Đi Tìm Sylvie Lee

Lượt đọc: 54 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 10
Sylvie

❊ ❊ ❊

Thứ bảy, ngày 2 tháng 4

“Em sẵn sàng chưa?” Lukas hỏi.

Tôi gật đầu và chúng tôi đi lên cầu thang. Nó dường như nông hơn tôi nhớ. Trước khi bước vào phòng, tôi đã có thể ngửi thấy mùi thuốc xộc lên và mùi của sự chết chóc. Bà đây rồi. Bà lúc nào cũng nhỏ bé như vậy sao? Cơ thể bà chỉ còn là một nắm lồi bên dưới lớp chăn dày. Đôi chân bé nhỏ của bà thò ra ở đâu đó giữa giường và bà đang ngồi thẳng, tựa mình vào gối, nhìn chằm chằm vào tôi.

Nghẹn ngào, tôi vội chạy đến bên và nắm lấy đôi tay bà. Tôi tựa má mình vào má của bà. Tôi không hôn bà, bởi bà không bao giờ theo phong tục của người Hà Lan - Sao bọn họ lại liếm má bà thế này, mà những ba lần? Một lần không đủ sao?

Ngay cả với ống thở ôxy, những ống nhựa nhỏ và dẻo truyền không khí vào mũi, bà vẫn thở gấp gáp. Tôi đã không biết bà đang được điều trị bằng phương pháp thở ôxy. Bà thều thào bằng tiếng Hoa, “Tuyết Lài à. Con quay lại rồi.”

Tôi chuyển sang nói giọng Thái Sơn, phương ngữ chỗ làng cũ của bà ở Trung Quốc. “Ngoại ơi. Đã quá lâu rồi.”

Tôi có thể nhìn rõ lằn xương sọ qua làn da mỏng, mịn của bà. Xương xẩu dần thay da thịt ngự trị cơ thể bà, đôi mắt sáng hõm sâu và mờ đục; mái tóc đen dày biến mất, chỉ còn lòa xòa những sợi bạc trắng. Những mảng da đầu màu hồng thoáng lộ ra. Thực sự đã lâu như vậy sao?

Bà mặc một chiếc áo sơ mi hoa dài tay bà tự khâu. Bà nhỏ bé đến độ không thứ gì có thể mua tại cửa hàng ở đất nước của những người khổng lồ này vừa vặn với bà. Chiếc áo như treo trên cơ thể gầy guộc, bàn tay và cổ tay gầy gò ló khỏi tay áo ren, rũ trên tấm ga trải giường. Đôi tay mạnh mẽ mà tôi nhớ đâu rồi, đôi tay đã dắt tôi về nhà sau giờ học mỗi ngày, khuấy bột làm hoành thánh và há cảo cho tôi đã biến đi đâu?

Bà mỉm cười với tôi, niềm hạnh phúc sáng bừng trong đôi mắt, và tôi thoáng bắt gặp hình ảnh người phụ nữ thanh lịch mà bà đã từng, luôn ăn vận chỉn chu và trang điểm lộng lẫy, chờ tôi và Lukas mỗi ngày sau giờ tan học. Chúng tôi thường thấy ông của mấy đứa trẻ khác, cao lênh khênh, cười và cố giao tiếp với bà dù chỉ vài từ Hà Lan bà bập bõm học được. Amy và mẹ không giống bà chút nào, không bao giờ để ý đến vẻ bề ngoài. Bây giờ, đôi môi bà trắng bệch, nứt nẻ và bong tróc. Tất cả những năm qua, khi tôi nhớ về Hà Lan, bà luôn là người trong tim tôi. Và tôi đã chặn mọi hình ảnh của dì Helena trong tâm trí. Đó là cách bộ não hoạt động, phỉnh lừa để chúng ta có thể chịu đựng những đau khổ của cuộc sống.

Giọng tôi lạc đi với dòng lệ chực trào. “Cháu nên về sớm hơn.” Bao nhiêu sợi tóc trên đầu tôi là bấy nhiêu ân hận nhấn chìm tôi lúc này.

“Cháu đã trở lại rồi. Và cháu vẫn đáng yêu như ngày nào.” Giọng bà yếu ớt, cứ đứt quãng. Bên dưới những mắc cài của ống thở, tôi nhìn thấy máy trợ thính trong đôi tai to của bà. Kế bên bà, trên chiếc bàn cạnh bên bình ôxy, là một bức ảnh được lồng trong khung bạc: tôi và Lukas, một ngày sau sinh nhật tôi, lúc cả hai bốn tuổi, tay trong tay, ngày đầu tiên của tôi ở trường tiểu học. Với bà, tôi đã luôn tồn tại. Hình ảnh từ trước lúc răng cửa tôi bị vẹo, và trước khi mắt phải bị lác. Vâng, bà luôn nhớ tôi khi xinh đẹp như thế.

“Con đáng yêu giống ngoại mà.” Tôi cố pha trò.

