Mai Tát là một người Tạng sinh ra ở Bắc Kinh, do cha mẹ định cư lâu dài ở Bắc Kinh nên đã cắt đứt liên lạc với quê hương. Cô cũng trở thành một người Tạng chưa từng đặt chân đến Tây Tibet, thậm chí chưa từng đến các vùng phía Tây. Hiểu biết của cô về văn hóa tôn giáo và phong tục tập quán Tây Tibet chủ yếu bắt nguồn từ lời kể của cha mẹ, từ sách vở, và từ trải nghiệm học đại học cũng như cao học tại Đại học Dân tộc Trung ương. Bây giờ, cô đã đến Lan Châu, thủ phủ tỉnh Cam Túc. Nhìn cảnh tượng đô thị ngoài cửa xe với những tòa cao ốc sừng sững và đèn nê-ông rực rỡ, cô lần này đến lần khác ngạc nhiên thốt lên: "Được đấy, tốt hơn tôi tưởng nhiều." Cô đang định xuống xem cảnh đêm bên bờ Hoàng Hà thì một gáo nước lạnh hắt thẳng vào mặt. Bầu trời ảm đạm bỗng nhiên đổ mưa.
Mấy ngày bôn ba liên tiếp đã khiến họ cực kỳ mệt mỏi. Trí Mỹ muốn tìm một khách sạn để ngủ thật ngon. Mai Tát không chịu, nói rằng phải đợi đến khi thực sự mở được "Cửa Thất Độ Mẫu" và lấy được "Phục Tàng cuối cùng" thì mới được nghỉ ngơi. Hoàng tử Hương Ba nói: "Đường ở đây tôi rành, để tôi lái xe, hai người cứ nghỉ ngơi trên xe đi." Anh đổ đầy xăng cho chiếc Wrangler, lại ghết một quán mì mở suốt ngày đêm để mọi người ăn uống no nê, rồi trong sự tĩnh lặng của buổi sáng sớm, anh khởi hành.
Chiếc Wrangler vừa vào đến Châu tự trị dân tộc Tạng Cam Nam là đã vứt bỏ được vẻ ảm đạm của bầu trời. Suốt dọc đường toàn là ánh nắng rạng rỡ, càng đi càng rạng rỡ. Sông Đại Hạ ở gần thượng nguồn đã ôm trọn lấy huyện thành Hạ Hà bằng một khúc uốn lượn hùng vĩ. Phía tây huyện thành, dưới cái nhìn bao quát của núi Long Sơn và đỉnh Phượng Lĩnh, trong khúc cua hình vỏ ốc xoay phải của sông Đại Hạ chính là Tôn Tư Thiên Cung giảng tu hoằng dương cát tường hữu tuyền châu thuộc phái Cách Lục của Phật giáo Tây Tibet (thường gọi là Hoàng giáo), một trong sáu ngôi đại tự nổi tiếng, hay còn gọi là Tự Lạp Bốc Lăng hoặc Trát Tây Kỳ. Nơi đây là cồng đức lâm trăm đời cát tường, tỏa sáng tươi tốt trên vùng đất An Đa rộng lớn.
Tự Lạp Bốc Lăng được khởi xây vào năm 1709 sau Công nguyên (năm Khang Hi thứ 48). Đại sư Gia Mộc Dạng đời thứ nhất theo lời thỉnh cầu của bối lặc Sát Hãn Đan Tân thuộc tả thủ kỳ Mông Cổ Thanh Hải, đã trở về quê nhà truyền pháp xây chùa, tạo nên những gian điện đường đầu tiên. Về sau, chùa được mở rộng nhiều lần, phát triển thành một thành phố tôn giáo Cam Nam như hiện nay với sáu trát thương (học viện), 48 tòa Phật điện, nang khiêm (nơi ở của Phật sống) và hơn 500 tăng xá.
Vừa nhìn thấy ngôi chùa, Hoàng tử Hương Ba đã hào hứng nói: "Phật giáo Tây Tibet lấy Lạp Tát làm trung tâm, kéo dài về phía tây đến Tân Cương, về phía nam đến chân núi Hy Mã Lạp Sơn, về phía đông đến lưu vực sông Đại Độ, cao nguyên Xuyên Tây, và về phía bắc đến toàn bộ Mông Cổ. Vị trí của Tự Lạp Bốc Lăng nằm ngay tại giao điểm của vùng mở rộng phía đông và vùng mở rộng phía bắc, đóng vai trò là trục xoay văn hóa và cột mốc tôn giáo. Nếu không có Tự Lạp Bốc Lăng, mối liên kết đức tin của toàn bộ hành lang Hà Tây, trung lưu Hoàng Hà, Nội Mông, Ngoại Mông và Cam Nam, Xuyên Tây, Tạng Đông, Tạng Nam sẽ vô cùng khó khăn. Có thể nói, Tự Lạp Bốc Lăng vừa vặn lấp đầy khoảng trống ở nơi tiếp giáp, hàn gắn một đứt gãy tôn giáo vô cùng rõ rệt, từ đó khiến Phật giáo Tây Tibet có phạm vi truyền bá rộng lớn hơn cả bản địa Tây Tibet."
Mai Tát ngồi bên cạnh liên tục gật đầu, cảm thán nói: "Tôi thật sự phí hoài làm một người Tạng và nhà nghiên cứu Tây Tạng học mà, một nơi quan trọng thế này lại chưa từng đến, quá muộn rồi."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Không muộn đâu, cô đến vừa đúng lúc, bởi vì có tôi đi cùng cô mà."
Mai Tát nói: "Tự cao tự đại. Có Trí Mỹ ở đây, có anh thì thừa, không có anh chẳng thiếu."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Đắc ý đi Trí Mỹ, cậu ít nói, thực tế, thâm trầm khó lường, đa số phụ nữ đều thích kiểu người như cậu."
Trí Mỹ bóp một tiếng còi: "Mai Tát không phải là đa số phụ nữ, Mai Tát chỉ có một."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Sai rồi, Mai Tát ít nhất có hai, trong mắt cậu một, trong mắt tôi một."
Mai Tát giáng một quyền vào vai Hoàng tử Hương Ba.
Chiếc Wrangler xuyên qua khu tăng xá, dừng lại ở quảng trường. Ba người xuống xe, mua vé tại quầy, đang chuẩn bị bước vào cửa hàng lưu niệm thì có một cô gái mày thanh mục tú bước đến chặn Hoàng tử Hương Ba lại.
"Tôi là hướng dẫn viên Ưng Kim, có người bảo tôi đến tiếp đón anh."
Hoàng tử Hương Ba kinh ngạc hỏi: "Ai? Tôi không ủy thác cho bất kỳ ai cả."
“Ủy thác rồi, anh thực sự ủy thác rồi, ủy thác cho bà tôi.”
Hoàng tử Hương Ba nói: "Không thể nào, tuyệt đối không thể nào."
"Đã không thể nào, tại sao tôi lại phải ở đây đợi anh chứ?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Đó là việc của cô. Nơi này tôi đã đến bốn năm lần rồi, không cần hướng dẫn viên."
Ưng Kim nói: "Lần này khác, Tự Lạp Bốc Lăng vừa mới được tu sửa xong."
Hoàng tử Hương Ba nhíu mày suy nghĩ: Ra là đã có người đợi hắn ở nơi này, rốt cuộc là kẻ nào? Anh nói với Mai Tát: "Em nói chuyện trước với cô gái này đi."
Anh không muốn để cô gái lạ mặt biết mình muốn thăm dò điều gì, bèn một mình bước vào cửa hàng lưu niệm. Thông thường, các cửa hàng lưu niệm đều có các bức tượng thu nhỏ của các pho tượng Phật nổi tiếng trong chùa, nhân viên bán hàng cũng phải biết bức tượng nào xuất phát từ điện thờ nào. Anh nhanh chóng lướt qua những pho tượng Phật bằng đồng, bằng sứ, bằng gỗ lớn nhỏ trước quầy, đột nhiên nói: "Cho tôi lấy một bức tượng Nhân Tăng Vượng Mẫu."
Nhân viên bán hàng ngẩn ra một lúc rồi nói: "Tượng Nhân Tăng Vượng Mẫu? Là Bồ Tát à? Chưa từng nghe bao giờ."
Hoàng tử Hương Ba tự an ủi mình: Tôi cũng chưa từng nghe bao giờ, nhưng chưa nghe không có nghĩa là không có. Tự Lạp Bốc Lăng rất lớn, có tới hàng vạn pho tượng Phật các loại, ai mà nhớ hết được chứ. Anh quay người bước ra khỏi cửa hàng lưu niệm, cố tình không nhìn Ưng Kim, vẫy tay ra hiệu cho Mai Tát và Trí Mỹ, đi về phía Văn Tư Học Viện gần nhất. Đi chưa được mấy bước, anh đã cảm thấy không khí trở nên cứng ngắc và căng thẳng, sự bình yên và điềm tĩnh của cõi Phật thanh tịnh đang biến mất từng chút một. Anh dừng lại, đột ngột quay đầu lại.
Cách đó hai mươi bước chân, kẻ có chiếc mũi tẹt và gò má cao chót vót đang đội chiếc mũ vành rộng màu nâu sẫm mà hắn xách trên tay lên đầu, xoay người ẩn mình vào đám đông du lịch.
Sát thủ xương sọ? Đã bám theo đến tận đây rồi sao.
Đứng sau sát thủ xương sọ là tổ chức hộ giáo thần bí "Điện chú máu người tàng hình", rõ ràng những đường hầm bí mật vô hình không thể thấy không thể chạm đó đang phát huy tác dụng, hoàn toàn nắm rõ hành tung của anh. Hoàng tử Hương Ba rùng mình một cái, nhận thức được rằng phải dùng thời gian ngắn nhất để kết thúc cuộc điều tra tại Tự Lạp Bốc Lăng, liền lớn tiếng giục Mai Tát và Trí Mỹ đi nhanh lên. Anh lại đi qua chỗ Ưng Kim và nói, "Chúng tôi thực sự không cần tiếp đón, cô cứ bận việc của mình đi."
Ưng Kim cười nhạt: "Tôi không bận, nhiệm vụ của tôi là tiếp đón các người."
Hoàng tử Hương Ba đành thì thầm với Mai Tát: "Em và Trí Mỹ giữ cô ta lại, đừng để cô ta đến gần anh quá, trước khi làm rõ thân phận thực sự của cô ta, không thể để cô ta biết mục đích của chúng ta." Nói xong, anh sải bước đi qua sân trước, bước lên bậc thềm chánh điện, cúi đầu hỏi nhanh một vị trung niên Lạt ma đang ngồi bên cửa: "Ở đây có thần tượng Nhân Tăng Vượng Mẫu không?"
"Tượng Nhân Tăng Vượng Mẫu?" Vị lạt ma trung niên lắc đầu, "Không biết cậu đang nói gì, tự đi tìm đi."
Hoàng tử Hương Ba còn định hỏi gì nữa, thấy Ưng Kim vứt Mai Tát lại để đi về phía mình, bèn vội vàng rời đi.
Ưng Kim đuổi theo anh và nói: "Đây là Văn Tư Học Viện, còn gọi là Thiết Tang Lãng Ngõa Trát Thương hay Huệ Giác Tự."
Hoàng tử Hương Ba nhìn bức hoành phi "Huệ Giác Tự" do Càn Long ban tặng được treo cao trong điện và nói: "Cái này ai mà không biết?"
Ưng Kim lại nói: "Văn Tư Học Viện là học viện Hiển tông của Tự Lạp Bốc Lăng, là một đạo tràng tụng kinh nổi tiếng, kết nối rộng rãi nhân duyên pháp bảo, có thể đồng thời dung nạp bốn nghìn lạt ma. Khi họ cùng nhau cất tiếng, những cánh cửa gỗ dày nặng sẽ bị thổi cho kêu cót két."
Đi đến đâu, Ưng Kim giảng đến đó, Hoàng tử Hương Ba phiền muộn tăng nhanh bước chân.
Mai Tát và Trí Mỹ cố tình tụt lại phía sau, nhỏ giọng hỏi một vị lạt ma đang thêm dầu châm đèn: "Có biết thần tượng Nhân Tăng Vượng Mẫu ở đâu không?" Không có kết quả, họ lại đi hỏi các lạt ma khác. Các lạt ma người nào người nấy ngơ ngác hơn, ngược lại còn truy vấn Mai Tát và Trí Mỹ: Tượng thần Nhân Tăng Vượng Mẫu là gì? Dường như "tượng thần Nhân Tăng Vượng Mẫu" chẳng liên quan gì đến Phật giáo Tây Tibet cả.
