Kỳ thi ứng tuyển bốn năm một lần cho vị trí Đại Hoạt Phật trụ trì Điện Bố Đạt La được tổ trì tại Điện Trì Minh Phật của Cung Bố Đạt La.
Điện Trì Minh Phật còn gọi là Nhân Tăng La Khang, nằm ở phía nam Hồng Cung thuộc Cung Bố Đạt La. Tượng ngồi bằng bạc cao lớn của Vị Phật Thứ Hai - Tông Khác Ba là pho tượng thờ chính trong điện, xung quanh là tượng đồng thể hiện tám đại thần biến của Liên Hoa Sinh Đại Sư. Thần mã, voi lớn, sư tử đực, chim công, hoa lá được điêu khắc tinh xảo trang hoàng cho tòa bảo tọa của tượng thần. Bảo tọa là tượng trưng cho Phật pháp thế gian, nhấn mạnh nơi đây là nhân gian, là một nơi coi trọng lý trí. Tám bảo tháp bằng bạc giống như tuyên ngôn pháp thân của tám vị Đại Phật, quy phạm thế giới tại điểm lâm giới giữa thiên đường và địa ngục, một bước lên trời, một bước sa địa ngục, những người tham gia kỳ thi ứng tuyển đều sẽ hoàn thành sự chuyển biến giữa Phật và Ma, tất cả tình khí thế giới đều trở nên thắc thỏm không yên.
Giữa tám bảo tháp và Liên Sư Tám Thần Biến là chín vị giám khảo đang ngồi, họ là chín vị đại thành tựu giả đến từ các giáo phái khác nhau, bao gồm cả Đại Hoạt Phật Ngõa Kiệt Cống Cáp.
Hai tòa kinh tọa đáp biện được đặt đối diện nhau, ở giữa cách nhau một khoảng mười mét, đặt một cây tích trượng ba thước đại diện cho uy nghiêm. Cổ Lỗ Khâu Trạch Lạt Ma ngồi ở phía đông, đối thủ ứng tuyển của ông - lãnh đạo mật pháp Sơn Nam - Bôn Ba Giáp Hoạt Phật ngồi ở phía tây.
Xung quanh các giám khảo và hai người ứng tuyển, trên những tấm nệm tạp đệm rực rỡ sắc màu là vô số các lạt ma đang ngồi. Họ phần lớn là các Cách Tây đạt được học vị cao đến từ các tu viện khắp Tây Tạng, mỗi một người đều là bậc học giả uyên bác bụng chứa vạn quyển kinh điển.
Kỳ thi hôm nay chia làm ba bước: Bước thứ nhất là những người ứng tuyển tự hỏi lẫn nhau, mỗi người nêu ra ba câu hỏi để đối phương trả lời. Bước thứ hai là đại diện Cách Tây hỏi tùy ý. Bước thứ ba là giám khảo hỏi tùy ý. Cuối cùng, các giám khảo sẽ tiến hành đánh giá và bỏ phiếu, ai là người chiến thắng sẽ được công bố tại chỗ, sau đó chọn ngày tiến vào kỳ thi thứ hai.
Kết quả rút thăm là Bôn Ba Giáp Hoạt Phật nêu câu hỏi trước.
Bôn Ba Giáp Hoạt Phật thẳng lưng, trung khí dồi dào hỏi: "Tài học của Lạt Ma Tôn Giả tôi đã nghe danh từ lâu, kẻ ngu ngơ như tôi đây muốn nhờ Lạt Ma Tôn Giả nói cho tôi biết, khi Bổn Tôn Thần của ngài xuất hiện trước mắt ngài, ngài nhìn thấy ngài ấy mặt xanh hay mặt đỏ?"
Cổ Lỗ Khâu Trạch Lạt Ma lập tức nhận ra đây là một cái bẫy, bởi vì Bổn Tôn Thần xuất hiện trước mắt với khuôn mặt đỏ hay mặt xanh là hiện tượng của thân ngoại chi pháp ở giai đoạn tu luyện cấp thấp. Ở giai đoạn tu luyện cấp cao của nội định chi pháp, Bổn Tôn Thần sẽ từ bất kỳ nơi nào bên trong cơ thể từ từ bay lên, sau đó giống như dòng máu màu trắng lặng lẽ chảy khắp toàn thân. Ông cất giọng sảng khoái trả lời: "Khuôn mặt xanh mà tôi nhìn thấy là mặt của tất cả đàn ông, khuôn mặt đỏ mà tôi nhìn thấy là mặt của tất cả phụ nữ, họ chìm đắm trong Dục Giới, Sắc Giới mà không thể siêu thoát, cho nên hiển hiện hai màu mặt, lẽ nào ngài không biết sao? Còn về Bổn Tôn Thần mà tôn sư truyền thụ cho tôi, tôi chưa từng nhìn thấy ngài ấy, ngài ấy có lẽ ngay từ đầu đã biến thành mạch đập và hơi thở của tôi, biến thành tinh dịch và tất cả dịch tiết bao gồm trong minh điểm, ngài ấy không lúc nào không ở đây nhưng lại khiến tôi không cảm nhận được sự tồn tại của ngài ấy."
Bôn Ba Giáp Hoạt Phật vỗ tay hỏi tiếp: "Ý ngài là ngài không cảm nhận được sự tồn tại của Bổn Tôn Thần sao?"
Cổ Lỗ Khâu Trạch Lạt Ma không cần suy nghĩ trả lời: "Đúng vậy."
Bôn Ba Giáp lập tức hỏi lại: "Rốt cuộc ngài có Bổn Tôn Thần hay không?"
Cổ Lỗ Khâu Trạch vỗ tay bôm bốp: "Trái tim tôi nói cho tôi biết, không có."
Các Cách Tây Lạt Ma phát ra một tràng tiếng kinh ngạc. Đây là câu trả lời không thể tin nổi, một lạt ma tu luyện Mật Tông sao có thể không có Bổn Tôn Thần chủ tể tâm niệm cơ chứ? Chín vị giám khảo cũng đều đanh mặt lại, nghi ngờ nhìn ông, muốn nghe ông giải thích, nhưng ông lại im lặng hồi lâu, nghĩa là câu trả lời của ông đã kết thúc.
Đại Hoạt Phật Ngõa Kiệt Cống Cáp nhớ đến lời dặn dò "tùy tâm sở dục" mà mình dành cho đệ tử, ngược lại cũng không mấy lo lắng. Phật pháp vốn dĩ là pháp tư biện, đối với một vị lạt ma cao cấp có tài biện luận không chướng ngại thì "không có" rất dễ biến thành "có".
Tiếp theo là Cổ Lỗ Khâu Trạch Lạt Ma đặt câu hỏi. Ông nhìn đối phương bằng ánh mắt sáng quắc, làm tư thế vỗ tay nhưng lại cố tình không vỗ thành tiếng, hỏi: "Xin hỏi Bôn Ba Giáp Hoạt Phật, thế giới này có thần hay không? Nếu như có thần, vậy là có thế giới trước hay có thần trước?"
Bôn Ba Giáp Hoạt Phật thần thái thản nhiên, mỉm cười nói lớn: "Thế giới vốn không có thần, là noãn sinh, thai sinh, thấp sinh, hóa sinh biến thành đại thiên thế giới, sau đó mới có thần, đây là thường thức của nhà Phật. Nếu không có ba ngàn đại thiên thế giới thì lấy đâu ra Thích Ca Mâu Ni, nếu không có Thích Ca Mâu Ni thì lấy đâu ra Phật pháp, nếu không có Phật pháp thì lấy đâu ra linh thức, nếu không có linh thức thì lấy đâu ra chuyển thế, nếu không có chuyển thế thì lấy đâu ra Hoạt Phật, nếu không có Hoạt Phật thì lấy đâu ra ngôi chùa đầy đủ Tam Bảo, nếu không có chùa chiền thì lấy đâu ra vạn thần hội tụ? Thần nằm ở khoảng giữa có và không, ngài tồn tại vì sự cần thiết, Phật là sự cần thiết duy nhất, là vị thần duy nhất của thế gian."
Nhiều Cách Tây Lạt Ma cất tiếng hoan hô.
Cổ Lỗ Khâu Trạch hỏi tiếp: "Nếu nói thần cần thì có, không cần thì không, vậy chúng ta, tất cả hữu tình và vô tình rốt cuộc có cần thần hay không?"
Bôn Ba Giáp trừng mắt: Ái chà, một vị lạt ma mà lại có thể nêu ra câu hỏi như thế này sao? Ông vỗ tay đáp: "Đương nhiên là cần."
Cổ Lỗ Khâu Trạch lại hỏi: "Vậy thì, thần ở đâu? Nếu nói ngài ấy ở ngay trong Điện Trì Minh Phật, trong pho tượng ngồi của Tông Khác Ba và tượng đồng thần biến của Liên Hoa Sinh Đại Sư, vậy khi tôi cầu nguyện ngài bước ra cho tôi sức mạnh niềm tin, tại sao ngài không bước ra? Nếu nói ngài ấy ở ngay trong lòng chúng ta, vậy khi tôi cầu nguyện ngài xóa bỏ sự hoang mang trong lòng tôi, tại sao ngài lại không hề lay chuyển? Nếu nói ngài ấy ở trên trời, vậy ông trời xa xôi kia rốt cuộc quan tâm đến nhân thế chúng ta được bao nhiêu?"
Bôn Ba Giáp ngơ ngác một chút, ông không ngờ đối phương lại đưa ra một câu hỏi cấp thấp như vậy: Thần ở đâu? Nhưng câu hỏi càng cấp thấp thì dường như lại càng khó trả lời. Ông vốn có thể chỉ vào tim mình mà nói rằng, ở ngay trong lòng tôi. Nhưng con đường này rõ ràng đã bị đối phương chặn đứng. Ông ngập ngừng, đột nhiên nói: "Thần ở trong nhà của thần, ở nơi mà ngài mãi mãi không ngờ tới. Sở dĩ ngài không ngờ tới, hoài nghi chính là nguồn gốc. Lạt Ma Tôn Giả ngày càng thông suốt ba tạng Kinh, Luật, Luận, sao lại ngày càng xa rời Phật vậy?"
Khảo trường chìm vào một khoảng im lặng. Giám khảo và các Cách Tây Lạt Ma đều đang bàng hoàng ngẫm nghĩ lại câu hỏi của Cổ Lỗ Khâu Trạch Lạt Ma: Có thần hay không? Có cần thần hay không? Thần ở đâu? Những câu hỏi này họ chưa từng suy nghĩ qua, bởi vì đây là Tây Tạng, Tây Tạng từ xưa đến nay chính là nơi con người và thần linh cùng chung sống, giống như người ta sẽ không đi suy nghĩ tại sao mình phải ăn cơm uống nước, hít thở không khí vậy. Một vị cao tăng thành kính tín ngưỡng, coi thần như cha, sao lại cất lên sự nghi vấn như tiếng bước chân nơi thung lũng cô quạnh thế này?
Đại Hoạt Phật Ngõa Kiệt Cống Cáp cũng bắt đầu thắc mắc: Hôm nay đệ tử bị làm sao vậy?
Lúc này, vị đại diện Cách Tây đã chuẩn bị xong câu hỏi đứng dậy, nói lớn: "Cổ Lỗ Khâu Trạch Lạt Ma, có phải ngài muốn nói, vô tướng chính là thực tướng, khi không cần thần thì thần ở đó, nơi không có thần thì thần ở đó?"
Cổ Lỗ Khâu Trạch Lạt Ma nói: "Không, ý tôi là, khi động đất xảy ra, khi tai họa tuyết giội xuống, khi núi băng biến mất, khi thảo nguyên bị hủy diệt, thần ở đâu, Phật ở chỗ nào? Tuy nói Phật ở nơi không kinh không hãi không sợ, tuy nói cầu nguyện là gốc rễ tâm can của tất cả con người, nhưng cầu nguyện thần Phật có thể tránh được tai họa không? Có thể mang lại phúc vận không? Có thể thay đổi hiện trạng không? Khi những chuyện ở nhân gian khiến người ta bất lực, vô trợ, tuyệt vọng, khuyến khích chúng sinh đi tìm sự giúp đỡ trong tâm hồn của chính mình lẽ nào đã đủ rồi sao?"
Đại diện Cách Tây nói: "Khi Nhân Không, Phật Không, Pháp Không, tất cả đều Không, chúng ta là đắm chìm trong Không trệ trong Tịch, hay là làm cho 'Không' trở thành không, rồi sau đó mới sở hữu? Xin Cổ Lỗ Khâu Trạch Lạt Ma trả lời."
Cổ Lỗ Khâu Trạch Lạt Ma nói: "Chúng ta tuy đã chứng được Vật Không, nhưng chưa chứng được Nhân Không; tuy đã chứng được Nhân Không, nhưng chưa chứng được Pháp Không; tuy đã chứng được Pháp Không, nhưng chưa chứng được Không Không. Giả sử như còn có một cái 'Không' tồn tại, thì đó chính là ngoan không, chính là không chấp. Không chấp chính là một hình thức khác của Ngã Chấp, Phật pháp phải phá trừ Ngã Chấp, phải đối mặt với cái Có của chúng sinh, cái Có của tai họa. Đắm chìm trong Không trệ trong Tịch là không nên, Không rồi sau đó Có mới là chính đạo."
Đại diện Cách Tây lại hỏi: "Bôn Ba Giáp Hoạt Phật, ngài thấy sao?"
Bôn Ba Giáp Hoạt Phật nói: "Làm cho 'Không' trở thành không, chính là thực có, tai họa thực có thì thần Phật chính là không, thần Phật thực có thì tai họa chính là không." Bôn Ba Giáp khiêm tốn trả lời, đột nhiên ngẩng đầu lên, vỗ tay hướng về phía Cổ Lỗ Khâu Trạch, "Xin hỏi Lạt Ma Tôn Giả, nghe nói em trai ngài đã tự sát, tại sao? Nghe nói Phi Bảo của ngài gọi ngài là 'Anh Khâu Trạch' rồi, lại là tại sao? Đây là sự tồn tại của 'Không', hay là sự thể hiện của 'Có'?"