Bà cười phá lên và lắc đầu. Tôi nghe thấy bà đang chống chọi với từng hơi thở. “Trái tim của ngoại đã gắng gượng quá lâu rồi và bây giờ nó đang hỏng hóc. Không nên để người khác thấy ngoại lúc này.”

“Chỉ là do ngoại chưa được điều trị đúng cách thôi.” Tôi ngồi sát lại và chạm vào những ngón tay lạnh của bà. “Con sẽ thoa dầu bóng tóc cho ngoại, nếu ngoại muốn, và sẽ trang điểm cho ngoại.”

Đôi môi bà khẽ nhếch lên, và bà nói, “Có thật không con? Bà ghét nhìn bà già nua và xấu xí như này lắm”.

Lukas, đứng cạnh cửa và khẽ cười, bà và tôi cũng hùa theo. “Ai đang chăm bà hở anh?” Tôi hỏi.

“Có dịch vụ chăm sóc tại nhà. Cô ấy sẽ đến muộn hôm nay.”

Tôi quay sang bà. “Con sẽ nói chuyện với y tá nếu được phép, con sẽ làm cho ngoại khỏe lại. Nhé ngoại?”

Mắt bà khẽ nhấp nháy. “Thật tốt biết bao khi cháu cưng của ngoại đã trở lại. Ngoại có cái này cho con. Nó nằm trong ngăn kéo cạnh giường.”

Tôi kéo ngăn kéo gỗ ọp ẹp của chiếc bàn cạnh giường ngủ và thốt lên kinh ngạc khi thấy thứ bên trong nó. “Tasha!” Con búp bê cũ rách mà bà đã làm nó cho tôi, giờ nó nhỏ hơn rất nhiều so với trí nhớ của tôi. Tôi vuốt nhẹ mái tóc bằng len đen của nó với một ngón tay. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy Tasha, tôi đã rất ngạc nhiên khi một con búp bê có mái tóc đen như tôi, thay vì tóc vàng như những con búp bê Barbies trong các cửa hàng. Bà đã sửa lại chỗ rách trên chiếc váy satin đỏ của nó, đôi mắt nâu sẫm cũng được khâu lại cẩn thận. Tôi vẫn có thể thấy vết bẩn, chỗ mà tôi đã từng làm đổ nước nho lên chân nó. Tôi ôm con Tasha vào lòng. “Con nhớ nó lắm.”

“Bà biết. Nó cũng đã đợi con ở đây,” bà nói, và trái tim tôi như thắt lại, bởi tôi biết bà đang nói về chính mình.

Tôi đặt Tasha lên chiếc bàn cạnh giường và để nó trong tư thế ngồi. “Bây giờ, nó sẽ chăm sóc và bầu bạn cùng bà.”

Nó là của con mà.

“Con biết chứ nhưng vẫn còn kịp mà bà.” Bà, anh Lukas và tôi đều hiểu lời tôi nói. Tôi cảm thấy hụt hẫng khi nghĩ đến việc mang Tasha rời khỏi bà, sau chừng ấy thời gian bà đã cất giữ kỹ lưỡng nó cho tôi.

Bà nở một nụ cười. “Ừ, đúng là bà đã quen khi có Tasha ở bên cạnh. Và bây giờ con đã trở lại, bà đã có thể yên tâm ra đi rồi.”

“Bà đừng nói như thế.”

“Con đừng lo, Tuyết Lài à. Bà sẽ không đi trước khi bà đưa cho con báu vật của bà đâu.

Chúng tôi ra ngoài và đóng cửa phòng lại, tôi quay sang Lukas. “Bà có thực sự được điều trị tại nhà không?” Anh ngập ngừng, và nói, “Là điều trị giảm đau.”

Tôi chết lặng. Máu tôi có cảm giác như đang dồn xuống đáy dạ dày. Tôi đã nghĩ đến điều này trước khi đến. Ở Hà Lan, bạn chỉ được điều trị giảm đau nếu bác sĩ bảo rằng bạn chỉ còn sống được không tới ba tháng.

Anh Lukas nói tiếp, “Mọi người đã nghĩ đến việc đưa bà đến viện dưỡng lão. Có một chỗ rất đẹp ở gần đây và được điều hành hoàn toàn bởi những người tình nguyện, ở đó họ sẽ nấu cho bà bất cứ món gì bà muốn, phục vụ bà cả ngày lẫn đêm. Nhưng bà thích ở lại đây.”

“Tất nhiên rồi. Mà bà có chuẩn bị gì khác không anh?” Tôi biết được từ những lần thảo luận với các sinh viên Hà Lan khi còn học đại học rằng, những chọn lựa cho cái chết ở đây khác nhau như thế nào.

“Bà đã được chấp thuận dịch vụ trợ tử nếu bà yêu cầu.”

Hỗ trợ tử. Ba tháng hoặc ít hơn. Ngoại ơi, bà đã từng rất kiên cường khi con rời xa bà. Tôi gục đầu vào tường một lúc và mắt nhắm lại. Một giọt nước mắt lăn dài trên má. “Không còn chút hy vọng nào sao?”