Hoàng tử Hương Ba sải bước đi nhanh, quan sát những chiếc cột dày dặn nổi tiếng và tràng phan bảo cái hoa lệ trong chánh điện, dừng lại vài giây trước chiếc ngai vàng rực rỡ của Đại sư Gia Mộc Tăng - chủ trì ngôi chùa - và tổng pháp đài của chùa, sau đó chắp tay trước ngực, bước qua các bức tượng Phật Thích Ca Mâu Ni, Tông Khắc Ba, Nhị Thắng Lục Trang Nghiêm và các đời Đại sư Gia Mộc Tạng. Dưới sự hộ tống của một vùng thêu thêt hình Phật rực rỡ đến hoa mắt, anh bước ra khỏi Văn Tư Học Viện, tiến về một tòa điện đường cao lớn và tráng lệ. Nhìn lướt qua bức hoành phi "Thọ Hi Tự" do vua Gia Khánh triều Thanh ban tặng, anh bước một bước vào trong.
Thọ Hi Tự là kiến trúc cao nhất của Tự Lạp Bốc Lăng, trên đỉnh cung điện kiểu phương đình sáu tầng lợp ngói đồng dát vàng, trang trí sư tử đồng dát vàng, rồng đồng, bảo bình đồng, pháp luân đồng, như ý đồng. Trong điện tôn trí pho đại đồng tượng Phật Di Lặc dát vàng gây chấn động, hai bên là đồng tượng Bát đại Bồ Tát dát vàng với phong thái siêu nhiên.
Hoàng tử Hương Ba nhìn bên này, ngó bên kia, quay đầu không thấy Ưng Kim đâu, bèn bước đến chỗ một vị lạt ma già, cung kính cúi người nói: "Sư phụ, con hỏi thăm một chuyện, Nhân Tăng..." Đột nhiên phát hiện Ưng Kim ló ra từ sau một chiếc cột, vội vàng ngậm miệng, quay người bỏ đi.
Ưng Kim đuổi theo nói: "Anh muốn hỏi thăm cái gì, có lẽ tôi biết đấy."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Cái này còn phải hỏi sao, đến chùa chiền thì không phải hỏi thăm tượng Phật thì là gì?"
Ưng Kim nói: "Tự Lạp Bốc Lăng là một bảo tàng nghệ thuật tạo hình có quy mô hoành tráng, trong chùa lưu giữ hơn hai mươi chín nghìn pho tượng Phật, anh hỏi thăm pho tượng Phật nào?"
"Tôi hỏi thăm pho tượng Phật lớn nhất."
"Tượng Phật lớn nhất là Phật Sư Tử Hống, nhìn một cái không thấy điểm dừng."
"Thế còn nhỏ nhất?"
"Tượng Phật nhỏ nhất là những pho tượng Phật bằng gỗ cao chưa đầy một tấc, nhẹ chưa đầy hai lạng trên cây ngàn Phật — hai đài hoa sen năm màu, một cặp bảo bình lớn mạ vàng, hai cây bồ đề bằng đồng nguyên chất, mỗi cây có năm mươi lá, mỗi lá đứng một vị Phật, tổng cộng có một nghìn vị Phật, gọi là cây ngàn Phật. Nó là báu vật hiếm có trên đời, càng là kỳ quan tạo tượng của Phật giáo Tây Tibet."
Hoàng tử Hương Ba còn định hỏi gì nữa, thì thấy sát thủ xương sọ đội chiếc mũ vành rộng màu nâu sẫm vội vã bước vào Thọ Hi Tự. Anh trốn vào một bên cột, tránh khỏi tầm mắt của sát thủ xương sọ, bước nhanh ra ngoài, lao thẳng đến điện Phật Thích Ca Mâu Ni cách đó không xa.
Anh nhớ đến điển tích "Thất bộ liên hoa". Thích Ca Mâu Ni vừa sinh ra đã có thể đi lại, đi bảy bước, mỗi bước đều nở ra một đóa hoa sen, thế là hoa sen tượng trưng cho sự đản sinh của Phật Đà. Kinh sách nói rằng bảy bước đi của Thích Ca Mâu Ni là pháp thân hóa hiện của bảy nữ thần. Nếu bảy nữ thần là Thất Độ Mẫu, vậy bức tượng thần Nhân Tăng Vượng Mẫu "canh gác cửa Thất Độ Mẫu" có phải có liên quan đến Thích Ca Mâu Ni hay không? Anh cảm thấy rất có thể mình sẽ tìm được câu trả lời trong điện Thích Ca Mâu Ni.
Hình dáng điện Thích Ca Mâu Ni rất giống Đại Chiêu Tự ở Lạp Tát, cao ba tầng, mái lợp ngói đồng mạ vàng. Trong điện chủ thờ hai pho tượng Phật Thích Ca Mâu Ni, một pho bằng đồng, một pho bằng vàng. Hoàng tử Hương Ba biết rằng, Kim Thích Ca do pháp sư Tĩnh Mệnh mang về từ Ấn Độ vào thế kỷ thứ VIII, trước tiên được Tông Khắc Ba - tổ sư phái Cách Lục - cúng dường, hầu như đã đi qua tất cả các đại tự phái Cách Lục ở Tây Tibet, cuối cùng được Đại sư Gia Mộc Tạng đời thứ nhất thỉnh về Tự Lạp Bốc Lăng làm trấn sơn chi bảo.
Hoàng tử Hương Ba thấy Ưng Kim không ở bên cạnh, vội vàng hỏi một vị lạt ma trẻ tuổi đang tay lắc pháp linh, tay lật kinh sách: "Ngươi có biết tượng thần Nhân Tăng Vượng Mẫu ở đâu không?"
"Nhân Tăng Vượng Mẫu? Anh đang hỏi một cô gái à?"
"Không, là tượng thần."
"Tượng thần? Là tượng thần của Phật mẫu ư? Vậy thì không biết."
Trong lòng anh bỗng sáng lên: "Đúng rồi, Nhân Tăng Vượng Mẫu chắc chắn là một vị nữ thần Phật."
Ưng Kim đã đuổi theo. Hoàng tử Hương Ba rời khỏi vị lạt ma trẻ tuổi, bước đến trước Kim Thích Ca, cúi đầu bái lái, quan sát kỹ lưỡng, chẳng nhận ra điều gì, bèn quay người bỏ đi. Vừa đến cửa thì chạm trán với sát thủ xương sọ.
Hoàng tử Hương Ba đứng cách ba mét chằm chằm nhìn đối phương, thấy trong tay hắn không có hung khí, liền hơi thở phào nhẹ nhõm. Hai người giằng co, ánh mắt giao nhau giống như sự va chạm giữa lửa và băng, đối với sát thủ xương sọ là mối hận không thể che giấu, đối với Hoàng tử Hương Ba là sự sợ hãi không thể kìm nén.
"Tại sao, tại sao lại ép tôi thế này?"
Sát thủ xương sọ cười lạnh lùng: "Biết rõ còn hỏi."
Hoàng tử Hương Ba thăm dò hỏi: "Nếu tôi từ bỏ 'Cửa Thất Độ Mẫu', anh vẫn sẽ giết tôi chứ?"
“Muộn rồi, anh không thể đóng cánh cửa đã mở ra.”
"'Cửa Thất Độ Mẫu' kỳ thực vẫn chưa thực sự mở ra."
"'Điện chú máu người tàng hình' không nghĩ như vậy."
"Lại là 'Điện chú máu người tàng hình', nó ở đâu?"
"Luôn ở bên cạnh anh."
Sát thủ xương sọ thò tay vào túi áo, vút một tiếng rút ra con dao xương sọ được chạm khắc tinh xảo. Hoàng tử Hương Ba toàn thân run lên, muốn trốn chạy nhưng đã bị sát thủ xương sọ tóm chặt lấy vai áo. Ưng Kim đột nhiên bước tới, len vào giữa Hoàng tử Hương Ba và sát thủ xương sọ, ôm lấy cánh tay của Hoàng tử Hương Ba. Sát thủ xương sọ buông Hoàng tử Hương Ba ra, lướt qua người Ưng Kim, con dao xương sọ lóe lên ánh lạnh lập tức được thu gọn lại.
Hoàng tử Hương Ba và Ưng Kim bước ra khỏi điện Thích Ca Mâu Ni, quay đầu nhìn lại thì sát thủ xương sọ đã quỳ rạp trước pho tượng Phật, thành kính dập đầu.
Ưng Kim nói: "Anh quen người này à?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Không quen, có vẻ như cô quen à?" Trong lòng nghĩ, rõ ràng cô gái này ban nãy cũng nhìn thấy con dao xương sọ, cũng biết sát thủ xương sọ muốn làm gì, tôi và cô ấy bèo nước gặp nhau, tại sao cô ấy lại cứu tôi?
Ưng Kim nói: "Tôi có gặp rồi, trong mơ."
Hoàng tử Hương Ba cười khổ lắc đầu, gạt tay Ưng Kim đang đỡ mình ra, bước về phía nam.
Ưng Kim đuổi theo anh: "Thực sự gặp trong mơ mà, tôi còn mơ thấy cả anh nữa."
Hoàng tử Hương Ba dừng lại, trợn mắt nhìn cô: "Rốt cuộc cô làm nghề gì thế?"
"Tôi chuyên môn tiếp đón anh mà, tôi làm hướng dẫn viên chính là để ngày ngày đợi anh."
“Những lời này cô đừng nói với tôi, hướng dẫn viên dẻo miệng kéo khách tôi thấy nhiều rồi. Nhưng tôi vẫn thích cô, nếu như chúng tôi đến đây không có con gái đi cùng, tôi nhất định sẽ để cô đi theo tôi cả ngày.” Nói xong, anh rút ra một tờ một trăm tệ đưa cho cô gái. Cô gái lắc đầu. Thêm một trăm nữa, vẫn lắc đầu. Anh lại thêm một trăm nữa, nhét vào tay cô gái nói: "Cảm ơn cô vừa nãy đã cứu tôi."
Ưng Kim lộ vẻ mặt uất ức: "Thứ tôi muốn không phải cái này."
Tuy nhiên, cô vẫn theo quy củ của chùa, không trả lại khoản tiền bố thí khiến mình không vừa ý cho thí chủ. Điều này khiến Hoàng tử Hương Ba cảm thấy hơi thất vọng: Giá như cô ấy thực sự thuần khiết đến mức một chút vì tiền cũng không có thì tốt biết mấy, vậy thì tôi đã yêu cô ấy mất rồi. Anh quay người bước đi.
Ưng Kim đi theo sau, vẫn dùng giọng điệu ân cần của hướng dẫn viên nói: "Phía trước là điện Phật Bạch Độ Mẫu."
Hoàng tử Hương Ba ngẩn người ra: Sao mình lại quên mất, Tự Lạp Bốc Lăng có một tòa điện Phật Bạch Độ Mẫu cơ mà.
Vẫn là sự thất vọng, trong điện Phật Bạch Độ Mẫu không có tượng Phật Nhân Tăng Vượng Mẫu, tượng Bạch Độ Mẫu ở đây không có bất kỳ liên quan nào với "Cửa Thất Độ Mẫu". Anh không nhịn được hỏi: "Tự Lạp Bốc Lăng còn có nữ thần Phật nào ở đâu nữa?"
Ưng Kim nói: "Nữ thần của Phật giáo Tây Tibet đại khái có bốn series: series Trác Mã, series Không Hành Mẫu, series Nữ Hộ Pháp Thần, series Nữ Ma, cơ bản đều thuộc Mật tông. Tự Lạp Bốc Lăng có năm học viện Mật tông, trong đó Tục Bộ Thượng Học Viện chính là tôn trí hai mươi mốt vị tượng Phật Độ Mẫu."
Cách đây không xa chính là Tục Bộ Thượng Học Viện. Hoàng tử Hương Ba bước qua, với tốc độ nhanh nhất bái lạy Bát đại Dược Sư Phật, Thập lục La Hán, Ba mươi lăm vị Sám Hối Phật, một nghìn pho tượng Phật Vô Lượng Thọ bằng đồng, cuối cùng đến trước hai mươi mốt pho tượng Phật Độ Mẫu. Hai mươi mốt pho tượng Phật Độ Mẫu được biến hóa từ đôi mắt của Quán Thế Âm, ngoài Bạch Độ Mẫu và Lục Độ Mẫu thường thấy ra, còn có Hồng Độ Mẫu, Hoàng Độ Mẫu, Hắc Độ Mẫu, Tử Độ Mẫu, Lam Độ Mẫu, Hoa Độ Mẫu v.v. Các vị Độ Mẫu xinh đẹp, dưới ánh đèn bơ, bằng tư thế ưu mỹ thân thiện với muôn loài, quyến rũ trong làn khói mờ ảo, thể hiện tình cảm của thế giới thần linh cõi Phật đối với chúng sinh hữu tình một cách ôn hòa đáng yêu.
