khác nào sự truyền thừa và cơ chế quyền lực của Đạt Lai Lạt Ma, từ chế độ chuyển thế biến thành chế độ thế tập. Mà Phật gia thế tập, trong lời huấn của tổ tông phái Cách Lỗ Tông Khách Ba, suýt chút nữa chính là từ đồng nghĩa với sự diệt vong của giáo phái. Cho nên cấm tuyệt kết hôn sinh con, nghiêm ngặt truyền thừa chuyển thế, đây là mạch sống của phái Cách Lỗ. Xuất phát từ lý do này, Thương Ương Gia Thố đương nhiên có thể cho rằng sự mất tích của Ma Cát A Mễ có liên quan đến Nhiếp chính vương Tang Kết.

Nhưng điều Thương Ương Gia Thố không biết là, Mật đạo vô hình của "Điện huyết chú người ẩn thân" đã nắm được một số thông tin như sau: Thủ lĩnh bộ lạc Mông Cổ Chuẩn Nhĩ ở Tân Cương xa xôi là Sách Vượng A Lạp Bố Thản quyết định bảo vệ Ma Cát A Mễ, mục đích là dùng cô ấy làm mồi nhử, để Thương Ương Gia Thố xích lại gần mình, từ đó xâm nhập Tây Tạng, Ma Cát A Mễ rất có thể đã bị mật thám Chuẩn Nhĩ ẩn nấp ở Lhasa kiểm soát và nuôi dưỡng rồi. Trong khi đó, thủ lĩnh bộ lạc Mông Cổ Hòa Thạc Đặc đóng quân ở Tây Tạng là Đạt Lai Hãn và con trai út của ông ta là Lạp Tạng Hãn, lại hướng sự chú ý vào đứa con sắp ra đời của Ma Cát A Mễ. Giống như lo lắng của Nhiếp chính vương Tang Kết, họ cho rằng con của Đạt Lai cũng là Đạt Lai, Đạt Lai có thể chuyển thế, càng có thể thế tập. Cùng lúc đứa trẻ ra đời, giết chết Thương Ương Gia Thố, Đạt Lai thế tập tự nhiên sẽ nằm trong tầm kiểm soát của bọn họ. Cho nên bọn họ có khả năng bắt cóc Ma Cát A Mễ hơn. Ngoài ra, tổng quản lớn của pháp vương phái Tát Gia là Bát Tư Vượng Thu cũng muốn lợi dụng Ma Cát A Mễ, ông ta mang thái độ xúi giục trông chờ,hạnh tai nhạc họa (hạnh tai lạc họa) đối với việc mang thai của Ma Cát A Mễ: Phái Cách Lỗ các người chẳng phải giữ giới thanh tịnh, siêu phàm thoát tục sao? Bây giờ lãnh tụ của các người đến cả con cũng sinh ra rồi, các người có điểm nào khác biệt với phái Tát Gia chúng ta chứ? Quan trọng hơn là, ông ta muốn nói với toàn thể tín đồ phái Tát Gia ở Tây Tạng và các bộ tộc Mông Cổ: Phái Tát Gia kiên trì chế độ thế tập lại có khả năng quật khởi trở lại. Còn nhân vật máu mặt của phái Cát Ma Cát Cử là Cát Ma Châu Cổ, lại ôm mục đích trực tiếp hơn, ông ta hy vọng nắm được thóp của Thương Ương Gia Thố từ việc mang thai của Ma Cát A Mễ, để phế truất ngài, từ đó có cơ hội tung ra linh đồng chuyển thế trong giáo phái của chính mình, nhét vào phái Cách Lỗ giống như trộn cát vào, cải tạo, kiểm soát hoặc thay thế phái Cách Lỗ. Bọn họ, Bát Tư Vượng Thu và Cát Ma Châu Cổ, đều có khả năng bắt cóc Ma Cát A Mễ dưới danh nghĩa bảo vệ. Còn phái Ninh Ma thì lại càng có khả năng cất giấu Ma Cát A Mễ đang đối mặt với nguy hiểm đi. Giáo phái dân gian cổ xưa nhất Tây Tạng nhưng chưa từng giành được chính quyền này, đang chờ đợi một cơ hội ngàn năm có một, để toàn thể tín đồ phái Ninh Ma có thể tự hào mà nói rằng: Lãnh tụ của phái Cách Lỗ là người của chúng ta, minh phi của lãnh tụ cũng là người của chúng ta, đứa con của lãnh tụ và minh phi lại càng là người của chúng ta.

Nhiếp chính vương Tang Kết phái binh Tạng đi khắp nơi ở Lhasa tìm kiếm người phụ nữ mang thai nhưng không có kết quả, mệnh lệnh được truyền xuống, tất cả các đường hiểm yếu, cửa ải, trang viên, tông bản đều phải kiểm tra nghiêm ngặt. Động thái này dường như cho thấy, cho dù Nhiếp chính vương có liên quan đến sự mất tích của Ma Cát A Mễ, thì đó cũng là sau đó chứ không phải trước đó. Mật đạo vô hình của "Điện huyết chú người ẩn thân" cho thấy ít nhất có mười ba phụ nữ mang thai chết dưới tay binh Tạng, cho thấy việc lùng sục kiểm tra lúc bấy giờ đã đạt đến mức độ điên cuồng tàn sát cả người vô tội. Tháng sáu, là tháng Ma Cát A Mễ dự sinh, Nhiếp chính vương triệu kiến Đại hộ pháp Nãi Quỳnh nói: "Nhiều năm trôi qua như vậy, chúng ta vẫn không biết ai là kẻ thù của chính giáo, là khắc tinh của phái Cách Lỗ, là kẻ bội thề bước vào âm mưu. Nhưng bây giờ có thể khẳng định kẻ bội thề đã giấu sức mạnh hủy diệt Phật giáo cường đại vào trong bụng người phụ nữ, cái chết của phái đoàn bảy người không phải là sự kết hạn của thù hận mà là sự khởi đầu, ta đã linh cảm được nguy cơ, nguy cơ rồi. Xin ngài hãy nhanh chóng cầu xin thần linh giáng chỉ, Ma Cát A Mễ ở đâu, đứa con của cô ấy ở đâu?" Kết quả giáng thần không ai hay biết, sự sống chết của Ma Cát A Mễ và đứa con của cô ấy lại càng không ai hay biết, Nhiếp chính vương Tang Kết đã thu thập được thông tin như vậy từ mật đạo vô hình của "Điện huyết chú người ẩn thân":

"Mật thám Chuẩn Nhĩ đang bí mật thăm dò Ma Cát A Mễ trên đường phố Lhasa;

Tướng quân Hòa Thạc Đặc Lạp Tạng Hãn dẫn các kỵ sĩ đến Tạng Nam tìm kiếm Ma Cát A Mễ;

Bát Tư Vượng Thu của phái Tát Gia chiêm bái chùa Đại Chiêu, thăm dò tin tức về Ma Cát A Mễ;

Cát Ma Châu Cổ của phái Cát Ma Cát Cử bước vào chùa Xếp La, lớn tiếng hô lớn Ma Cát A Mễ;

Lãnh đạo phái Ninh Ma Cửu Mễ Đa Tiệp hẹn hò Tiêu Thu Đan, dò hỏi về Ma Cát A Mễ."

Dường như tất cả các thế lực chính trị và tôn giáo đều không tìm được Ma Cát A Mễ, nếu không thì sao vẫn đang tìm kiếm? Lại giống như che giấu tai mắt người đời — đã có một thế lực cướp được Ma Cát A Mễ và đứa con của cô ấy nhưng vẫn đang giả vờ tìm kiếm, thế nhưng đó là thế lực nào? Không kịp tìm hiểu cho ra lẽ, Đạt Lai Lạt Ma đời thứ sáu Thương Ương Gia Thố đã rời cung bỏ trốn.

"Ngay khi Ma Cát A Mễ mất tích, Thương Ương Gia Thố liền bãi công, không học kinh tụng kinh, không lễ Phật niệm Phật, tâm trạng rơi xuống vực sâu. Giống như con ngựa bị thương trong bóng tối, trong tiếng chạy trốn không biết phương hướng mà tạo ra những vết thương rỉ máu. Bỏ trốn là lựa chọn duy nhất. Trốn đi đâu? Nơi nào cũng xa lạ, nơi nào cũng có kẻ thù. Chỉ có quê hương Môn Ngung Thố Na mới có những ngôi làng quen thuộc, ký ức ấm áp — quê hương của ngài, quê hương của Ma Cát A Mễ, Thố Na, Thố Na, Thức Hạ, Thức Hạ, dòng suối trong ngọn núi lớn, rừng cây thảo nguyên trong giấc mộng. Thế nhưng ngài đã bị ngăn lại. Thị vệ lạt ma Đỉnh Khâm phi báo Nhiếp chính vương Tang Kết, Tang Kết đích thân dẫn người chặn ngài lại bên bờ sông Lhasa. Tất cả đều quỳ rạp xuống: 'Tôn giả, ngài không thể làm thế.' Thương Ương Gia Thố nước mắt đầm đìa, cất giọng cô tịch bi thương hô lớn: 'Ta tại sao lại không thể làm thế? Ta đến người phụ nữ của mình còn bảo vệ không nổi, ta còn ở lại vị trí Đạt Lai Lạt Ma để làm gì? Ma Cát A Mễ, Ma Cát A Mễ.'"

Trên đường được thỉnh về cung Potala, Thương Ương Gia Thố vừa khóc vừa hát:

"Sương đọng trên ngọn cỏ,

Gió lạnh buốt sắc bén,

Tại sao, tại sao,

Lại chia rẽ loài ong và đóa hoa."

Hết bài này đến bài khác, nỗi bi thương ai oán ấy bay lượn theo cơn gió hoang, toàn bộ Tây Tạng đều gào thét xót xa:

"Bão giông trên vách đá,

Hủy diệt chiếc lông đại bàng,

Những kẻ quỷ quyệt giả nhân giả nghĩa đó,

Khiến ta tiêu tụy héo mòn."

Tiếng hát của Thương Ương Gia Thố vừa là lời nguyền rủa vừa là tiên tri, thủ lĩnh bộ lạc Mông Cổ Hòa Thạc Đặc đóng quân ở Tây Tạng là Đạt Lai Hãn đột ngột qua đời, con trai út của ông ta là Lạp Tạng Hãn lên kế vị. Việc đầu tiên sau khi Lạp Tạng Hãn lên kế vị, chính là công khai tuyên bố Thương Ương Gia Thố phong lưu phóng túng là Đạt Lai giả, bộ lạc Hòa Thạc Đặc không thừa nhận. Thương Ương Gia Thố biết chuyện thì chỉ cười lạnh, thầm nghĩ ngươi không thừa nhận thì càng hay, vị Đạt Lai Lạt Ma này ta còn chẳng thèm làm nữa là, cái ta muốn là tự do, là Ma Cát A Mễ. Ta muốn đi tìm Ma Cát A Mễ, dù là chân trời góc bể.