Lukas gật đầu. Cái mím môi làm lộ rõ nỗi đau buồn trong anh. “Bà đã quá yếu. Tuổi già lại thêm bệnh tật. Em biết không, bà đã uống thuốc điều trị cao huyết áp nhiều năm nay và giờ thì tim và phổi của bà đã không còn đủ sức để gắng gượng.”

Sau đó, chúng tôi nghe tiếng cửa trước mở và cùng nhìn nhau. Tôi xoa tay vào vùng trán đang đau nhức, cố bình tĩnh lại trước khi bước xuống lầu để chào dì Helena và dượng Willem.

Đôi mắt dì Helena, lạnh lùng và dò xét, dõi theo khi chúng tôi xuống cầu thang. Tôi cảm thấy hoa mắt. Tình trạng lệch múi giờ, cùng với sự suy nhược và nỗi đau buồn như một cơn sóng bất ngờ quét qua tôi khiến tôi lảo đảo trong phút chốc, cố bám vào lan can để đứng vững. Tôi lấy lại bình tĩnh và đứng thẳng người, để chắc rằng tôi bước xuống với phẩm cách cựu nữ hoàng Beatrix. Người phụ nữ trước mặt là dì Helena mà tôi từng biết, bà ta già hơn tôi nghĩ. Cứ như tôi mới gặp bà ấy lần đầu. Trong mắt một đứa trẻ, người lớn luôn cao hơn hẳn một cái đầu, với giọng nói thể hiện uy quyền - tử tế hay tàn nhẫn. Dì đã cắt đi mái tóc dài ngang lưng. Tôi đã rất thích cầm nó trong lòng bàn tay mình trong những phút giây bình yên ít ỏi mà chúng tôi đã có.

Dấu ấn thời gian đã bắt đầu lộ rõ trên gương mặt dì, cũng như với bất kỳ ai. Vẻ kiêu kỳ mà tôi nhớ đã bị lu mờ bởi những hà khắc trong cái chau mày, những cục súc phát ra từ đôi môi. Tôi đã trở thành một người phụ nữ, còn bà ấy thì sao? Làn da trắng mịn giờ trông như một lớp mặt nạ, và những nếp nhăn khắc nghiệt chạy dọc sống mũi. Bà ấy mặc một chiếc áo khoác tuxedo Dolce & Gabbana lỗi thời khiến phần hông không ăn nhập gì với chiếc váy bút chì họa tiết da báo dài đến mắt cá chân. Nỗ lực để trông trẻ hơn tuổi và thất bại thảm hại với những món trang sức của Cleef & Arpels thô kệch, làm nổi bật thêm cái cổ lùn và cánh tay ngắn củn của bà ấy. Ví như một con vượn, dù có dát vàng, nó vẫn không thôi xấu xí được.

Niềm hân hoan chiến thắng khởi phát trong tôi khi bà ta đang yếu thế, còn tôi thì đang chiếm thế thượng phong. Đôi mắt bà ấy lướt qua bộ trang phục Loro Piana của tôi, từ chiếc quần màu kem được là nếp phẳng phiu cho đến chiếc áo kiểu màu trắng tay cánh dơi, rồi đến dải khăn choàng lụa in hoa quấn quanh cổ. Rồi bà đưa mắt liếc nhìn chiếc túi Hermes Kelly tôi đã ném lên ghế ở tiền sảnh, và để mắt đến chiếc áo khoác len Cashmere có thể mặc cả hai bề với màu xanh ngọc và màu bạc, được treo trên mắc áo. À, dì ấy nói cùng ngôn ngữ với tôi, và tôi rất vui. Tôi nghĩ hẳn dì ấy cũng vậy. Cuối cùng, chúng tôi cũng có thể đọc vị nhau. Quần áo thiết kế của tôi không có giá trị gì với Amy và mẹ. Khi còn bé, tôi và Amy thường cãi nhau vì nó đã bày những trò như giả làm cô gái cao bồi nhảy bình bịch khắp phòng trên đôi bốt da lộn cao đến mắt cá hiệu Yves Saint Laurent giá ba-trăm-đô-la mà tôi đã mua tại một cửa hàng mẫu. Kể cả khi mua với giá khuyến mãi, tôi cũng phải làm việc quần quật và tiết kiệm nhiều tháng trời cho mỗi lần chi tiêu. Giờ tôi đã thấy được sự đánh giá ngầm trong đôi mắt dì Helena, sự ghen tức một lần nữa trỗi dậy.

Vẫn như vậy, dì Helena luôn lấn át dượng Willem, ông đang nhìn chằm chằm vào tôi với những cảm xúc thầm kín mà ông luôn để lộ cho tôi thấy, giờ nó đã trở nên mãnh liệt hơn sau bao năm. Tôi sẽ cần tình thương ấy nếu còn là một đứa trẻ, nhưng bây giờ, tôi coi khinh ông ta vì điều đó, vì đôi mắt tham lam của ông ta, vì ông luôn e ngại dì Helena. Tình yêu thương của ông đối với tôi luôn phải chịu luồn cúi theo ý muốn của dì, như một cái cây trồng trong một chiếc hộp. Nếu ông ấy thực sự quan tâm đến tôi, ông ấy đã dám thẳng thắn đối diện với dì. Ông không phải lén lút vuốt tóc tôi, hay mỗi khi tặng tôi những món quà nhỏ.