Hoàng tử Hương Ba thấy Ưng Kim đứng ở cửa không đi qua, vội vàng hỏi vị lạt ma canh đèn xem vị Độ Mẫu nào tên là Nhân Tăng Vượng Mẫu. Câu trả lời là sự im lặng, dường như vị lạt ma đó hoàn toàn không muốn đếm xỉa đến cái câu hỏi quái gở này.
Anh cứ thế ngắm nhìn từng pho tượng một, hy vọng có thể tìm thấy tung tích của "Cửa Thất Độ Mẫu" trong vòng tay của một pho tượng nào đó, nhưng rất nhanh đã nhận ra đây là lãng phí thời gian, đang định bỏ đi thì thấy Mai Tát và Trí Mỹ bước vào.
Mai Tát và Trí Mỹ nói với Hoàng tử Hương Ba rằng họ vừa đi qua Học viện Thời Luân, Học viện Hỉ Kim Cương, Tục Bộ Hạ Học Viện và Học viện Y dược thuộc hệ Mật tông, đều không dò la được tượng thần Nhân Tăng Vượng Mẫu.
Mai Tát nói: "Xem ra hướng suy nghĩ của chúng ta không đúng rồi."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Hay là chúng ta đến tháp Cống Đường xem sao?"
Ưng Kim bước tới nói: "Tham quan Tự Lạp Bốc Lăng, tháp Cống Đường nhất định phải đến."
Họ rời khỏi Tục Bộ Thượng Học Viện, vòng qua cung Lang Cung và cung Cống Đường, đi về phía tháp Cống Đường.
2
Tháp Cống Đường nằm ở góc tây nam Tự Lạp Bốc Lăng, bảy tầng chồng lên nhau, mái ngói xanh đỉnh vàng, bên trong dùng rất nhiều báu vật hiếm có trên đời để cúng dường tượng Phật, kinh điển và pháp khí, giá trị không thể đong đếm, được mệnh danh là Phật tháp thứ ba của châu Á.
Hoàng tử Hương Ba và Ưng Kim bước vào cửa tháp trước tiên, người đến gió theo, theo nhịp bước chân của họ, những ngọn đèn bơ lần lượt tắt ngấm. Sâu trong tháp tối mù mịt, chỉ còn sáng duy nhất một ngọn đèn bơ. Hoàng tử Hương Ba nhìn thấy bên trong không có một vị lạt ma nào túc trực canh giữ, liền định tự tay châm sáng những ngọn đèn bơ đó. Đang định cầm cái bấc mồi lửa lên, thì thấy ngọn đèn duy nhất đang tỏa sáng cũng tắt ngóm. Anh ngẩn người, đột nhiên nghe thấy từ trong bóng tối truyền đến một tiếng bước chân sột soạt, nhịp điệu có chút quỷ dị, có thể cảm nhận được đó là một tiếng động đang lén lút đến gần. Anh thầm kêu nguy hiểm, lùi lại phía sau một bước, dẫm trúng chân Ưng Kim phía sau. Ưng Kim đau đến mức hít hà xuýt xoa, khom người xoa xoa chân. Anh nói: "Xin lỗi." Ưng Kim nói: "Không sao đâu." Lời chưa dứt, một luồn phi dao xé gió bay tới, rẹt một tiếng cắt rách vai áo của Hoàng tử Hương Ba, cắm phập vào vách gỗ đằng sau. Ưng Kim thình lình đứng thẳng người dậy, hét lớn một tiếng: "Mau ngồi xổm xuống." Rồi lao bổ tới, đè Hoàng tử Hương Ba - người vẫn đang ngẩn ngơ nhìn phi dao - và chính mình chui xuống dưới bàn cúng dường. Gần như cùng lúc đó, một cây gậy sắt hú gió lao tới, nện thẳng lên mặt bàn, đập cho đồ cúng trên bàn văng tung tóe khắp nơi.
Mai Tát và Trí Mỹ xông vào hét lớn: "Sao thế? Sao thế?"
Có kẻ bỏ chạy hộc tốc, không biết đụng phải thứ gì, lả tả một trận kêu leng keng.
Ưng Kim kéo Hoàng tử Hương Ba chui từ dưới bàn cúng dường ra, đi ra ngoài.
Ánh sáng tràn từ ngoài cửa vào, bóng người dần trở nên rõ ràng. Họ bước nhanh ra khỏi tháp Cống Đường, phát hiện ra chỉ mới ở bên trong có vài phút mà ánh nắng bên ngoài đã trở nên vô cùng gần gũi rực rỡ. Hoàng tử Hương Ba quay đầu nhìn cánh cửa hang tháp tối đen, thầm nghĩ ban nãy nguy hiểm thật, có phải sát thủ xương sọ không? Chẳng lẽ hắn mọc cánh hay sao mà lại đến mai phục ở đây nhanh thế chứ? Chợt nghĩ đến con phi dao lóe ánh lạnh ban nãy là một con dao lá trúc hai lưỡi chứ không phải con dao xương sọ được chạm khắc tinh xảo, thì lại càng kinh ngạc hơn: Tên sát thủ từng xuất hiện tại biệt thự Cơ Cơ Bố Xích ở tiểu khu Hoa Viên Cam Lộ Tuyền Bắc Kinh nay lại xuất hiện ở đây, chẳng lẽ bọn chúng muốn liên thủ với sát thủ xương sọ để đối phó với tôi? Tôi tính là cái thá gì chứ, một nhúm lông cừu rời khỏi thân cừu, chịu nổi những cơn gió cuồng thổi từ đông tây nam bắc hay sao? Hơn nữa, hơn nữa anh đã nhìn thấy cây gậy sắt giơ cao giáng xuống, nếu lúc đó đập xuống thì anh chắc chắn không tránh khỏi. Nhưng cây gậy sắt lại chậm hơn một tích tắc, hung thủ dường như đang đợi Ưng Kim, đợi Ưng Kim vừa đứng thẳng người dậy là cây gậy sắt liền hú gió lao đến.
Hoàng tử Hương Ba quay phắt đầu lại chằm chằm nhìn Ưng Kim: À, có lẽ, chỉ là có lẽ thôi, có kẻ cũng muốn ra tay độc ác với cô, rốt cuộc cô là ai? Nhưng anh không thốt lên lời, điều anh thốt ra là: "Cảm ơn cô, cô lại cứu tôi một mạng nữa rồi." Đột nhiên anh ngẩn người, hai mắt phát sáng, trân trân nhìn chằm chằm vào ngực cô, nơi đó có những đường cong phập phồng đầy đặn, có làn da trắng mịn màng mà bộ quần áo cổ thấp không thể che hết, còn có cả một chuỗi vòng tay mã não đỏ. Kể từ lúc xuất hiện đến nay, người mà anh chưa từng nhìn thẳng lấy một lần như Ưng Kim, vậy mà lại đeo một chuỗi vòng mã não đỏ khiến tim anh đập thình thịch.
Ưng Kim nói: "Bây giờ anh nên nói cho tôi biết rồi chứ, rốt cuộc các người đang dò la cái gì?"
Hoàng tử Hương Ba trừng trừng nhìn chuỗi vòng mã não đỏ và mặt dây chuyền trên chuỗi vòng của cô, nói: "Thứ chúng tôi dò la, chẳng lẽ là cô sao?"
Ưng Kim dùng tay che ngực mình lại, vô cùng khó hiểu: "Tôi?"
Một tiếng hát vang lên, chính là điệu Tình ca Thương Ương Gia Thố được cài làm nhạc chuông điện thoại:
Đỉnh non trùng điệp phương Đông,
Mây khói vờn quanh trên núi,
Có phải Nhân Tăng Vượng Mẫu,
Lại đốt hương thần cho tôi.
Ưng Kim lấy điện thoại ra từ chiếc túi xách màu nâu, theo thói quen bước sang một bên, "Alo alo" mấy tiếng rồi nói: "Anh là ai? Sao anh biết số điện thoại của tôi? Bà tìm tôi ư? Bà bị làm sao? Đột nhiên ngất xỉu à? Được, tôi về ngay đây." Nói xong quay đầu bỏ đi không thèm nhìn lại.
Hoàng tử Hương Ba lao tới, tóm chặt lấy Ưng Kim, bóp lấy chuỗi vòng mã não đỏ của cô.
Ưng Kim nói: "Xin lỗi, tôi phải đi thăm bà tôi." Vừa nói vừa dùng sức đẩy anh ra.
Bẹp một tiếng, chuỗi vòng đứt tung, mặt dây chuyền mã não đỏ hình trái tim nằm lại trong tay Hoàng tử Hương Ba.
Ưng Kim tháo chuỗi vòng trên cổ xuống, nắm chặt trong tay nhìn ngắm, kinh ngạc nhìn anh: "À, anh lấy đi trái tim của tôi rồi, anh chính là người mà tôi đợi từ rất lâu rất lâu rồi. Người mà tôi mơ thấy quả nhiên là anh, chính là anh đã cất tiếng hát tình ca Thương Ương Gia Thố trong giấc mơ. Tôi sẽ còn đến tìm anh, tôi nhất định sẽ tìm thấy anh, nghe anh tự miệng hát cho tôi nghe." Nói đoạn cô cướp đường bỏ chạy.
Hoàng tử Hương Ba nhìn những chữ khắc trên mặt dây chuyền mã não đỏ, đọc lên: "Nhân Tăng Vượng Mẫu?"
Mai Tát và Trí Mỹ xúm lại, cũng trân trân nhìn mặt dây chuyền y như anh.
Hoàng tử Hương Ba ân hận nói: "Nhạc chuông điện thoại của cô ấy là 'Nhân Tăng Vượng Mẫu', mặt dây chuyền vòng cổ của cô ấy là 'Nhân Tăng Vượng Mẫu', cô ấy chính là Nhân Tăng Vượng Mẫu. Sao tôi không sớm nói cho cô ấy biết, người chúng ta tìm chính là Nhân Tăng Vượng Mẫu cơ chứ." Anh tự trách đấm đấm ngực mình, "Hơn nữa tôi còn đang tìm mọi cách né tránh cô ấy, tôi đúng là cái đồ quái gở chết tiệt mà."
Trí Mỹ nói: "Ai bảo cô ấy đến tiếp đón chúng ta? Lại là ai gọi cô ấy đi? Cô ấy chắc chắn có lai lịch."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Đúng, không thể để cô ấy đi được, mau đuổi theo."
Ba người đuổi theo theo ba ngả đường.
Tự Lạp Bốc Lăng với tư cách là một thành phố tôn giáo hoành tráng một cõi, tỏa sáng muôn phương, chằng chịt vô số ngõ hẻm phố xá, muốn tìm kiếm một kẻ không rõ lai lịch ở đây hầu như là điều không thể. Ba người hội tụ trước điện Phật Bạch Tán Cái (Bạch Tán Cái Phật mẫu điện), thở hổn hển ngồi trên bậc thềm, nửa ngày trời không nói nên lời.
Hoàng hôn đã ló dạng, sắc xanh của dãy núi đang mờ dần chìm vào chiều sâu, có chỗ màu đen, có chỗ màu xám, trong cảnh mờ mịt ấy, những thứ thuộc về tự nhiên hoàn toàn trở thành vật làm nền cho Phật điện. Từng phiếm mái vàng, từng tòa mái xanh, từng lớp lầu vũ ban cho đại sơn đại thủy một cõi linh khí. Phật chính là sự tái sinh của linh khí tự nhiên.
Hoàng tử Hương Ba nói: "Trí Mỹ, đến lượt cậu bói toán rồi đấy."
Trí Mỹ lắc đầu: "Mỗi lần bói toán, tôi đều phải khẩn cầu Bói Thần an trụ trong tâm, Bói Thần không đến thì bói toán chẳng khác nào trò trẻ con, tuyệt đối không thể linh nghiệm. Tôi đã gọi Bói Thần rồi, Bói Thần không đến trong lòng tôi."
Có một vị lạt ma trung niên đang quét dọn bậc thềm trước điện bước tới nói: "Mau đi đi, Phật sắp tan tầm rồi."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Phật không thể làm thêm giờ một lát sao?"