Nhiếp chính vương Tang Kết lập tức nhận thức được rằng, tình yêu của Thương Ương Gia Thố và việc mang thai của Ma Cát A Mễ đã trở thành vũ khí sắc bén để kẻ thù chính trị tấn công, thứ uy hiếp địa vị của Nhiếp chính vương và sự thống trị của phái Cách Lỗ không chỉ có các thế lực thù địch, mà còn có chính lãnh tụ của phái Cách Lỗ. Tang Kết biết hành động tiếp theo của Lạp Tạng Hãn: Một là bẩm báo triều đình đủ loại hành vi hoang đàng kỳ quái của cái gọi là Đạt Lai giả, hai là liên minh với các thế lực các phái, mở rộng phạm vi không thừa nhận. Mà ông ta với tư cách là người tôn lập Đạt Lai Lạt Ma đời thứ sáu đáng tin cậy nhất, việc đầu tiên phải làm chính là quản giáo nghiêm ngặt Thương Ương Gia Thố, nhanh chóng bồi dưỡng ra những cử chỉ mẫu mực phù hợp với đạo đức giáo quy ở vị Đạt Lai mới này để bịt miệng kẻ thù chính trị. Vì thế ông ta sắp xếp cho Thương Ương Gia Thố đi đến chùa Tả Thập Luân Bố ở Nhật Khách Tắc phía Hậu Tạng, thọ Tỳ-kheo giới trước mặt đại sư Ban Thiền. Nhiếp chính vương đích thân đi cùng.

"Tỳ-kheo giới có hai trăm năm mươi ba điều, điều nào cũng là kim chỉ nam của tăng nhân thọ giới. Thương Ương Gia Thố hỏi Nhiếp chính vương Tang Kết: 'Thọ Tỳ-kheo giới rồi, liệu tôi còn có sự tự do của mình không?' Nhiếp chính vương biết ngài đang ám chỉ sự tự do tình yêu, bèn kiên quyết dứt khoát nói: 'Không thể.' Thương Ương Gia Thố lại hỏi: 'Nếu tôi không thọ giới thì sao?' Nhiếp chính vương tức giận nói: 'Đâu có chuyện Đạt Lai Lạt Ma mà không thọ giới.' Thương Ương Gia Thố trầm mặc không nói. Cuối đoạn đường xóc nảy nửa tháng cũng kết thúc, ngôi chùa Tả Tháp Luân Bố huy hoàng hiện ra trước mắt. Sau nghi lễ chào đón long trọng, Thương Ương Gia Thố được sắp xếp nghỉ ngơi tại tẩm cung Kiên Tán Đoàn Bố. Ngày hôm sau, Thương Ương Gia Thố đến điện Nhật Quang, yết kiến vị sư phụ từng cạo tóc thọ giới (Sa-di giới) cho mình ở Lãng Khắc Tử, hóa thân của Phật Vô Lượng Quang - Ban Thiền Ngạch Nhĩ Đa Ni Ngạch Lễ Địch Lạp Lạng Ích Hỉ. Đại sư Ban Thiền đề nghị Thương Ương Gia Thố giảng kinh cho toàn thể tăng chúng tại Đại kinh đường, Thương Ương Gia Thố dứt khoát từ chối; lại nhắc đến việc thọ Tỳ-kheo giới, Thương Ương Gia Thố nói: 'Tôi không thọ Tỳ-kheo giới.' Lại nói thêm, 'Vi phạm ý chỉ của thượng sư, thật sự hổ thẹn.' Nói liền mấy lần. Đại sư Ban Thiền còn muốn khuyên nhủ, Thương Ương Gia Thố dứt khoát đứng dậy, bước ra khỏi điện Nhật Quang. Ngài ngẩng đầu nhìn bầu trời, tựa như ngọn núi lửa bị kìm nén lâu ngày bất ngờ bùng nổ, 'phịch' một tiếng quỳ sụp xuống, dập đầu ba cái trước đại sư Ban Thiền, rồi khóc lóc nói: 'Bộ pháp y ngài cho tôi, tôi trả lại cho ngài, Sa-di giới ngài ban cho tôi, tôi cũng trả lại cho ngài, vị trí Đạt Lai tôi không ngồi nữa, chiếc mão giáo chủ tôi không đội nữa, tôi là một người Môn Ngung tự do, tôi không muốn thành Phật, tôi chỉ cần Ma Cát A Mễ.' Nói xong, lau nước mắt đứng dậy. Cảnh tượng này chấn động tâm can biết bao, khiến Nhiếp chính vương Tang Kết và tất cả các Phật gia lạt ma có mặt ở đó đều như đang đối mặt với sự oanh tạc của sấm sét. Ngũ đại Ban Thiền sau đó trong cuốn tự truyện 《Nguyệt độ phẩm hạnh minh tích》 của mình đã nói rằng: Thương Ương Gia Thố 'cứ nói thay phiên những lời đó rồi nghênh ngang bỏ đi, khiến tôi đành chịu bó tay hết cách. Trong những ngày sau đó, tôi nhiều lần dâng biểu, trần tình tha thiết, nhưng hoàn toàn vô hiệu. Ngài ngược lại còn nói, nếu không thể trả lại Sa-di giới đã thụ trước đó, tôi sẽ hướng mặt về chùa Tả Tháp Luân Bố mà tự sát. Nhận lại Sa-di giới, hoặc để tôi tự sát, trong hai con đường hãy chọn một, xin hãy nói cho tôi biết rõ ràng. Cứ thế, ngài đã vứt bỏ Tỳ-kheo giới chưa thụ và Sa-di giới đã thụ một cách không tài nào ngăn cản nổi. Cuối cùng, mọi người đứng đầu là tôi đều cầu xin ngài đừng thay thường phục, mà hãy mang giới cận sự nam để thọ Tỳ-kheo giới, rồi lại chuyển bánh xe pháp, nhưng cuối cùng vẫn vô hiệu.'»

“Thương Ương Gia Thố với nỗi buồn vô hạn nặng nề, lang thang khắp vùng núi non Nhật Khách Tắc hơn mười ngày, rồi mang theo nỗi nhớ nhung không thể kìm nén, bước về phía Lhasa.”

“Vùng ngoại ô Lhasa, có một đám phụ nữ đang chờ đợi Thương Ương Gia Thố. Không biết ai đã làm lộ tin tức, bọn họ vậy mà lại biết hôm nay vào lúc mặt trời lên giữa đỉnh đầu, Đạt Lai Lạt Ma đời thứ sáu sẽ đi qua đây. Một đám phụ nữ, đều là những người phụ nữ mất con, những đứa con mới sinh cách đó không lâu của họ đều bị người ta cướp đi một cách khó hiểu, là ai? Là ai? Những người phụ nữ đang hỏi, Thương Ương Gia Thố cũng đang hỏi: Ai đã cướp mất đứa trẻ? Bọn họ phủ phục dưới đất, tranh nhau hôn đôi ủng của Thương Ương Gia Thố. Thương Ương Gia Thố tuôn rơi nước mắt, đem hết khả năng sờ đỉnh ban phước cho họ. Ngài nghĩ, chỉ vì ta không có hạnh phúc, mà bao nhiêu người phải cùng ta mất đi hạnh phúc, chỉ vì ta muốn có được tình yêu, mà bao nhiêu người rơi vào vực thẳm khổ đau. Ta ơi ta, ta không phải Đạt Lai Lạt Ma, ta là tội nhân, tội nhân. Nhiếp chính vương Tang Kết bước tới nhỏ giọng nài nỉ: 'Đây đều là thần dân của ngài, ngài xem họ đáng thương biết bao, hãy làm một vị Đạt Lai tốt, giúp họ vượt qua bể khổ đi.' Thương Ương Gia Thố hỏi: 'Tại sao lại cướp đi đứa con của họ? Ai đã đẩy họ rơi vào bể khổ?' Tang Kết nói: 'Không phải tôi, là bọn chúng.' Thương Ương Gia Thố lại hỏi: 'Bọn chúng là ai nghiến răng nghiến lợi nói: 'Khắc tinh của phái Cách Lỗ, những kẻ bội thề mưu đồ hủy diệt chính giáo và Tây Tạng.' Trên mặt Thương Ương Gia Thố lướt qua một tia u ám, mím môi nói: 'Không, là ta, chính ta đã mang bất hạnh đến cho Tây Tạng.' Nói xong, ngài cúi người rút một con dao Tạng từ eo của một người phụ nữ hốc hác, cầm ngược trong tay, đâm thẳng một nhát vào tim mình.”

“Ái chà.” Mai Tát toàn thân run lên, hét lên, “Thương Ương Gia Thố tự sát rồi ư?”

Hoàng tử Hương Ba không nói nữa, châm một điếu thuốc hút.

3

Mãi một lúc sau, hoàng tử Hương Ba mới thở dài một hơi, đầy cảm thán nói: "Đây chính là Thương Ương Gia Thố, ca vương tình thánh của chúng ta. Đây chính là câu chuyện đứng đằng sau 'Tình ý viết trong tim, xóa thế nào cũng không trôi', 'Xin hãy đóng con dấu tình ái, lên trái tim của mỗi người'. Sở dĩ 'Văn tự thấu quang' 'thọ ký' tình ca Thương Ương Gia Thố, chắc chắn là để chúng ta biết được bối cảnh sinh ra tình ca Thương Ương Gia Thố, và tìm thấy sự tương ứng với ngày hôm nay cũng như nhu cầu của chúng ta từ những bối cảnh đó. Nhu cầu của chúng ta chính là 'thọ ký', chính là muốn từ đó biết được 'Cửa Thất Độ Mẫu' rốt cuộc ở đâu, vậy thì sự tương ứng của ngày hôm nay, rốt cuộc là gì?"

Mai Tát trừng mắt nhìn hoàng tử Hương Ba, đột ngột quay đầu đi: "Anh nói xem?"

"Ma Cát A Mễ mang thai và rất có thể đã sinh nở suôn sẻ, các thế lực khác nhau đều hành động, có người muốn giết cô ấy và đứa trẻ, có người muốn lợi dụng cô ấy và đứa trẻ. Nếu lúc đó không đạt được mục đích, mục đích này sẽ kéo dài đến tận ngày nay."

"Ý anh là hôm nay vẫn có người muốn giết cô ấy và đứa trẻ? Ma Cát A Mễ và đứa con của cô ấy sớm đã không còn trên cõi đời này nữa rồi."

"Chẳng lẽ không có sự nối tiếp sao? Kể từ khi khai quật phục tàng 'Cửa Thất Độ Mẫu', đã xuất hiện Ma Cát A Mễ, Cơ Cơ Bố Xích, Nhân Tăng Vượng Mẫu, Y Trác Lạp Mụ, bọn họ đều là sự tiếp nối của những người tình Thương Ương Gia Thố, ngoại trừ Ma Cát A Mễ, ba vị kia đều đã bị sát hại. Bị sát hại vẫn đang tiếp diễn, chứng tỏ nguyên nhân bị sát hại cũng đang tiếp diễn."

Mai Tát nghiêng mặt nói: "Ý anh là mật đạo vô hình của 'Điện huyết chú người ẩn thân' vẫn tồn tại, cái này tôi biết. Nhưng thủ lĩnh bộ lạc Mông Cổ Chuẩn Nhĩ Sách Vượng A Lạp Bố Thản, thủ lĩnh bộ lạc Mông Cổ Hòa Thạc Đặc Lạp Tạng Hãn, Bát Tư Vượng Thu của phái Tát Gia, Cát Ma Châu Cổ của phái Cát Ma Cát Cử, Cửu Mễ Đa Tiệp của phái Ninh Ma đâu, chẳng lẽ bọn họ cũng vẫn tồn tại?"

Hoàng tử Hương Ba dừng lại một lúc rồi nói: "Bọn họ có lẽ tồn tại, có lẽ không tồn tại, nhưng có thể khẳng định ý đồ của bọn họ là bất diệt, nguyên nhân lợi dụng, sát hại và bảo vệ Ma Cát A Mễ cùng đứa con của cô ấy là bất diệt. Nguyên nhân lịch sử rất có thể dẫn đến kết quả thực tế. Điều tôi nghĩ đến là Lạt ma Ogyen, ông ta đoan chắc 'Cửa Thất Độ Mẫu' tức di ngôn của Thương Ương Gia Thố là chén nước đắng được hắt ra, là lời nguyền rủa và kiện cáo đối với Phật giáo, thấu hiểu rằng chỉ cần mở 'Cửa Thất Độ Mẫu', nhất định sẽ rước lấy sự ngăn cản của 'Điện huyết chú người ẩn thân'. Mà ngăn cản ắt phải là bạo lực, điều này có vẻ chính là mục đích của ông ta. Ông ta coi 'Điện huyết chú người ẩn thân' như một thứ vũ khí tạo ra vụ án mạng động trời thậm chí là động đất, chiến lược chính là bốn chữ: Lấy Phật diệt Phật."

