Dịch Bệnh Atlantis

Lượt đọc: 276 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 82

❊ ❊ ❊

Malta

Từ cửa sổ trực thăng, David có thể thấy toàn bộ thành phố Rabat nhỏ nhắn bên dưới. Nó khác hoàn toàn so với suy nghĩ của anh.

Rabat trống trơn, cả vùng bị bỏ hoang, như thể mọi người đều bỏ chạy khỏi thành phố nhỏ xíu này với chỉ độc bộ quần áo trên người. Khi dịch bệnh lan đến, người dân ở đây hẳn đã lũ lượt kéo tới một trong hai quận Phong Lan của Malta, hoặc Victoria hoặc Valletta.

Từ ghế đối diện, anh nhìn lướt nét mặt Janus và Chang. Trống rỗng. Dửng dưng. Qua khe hở giữa hai ghế trực thăng, anh có thể thấy hình phản chiếu khuôn mặt Shaw và Kamau trên mặt kính. Trống rỗng. Cứng nhắc. Tập trung. Cả sáu người họ sẽ là những người duy nhất ở Rabat và kẻ giết Martin sẽ hành động – vì Kate, hay vì thuốc chữa dịch, hay vì một kết cục nào đó theo đúng mong muốn của hắn.

David lại nhìn ra ngoài cửa sổ, nghĩ rất lung về lịch sử, về sự an nguy, về những điều anh biết rõ nhất.

Rabat nằm ở phía bên kia Mdina, thủ đô cũ của Malta, một thành phố mà các sử gia tin là đã có người đến định cư từ trước năm 4000 trước Công nguyên.

Bản thân Malta đã được một nhóm người bí ẩn dọn đến sinh sống sau khi di cư xuống từ Sicily vào khoảng năm 5200 trước Công nguyên.

Vào thế kỷ hai mươi, giới khảo cổ đã phát hiện các ngôi đền cự thạch trên khắp hai hòn đảo thuộc Malta: tổng cộng mười một đền, trong đó có bảy đền sau này được UNESCO công nhận là Di sản thế giới. Chúng quả thực là những kỳ quan của thế giới. Vài nhà khoa học tin rằng chúng là những công trình riêng biệt cổ nhất trên hành tinh. Tuy nhiên, không ai biết người nào đã xây dựng chúng và tại sao. Chúng đã tồn tại từ năm 3600 trước Công nguyên hay thậm chí có thể là sớm hơn nữa. Niên đại của các công trình này – lịch sử của chính Malta – là một điều dị thường, một sự thật không hề trùng khớp với các kiến thức hiện tại về lịch sử loài người.

Thời kỳ tăm tối của Hy Lạp cổ đại mới bắt đầu từ năm 1200 trước Công nguyên. Những nền văn minh đầu tiên, những thành phố đầu tiên, ở những nơi như Sumer, chỉ xuất hiện từ năm 4500 trước Công nguyên. Đế quốc Akkad có người đến sống từ khoảng năm 2400 trước Công nguyên, còn Babylon thì được cho là vào năm 1900 trước Công nguyên. Thậm chí Stonehenge, công trình tượng cự thạch gần giống nhất, ít nhất là về đặc điểm, có vẻ cũng mới được dựng nên từ năm 2400 trước Công nguyên – tức là hơn một ngàn năm sau khi nhóm người bí ẩn nọ xây những ngôi đền cao chót vót trên hòn đảo hoang vắng của Malta. Không có lời giải thích nào cho các công trình cự thạch ở Malta; lịch sử của chúng, cũng như lịch sử của những người đã dựng nên chúng, đã bị thất truyền suốt bấy lâu nay.

Các sử gia và nhà khảo cổ vẫn đang tranh luận đâu là cái nôi của nền văn minh. Nhiều người cho rằng các trại định cư đã mọc lên ở lưu vực sông Ấn, ngày nay là Ấn Độ, hoặc lưu vực Hoàng Hà, ngày nay là Trung Quốc, nhưng đại đa số đều nhất trí rằng nền văn minh, với định nghĩa là các khu có con người định cư và hoạt động lâu dài, đã được lập nên vào khoảng 4500 năm trước, ở đâu đó tại Levant hay rộng hơn là vùng Lưỡi liềm Màu mỡ – cách Malta hàng ngàn dặm.