Lạt ma nói: "Không thể, Phật ngày mai dậy sớm, năm giờ đã phải cùng các lạt ma làm pháp sự rồi. Các người nếu muốn đến sớm, thì đừng đi đâu xa, ở ngay Khách sạn Hạ Hà bên cạnh Tự Lạp Bốc Lăng ấy, giá tiền cũng như nhà nghỉ trong huyện thành mà lại thanh tịnh hơn."
Hoàng tử Hương Ba hỏi: "Khách sạn Hạ Hà có phải do tăng nhân kinh doanh không?"
Lạt ma mỉm cười, nháy mắt nói: "Biết đi thế nào rồi chứ?"
Ba người bàn bạc với nhau, kết quả là: Cứ ở lại trong chùa, ngày mai tiếp tục đi tìm người. Hơn nữa cô gái Ưng Kim, à không, Nhân Tăng Vượng Mẫu đã nói rồi, Hoàng tử Hương Ba đã lấy đi trái tim của cô, anh chính là người mà cô chờ đợi từ rất lâu rất lâu rồi, cô sẽ còn đến tìm anh. Mai Tát ít nói, trên khuôn mặt lồi lõm chỗ nào cũng biểu lộ sự khinh miệt và bài xích đối với Nhân Tăng Vượng Mẫu. Nhưng cô vẫn đồng ý ở lại, mặc kệ Nhân Tăng Vượng Mẫu là người thế nào, có dụng ý gì, xuất phát từ việc mở "Cửa Thất Độ Mẫu", mấu chốt hiện tại phải là tìm cho ra Nhân Tăng Vượng Mẫu bằng xương bằng thịt này, chứ không phải là một bức tượng thần điêu bằng đất hay đúc bằng đồng.
Trên đường đến Khách sạn Hạ Hà, Mai Tát ngâm nga "Sách hướng dẫn thọ ký":
Thiên mẫu an trụ tại Đâu Sát Thiên Cung, nói rằng: Vị thần tên là Nhân Tăng Vượng Mẫu này, đang canh giữ cửa Thất Độ Mẫu.
Rồi cô trút nỗi bực dọc nói: "Tôi không tin, quyết không tin, cái người ngay cả hướng dẫn viên cũng làm không nên hồn, lại còn bỏ dở giữa chừng này, lại chính là Nhân Tăng Vượng Mẫu 'canh giữ cửa Thất Độ Mẫu' năm này qua tháng nọ."
Hoàng tử Hương Ba xích lại gần tai Mai Tát nhỏ giọng nói: "Sao mà ghen tuông thế hả? Nói thật nhé, Nhân Tăng Vượng Mẫu dẫu có mê hồn đến đâu, so với em thì vẫn kém một đoạn dài đấy."
Mi mắt Mai Tát bỗng hất lên, trào ra toàn bộ ánh sáng bên trong, ngoài miệng lại nói: "Nói một đằng làm một nẻo."
Khách sạn Hạ Hà là một tòa viện kiểu Tạng ba tầng, nằm sát bên sông Đại Hạ, một mặt là nhà hàng, ba mặt là phòng khách. Rất nhiều du khách có ý định sáng sớm tinh mơ đi theo các lạt ma đến các ngôi điện kinh đường tham gia tụng kinh buổi sáng đều ở đây.
Ba người trước tiên thuê hai phòng ở tầng hai, vội vàng tắm rửa rồi xuống nhà hàng ăn cơm, ăn xong thì ai về phòng nấy. Hoàng tử Hương Ba nhìn bóng lưng Mai Tát và Trí Mỹ lần lượt bước vào căn phòng bên cạnh, tiếc nuối lắc đầu, thầm nghĩ bất công quá, trên thế giới này tại sao phòng của tôi lại trống không thế này? Bỗng nhiên lớn tiếng nói: "Chúc hai người trải qua một đêm tuyệt vời nhé." Rồi cất giọng hát, tự nhiên là điệu Tình ca Thương Ương Gia Thố:
Cây liễu đem lòng yêu chú chim nhỏ,
Chim nhỏ say đắm cây liễu,
Chỉ cần tình ý tâm đầu,
Diều hâu cũng đành chịu thua.
Mai Tát đứng đợi ở cửa, quay lưng về phía anh nghe anh hát, dư âm vẫn còn vương vấn, cô đã vội vã sập cửa lại cái rầm.
Một tiếng bẹp vang lên, tiếng hát của Hoàng tử Hương Ba đột ngột dừng bặt. Anh nhìn chằm chằm cánh cửa đóng chặt, vỗ đập đầu một cái nói: "Xong rồi xong rồi, người đẹp của tôi không thèm đếm xỉa đến tôi nữa rồi, tối tăm quá, ánh sáng ở đâu chứ? Phật ơi Phật ơi, con muốn một cô gái mà Phật cho con."
Bên trong cánh cửa, tình ca tựa như làn sóng điện, trong chớp mắt xuyên thủng linh hồn và thể xác, một nỗi sợ hãi và đau đớn đột nhiên ập đến, Mai Tát run lẩy bẩy nói: "Trí Mỹ, Trí Mỹ."
Trí Mỹ dùng ánh mắt hỏi cô: Sao thế?
Mai Tát thở hổn hển nói: "Mau cứu em."
Rồi cô vứt ba lô sang một bên, hất chiếc mũ dạ lông bò ra, lao tới ôm chặt lấy Trí Mỹ.
Họ quấn lấy nhau trong nụ hôn cuồng nhiệt, dò dẫm đối phương, cứ như thể họ lần đầu tiên làm thế này, cứ như thể họ là một cặp tình nhân xa cách lâu ngày, nhớ nhung nhau suốt mấy chục năm, lại càng giống như họ cuối cùng cũng có được thứ dục vọng kỳ lạ, đậm đặc và không hề tạp chất, cần phải đi dạo khắp dòng sông. Rất nhanh chóng, họ xé rách quần áo của đối phương, khi thân thể trần truồng hiện ra, khúc tình ca cũng tựa như con nước tuôn trào khỏi khóe môi Mai Tát:
Dòng nước chảy mãi không thôi,
Cùng hòa vào một chiếc hồ,
Nếu trong lòng có thành ý,
Hãy đến hồ mà dẫn nước về đi.
Họ bắt đầu làm tình.
Trí Mỹ nói: "Em hát hay thật đấy, em hát cho ai nghe thế?"
Mai Tát kịch liệt lắc đầu: "Trí Mỹ, em biết anh sẽ cho em mọi thứ, anh đã cho em mọi thứ rồi. Em yêu anh, em chỉ yêu một mình anh thôi, cho dù có chuyện gì xảy ra đi nữa, bất kỳ ai cũng đừng hòng cướp em khỏi bên cạnh anh."
Trí Mỹ nói: "Anh biết, anh biết mà."
Nhưng Trí Mỹ còn biết rõ hơn, khủng hoảng cuối cùng đã xuất hiện. Trong tiềm thức của Mai Tát, người đang làm tình với cô không phải là anh, ít nhất về mặt linh hồn thì không phải, khúc tình ca chính là bằng chứng. Chưa bao giờ cô hát tình ca Thương Ương Gia Thố trước mặt anh, hôm nay cũng không, tuyệt đối không, khúc tình ca đó là hát cho Hoàng tử Hương Ba nghe, đó là câu trả lời của linh hồn không thể kìm nén dành cho Hoàng tử Hương Ba.
Hoàng tử Hương Ba đứng ở hành lang một lúc, thất hồn lạc phách bước vào phòng mình, ngả người nằm vật ra giường một lát, chợt nhớ đến sự xuất hiện của sát thủ xương sọ và vụ mưu sát bất thành trong tháp Cống Đường, bỗng giật mình ngồi dậy, lao tới khóa chết cửa lại từ bên trong.
Cửa nhà vệ sinh từ từ mở ra, có người bước ra, không chỉ một người, mà là một đám, một đám lạt ma mặc cà sa đỏ từ trong nhà vệ sinh tuôn ra vây kín lấy Hoàng tử Hương Ba. Hoàng tử Hương Ba chấn động kinh ngạc, đứng trân trân không động đậy. Người tới chính là A Nhược Lạt ma cùng đoàn tùy tùng. Hoàng tử Hương Ba nhìn thấy, trong số họ thiếu mất Ô Kiên Lâm Ba.
“Ôi chao thời buổi thay đổi mà tôi không hề hay biết, cảnh sát Trung Quốc đã chuyển giao quyền lực trinh sát phá án cho lạt ma Phật sống rồi cơ à, vất vả quá vất vả quá, có thể đuổi theo tôi quả không dễ dàng gì đâu.”
“Có minh thị của Bất Động Phật, ngươi trốn đi đâu, chúng tôi cũng có thể đuổi theo đến đó.”
Hai tên lạt ma lực lưỡng kẹp lấy Hoàng tử Hương Ba ấn mạnh anh ngồi xuống thành giường, Hoàng tử Hương Ba giãy giụa nói: "Nói các người béo các người lại thở phì phò ngay được, đây không phải Ung Hòa Cung, các người không có quyền động đến dù chỉ một cọng lông tơ của tôi."
A Nhược Lạt ma nói: "Ngươi sát hại sư phụ Biên Ba của mình, đã đọa một tầng địa ngục. Trộm cắp 'Cửa Thất Độ Mẫu' của Ung Hòa Cung, đã đọa hai tầng địa ngục. Mang theo tội nghiệt mà không biết hối cải, chạy nhông nhông khắp nơi, đã đọa ba tầng địa ngục. Bây giờ lại đến Tự Lạp Bốc Lăng làm điều ác, chẳng lẽ còn muốn đọa tầng địa ngục thứ tư nữa sao?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Tôi chưa từng làm bất cứ chuyện gì đáng phải đọa địa ngục cả, ngươi vậy mà không nhìn ra, còn làm lạt ma cái nỗi gì? Lạt ma bắt người là phi pháp, pháp chính là Phật, Phật chính là pháp, ngươi làm trái pháp chính là làm trái Phật."
A Nhược Lạt ma nói: "Hay cho câu làm trái pháp chính là làm trái Phật." Nói xong, lôi điện thoại ra gọi: "Vương Nham phải không? Đã bắt được Hoàng tử Hương Ba rồi, các người mau qua đây đi, hai đồng trí của hắn cũng ở phòng bên cạnh."
Hoàng tử Hương Ba biết là gọi cho cảnh sát, cảnh sát tên là Vương Nham, là nham trong nham thạch, hay ngam trong phát ngôn? Anh châm chọc nói: "Anh cũng biết mượn đao giết người cơ đấy? Không tăng không Phật, vô từ vô bi đến mức độ này rồi, mà còn mặt mũi khoác bộ cà sa này lên người."
A Nhược Lạt ma mặt không biểu cảm nói: "Ta khuyên ngươi tốt nhất hãy mau giao ra đây, 'Cửa Thất Độ Mẫu' mang lại cho kẻ trộm cắp tuyệt đối không phải là phúc, đối với những kẻ tham tài hại mạng như các ngươi, món phục Tàng duy nhất sẽ là tai họa duy nhất."
Hoàng tử Hương Ba biết nói gì cũng vô ích, cười khổ một tiếng, cúi đầu xuống.
Có tiếng gõ cửa. Không ai ngờ cảnh sát lại đến nhanh thế. Nhưng cảnh sát bước vào không phải Vương Nham, Bích Tú và Trác Mã ở Bắc Kinh, mà là cảnh sát đồn công an sở tại.
Cảnh sát đồn công an kinh ngạc nhìn mấy vị lạt ma và Hoàng tử Hương Ba đang bị ấn trên thành giường, một người trong số đó hỏi: "Các người đang làm gì thế?"
A Nhược Lạt ma nói: "Bắt tội phạm, hắn là tội phạm giết người trộm cắp."
Cảnh sát hỏi: "Có chứng cứ không?"
A Nhược Lạt ma nhất thời không đáp lại được, đành nói: "Sẽ có thôi."
Cảnh sát có chút tức giận: "Các lạt ma mà đều đi bắt tội phạm cả thì cảnh sát chúng tôi chắc đi tụng kinh mất thôi. Thả hắn ra, chúng tôi có chuyện muốn hỏi."
A Nhược Lạt ma ra hiệu cho hai tên lạt ma lực lưỡng thả Hoàng tử Hương Ba ra.
Cảnh sát trừng mắt nhìn Hoàng tử Hương Ba nói: "Hôm nay cậu đã thuê một hướng dẫn viên à? Hướng dẫn viên có phải tên là Ưng Kim không?" Thấy anh gật đầu, lại nói tiếp, "Cô ấy xảy ra chuyện rồi."
"Xảy ra chuyện gì cơ?"
"Đến nơi khắc biết, đi thôi."