Trí Mỹ đột nhiên nói: "Anh phân tích không tồi, Lạt ma Ogyen chẳng phải rất cao tay sao? Thương Ương Gia Thố là Phật, 'Điện huyết chú người ẩn thân' cũng là Phật, người trước dùng tình ái tràn lan để phủ nhận Phật giáo, người sau dùng bạo lực đẫm máu để phủ nhận Phật giáo. Giống như một người dùng một con dao chĩa vào lồng ngực mình, dùng con dao khác chĩa vào tim phổi mình. Phật giáo chết chắc rồi, Phật giáo là tự sát, thì liên quan gì đến Lạt ma Ogyen chứ?"

"Đáng tiếc là, bây giờ là tôi - hoàng tử Hương Ba đang khai quật 'Cửa Thất Độ Mẫu', chứ không phải anh. Tôi chưa từng nghi ngờ Thương Ương Gia Thố dù chỉ một ngày, tức là chưa từng nghi ngờ sự chí thượng của tình yêu. Ở chỗ Thương Ương Gia Thố, không có gì quan trọng hơn tình yêu, địa vị của Đạt Lai, vinh hoa phú quý, quyền lực của Tây Tạng, sức ảnh hưởng đối với phần lớn Trung Quốc như Mông, Tạng, Cam, Thanh, Điền, Tứ Xuyên, vận mệnh trường tồn bất tử nhờ chuyển thế, cũng như sinh mệnh, sự sinh tồn, cuộc sống v.v..., tất cả đều là cát bụi đãi ra, chỉ có tình yêu mới là vàng, mới là nhu cầu thực sự và sự bất tử thực sự. Thương Ương Gia Thố là Phật, Phật nói với chúng ta rằng, tình yêu chính là tín ngưỡng, chính là tôn giáo, chính là sinh mệnh."

Trí Mỹ cười "hè hè", lớn tiếng nói: "Thích Ca Mâu Ni ơi, mau đến trừng phạt những tên đồ tử đồ tôn của tà thuyết dị đoan đi, để chúng ta xem Lạt ma Ogyen tuyên bố sự chiến thắng của liên minh tín ngưỡng mới với tư cách là phán quan ngày tận thế như thế nào."

Hoàng tử Hương Ba nói: "Cứ nhìn thấy vẻ mặt hạnh tai lạc họa của anh là tôi lại thấy đau lòng thay cho chính bản thân anh và Mai Tát, kẻ bội thề thực sự e rằng chính là anh, đương nhiên còn có cả Lạt ma Ogyen nữa. Cứ nghĩ đến việc anh đang tiếp tay cho giặc là tôi lại thề nhất định phải cướp Mai Tát về từ tay anh."

"Mai Tát không phải một món đồ, cô ấy là con người, cô ấy có sự lựa chọn của riêng mình."

Sự tự tin của Trí Mỹ bắt nguồn từ chuyện chăn gối giữa anh ta và Mai Tát. Tình yêu của đàn ông lấy tính lực làm nền tảng, tính lực càng mạnh mẽ, tình yêu càng vững chắc. Cậu hoàng tử Hương Ba mày chưa từng chạm vào Mai Tát dù chỉ một lần, sao Mai Tát có thể nở nụ hoa lòng được chứ? Thế nhưng, trong lòng anh ta vẫn tràn ngập sự lo âu sâu sắc, bởi vì sự tồn tại của tình ca Thương Ương Gia Thố chính là sự tồn tại của sức mạnh to lớn và thần mị, bài tình ca đang thông qua cái miệng của hoàng tử Hương Ba, biến thành một cơn cuồng phong, hất tung triều đại tình ái mà không một tính lực nào có thể bì kịp, ập đến nghiền nát. Anh ta cảm thấy rất khó chịu, cũng rất sợ hãi, thứ sợ hãi mất đi không chỉ có mỗi Mai Tát. Phải, không chỉ có mỗi Mai Tát, nhất định còn có thứ quan trọng hơn tình yêu, sứ mệnh, tín ngưỡng, bản thân cuộc sống, hoặc những thứ khác.

Như thể nhìn thấu tâm tư của Trí Mỹ, hoàng tử Hương Ba cất cao giọng ca hát:

Một mũi tên bắn trúng hồng tâm,

Mũi tên chui đâm vào lòng đất,

Gặp được người tình của ta,

Hồn phác theo cô ấy bay đi.

"Đừng hát nữa." Mai Tát cắt ngang lời anh, "Hát quan trọng hơn hay 'Cửa Thất Độ Mẫu' quan trọng hơn?"

Mãi một lúc sau hoàng tử Hương Ba mới nói: "Quan trọng nhất là, tình ca và 'Cửa Thất Độ Mẫu' đều đang tạo ra cái chết."

Mai Tát thở dài: "Đúng vậy, bất kể ai chết, đối với chúng ta đều là gánh nặng. Nhưng việc quật tàng là cơ hội then chốt của lịch sử, từ mấy trăm năm thậm chí hơn một ngàn năm trước đã được định đoạt sẵn rồi, anh không thể né tránh, giống như đại đa số người không có cơ hội quật tàng, anh cũng không có cơ hội không quật tàng. Lo lắng là vô nghĩa, anh nên nhất tâm nhất ý, chỉ nghĩ đến một vấn đề: Bây giờ nên đi đâu?"

“Xem ra em ngày càng hiểu tôi rồi đấy.” Hoàng tử Hương Ba nhìn cô săm soi, như thể cố tình nói cho Trí Mỹ nghe.

“Vậy thì đừng nhìn đông ngó tây nữa, mau nói bước tiếp theo đi.”

Trong giọng điệu của Mai Tát, vô tình mang theo một chút làm nũng khó nhận ra, Trí Mỹ vô cùng nhạy bén bắt được, mang tâm lý trả thù đạp mạnh phanh một cái, khiến Mai Tát và hoàng tử Hương Ba chao đảo một trận.

“Mẹ kiếp hòn đá ngáng đường, cút đi.” Trí Mỹ trừng mắt nhìn mặt đường mắng.

Hoàng tử Hương Ba cười cười, chỉ vào "Văn tự thấu quang" nói với Mai Tát: "Bài tình ca Thương Ương Gia Thố mà 'thọ ký' cho chúng ta đã chỉ cho chúng ta hướng đi tiếp theo rồi, vẫn là câu lời bài hát chứng minh Ma Cát A Mễ đã mang thai đó: 'Xin hãy đóng con dấu tình ái, lên trái tim của mỗi người.' 'Con dấu' ở đây ngoài ẩn dụ việc mang thai, còn có thể dẫn ra một đoạn lịch sử, một điển cố được ghi chép trong lịch sử Tây Tạng: 'Vì một người phụ nữ, Tùng Tạng Cán Bố từ sông Nhã Lũng đến Ô Mã Đường. Kiếp trước, ngài đóng con dấu lên người phụ nữ, nói, người phụ nữ này là của ta. Kiếp này, người phụ nữ lặn lội ngàn dặm đến tìm người đàn ông chắc chắn sẽ nắm giữ ấn bích này. Đến đây đi, leo lên chốn ẩn tu của Lạp Thác Thác Niện Lạp Thác Thác Niện Tán, tại vầng trán của đất trời, sở hữu người đàn ông và người phụ nữ. Người đàn ông nói: Ta chính là trời, trời gọi là Lạp. Người phụ nữ nói: Ta chính là đất, đất gọi là Sát. Người phụ nữ và người đàn ông cùng nói: Trời gọi là Lạp, đất gọi là Sát, ăn cơm gọi là Ca Lạp Sát.'»

Mai Tát chớp chớp đôi mắt trừng trừng nhìn hoàng tử Hương Ba.

Hoàng tử Hương Ba tiếp tục nói: "Đầu thế kỷ thứ bảy, bộ lạc Thổ Phồn quật khởi từ thung lũng sông Nhã Lũng phía nam Tây Tạng, họ dẫn nước khai hoang, làm nông nghiệp, phát triển dân số, thịnh vượng một thời. Đến đời Tán Phổ thứ ba mươi mốt Đạt Nhật Niếp Tư, bắt đầu mở rộng lãnh thổ, chinh chiến khắp nơi. Cháu của Đạt Nhật Niếp Tư là Tùng Tạng Cán Bố, năm ngài mười ba tuổi, vương triều xảy ra biến cố thảm họa, đại thần tranh giành quyền lực, mưu phản bạo loạn, đầu độc chết cha của Tùng Tạng Cán Bố là Lãng Nhật Luân Tán. Vị hoàng tử thiên tài mười ba tuổi Tùng Tạng Cán Bố vùng lên tức vị, tiêu diệt kẻ nghịch tặc, bình định nội loạn, với khí phách lớn hơn lao vào cuộc chiến chinh phạt mở mang bờ cõi. Một ngày nọ, Tùng Tạng Cán Bố đánh bại bộ lạc Tô Bỉ, đến một nơi gọi là Ô Mã Đường. Thấy nơi này nước sông cuồn cuộn, địa thế phẳng lặng, thảm cỏ liên miên, giữa đồng bằng phẳng lặng đột ngột sừng sững hai ngọn núi đỏ và xanh, vừa có thể ở trên cao, vừa có thể phóng ngựa phi nước đại, ngài liền nói đây chắc chắn là vùng đất vương giả trong truyền thuyết, vị tổ tiên đời thứ hai mươi tám của ta, vị Tán Phổ sống một trăm hai mươi tuổi Lạp Thác Thác Niện Tán, sau khi qua đời đã ẩn thân tu luyện trên ngọn núi đỏ cao chót vót này. Ông ấy từng báo mộng cho ta, núi đỏ chính là vầng trán của đất trời, hậu duệ của ta sẽ đặt nền móng lập nghiệp, chinh phục thế giới ở đây. Nói dứt lời, vị Tán Phổ trẻ tuổi Tùng Tạng Cán Bố liền quyết định dời đô đến Ô Mã Đường. Núi đỏ chính là núi Potala, sau này đã xây dựng nên cung Potala."

Mai Tát hỏi: "Tôi không hiểu, sao lại lôi cả 'Ca Lạp Sát' ra thế?"

"Người phụ nữ bị Tùng Tạng Cán Bố đóng con dấu đó, chính là Văn Thành công chúa. Tùng Tạng Cán Bố từ thung lũng sông Nhã Lũng đến Ô Mã Đường, Văn Thành công chúa từ Trường An Trung Nguyên đến Ô Mã Đường. Một người là trời dương cương, một người là đất âm nhu, trời gọi là 'Lạp', đất gọi là 'Sát', hợp lại gọi là 'Lhasa'. Mà 'Ca' là cái miệng, cộng thêm 'Lhasa', chính là ý cái miệng ăn trời đất, thức ăn là tinh hoa của trời đất, Lhasa — giữa đất trời, đâu đâu cũng là tinh hoa. Đây chính là nguồn gốc của cái tên 'Lhasa' trong truyền thuyết dân gian."

Mai Tát lại hỏi: "Nhưng cách giải thích này có liên quan gì đến 'Cửa Thất Độ Mẫu'?"