Cổ Lỗ Khâu Trạch Lạt Ma ngơ ngác, đối thủ lại biết chuyện em trai ông tự sát, biết chuyện Phi Bảo dùng một tiếng "Anh Khâu Trạch" gọi ông tỉnh lại từ trong cơn mê bàng. Điều ông nghĩ đến không phải là tai vách mạch rừng, không phải Bôn Ba Giáp Hoạt Phật đê hèn do thám riêng tư của ông, mà là đối thủ với tư cách là một người tu luyện mật pháp có lẽ từ lâu đã vượt qua năng lực của người trần mắt thịt, vị Hoạt Phật biến tri tất cả thực ra không cần dùng mắt để nhìn, dùng tai để nghe những sự do thám cấp thấp này.
Cổ Lỗ Khâu Trạch hai tay ôm ngực, há miệng nửa chừng không nói, đây là ý nghĩa chấp không vô thanh, mà "không thanh" trong đáp biện vừa thể hiện sự coi thường, vừa thể hiện dùng "khoảng trống" để xóa bỏ "hữu sắc" —— em trai tự sát rồi, Phi Bảo gọi "Anh Khâu Trạch" rồi, nhân duyên của giới dục sắc chưa bao giờ bỏ qua bất kỳ một vị lạt ma nào ngồi trên miếu đường, chỉ là lạt ma có khoảng trống, có khoảng trống tinh thần cơ biến nhờ tu luyện mà có. Khi một người nói không liền không, nói trắng liền trắng, thì phiền não cuồn cuộn như gió bão sẽ bị gạt bỏ đi như sóng cuộn biển trào.
Nhưng Cổ Lỗ Khâu Trạch thật sự đã có được hạnh phúc của khoảng trống tinh thần, thật sự có thể làm được nói không liền không, nói trắng liền trắng sao? Em trai đã tự sát, Phi Bảo đã gọi "Anh Khâu Trạch".
Trên hàng ghế giám khảo, Đại Hoạt Phật Ngõa Kiệt Cống Cáp đột nhiên hỏi: "Việc tu luyện nửa năm gần đây, ngươi lấy pháp môn nào làm chủ, và là quán đảnh của ai?"
Cổ Lỗ Khâu Trạch nhận ra tôn sư đã từ tận gốc rễ nghi ngờ mình: Nếu như ngươi tu luyện không phải là tà môn ngoại đạo, sao có thể đưa ra câu hỏi như thế này: Có thần hay không? Có cần thần hay không? Thần ở đâu? Sao có thể nảy sinh sự nghi vấn như thế này: Cầu nguyện thần Phật có thể tránh được tai họa không? Có thể mang lại phúc vận không? Có thể thay đổi hiện trạng không?
Cổ Lỗ Khâu Trạch im lặng hồi lâu. Ông nghiêm ngặt tuân thủ giới luật không nói dối, không muốn nói dối.
Mấy năm trước, khi ông kết thúc chín năm khổ tu ở Thượng Mật Viện trở về Cung Bố Đạt La, đã thỉnh cầu Căn Bản Thượng Sư của mình - Đại Hoạt Phật Ngõa Kiệt Cống Cáp trụ trì Điện Bố Đạt La truyền thụ mật pháp quán đảnh của pháp tu song thân Vô Thượng Du Già, tức là thỉnh cầu thượng sư khẩu truyền thân giáo về "Lạc Không Song Vận". Lần quán đảnh này tuy ở Thượng Mật Viện đã được các thượng sư khác truyền thụ, nhưng ông cảm thấy quán đảnh của Đại Hoạt Phật Ngõa Kiệt Cống Cáp thù thắng hơn, có thể nhanh chóng đạt được mục tiêu "Tức Thân Thành Phật" hơn. Lúc đó Đại Hoạt Phật Ngõa Kiệt Cống Cáp hỏi: "Năm bộ Vô Thượng Kim Cang Đại Pháp đều là pháp môn chí tôn chí bảo, ngươi dự định tu luyện bộ nào?" Ông đảo qua trong đầu một lượt Thời Lun Kim Cang, Mật Tập Kim Cang, Thắng Lạc Kim Cang, Đại Uy Đức Kim Cang, Hoan Hỷ Kim Cang, rồi kiên định nói: "Con dự định chuyên tu Mật Tập Kim Cang, kiêm tu Thời Lun Kim Cang và Hoan Hỷ Kim Cang."
Nhưng chỉ mới tu luyện được một tháng, Cổ Lỗ Khâu Trạch Lạt Ma đã thay đổi. Sự thay đổi đến quá bất ngờ, ngay cả bản thân ông cũng kinh ngạc, ông lại có thể thuận theo sự thay đổi, kiên quyết từ bỏ sự quán đảnh của tôn sư. Lần thiền định không kể ngày đêm đó, ông đã nhìn thấy Đạt Lai Lạt Ma đời thứ sáu Thương Ương Gia Thố. Thương Ương Gia Thố đứng thẳng thắn, một tay niêm hoa, một tay nhấc bình, sự quán đảnh giống như dòng sữa tưới lên đầu, hương thơm mang giai điệu âm nhạc, sự ngọt ngào giống như những lời êm tai nhất thấu tận đáy lòng. Sau đó, Thương Ương Gia Thố dưới sự múa phụ họa của Không Hành Mẫu đã hát một bài tình ca:
Giá như chưa từng gặp mặt,
Chúng ta cũng chẳng yêu nhau;
Giá như chưa từng yêu dấu,
Đâu phải chịu đau tương tư.
Ông giống như đón nhận người yêu, hân hoan xuất định, nhìn thấy ngoài cửa sổ đang rơi tuyết, bài tình ca êm dịu giống như hoa tuyết phơi phới bay đến.
Cổ Lỗ Khâu Trạch cho rằng Phật tính vốn có, khí chất lại càng là tiên thiên tạo thành. Ông hoàn toàn là khí chất của Thương Ương Gia Thố, không cách nào từ chối sự quyến rũ đó. Đó là ánh mặt trăng thơm tho và ấm áp bên trong cửa Phật, là con đường rộng rãi tràn đầy sức sống kéo dài đến dưới chân làm tan biến đi tất cả sự mệt mỏi khốn đốn.
Ông bắt đầu làm theo lời dặn, phát hiện ra điều đầu tiên cần chứng ngộ chính là: Có thần hay không? Có cần thần hay không? Khi tai họa ập đến, thần ở đâu?
Đại Hoạt Phật Ngõa Kiệt Cống Cáp lại hỏi: "Sự im lặng của ngươi khiến ta giật mình đến thế, dù cho có là phản kinh bội đạo, người làm sư phụ như ta cũng nên được biết."
Cổ Lỗ Khâu Trạch kiên quyết ngẩng đầu lên, nói lớn: "Con tu luyện là 'Cửa Tám Độ Mẫu'. Cửa thứ nhất của 'Cửa Tám Độ Mẫu' chính là: Có thần hay không? Thần ở đâu?"
Một tràng tiếng kinh hãi, sau đó là sự im lặng.
Cổ Lỗ Khâu Trạch lại nói: "Pháp ngữ quán đảnh của Đạt Lai Lạt Ma đời thứ sáu Thương Ương Gia Thố là, 'Cửa Tám Độ Mẫu' sắp sửa khởi động khai quật, sự quán đảnh ta dành cho ngươi là tiếng còi khởi động."
Đại Hoạt Phật Ngõa Kiệt Cống Cáp đứng phắt dậy, trách mắng: "Vậy sự quán đảnh ta dành cho ngươi thì không tính nữa sao?"
Cổ Lỗ Khâu Trạch Lạt Ma nói: "Tôn sư, trong lòng con giống như sóng nước hồ hiện lên những dòng chữ này, con là thuận theo dòng nước, tùy tâm sở dục, đây chính là lời dạy của ngài."
Đại Hoạt Phật Ngõa Kiệt Cống Cáp giận dữ đứng dậy, bước tới, cầm lấy cây tích trượng ba thước đại diện cho uy nghiêm kia, đập mạnh vào trán mình, sau đó ném cho Cổ Lỗ Khâu Trạch Lạt Ma, đau đớn nói: "Ta chết, ngươi cũng chết." Sau đó mang theo một bãi máu, quay người bước đi.
Bôn Ba Giáp Hoạt Phật nói: "Đại Hoạt Phật xin dừng bước, kỳ thi hôm nay vẫn chưa có kết quả."
Quả thực, sự đánh giá của giám khảo chưa tiến hành, ai là người chiến thắng vẫn chưa biết. Mà trong sự kỳ vọng của Bôn Ba Giáp Hoạt Phật, người chiến thắng hôm nay chắc chắn là ông, ông khao khát sự công bố của giám khảo.
Đại Hoạt Phật Ngõa Kiệt Cống Cáp nhận ra mình không chỉ là tôn sư của Cổ Lỗ Khâu Trạch Lạt Ma, mà còn là Đại Hoạt Phật trụ trì Điện Bố Đạt La, là người có uy quyền nhất toàn trường, bèn không màng đến sự hổ thẹn khó nói, quay trở lại hàng ghế giám khảo.
Kết quả dường như đã quá rõ ràng, các Cách Tây Lạt Ma đều biết Cổ Lỗ Khâu Trạch Lạt Ma vì trái lệnh tôn sư, tự ý tu luyện "Cửa Tám Độ Mẫu" cực kỳ cơ mật, nên đã trở thành người thất bại trong kỳ thi này.
Đại Hoạt Phật Ngõa Kiệt Cống Cáp chỉ vào giám khảo Ni Mã lớn tuổi nói: "Mời ngài đứng ra công bố đi."
Giám khảo Ni Mã lại hỏi: "Công bố cái gì? Ai là người chiến thắng?" Lại chỉ vào các giám khảo khác nói, "Chúng ta còn chưa bỏ phiếu mà."
Đại Hoạt Phật Ngõa Kiệt Cống Cáp nói: "Không cần bỏ phiếu nữa."
Giám khảo Ni Mã kiên trì: "Quy trình đã định thì tốt nhất không nên bỏ qua."
Đại Hoạt Phật Ngõa Kiệt Cống Cáp không nói gì. Chín vị giám khảo bắt đầu bỏ phiếu, rất nhanh đã kết thúc. Khi giám khảo Ni Mã công bố xong kết quả, Điện Trì Minh Phật nơi làm khảo trường bùng lên một tràng xôn xao bàn tán.
Năm phiếu chống lại bốn phiếu, Cổ Lỗ Khâu Trạch Lạt Ma lại nhận được năm phiếu.
Bôn Ba Giáp Hoạt Phật không tin đây là sự thật, bước tới tận mắt xem lại từng lá phiếu.
Đại Hoạt Phật Ngõa Kiệt Cống Cáp chỉ vào các giám khảo, nghiêm lệ hỏi: "Ai đã bỏ phiếu cho Cổ Lỗ Khâu Trạch Lạt Ma? Các người lại đi ủng hộ hắn tu luyện cửa phi pháp."
Không ai trả lời ông.
Đại Hoạt Phật Ngõa Kiệt Cống Cáp mất khống chế nói: "Ta quyết không cho phép một kẻ tu luyện 'Cửa Tám Độ Mẫu' kế thừa pháp tòa Đại Hoạt Phật trụ trì Điện Bố Đạt La."
Giám khảo Ni Mã nói: "Đại Hoạt Phật, chi bằng cứ để kỳ thi quyết định đi, đây là quy củ."
2
Tông Giác Lộc Khang phía sau Cung Bố Đạt La vẫn giữ được vẻ hoang sơ hiếm có từ thời Thương Ương Gia Thố, Đầm Long Vương vẫn xanh ngắt, những cây cổ thụ to lớn vẫn xum xuê tươi tốt. Hoàng tử Hương Ba và Thố Mạn Cát Mỗ giống như một đôi tình nhân đến điểm hẹn hò, vai sóng vai đi vào sâu trong rừng cây.
Hoàng tử Hương Ba ngồi phịch xuống thảm cỏ, sốt sắng nói: "Ở đây đi, mau nói cho tôi biết, báu vật ở chỗ nào trong Chùa Đại Chiêu?"
Thố Mạn Cát Mỗ nói: "Nhưng anh vẫn chưa nói anh định cho tôi cái gì."
Hoàng tử Hương Ba kinh ngạc: "Cô thực hiện di nguyện của A Mạ mà còn đòi thù lao sao?"
Thố Mạn Cát Mỗ gật đầu quỷ quyệt: "Chắc chắn là không thể làm lợi cho anh rồi."
"Nói đi, bao nhiêu tiền?"
"Tôi không cần tiền."
"Vậy cô cần gì?"
"Cần anh."
Hoàng tử Hương Ba ngơ ngác, hồi lâu mới nói: "Ai nói với cô là cô có thể đòi tôi, cũng là A Mạ cô sao?"
Thố Mạn Cát Mỗ nghiêm túc nói: "Là tự tôi nghĩ ra đấy. Tôi vốn tưởng người tôi chờ đợi là một vị lạt ma, ít nhất cũng phải tám mươi tuổi rồi, không ngờ lại là một gã đàn ông trần thế đẹp trai thế này, tôi không thể chờ đợi vô ích được, tôi cũng đã phải trả giá rồi."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Cô đừng có nghĩ lung tung, tôi đây là đang quật tạng, quật tạng là gì cô biết không? Chính là thứ mà tất cả sự thần thánh trên thế giới cộng lại cũng không thần thánh bằng nó, chính là bản thân Phật giáo, nói ngắn gọn một câu, không có quật tạng thì không có Phật giáo Tây Tạng."
Thố Mạn Cát Mỗ nói: "Tôi là một phần của phục tạng, anh quật chẳng phải là tôi sao?"
Hoàng tử Hương Ba trừng mắt nhìn cô: "Hóa ra cô cái gì cũng biết, nhưng mục tiêu của tôi là 'Cửa Tám Độ Mẫu', không phải cô."
"Ở đây là Tông Giác Lộc Khang, đến đây rồi thì mục đích của anh nên là tôi."
"Bây giờ rất nhiều người đang bắt tôi, đâu đâu cũng nguy hiểm, tôi đến đây chỉ vì ở đây an toàn nhất."
Thố Mạn Cát Mỗ cười khẩy một tiếng: "Ở đây làm gì an toàn nhất? Yêu đương hẹn hò là an toàn nhất, chốn cũ của Thương Ương Gia Thố, ai mà không biết cơ chứ. Hoàng tử Hương Ba, nếu anh không phải là đàn ông thì cút đi." Nói rồi giơ chân đá vào một bụi cỏ, lại đá ra ba cái bao cao su đã qua sử dụng.