Hoàng tử Hương Ba bị mấy cảnh sát đồn công an áp giải đi. Lúc đi ngang qua phòng của Mai Tát và Trí Mỹ, anh bước nhanh hơn. A Nhược Lạt ma biết cản trở cũng vô ích, dẫn theo người của mình đi theo phía sau.
Cảnh sát hỏi: "Các người đi làm gì?"
A Nhược Lạt ma nói: "Làm chứng."
Cảnh sát nói: "Vậy đi một người thôi, đừng đi tất cả."
3
Cô gái Ưng Kim đã chết. Cô chết ở bên ngoài cửa ni cô am phía Tây Tự Lạp Bốc Lăng. Khi Hoàng tử Hương Ba đến nơi, thi thể vẫn đang trong quá trình khám nghiệm. Cô úp mặt xuống đất, là một tư thế trần truồng gây chấn động thị giác, nửa người bê bết máu thịt, đã chẳng còn hình người. Cảnh sát đồn công an nhất thời không hiểu nổi tại sao các vết thương trên người nạn nhân lại là những lỗ máu nối tiếp nhau, từ mu bàn tay đến mang tai, mười hai lỗ máu nối liền thành một đường thẳng. Hơn nữa lại là những lỗ máu tròn sâu hoắm như vậy, tuyệt đối không thể do dao đâm ra được, nhất định có một loại công cụ giết người đặc biệt nào đó đã giúp hung thủ hoàn thành vụ án mạng thảm khốc này.
Hoàng tử Hương Ba cảm thấy một nửa cơ thể đau nhức, đau từ trong ra ngoài, nội tạng bên trong đau, da thịt bên ngoài đau, cứ như mười hai lỗ máu đó đang khoét trên người anh vậy. Anh nhìn chuỗi vòng mã não đỏ vẫn bị cô gái Ưng Kim nắm chặt trong tay, đau buồn nói: "Là cô ấy, một hướng dẫn viên không mời mà đến, cô ấy nói cô ấy tên là Ưng Kim."
Cảnh sát nói: "Nói mau, hôm nay rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì, tuyệt đối đừng giấu giếm."
Hoàng tử Hương Ba nói bằng giọng điệu thần kinh: "Các anh nghi ngờ là tôi giết cô ấy?"
Cảnh sát nói: "Đừng căng thẳng, chúng tôi có quyền nghi ngờ bất kỳ ai."
Hoàng tử Hương Ba nhớ lại cảnh tượng có kẻ mưu sát bất thành trong tháp Cống Đường ban ngày, đang định thốt ra thì bất chợt bị sự sắp xếp của các lỗ máu trên người Ưng Kim thu hút. "Thủ thái dương tiểu tràng kinh huyệt?" Anh ngồi xổm xuống nhìn xem và nói, "Mười hai lỗ máu vừa vặn là mười hai huyệt vị."
Cảnh sát hỏi: "Sao cậu lại rành thế?"
"Tôi bái sư học nghệ dưới trướng Biên Ba - người tinh thông Mật tông, kiến thức về kinh lạc huyệt vị là môn học bắt buộc."
Cảnh sát lại hỏi: "Có thể dùng thứ gì để khoét ra những lỗ máu thế này?"
“Một loại dụng cụ khoan, được chế tạo đặc biệt, chuyên dùng để phá hủy con đường chuyển dời linh thức của người chết.”
Trăng non đang sáng, đèn đang sáng, cô gái Ưng Kim nằm trên mặt đất cũng đang sáng. Nơi tịnh thổ cõi Phật, ánh mắt của con người sáng rực lên như những con dao lạnh, có bao nhiêu ánh mắt là có bấy nhiêu dao lạnh. Phật ở trong bóng tối, không nói không rằng, sự im lặng vĩnh hằng ngay tại khoảnh khắc xảy ra vụ án đổ máu này đã thể hiện lực lượng từ bi quảng đại và thâm sâu: Cuồng phong hoang dã thổi lên, ô ô khóc than, lướt qua đỉnh đầu của tất cả mọi người. Trái tim của tất cả mọi người đều âm thầm chấn động thon thót: Thù hận cỡ nào mới đâm cô gái Ưng Kim thành ra thế này chứ?
Một vị ni cô già của ni cô am chứng nhận rằng bà nhìn thấy một người đã sát hại cô gái Ưng Kim ngay tại cửa ni cô am.
Cảnh sát đưa Hoàng tử Hương Ba vào trong sân ni cô am, hỏi vị ni cô già đi lại bất tiện đang ngồi trên ghế: "Bà còn có thể nhận ra kẻ đã sát hại cô gái Ưng Kim không?"
Ni cô già liếc nhìn Hoàng tử Hương Ba một cái, khẳng định nói: "Nhận ra, chính là hắn."
Hoàng tử Hương Ba kinh giận nói: "Người xuất gia sao có thể vu oan giá họa cho người ta? Luân hồi tam ác đạo đang chờ bà đấy."
Ni cô già thản nhiên cười nói: "Ta không sợ, cháu gái ta đã đi rồi, nó dùng mạng sống của mình để làm vật tế cúng cho 'Cửa Thất Độ Mẫu', 'Cửa Thất Độ Mẫu' sẽ phù hộ cho tất cả những lời cầu nguyện của nó thành hiện thực. Nó cầu nguyện cho bà nó kiếp sau vẫn là một con người, một vị tăng ni tin Phật bái Phật."
Cảnh sát vừa ghi chép vừa hỏi: "Nạn nhân Ưng Kim là cháu gái của bà?"
Ni cô già đáp: "Đúng vậy, là cháu gái, cháu gái ta tên là Ưng Kim Nhân Tăng Vượng Mẫu."
Hoàng tử Hương Ba lấy mặt dây chuyền mã não đỏ ra nói: "Tôi biết rồi."
Ni cô già nói: "Chỉ vì chiếc mặt dây chuyền này mà ngươi giết nó?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Không, tôi đang khai quật phục tàng của 'Cửa Thất Độ Mẫu', 'Sách hướng dẫn thọ ký' xuất thân từ Ung Hòa Cung đã bảo tôi rằng, ở Tự Lạp Bốc Lăng được mệnh danh là 'Đâu Sát Thiên Cung', có một 'vị thần tên là Nhân Tăng Vượng Mẫu, canh giữ cửa Thất Độ Mẫu'."
"'Sách hướng dẫn thọ ký' của Ung Hòa Cung? Nói vậy không phải ngươi giết Ưng Kim? Vậy thì là hắn." Ni cô già trợn trừng mắt hết cỡ, chỉ vào cảnh sát và nói.
Hoàng tử Hương Ba nói: "Lão nhân gia bà hoa mắt rồi, chắc chắn cũng không phải anh ấy, anh ấy là cảnh sát bắt kẻ xấu."
Ni cô già nói: "Xem ra ngươi là một người tốt. Thật tình nói cho ngươi biết, bà ta đã từng nói với ta rằng, không biết đời nào kiếp nào, sẽ có một người trẻ tuổi biết 'Sách hướng dẫn thọ ký' đến tìm Nhân Tăng Vượng Mẫu. Nhân Tăng Vượng Mẫu chính là ta, ta cũng tên là Nhân Tăng Vượng Mẫu. Ta đợi cho đến khi già rồi mà chẳng thấy ai tới, cháu gái ta đợi tiếp, hôm nay quả nhiên đợi được rồi. Chỉ tiếc là vừa đợi được thì nó lại chết. Sao ngươi không đến sớm chút? Sớm mười năm thì người chết là ta chứ không phải nó. Nếu nó không chết thì tuần sau nó đã kết hôn rồi."
Trong lòng Hoàng tử Hương Ba chấn động: Kết hôn rồi, Nhân Tăng Vượng Mẫu sắp kết hôn rồi.
Ni cô già đau đớn thở dài, không nhịn được lẩm bẩm: "Đợi được ngươi thì nó mới có thể kết hôn, không đợi được ngươi thì nó và người yêu chỉ có thể nhìn nhau từ xa. Thế nhưng ngươi đã tới, cái chết của nó cũng tới theo." Ni cô già ngẩng đầu cười lớn, nét mặt thê thảm, "Ngươi cũng không cần tự trách, đều là số mệnh cả. Nó cũng không phải đợi ngươi, mà là canh giữ 'Cửa Thất Độ Mẫu', ngươi có biết nó canh giữ ở đâu không?"
Hoàng tử Hương Ba hỏi: "Không biết, xin bà nói cho tôi biết."
Ni cô già nhìn những vì sao trên trời rồi nói: "Nước chảy chỗ trũng, người đi chỗ cao, ở cái chốn Trát Tây Kỳ này, nơi nào chạm trời? Nơi nào cao nhất? Nơi nào nhìn được xa nhất? Ngươi có thể thỏa mãn yêu cầu của nó ở nơi cao nhất, linh hồn của nó mới có thể về trời. Theo cách nói của tổ tiên chúng ta, cô gái nào chết vì 'Cửa Thất Độ Mẫu' thì cô gái đó chính là Độ Mẫu thần giáng thế."
Hoàng tử Hương Ba vội vã hỏi: "Nó có yêu cầu gì?" Lời vừa thốt ra, anh liền nhớ ngay đến câu nói cuối cùng của cô gái Ưng Kim lúc rời khỏi anh, biết rằng đó chính là yêu cầu của cô: Hát tình ca Thương Ương Gia Thố cho cô ấy nghe.
Hoàng tử Hương Ba cúi người ôm lấy ni cô già hôn lên má một cái, xoay người bỏ đi.
Tất cả cảnh sát đều không phản ứng kịp, ngay cả ni cô già cũng kinh ngạc: Cậu ta vậy mà đã ngộ ra rồi. Ngược lại, A Nhược Lạt ma đi theo từ trước đã có sự chuẩn bị, sải bước tiến lên, hai tay dang rộng chặn đứng Hoàng tử Hương Ba lại. Hoàng tử Hương Ba tựa như một con sư tử phẫn nộ, lao tới đâm sầm vào khiến A Nhược Lạt ma lảo đảo ngã nhào xuống đất, rồi anh đè lên người hắn, giật phăng tấm cà sa màu đỏ sẫm trên người hắn xuống, vùng dậy chạy bay đi.
4
Đêm đen và những con hẻm chằng chịt như mạng nhện của Tự Lạp Bốc Lăng đã giúp ích cho Hoàng tử Hương Ba, anh nhanh chóng cắt đuôi được cảnh sát và A Nhược Lạt ma đang đuổi theo, một mạch chạy thẳng đến trước Thọ Hi Tự. Đây chính là kiến trúc "cao nhất" của Trát Tây Kỳ, là nơi "chạm trời" nhìn được "xa nhất". Phía trên tòa lô cốt kiểu Tạng sáu tầng là phương đình mái vàng kiểu Hán, mái hiên vút bay lơ lửng, vàng óng ánh như dòng nước. Tiếng tụng kinh đêm đang từ đó từ từ truyền ra, mang theo hương khói tang, hóa thành một bài hát, nghe kiểu gì cũng giống như: "Thương Ương Gia Thố, Nhân Tăng Vượng Mẫu, Thương Ương Gia Thố, Nhân Tăng Vượng Mẫu." Hoàng tử Hương Ba quay đầu nhìn lại phía sau, không thấy bóng dáng kẻ đuổi theo, bèn khoác tấm cà sa màu đỏ sẫm lên người, lén lút mò vào.
Thọ Hi Tự không đóng cửa, lạt ma canh gác đêm đang nhắm mắt tụng kinh trong cửa. Anh bước vào, lên lầu, dưới ánh nhìn chăm chú của Phật Di Lặc dát vàng và Bát đại Bồ Tát, lắng nghe tiếng bước chân của chính mình, căng thẳng thu người lại hết cỡ. Có lẽ vị lạt ma tụng kinh quá tập trung hoặc đang quán tưởng điều gì đó, có lẽ tấm cà sa đỏ sẫm cướp được đã che khuất mắt vị lạt ma, không một ai ngăn cản Hoàng tử Hương Ba cả.
Hoàng tử Hương Ba thuận lợi bước lên tầng cao nhất, đến trong phương đình, phát hiện nơi đây hoàn toàn không có lạt ma tụng kinh đêm nào cả, bèn sờ sờ chỗ này, ngó ngó chỗ kia, trong lòng lẩm bẩm: Vị thần tên là Nhân Tăng Vượng Mẫu, không, cô gái đó, đang canh giữ "Cửa Thất Độ Mẫu" ở đây ư? "Cửa Thất Độ Mẫu" ở đâu? Tại sao lại canh giữ ở đây? Anh tìm kiếm hồi lâu chẳng thấy gì cả, hoài nghi nghĩ: Chẳng lẽ nơi này không phải cao nhất? Chẳng lẽ trong lời của ni cô già không có "sách hướng dẫn"? Không không, thứ không có chính là sự thông minh của mình, mình quá ngốc nghếch, cho dù đã tìm thấy Nhân Tăng Vượng Mẫu, biết được cô ấy canh giữ ở đâu, thì vẫn không nhìn thấy "Cửa Thất Độ Mẫu" dường như nằm trong tầm tay.