Tuy vậy, tàn tích của những trại định cư nguyên thủy đó ở vùng Lưỡi liềm Màu mỡ chỉ còn thưa thớt và đã đổ nát; trái ngược hoàn toàn với các công trình đá không thể phủ nhận là vô cùng ấn tượng và tiên tiến về mặt kỹ thuật ở Malta – có khả năng đã tồn tại từ trước đó. Một nền văn minh biệt lập từng phát triển thịnh vượng ở đây, dựng nên các công trình thờ phụng một thế lực tối cao nào đó, nhưng không hiểu sao lại biến mất tăm, chẳng còn lại vết tích lịch sử gì, trừ những ngôi đền nơi họ thờ cúng.

Những cư dân đầu tiên để lại các ghi chép lịch sử ở Malta là người Hy Lạp, sau đó là người Phoenicia vào khoảng năm 750 trước Công nguyên. Tầm ba trăm năm sau, người Carthage kế tục người Phoenicia làm chủ Malta, nhưng vương triều của họ chỉ tồn tại trong thời gian ngắn ngủi do người La Mã đến vào năm 216 trước Công nguyên và chiếm đảo chỉ trong vài năm.

Trong khoảng thời gian Malta nằm dưới quyền thống trị của người La Mã, nhà vua đã cho xây dựng cung điện của mình ở Mdina. Gần một ngàn năm sau, vào năm 1091, người Norman đã đánh chiếm Malta và làm thay đổi thành phố Mdina mãi mãi. Quân xâm lược Bắc Âu đã xây dựng các pháo đài phòng thủ cùng một chiến hào rộng, tách biệt Mdina với thành phố gần nhất – Rabat.

Tuy nhiên, huyền thoại lâu đời nhất của Mdina có lẽ là thánh Phaolô. Năm 60 sau Công nguyên, sứ đồ Phaolô đã sống ở đó sau khi bị chìm tàu ở Malta.

Phaolô khi ấy đang trên đường đến thành Rome – dù không muốn. Sứ đồ tương lai này đang sắp bị xét xử vì tội phản động chính trị. Tàu của Phaolô gặp phải một cơn bão dữ dội và bị đắm trên bờ biển Malta. Tất cả những người trên tàu đều bơi được vào đất liền an toàn, tổng cộng khoảng hai trăm bảy mươi lăm người.

Nghe nói cư dân Malta đã tiếp nhận Phaolô và những người sống sót. Theo thánh Luca:

Sau đó, chúng ta biết được rằng hòn đảo có tên là Malta.

Và người dân sống ở đó đã đối xử vô cùng tử tế với chúng ta, họ đã nhóm lửa và gọi chúng ta lại sưởi ấm...

Phúc Âm Luca kể lại rằng khi lửa được nhóm lên, Phaolô đã bị một con rắn độc cắn nhưng lại không trở bệnh. Dân đảo coi đây là dấu hiệu cho thấy ông là một người đặc biệt.

Theo truyền thuyết, sứ đồ này đã trú trong một cái hang ở Rabat, lựa chọn sống một cuộc đời bình dị dưới lòng đất, chối từ môi trường sống thoải mái được người dân dâng tặng cho mình.

Trong suốt mùa đông, Publius, vị vua người La Mã của Malta mời Phaolô đến cung điện. Ở đó, ông đã chữa cho cha của Publius khỏi một căn bệnh nghiêm trọng. Sau đó, nghe nói Publius đã cải đạo sang Cơ Đốc giáo và trở thành Giám mục Malta đầu tiên. Trên thực tế, Malta là một trong những thuộc địa đầu tiên của La Mã chuyển đổi sang Cơ Đốc giáo.

“Nên hạ cánh ở đâu đây?” Kamau gọi qua điện đàm, cắt ngang cơn mơ màng của David.

“Ở quảng trường,” David đáp.

“Ở nhà thờ thánh Phaolô à?

“Không. Khu hầm mộ nằm cách đó một quãng. Cứ đáp xuống quảng trường. Tôi sẽ dẫn đường.”