Hoàng tử Hương Ba nhìn chằm chằm vào mấy cái bao cao su, hồi lâu không biết nói gì, đột nhiên thở dài nói: "Được rồi, cô mau nói cho tôi biết báu vật ở chỗ nào trong Chùa Đại Chiêu trước đã, rồi hẵng nói chuyện khác."
"Anh đang lừa tôi, nếu tôi nói cho anh biết, anh sẽ lập tức bỏ rơi tôi." Nói xong cô quay người bỏ đi.
Hoàng tử Hương Ba nhảy dựng lên giữ cô lại: "Thố Mạn Cát Mỗ cô nghe đây, bây giờ có ba việc quan trọng như nhau đối với tôi: Thứ nhất là khai quật phục tạng 'Cửa Tám Độ Mẫu'; thứ hai là giải cứu đồng điệu Mai Tát của tôi; thứ ba là bảo vệ cô. Tôi đã từng nói, tôi không tin việc mở ra 'Cửa Tám Độ Mẫu' lại cần phải trả giá bằng nhiều mạng sống đến thế. Thố Mạn Cát Mỗ, tức là cô, là người tình thứ sáu mà bài tình ca của Thương Ương Gia Thố nói cho chúng tôi biết, trong đó có bốn người sau khi chúng tôi tìm thấy đều đã chết. Tôi không muốn cô giống như họ. Tôi thề sẽ bảo vệ cô, dùng tính mạng để bảo vệ cô. Hiện tại cô đã rất nguy hiểm rồi, phải đi theo tôi không rời một bước."
Thố Mạn Cát Mỗ nói: "Chết thì chết thôi, tôi không sợ. Buông tôi ra, buông tôi ra tôi sẽ nói cho anh biết."
Hoàng tử Hương Ba thả ra. Thố Mạn Cát Mỗ quay đầu chạy biến. Đuổi theo là điều tất nhiên, không đuổi kịp cũng là điều tất nhiên. Hoàng tử Hương Ba dựa vào lớp vỏ cổ thụ của một cây thông già, thở hổn hển, nói lớn với Thố Mạn Cát Mỗ đang đứng cách đó mười bước: "Cô không sợ nhưng tôi sợ, tôi sợ tôi không có được 'Cửa Tám Độ Mẫu', mau nói đi chứ, báu vật ở chỗ nào trong Chùa Đại Chiêu?"
Thố Mạn Cát Mỗ nói: "Không nói, quyết không nói, trừ khi anh đồng ý với tôi."
"Cô nghe tôi giải thích này Thố Mạn Cát Mỗ, cô là người Tạng, cô nên biết quật tạng có quy tắc rất nghiêm ngặt, hoặc là kết hợp với pháp lữ định mệnh, hoặc là tuyệt đối tránh xa mọi sắc dục giữ cho bản thân hoàn toàn trong sạch. Nếu tôi làm bậy với người phụ nữ khác, không những không thể xóa bỏ u mê, có được sự giúp đỡ, mà còn khiến tôi trở nên vô cùng bẩn thỉu. Một người bẩn thỉu mà còn cố chấp muốn quật tạng thì cầm chắc cái chết. Tệ hơn nữa là, phục tạng trong sạch vừa gặp phải luồng khí bẩn thỉu sẽ trốn chạy mất, vĩnh viễn biến mất, lịch sử sẽ không còn cuộc quật tạng vĩ đại cuối cùng nữa đâu." Hoàng tử Hương Ba vừa nói, một sự tự hào từ đáy lòng trỗi dậy. Nếu là trước đây, anh sẽ không bỏ qua một cuộc kỳ ngộ khát khao không gì bằng thế này, Thố Mạn Cát Mỗ tuyệt đối là một cô gái khiến đàn ông phải xiêu lòng. Cho dù sau khi bước lên con đường quật tạng, anh cũng từng cho rằng mình là Thương Ương Gia Thố tái sinh, có thể hưởng thụ đặc quyền "tại dục hành thiền". Nhưng hiện tại, Hoàng tử Hương Ba nhận ra mình đã thay đổi, phiền não biến thành Bồ Đề, trong lửa mọc ra hoa sen.
Thố Mạn Cát Mỗ nói: "Anh là một kẻ mù, pháp lữ đến tận trước mặt rồi mà anh cũng không nhận ra, chỉ có tôi mới có thể giúp anh, cái bụng của tôi chính là bằng chứng."
Hoàng tử Hương Ba kiên quyết: "Không, cô không phải là pháp lữ." Trong mắt anh hiện lên khuôn mặt của Mai Tát, trong lòng thầm nói pháp lữ của mình chỉ có thể là Mai Tát. Nếu có phá sắc giới thì cũng chỉ có thể là Mai Tát.
Thố Mạn Cát Mỗ tủi thân nói: "Hóa ra người tôi chờ không phải là anh, anh không phải là Thương Ương Gia Thố, tôi cũng không phải là người tình của Thương Ương Gia Thố."
"Có phải hay không cô nghe tôi hát cho cô nghe, hát bài tình ca Thương Ương Gia Thố."
"Tôi không nghe, tôi không nghe, tình ca không có hành động thực tế thì chính là nước không cho sữa và trà, có hương vị gì cơ chứ."
Trong lúc cấp bách, cả Hoàng tử Hương Ba và Thố Mạn Cát Mỗ đều quên mất những lời này không thể nói to ra được, tai vách mạch rừng. Đặc biệt là Tông Giác Lộc Khang, vùng đất phúc lành hẹn hò tình nhân này của Đạt Lai Lạt Ma đời thứ sáu Thương Ương Gia Thố, chốn riêng tư của nam nữ nảy sinh tình dục từ xưa đến nay, trong nhiều khoảng không gian nhỏ hẹp thảm thực vật rậm rạp đó, có những kẻ cuống quýt, treo ngược đôi ủng da bò màu đen và màu đỏ, dấn thân vào sự lãng mạn lấy trời làm chăn lấy đất làm giường. Bây giờ những người này không cuống quýt mà cũng chẳng lãng mạn nữa, đều đang lắng nghe, ít nhất là có một nơi có hai đôi tai đang im lặng lắng nghe. Một người đàn ông bọc răng vàng nhẹ nhàng vén lá cây ra, nghe rõ ràng, mà cũng nhìn rõ ràng, Thố Mạn Cát Mỗ cách đó vài bước lại đẹp đẽ đến nhường này. Hắn cúi đầu, nói nhỏ với cô bạn gái béo úp bên cạnh: "Đứng dậy, mặc quần áo vào, chúng ta có việc phải làm rồi." Cô gái béo hỏi: "Việc gì cơ?" Người đàn ông bọc răng vàng nói: "Đừng quên chúng ta đã nhận tiền của người ta, chúng ta ngày nào cũng đến đây không phải chỉ để hưởng thụ hạnh phúc tình dục đâu. Chốn cũ hẹn hò tình nhân của Thương Ương Gia Thố thế nào cũng xuất hiện người có liên quan đến Thương Ương Gia Thố. Đây là lời ông chủ nói, cuối cùng chúng ta cũng đợi được rồi."
Thố Mạn Cát Mỗ thất vọng lại bắt đầu chạy, nhưng lần này cô chạy quá nhanh, bỏ xa Hoàng tử Hương Ba ở phía sau. Đến khi cô giống như một đứa trẻ trốn đi trong trò chơi trốn tìm mà không thấy ai đi tìm, hẫng hẫng chạy ra tìm Hoàng tử Hương Ba, thì Tông Giác Lộc Khang rộng lớn đã không còn bóng dáng của anh nữa.
"Hoàng tử Hương Ba, Hoàng tử Hương Ba." Cô gào lên, sốt sắng đến mức môi lập tức nổi mụn nước.
Một người đàn ông bọc răng vàng và một cô gái béo từ trong bụi cây xông ra, chỉ vào một cái lồng tự nhiên do cây cối rậm rạp tạo thành nói: "Anh ta ở bên trong, bảo cô mau vào đi."
Thố Mạn Cát Mỗ không nghĩ gì khác, đâm đầu chui vào, nhìn thấy bên trong ngoại trừ cỏ rác hoang vu dơ bẩn thì chẳng có gì cả, quay người muốn ra ngoài, lại bị cô gái béo giữ chặt cánh tay, bị gã răng vàng ôm chặt lấy eo.
"Thả tôi ra, thả tôi ra, đồ lưu manh, đồ lưu manh." Thố Mạn Cát Mỗ gào khóc, nhưng thứ âm thanh như vậy trong không khí phong lưu của Tông Giác Lộc Khang chỉ có thể được coi là bản nhạc tuyệt diệu.
Thố Mạn Cát Mỗ bị đè bẹp trên đống cỏ rác dơ bẩn trong lồng. Cô gái béo nặng nề đè chặt lấy chân cô, gã răng vàng càng nặng nề đè chặt lấy vai và cánh tay cô. Thố Mạn Cát Mỗ mảnh mai như một con rắn đột nhiên phát hiện ra mình yếu ớt giống như một cọng cỏ.
Gã răng vàng liếm chiếc răng vàng hỏi: "Thế nào gọi là 'Cửa Tám Độ Mẫu'?"
Thố Mạn Cát Mỗ căm hờn nhìn hắn, lắc đầu.
Gã răng vàng lại hỏi: "Báu vật gì ở chỗ nào trong Chùa Đại Chiêu?"
Cô lại lắc đầu.
"Cô là gì của Thương Ương Gia Thố? Là hậu đại của ông ta, hay là hậu đại của người tình ông ta? Mau nói."
Cô kiên quyết lắc đầu, để lộ hàm răng trắng muốt cắn chặt lấy môi.
"Cô nói cái bụng của cô chính là bằng chứng, bằng chứng gì?" Hắn đặt tay lên bụng cô.
Cô trừng mắt tóe lửa nhìn hắn: "Mày thả tao ra, thả tao ra."
Gã răng vàng cười hiểm ác một tiếng, rút từ trong eo ra một chiếc dao Tạng trắng cán đồng đỏ kéo sợi, một dao rạch phăng chiếc váy nỉ phổ lỗ mùa hè mỏng dảnh của Thố Mạn Cát Mỗ, nhìn ngó cái bụng đó một cái, lập tức gọi điện thoại cho ông chủ.
3
Hoàng tử Hương Ba là bị người ta lừa rời khỏi Tông Giác Lộc Khang. Anh không tìm thấy Thố Mạn Cát Mỗ, cất tiếng gọi to tên cô, nhưng lại gọi ra một cô gái béo. Cô gái béo nói: "Có phải anh tìm một cô gái như thế này không?" Cô ta mô tả một hồi. Hoàng tử Hương Ba nói: "Đúng rồi, đúng rồi." Thế là cô gái béo nói với anh: "Tôi thấy cô ta chạy ra khỏi cửa Tông Giác Lộc Khang, về nhà rồi." Hoàng tử Hương Ba hỏi: "Sao cô biết cô ấy về nhà rồi?" Cô gái béo nói: "Cô ấy bỏ anh mà đi, không về nhà mình thì đi đâu?" Hoàng tử Hương Ba thầm nghĩ, đúng rồi, Thố Mạn Cát Mỗ chẳng phải đã nói vốn dĩ người cô chờ không phải là anh sao? Cô nhất định lại đến trước cửa Chùa Đại Chiêu vừa dập đầu vừa chờ đợi rồi. Nghĩ như vậy, anh chạy ra khỏi Tông Giác Lộc Khang, chui vào một chiếc xe taxi, nói lớn: "Chùa Đại Chiêu."
Nửa đường, Hoàng tử Hương Ba ghé vào cửa hàng mua một chiếc mũ phớt, một chiếc kính râm và một chiếc áo bào Tạng bằng vải màu xanh lam đậm, mặc chỉnh tề, soi gương một cái, phát hiện ra đã khác xa so với ngày hôm qua. Dù vậy, anh vẫn chuẩn bị sẵn tâm lý tự chui đầu vào lưới. Mai Tát và Thố Mạn Cát Mỗ đều ở trong lưới, anh không tự chui vào thì làm sao vớt họ ra được?
Anh xuống xe từ xa, đi bộ đến đường Đông Tư Tô, đi tiếp về phía trước tiến vào phố Bát Khuếch Nam, tránh khỏi quảng trường Chùa Đại Chiêu, trà trộn vào đám đông thương lái, du khách, người quay kinh kỉ, vòng ra trước cửa Chùa Đại Chiêu. Bên cạnh cửa có một người quen đang đứng, chính là A Rược Lạt Ma. Tuy nhiên A Rược Lạt Ma không hề có phản ứng gì, liếc nhìn anh một cái rồi dời ánh mắt đi nơi khác. Điều này khiến niềm tin của anh tăng lên đáng kể, cảm thấy sự cải trang này của mình có thể che mắt được một thời gian. Anh đi về phía cửa bán vé, móc ra bảy mươi lăm nhân dân tệ mua vé, soát vé đi vào, trốn sang bên cạnh cửa, hướng mắt ra ngoài quan sát. Anh tìm kiếm Thố Mạn Cát Mỗ trong đống người đang dập đầu bái lạy kia, tìm mấy lượt đều không thấy bóng dáng cô đâu, bèn quay người đi vào trong, thầm nghĩ có lẽ Thố Mạn Cát Mỗ vẫn chưa đến, đi vào trong tìm Mai Tát trước, đi ra rồi tìm cô sau.
Anh đi qua đại viện biện kinh, đi đến trước hai cột gỗ cũ kỹ màu đen có dấu vết hình xăm Biểu tượng Cừu bên trái và bên phải, nhìn thấy tấm biển dán Kim Cang Xanh và Kim Cang Đỏ bên trên đã không còn nữa, giống như tối hôm qua chưa từng xảy ra chuyện gì vậy. Anh móc điện thoại ra gọi cho Mai Tát, đối phương đã tắt máy. Anh cúi đầu, nhanh chóng đi về phía dòng sông ánh đèn bơ lấp lánh kia, đi được vài bước thì đâm sầm vào một vị lạt ma, anh muốn né sang một bên nhưng lại phát hiện anh sang đông lạt ma cũng sang đông, anh sang tây lạt ma cũng sang tây, ngẩng đầu lên nhìn thì ngẩn người. Vị lạt ma mặt chữ điền và nhiều lạt ma xung quanh đằng trước đằng sau cùng giơ tay tóm chặt lấy anh.