Hoàng tử Hương Ba lục soát phương đình mái vàng mấy bận, thất vọng đứng lặng, lưng tựa núi Long Sơn, mặt hướng ra toàn cảnh Tự Lạp Bốc Lăng bao la vô tận trong màn đêm mờ mịt, hết lần này đến lần khác vỗ vỗ vào đầu, vỗ ra cả một bầu trời thương cảm vô hạn. Theo lời dặn dò của ni cô già, bản thân anh đến nơi cao nhất, trước tiên là phải thỏa mãn yêu cầu của Nhân Tăng Vượng Mẫu, để linh hồn của cô gái tuần sau kết hôn này sớm ngày về trời, hoặc là chuyển thế, chuyển thế rồi hãy đi kết hôn. Thế là anh cất tiếng hát:
Đỉnh non trùng điệp phương Đông,
Mây khói vờn quanh trên núi,
Có phải Nhân Tăng Vượng Mẫu,
Lại đốt hương thần cho tôi.
Thuyền gỗ dẫu vô tình,
Đầu thuyền khắc hình đầu ngựa,
Vẫn biết quay đầu ngắm người,
Oan gia vô tình vô nghĩa,
Lại chẳng chịu quay mặt lại,
Nhìn tôi lấy một cái nữa thôi.
Anh cứ luân phiên hát đi hát lại hai bài tình ca Thương Ương Gia Thố này mấy lần, nước mắt trào ra, thầm nghĩ cô ấy đợi mãi đợi mãi, cuối cùng cũng đợi được anh, đợi được khúc tình ca Thương Ương Gia Thố, nhưng còn chưa đợi được anh hát cho cô ấy nghe thì cô ấy đã hồng nhan đoản mệnh, về trời mất rồi. Đây là ý trời ư? Không không, không thể dùng ý trời để giảm nhẹ lỗi lầm của mình, chính là có người đã gọi cô ấy đi từ bên cạnh anh, rồi sát hại cô ấy, nếu anh không ngạo múa ngu ngốc như thế, nếu anh sớm biết cô ấy chính là Nhân Tăng Vượng Mẫu thì có lẽ cô ấy đã không chết, cô ấy sẽ nhanh chóng kết hôn, rồi giống như tất cả những người phụ nữ hạnh phúc khác, sống cho đến lúc già.
Anh vừa hát trong sự trách múa phẫn nộ, nước mắt làm nhòa tầm nhìn, thế nhưng tầm nhìn bị nước mắt che khuất lại chính là tầm nhìn sáng rõ nhất, anh nhìn thấy phong cảnh trở nên nổi bật đặc biệt nhờ sự "canh giữ" suốt một đời của Nhân Tăng Vượng Mẫu: Dưới Thọ Hi Tự, rất nhiều người đang thức thâu đêm "quay ma-ni". Họ đốt đuốc, dọc theo những căn phòng kinh luân kéo dài bất tận, quay các ống kinh, xoay vòng theo chiều kim đồng hồ. Ngọn đuốc tạo thành một vòng tròn dài mấy cây số, tựa như dải nê-ông khổng lồ, từ từ cuồn cuộn chảy trên vùng nguyên dã Trát Tây Kỳ phẳng lặng. Trước mắt anh chợt lóe lên, giống như cái đầu tối tăm bỗng chốc được đuốc chiếu sáng, tiếp theo xuất hiện chính là sự khải thị của "Sách hướng dẫn thọ ký" ở Ung Hòa Cung: "Đó là sự viên mãn đầu tiên trên vùng nguyên dã cát tường, khúc điển cát bố đầu tiên, chiếc kinh luân đầu tiên."
“Viên mãn”? “Sự viên mãn đầu tiên”? Chẳng phải chính là những căn phòng kinh luân được lắp đặt từng chiếc ống kinh luân này sao? Phòng kinh luân có hơn năm trăm gian, nối liền thành một đường, bao quanh Tự Lạp Bốc Lăng, nhìn từ trên cao xuống, chính là một sự viên mãn to lớn. Mà "khúc điển cát bố" là tiếng Tạng chỉ tháp Phật màu trắng, dọc theo đường viền vòng tròn của phòng kinh luân, hai phía đông tây vừa vặn có hai tháp quay kinh. Theo ý thức dân gian Tạng tộc là mặt trời mọc ở phía đông là trên, lặn ở phía tây là dưới, thì "khúc điển cát bố đầu tiên" nhất định chính là tháp quay kinh ở phía đông, mà chiếc kinh luân trong tháp tự nhiên cũng chính là "chiếc kinh luân đầu tiên" rồi.
Chiếc kinh luân trong tháp quay kinh đầu tiên chính là "Cửa Thất Độ Mẫu"?
Hoàng tử Hương Ba kinh ngạc kêu lên một tiếng: "Tuyệt quá, quả nhiên ở ngay đây, 'vị thần tên là Nhân Tăng Vượng Mẫu này, đang canh giữ cánh cửa của Thất Độ Mẫu'."
Hắn thở phào nhẹ nhõm, đi xuống dưới, bước ra một bước rồi lại bước lùi về. Hắn thấy từ lối cầu thang nhô lên một bóng đen, dưới chiếc mũ rộng vành chóp cao, đường nét khuôn mặt trông giống như một hình thoi dựng đứng, đó là do đôi gò má cao lồi lên. Hắn lùi lại giữa phương đình, trước mắt lập tức hiện lên thi thể của chính mình, đó là một đống máu thịt bị sát thủ khô lâu dùng đao khô lâu cắt thành vô số mảnh vụn, giống như rất nhiều con mắt bị rạch nứt, đang trợn trừng đỏ ngầu nhìn hắn. Hắn thầm nghĩ phen này tiêu đời rồi, không còn đường lui nữa, tên sát thủ khô lâu từng xuất hiện trong《Địa hạ tiên ngôn》này, giống như trong truyền thuyết, là một vị thần đã vứt bỏ tâm sám hối, sau khi trở thành hộ pháp Phật giáo, nguyên tắc hành động của y là: lấy giết chóc để tu hành, lấy máu tươi để làm pháp.
Sát thủ khô lâu giơ đao khô lâu tiến sát lại gần.
Mây mù che khuất vầng trăng, ánh sáng thu lại sạch sẽ, màn đêm đen như mực phóng đại nỗi sợ hãi lên gấp bội. Trái tim hiểu rõ cái chết một cách tường tận: sắp xảy ra rồi, sắp xảy ra rồi. Hoàng tử Hương Ba nhìn bầu trời, đột nhiên giơ tay, vỗ một cái lên chiếc kim cương linh trên đỉnh đầu. Kim cương linh kêu lanh lảnh một trận hỗn loạn.
Sát thủ khô lâu xông lên trước một bước nói: "Vô ích thôi, gió của lạt ma viện Lạp Bốc Lăng thế nào cũng sẽ thổi ra tiếng chuông."
Hoàng tử Hương Ba biết mình cũng không thể la hét, điều đó chỉ kích thích đối phương lập tức nhào tới hành hung. Hắn phải tranh thủ thời gian trước khi chết để để lại manh mối phục tàng (tạng vật ẩn giấu). Hắn rút điện thoại ra: "Tôi chết thì được, nhưng tôi phải trăn trối hậu sự." Sau đó bấm gọi điện thoại cho Mai Tát, la lên, "Vẫn đang ngủ say ở khách sạn à? Vừa bước vào cửa là cậu thở hồng hộc, lúc này vẫn còn thở hồng hộc, tôi sắp chết rồi, cô và Trí Mỹ vẫn đang mải vui chơi hưởng lạc, mau dậy đi, dậy đi."
Đây là hậu sự gì chứ? Sát thủ khô lâu cảm thấy bất ngờ, người cũng đứng khựng lại.
Trong điện thoại, Mai Tát lo lắng nói: "Sao anh lại một mình chạy ra ngoài thế, chúng tôi tìm anh khắp nơi, anh đang ở đâu?"
Hắn nhìn xuống phía dưới Thọ Hi Tự, phát hiện những người "quay luân kinh" ngày càng nhiều, các hàng đuốc ngày càng dày đặc, vòng tròn sáng rực rỡ trọn vẹn giống như một chiếc vòng cổ khổng lồ, quàng vào cổ đại địa. Hắn lùi lại lớn tiếng nói: "Tôi đã nhìn thấy 'Sự viên mãn thứ nhất', 'Sự kiện Khúc Điển Cáp Bố thứ nhất', 'Chiếc kinh luân thứ nhất', tôi biết 'Cánh cửa Thất Độ Mẫu' ở đâu. Nhưng tôi đang bị người ta dùng đao ép buộc, thân bất do kỷ. Các cô mau đi đi, mau đi mở ra. Nó nằm trên đường nối của hơn năm trăm phòng kinh luân, ở trong tháp kinh luân phía đông, bên trong kinh luân của tháp chính là 'Cánh cửa Thất Độ Mẫu'."
Sát thủ khô lâu chợt bừng tỉnh, nhào tới. Hoàng tử Hương Ba tiếp tục lùi lại, định trèo qua phương đình ngói vàng, đứng lên bệ trên tầng cao nhất của lô cốt. Sát thủ khô lâu nhanh tay hơn kéo áo cà sa của hắn lại, dùng con đao khô lâu tượng trưng cho việc trừng trị cái ác kề sát vào eo Hoàng tử Hương Ba. Toàn thân Hoàng tử Hương Ba run lên một cái, hông sườn đau nhói, có cảm giác con đao ấy đã cắm phập vào trong thịt. Hắn nhận thức được bản thân chắc chắn phải chết, ngược lại bèn không sợ hãi nữa, đẩy đối phương một cái nói:
"Đao của anh tốt nhất đừng chọc thủng áo cà sa trên người tôi, đây là tôi cướp được của A Nhược lạt ma, phải trả lại cho lão ta."
Sát thủ khô lâu cảm thấy yêu cầu này là hợp lý, liền dời con đao khô lâu khỏi người hắn.
Hoàng tử Hương Ba cởi áo cà sa xuống, vo tròn lại, nhét vào ngực sát thủ khô lâu: "Làm phiền anh trả lại cho A Nhược lạt ma. Trước khi chết, tôi muốn biết ai là kẻ đã giết tôi, anh tên là gì?" Thấy đối phương ngẩn người ra một lúc, lại nói, "Mẹ anh chắc không đời nào từ nhỏ đã gọi anh là sát thủ khô lâu chứ?"
"Mẹ tôi cứ gọi tôi là sát thủ khô lâu."
"Vậy anh có phụ nữ chưa, phụ nữ của anh chắc không đời nào nói thế này: Sát thủ khô lâu anh tới bắt em đi?"
Sát thủ khô lâu cảm thấy kỳ lạ: "Anh sắp chết đến nơi rồi, còn quản tôi có phụ nữ hay không."
"Nói vậy là anh không có à? Anh là người ở đâu? Quê quán ở chỗ nào?"
Sát thủ khô lâu kiêu hãnh nói: "Thảo nguyên La Mẫu Ân Ni."
"Ồ, thảo nguyên La Mẫu Ân Ni, nơi tốt đẹp, tôi từng tới đó, cừu béo và bốt da bò ở đó nổi tiếng nhất toàn vùng Tạng, những cô gái lớn lên nhờ thịt cừu béo, ai nấy đều rất khỏe mạnh xinh đẹp. Hoàng tử Hương Ba thấy đao khô lâu cách mình xa thêm một chút, liền nói," Tôi dạy anh một cách, đảm bảo kiếp này anh có thể cưới được người phụ nữ khiến anh động lòng nhất." Sát thủ khô lâu khó chịu nói: "Tôi từng có người phụ nữ khiến tôi động lòng, nhưng cô ấy đi rồi." Y đột nhiên lại chĩa đao khô lâu tới gần, "Chính vì anh."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Vì tôi? Vì anh muốn giết tôi? Hiểu rồi, bởi vì anh chỉ biết tu luyện giết người, không biết 'Cánh cửa Thất Độ Mẫu' là di ngôn của Thương Ương Gia Thố, càng không biết câu chuyện về Thương Ương Gia Thố. Anh có biết hát dân ca tình ái Thương Ương Gia Thố không? Tôi nói cho anh biết, chỉ cần anh biết kể câu chuyện về Thương Ương Gia Thố, biết hát dân ca tình ái Thương Ương Gia Thố, trên thảo nguyên sẽ không có người phụ nữ nào mà anh không ôm về được, cho dù cô ấy là tiên nữ trên trời." Nói đoạn, Hoàng tử Hương Ba cất giọng hát:
Dưới đôi mắt phượng sáng ngời,
Giọt lệ như mưa xuân liên miên,
Oan gia nếu anh có lương tâm,
Hãy quay về nhìn em một cái.