Tôi cảm nhận được sự ấm áp vững chắc của Lukas sau lưng tôi.

Dì Helena mỉm cười và nói với tôi bằng tiếng Hà Lan, có lẽ dì hy vọng tôi sẽ vấp váp khi nói. Như mọi khi, ngữ điệu của dì thật hoàn hảo. Dì đã được sinh ra ở đây. “Sylvie à, con hệt như những gì dì đã mong đợi.”

Tôi đáp một cách trôi chảy bằng chính ngôn ngữ dì vừa sử dụng. “Dì cũng vậy, dì Helena.”

Bà ấy chớp mắt một lúc, thoáng ngạc nhiên, rồi chúng tôi trao đổi ba cái hôn gió, không ai chạm vào má của nhau. Tôi quay sang dượng Willem và chúng tôi cũng làm tương tự, nhưng tôi cảm nhận được sự gấp gáp của đôi môi ông ta chạm vào má tôi, cách ông ta giữ chặt tay tôi. Ông thì thầm, giọng run run vì xúc động, “Ta đã nhớ con rất nhiều, Sylvie à.”

Dượng đã luôn yêu thương tôi quá nhiều, dù lén lút. Tôi lùi lại trước khi dì Helena nhìn thấy nhưng tôi biết đã quá muộn. Dì ấy luôn theo dõi dượng và tôi. Tôi mỉm cười với ông ấy và không nói gì, chỉ hất tóc để lộ đôi bông tai kim cương lấp lánh mà ông đã tặng tôi. Qua cái rít hơi gấp gáp, tôi biết là ông nhận ra nó.

“Mẹ của con thế nào?” Khẽ đưa mắt nhìn dì Helena, ông hỏi như cố đánh lạc hướng dì ấy.

“Dạ khỏe ạ”. Tôi thở phào, nhẹ nhõm. Tôi rất mừng khi có thể né tránh được thứ tình cảm trên mức bình thường đó. “Cả mẹ và bố đều khỏe ạ.”

Dì Helena cứ líu lo mãi khi mọi người cùng đi vào bếp. Dì ấy đang sắm vai bà chủ nhà tốt bụng. Tôi đã không để ý sớm đến việc họ có mang một túi thức ăn sực nức mùi thơm từ nhà hàng về. Nhưng ngay khi họ mở nó ra, Helena đã nói: “Cái này là chút đồ ăn từ tiệc trưa mừng Lukas của chúng ta trở về.”

Tôi liếc nhìn anh. “Anh đã về khi nào?”

Tối qua. Dự án của anh cũng đã gần xong và có lẽ giờ là lúc nghỉ tay không nhận việc nữa.” Tôi hiểu được cả những lời anh ấy không nói: Bởi vì bà sắp mất.

“Dù sao thì”, dì Helena nói, chen giữa chúng tôi khi dì bày bàn với những chiếc đĩa Trung Hoa truyền thống tráng men đỏ mà tôi vẫn còn nhớ, “Dì dượng mang về toàn những món mà Lukas thích: Tôm hùm Tứ Xuyên và cá bóng mú sốt đậu đen. Dì quên khuấy đi mất rằng con bị dị ứng với đồ biển. Hy vọng con không thấy khó chịu, Sylvie nhỉ?”

Tôi đứng ngây ra một lúc, như thể vừa nhận một cái tát vào mặt từ dì. Đây mới chính là dì Helena mà tôi biết. Chúng tôi trưng ra bộ mặt khôn khéo và tử tế được dồn nén qua từng ấy năm một cách chóng vánh, rồi lẹ làng trở lại với bản ngã trước đây của mình mà đối phương đều đã quá rõ trước đó. Tôi choáng váng và kiệt sức, vừa trở lại ngôi nhà nơi tôi từng là một thành viên trong chín năm đầu đời của mình, và Helena muốn nhắc nhở rằng tôi là một người ngoài như thế nào, họ chẳng quan tâm tôi ra sao. Mặt đất như sụp xuống dưới chân tôi. Điều tồi tệ nhất là phải chứng kiến Lukas cáu tiết lên, đôi mắt mở to vì sốc và má đỏ bừng lên vì xấu hổ. Dượng Willem nhìn trân trân vào dì Helena, bàng hoàng. Ông ấy rõ ràng đã không biết trước ý đồ của Helena khi họ mang những thứ đó về nhà.

“Mẹ, chắc là sẽ có món gì đó cho Sylvie trong tủ lạnh,” vừa nói, Lukas vừa kéo cánh cửa tủ lạnh với một lực thừa thãi.

“Đương nhiên rồi”, dượng Willem nói, gắng gượng cười với tôi. Tất cả đã nỗ lực giả vờ để tin vào sự không cố ý của Helena. “Dượng cũng có thể nấu món gì đó cho con, Sylvie à.”