Lạt ma mặt chữ điền nói: "Chúng tao biết mày thế nào cũng quay lại."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Tôi đến cứu người của tôi, Mai Tát đâu?"
Các lạt ma áp giải anh, đi về phía một khu viện cửa đen ở phía nam mà anh chưa từng đến bao giờ. Hoàng tử Hương Ba nhìn thấy A Rược Lạt Ma và Ô Kiên Lâm Ba cùng Vương Nham và Trác Mã không biết từ đâu chui ra, đi theo phía sau, lúc này mới nhận ra mình có lột da thì người ta cũng nhận ra.
Cửa đen chỉ mở một khe hở, các lạt ma áp giải Hoàng tử Hương Ba vừa vào trong thì đã bị lạt ma mặt chữ điền đóng sầm cửa lại. Bốn phía khu viện đều là tăng xá, còn có nhà bếp và chuồng ngựa, còn có bóng dáng phụ nữ làm việc vặt, còn có một căn phòng đen rộng hai mét vuông chuyên dùng để nhốt người.
Phòng đen trở thành nơi đường cùng của Hoàng tử Hương Ba, anh hối hận ném chiếc mũ phớt xuống đất: "Mẹ kiếp, mẹ kiếp, tại sao mình không thể bỏ tiền thuê lấy một người đi nghe ngóng tin tức của Mai Tát cơ chứ?" Lại cảm thấy thuê người khác thì không yên tâm, bản thân nhất định vẫn sẽ đến. Anh đạp vào cửa sắt, gào lên: "Các người làm thế này là phạm pháp, Chùa Đại Chiêu có quyền gì mà bắt người?"
Lạt ma mặt chữ điền ở ngoài cửa nói: "Mày là một quật tạng sư lừng lẫy, quật tạng sư trước hết là một tín đồ Phật giáo tu luyện mật pháp, chúng tao chẳng qua là cung cấp cho mày một cơ hội bế quan tĩnh tu mà thôi."
Hoàng tử Hương Ba ngơ ngác: Họ giam giữ trái phép bạn, bạn lại không thể nói họ phạm pháp. Hơn nữa, bế quan tĩnh tu không những là vô thời hạn, mà còn có thể bốc hơi bất cứ lúc nào. Cho dù bạn bốc hơi như thế nào thì đều có thể coi là vì bế quan mà niết bàn, sẽ không có ai truy cứu trách nhiệm đâu. Anh van xin: "Các người chẳng phải cũng hi vọng tôi có thể chứng minh Chùa Đại Chiêu là nơi tọa lạc của 'Cửa Tám Độ Mẫu' sao? Thả tôi ra ngoài, tôi đảm bảo sẽ chứng minh cho các người xem."
Lạt ma mặt chữ điền nói: "Lời nói trước lúc trời sáng, thời hạn đã qua, chúng tao đã không cần nữa rồi, đây là pháp chỉ của Khâu Cát Tang Bô Đại Sư."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Nhưng Thánh Giáo cần, những người khác cần."
Lạt ma mặt chữ điền nói: "Chúng tao không thích người khác cần. 'Cửa Tám Độ Mẫu' một khi rời khỏi sự hướng dẫn của đấng Chính Đẳng Chính Giác, tất sẽ trở thành tai họa diệt vong cho Thánh Giáo. Mày không phải là đấng Chính Đẳng Chính Giác, 'Cửa Tám Độ Mẫu' cũng sẽ không có khả năng được mở ra, phục tạng đã bị mày hủy hoại, kẻ đâm xuyên tim Thánh Giáo không phải là kẻ thù của Phật pháp, kẻ phản thề tội lỗi thì là cái gì cơ chứ? Sự tồn tại của Chùa Đại Chiêu vừa là sự tồn tại của phúc âm, vừa là sự tồn tại của hình phạt."
Hoàng tử Hương Ba thở dài một tiếng: "Xem ra tôi cầm chắc cái chết rồi."
Lạt ma mặt chữ điền nói: "Mày không phải chết, mày là thiền tọa mà tịch."
Hoàng tử Hương Ba hỏi: "Khi nào thì bắt đầu?" Anh muốn nói đến việc thi triển độc chú, nói đến kết cục ruột nát, phổi cháy, gan nứt, bụng thủng của bản thân.
Lạt ma mặt chữ điền nói: "Trong khu viện này, tất cả các tăng xá đều có mật giáo đồ sinh sống, kinh chú hợp lực của họ đã bắt đầu rồi." Nói xong, rầm một tiếng đóng chặt cửa lại.
Hoàng tử Hương Ba gào lên một tiếng: "Cho tôi gặp Mai Tát một lần." Sau đó đập đầu vào cửa sắt.
Mai Tát ở ngay bên cạnh. Bên cạnh là một căn phòng nhỏ.
Đêm đến, khi Hoàng tử Hương Ba giẫm lên vai Mai Tát, trèo qua Cửa Sư Tử dẫn đến Kim Đỉnh Chùa Đại Chiêu rồi lặng lẽ biến mất, Mai Tát sợ hãi run rẩy liên hồi. Một mình cô, ở một nơi mà ngay cả không khí ban đêm cũng nhiễm phải thông tin của ma quỷ, làm sao có thể chịu đựng được đến sáng chứ? Cô nhớ đến lời thầy Biên Ba từng nói: "Thực ra ban đầu trên thế giới vốn không có Phật, cũng không có Ma, sau đó Phật xuất hiện, Ma liền đến; hoặc Ma xuất hiện, Phật liền đến, không biết là có Phật trước hay có Ma trước. Nhưng có một điều có thể khẳng định, nơi nào có Phật thì nơi đó có Ma, nơi nào có Ma thì nơi đó có Phật. Đây có phải là muốn nói, nơi không có Phật và Ma mới là nơi lý tưởng nhất? Có lẽ là vậy. Nhưng không thể nào không có Phật và Ma, Phật đối với vũ trụ là vô sở bất tại, vì vậy Ma đối với vũ trụ cũng là vô sở bất tại. Mọi vật trên thế gian đều có hai mặt, đó chính là Phật và Ma, cho nên chúng ta mới nói: 'Phật Ma, Phật Ma'." Cô cuộn tròn trên cầu thang trước Cửa Sư Tử, đột nhiên nhận ra, điều khiến mình cảm thấy sợ hãi không phải là Ma, mà là Phật. Tại sao cô gặp Phật lại sợ hãi? Hóa ra cô chính là Ma, mối quan hệ giữa người và Phật chính là mối quan hệ giữa Ma và Phật. Cô nghĩ như vậy, nói lớn: "Tôi là Ma, tôi là Ma." Nói vài tiếng, dường như không còn sợ hãi nữa, bèn đứng dậy đi xuống dưới, cô muốn đi ra khỏi Chùa Đại Chiêu.
Trong bóng tối đột nhiên vươn ra một bàn tay lớn, tóm chặt lấy tóc cô. Cô gào lên như ma làm, sự sợ hãi lại ập đến lần nữa.
Tóm lấy cô là lạt ma mặt chữ điền. Hắn ta ác ý nói: "Một pháp lữ cừ khôi đấy." Sau đó dặn dò tay chân đưa cô xuống, trói vào sau cột gỗ dán Kim Cang Đỏ ở đại viện biện kinh.
Cô chống chọi trong sự sợ hãi suốt một tiếng đồng hồ rồi mới được cởi trói.
Lạt ma mặt chữ điền tịch thu điện thoại của cô, thần bí nói: "Khâu Cát Tang Bô Đại Sư bảo cô đừng đi, ở đây chờ đợi một cơ hội mây tan mây tạnh."
Mai Tát cảnh giác hỏi: "Mây tan mây tạnh cái gì, đối với chúng tôi, hay đối với các người?"
Lạt ma mặt chữ điền không trả lời, lại nói: "Nếu cô rời khỏi Chùa Đại Chiêu, lập tức sẽ bị cảnh sát bắt đi; nếu cô ở lại Chùa Đại Chiêu, Hoàng tử Hương Ba sớm muộn gì cũng sẽ đến tìm cô."
Mai Tát nói: "Các người muốn lấy tôi làm mồi nhử?"
Lạt ma mặt chữ điền nói: "Lẽ nào cô không muốn? Lẽ nào mục đích của cô không phải là để mở ra 'Cửa Tám Độ Mẫu'? Lẽ nào vì mục đích chí cao vô thượng này, cô còn bận tâm đến sống chết của một người đồng điệu sao?"
Mai Tát nói: "Các người sẽ hại chết Hoàng tử Hương Ba?"
Lạt ma mặt chữ điền nói: "Hại chết hắn chỉ có thể là chính bản thân hắn."
Mai Tát bị đưa đến căn phòng nhỏ này trong khu viện cửa đen.
Cửa sổ căn phòng nhỏ được khóa bằng thanh sắt, cửa cũng bị khóa chết. Nhưng rõ ràng đây không phải là nơi giam giữ người, bởi vì có một số đồ đạc trang trí ấm áp: nệm tạp đệm êm ái, bàn thấp lộng lẫy, thang cà Bạch Độ Mẫu nhân từ và một bình bạc đong đầy trà sữa, còn có bàn thờ bày nước sạch, hương đàn, hoa quả và đóa mã, một pho tượng đồng Sá Ca Pháp Vương Bát Tư Ba vô cùng tuấn mỹ đang thản nhiên mỉm cười; càng là vì căn phòng nhỏ này có cửa sau, cửa sau được rèm cửa Bạch Tản Cái che lại, vén rèm cửa ra có một lối đi hẹp dẫn đến điện chính Chùa Đại Chiêu. Mai Tát đã mấy lần muốn đi đến điện chính, nhưng chỉ cần vén rèm cửa ra là sẽ có mấy vị lạt ma đi đến ngăn cản. Cô biết mình vẫn bị trói buộc, chỉ là các lạt ma không muốn gánh tội danh bắt cóc nên mới cho cô sự tự do trên hình thức. Cô nghĩ vậy thì đừng làm chuyện vô ích nữa, tạm thời nghe theo lời lạt ma mặt chữ điền, ở lại đây chờ đợi một cơ hội mây tan mây tạnh.
Lúc này, hình như mây tan mây tạnh đã đến, cô nghe thấy tiếng của Hoàng tử Hương Ba, không kìm được gào lên: "Hoàng tử Hương Ba, tôi ở đây, Hoàng tử Hương Ba."
Lạt ma mặt chữ điền đi vào nói: "Đừng gào nữa, vô ích thôi, hắn không cứu được cô đâu."
Mai Tát phẫn nộ nói: "Các người giam giữ người trái phép, tôi sẽ tố cáo các người."
Lạt ma mặt chữ điền nói: "Tố cáo chúng tao thì 'Cửa Tám Độ Mẫu' có thể tự động đi ra chắc?"
Mai Tát nói: "Các người rốt cuộc muốn làm gì?"
"Cô đã nói rồi đấy, giam giữ trái phép."
"Đồ vô lại, đồ vô lại vấy bẩn Thích Ca Mâu Ni."
"Mày dám chửi người?" Lạt ma mặt chữ điền giơ nắm đấm khua khua trước mắt cô.
Trong lòng cô dâng lên một tràng uất hận: Trốn chạy, nhất định phải trốn chạy, loại người này chuyện gì cũng có thể làm ra được.
Bên ngoài khu viện cửa đen, giữa những du khách từ nơi khác đến đang luân phiên chụp ảnh cùng mấy cô gái Tạng diện trang phục lộng lẫy, A Rược Lạt Ma và Ô Kiên Lâm Ba cùng Vương Nham và Trác Mã ngầm hiểu ý mà đi đến cạnh nhau.
A Rược Lạt Ma nói: "Không thể để họ nhốt Hoàng tử Hương Ba ở Chùa Đại Chiêu được, thời gian lâu sẽ xảy ra chuyện đấy, phải nghĩ cách thôi."
Vương Nham nói: "Tôi chả tin Hoàng tử Hương Ba lại chết được."
A Rược Lạt Ma nói: "Đợi đến khi anh tin thì đã muộn rồi."
Vương Nham nói: "Các anh là lạt ma, họ cũng là lạt ma, nói chuyện tử tế với họ, bảo họ thả người ra là xong."
A Rược Lạt Ma nói: "Lạt ma căm hận nhất vẫn là lạt ma, sự đối lập giữa Phật pháp và Phật pháp là sự đối lập lớn nhất trên thế giới, chúng tôi không tiện ra mặt đâu, cảnh sát."
Có lẽ Vương Nham chỉ đợi lời thỉnh cầu của A Rược Lạt Ma, anh nhìn Trác Mã, gật đầu.
Trác Mã đầu tiên dùng ngón tay, sau đó dùng lòng bàn tay và nắm đấm, cuối cùng dùng đến đá, khu viện cửa đen mới được gõ mở. Hai lạt ma canh cửa mỗi người cầm một cây gậy gỗ bọc sắt, mặt đập đùng đùng nói: "Cái cửa này là nơi muốn gõ thế nào thì gõ sao, các người làm cái gì đấy?"
Vương Nham đưa thẻ cảnh sát ra nghiêm giọng nói: "Chúng tôi đến bắt tội phạm, tại sao không mở cửa?"
Hai cảnh sát đẩy hai lạt ma canh cửa ra, bước vào khu viện cửa đen.
Trong viện, phần lớn cửa các tăng xá đều mở, đều có lạt ma ở bên trong tụng kinh. Vương Nham và Trác Mã gọi lớn "Hoàng tử Hương Ba" đi một vòng, nghe thấy trong phòng đen có tiếng đáp lại, giơ súng đứng trước cánh cửa bị khóa chết, nói với mấy vị lạt ma từ trong tăng xá đi ra: "Ai cầm chìa khóa, mau mở ra."
Lạt ma mặt chữ điền bước tới, thản nhiên hỏi: "Các người muốn làm gì?"
Vương Nham nói: "Bắt nghi phạm giết người."
Lạt ma mặt chữ điền nói: "Đến đây đều là tăng nhân tu luyện mật pháp, không có nghi phạm giết người nào cả."
Trác Mã mất kiên nhẫn, một đạp đá vào khóa cửa nhưng không đá mở được, lại dùng vai hướng về phía cửa, dùng sức mạnh của toàn bộ cơ thể húc mạnh vào.