Hoàng tử Hương Ba mỉm cười: "'Cửa Thất Độ Mẫu' từ Bắc Kinh ở đồng bằng Hoa Bắc lên chùa Lạp Bốc Lăng trên cao nguyên Hoàng Thổ, lại lên chùa Tháp Nhĩ ở bậc thang thứ nhất cao nguyên Thanh - Tạng, bây giờ lại phải lên một bậc thang nữa, đó chính là Lhasa."

Mai Tát nói: "Đi Lhasa? Chúng ta chẳng có sự chuẩn bị nào cả."

"Vậy thì chuẩn bị trên đường." Hoàng tử Hương Ba nói, không kìm được sự kích động, "Tôi lại sắp đến Tây Tạng rồi, lần này nhất định phải đến dưới thần sơn Nhã Lạp Hương Ba thăm mẹ và chị. Hồi cấp hai tôi ở Lhasa, năm nào cũng về, quãng đường năm trăm kilômét, lần nào cũng lén lèo trèo lên xe tải chở hàng, chuyển xe để đến nơi. Có lúc trên đường đi về mất tận hai mươi ngày, mà tôi ở nhà chỉ được hai ba ngày. Để có thể ở bên mẹ hai ba ngày đó, dù có bôn ba bao nhiêu ngày đi nữa cũng đáng. Hồi học đại học ở Bắc Kinh, cũng là năm nào kỳ nghỉ đông cũng về. Lúc đó có tiền trợ cấp, bèn tiết kiệm lại, trước tiên ngồi tàu hỏa đến Thành Đô hoặc Cách Sập, rồi ngồi ô tô đến Lhasa, sau đó đổi xe đến Trạch Đang, đến Quỳnh Kết, đến dưới chân thần sơn Nhã Lạp Hương Ba. Sau này đi làm, không có kỳ nghỉ nữa, hai ba năm mới về một lần. Thế nhưng mẹ lại ngày nào cũng chờ tôi, ngày nào cũng chờ tôi. Bà không biết trước kia là đợi một năm gặp tôi một lần, bây giờ là đợi hai ba năm mới gặp tôi một lần, còn tưởng rằng ngày tháng bây giờ dài ra, thời gian một năm nhiều hơn trước kia. Bà gặp tôi một lần, liền tự cộng cho mình một tuổi, bây giờ phải hai ba năm mới cộng thêm một tuổi. Hầy, người mẹ hiền của tôi ơi, người mẹ hiền hơn tám mươi tuổi hai ba năm mới cộng thêm một tuổi ơi..."

Trí Mỹ dừng xe bên vệ đường, để Mai Tát ngồi vào ghế lái, còn mình thì ra phía sau, ôm lấy túi quái Thắng Ma, hai tay thò vào trong. Anh ta không lấy ra thứ gì, tay cứ hoạt động liên tục trong túi quái, miệng không ngừng lầm bầm cái gì đó. Lát sau, anh ta dang rộng miệng túi quái, cúi đầu nhìn lén vào trong, ngẩn ngơ nhìn về phía trước.

Mai Tát hỏi: "Thần bói không đến à?"

Trí Mỹ chỉ vào ngực mình: "Đến từ lâu rồi."

Mai Tát lại hỏi: "Những gì hoàng tử Hương Ba nói không giống kết quả bói à?"

Trí Mỹ nói: "Giống, đi Lhasa."

Hoàng tử Hương Ba nói: "Tuyệt quá, chúng ta ăn ý với nhau rồi."

Trí Mỹ nói: "Sự khôn ngoan có thể khiến một người thông suốt vạn vật giống như thần linh, hoàng tử Hương Ba, anh khiến cho thần linh mất đi đất dụng võ, anh thật đáng sợ."

Mai Tát nói: "Lhasa rất rộng, lại là vạn hoa đồng của Phật giáo, 'Cửa Thất Độ Mẫu' lại càng khó tìm hơn."

Hoàng tử Hương Ba nhìn "Văn tự thấu quang" nói: "Chúng ta mới chỉ giải thích 'thọ ký', vẫn chưa giải thích 'chỉ nam'. Mong là 'chỉ nam' có thể cho chúng ta biết vị trí cụ thể." Rồi đọc lên:

Sữa chua được ủ như thế này: Trước tiên đun chín sữa tươi rồi để nguội, đến khi ấm ấm, cho men sữa chua vào (lưu ý: khi cho men, sữa tươi quá nóng, sữa chua sẽ bị chua gắt, quá lạnh, sữa chua sẽ không đông lại được), đổ vào thùng sữa chua, đậy nắp, bọc bằng áo da cừu hoặc chăn bông, từ lúc mặt trời mọc đến lúc lặn, chính là sữa chua cam lộ do Phật ban tặng.

Sữa chua của Cát Thái Lộ Đinh là sữa chua ngon nhất toàn cọc Tây Tạng. Ở nơi phụng cúng ốc pháp quay phải, cô ấy đã tiêu trừ chứng mệt mỏi, bệnh về hơi của chúng sinh, củng cố tứ chi và niềm tin của chín mươi tám chiếc bình đồng.

Hoàng tử Hương Ba nói: "Sao lại là phương pháp ủ sữa chua?" Anh nhíu mày, hồi lâu lại nói: "Sữa chua của Cát Thái Lộ Đinh? Tại sao lại là sữa chua của Cát Thái Lộ Đinh? Thương Ương Gia Thố có một bài tình ca nhắc đến 'Cát Thái Lộ Đinh'." Anh ngước nhìn Mai Tát vẻ dò hỏi, rồi hát lên:

Ban ngày nhìn em đẹp tuyệt trần,

Ban đêm ngửi da thịt em thơm phức,

Người bạn đời trọn đời của tôi,

Xinh đẹp y như Cát Thái Lộ Đinh.

Mai Tát nói: "Ý gì vậy, Cát Thái Lộ Đinh?"

Hoàng tử Hương Ba nói: "Một ngọn núi, một dòng sông, một hồ nước, hoặc một người nào đó, hiện tại vẫn chưa thể xác định, đến Lhasa rồi thăm dò tiếp. Chúng ta ban đầu gặp Ma Cát A Mễ, sau đó lại gặp Cơ Cơ Bố Xích, Nhân Tăng Vượng Mẫu và Y Trác Lạp Mụ, bây giờ lại gặp Cát Thái Lộ Đinh, nó cũng xuất phát từ tình ca Thương Ương Gia Thố, không thể không liên quan đến 'Cửa Thất Độ Mẫu'. Cho dù không phải nội dung phục tàng, thì đó ít nhất cũng là điểm đột phá để khai quật phục tàng. Anh nói xem Trí Mỹ?" Nói xong, để ý phản ứng của Trí Mỹ.

Trí Mỹ gãi gãi vết sẹo trên má, không nói gì.

Hoàng tử Hương Ba lại nói: "Còn 'niềm tin của chín mươi tám chiếc bình đồng' nữa, sẽ là gì đây?"

Đáp lại anh là một tiếng gầm, tiếng gầm của chiếc Wrangler. Mai Tát đạp mạnh chân ga, lao thẳng về phía một chiếc xe tải nhỏ đang chạy tới từ phía sau.

Trí Mỹ lắc lư trước sau, túi quái Thắng Ma rơi xuống dưới chân, anh ta chộp lấy, phẫn nộ nói: "Cô làm gì thế?"

Mai Tát một tay chỉnh lại chiếc mũ lông bò lệch sang một bên nói: "Nhìn về phía trước kìa."

Hoàng tử Hương Ba đã nhìn thấy: Trên chiếc xe tải nhỏ phía trước, chở một cái lồng sắt, bên cạnh lồng sắt ngồi một vị lạt ma, chính là vị lạt ma để râu mà họ từng gặp ở chùa Lạp Bốc Lăng. Nhưng điều quan trọng đương nhiên không phải cái lồng sắt và vị lạt ma để râu, mà là con khỉ đột đít đỏ trong lồng sắt, con khỉ đột đít đỏ sống lại vốn thuộc Vườn thú Bắc Kinh. Khỉ đột đít đỏ vốn đang ngồi, vừa thấy chiếc Wrangler đuổi theo liền đột ngột chống bốn chân xuống đất, làm ra vẻ chuẩn bị chạy trốn, chần chừ một lát rồi đâm sầm vào lồng sắt.

Hoàng tử Hương Ba xót xa kêu lên một tiếng.

Khỉ đột đít đỏ đâm đông đâm tây, đâm chiếc lồng sắt kêu lách cách rung bần bật, đôi mắt phát ra hai luồng ánh sáng huỳnh quang, chớp lóe bên này bên kia.

Hoàng tử Hương Ba nói: "Đuổi theo, đuổi theo mau."

Trí Mỹ nói: "Không thể đuổi, không thể đuổi."

Mai Tát vẫn tăng tốc độ. Trí Mỹ với tay tóm chặt lấy cánh tay Mai Tát không buông. Mai Tát đành phải dừng lại.

Hoàng tử Hương Ba nói: "Anh có vẻ cực kỳ không muốn gặp con khỉ đột đít đỏ này nhỉ."

Trí Mỹ nói: "Tôi ghét động vật."

Hoàng tử Hương Ba nói: "Anh không thể ghét được đâu, nó chắc chắn sẽ còn xuất hiện nữa. Tôi có cảm giác nó chính là sự dẫn đường cho chúng ta, nó đi về đâu, chúng ta sẽ đến đó. Chúng ta vẫn nên đuổi theo, hỏi xem nó đi đâu. Nó biết nói chuyện, đôi mắt của nó biết nói chuyện."

Mai Tát nhìn Trí Mỹ, Trí Mỹ trừng mắt nhìn cô, cô không đuổi theo nữa.

Hoàng tử Hương Ba đành bất lực châm một điếu thuốc, hút vài hơi, liếc nhìn sắc trời đã sậm tối ngoài cửa sổ rồi nói: "Thế thì chúng ta cũng không thể không đi chứ, cảnh sát và lạt ma A Rược đuổi theo thì làm thế nào? Phía trước là huyện Hoàng Nguyên, đến đó rồi tính tiếp, xe phải đổ xăng, người phải ăn cơm. Có cần nghỉ ngơi một đêm không, hai người xem." Lúc này anh mới nhận ra mình cả ngày chưa ăn gì.

Chiếc Wrangler chạy về phía huyện Hoàng Nguyên.

4

Nhóm người hoàng tử Hương Ba ăn tối ngay tại thành phố huyện Hoàng Nguyên, lại mua thêm bánh quây và nước khoáng mang theo, định bụng bất kể trời tối hay sáng, sẽ luân phiên lái xe đuổi theo phía trước. Thế nhưng họ vừa bước ra khỏi quán ăn thì phát hiện chiếc Wrangler đã biến mất.

Mai Tát lo lắng nhìn màn đêm tối thui nói: "Sao lại thế được chứ? Rõ ràng chúng ta đã khóa cửa xe rồi cơ mà."

Hoàng tử Hương Ba cười khổ một tiếng nói: "Đành chịu không cần nó nữa thôi."

Mai Tát không ngờ anh lại xem nhẹ như vậy, trừng mắt nhìn anh: "Anh thích chiếc Wrangler thế cơ mà, nói không cần là không cần nữa á? Hơn nữa chúng ta đang cần nó."

Hoàng tử Hương Ba nói: "Thứ đã mất chính là thứ không cần nữa. Kẻ trộm xe nóng vội bứt dây động rừng, rất có thể là đang nhắc nhở chúng ta: Các người lại bị theo dõi rồi, mục tiêu của chiếc Wrangler quá lớn, rất nguy hiểm, các người không thể lái tiếp được nữa. Tôi đoán, hắn sẽ vẫn bám theo chúng ta."