“Không sao đâu ạ.” Tôi quá hiểu luật chơi của trò mèo này. Khi tôi còn nhỏ, tôi sẽ chui về phòng và trùm kín chăn, dặn lòng không được khóc. Giờ thì không. “Con đã no căng bụng rồi. Bay bằng hạng vé thương gia ấy ạ, họ cứ cho mình ăn kiểu như mình bị bỏ đói vậy,” tôi đã nói dối. May thay, tôi đã học được rất nhiều mánh khóe khoe mẽ từ những đứa tôi gọi-là- bạn-bè. Tụi nó thường khoác lác kiểu như Ôi, bọn tao toàn đi phi cơ riêng đến biệt thự nghỉ dưỡng trên đảo, mà không phải lúc nào cũng vậy đâu — chỉ khi nào thấy thuận tiện thôi.

Anh Lukas hỏi lại, “ Em có chắc không, Sylvie? Nhà mình có…

“Ồ, không”, tôi từ chối, dù tôi đang phải cố kìm cơn sôi ầm ĩ nơi bao tử. Đói thì đậu thô cũng hóa cao lương, nhưng tôi vẫn mỉm cười rồi thong thả ngồi xuống chiếc ghế giữa bàn. “Em thật sự không thể ăn thêm nữa.”

Dì Helena nhìn tôi một lát. Rồi bà ấy tiếp tục bày thức ăn ra bàn trong khi dượng Willem phụ giúp. Anh Lukas nhìn tôi cười nửa miệng. Anh ấy hiểu rất rõ những gì tôi đang làm, và rót cho tôi một ly nước khoáng Spa hương chanh có ga đỏ. Không đá, dĩ nhiên vậy rồi, thứ không bao giờ có trong nhà người Hà Lan.

Dì Helena nói, “Vậy con lên lầu để sắp xếp hành lý và nghỉ ngơi đi, Sylvie.”

“Dạ, cũng không có gì vội ạ.” Tôi tựa lưng vào thành ghế và vân vê chiếc khăn choàng trong khi họ múc thức ăn ra đĩa. Lukas cứ liếc nhìn tôi và gần như không ăn gì. Tôi có thể biết anh ấy đang cảm thấy rất khủng khiếp, điều đó làm tôi rất hối hận, nhưng tôi thích thú trước việc khiến dì Helena từng chút một nhận ra sự thô lỗ của bà ấy dành cho tôi. Kể cả cơm chiên, bà ta cũng cố ý cho tôm trong đó. Mặc kệ cơn đói, tôi vẫn cười suốt bữa ăn, thế nên mỗi lần họ gắp thức ăn hay cắn một miếng cá, họ có thể cảm nhận rõ cách ứng xử phi-Trung-Hoa này ra sao, khi tiếp đãi một vị khách như vậy. Trán dượng Willem đỏ bừng và dì Helena thậm chí còn làm rơi cả đũa xuống sàn - một sự vụng về chưa từng có tiền lệ.

Người nữ y tá của dịch vụ chăm sóc tại nhà đến vào giữa bữa ăn, một phụ nữ trẻ trung và rắn rỏi tên Isa với mái tóc đỏ, mũi đeo khuyên và đôi bông tai hình đĩa to đến nỗi để lại trên dái tai một lỗ lớn tầm một xen-ti-met. Cô ấy nở một nụ cười thân thiện và với lấy một đĩa thức ăn cho bà rồi mang lên lầu.

“Nhớ lấy cho mình luôn nhé, Isa.” Dì Helena nói. Tôi vẫn nhớ điều này, cái cách mà ai cũng nghĩ bà ấy là người tốt bụng, đáng yêu, và lịch thiệp ra sao. Trong một vài trường hợp, sự ấm áp đó là thật. Tôi là người duy nhất bà ấy không thích. Điều gì ở tôi đã khiến cho mọi người thấy tồi tệ? Khi Isa còn do dự, dì Helena đã ấn một đĩa đầy thức ăn vào tay và múc cho cô ấy một muỗng đầy những cuộn chả giò tôm chiên giòn để mang lên.

Sau bữa ăn khó xử đó, Lukas mang vali của tôi lên gác mái, đó là phòng của anh ấy khi chúng tôi còn nhỏ. Cửa phòng bà đóng và chúng tôi nghe tiếng của Isa nói bên trong. Chúng tôi cũng ngang qua phòng cũ của tôi, nó nhỏ đến mức đã bị biến thành một cái tủ quần áo, chứa đầy những thứ linh tinh bên trong. Dù sao thì tôi cũng sẽ ở phòng của Lukas. Tất cả đồ đạc của anh ấy đã được dọn đi nhưng những thanh kèo trên mái nhà, chiếc rèm kẻ ca rô đỏ trước ô cửa hình tròn nhỏ vẫn vậy, như chính khung cửa sổ tầng gác mái đó đã duỗi căn phòng ra thênh thang. Và tôi có thể bịt mắt đi khắp phòng mà không hề gì.

“Anh có nhớ số lần tụi mình va đầu vào trần nhà không?” Tôi hỏi.