Cửa mở ra, Vương Nham và Trác Mã đè phắt lấy Hoàng tử Hương Ba.
Hoàng tử Hương Ba phẫn nộ nói: "Tôi đã là ba ba trong hũ rồi, các người còn hung dữ như thế, tôi là sư tử hay là hổ hả?"
Trác Mã móc còng tay ra, cạch một tiếng còng chặt lấy anh.
Họ đi ra khỏi khu viện cửa đen, đi qua đại viện biện kinh, đi về phía cửa Chùa Đại Chiêu. Trác Mã kéo còng tay, dán sát vào Hoàng tử Hương Ba, nói nhỏ: "Vừa ra khỏi cửa anh liền chạy đi, tuyệt đối đừng đến nơi này nữa." Nói rồi khéo léo cắm chìa khóa vào, tạch một tiếng mở còng tay ra.
Hoàng tử Hương Ba nói: "Cô chắc chắn hy vọng tôi cuối cùng có thể mở ra 'Cửa Tám Độ Mẫu', nếu không cô sẽ không nhắc nhở tôi, nhưng mục tiêu của tôi, đồng điệu của tôi đều ở nơi này, làm sao tôi có thể không đến?"
"Anh chắc chắn 'Cửa Tám Độ Mẫu' ở Chùa Đại Chiêu?"
"Ít nhất ở đây nên có 'chữ thấu quang' hiển hiện 'chỉ nam thọ ký'."
"Nhưng cơ hội tôi có thể cứu anh không có nhiều đâu."
Hoàng tử Hương Ba nghi ngờ nhìn cô: "Cô rốt cuộc là ai?"
"Lần đầu tiên chúng ta gặp nhau tôi đã nói với anh rồi, tôi là một cảnh sát quốc tế, mục tiêu của tôi là Ogyen Lạt Ma, không phải anh."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Cô rất đúng, chỉ cần tôi khai quật phục tạng thì Ogyen Lạt Ma sẽ chú ý đến tôi, ông ta sớm muộn gì cũng lộ diện thôi, nếu tôi gặp được, nhất định sẽ nói cho cô biết."
"Rất cảm ơn." Trác Mã một chân bước qua ngưỡng cửa Chùa Đại Chiêu, đẩy Hoàng tử Hương Ba một cái, "Mau chạy đi."
Hoàng tử Hương Ba cuồng chạy đi, nhưng chỉ mới chạy được chưa đầy hai mươi mét đã bị bốn năm cảnh sát xông tới đè phắt xuống.
Hoàng tử Hương Ba lúc này mới chú ý thấy, trên quảng trường trước cửa Chùa Đại Chiêu đã đỗ ít nhất mười chiếc xe cảnh sát, giữa các khoảng trống trước sau của xe cảnh sát có rất nhiều cảnh sát giơ súng chĩa vào anh. Làm gì vậy? Bắt tôi? Bắt tôi mà đến mức phải động binh đao lớn thế này sao? A Rược Lạt Ma và Ô Kiên Lâm Ba cũng vô cùng kinh ngạc, ngẩn ngơ trước cửa Chùa Đại Chiêu, nhìn nhau trố mắt. Chỉ có Vương Nham và Trác Mã hiểu rõ: Cuộc bắt giữ hoành tráng thế này chứng tỏ Bích Tú đã huy động phần lớn lực lượng của đội trinh sát án trọng điểm, bởi vì hắn ta muốn phòng ngừa nhóm người Vương Nham, Trác Mã, A Rược Lạt Ma, Ô Kiên Lâm Ba cướp người hoặc bảo vệ Hoàng tử Hương Ba.
Cảnh sát đè Hoàng tử Hương Ba lên đầu một chiếc xe cảnh sát, nhanh chóng khám xét toàn thân, tịch thu điện thoại và tất cả đồ vật cứng, sau đó còng tay lại, mở cửa xe nhét anh vào trong. Xe cảnh sát hú còi lao đi.
4
Bích Tú không bắn chết Hoàng tử Hương Ba, cũng không đưa Hoàng tử Hương Ba về đội trinh sát án trọng điểm, mà thông qua thủ tục chính đáng giao cho Trại giam Lhasa. Một là vì toàn bộ đội trinh sát án trọng điểm đều tham gia bắt giữ, chỉ có thể làm theo công việc chính thức mà đi theo quy trình; hai là vì trại giam là nơi canh phòng nghiêm ngặt, sẽ không còn khả năng để Hoàng tử Hương Ba đào tẩu nữa; ba là vì Bích Tú với tư cách là Hộ Pháp Chủ Môn Ngu Hắc Kiếm của "Điện Đường Huyết Chú Ẩn Thân Nhân" có gia tộc truyền thừa, đã nhận được chỉ thị mới của Hắc Phương Chi Chủ. Chỉ thị bảo hắn ta trong lúc đối phó với Hoàng tử Hương Ba phải nhanh chóng trừ khử một người khác, nếu vì bắn chết Hoàng tử Hương Ba mà bị đồng nghiệp cảnh sát chú ý và hạn chế thì hắn ta không thể thực hiện chỉ thị mới được.
Trong phòng thẩm vấn của trại giam, mấy chữ lớn màu đỏ "Thành thật được khoan hồng, chống cự bị nghiêm trị" trên bức tường chính diện khiến Hoàng tử Hương Ba lập tức nhỏ bé đi rất nhiều. Anh co rúm trên chiếc ghế gông gông không thể đứng dậy đi lại kia, thầm nghĩ mình thật đen đủi, vừa ra khỏi hang hùm lại sa vào miệng cọp, cái nơi này không phải cứ muốn ra là ra được đâu. Thố Mạn Cát Mỗ, Thố Mạn Cát Mỗ, trách cô ấy hay trách mình? Nếu không phải cô ấy đưa ra yêu cầu như vậy, lại nếu không phải mình kiên quyết từ chối, biết đâu lúc này anh đã đi đến trước "Cửa Tám Độ Mẫu" rồi.
Trước mặt anh cách vài bước là một chiếc bàn, phía sau bàn là ba cảnh sát thẩm vấn anh. Cảnh sát không gấp gáp đặt câu hỏi, cởi còng tay cho anh, sau đó im lặng nhìn anh. Anh cũng im lặng nhìn cảnh sát, phát hiện người cảnh sát trung niên ở giữa chính là Môn Ngu Hắc Kiếm mà anh đã nhiều lần đụng độ. Khuôn mặt của Môn Ngu Hắc Kiếm góc cạnh rõ ràng, giống như do dao rìu đục đẽo ra, vô cùng nguyên thủy, đôi mắt dữ tợn, có một luồng ánh sáng sáng quắc xảo quyệt.
Hồi lâu mới có tiếng nói truyền đến: "Cậu tên là Hoàng tử Hương Ba?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Đừng vòng vo nữa, Môn Ngu Hắc Kiếm, có cái gì ông cứ trực tiếp hỏi đi."
"Môn Ngu Hắc Kiếm cái gì? Đừng có đặt biệt hiệu cho tôi. Tôi tên là Bích Tú, phó đội trưởng đội trinh sát án trọng điểm."
Hoàng tử Hương Ba biết đối phương không muốn lộ quan hệ giữa mình và "Điện Đường Huyết Chú Ẩn Thân Nhân" trước mặt đồng nghiệp, bèn nói: "Bích Tú? Nghĩa là mũi tên vang, vô duyên vô cớ bắn về phía tôi. Ông đã thỉnh nguyện tổ tiên của ông chưa? Nếu tổ tiên của ông thật sự là Bích Tú La Ba - chủ nhân đầu tiên của Trang Viên Trẻ Mồ Côi Sơn Nam, thì quyết sẽ không để ông đối xử vô lễ với một người quật tạng lương thiện chính trực thế này đâu."
"Cậu mà lương thiện chính trực? Thiên hạ này không còn người lương thiện chính trực nữa rồi chắc. Chính vì tôi là hậu đại của gia tộc Bích Tú La Ba nên mới không tiếc sức lực truy bắt cậu, cậu là một kẻ đại âm mưu hiểm ác đến cực điểm."
Hoàng tử Hương Ba kinh hỷ reo lên: "Quả nhiên là người của gia tộc Bích Tú La Ba, Trang Viên Trẻ Mồ Côi Sơn Nam dạo này vẫn tốt chứ?"
Bích Tú cười khẩy một tiếng: "Nói mấy thứ này vô ích, cậu có biết tại sao cậu lại đến đây không?"
"Tôi giết người, tôi là một kẻ xấu xa có âm mưu diệt giáo diệt Phật. Đương nhiên là hãm hại."
"Ai hãm hại cậu? Tại sao hãm hại cậu?"
"Tôi không biết, tôi phải hỏi các ông."
"Sáng nay cậu đã làm những gì?"
Hoàng tử Hương Ba nói: "Tôi tìm thấy Thố Mạn Cát Mỗ ở trước cửa Chùa Đại Chiêu, đưa cô ấy đến Tông Giác Lộc Khang, hai người bất đồng ý kiến thế là cô ấy chạy mất, tôi lại quay về Chùa Đại Chiêu tìm cô ấy, ngày nào cô ấy cũng ở đó dập đầu."
"Cậu và cô ta bất đồng ý kiến gì?"
"Cô ấy muốn thế này, tôi không muốn thế này."
"Thế nào?"
Hoàng tử Hương Ba bĩu môi, không nói.
Bích Tú cười khẩy nói: "Cậu không muốn thế này? Cậu đã không muốn thế này thì dẫn một cô gái đến Tông Giác Lộc Khang làm gì?"
Hoàng tử Hương Ba nói lớn: "Đến Tông Giác Lộc Khang thì phải thế này sao? Chúng tôi không thể bàn một chút chuyện bảo mật được à?"
"Chuyện bảo mật gì?"
"Tôi đã nói là chuyện bảo mật rồi."
Bích Tú đập mạnh xuống bàn, gầm lên: "Nơi này không phải là nơi cậu giở trò khôn lỏi, không có chứng cứ xác thực thì có thể mời cậu đến đây sao?" Hắn ta xoạch một cái kéo ngăn kéo ra, lấy ra một chiếc dao Tạng trắng cán đồng đỏ kéo sợi, "Nhận ra nó không? Đừng có nói với tôi là không nhận ra, nó nhận ra cậu đấy. Nó là hung khí duy nhất giết chết nạn nhân."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Nó chắc chắn không nhận ra tôi, tôi không thích dao Tạng cán kéo sợi."
"Còn muốn chối cãi, cho cậu xem cái này." Bích Tú từ trong một tệp tài liệu trên bàn lấy ra một tấm ảnh, bảo một cảnh sát trẻ tuổi bên cạnh đưa cho Hoàng tử Hương Ba.
Hoàng tử Hương Ba cầm bức ảnh liếc nhìn một cái: "Ai thế? Một tấm ảnh khỏa thân của phụ nữ thì có liên quan gì đến tôi?"
Bích Tú nói: "Anh nhìn kỹ lại xem."
Hắn lại liếc nhìn lần nữa: "Thố Mạn Cát Mỗ? Cô ta đang làm gì thế này?" Hắn dụi dụi mắt, như thể bị sét đánh trúng, lập tức kinh hãi giật mình kêu lên, "Cô ta chết rồi?"
Viên cảnh sát trẻ tuổi giật phắt bức ảnh lại.
Hoàng tử Hương Ba gào lên: "Cho tôi xem lại đi, cho tôi xem lại chút nữa." Viên cảnh sát trẻ không đưa, hắn sốt ruột nhảy dựng lên, kéo theo cả chiếc ghế gông xiềng, suýt chút nữa thì ngã lộn cổ.
"Nói đi, tại sao lại giết cô ta?" Bích Tú hỏi.
"Tôi giết cô ta?" Hoàng tử Hương Ba gào lên khản cả giọng, "Cho tôi xem lại bức ảnh rồi tôi sẽ nói, tôi nhất định sẽ nói, không nói thì không phải là người, đưa cho tôi, đưa cho tôi."
Viên cảnh sát trẻ quyết không đưa.
Hoàng tử Hương Ba tràn ngập bi thương trong lòng, hóa thành một khúc tình ca Thương Ương Gia Thố:
Vịt trời trót yêu đầm lầy,
Một lòng muốn bay vào trong đó
Đâu ngờ mặt nước đã đóng băng,
Tâm nguyện này đành phải từ bỏ.
Hát rồi hát lại, hắn biến nỗi đau thương thành những dòng nước mắt.
Dòng nước sông cuồn cuộn đã đi xa,
Nơi cá tung tăng nay chẳng còn nữa,
Chỉ có Long Nữ Thố Mạn Cát Mỗ,
Đó mới là người bạn đời trọn kiếp không rời.
Bài tình ca Thương Ương Gia Thố này đáng lẽ phải hát cho Thố Mạn Cát Mỗ nghe, nhưng cô giờ đây lại vĩnh viễn không thể nghe thấy được nữa.
Nhìn dáng vẻ mê muội hát ca của Hoàng tử Hương Ba, Bích Tú cảm thấy buồn cười nhưng không ngắt lời. Trước mắt Bích Tú hiện lên bóng dáng một người phụ nữ, hắn tưởng đó là người phụ nữ khỏa thân trong ảnh, chớp mắt một cái lại thấy không phải, đó là Mã Não Nhi. Hắn rất kinh ngạc, sao lại nhớ đến người cấp dưới từng bị mình tát cho một bạt tai là Mã Não Nhi nhỉ?
Bích Tú ra hiệu cho viên cảnh sát trẻ đưa bức ảnh cho Hoàng tử Hương Ba. Hoàng tử Hương Ba dùng hai tay nắm chặt lấy bức ảnh, chỉ sợ viên cảnh sát trẻ giật lại, ánh mắt dán chặt vào tấm thân khỏa thân của Thố Mạn Cát Mỗ trên ảnh, ngẩn ngơ nhìn ngắm. Hắn nhìn thấy thứ lở lét trên người cô không phải là quần áo mà là vết thương, nhìn thấy nhiều vết thương như vậy đều là những lỗ máu, thứ tự sắp xếp của các lỗ máu từ dưới lên trên, vừa vặn trùng khớp với đường đi của "Túc quyết âm gan kinh huyệt", nhìn thấy những sắc đỏ trong bụi cỏ bên cạnh cô không phải là hoa mà là vết máu, nhìn thấy gương mặt bị sát hại dã man của Thố Mạn Cát Mỗ dù đã biến dạng nhưng vẫn đẹp đẽ lạ thường.