Mai Tát hỏi: "Anh đoán xem hắn là ai?"

Trí Mỹ nói: "Bất kể hắn là ai, chúng ta nhất định phải hất cẳng hắn, chúng ta không cần sự giúp đỡ của bất kỳ ai hết."

Mai Tát nói: "Cái này tôi đồng ý, mở 'Cửa Thất Độ Mẫu', khai quật 'Phục tàng cuối cùng', điều tối kỵ nhất chính là sự hỗn tạp. Phục tàng một khi xuất thế, nếu gặp phải kẻ tiểu nhân, rất có thể sẽ tự động biến mất, vô số lần khai quật trong lịch sử cổ đại đều là như vậy."

Bọn họ đi bộ dọc theo quốc lộ, một chiếc xe tải màu trắng từ phía sau chạy tới. Hoàng tử Hương Ba quay người liếc qua, nhìn thấy trên cửa xe có hai chữ "Cộng Hòa", liền gầm lên một tiếng: "Sư phụ."

Chiếc xe tải màu trắng dừng lại. Đây là chiếc xe tải quay về huyện Cộng Hòa, Châu tự trị dân tộc Tạng Hải Nam, sự xuất hiện của nó khiến hoàng tử Hương Ba nhớ đến cổ đạo Đường - Tạng, cũng nhớ đến con đường Thương Ương Gia Thố rời Lhasa di dời xa xôi đến Thanh Hải năm xưa. Con đường này nổi tiếng ngoằn ngoèo hiểm trở, đi khó hơn quốc lộ Thanh - Tạng rất nhiều, người đi Lhasa thường không đi con đường này. Nhưng đối với họ mà nói, đây có lẽ là con đường an toàn nhất.

Tài xế đầu trọc của chiếc xe tải là kiểu ai cho tiền thì chở người nấy, liền hỏi: "Xe tôi chở cừu sống đấy, hôi rình rình các người có ngồi không?" Hoàng tử Hương Ba hỏi Mai Tát và Trí Mỹ: "Có ngồi không?" Trí Mỹ lại một lần nữa thể hiện sự nhanh nhạy trong phản ứng, chưa đợi Mai Tát thốt lên lời, đã giẫm lên lốp xe trèo lên rồi.

Dường như không ai hay biết gì, họ đến trấn Cáp Bốc Hạ của huyện Cộng Hòa vào lúc sáng sớm, tìm một nhà trọ nhỏ kín đáo để ngủ một giấc, rồi đến chớp chiều lại lên đường. Vẫn là chiếc xe tải màu trắng ấy, Hoàng tử Hương Ba bàn bạc với tài xế đầu trọc, sẽ đi nhờ xe của anh ta đến Lhasa. Gã đầu trọc có chút kỳ lạ: "Các anh là người phương nào, sao lại thuê một chiếc xe tải nát đi Lhasa?" Hoàng tử Hương Ba cười mà không đáp.

Chiếc xe tải màu trắng chạy thẳng về phía Ô Hải Hoa Thạch Hạp mang danh "Cổng bắc sông Hoàng Hà", đến thành huyện Mã Đa - trấn đầu tiên của sông Hoàng Hà - trước khi trời sáng. Người trên xe ăn sáng trong huyện thành, đổi Trí Mỹ lái xe. Vượt qua đỉnh núi Ba Nhan Khát Lạp cao khoáng đạt nơi đầu nguồn sông Hoàng Hà, bước vào Châu tự trị dân tộc Tạng Dụ Thụ, xuống núi là Thông Thiên Khúc và trấn Kết Cự. Trời đã tối.

Là một trung tâm phân phối mậu dịch, trấn Kết Cự vào ban đêm mang một vẻ rực rỡ mập mờ đầy bí ẩn. Những căn phòng trên phố trấn như được thay đổi nội dung, từng ngọn đèn là từng lớp ngái ngủ, vừa quyến rũ vừa hút hồn. Một sự phồn hoa nhiệt liệt và đơn thuần thuộc về thảo nguyên mang theo hơi ấm ban ngày, vẫn sáng rực đầy cô tịch không phai nhạt.

Mai Tát nói: "Nơi này thật tốt, chỉ là độ cao hơi lớn chút."

Gã tài xế đầu trọc quyết không đi nữa. Gã vứt chiếc xe tải ở bãi đỗ xe, bảo rằng mình có một người tình mở cửa hàng ở đây, "Biết đến mà không qua thăm cô ấy, cô ấy mắng cho chết."

Hoàng tử Hương Ba trả gã một nghìn đồng, ấn định thời gian xuất phát vào ngày mai, rồi dẫn Mai Tát và Trí Mỹ đi vào con phố của thị trấn, vô cùng quen thuộc bước vào một nhà trọ lầu phòng tuyến (điêu lâu).

Mai Tát thì thầm: "Nói là sẽ chở chúng ta đến Lhasa, sao tài xế lại lật lọng thế? Em thấy có điều không ổn, mắt gã cứ lấm lét, còn đi theo nhìn chúng ta bước vào nhà trọ này, có phải coi chúng ta là kẻ xấu không?"

Trí Mỹ nói: "Ánh mắt người ta không sai đâu, chúng ta vốn chẳng phải người tốt gì, nhờ ơn Hoàng tử Hương Ba mà đều thành tội phạm bị truy nã rồi."

Mai Tát nói: "Xem ra chúng ta không thể ở đây được."

Hoàng tử Hương Ba nói: "Tôi vốn chẳng định ở lại, đi mau thôi, cảnh sát sắp đến rồi."

Họ đi ra từ cửa sau của nhà trọ điêu lâu, dọc đường đi lên dốc. Hoàng tử Hương Ba nói: "Phía trước là núi Bành Thố Đạt Trạch, đỉnh núi chính là chùa Kết Cự nổi tiếng." Hoàng tử Hương Ba dẫn họ lên núi đi vào quần thể kiến trúc chùa chiền, đi vòng vèo giữa các gian điện tường đỏ hiên trắng, rồi lại theo một con đường nhỏ vòng về phía nam. Nửa tiếng sau, họ xuất hiện đối diện với rạp chiếu phim Kết Cự ở ngã ba đường, lẻn vào một quán ăn, gọi mười cân thịt tay cầm, mười cái bánh nướng lớn và mười chai bia, gói mang đi tất cả, rồi đến trước chiếc xe tải màu trắng ở bãi đỗ xe.

Hoàng tử Hương Ba nhìn xung quanh không có ai, dùng cùi chỏ phải đập vỡ kính cửa xe một cái, mở cửa, ngồi vào ghế lái, lục ra một chìa khóa cắm vào.

Mai Tát kinh ngạc hỏi: "Sao anh lại có chìa khóa?"

Hoàng tử Hương Ba cười hắc hắc: "Đạo cao một thước, ma cao một trượng, mau lên xe."

Chiếc xe tải màu trắng lái ra khỏi bãi đỗ xe, vừa ra đến đường cái, đã thấy dưới đèn đường gã tài xế đầu trọc dẫn theo mấy tên cảnh sát đang đuổi theo. Hoàng tử Hương Ba tăng ga, vèo một tiếng vượt qua trước mặt họ.

Gã tài xế đầu trọc la lên: "Chạy rồi, bọn họ chạy rồi."

Chiếc xe tải màu trắng chạy thẳng đến huyện Nang Khiêm và thượng nguồn sông Lan Thương, ba tiếng sau thì bước vào Tây Tạng.

Trong lòng Hoàng tử Hương Ba dâng lên một trận nhẹ nhõm, tựa như vừa bước vào Tây Tạng, mọi sự truy đuổi sẽ không còn nữa. Kỳ thực trong cảm giác mơ hồ, nhiều hơn cả là sự kích động khi được nhào vào lòng quê hương. Tựa như sự kích động và niềm lưu luyến lâu đời chính là sự bảo vệ, tín ngưỡng nồng nàn vững chắc hơn nơi khác chính là chỗ dựa, ngọn ngột bố lất phất kinh luân đầu tiên của Tây Tạng đập vào mặt có thể giúp củng cố can đảm. Anh không sợ nữa, dường như chẳng sợ gì nữa. Hoàng tử Hương Ba cất tiếng hát:

Lá kinh luân cầu phúc cho người yêu,

Phấp phới bên hàng cây liễu,

A còng canh giữ cây liễu ơi,

Xin đừng dùng đá ném nó.

Mai Tát ngồi bên cạnh nói: "Mấy ngày liền không được nghỉ ngơi đàng hoàng, anh không mệt à?"

Trí Mỹ ngồi cạnh cửa sổ nói: "Cậu không mệt chứ tôi mệt, đừng hát nữa, tôi muốn ngủ một lát."

Hoàng tử Hương Ba một tay cầm chai bia, sảng khoái uống một ngụm: "Tôi biết vì sao cậu không dám đối mặt với thơ ca tình ái Thương Ương Gia Thố, cậu sợ mất Mai Tát phải không? Thơ tình là vũ khí của tôi, tôi đã tuyên chiến với cậu rồi đấy."

Trí Mỹ chế nhạo: "Sợ chết khiếp tôi đi được, nghe thấy tuyên chiến cái là tôi tè ra quần ngay."

Hoàng tử Hương Ba nói: "Đây là Tây Tạng, là thiên đường của tín ngưỡng, dù có hít phải một ngụm bụi trần, đó cũng là tịnh thổ. Đừng nói là cậu, cho dù là Lạt ma Ogyen, Liên minh Tín ngưỡng Mới, nếu không quy y Phật giáo, thì tất thảy đều phải tè ra quần."

Trí Mỹ lạnh lùng nói: "Liên minh Tín ngưỡng Mới cho rằng nhân loại tuyệt đối cần tín ngưỡng, nhưng tín ngưỡng không đồng nghĩa với tôn giáo. Quy y tôn giáo thực chất không phải là quy y tín ngưỡng, bởi vì tín ngưỡng trước tiên quan tâm đến sự thuần khiết và cao cả, sự vô tư và cống hiến của tinh thần nhân loại. Mà tôn giáo lại càng quan tâm đến việc lập ra một tập đoàn, rồi tranh danh đoạt lợi."

Hoàng tử Hương Ba nói: "Cậu sai rồi, cậu đã đánh đồng tập đoàn tôn giáo với tôn giáo."

Trí Mỹ nói: "Đều như nhau cả thôi, đều muốn lũng đoạn tín ngưỡng, kìm kẹp tư tưởng, ép buộc rất nhiều người vì không muốn hoặc không có cơ hội gia nhập tập đoàn tôn giáo mà đánh mất tín ngưỡng. Cho nên Liên minh Tín ngưỡng Mới muốn cứu vãn tín ngưỡng, muốn giải phóng tín ngưỡng khỏi gông cùm của tôn giáo, biến nó thành tín ngưỡng mới mang tính phổ thế hơn."

Hoàng tử Hương Ba nói: "Xin hỏi, tín ngưỡng mới của Liên minh Tín ngưỡng Mới rốt cuộc là gì?"

Trí Mỹ nói: "Hiện tại vẫn chưa có, đang tìm kiếm, nhất định sẽ tìm thấy."

Hoàng tử Hương Ba nói: "Không cần tìm nữa, chỉ cần đọc hiểu Thương Ương Gia Thố, coi như đã tìm thấy rồi. Trong mắt Thương Ương Gia Thố, lý tưởng cao nhất của tôn giáo chỉ có một chữ: Yêu."

Trí Mỹ cười nhạt: "Thương Ương Gia Thố nhìn nhận tôn giáo thế nào, mở 'Cửa Thất Độ Mẫu' ra rồi mới biết."