Sát thủ khô lâu gầm lên: "Câm miệng lại, ta là hộ pháp chủ thế gian của 'Ẩn thân nhân huyết chú điện đường', ta không thể nào đi hát bất kỳ bài dân ca tình ái Thương Ương Gia Thố nào, ta giết ngươi chính là để tiêu diệt dân ca tình ái."
"Ồ, hóa ra là vậy, thế thì tôi không nói nhiều nữa, anh mau ra tay đi."
Sát thủ khô lâu lảo đảo một cái, dùng đao khô lâu một lần nữa kề sát vào eo đối phương.
Hông sườn lại đau nhói một trận, lại có cảm giác lưỡi đao cắm phập vào thịt, Hoàng tử Hương Ba từ tận đáy lòng cảm thán: "Tiếc thay, những câu chuyện về Thương Ương Gia Thố không còn ai kể nữa, những bài dân ca tình ái Thương Ương Gia Thố không còn ai hát nữa, người thất tình sẽ mãi mãi thất tình, người đau khổ sẽ mãi mãi đau khổ, cuộc sống không có tình yêu chính là thứ cô độc tăm tối nhất."
Đao khô lâu khựng lại, không tiến thêm vào trong nữa. Hoàng tử Hương Ba lập tức nhìn thấy hy vọng, chằm chằm nhìn vào mắt sát thủ khô lâu nói: "Tôi biết rồi, trong lòng anh vẫn còn người phụ nữ của mình, anh vẫn chưa từ bỏ tình yêu. Vậy cô ấy còn yêu anh không?"
Sát thủ khô lâu giơ tay bịt miệng Hoàng tử Hương Ba, vung đao đâm tới, lần này y muốn đâm vào mắt, y cảm thấy đôi mắt của đối phương quá lợi hại, chỉ một cái liếc mắt đã nhìn thấu tâm can y.
Hoàng tử Hương Ba thấy mũi đao lạnh lẽo lóe lên trước trán, bất giác nhắm nghiền mắt lại. Hắn thầm nghĩ hóa ra cái chết là thế này, lúc nó chưa tới, ngươi nơm nớp lo sợ, ngươi cầu xin nó đừng tới, vĩnh viễn đừng tới, một khi đã nhìn thấy bóng dáng của nó, ngươi lại mong nó mau lên, mau lên nữa, đừng làm chậm trễ những bước chân cuối cùng.
Nhưng sát thủ khô lâu lúc ở quê nhà thảo nguyên La Mẫu Ân Ni nhằm vào bò Urus mà hung hăng, chưa từng có kinh nghiệm đâm mù mắt người khác, tâm trí y đang run rẩy, tâm trí vừa run rẩy, động tác liền chậm lại, thế là để lại cho Hoàng tử Hương Ba cơ hội sống sót. Huống chi trong lòng y lại có thêm một sức nặng khác, đó chính là dân ca tình ái, khúc dân ca tình ái Thương Ương Gia Thố mà Hoàng tử Hương Ba vừa hát lúc nãy, đã đè nặng lên đỉnh tim y, dường như không kiềm chế được, y cũng muốn hát, nhưng lại không biết hát, chỉ đành nhai đi nhai lại lời bài hát từng câu từng chữ: "Oan gia nếu anh có lương tâm, hãy quay về nhìn em một cái."
Hoàng tử Hương Ba và sát thủ khô lâu đều không phát hiện ra, Ô Kiên Lâm Ba đã sớm xuất hiện ở lối cầu thang.
Ô Kiên Lâm Ba lặng lẽ bước tới, việc tu luyện mật pháp lâu ngày lúc này đã phát huy tác dụng, đến bản thân hắn cũng cảm thấy hắn không phải là con người, mà là u linh, không phải đang đi, mà là đang lướt, không hình không sắc, không tiếng động. Hắn ẩn mình sau trụ đình, đột nhiên thò tay ra, tóm chặt lấy gáy của sát thủ khô lâu.
Toàn thân sát thủ khô lâu run lên bần bật, sự lây lan của khúc dân ca tình ái bị cơn run rẩy xóa sạch, quay đầu liền đâm, nhưng chỉ đâm trúng vào cây cột đình cứng ngắc. Ô Kiên Lâm Ba vô cùng thành thạo tận dụng trụ đình để bảo vệ bản thân. Sát thủ khô lâu biết rằng, dựa vào bản lĩnh của mình, chỉ cần xuất hiện sự can thiệp, việc ám sát sẽ thất bại. Y hết sức co người lại, giãy ra khỏi bàn tay đang tóm chặt gáy mình, khom lưng chạy mất.
Hoàng tử Hương Ba có chút kỳ lạ: Rối trí thật đấy, sao vẫn chưa tới? Đột nhiên mở mắt ra, nhìn thấy trong phương đình ngói vàng, ánh trăng nhạt nhòa, gió mát hiu hiu, trống hoang trống hơ không có ai khác. Sờ sờ hông sườn vừa nãy bị đau, phát hiện chỗ đó hoàn toàn bình thường, đao khô lâu vốn dĩ chẳng hề cắm phập vào thịt chút nào. Hắn nhặt chiếc áo cà sa của A Nhược lạt ma mà sát thủ khô lâu vứt dưới trụ đình lên, mặc lại vào người, bước về phía trước, thầm nghĩ sao sát thủ khô lâu lại đột nhiên bỏ cuộc? Một ý nghĩ khiến đầu óc hắn ong lên: Sát thủ khô lâu đã biết "Cánh cửa Thất Độ Mẫu" ở nơi nào, nếu y ra tay phá hủy "Cánh cửa Thất Độ Mẫu" trước, còn tồi tệ hơn cả việc giết hắn.
Hoàng tử Hương Ba chạy dọc theo cầu thang xuống dưới, chạy ra khỏi Thọ Hi Tự, cắm cổ chạy thục mạng. Hắn chạy qua Kế Bộ hạ học viện, Ly Hợp Tháp, Tạng Kinh Giác (Tàng Kinh Các), thấy tháp kinh luân sắp đến nơi, đi ngược chiều tới ba người, trong lúc hoảng hốt hắn đâm sầm vào người một người. Người đó ôm lấy hắn, rồi dùng sức đẩy hắn ra, quát lớn: "Mày làm cái quái gì thế, không có mắt à?" Hắn muốn vòng qua, nhìn kỹ lại, kẻ đẩy hắn hóa ra lại là một viên cảnh sát vẫn luôn truy bắt hắn.
Viên cảnh sát đó là Trác Mã. Phía sau Trác Mã là Vương Nham và Bích Tú - người từng bắn nát đũng quần Hoàng tử Hương Ba ở Bắc Kinh. Hoàng tử Hương Ba kêu lên "Á chà" một tiếng, thân hình chưa xoay, đôi chân đã xoay trước, vù vù vù chạy vụt đi.
Vương Nham, Bích Tú và Trác Mã cắm cổ đuổi theo.
Kẻ đuổi nhanh nhất là cảnh sát quốc tế Trác Mã, Trác Mã dọc đường liên tục lớn tiếng đe dọa: "Đứng lại, đứng lại, còn không đứng lại là tôi bắn đấy." Hoàng tử Hương Ba lo lắng chuyện nổ súng, theo bản năng chậm lại, Trác Mã lại ngã chúi đầu xuống đất, "Ấy da ấy da" rên rỉ. Thừa cơ hội này, Hoàng tử Hương Ba chuồn nhanh như chớp, dù sao lạt ma viện Lạp Bốc Lăng cũng là nơi hắn từng đến mấy lần, rẽ tới rẽ lui liền mất dạng. Mà đám cảnh sát từ Bắc Kinh đến đất khách quê người không rành đường lối, bị màn đêm chặn lại, liền không biết phải đuổi theo hướng nào.
Hoàng tử Hương Ba băng qua từng dãy tăng xá, hòa vào đám đông đang "quay luân kinh", đi ngược dòng người tiến về phía tháp kinh luân nhô lên sừng sững trên đường nối của các phòng kinh luân, lao thẳng vào "Khúc Điển Cáp Bố thứ nhất" - đường kinh luân của Đại Viên Mãn, ngự trị tại tháp kinh luân phía đông.
Hắn vô cùng kinh ngạc, ánh đuốc chiếu thấu không gian trống hoác bên trong tháp, chẳng có gì cả. Chiếc kinh luân bình thường ngày xưa, chiếc "Lục tự chân ngôn" kêu có kẽo kẹt kẽo kẹt ngày xưa, chiếc "Kinh luân đầu tiên" đầy thần kỳ trong tưởng tượng của hắn hiện tại đã hoàn toàn biến mất. Hắn hét lớn về phía ngoài tháp: "Kinh luân đâu, kinh luân đâu." Hắn có thể tin sát thủ khô lâu hoặc Mai Tát và Trí Mỹ chạy tới thật nhanh để cạy "Cánh cửa Thất Độ Mẫu", lấy đi tạng vật ẩn giấu bên trong, nhưng tuyệt đối không tin họ sẽ mang cả kinh luân đi. Kinh luân vì để xoay chuyển suốt ngày tháng năm dài, được lắp đặt vô cùng chắc chắn, không thể tháo xuống nhanh như vậy, cho dù có tháo xuống, một hai người cũng không khiêng nổi.
Mai Tát và Trí Mỹ đã đuổi tới nơi, cũng đang hỏi hắn: "Anh không sao chứ? Kinh luân đâu? 'Cánh cửa Thất Độ Mẫu' mà anh nói đâu?"
Hoàng tử Hương Ba đi ra ngoài tháp, nhìn quanh bốn phía, nhìn thấy sát thủ khô lâu với vẻ mặt đầy nghi hoặc giống hệt mình, cũng nhìn thấy một tên lạt ma béo đang từ Phật điện Tông Khách Ba cách đó không xa bước ra, đi về phía khu tăng xá. Hắn chỉ vào sát thủ khô lâu nói với Mai Tát và Trí Mỹ: "Hai người làm quen với người này đi, chính là y vẫn luôn muốn giết tôi, ban nãy suýt chút nữa đã thành công rồi."
Mai Tát và Trí Mỹ nhìn sang, sát thủ khô lâu chỉnh lại chiếc mũ rộng vành chóp cao đang bị lệch, vội vã rời đi. Hoàng tử Hương Ba nhìn bóng lưng y, đột nhiên khom lưng, tránh ánh đuốc sáng rực, chạy về phía tên lạt ma béo đã biến mất vào khu tăng xá.
"Hỏi thăm chút chuyện, kinh luân trong tháp kinh luân đâu mất rồi?"
Lạt ma béo nói: "Trục quay hỏng rồi, Trát Tây mang đi rồi."
"Trát Tây nào?" Hắn nghĩ người Tạng tên "Trát Tây" có tới hàng vạn người, viện Lạp Bốc Lăng nói không chừng có đến mười mấy người.
Lạt ma béo thấy hắn mặc áo cà sa, liền không muốn lôi thôi lất phất, bực dọc nói: "Cậu nói Trát Tây nào?"
Hoàng tử Hương Ba cởi áo cà sa ra nói: "Tôi không phải lạt ma, tôi là khách du lịch, phiền anh nói chi tiết một chút."
Lạt ma béo lập tức túm lấy tay áo hắn hét lên: "Bắt cướp, bắt cướp." Hóa ra vụ án cô gái Ưng Kim bị sát hại trước cổng ni cô viện, áo cà sa của A Nhược lạt ma bị cướp đã lan truyền khắp nơi, các lạt ma đã đề cao cảnh giác tột độ.
Hoàng tử Hương Ba vứt chiếc áo cà sa lên người lạt ma béo, gỡ tay lão ra, cắm cổ bỏ chạy.
Lạt ma béo không dám đuổi theo, cạn cả hơi sức hét lên: "Cướp chạy rồi, cướp chạy rồi."