Cuối cùng ánh mắt hắn dừng lại trên bụng của Thố Mạn Cát Mỗ, không kềm được run rẩy toàn thân. Bên tai đột nhiên vang vọng lại lời cô nói: "Bây giờ chỉ có tôi mới có thể giúp anh, cái bụng của tôi chính là bằng chứng."
Trên bụng có một bớt sinh màu tím đỏ, một từ ngữ Tạng ngữ không thể rõ ràng hơn, một gợi ý mới nhất về "Cửa Thất Độ Mẫu":
Minh Không Xích Lộ
Hiểu nhầm rồi, hắn hoàn toàn hiểu nhầm rồi, Thố Mạn Cát Mỗ không phải là phóng đãng, mà là tinh nghịch. Tất cả những hành động trêu ghẹo của cô đều là để hắn nhìn thấy từ khóa này. Cô có lẽ đã kỳ vọng vào hiệu quả thế này: Hắn sốt sắng cởi quần áo cô ra, đúng lúc sắp làm chuyện đó, vừa nhìn thấy từ khóa ấy liền khựng người đờ đẫn. Nếu như vậy, chuyện đời đã có một kết cục hoàn toàn khác, cô vẫn sẽ sống sờ sờ đứng trước mặt hắn, nghe hắn hát tình ca Thương Ương Gia Thố.
Hoàng tử Hương Ba đau đớn xé rách quần áo của mình, cào cấu lồng ngực. Hắn không tin việc mở "Cửa Thất Độ Mẫu" lại cần phải đánh đổi bằng nhiều mạng sống đến thế, hắn thề sẽ dùng tính mạng để bảo vệ người tình thứ sáu của Thương Ương Gia Thố là Thố Mạn Cát Mỗ, nhưng Thố Mạn Cát Mỗ vẫn chết, chỉ vì hắn vừa mới lập lời thề nặng nề với Mai Tát, vừa mới cứu bản thân ra khỏi ham muốn tràn trề, không bị dục vọng bốc lên đầu.
Đây lẽ nào chính là số mệnh?
Khi cuộc thẩm vấn bắt đầu lại, Hoàng tử Hương Ba nói: "Tôi có thể giúp các anh bắt được hung thủ thực sự, chỉ cần các anh tin tôi."
Người thẩm vấn dĩ nhiên sẽ không nghe hắn, họ đang chờ đợi bằng chứng có lực hơn, đó chính là kiểm tra dấu vân tay để lại trên con dao Tạng chuôi đồng đỏ quấn chỉ cước và tinh dịch trong âm đạo của Thố Mạn Cát Mỗ, xem chúng có phải là của Hoàng tử Hương Ba hay không.
Bích Tú nói: "Trước bằng chứng, anh không có quyền mặc cả điều kiện với chúng tôi."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Thực ra hiện tại thứ có thể giúp các anh đưa ra phán đoán đúng đắn không phải là cái gọi là bằng chứng, mà là tất cả những gì liên quan đến Thương Ương Gia Thố và 'Minh Không Xích Lộ'. Các anh có muốn nghe không? Nghe rồi các anh sẽ biết, đây là một vụ mưu sát cổ xưa kéo dài đến tận ngày nay, ẩn sau nó là một bí mật khổng lồ, hung thủ là một phần của bí mật, không phải một hung thủ, mà là rất nhiều hung thủ."
Bích Tú tâm trạng khá tốt nhìn Hoàng tử Hương Ba đang bị khống chế trong tay mình, bắt chéo chân, ngửa người tựa vào lưng ghế nói: "Được thôi, vậy nghe anh nói xem nào, cái gì mà Thương Ương Gia Thố, cái gì mà Minh Không Xích Lộ, cái gì mà mưu sát cổ xưa, nghe nói anh là chuyên gia về mảng này, chúng tôi rất muốn thỉnh giáo."
Hoàng tử Hương Ba bắt đầu kể. Hắn sơ lược kể qua toàn bộ trải nghiệm của Thương Ương Gia Thố, sau đó nói: "'Minh Không Xích Lộ' nên bắt đầu từ chùa Sắc La, bắt đầu từ trận hỏa hoạn ở chùa Sắc La." Đột nhiên hắn lại dừng lại, lòng phập phồng lo sợ nghĩ, những câu chuyện này đáng lẽ nên kể cho Mai Tát nghe, tiếc là Mai Tát không có ở đây, Mai Tát vẫn còn ở chùa Đại Chiêu sao? Cô ấy sẽ không gặp chuyện gì chứ, cũng giống như Thố Mạn Cát Mỗ?
5
Hoàng tử Hương Ba nói: "Nửa tháng sau khi chùa Sắc La xảy ra hỏa hoạn, Thương Ương Gia Thố đột nhiên xuất hiện trước cung Bố Đạt La. Màn mất tích đã kết thúc, ngài có phần gầy đi, nhưng tinh thần rất tốt, sắc mặt cũng hồng hào, bên cạnh là thị vệ Lạt-ma Đỉnh Khâm luôn sẵn sàng quỳ xuống trước Nhiếp chính vương Tang Kết. Nhưng Nhiếp chính vương không xuất hiện, chỉ sai Kinh sư Khúc Giới chuyển lời tới Thương Ương Gia Thố, rằng ông đã gieo quẻ trước mặt Cát Tường Thiên Nữ Ban Đạt La Mỗ, biết Tôn giả rồi sẽ trở về, tối hôm nay đừng đi đâu cả, hãy đợi ông. Lúc đêm khuya thanh vắng, Nhiếp chính vương Tang Kết đến điện Đức Đan Cát, bịch một tiếng quỳ xuống, nước mắt giàn giụa nói: 'Tôn giả, kẻ hạ thần này bất hạnh, tội lỗi đột nhiên giáng xuống đầu tôi, tôi sắp phải rời xa cung Bố Đạt La thần thánh, không thể thay Tôn giả quản lý chúng sinh Tây Tạng nữa rồi.' Thì ra trước tình thế khó khăn khi Hoàng đế Khang Hi cùng thủ lĩnh bộ tộc Hòa Thạc Đặc Mông Cổ là Lạp Tạng Hãn, thủ lĩnh bộ tộc Chuẩn Cát Nhĩ là Cố Sách Vọng A Lạp Bố Thản đồng thời tuyên bố không thừa nhận Thương Ương Gia Thố là Đạt-lai Lạt-ma đời thứ năm tái sinh, Nhiếp chính vương Tang Kết cho rằng, nếu như lúc lựa chọn linh đồng, chư thần bao gồm cả Đại Hộ pháp Nãi Quỳnh đều đã hiển linh nghiệm chứng, thì nhất định phải để Thương Ương Gia Thố tiếp tục tồn tại ở Tây Tạng với tư cách là Đạt-lai Lạt-ma đời thứ sáu, nếu không chúng sinh sẽ mất đi chỗ dựa. Vì vậy ông đã quả quyết quyết định: Một là, bản thân tự nguyện từ bỏ vị trí Nhiếp chính vương; Hai là, tuyệt đối không giao quyền lực chính giáo Tây Tạng cho người Mông Cổ Lạp Tạng Hãn hay Cố Sách Vọng A Lạp Bố Thản; Ba là, xét thấy Thương Ương Gia Thố một khi nắm quyền sẽ có nguy hiểm đến tính mạng, tạm thời để con trai ông là A Vượng Nhân Khâm vào chủ trì Cát Đan Phả Chương, đại hành nhiếp chính, đợi khi nguy hiểm qua đi, cục diện ổn định, sẽ giao lại ngôi vị Nhiếp chính cho Đạt-lai Lạt-ma đời thứ sáu Thương Ương Gia Thố. Đây là quyết định mà một người phàm không thể đưa ra, nằm ngoài dự đoán của Thương Ương Gia Thố, ngài cũng quỳ xuống, nói với Nhiếp chính vương Tang Kết: 'Thượng sư à, người không thể đi, có đi thì để con đi.' Nhiếp chính vương Tang Kết nói: 'Tôi đi, có thể giữ được ngài, ngài đi, không ai trong chúng ta giữ được nữa.'
"Nhà chính trị Tang Kết bằng sự nhẫn nại và tinh thần hy sinh cực lớn đã kiềm chế quân đội Mông Cổ của Lạp Tạng Hãn đang mài đao xoẹt xoẹt tại nơi đóng quân. Ý định ban đầu của Hoàng đế Khang Hi là bình định Tây Tạng, không muốn Lạp Tạng Hãn hay Cố Sách Vọng A Lạp Bố Thản giành được quyền thống trị, nên đã chấp nhận quyết định của Tang Kết, và thông qua việc nhắn lời bằng phương thức không chính thức để quay lại lập trường thừa nhận Thương Ương Gia Thố là Đạt-lai Lạt-ma đời thứ sáu. Trận chiến ngàn cân treo sợi tóc cũng như việc xử lý Thương Ương Gia Thố được hoãn lại, Tây Tạng lại có thêm hai năm thời gian hòa bình. Trong hai năm này, Thương Ương Gia Thố theo học Kinh sư Khúc Giới Lạt-ma và Cửu Mễ Đa Tiệp Hạt Phật cùng các Đại Lạt-ma chùa Triết Bảng và Cam Đan Xích Ba đến cung Bố Đạt La giảng dạy, học tập các bộ kinh như 《Y Cứ Kinh Giáo》, 《Đát Đặc La Chi Giảng Thụ Hòa Sở Hữu Sinh Thành Thứ Đệ Cập Viên Mãn Thứ Đệ》, 《Kim Cương Trang Nghiêm Vương Chú Kinh》. Viết ra các tác phẩm 《Sắc La Ngoại Viện Mã Đầu Quán Âm Cúng Dường Pháp Cập Thành Tựu Quyết》, 《Đáp Nam Phương Tạng Nhân A Huân Quả Sở Vấn Mã Đầu Quán Âm Cúng Dường Pháp》, 《Khai Khởi Tâm Linh Chi Ca Khúc》.
"Thắm thoắt đã đến tháng 2 năm 1705, tháng Giêng năm Khang Hi thứ 44, Đại pháp hội Cầu nguyện Mặc Lãng Mộc Lạp Tát của dòng Cách Lỗ diễn ra đúng hạn, chùa Đại Chiêu Lạp Tát với tư cách là hội trường chính người đông nghịt. Thủ lĩnh Lạp Tạng Hãn của bộ tộc Hòa Thạc Đặc Mông Cổ dẫn theo tùy tùng tham gia, những tùy tùng đó cậy thế lực của Lạp Tạng Hãn hống hách đâm xầm xập trước cửa chùa Đại Chiêu, hoàn toàn không coi các tăng nhân đi lại vào đâu. Cựu Nhiếp chính vương Tang Kết cũng đến, tùy viên của ông chướng mắt trước sự kiêu ngạo của tùy tùng Lạp Tạng Hãn liền quát mắng dữ dội. Hai bên ban đầu lời qua tiếng lại, sau đó xô xát kịch liệt, cuối cùng thành đao kiếm tương đả. Tùy viên của Tang Kết đều là những tín đồ Phật giáo thành kính, làm sao địch nổi những tùy tùng của Lạp Tạng Hãn được tuyển chọn một trong trăm từ kỵ binh Mông Cổ hung hãn, chẳng mấy chốc kẻ chết, người thương, kẻ chạy trốn. Lạp Tạng Hãn nhận ra, tùy viên của Tang Kết đã cung cấp cho hắn một lý do để dấy binh hạch tội, cơ hội dùng vũ lực chiếm đoạt quyền thống trị Tây Tạng cuối cùng đã đến. Hắn vừa thúc giục tùy tùng tiếp tục săn bắt giết hại tùy viên của Tang Kết, vừa hỏa tốc ra lệnh cho quân đội Mông Cổ đã tập kết từ lâu ở Na Khúc bắc Tạng tiến về Lạp Tát.
"Tang Kết đã ở trên bờ vực đành phải liều mạng một bạt. Ông cho 'Điện thờ Huyết chú Người ẩn hình' dùng đến 'Chiến sĩ cuối cùng', một người Mông Cổ thề chết trung thành với Đạt-lai Lạt-ma và cựu Nhiếp chính vương Tang Kết nhận được mật lệnh duy nhất. Hắn tên là Đan Tăng Vượng Kiệt, là nội thị của Lạp Tạng Hãn, hắn xuất hiện ở đầu bên kia của mật đạo vô hình với tư cách nội gián, mục đích chính là để hạ độc sát hại Lạp Tạng Hãn. Tin tức truyền ra sớm nhất là Lạp Tạng Hãn đã chết, đồng thời bị đầu độc chết còn có hai đại thần của bộ tộc Hòa Thạc Đặc. Nhưng ba ngày sau, khi kỵ binh của Lạp Tạng Hãn dùng giáo dài giương đầu của Đan Tăng Vượng Kiệt xuất hiện trước cung Bố Đạt La, Tang Kết - người vẫn luôn trốn trong Bạch Cung quan sát biến chuyển tình hình - mới nhận ra Đan Tăng Vượng Kiệt đã thất bại, 'Chiến sĩ cuối cùng' đã trở thành sự hy sinh cuối cùng. Ông cảm thấy kế hoạch hạ độc tưởng chừng nắm chắc mười mươi sở dĩ thất bại, nguyên nhân duy nhất chính là đã xuất hiện kẻ phản thề. Ai, ai là kẻ phản thề? — Lại là vấn đề chưa từng được làm rõ kể từ khi Đạt-lai Lạt-ma đời thứ năm để lại di ngôn đến nay.