Hoàng tử Hương Ba cười "ha ha": "Vậy xin hãy lắng nghe tiếng ca của Thương Ương Gia Thố nhé."

Người thầm thương trộm nhớ trong lòng,

Nếu có thể bạc đầu giai lão,

Thì cũng chẳng kém gì từ đáy biển,

Hái được trân bảo kỳ lạ.

Trí Mỹ quát lên một tiếng: "Đừng hát nữa."

Hoàng tử Hương Ba hát càng thêm dạt dào tình cảm:

Tiểu thư cao quý tao nhã,

Dung nhan xinh đẹp nhường này,

Tựa như quả đào chín mọng,

Treo trên cành cao chót vót.

Chắn qua Mai Tát, Trí Mỹ vươn cánh tay sang, tóm chặt lấy cổ áo Hoàng tử Hương Ba: "Tôi bảo cậu đừng hát, nghe thấy chưa?"

Mai Tát nói: "Trí Mỹ mau buông anh ấy ra, xe sắp lật rồi."

Trí Mỹ buông tay: "Mai Tát, em bảo anh ta câm miệng đi."

Mai Tát nói: "Cái miệng mọc trên người anh ấy, em cứ để anh ấy hát; cái tai mọc trên người anh, em có thể không nghe cơ mà."

Trí Mỹ nói: "Sao em lại thích nghe anh ta hát thế?"

Giọng Hoàng tử Hương Ba càng thêm lảnh lót.

Tôi hò hẹn với người tình,

Nơi sâu thẳm rừng rậm Nam Sơn...

Trí Mỹ gầm lên một tiếng: "Dừng xe, tôi muốn xuống."

Xe dừng lại, tình ca Thương Ương Gia Thố không dừng, dường như không khiến Trí Mỹ tức chết thì không bỏ qua. Trí Mỹ vòng qua đầu xe, kéo cửa xe ra, giật lấy quần áo của Hoàng tử Hương Ba lôi phắt anh xuống dưới.

Hai người đàn ông đứng đối mặt nhau, dưới bầu trời đêm tĩnh lặng của Tây Tạng, một người trầm mặc, một người cất giọng ca. Bên cạnh là Mai Tát, nơm nớp lo sợ nhìn người này, ngó người kia. Trí Mỹ giáng một quyền tới, đánh vào khóe môi đối phương, tựa như đang nói tao đánh nát cái mỏ hay hát tình ca này của mày. Hoàng tử Hương Ba không đánh trả, vẫn tiếp tục hát:

Chẳng có một ai hay biết,

Trừ chú vẹt mỏ khéo...

Lại một quyền, lại một quyền, đều giáng vào miệng, Hoàng tử Hương Ba lảo đảo ngã xuống đất, nhưng vẫn đang hát:

Chú vẹt mỏ khéo ơi,

Xin chớ đâm ra ngoài tiết lộ.

"Xem ra mày thà chết chứ nhất quyết không ngừng hát, vậy thì mày đi chết đi." Trí Mỹ đè lên người anh, vung nấm đấm từng quyền nện xuống. Hoàng tử Hương Ba vẫn không đánh trả, cũng không né tránh, chỉ dùng cái miệng rách bươm bướng bỉnh hát. Tựa như khúc tình ca chính là sự đánh trả, chính là tiếng rên rỉ, chính là tiếng kêu thảm, chính là nỗi đau đớn khôn cùng.

Mai Tát lao tới, đẩy Trí Mỹ ra.

"Mai Tát em đừng quản, cứ mặc kệ anh ta đánh, cứ để anh ta đánh." Tiếp đó lại cất giọng hát:

Trong cuộc đời ngắn ngủi này,

Khuôn mặt Hoàng tử Hương Ba chi chít những vết bầm tím, sống mũi, khóe mắt, gò má đều rớm máu, đau đến mức anh hít hà từng ngụm khí lạnh. Thế nhưng tình ca Thương Ương Gia Thố không hề đứt đoạn, vẫn ngoan cường tuôn ra từ cái miệng rớm máu của anh:

Chẳng biết kiếp sau thuở niên thiếu,

Liệu có thể tái ngộ một lần nữa chăng.

Trí Mỹ trèo từ trên người Hoàng tử Hương Ba xuống, đồng thời kéo đối phương đứng dậy, sa sầm nét mặt nói: "Đã mang quyết tâm phải chết, vậy thì tôi cũng chẳng muốn sống nữa." Nói đoạn, rút con dao Tạng của mình ra, lau lau lên tay áo: "Chúng ta quyết đấu đi, đàn ông Tây Tạng thì nên dùng cách thức của người Tây Tạng để giải quyết vấn đề, chúng ta chỉ có thể quyết đấu."

Hoàng tử Hương Ba lau khắp khuôn mặt đẫm máu nói: "Tôi đồng ý, cậu không giết nổi tôi đâu, tình ca Thương Ương Gia Thố sẽ phải hát cho đến cùng, chỉ cần tình ca hát đến cùng, Mai Tát sẽ thuộc về tôi."

Trí Mỹ nói: "Có lẽ tôi cũng sẽ hát tình ca, người sống sót sẽ là tôi."

Mai Tát khóc nức nở nói: "Thế thì thà em chết còn hơn."

Hoàng tử Hương Ba đẩy cô ra nói: "Em mà chết, cả hai chúng ta đều phải chết, em mà sống, chúng ta vẫn có thể sống được một người." Lại đối mặt với Trí Mỹ, "Nhưng quyết đấu không thể ở đây."

Trí Mỹ nói: "Vậy cậu nói xem, ở đâu?"

"Nên ở trên bệ cửa lớn của chùa Cương Ba Lâm ở Xương Đô, ở đó có thể nhìn thấy toàn cảnh Xương Đô và sông Lan Thương. Một khi tôi chết, trước khi chết nhìn thấy thành phố Xương Đô, tôi có thể đầu thai vào thành phố. Nhìn thấy sông Lan Thương, linh hồn tôi có thể nương theo dòng nước mà đi, chọn một nơi phong cảnh hữu tình để dừng lại."

Hoàng tử Hương Ba liếm vết máu trào ra trên môi, thở hồng hộc vài tiếng, lại nói:

"Quan trọng hơn là ở đó có Gia Nhã Bá. Năm xưa khi Đại sư Liên Hoa Sinh tu hành trong động đen rừng rậm Lạc Môn ở sườn nam dãy Himalaya, từng bị sự khiêu khích của một đại bộ phận tín đồ ác ma gọi là 'Kẻ chém giết'. 'Kẻ chém giết' nói, là một bậc thánh giả, nếu ngươi sau khi tu trì xong con đường mật tông nam nữ, giải thoát (ý là giết chết) cô ta, rồi ăn thịt cô ta, uống máu cô ta, ngươi sẽ có được niềm vui, quyền lực cùng năng lực thần thông vô song. Bằng không cái tên thánh giả của ngươi là giả dối. Đại sư Liên Hoa Sinh nổi giận đùng đùng, lập tức hiện thân kim cương phẫn nộ chín đầu mười sáu tay, trấn phục những tên tín đồ ác ma 'Kẻ chém giết' ấy. Chỉ có một tên 'Kẻ chém giết' tên là Tháp Ba Nạp Ba là không phục, phát lời thề độc rằng, để phản đối giáo lý của ngươi, kiếp sau của ta sẽ quyết đấu với ngươi."

Mai Tát lấy khăn giấy ra, muốn lau vết máu trên mặt anh, anh né tránh, nói tiếp:

"Nhiều năm sau, Đại sư Liên Hoa Sinh đến Thổ Phồn ở sườn bắc dãy Himalaya, quả nhiên gặp được 'Kẻ chém giết' Tháp Ba Nạp Ba. Cuộc quyết đấu diễn ra ở đầu sông Lan, Gia Nhã Bá - nơi tọa lạc của chùa Cương Ba Lâm. Tất nhiên là Đại sư Liên Hoa Sinh thắng. Từ đó Gia Nhã Bá trở thành vùng đất phúc của Phật giáo. Tương truyền ở đó từng xảy ra rất nhiều cuộc quyết đấu ngoại đạo và thánh giáo, những tín đồ Phật giáo từng thỉnh cầu Đại sư Liên Hoa Sinh, chưa từng có một lần nào thất bại. Cậu không phải là tín đồ của Đại sư Liên Hoa Sinh, cậu có dám đi không?"

Trí Mỹ thu con dao Tạng lại, nghiến răng nghiến lợi nói: "Đã đến nước này rồi, chẳng có gì là tôi không dám."

Lại một lần nữa lên đường, vẫn là Hoàng tử Hương Ba lái xe, vẫn không khuất phục mà cất cao lời ca tình ca Thương Ương Gia Thố. Mai Tát và Trí Mỹ không nói thêm gì nữa. Trí Mỹ giống như đang nghe phải bùa chú, đau đớn cúi gằm đầu, hai tay bịt chặt tai, lẩm bẩm hết lần này đến lần khác: Quyết đấu, quyết đấu, quyết đấu Xương Đô.

Loại Ô Tề đã đến, nơi này vừa mới trải qua một trận mưa lớn thấm đẫm, trong không khí phảng phất mùi đất ẩm ướt mà tươi mới. Chiếc xe tải màu trắng rẽ trái đi về hướng đông, dọc đường đi song song với sông ngòi, nhanh chóng vượt qua cầu Tang Đa. Hoàng tử Hương Ba nghiêm túc nói: "Đi thêm khoảng năm mươi cây số nữa, chính là trọng trấn Xương Đô ở miền đông Tây Tạng." Rồi tiếp tục hát. Đang hát dở, trước mắt bỗng tối sầm lại, anh đạp phanh gấp, Mai Tát và Trí Mỹ lao chúi về phía trước, trong xe vang lên một trận lỉnh kỉnh.

Có sạt lở đất, dường như thân núi bị nước mưa ngấm vào vừa mới sạt xuống không lâu, dưới bầu trời trăng vẫn còn khói bụi bay mù mịt, con đường bị đất đá lấp kín mít. Ba người xuống xe, đi lên phía trước một đoạn, nghe thấy trên vách núi phía bên trái, đất đá vẫn đang rào rào trôi xuống, vội vàng quay lại cạnh xe tải.

Mai Tát nói: "Lái xe quay lại thôi, dừng ở đây sẽ bị chôn vùi mất."

Hoàng tử Hương Ba nói: "Chúng ta không còn đường lui nữa, truy binh đang ở ngay phía sau, chỉ đành vứt xe đi bộ, đi bộ đến Xương Đô thôi."

Mai Tát còn muốn nói gì đó, thì đã thấy Trí Mỹ bước lên đỉnh đống đất đá, chuẩn bị trèo qua.

Vụ sạt lở lớn hơn vẫn đang xảy ra, một tiếng động ầm ầm đinh tai nhức óc, đất đá ào ào trút xuống, che trời lấp đất. Hoàng tử Hương Ba kéo Mai Tát chạy ngược về sau, rốt cuộc cũng tránh được đợt truy kích của đất đá, quay đầu nhìn lại, Trí Mỹ đã biến mất trong làn khói bụi mịt mù.

Mai Tát thét lên chói tai: "Trí Mỹ, Trí Mỹ." Bất chấp đất đá vẫn đang rơi rải rác, cô chạy về phía đống đất đá vừa mới bồi đắp trên mặt đường, đứng ở nơi cao nhất, phóng tầm mắt tứ phía, không thấy bóng dáng Trí Mỹ đâu, liền ôm mặt khóc rống lên.