Anh phải tập trung. Một nhóm người bí ẩn nào đó đã tới ngụ cư ở Malta, rồi kể từ đó, thế giới đã đánh nhau tranh giành hòn đảo nhỏ xíu này suốt hàng ngàn năm. Thần thoại về khả năng chữa bệnh kỳ diệu, chứng cứ về những ngôi đền cự thạch tồn tại từ trước khi các nền văn minh xuất hiện trên thế giới, và giờ, có gì đó ở Malta đang cứu sống người tị nạn khỏi dịch bệnh. Sao tất cả lại khớp vào với nhau như thế này?

Anh quay sang Kate khi trực thăng hạ cánh. “Em đi được không?”

Cô gật đầu.

David thấy cô có vẻ... xa cách. Cô có ổn không? Anh không cưỡng nổi cơn thôi thúc choàng tay ôm lấy cô, nhưng chưa gì cô đã ra khỏi trực thăng, rồi hai nhà khoa học kia cũng lục tục rời ghế theo sau cô.

Shaw và Kamau ra cùng họ.

“Tôi cho là khu hầm mộ sẽ ở dưới nhà thờ thánh Phaolô” Janus nói.

“Không” David lớn giọng át tiếng động cơ trực thăng chưa tắt hẳn phía sau họ. Anh nhìn sang nhà thờ thánh Phaolô, tòa nhà bằng đá được xây dựng vào thế kỷ mười bảy trên đỉnh một cái hang – giờ được gọi là Động thánh Phaolô – nơi sứ đồ này đã sống thật bình dị.

Khi đã thoát khỏi tiếng trực thăng ồn ào, David giải thích. “Khu hầm mộ ở ngay đằng trước. Vì lý do vệ sinh, người La Mã không cho phép cư dân chôn người chết bên trong tường thành của thủ đô Mdina. Họ xây một hệ thống hầm mộ rộng lớn dưới lòng đất – các ngôi mộ chôn cất – ở Rabat này, ngay bên ngoài tường thành.” David muốn nói thêm – anh không chống lại được phần nhà sử học trong mình. Khu hầm mộ ở Rabat chôn giữ thi thể của dân Cơ Đốc, Do Thái lẫn đa thần giáo, nằm sát cạnh nhau như thành viên thuộc cùng một giáo phái, một hành động khoan dung tôn giáo gần như chưa ai nghe nói đến ở thời La Mã, nơi nhiều quan chức thường xuyên đàn áp các thủ lĩnh tôn giáo.

Cùng thời điểm các gia đình theo đạo đa thần, Do Thái và Cơ Đốc chôn cất người thân trong các ngôi mộ cạnh nhau dưới lòng đất thuộc hệ thống hầm mộ Malta La Mã, một người đàn ông tên Saolô đến từ Tarsus, cư dân La Mã theo đạo Do Thái, đang nhiệt thành đàn áp các môn đồ đầu tiên của Chúa Giêsu. Saolô cố gắng phá hoại kịch liệt kế hoạch xây dựng nhà thờ Cơ Đốc, nhưng sau đó lại cải đạo sang Cơ Đốc giáo khi đang trên đường đến Damascus – sau khi Chúa Giêsu chết trên thập giá. Saolô sau đó trở thành sứ đồ Phaolô và khu hầm mộ ở Rabat được đổi tên để tưởng nhớ ông.

David tập trung vào nhiệm vụ trước mắt.

Họ chui xuống một lối đi khác, rồi anh dừng lại trước một tòa nhà xây bằng đá. Trên biển đề:

KHU BẢO TÀNG

HẦM MỘ

THÁNH PHAOLÔ

Janus đẩy mở cánh cổng sắt, sau đó đến cánh cửa gỗ nặng trịch, rồi cả nhóm bước vào sảnh bảo tàng.

Căn phòng rộng lớn với sàn đá hoa cương giờ đang yên ắng, tĩnh lặng đến rùng mình. Trên tường treo các tấm áp phích, ảnh chụp và tranh vẽ. Các lọ thủy tinh đựng đầy những món đồ làm từ đá, ngoài ra còn có những món tạo tác nhỏ hơn mà David không nhìn ra được là gì chen chúc nhau ở các hành lang bên ngoài gian phòng chính. Mọi cặp mắt đổ dồn về phía David.

“Giờ thì sao?” Chang hỏi.

“Ta sẽ dựng trại ở đây,” David nói.