"Đúng lúc này có ngựa trạm phi tới báo, quân Mông Cổ chia làm ba cánh đánh tới, đã bao vây Lạp Tát. Tang Kết lập tức lao ra khỏi cung Bố Đạt La, điều động quân đội mười ba vạn hộ toàn Tạng tiến ra ngăn chặn, hai bên quyết chiến tại đèo Bành Ba Quả Lạp phía bắc Lạp Tát. Nhưng tại thánh địa Phật giáo, người dùng chiến tranh để cứu rỗi thì có thể có kết cục tốt đẹp gì chứ? Đạt-lai Lạt-ma đời thứ sáu Thương Ương Gia Thố dự cảm được điềm bất lành từ số phận, lập tức viết hai bức thư, một bức viết cho Lạp Tạng Hãn, khóc đến trào máu mắt khuyên lơn, mong hắn nhìn vào việc cùng tin thờ Thích Ca Mâu Ni mà đừng tiến công bằng vũ lực; một bức viết cho trụ trì ba đại tự Lạp Tát, Kinh sư Gia Mộc Dương Hiệp Ba của Lạp Tạng Hãn và Bán Thiền Ngạch Nhĩ Đức Ni ở tận chùa Trát Thập Luân Bố tại Nhật Khách Tắc, hy vọng họ lập tức tự mình hoặc cử người đến chiến trường đứng ra hòa giải. Nhưng đúng như Thương Ương Gia Thố dự đoán, nỗ lực của ngài chẳng có hiệu quả gì, sứ giả còn chưa tới nơi thì quân Tạng thế đơn lực mỏng đã 'như chim sẻ bị chim chim ưng vồ, đại bại thảm hại'. Kỵ binh của Lạp Tạng Hãn chiếm đóng Lạp Tát, lượng lớn kỵ binh Mông Cổ xuất hiện dưới chân chùa Đại Chiêu, chùa Sắc La và cung Bố Đạt La. Tang Kết ngồi thuyền thuyền da bò chạy trốn về Cống Cát, sau nghĩ lại nếu tiếp tục đối kháng chỉ dẫn đến bách tính lầm than, bèn dẫn tàn quân từ Cống Cát đến khe Đôi Long, hàng vợ của Lạp Tạng Hãn là Kết Mo Thứ Nhân Trát Tây. Vợ của Lạp Tạng Hãn bắt được Tang Kết, bèn bí mật áp giải đến làng Lãng Tử ở Đôi Long Đức Khánh, vào một đêm gió cao trăng mờ, tự tay cầm dao, lấy tội ngỗ ngược để xử tử vị Nhiếp chính vương hết lòng trung thành với triều đình, trung thành với Đạt-lai Lạt-ma đời thứ sáu Thương Ương Gia Thố, người từng thề không để người Mông Cổ thống trị Tây Tạng này. Sự việc xảy ra vừa kín kẽ vừa đột ngột, khi nhân dân Tây Tạng còn tưởng rằng người chủ của họ, cựu Nhiếp chính vương Tang Kết vẫn đang tắm máu chiến đấu với người Mông Cổ, thì Tang Kết đã hạc nội mây ngàn rồi.
"Trước đó trong dòng Cách Lỗ từng có người công kích Nhiếp chính vương Tang Kết, nói ông tham quyền cố vị, không cho Đạt-lai Lạt-ma đời thứ sáu Thương Ương Gia Thố thân chính. Mãi đến khi ông bị Lạp Tạng Hãn sát hại, mọi người mới nhận ra, ông làm vậy là để bảo vệ nhà thơ yếu đuối, ca sĩ vĩ đại này, để Thương Ương Gia Thố trở thành một Đạt-lai tự do, một phúc chủ của nhân dân. Nếu Thương Ương Gia Thố thân chính, người bị giết chắc chắn sẽ là Thương Ương Gia Thố. Đáng sợ hơn là, một khi Lạp Tạng Hãn trừ khử Thương Ương Gia Thố, nhất định sẽ lập một Đạt-lai mới, rồi tự phong Nhiếp chính vương, thâu tóm đại quyền, đó không phải là điều Thánh giáo cần, càng không phải là phúc âm của Tây Tạng.
"Thương Ương Gia Thố cũng như đa số mọi người, mãi nửa tháng sau mới biết tin tức chính xác về việc Tang Kết bị hại. Ngài đến hành lang Đạt Tùng Cách phía trên quảng trường Đức Dương Hạ ở phía đông Bạch Cung thuộc cung Bố Đạt La, nhìn dòng chữ viết trên bức tường phía nam, không khỏi lệ giàn hai má. Đó là văn cáo do tiền bối của ngài là Đạt-lai Lạt-ma đời thứ năm A Vượng Lạc Tang Gia Thố sau khi chọn Tang Kết làm Nhiếp chính vương đã phá lệ ban bố toàn Tạng: 'Tuyên bố với các thí chủ bao gồm cả người Mông Cổ bộ tộc Hòa Thạc Đặc, Tang Kết Gia Thố không khác gì Đạt-lai Lạt-ma, trách nhiệm chính giáo giao cả cho Tang Kết Gia Thố tuân giữ. Văn cáo này cũng là di chúc, do tất cả Hộ pháp thần thế gian giám hộ, in lên mảng tường đỉnh ba cầu thang của cung Bố Đạt La, có dấu hai bàn tay in hình Cát Tường Lực Bánh.' Đúng như văn cáo đã nói, để thể hiện uy quyền, Đạt-lai Lạt-ma đời thứ năm đã in hai bàn tay của mình lên. Nhưng giờ đây, Nhiếp chính vương Tang Kết không khác gì Đạt-lai Lạt-ma lại bị thủ lĩnh Lạp Tạng Hãn của người Mông Cổ Hòa Thạc Đặc - vốn là thí chủ của ông - sát hại. Với sự thuần khiết và trong sáng của Thương Ương Gia Thố, ngài không thể không cất tiếng hỏi lớn với các Hộ pháp thần có mặt khắp nơi: Tại sao? Rốt cuộc là tại sao?
"Lúc này có một giọng nói như sấm dội từ phía sau truyền tới: 'Lạt-ma ta nói cho ngươi biết, đây là vì quyền lực.' Thương Ương Gia Thố giật mình quay đầu lại, nhận ra Lạp Tạng Hãn trang bị tận răng, đau thương nói: 'Thí chủ à, người cũng là tín đồ Phật giáo, lẽ nào còn có chuyện gì quan trọng hơn việc cấm sát sinh làm việc thiện, vĩnh viễn dứt khỏi nỗi khổ luân hồi sao? Quyền lực là gì? Nếu nó không phải là sự dụ dỗ của ma quỷ thì đã không gây ra sự việc thảm thương đến thế này.' Lạp Tạng Hãn nói: 'Lạt-ma ngươi không biết đó thôi, chúng ta tin Phật là để giành lấy sự tôn kính và quyền lực, vì mục đích này, Phật đạo lắm khi cũng chính là Ma đạo.' Thương Ương Gia Thố nói: 'Kẻ tà ác kia, ngươi đang vẩn đục Phật giáo.' Lạp Tạng Hãn cười khẩy nói: 'Ngươi suốt ngày đắm chìm trong tửu sắc, không giữ thanh quy, ngươi là một Đạt-lai giả, ngươi có tư cách gì chỉ trích ta? Bây giờ ta đã sở hữu mọi thứ của Tây Tạng, ta đến đây là muốn nói cho ngươi biết, hôm nay là ngày ngươi phải rời khỏi cung Bố Đạt La.' Thương Ương Gia Thố khóc nói: 'Tây Tạng cống hiến tín ngưỡng cho Mông Cổ, Mông Cổ lại mang đao binh đến cho Tây Tạng, trời ơi, trời ơi, ta đã sớm biết sẽ có ngày này, Tam Thế Hỗ Chủ, cung Bố Đạt La, Thượng sư Tang Kết, ta đi đây.' Nói đoạn, vừa hát vừa bước đi xiêu vẹo:
Chết rồi xuống địa ngục,
Diêm Vương có kính soi nghiệp,
Dương thế không thấy được quả báo,
Đến đó chẳng sai một mảy may."
"Lạp Tạng Hãn rống lên một tiếng: 'Đứng lại.' Lại nói, 'Còn một việc quan trọng hơn, ngươi phải tìm một lý do thuyết phục ta không giết ngươi, nếu không ngươi vừa bước xuống bậc đá cung Bố Đạt La, vệ binh bên dưới sẽ một đao chém rơi đầu ngươi.' Thương Ương Gia Thố ngửa mặt lên trời thở dài, thốt ra: 'Minh Không Xích Lộ, Minh Không Xích Lộ'."
"'Minh Không Xích Lộ' là cảnh giới lý tưởng của pháp môn Đại Viên Mãn cao nhất trong giáo pháp Cửu Thừa của phái Ninh Mã, ở cảnh giới này, con người gột rửa toàn bộ bụi bẩn và vọng niệm, bộc lộ bản tính nguyên sơ một cách rộng rãi thong dong, đó là sự tự nhiên thanh tịnh bình hòa, là sự không vẩn đục của bầu trời xanh cao rộng, là sự trong suốt của mặt đất ngọc châu, đó chính là Phật. Thương Ương Gia Thố lúc này nhắc đến 'Minh Không Xích Lộ', có lẽ là muốn tỏ rõ ngài đã coi sinh tử và niết bàn không hề phân biệt, không chọn không bỏ, không phá không lập, chém đầu chỉ coi như gió thổi bay mũ, sao cũng được, sao cũng được. Nhưng đối với Lạp Tạng Hãn cũng là một tín đồ Phật giáo mà nói, sự giáng lâm đột ngột của một đại cảnh giới luôn khiến hắn cảm thấy chỉ có thể ngước nhìn chứ không thể nhìn ngang, hắn không rõ mình là người thúc đẩy hay là kẻ tàn sát đại cảnh giới này, cắn chặt chiếc lưỡi vốn quen phát ra lệnh chết chóc của mình, vẫy vẫy tay."
Chính như vậy, vì 'Minh Không Xích Lộ', Lạp Tạng Hãn bản tính tàn bạo đã không giết Thương Ương Gia Thố, mà chọn cách tấu xin triều đình phế bỏ Thương Ương Gia Thố, lập một Đạt-lai Lạt-ma đời thứ sáu khác. Lại cũng vì 'Minh Không Xích Lộ', Hoàng đế Khang Hi đã không chấp thuận, mà nói rằng, trẫm nghĩ chư Mông Cổ đều một lòng quy hướng Đạt-lai Lạt-ma, Thương Ương Gia Thố có cái danh thực của Đạt-lai, 'Minh Không Xích Lộ' có thể làm chứng, chư Mông Cổ đều thán phục, sao có thể nói phế là phế ngay được? Hoàng đế Khang Hi trong lúc không phế lập Thương Ương Gia Thố, lại phong Lạp Tạng Hãn làm 'Dực Pháp Cung Thuận Vương', ban cho một ấn vàng, hình như là muốn tách rời chính quyền và giáo quyền, nhằm thực hiện việc khống chế các dân tộc các phe phái vùng biên cương trong sự cân bằng. Nhưng Lạp Tạng Hãn là kẻ mờ mắt vì thèm khát quyền lực, hắn nhất định phải gom cả chính quyền lẫn giáo quyền vào một tay, thấy Hoàng đế Khang Hi lại đang bảo vệ Thương Ương Gia Thố, hắn đã triệu tập một cuộc họp các Lạt-ma cấp cao của ba đại tự Lạp Tát là chùa Triết Bảng, chùa Sắc La và chùa Cam Đan, mưu đồ tạo thành sự thật phế bỏ, rồi mới tấu báo xin Hoàng đế phê chuẩn. Vận mệnh của Thương Ương Gia Thố một lần nữa bị đẩy đến bước ngoặt sống chết khó lường.
"Hội nghị ba đại tự họp suốt ba ngày, cũng lại vì 'Minh Không Xích Lộ', tất cả các Lạt-ma cấp cao dự hội nghị không một ai tán thành việc phế lập, đều nói sự phóng đãng của Thương Ương Gia Thố chẳng qua chỉ là 'mê thất Bồ đề', ngài là cao thủ 'Du hý tam muội', đã tự mình chứng ngộ 'Đại vô phân biệt tâm' của 'Minh Không Xích Lộ'. Đây là thành tựu ba năm ngồi thiền minh tưởng của Tông sư Tông Khách Ba, nay Thương Ương Gia Thố đã muốn đến là đến, cảnh giới đó giống như Đại Viên Mãn của phái Ninh Mã, Đại Thủ Ấn của phái Cát Mã, là vạn hữu một vị, oán thân bình đẳng, nhiễm tịnh không biệt,Không nhạc không biệt. Đối với Thương Ương Gia Thố, tình yêu không phải là tình yêu, mà là Phật si; phụ nữ không phải là phụ nữ, mà là Phật mẫu. Các Lạt-ma hiểu cho Thương Ương Gia Thố mà họ yêu mến từ góc độ tu luyện mật pháp, nói ngược nói xuôi cũng nhất quyết không đồng ý phế bỏ. Họ biết, Thương Ương Gia Thố một khi mất đi thân phận Đạt-lai Lạt-ma, thứ chờ đợi ngài chính là bị xử tử, Lạp Tạng Hãn sẽ nhanh chóng dựng lên một Đạt-lai bù nhìn mới, đó chắc chắn là điều người Tây Tạng không hề mong muốn."
"Lại là một tình thế đá lớn đè trứng, lại một lần nguy cơ treo ngược tìm đến, thế nhưng điều Thương Ương Gia Thố bận lòng lại không phải là địa vị Đạt-lai, thân phận Giáo chủ, mà là sự an nguy của người tình Thố Mạn Cát Mỗ. Đã hẹn nhau là không gặp lại nữa, nhưng vẫn không bỏ được thói quen vương vấn. Ngài dùng chiếc vòng tay bằng vàng chạm khắc thần linh quý giá của Đạt-lai Lạt-ma để mua chuộc bảo vệ, rời khỏi khu vườn Lạp Lỗ Cát Thái nơi giam lỏng ngài. Vườn Lạp Lỗ Cát Thái nằm ở phía tây bắc cung Bố Đạt La, vừa ra khỏi vườn là cánh đồng hoang, ngài cưỡi ngựa đi trên cánh đồng hoang, đi theo ngài vẫn là thị vệ Lạt-ma Đỉnh Khâm và tăng nhân phái Ninh Mã Tiêu Thu Đan - người đã đoán chắc ngài nhất định sẽ xuất hiện. Tiêu Thu Đan nhắc nhở ngài: 'Tôn giả, Lạp Tạng Hãn đang triệu tập hội nghị ba đại tự, phế bỏ ngài hay tiếp tục tin thờ ngài đều phụ thuộc vào thái độ của các cao tăng dòng Cách Lỗ, tại sao ngài không ngồi thiền trước Thập Địa Bồ Tát, Tam Thế Hỗ Chủ để cầu nguyện một tin tốt lành chứ?' Thương Ương Gia Thố nói: 'Tin tốt nhất chính là sự an lành của Thố Mạn Cát Mỗ, ta ngồi thiền cầu nguyện trước mặt cô ấy chẳng phải tốt hơn sao?' Nói xong ngài hát:
Vầng trăng trắng trong mùng ba,
Đã tắm qua ánh thánh quang của nàng,
Xin nàng hãy đồng ý với ta,
Giống như vầng trăng rằm tháng mười lăm."