“Đó là tại em không bao giờ chịu nhìn khi phóng ra khỏi giường.” Vừa nói, anh vừa cười toe toét.

Đột nhiên, mọi thứ trở nên quá sức với tôi, không khí trong nhà quá yên tĩnh và ngột ngạt, mùi nước hoa sực nức của dì Helena xộc lên lẫn vào mùi thuốc của bà. Tôi cảm thấy mình như một con thú bị mắc kẹt trong cái bẫy. Tôi ném vali lên bàn rồi nói, “Em sẽ sắp xếp sau. Cho em xem chỗ anh đang ở đi.”

Lukas dẫn tôi đến chỗ nhà để xe rộng rãi và tách biệt. Anh đã biến nó thành một không gian sống với hai tầng lầu được xây trên nền đất cũ. Cánh cửa nhà xe cũ đã được gỡ bỏ và thay bằng một cánh cửa màu đỏ trang nhã, bên cạnh những khung cửa sổ lớn có rèm che. Khi Lukas đang loay hoay với xâu chìa khóa, một con mèo mướp lông màu cam nhỏ lao vào khu vườn và rồi lết trên hai chân sau. Nó thoắt chạy thật nhanh lại phía chân Lukas và chụp lấy sợi dây cột đôi giày leo núi đầy bụi của anh ấy.

“Con mèo này là sao đây anh?” Vừa nói, tôi vừa nhấc bổng nó vào lòng.

Lukas lắc đầu. “Nó bị tật không chữa được. Tên nó là Couscous. Anh thấy nó đói lả lúc ở Thổ Nhĩ Kỳ. Anh không nỡ bỏ nó lại đó nên đã mang nó về đây. Nó sẽ vấy bẩn ra áo em đấy.”

“Ai lại quan tâm đến cái áo khỉ gió này khi mà Couscous lại bị tật như thế? Ôi nó mới đáng yêu làm sao,” tôi reo lên. Con mèo chớp đôi mắt màu hổ phách với tôi. Chóp mũi mềm mịn của nó có màu nâu cam nhạt, như thể vừa bị bắt gặp khi đang uống sữa sô-cô-la. Bộ lông màu trắng pha cam hệt như một cây kẹo và khi tôi bế nó, nó bắt đầu kêu rù rù thích thú, bộ lông dày rậm và mềm mại. “Cưng thích ở đây hơn thay vì chỗ trước đây của mình đúng không, Couscous. Ước gì chị có thể mang em về nhà cùng.”

“Anh không biết nhiều về cuộc sống hiện tại của em.” Anh Lukas nói. “Em có nhà riêng không? Hay là một căn hộ?”

“Anh nên đến thăm em. Jim và em sống trong một căn hộ.” Tôi thấy đau nhói. Jim đã không còn ở đó nữa. Tôi đã cố không nghĩ về anh ấy được vài giờ rồi. Chúng tôi bước vào trong căn nhà tối om, và trong khoảnh khắc, tôi như bị mù tạm thời vì sự thay đổi ánh sáng. Không như phần đông người Hà Lan khác, Lukas đã đóng tất cả các cửa, có lẽ vì mớ đồ nghề nhiếp ảnh của anh ấy.

Anh ấy đóng cửa sau lưng lại và bóng tối bao quanh chúng tôi. Con mèo Couscous mềm mượt và ấm áp nằm trên tay tôi, đều đặn cất tiếng rù rù ra chiều thoải mái. Tôi thở dài. Giờ tôi đang ở cùng Lukas, người hiểu và thương yêu tôi cả trước khi tôi trở thành một người như hiện tại và trước khi tôi đánh mất tất cả. Việc ở bên anh đã trở nên tự nhiên như hơi thở. Anh họ của tôi, người bạn của tôi.

Lukas dựa vào tường. Anh vẫn chưa bật đèn, và anh thận trọng hỏi, “Cuộc sống với Jim thế nào?”

“Ổn thôi, anh ta chắc đang ngủ với người khác.” Tôi há hốc miệng. Tại sao tôi lại buột ra lời như thế?

Trong ánh sáng nhập nhòe từ cửa sổ che kín, đôi mắt của Lukas mở to nhưng lại không phản ứng gì khác. Vâng, anh ấy luôn như thế. Anh rất bình tĩnh. “Cậu ấy thích thế à?”

“Có lẽ cũng như em vậy.” Rồi cả hai chúng tôi khúc khích cười, dù cổ họng tôi nghẹn đắng.

Anh bước đến và chạm nhẹ vào tay tôi. “Thôi nghiêm túc nào, có thật là em ổn không?”

Couscous bắt đầu ngọ nguậy và tôi đặt nó xuống. Tôi nhún vai. Tim tôi đập thình thịch như vừa bị ai đó đấm vào. “Anh là người đầu tiên biết chuyện.”

“Đôi khi sẽ dễ dàng hơn khi chia sẻ với một người lạ.”

Giọng tôi như vỡ òa. “Anh đâu phải là người lạ.” Và, mặc cho tôi cố kìm nén, những giọt lệ như xé hốc mắt tôi tuôn trào.