David vừa ngừng lời, Kamau liền dọn sạch một chiếc bàn, đặt túi đựng đồ của mình xuống và bắt đầu xếp vũ khí: súng lục, súng trường tấn công, áo chống đạn.

Janus chạy đến chỗ Kate và xòe tay đòi chiếc ba lô. “Đưa ba lô cho tôi.”

Kate lơ đãng đưa chiếc ba lô cho anh ta, rồi Janus bắt đầu thiết lập trạm nghiên cứu. Anh ta bật nguồn máy tính và nối nó với thiết bị nhìn như phích nước mà Martin đã đưa cho Kate để trích mẫu ADN.

Janus đặt điện thoại vệ tinh xuống bàn. “Ta có nên gọi Continuity không? Để báo cáo tình hình?”

“Không” David nói. “Ta chỉ gọi họ khi có việc cần báo. Đừng có... để lộ vị trí của ta.”

Anh liếc mắt nhìn chiếc điện thoại. Có một người trong nhóm đã làm việc đó suốt bấy lâu nay – để lộ vị trí. Anh lấy chiếc điện thoại trên bàn và đưa cho Kate. “Em giữ cái này đi.”

Shaw đứng cách Kamau vài mét, quan sát anh ta sắp xếp vũ khí và áo chống đạn. David nhìn anh ta chòng chọc, rồi cả hai nhìn nhau một lúc.

Shaw ngưng nhìn trước. Anh ta thờ ơ đi đến một chiếc bàn nhỏ bên cạnh cầu thang dẫn xuống khu hầm mộ. Anh ta nhặt một tờ quảng cáo lên và bắt đầu đọc.

“Giờ làm gì, David?” Shaw tự nhiên hỏi. “Ta đợi một hiệp sĩ Trung Cổ đến rồi hỏi xem anh ta có thấy một chiếc rương đá cổ không à?”

Janus lên tiếng, cố phá tan bầu không khí căng thẳng. “Tôi muốn nhấn mạnh tình trạng cấp bách của chúng ta...”

“Ta sẽ vào trong,” David nói.

Kamau coi câu nói đó như một ám hiệu. Anh ta mặc áo chống đạn rồi đưa một bộ khác cho David.

“Chẳng khác nào mò kim đáy bể,” Shaw nói. Anh ta giơ tờ quảng cáo lên. “Hệ thống hầm rất rộng. Bình thường chỉ có vài hầm mộ được mở cho khách tham quan thôi, nhưng thiết bị kia có thể ở bất cứ chỗ nào dưới đó. Ta phải đi hàng kilomét đường hầm đấy.”

David cố đọc nét mặt Kate. Gương mặt cô vô hồn, gần như lạnh băng. Cô lại đang nhớ lại sao?

“Tôi thấy chúng ta nên tách ra,” Janus nói. “Ta có thể đi được nhiều chỗ hơn.”

“Như thế không… nguy hiểm sao?” Chang ngượng ngùng nói.

“Ta có thể chia thành nhóm: mỗi nhóm một lính, một nhà khoa học,” Janus đề xuất.

David cân nhắc đề nghị này. Lựa chọn còn lại của anh sẽ là để ai đó lại bảo tàng để họ có thể đóng khu hầm mộ và đi gọi cứu viện. Anh chẳng còn lựa chọn nào tốt hơn.

“Được rồi,” David nói. “Shaw và Chang đi trước đi.” David muốn ghép hai nghi phạm lại với nhau, tách họ ra khỏi nhóm trước, giữ khoảng cách giữa họ và những người còn lại. “Sau đó đến Kamau và Janus. Kate và tôi sẽ đi cuối.”

“Chúng tôi làm quái gì biết ở dưới đó có gì,” Shaw lớn tiếng. “Tôi không xuống đó tay không đâu. Nếu muốn thì bắn tôi luôn đi, David.”

David bước tới bàn, cầm một con dao găm cận chiến lên rồi ném mũi dao về phía Shaw. Shaw bắt lấy chuôi dao. Mắt anh ta sáng lên.

“Anh có vũ khí rồi đấy. Giờ dẫn đường đi, không là tôi sẽ giết anh đấy. Đừng thách tôi.”

Shaw ngập ngừng một lúc, rồi quay lưng đi xuống thang, theo sát anh ta là Chang và bốn người còn lại.

Dịch giả Phương Anh
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 24 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.