Chẳng ai biết ngày hôm đó Thương Ương Gia Thố đã gặp Long Nữ Thố Mạn Cát Mỗ ở đâu, nhưng nhất định là đã gặp, nếu không ngài sẽ không hát ra bài tình ca như thế này:
Người như đầu ngựa ngó trông của thuyền gỗ,
Lòng như cờ phướn chép kinh tung bay,
Người tình đã định sẵn trong số mệnh ơi,
Xin hãy nhận lấy nỗi đau thương kiếp này kiếp trước.
"Chỉ thám của Lạp Tạng Hãn nhờ đó đã do thám được nơi ẩn nấp của Thố Mạn Cát Mỗ, khi Lạp Tạng Hãn sai kỵ binh đến bắt 'nhân chứng tửu sắc' của 'Đạt-lai giả', lại phát hiện Thố Mạn Cát Mỗ đã biến thành cái xác chết, bên cạnh cái xác là Độc Nhãn Dạ Xoa và Sứt Môi Dạ Xoa - những thầy cúng tế máu Mặc Trúc - đang đứng sừng sững. Nhưng tôi nghi ngờ tính chân thực của cái xác, nếu Thố Mạn Cát Mỗ thực sự bị giết, hung thủ Độc Nhãn Dạ Xoa và Sứt Môi Dạ Xoa còn đứng sừng sững bên cạnh cái xác để làm gì? Sự đứng sừng sững của họ dường như là để tạo ra giả tượng bị giết: Người tình đã chết rồi, nhân chứng không còn nữa. Đập tan ý định bắt nhân chứng của Lạp Tạng Hãn, rồi mới do họ rà soát kỹ lưỡng sau đó trừ khử, đó mới là lời giải thích hợp lý nhất. Điều này cho thấy tuy Tang Kết đã chết, A Vượng Nhân Khâm - con trai Tang Kết vào chủ trì Cát Đan Phả Chương đại hành nhiếp chính - cũng bị Lạp Tạng Hãn đuổi xuống đài, nhưng Cát Đan Phả Chương của dòng Cách Lỗ vẫn đang phát huy tác dụng, 'Điện thờ Huyết chú Người ẩn hình' vẫn đang hành động. Lạp Tạng Hãn lập tức quyết định thanh lọc cung Bố Đạt La, thay thế toàn bộ các Lạt-ma cũ."
"Trong những ngày đó, trên cánh đồng hoang bên ngoài vườn Lạp Lỗ Cát Thái, Thương Ương Gia Thố còn từng gặp Bát Tư Vượng Thu của phái Tát Gia, Bát Tư Vượng Thu nói: 'Ngài may mắn không bị phế bỏ, nhưng không có nghĩa là vận xui đã rời xa ngài, Lạp Tạng Hãn sẽ không để ngài sống đâu. Bây giờ chỉ có một cách cứu mạng ngài, đó là đến các ngôi chùa thuộc phái Tát Gia của chúng tôi, hoặc cải tông sang giáo pháp Tát Gia, như vậy những tín đồ Tát Gia chúng tôi mới có thể bảo vệ ngài một cách danh chính ngôn thuận.' Thương Ương Gia Thố nói: 'Tất cả các tín đồ dòng Cách Lỗ đều đang bảo vệ ta, lẽ nào như vậy còn chưa đủ sao? Còn về cái mạng của ta, nó vốn chẳng thuộc về ta, nó tự đến tự đi, ta có gì mà phải quyến luyến.' Sau đó lại gặp Cát Ma Châu Cổ của phái Cát Ma Cát Cửu, Cát Ma Châu Cổ nói: 'Nghe người ta nói ngài đã có cảnh giới Minh Không Xích Lộ, có thể tự chủ sinh tử, xin hãy đến chùa của chúng tôi giảng kinh truyền pháp đi, sau này khi rời khỏi thế giới tình khí này, ngài sẽ nhớ đến cái tốt của chúng tôi mà để lại di ngôn, tái sinh trong phái Cát Ma Cát Cửu chúng tôi, như vậy pháp thân của ngài sẽ nhận được sự tháp táng trang trọng nhất của chúng tôi, người tình và hậu đại của ngài cũng sẽ nhận được sự bảo vệ và nuôi dưỡng kiên định nhất của chúng tôi.' Thương Ương Gia Thố nói: 'Ta sẽ không có di ngôn như vậy, cũng sẽ không có chuyển thế như vậy, còn về người tình và hậu đại của ta, tự có người bảo vệ và nuôi dưỡng.'"
"Thương Ương Gia Thố còn chưa biết, hoàn toàn không phải ngài mua chuộc bảo vệ rời khỏi nơi giam lỏng, mà là Lạp Tạng Hãn cố ý thả cho đi. Lạp Tạng Hãn vẫn đang ra sức thu thập bằng chứng tội lỗi của Thương Ương Gia Thố, sự xuất hiện của Bát Tư Vượng Thu và sự đến nơi của Cát Ma Châu Cổ có nghĩa là lý do phế bỏ Thương Ương Gia Thố lại có thêm hai điều nữa. Nhưng dù đối với Thương Ương Gia Thố hay Lạp Tạng Hãn, điều quan trọng nhất, là sự xuất hiện sứ giả của thủ lĩnh Cố Sách Vọng A Lạp Bố Thản thuộc bộ tộc Chuẩn Cát Nhĩ Mông Cổ. Sứ giả là một Lạt-ma Mông Cổ, sự xuất hiện của hắn khiến Lạp Tạng Hãn có được bằng chứng quan trọng nhất để phế bỏ Thương Ương Gia Thố, cũng đẩy vận mệnh của Thương Ương Gia Thố nhanh chóng đến tuyệt cảnh không thể cứu vãn. Hắn nói: 'Hãn vương của chúng tôi là người tin thờ Minh Không Xích Lộ, ngài ấy sai tôi đến đón ngài, lúc ngài gặp khó khăn, bộ tộc Chuẩn Cát Nhĩ Mông Cổ vĩ đại sẽ trở thành thí chủ hào phóng nhất và là chỗ dựa cuối cùng của ngài.' Thương Ương Gia Thố suy nghĩ một chút rồi nói: 'Ta mà đi theo các người, địa vị Đạt-lai Lạt-ma được giữ vững rồi, nhưng Tây Tạng thì sao, ta lại phải rời xa nó. Nếu như các người hộ giá ta đến Tây Tạng, vậy các người với Lạp Tạng Hãn đến Tây Tạng thì có gì khác nhau? Các người làm thí chủ của ta, chắc chắn là vì quyền lực của các người ở Tây Tạng, ta sinh ra vốn không liên quan đến quyền lực. Chúng ta đều là người có tín ngưỡng, tín ngưỡng khiến chúng ta truy cầu sự tự do về tinh thần, chứ không phải truy cầu quyền lực như xiềng xìu.'"
"Sự tiếp xúc giữa Thương Ương Gia Thố và sứ giả của Cố Sách Vọng A Lạp Bố Thản nhanh chóng bị chỉ thám báo cho Lạp Tạng Hãn. Lạp Tạng Hãn tấu lên Hoàng đế Khang Hi, chỉ nói về sự dụ dỗ lợi ích của Cố Sách Vọng A Lạp Bố Thản, không nói về sự từ chối của Thương Ương Gia Thố, lập tức thu hút sự coi trọng cao độ của Hoàng đế Khang Hi. Khang Hi nói với các triều thần xung quanh, Đạt-lai này nếu bị Chuẩn Cát Nhĩ đón đi, chư Mông Cổ đều quy hướng Cố Sách Vọng A Lạp Bố Thản, Tây Vực sẽ có nguy cơ chia cắt bờ cõi đất đai. Ngay lập tức ban chiếu chỉ: 'Lạp Tạng Hãn vì tấu phế Đạt-lai đời thứ sáu do Tang Kết lập, chiếu bắt giải về Kinh sư.'"
"Điều này có nghĩa là, Thương Ương Gia Thố, Thương Ương Gia Thố của 'Minh Không Xích Lộ', sắp sửa rời Tây Tạng để đến Bắc Kinh rồi. Lạp Tát náo động một vùng. Thương Ương Gia Thố đến chùa Đại Chiêu, chiêm bái lần cuối cùng pho tượng Thích Ca Mâu Ni mười hai tuổi bằng kích thước thật do Văn Thành công chúa mang đến Tây Tạng. Rất nhiều Lạt-ma từ chùa Cam Đan, chùa Sắc La và chùa Triết Bảng nghe tin nườm nượp kéo đến, trên quảng trường chùa Đại Chiêu, vạn tăng dập đầu, rất nhiều Lạt-ma đều khẩn cầu: 'Đạt-lai Lạt-ma vô cùng thần thánh, xin hãy giảng kinh cho chúng tôi, xin hãy để lại pháp thống Minh Không Xích Lộ của ngài.'"
Hoàng tử Hương Ba thở hển hển, ngắt nghỉ một lúc, lại nói: "Thương Ương Gia Thố nhất định đã giảng, cũng đã để lại pháp thống, thông qua sự truyền thừa linh thức nhập thể, sự truyền thừa tái sinh và sự truyền thừa tu luyện. Cảnh giới lý tưởng 'Minh Không Xích Lộ' của đại pháp môn Đại Viên Mãn cao nhất trong giáo pháp Cửu Thừa của phái Ninh Mã, nay lại xuất hiện trên bụng của một cô gái, các anh đều đã thấy rồi, đó không phải là hình xăm, đó là bớt sinh màu tím đỏ, là mang từ trong bụng mẹ ra, chứng tỏ cô gái tên Thố Mạn Cát Mỗ này là người có lai lịch, người tình của Thương Ương Gia Thố, cũng giống như Hạt Phật có thể tái sinh, sẽ kéo dài ý nghĩa của Phật mẫu đến vĩnh viễn. Dĩ nhiên sự xuất hiện của 'Minh Không Xích Lộ' không phải là để chứng minh ai là tái sinh của ai, mà là chỉ ra tuyến đường phục tàng của 'Cửa Thất Độ Mẫu'. Bước tiếp theo, ôi, bước tiếp theo..." Hắn nhắm mắt lại, dường như đã tỏ tường trong lòng, "Thả tôi ra đi, tôi có thể đã ở rất gần rất gần 'Phục tàng cuối cùng' rồi, có lẽ chỉ còn kém bước này thôi."
Hắn van xin, trong lòng thầm nghĩ Thố Mạn Cát Mỗ đã dùng tấm thân khỏa thân sau khi chết để nói cho hắn biết, ở chùa Đại Chiêu, ai là người sở hữu "Minh Không Xích Lộ" thì người đó nên nắm giữ phục tàng của "Cửa Thất Độ Mẫu", hoặc có thể cung cấp "Thụ ký chỉ nam" mới.
Bích Tú lạnh lùng quét mắt nhìn hắn một cái, đứng dậy đi ra ngoài.
Trong phòng thẩm vấn, hai viên cảnh sát khác liên tục ngáp ngắn ngáp dài.
Hoàng tử Hương Ba nhận ra Thương Ương Gia Thố cũng như "Minh Không Xích Lộ" mà mình tự cho là vô cùng quan trọng đối với cảnh sát chẳng qua chỉ là trò tán phét nhảm nhí. Hắn hối hận lắc lắc đầu, gục đầu xuống, liếm bờ môi khô nẻ nói: "Tôi muốn uống nước."
Một viên cảnh sát đi ra ngoài cầm vào một chai nước khoáng đưa cho hắn. Hắn vặn mở ra, đang định uống thì Bích Tú đi vào, giật phắt chai nước khoáng nói: "Một chữ cũng không khai, còn cho hắn uống nước, khát chết hắn đi." Nói xong, giơ chai nước khoáng lên, tự mình ừng ực ừng ực uống.
Hoàng tử Hương Ba nói: "Anh làm thế này là đang ngược đãi tôi."
Bích Tú ngồi xuống nói: "Không phải chúng tôi không thích Thương Ương Gia Thố, cũng không phải chúng tôi không tôn trọng một trí thức nghiên cứu Thương Ương Gia Thố, mà là bằng chứng không cho phép chúng tôi vì Thương Ương Gia Thố mà tha cho anh. Kết quả kiểm nghiệm đã có rồi, dấu vân tay trên con dao Tạng chuôi quấn chỉ cước này là của anh."
Hoàng tử Hương Ba nói: "Không thể nào."
"Còn nữa, trong âm đạo của Thố Mạn Cát Mỗ đã trích xuất được tinh dịch của anh."
Hoàng tử Hương Ba tức giận nói: "Điều này lại càng không thể nào."
"Chúng tôi cũng hy vọng là không thể nào, càng hy vọng thần Phật thực sự từng gia trì cho anh, anh thực sự có thể khai quật được cái phục tàng 'Cửa Thất Độ Mẫu' gì đó. Nhưng chúng tôi là cảnh sát, cảnh sát là gì anh biết không? Chính là Hộ pháp thần chỉ nhìn bằng chứng chứ không nghe cãi chày cãi cối."
Cuộc thẩm vấn kết thúc. Hoàng tử Hương Ba lại bị đeo còng tay, bị áp giải đến phòng giam giữ nghi phạm trọng yếu. Bích Tú đích thân giám sát, bảo một người coi ngục ở trại tạm giam đeo xiềng chân vào cho hắn.
Hoàng tử Hương Ba lại nói: "Tôi muốn uống nước."
Bích Tú gắt gỏng và thù hằn nói: "Mày giết người rồi mà còn muốn sống thoải mái sao? Xuống âm tào địa phủ mà xin Diêm Vương nước uống đi, nhân gian không có nước cho mày uống đâu." Hắn không nhận ra, bản thân đã đem sự phẫn nộ vốn có của chủ môn Hộ pháp thế gian - Hắc Kiếm Môn Nguyện thuộc "Điện thờ Huyết chú Người ẩn hình" trộn lẫn với nỗi phiền muộn khi Mã Não Nhi không đi làm, xả hết lên đầu Hoàng tử Hương Ba.