Mai Tát kéo Trí Mỹ chạy tới nói: "Hét cái gì mà hét? Ai là cướp? Có là cướp thì cũng là Phật biến ra đấy, Phật biến thành cướp đến để khảo nghiệm anh, xem anh kìa bị dọa cho ra thế."
"Phật khảo nghiệm ma, ma khảo nghiệm Phật, khảo nghiệm qua khảo nghiệm lại, chẳng biết ai là Phật ai là ma." Lạt ma béo phủi phủi chiếc áo cà sa màu đỏ sẫm mà Hoàng tử Hương Ba vừa vứt cho mình, vắt lên cánh tay nói, "Một tên khách du lịch á? Thảo nào hắn không biết Trát Tây mà tôi nói là Hân Tác Trát Tây."
Mai Tát nói: "Hân Tác Trát Tây, người thợ mộc cát tường?"
5
Không thể quay lại khách sạn Hạ Hà nữa, ba người đi đến con hẻm nhỏ ẩn khuất phía sau điện Văn Thù Bồ Tát để bàn bạc bước tiếp theo phải làm gì.
Hoàng tử Hương Ba nói: "Bây giờ ở đây đâu đâu cũng là đối thủ của chúng ta, cảnh sát Bắc Kinh, đồn công an địa phương, phe cánh A Nhược lạt ma, sát thủ khô lâu, lạt ma của viện Lạp Bốc Lăng, nói không chừng còn có cả khách du lịch, bất cứ lúc nào cũng có thể nhảy xồ ra tóm lấy tôi, hoặc giết tôi. Chiếc Mục Mã Nhân phải xuất phát ngay trong đêm, tạo ra giả tượng là tôi đã rời khỏi đây rồi."
Mai Tát cảnh giác nói: "Anh muốn chúng tôi rời đi, một mình ở lại đây?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Không được sao?"
Mai Tát tức giận nói: "Anh luôn muốn vứt bỏ chúng tôi, lúc rời khỏi khách sạn Hạ Hà sao không gọi chúng tôi theo?"
Hoàng tử Hương Ba oan ức nói: "Tôi bị cảnh sát đồn công an áp giải đi mà, trong hoàn cảnh đó, tôi có thể không liên lụy đến các người thì không liên lụy, lỡ như tôi mất đi tự do, để lại các người thì vẫn có thể tiếp tục quật tạng. Hơn nữa, tôi là đại sư huynh của các người, tôi phải suy tính đến việc cho hai người thêm chút thời gian ở riêng bên nhau chứ, không thể để hai người lãng phí lẫn nhau được phải không? Những ngày tháng tuổi trẻ bứt rứt hoang phí ấy, khó chịu lắm."
Mai Tát nói: "Đồ lưu manh luôn tưởng tượng thiên hạ ai cũng là lưu manh."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Từ 'lưu manh' là sản phẩm của văn hóa Hán, người Tạng chưa bao giờ áp đặt cái danh xưng miệt thị này lên bất kỳ người đàn ông hay người phụ nữ phong lưu đa tình nào cả. Các người thay đổi rồi, thay đổi không còn giống người Tạng nữa."
Mai Tát nói: "Không phải thay đổi, mà là tiến bộ, là văn minh."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Thế thì cô cứ đi mà văn minh đi, tôi thà cứ hoang dã một cách tự do lãng mạn."
Mai Tát nói: "Đừng có nhảm nhí nữa, mau nói bước tiếp theo tính sao đi."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Chẳng phải đã nói rồi sao, các người đi, tôi ở lại, không phải là vứt bỏ các người, mà là điều hổ ly sơn. Đào được tạng vật của 'Cánh cửa Thất Độ Mẫu', nhất định tôi sẽ tìm các người, thứ nhất người chăn ngựa yêu dấu của tôi đang nằm trong tay các người, thứ hai cô gái yêu dấu của tôi đang chờ tôi."
Mai Tát phát ra tiếng 'hừ' từ trong mũi: "Mặt dày vô sỉ."
Trí Mỹ nói: "Đừng nhảm nhí nữa, nói chuyện chính đi, cậu một mình ở lại thì phần chắc thắng là bao nhiêu?"
"Năm ăn năm thua, giống như tôi với cậu vậy. Phải rồi Trí Mỹ, chúng ta có thể đánh cược một phen, nếu tôi thành công, cậu liền từ bỏ Mai Tát. Nếu tôi thất bại, từ nay tôi không dám mơ mộng hão huyền nữa, tôi chính là bảo tiêu tuyệt đối của hai người, là cái bóng đèn tuyệt đối, chỉ chiếu sáng hai người, không quấy rầy hai người."
Mai Tát cười nhạo nói: "Trí Mỹ tuyệt đối sẽ không đánh cược kiểu đó với anh."
Trí Mỹ nói: "Ai bảo thế, thực ra tôi còn muốn đánh cược một phen hơn cả Hoàng tử Hương Ba." Cậu không nói rằng cậu muốn đánh cược là vì cậu hiểu Mai Tát hơn cả chính Mai Tát, Mai Tát đã bắt đầu ép buộc bản thân mình, ép buộc bản thân hết sức bài xích Hoàng tử Hương Ba, nhưng sự bài xích mãnh liệt nhất thường lại chính là tình yêu mãnh liệt nhất, điều mà Mai Tát thể hiện, thực ra là sự sợ hãi của cô ấy, cô ấy sợ rằng mình sẽ trượt ngã đến mức không thể kiềm chế nổi. Trí Mỹ cảm thấy nếu không đánh cược, kẻ thất bại chắc chắn là mình, nếu đánh cược, nói đâu chừng vẫn còn tia hy vọng chiến thắng.
Hoàng tử Hương Ba đầy vẻ thưởng thức nhìn Trí Mỹ: "Thế thì cứ quyết định vậy đi. Đàn ông đúng là nên là những kẻ cược tình cảm, đặc biệt là đàn ông Tây Tạng." Nói đoạn nháy mắt ra hiệu với Mai Tát.
Mai Tát trừng trừng nhìn Hoàng tử Hương Ba: "Mơ mộng hão huyền."
Trí Mỹ nói: "Bây giờ chỉ sợ xe Mục Mã Nhân không lái đi nổi, từ sớm đã có người giám sát nó rồi."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Tôi lại còn sợ không có ai giám sát ấy chứ."
Họ bước ra khỏi con hẻm, vòng ra trước điện Văn Thù Bồ Tát, đột nhiên nghe thấy có người gọi: "Này này này." Quay đầu nhìn lại, phát hiện trên bệ bên cửa điện, đặt một chiếc lồng sắt, âm thanh đó chính là phát ra từ trong chiếc lồng sắt. Dưới ánh trăng mờ ảo, trong lồng sắt rốt cuộc là thứ gì thì nhìn không rõ lắm. Họ tò mò bước tới, còn chưa đến gần, Mai Tát đã nhạy cảm kêu lên một tiếng: "Vượn nhân hình?"
Là vượn nhân hình, vẫn còn sống, từ trong chiếc lồng sắt phát ra từng âm thanh giống con người: "Này này này."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Nghe kìa, y hệt như Biên Ba lão sư đang lên lớp."
Mai Tát nói: "Ý anh là linh thức của Biên Ba lão sư đã ký sinh trên người nó?"
Trí Mỹ nói: "Tập trung tinh thần quật tạng, đừng có nói nhảm mấy chuyện không liên quan gì đến 'Cánh cửa Thất Độ Mẫu'."
Vượn nhân hình dường như nghe hiểu lời bọn họ, đột nhiên đứng thẳng người dậy như con người, hai chân trước vỗ mấy cái, chắp lại với nhau, ra điều vái lạy hành lễ Phật.
Hoàng tử Hương Ba nói: "Các người nhìn mắt nó xem, ươn ướt, giống như vừa nhìn thấy chúng ta là khóc vậy. Biên Ba lão sư, ông tới đây làm gì?"
Vượn nhân hình buông hai chi trước xuống, quay một vòng tại chỗ trong lồng sắt,ểnh môi lên, dùng đôi mắt đẫm lệ nhìn họ, hì hì thở hắt ra.
Hoàng tử Hương Ba hỏi: "Biên Ba lão sư, ông gửi hồn vào vượn nhân hình, biến thành quỷ một chân Thái Ô Nhượng, với tư cách là vị thần bảo hộ tạng vật, ông muốn giúp ba học trò của mình phải không?"
Trong đôi mắt màu hổ phách của vượn nhân hình đột nhiên lóe lên hai luồng ánh sáng đỏ kỳ lạ, quét lên mặt Hoàng tử Hương Ba, tiếp đó lắc lắc đầu, có vẻ như không đồng tình với lời nói của hắn.
Mai Tát nói: "Trí Mỹ, hay là cậu hỏi đi, Biên Ba lão sư khi còn sống đối xử với cậu là tốt nhất."
Trí Mỹ lùi lại phía sau: "Nó chỉ là một con quái thú, chẳng liên quan gì đến Biên Ba lão sư cả, tôi hỏi cái gì?"
Vượn nhân hình đột nhiên nhảy dựng lên, xoảng một tiếng, đầu đập vào nóc lồng sắt.
Một tên lạt ma để râu từ trong điện Văn Thù Bồ Tát bước ra, quát mắng: "Đi ra, đi ra, cẩn thận nó cắn cho đấy."
Trí Mỹ quay người bỏ đi. Vượn nhân hình nhăn mũi, trợn tròn đôi mắt đỏ ngầu, nhe nanh múa vuốt về phía Trí Mỹ, túm lấy lồng sắt,o o o lay mạnh.
Hoàng tử Hương Ba hỏi: "Đây là con vượn nhân hình cải tử hoàn sinh ở sở thú Bắc Kinh mà, sao các người lại đưa nó đến tận đây thế?"
Lạt ma để râu nói: "Không phải chúng tôi mang đến, là nó tự đi đến đấy chứ."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Làm gì có chuyện đó, rõ ràng là lạt ma của viện Lạp Bốc Lăng mua nó đi, còn để lại huy hiệu kỷ niệm của 'Đâu Suất thiên cung giảng tu hoằng dương cát tường hữu chuyển châu'."
Lạt ma để râu nói: "Các người là ai thế? Nửa đêm nửa hôm dò hỏi mấy chuyện này làm gì?" Đột nhiên hiểu ra, ba kẻ trước mặt này e là có liên quan đến việc cô gái Ưng Kim bị sát hại, áo cà sa của A Nhược lạt ma bị cướp, bèn hoảng loạn hét lên: "Người đâu, người đâu." Vừa hét vừa chạy vào trong điện Văn Thù Bồ Tát.
Hoàng tử Hương Ba và Mai Tát đầy lưu luyến nhìn vượn nhân hình.
Trí Mỹ ở phía sau gọi giật giọng: "Còn không mau chạy trốn?"
Ba người cắm cổ chạy như điên. Phía sau, vượn nhân hình kêu lên "này này này", tiếp theo biến thành tiếng thét chói tai và tiếng hú thê thảm, biến thành sự điên cuồng lao vào tông quật lồng sắt.
Mai Tát và Trí Mỹ đi đến quảng trường đang đỗ chiếc Mục Mã Nhân.
Trong bóng tối, Vương Nham, Bích Tú, Trác Mã nhìn thấy Mai Tát và Trí Mỹ lái chiếc Mục Mã Nhân đi mất. Bích Tú nhanh chóng khởi động xe cảnh sát Land Rover, bám theo sau.
Đi chưa được bao lâu, xe Mục Mã Nhân đột nhiên dừng lại, trong chiếc xe sáng rực ánh đèn, Mai Tát và Trí Mỹ quay đầu nhìn ngó xung quanh.
Vương Nham nói: "Đừng bám sát quá, Hoàng tử Hương Ba vẫn chưa xuất hiện đâu."
Xe Mục Mã Nhân tắt toàn bộ đèn, đột ngột lăn bánh, phóng như bay đến khúc cua râm mát bóng cây cách đó hai trăm mét, phanh gấp lại. Trên xe Mai Tát gọi lớn: "Mau, mau lên đi." Cửa xe mở ra, rồi "đùng" một tiếng đóng lại, sau đó phóng vụt đi.
Vương Nham lại nói: "Đuổi theo, nhất định phải chặn lại, Hoàng tử Hương Ba chạy mất rồi."
Hai tiếng sau, bọn họ đuổi theo chiếc Mục Mã Nhân ở huyện thành Lâm Hạ, ép nó phải dừng lại.
Bích Tú tranh thủ lao lên trước, nhìn vào trong xe không thấy Hoàng tử Hương Ba đâu, gầm lên: "Người đâu?"
Mai Tát nói: "Chúng tôi chẳng lẽ không phải là người chắc?"