Hoàng tử Hương Ba đuổi theo, vừa đẩy vừa ôm Mai Tát rời khỏi đống đất đá. Lại một đợt sạt lở vang lên ầm ầm, đá lăn cuồn cuộn tựa cuồng phong. Họ chạy ra cách đó trăm mét, dừng lại nhìn kỹ, chỗ lõm sâu rộng giữa hai ngọn núi đã không còn nữa, một con đập đất nhô lên đen ngòm, khói bụi lảng vảng làm mờ đi vầng trăng lớn trên cao nguyên, gió thê lương thổi từng trận.

Mới chớp mắt thế mà một người đồng hành đã biến mất, một sinh mạng đã tàn lơ.

Hai người dìu dắt lẫn nhau, đứng chôn chân ở đó rất lâu.

Trên con đường đi về phía Xương Đô, Hoàng tử Hương Ba cứ mãi trầm mặc. Sự biến mất đột ngột của Trí Mỹ khiến anh câm nín mà chua xót, niềm bi thương trào dâng chẳng thể kìm nén. Dù tâm linh là một đôi mắt thấu triệt hơn, nhưng trong đêm Tây Tạng thần núi phẫn nộ, cái chết dễ dàng hơn sự sống này, anh không cảm thấy sự may mắn sẽ chiếu cố Trí Mỹ. Nghĩ đến Mai Tát đang vô cùng đau khổ, anh cố gắng không làm phiền cô, nào ngờ Mai Tát lại chủ động cất lời hỏi:

"Xương Đô anh không quen lắm nhỉ?"

"Quen, rất quen."

"Vậy sao anh không kể cho em nghe?"

Hoàng tử Hương Ba đăm đăm nhìn cô, trong màn đêm có thể nhìn thấy gò má cô ướt đẫm, nơi nước mắt đi qua, biến thành một đầm lầy lấp lánh. Cô không hy vọng sự im lặng, cô cần được phân tâm, cần cảm nhận được sự tồn tại của hiện thực, sự tồn tại của mục tiêu. Bằng không mọi thứ sẽ quá ảo ảnh, ảo ảnh đến mức chính cô cũng muốn chết đi.

Anh nói: "Ý nghĩa tên tiếng Tạng của Xương Đô là nơi hội tụ sông ngòi, dòng nước hội tụ ấy chỉ hai nhánh lớn của thượng nguồn sông Lan Thương là Áng Khúc và Trát Khúc. Nơi này từ xưa đã là huyết mạch giao thông kết nối Tây Tạng, Thanh Hải, Tứ Xuyên, Vân Nam. Năm xưa khi Tông Khát Ba lúc thiếu thời mười sáu tuổi vào Tây Tạng đi ngang qua Xương Đô từng tiên tri rằng, một nơi có địa thế hiểm trở tốt tươi thế này sau này nhất định có thể hưng thịnh chùa chiền hoằng dương Phật pháp. Sáu mươi bốn năm sau, đệ tử của Tông Khát Ba là Hỉ Nhiêu Tang Bố đã xây dựng chùa Cương Ba Lâm trên bậc thềm thứ tư màu đỏ cấu thành từ sông băng cổ. Nhưng điều tôi coi trọng hơn là, Thương Ương Gia Thố từng đến đây, vị thần vương sa cơ lỡ vận ấy khi rời khỏi Tây Tạng, chính là từ Xương Đô đi về phía Thanh Hải. Ông và vị sư tổ của mình là người Thanh Hải Tông Khát Ba đã vô thức gặp nhau trên cùng một cung đường, nhưng lại là hướng đi ngược lại và những tao ngộ khác nhau."

"Đúng vậy, những tao ngộ khác nhau, luôn có những tao ngộ khác nhau, Trí Mỹ cứ thế mà đi rồi." Mai Tát hu hu khóc lớn.

5

Vẫn chưa đi đến trấn Xương Đô, trời đã sáng. Khi bước vào khu đô thị Xương Đô, mặt trời đã lên cao ba sào.

Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát đi qua cầu Áng Khúc, đến vách sông Áng Khúc, mua bữa sáng ở một cửa hàng treo biển hiệu "Người Khampà", vừa lót dạ vừa cẩn thận đi về hướng bến xe. Họ nhận thức được rằng phía U Thụ Kết Cự đã thông báo cho Xương Đô, bến xe chắc chắn có cảnh sát mai phục, hy vọng có thể đón được một chiếc xe khách đi Lhasa ở nơi cách xa bến xe một chút. Nhưng không ngờ họ vừa qua cầu Áng Khúc, đã bị cảnh sát theo dõi.

Một chiếc xe van đang bám theo Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát cách đó một trăm mét. Trong xe, một viên cảnh sát già dặn dò mấy thuộc hạ trẻ tuổi: "Đừng vội ra tay, trước tiên cứ xem bọn chúng đến Xương Đô định làm gì, tốt nhất là có thể thực hiện việc bắt giữ tại hiện trường gây án."

Thế nhưng cảnh sát Xương Đô bám theo vẫn quá sát sao, Hoàng tử Hương Ba ngoảnh đầu lại thì phát hiện chiếc xe van đang di chuyển chậm chạp, liền kéo Mai Tát rảo bước nhanh hơn. Cảnh sát nhận thức được bản thân đã bị bại lộ, tăng tốc đuổi theo. Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát rẽ vào một con phố, luồn lách giữa dòng người cưỡi ngựa và đi bộ. Sáu bảy tên cảnh sát nhảy khỏi xe van chạy thình thịch ở phía sau. Bọn họ quen thuộc địa hình, lao thẳng ra ngã tư, đợi khi Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát phát hiện đường đã đi đến tận cùng, buộc phải rẽ trái hoặc rẽ phải, thì lối rẽ đã bị chặn lại rồi.

Lũ cảnh sát gào thét, lao tới rọ bắt ba ba.

Đúng lúc này, từ phía sau Hoàng tử Hương Ba có một đội lạt ma cưỡi ngựa chạy tới, dùng thân ngựa chặn ba phía cảnh sát lại. Một người trong số đó nhảy xuống ngựa, nhét dây cương vào tay Hoàng tử Hương Ba rồi nói: "Mau đến chùa Cương Ba Lâm."

Hoàng tử Hương Ba từ nhỏ đã quen cưỡi ngựa, đỡ Mai Tát lên trước, rồi tự mình nhảy lên lưng ngựa, phi nước đại rời đi, bỏ xa lũ cảnh sát cùng tiếng la hét của chúng lại phía sau. Sắp đến bậc thềm thứ tư cao ngất, đại điện Phật Cương Ba nguy nga lởm chởm, điện Tông Khát Ba và điện Hộ pháp đập ngay vào mắt. Bỗng nhiên, một chú tiểu lạt ma tầm mười một mười hai tuổi ló dạng chặn họ lại: "Xuống, xuống mau, giao ngựa cho tôi." Lại chỉ về phía giữa hai hàng tăng xá tường trắng nói, "Hai người mau đi đi, muốn đi đâu thì đi."

Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát chạy về hướng chú tiểu lạt ma chỉ, giật nảy mình: "Mã Mục Nhân (Jeep Wrangler)? Chiếc Mã Mục Nhân bị mất ở huyện Hoàng Nguyên sao lại ở đây?"

Anh hỏi chú tiểu lạt ma: "Ai đỗ chiếc xe này ở đây thế?"

Chú tiểu lạt ma nói: "Chính anh đấy chứ." Nói xong, liền dắt ngựa chạy mất.

Chính mình á? Hoàng tử Hương Ba lắc đầu, ngơ ngơ ngác ngác như ở chốn mây mù.

Chiếc Mã Mục Nhân lăn bánh trên đường phố trấn Xương Đô, đi ngang qua những tên cảnh sát đang truy bắt, vậy mà bình an vô sự. Trong thông báo của cảnh sát Kết Cự gửi cảnh sát Xương Đô, chỉ có xe tải màu trắng, chứ không có Mã Mục Nhân. Chiếc Mã Mục Nhân thong thả rời khỏi trấn Xương Đô, chạy thẳng về hướng Lhasa.

Thế nhưng Hoàng tử Hương Ba không hề vui vẻ, cảm thấy có kẻ không những đang nhìn chằm chằm mình, mà còn muốn thao túng mình. Người này là ai? Anh vốn là một kẻ quen sống độc lập tự chủ, từ trước đến nay toàn là mình sai khiến người khác, giờ đây lại phải chịu sự chi phối của một kẻ tàng hình. Nếu không phải vì sự truy đuổi của cảnh sát Xương Đô, anh thật sự muốn chống lại ý chí của kẻ này: Vứt quái chiếc Mã Mục Nhân đi, kiên quyết không thèm lái, ngồi xe khách tuyến dài đến Lhasa. Anh nói: "Mai Tát em từng nói, một khi phục tàng xuất thế, nếu gặp phải phần tử bất lương, nó sẽ tự động biến mất. Hèn chi cho đến tận bây giờ chúng ta vẫn chưa mở được 'Cửa Thất Độ Mẫu', chính là vì phần tử bất lương vẫn luôn kè kè bên cạnh chúng ta."

Mai Tát nói: "Anh đang ám chỉ ai thế?"

Hoàng tử Hương Ba nói: "Anh không biết là ai, cho nên anh mới thấy bực bội, vậy mà có người biết trước chúng ta sẽ đến Xương Đô."

Mai Tát nói: "Dọc đường đi những chuyện kỳ quái còn ít sao, anh nên quen dần đi, nên coi sự xuất hiện trở lại của chiếc Mã Mục Nhân là sự giúp đỡ của thần linh, có nó thế nào cũng tiện lợi hơn chút ít."

Hoàng tử Hương Ba vẫn buồn bã ủ rũ, đi ngang qua một bãi bồi tích phẳng lặng và rộng rãi bên vệ đường, anh lái xe chồm lên đó rồi dừng lại. Anh lặng lẽ ngồi, cô cũng lặng lẽ ngồi, cả hai không nói câu nào.

Đột nhiên, Hoàng tử Hương Ba bước xuống ghế lái, mở cửa xe phía sau, kéo Mai Tát xuống xe, ôm chầm lấy cô vào lòng.

Mai Tát ngẩn người như gà gỗ, chẳng có chút phản ứng nào. Thứ cô cảm nhận được không phải là dục vọng của Hoàng tử Hương Ba, mà là sự nản lòng, cô độc, mỏng manh và hoang mang. Trong lòng cô nhói lên một cái, từ từ mở rộng đôi vòng tay, ôm lấy anh. Lúc này, cô nghe thấy nhịp tim của anh, cũng nghe thấy nhịp tim của chính mình.

Hoàng tử Hương Ba thấp giọng nói: "Mẹ em đã bảo em thế nào? 'Con có thể vứt bỏ cha mẹ mình, nhưng con không thể vứt bỏ sự chờ đợi của mình. Cả đời con sẽ đợi chờ một người đàn ông, một khi người đàn ông này xuất hiện, trái tim con sẽ đập thình thịch thình thịch...'"

Mai Tát đẩy anh ra, khuôn mặt đỏ bừng như quả cà tím, không phải vì thẹn thùng, cũng chẳng phải vì phẫn nộ hay kích động, sự ăn năn có lẽ còn chính xác hơn, tựa như có ai đó bóc trần cô ra: Em đã chờ đợi khoảnh khắc này từ lâu lắm rồi, giờ đây Trí Mỹ không còn nữa, sự chờ đợi của em rốt cuộc đã thành hiện thực. "Không, không, không." Cô phản ứng kịch liệt nói, "Em không muốn nghe anh nói chuyện tình cảm, ngoại trừ 'Cửa Thất Độ Mẫu', anh đừng nói gì hết."

"Nhưng em cần anh, anh cũng cần em."

"Nhu cầu chung của chúng ta là khai quật phục tàng."