Lukas ôm tôi vào lòng và tôi tựa đầu vào ngực anh ấy. Anh có mùi thơm của húng quế với nhân sâm và tôi nghe được những lời cơ thể anh thì thầm vào tai tôi: Em sẽ bình yên khi ở đây. Mọi thứ rồi sẽ ổn cả thôi. Anh khẽ thì thầm, “Tại sao em không quay lại thăm mọi người?”

Tôi sụt sịt và bật người ra. Tôi hướng đầu về phía nhà dì. “Em không được chào đón ở đây”.

Anh chăm chăm cúi xuống nhìn sàn nhà, như tránh ánh mắt tôi. “Anh… anh ước gì mình có một nơi nào khác để em đã có thể quay lại.”

Trong khoảnh khắc, tôi cảm thấy bối rối. Và tôi hiểu. “Không. Anh đã không chọn sống nhàn nhã và ở với dì dượng thì vẫn tốt cho anh hơn. Bố mẹ của Jim cũng cho tụi em một căn hộ, thế nên cũng không khác gì mấy.”

“Anh đã từng nằm mơ thấy anh đến thăm em. Anh nghĩ đó là điều đầu tiên khiến anh muốn đi đâu đó.” Anh trầm giọng. “Nhưng trước khi anh đủ lớn để thực hiện, em đã lấy Jim. Anh sợ mình sẽ làm xáo trộn cuộc sống của em.”

“Buồn cười quá đấy”. Tôi lắc đầu, cố né tránh cảm giác thân mật và nghiêm trọng này. “Nhanh lên, bật đèn lên cho em xem xung quanh đi nào.”

Khi anh ấy bật đèn trang trí lên, tôi rất thích thú khi thấy căn phòng được sắp xếp như một nhà hát hoặc một rạp chiếu bóng. Không có những chiếc ghế dài nhàm chán hay những chiếc tủ nặng nề ngột ngạt. Mấy bức phông nền dài cuộn tròn tựa vào bức tường phía sau đống đồ nghề nhiếp ảnh. Dàn đèn treo được gắn tấm phản lọc ánh sáng vàng, xanh dương, xanh lá phía trên chúng tôi, chĩa về mọi phía như những con chim đang đậu trên một sợi dây. Tôi nhặt một chiếc ô nhỏ lên, mở nó ra, và xoay tròn như cô gái trong một bộ phim đen trắng. “Em rất thích.”

Tôi bước tới một cái kệ cạnh tường, chất đầy trên đó là những chiếc khăn lụa, Sarong Bali, sari Ấn Độ, váy flapper và vài cái áo khoác tuxedo. Tôi nhướng mày nhìn anh. “Đồ giả gái nhiều vậy sao?”

Anh bật cười. “Dùng để chụp ảnh hết đó. Anh phải làm việc, em biết mà. Tự làm tự chịu chứ em.” Anh dẫn tôi ra phía sau, nơi một bức tường đã được dựng lên cạnh cầu thang, ngăn cách không gian còn lại của gara.

“Anh tự xây đó.” Khi anh đứng cạnh cửa, tôi nhận ra hai cánh cửa gắn vào hai bên tường có hai bộ bản lề khác nhau. Tôi đẩy một cánh ra ngoài và một cái vào trong. Chúng tôi đi vào và Lukas kéo tấm màn đen dày chạy dọc theo chiều dài của căn phòng lại, ngăn cách chúng tôi với bên ngoài.

Tôi thốt lên với vẻ thán phục. “Một căn phòng tối. Em nghĩ là bộ cửa và rèm thứ hai này là để không ai có thể đi vào trong và vô tình để mấy bộ phim của anh bị phơi sáng. Nhưng ai mà vào đây chứ?”

“Bố mẹ anh, người giúp việc. Và em.” Anh ấy ném một xâu chìa khóa về phía tôi. Tôi bắt lấy theo phản xạ - chìa khóa nhà chính của dì dượng và nhà riêng của anh ấy. “Bộ sơ cua của anh đấy.”

“Em không muốn làm phiền sự riêng tư của anh.”

Anh tròn mắt. “Thế à. Vậy ai là người xông vào phòng anh mà không bao giờ gõ cửa? Ai không cho anh đi vệ sinh mà bắt anh phải tám chuyện vậy nhờ?” Anh the thé nhại lại giọng tôi. “Đi tè sau đi! Chuyện này quan trọng lắm!”

Tôi đấm vào tay anh. “Em không bao giờ làm điều đó. Em là người rất tôn trọng người khác.”

Lukas bật bóng đèn màu đỏ gắn trên trần nhà. Ánh đèn rọi vào anh như một tác phẩm điêu khắc bằng đá ruby dài. Ánh sáng đỏ gợi tôi nhớ đến phố đèn đỏ ở Amsterdam, nơi các cô gái bán dâm mặc đồ lót đứng dưới ánh đèn hắt ra từ cửa sổ. Bất giác, tôi nhận ra rằng cậu bé mà tôi biết giờ đây đã trở thành một người đàn ông và chúng tôi đang đơn chiếc cùng nhau. Tôi húng hắng ho, xấu hổ vì những suy nghĩ thoáng qua. Lạy Chúa, anh ấy là anh họ của tôi. Tôi gần như không thể thốt nên lời. “Anh có thể bật đèn bình thường được không?”