Hoàng tử Hương Ba nói: "Cái này không thành vấn đề, anh lấy sinh mạng ra thề, sẽ khai quật kho báu đến cùng."

Mai Tát trầm mặc một lát, đột nhiên cười nhạt một tiếng nói: "Đừng có bôi nhọ sinh mạng nữa, đến thuốc lá, rượu chè, thịt thà anh còn chẳng nỡ cai, thế mà còn hòng bàn chuyện khai quật phục tàng gì chứ. Anh vốn dĩ không có tư cách tiếp cận 'Cửa Thất Độ Mẫu'. Em đã nói từ lâu rồi, cai trừ tất cả những sở thích không thanh tịnh là tiền đề để khai quật phục tàng và là sự kỳ vọng vào đại phục tàng, đó là chân lý mà học thuyết phục tàng dạy chúng ta."

Hoàng tử Hương Ba trợn tròn hai mắt, dùng hàm trên cắn chặt môi dưới: "Nếu anh không muốn cai rượu, cai thuốc lá, cai thịt thì sao?"

"Vậy thì điều đó báo hiệu việc khai quật phục tàng thất bại, báo hiệu rằng tiến lên phía trước nữa chính là nộp mạng."

"Cũng báo hiệu rằng em sẽ rời xa anh?"

"Nhất định sẽ thế, bởi vì anh không phải là sự chờ đợi của em."

"Nhưng tình yêu của phụ nữ không do chính họ quyết định, sự mê muội vào cám dỗ và sự khuất phục trước sự ép buộc đôi khi chẳng có ranh giới quá rạch ròi. Đây là Tây Tạng, khắp nơi đều là núi non hoang vắng..."

Mai Tát quay người đi, quả quyết rút con dao Tạng từ thắt lưng ra, nhanh như y tá thạo nghề tiêm đâm phắt vào bắp tay mình. Con dao Tạng sắc bén xuyên thủng lớp vải, cắm phập vào da thịt, thân dao thoạt đầu còn rung bần bật, dần dần đứng im.

Hoàng tử Hương Ba biến sắc, hét lên: "Em đừng thế." Lại bất lực lắc đầu, rút thuốc lá và bật lửa từ trong túi áo ra, dùng hết sức lực ném về phía bãi bồi tích rộng lớn. Anh xót xa nhìn cánh tay của Mai Tát nói: "Cai, cai, cai, anh thề với em, cái gì cũng cai hết. Thế này được chưa?"

Mai Tát giơ cánh tay đang cắm dao Tạng về phía trước, trừng mắt nhìn anh: "Không được. 'Cai' chỉ là nhu cầu khai quật phục tàng, vẫn chưa phải là nhu cầu của em. Em cần sự rung động thực sự, mà anh thì chưa hề làm em rung động."

"Nói đi, làm thế nào mới có thể làm em rung động."

"Anh có thể dùng tình ca Thương Ương Gia Thố hát đến mức em khóc được không? Nếu có thể..."

"Em sẽ thuộc về anh. Em cứ đợi đấy, nhất định em sẽ khóc." Hoàng tử Hương Ba cất giọng hát:

Người tình ta yêu thương,

Đã bị nhà người ta cưới mất rồi,

Nỗi u uất trong lòng thành bệnh,

Da thịt trên người héo mòn.

Độ bi thương trong âm điệu xưa nay chưa từng có, tựa như Hoàng tử Hương Ba đã trải qua mọi nỗi đau thấu tận tâm can, mọi bi kịch tình yêu, khiến người ta có cảm giác trong lồng ngực anh chứa đựng cả một mùa đông lạnh giá, một mùa thu thê lương.

Nước mắt từ từ ngưng tụ trong hốc mắt Mai Tát, chậm rãi tuôn rơi.

Hoàng tử Hương Ba vui mừng kêu lên kinh ngạc: "Em khóc rồi, anh đã làm em rung động rồi, em thuộc về anh rồi."

Anh nhiệt liệt ôm chầm lấy Mai Tát, muốn hôn cạn dòng lệ trong khóe mắt cô.

Mai Tát giơ tay nâng cằm anh lên, dùng sức đẩy ra sau, từ chối cái ôm và nụ hôn của Hoàng tử Hương Ba. Ánh mắt phía sau làn nước mắt của cô lạnh buốt, đâm tới sắc nhọn như dao găm: "Anh không hiểu đâu, em đang đau lòng thay cho Trí Mỹ."

Hoàng tử Hương Ba buông tay ra, lúc này dường như mới nhớ ra, thi hài của Trí Mỹ vẫn chưa lạnh.

Lại nghe Mai Tát thốt ra những lời còn lạnh lẽo thấu xương hơn: "Em càng đau lòng thay cho Thương Ương Gia Thố."

Hoàng tử Hương Ba ngẩn người. Mai Tát nói tiếp: "Một kẻ tự xưng là chuyển thế của Thương Ương Gia Thố, một kẻ suốt ngày ngậm miệng là tình ca Thương Ương Gia Thố, kỳ thực lại là kẻ ít hiểu nhất về Thương Ương Gia Thố, kẻ không có tư cách nhất để hát tình ca Thương Ương Gia Thố, cũng là kẻ không xứng đáng nhất để sở hữu tình yêu."

Hoàng tử Hương Ba như bị ai đó nện cho một gậy đờ đẫn cả người, trân trân trừng mắt nhìn cô.

Từ khi trưởng thành đến nay, Hoàng tử Hương Ba luôn tự nhận mình là bậc thánh tình, phong lưu phóng khoáng, tung lưới khắp chốn tình trường, hoa nở khắp nơi. Dùng từ bách chiến bách thắng, không gì cản nổi để ví von cũng chẳng ngoa. Thiên hạ chỉ có chuyện anh từ chối con gái, làm gì có chuyện con gái từ chối anh. Cho dù có vấp phải một lần trắc trở, cũng chẳng đến mức đánh gục sự tự tin của anh, chẳng qua chỉ là hoa có ý mà nước vô tình, duyên phận mà thôi. Nào ngờ hôm nay một sự tiếc nuối tày đình lại xuất hiện: Người không nên từ chối nhất là Mai Tát lại từ chối anh, lý do từ chối lại chính là anh không hiểu nhất về Thương Ương Gia Thố, không có tư cách nhất để hát tình ca Thương Ương Gia Thố, không xứng đáng nhất để sở hữu tình yêu.

Hoàng tử Hương Ba lùi lại một bước đánh giá Mai Tát, cô gái mà anh yêu sâu đậm này, nay khiến anh không sao tài nào hiểu nổi. Kẻ vốn dĩ ăn nói lưu loát hoạt ngôn lúc này lại lắp bắp: "Em, Mai Tát, em, vừa nãy nói, nói những gì thế?"

Mai Tát nói: "Em không muốn nghe anh hát tình ca Thương Ương Gia Thố nữa, không phải sợ bị anh làm cho cảm động, mà sợ tình ca Thương Ương Gia Thố bị anh làm cho vấy bẩn."

Hoàng tử Hương Ba xấu hổ đến đỏ bừng cả mặt, tỉ mỉ quan sát, phát hiện ra Mai Tát đã xa vời, tựa như cô đã không còn cùng chủng loại với anh nữa, ở giữa hai người vắt ngang cả một vùng Tây Tạng, dùng tâm dùng tay cũng chẳng tài nào với tới được. Nhưng dù sao bản tính của anh vốn hiếu thắng, có lòng tự tôn vô cùng mạnh mẽ, sự bất khuất và khát vọng chinh phục vẫn chi phối anh. Anh chẳng muốn làm gì nữa, việc theo đuổi tạm dừng, tình dục gác lại, trong đầu chỉ nghĩ đến một chuyện, chính là hát cho thật hay tình ca Thương Ương Gia Thố, hát ra thứ sắc nhọn sắc bén nhất, để đâm nhói cô, làm cảm động cô, để nước mắt của cô ngâm giấm cô.

Bỗng nhiên, anh ngẩng nhìn bầu trời lớn tiếng nói: "Hôm nay, khoảnh khắc này, trước 'Cửa Thất Độ Mẫu' trong lòng tôi, trước tất cả các vị thần linh phía trước phía sau, bầu trời đại địa Tây Tạng, tôi muốn có một lời ước hẹn với Mai Tát: Nếu tôi dùng tình ca Thương Ương Gia Thố mà không hát ra được nước mắt của cô ấy, tôi - Hoàng tử Hương Ba không phải là đàn ông, thì có nghĩa là Thương Ương Gia Thố đã vứt bỏ tôi, tôi không xứng đáng sở hữu tình yêu, tôi sẽ rời xa Mai Tát và tất cả phụ nữ. Trước khi lời ước hẹn này được thực hiện, nếu tôi có bất kỳ vọng niệm vọng động nào với Mai Tát, Phật không phù hộ, thần không che chở, trời tru đất diệt!"

Mai Tát cũng ngẩng nhìn bầu trời lớn tiếng nói: "Tôi cũng thề, chỉ cần người đàn ông tên Hoàng tử Hương Ba ở bên cạnh tôi đây, dùng tình ca Thương Ương Gia Thố hát cho tôi nghe có thể làm tôi cảm động, khiến tôi rơi nước mắt, tôi sẽ thuộc về anh ấy, bao gồm cả thể xác, tình cảm, trái tim và linh hồn của tôi!"

Lại lên đường rồi. Hoàng tử Hương Ba nói: "Bây giờ em có thể tháo chiếc mũ lông cừu ra được rồi đấy, mặc dù nó rất đẹp, nhưng đội trông không tiện cho lắm. Hơn nữa, em lại có một mái tóc vừa dày vừa đẹp thế này, dùng mũ đè lên thì tiếc biết bao."

Mai Tát nói: "Học thuyết phục tàng dạy tôi rằng, đối với những người ăn mặc chỉnh tề, thần linh sẽ đặc biệt chiếu cố." Dù vậy cô vẫn tháo chiếc mũ lông cừu xuống, ném nó ra phía sau ghế ngồi.

Hoàng tử Hương Ba liếc nhìn cô một cái thật nhanh: "Sao em lại có thể dùng dao đâm chính mình cơ chứ, lại còn ra tay tàn nhẫn thế?"

Mai Tát che vết thương trên bắp tay nói: "Học thuyết phục tàng còn nói cho tôi biết, đối với những kẻ từng dùng việc tự hành hạ bản thân để phát lời thề bằng máu, sự chiếu cố của thần linh sẽ tăng lên gấp bội."

Hoàng tử Hương Ba đánh mạnh tay lái, né tránh một hòn đá lăn từ trên núi xuống.

Có lẽ là vì Hoàng tử Hương Ba cai thuốc, cai rượu, cai thịt, nên mấy ngày tiếp theo diễn ra suôn sẻ đến kỳ lạ. Họ đi qua Bát Tú, Ba Mật, Lâm Chi, Công Bố, Mặc Trúc, đều là những nơi phong cảnh vô tận, khiến cảm xúc chùng xuống của Hoàng tử Hương Ba dần dần dâng cao trở lại. Dù trước kia anh đã đến không dưới một lần, nhưng mỗi một nơi ở đây đều đến bao nhiêu cũng không thấy đủ, nhìn thêm một cái là có thêm một phần phúc phận. Anh lại bắt đầu cất tiếng hát tình ca Thương Ương Gia Thố, nhưng lại chẳng còn vẻ đắc ý vênh váo như trước nữa. Những lời của Mai Tát đã giáng một đòn chí mạng vào sự tự tin vốn có của anh, khiến anh không tài nào không hoài nghi chính mình: Chẳng lẽ thực sự tôi không hiểu Thương Ương Gia Thố và những khúc tình ca của ông ấy sao?

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.