Anh bật công tắc đèn lớn rồi xị mặt. “Anh xin lỗi, chỗ này có mùi hơi khó chịu, nhỉ?” Mặc dù căn phòng không cửa sổ này sạch bóng, mùi của những hóa chất độc và lạ được đựng trong các hộp và bình xếp dọc trên kệ vẫn thoang thoảng.

Tôi nhanh chóng hoàn hồn và né xa anh. “Không, em lại cảm thấy đó là mùi của sự sáng tạo và năng lực.” Làm thế nào để đổi chủ đề đây? Tôi hướng mắt về phía bàn làm việc dài và ba cái bồn rửa. “Em không nghĩ là mấy phòng tối dạng này vẫn còn được dùng. Không phải bây giờ là thời đại kỹ thuật số sao?”

Một tia sáng vụt lên trong mắt anh. Anh đưa tay vò mái tóc rối của mình. “Anh vẫn thích những thứ không hoàn hảo. Một vài lỗi lại vô tình trở thành tác phẩm thú vị nhất mà anh từng làm. Lên lầu đi, anh sẽ cho em xem.”

Chúng tôi bước vào phòng khách và nhà bếp, bên trong chỉ có một bộ lò nướng kết hợp lò vi sóng, một tủ lạnh mini và một bếp điện. Một cái bàn cà phê thấp bị gãy mất một chân được chống bởi những quyển sách dày cộm về nghệ thuật và nhiếp ảnh của Bas Basiat, Dorothea Lange, Mondrian, Jerry Uelsmann, Vermeer. Có một cánh cửa ở cuối căn phòng. Tôi đoán nó dẫn đến phòng ngủ và phòng tắm của anh. Mọi thứ đều gọn gàng như phòng của anh trước đây. Tôi là đứa hay nổi loạn chống lại dì Helena bởi cách sống bừa bộn hết mức có thể.

Tôi khúc khích pha trò. “Ở đây trống quá, lỡ có mù cũng không sợ đụng đồ.”

Lukas bật cười lớn. “Anh không có thời gian đi mua sắm này nọ đâu.”

Tôi nhìn lướt qua căn hộ của anh lần nữa. “Giống như trạm xe lửa hơn là nhà. Như một điểm dừng chân trước khi đến trạm cuối cùng.”

Lukas ngồi trên sàn nhà, lôi ra một tập bìa màu đen dày, và bắt đầu lật qua các bức ảnh. Hầu hết là ảnh đen trắng. Tôi ngồi phịch xuống bên cạnh, tò mò nhìn từ sau vai anh, và ngừng anh lại ở một trang: bàn tay của một người công nhân, lấm bụi đất và chai sần, đang nâng niu một búp hoa tulip. “Em thích bức ảnh này.”

Anh cau mặt rầu rĩ. “Khách hàng đã từ chối nó.” Anh chỉ vào trang bên cạnh - một bức ảnh màu chụp một người nông dân, sạch sẽ và nhẵn nhụi, hoàn hảo với một nụ cười giả tạo trên môi. “Đây là bức mà cuối cùng họ mua. Anh giữ tấm này ở đây để nhắc nhở bản thân đừng đánh mất chính mình vì đồng tiền của khách hàng. Anh là một phóng viên ảnh. Anh phải là người khởi thảo, chứ không phải bị chi phối.”

Chúng tôi lật dở qua những bức ảnh với gam màu ấm áp. Chúng gần như là không gian ba chiều với chiều sâu mà anh đã canh chỉnh. Tôi cảm giác mình có thể với tới và chạm vào những hình ảnh đó: một con dơi cỡ một con chó nhỏ treo ngược với đôi mắt đỏ rực, một con hồng hạc đứng thăng bằng trên một chân dưới ánh bình minh, một đứa trẻ rách rưới bán xôi bọc trong lá - và sau đó là những bức ảnh mang tính thương mại hơn của anh ấy: những người mẫu cong môi, những đóa hoa và phong cảnh nhiệt đới, tất thảy tươi tốt, đầy màu sắc và rực rỡ.

“Em đã không biết, Lukas à.” tôi nói. “Anh, máy ảnh và đối tượng. Tất cả như hòa làm một trong bức ảnh. Có lẽ anh cần là chính mình hơn trong công việc, đừng nhượng bộ.”

Bấy giờ, giọng anh ồ ồ và trở nên thân mật hơn. “Anh bị mê hoặc bởi cái cách mà quá trình tác động đến kết quả như thế nào, cái cách mà anh canh chỉnh cho từng bức ảnh ra sao. Một hạt bụi, một tia sáng,… Anh phát cuồng với đặc tính riêng biệt của cuộn phim. Chúng là những sinh vật hữu hình. Anh bị đắm chìm trong đó.”

Trong một số bức, anh ấy để màu âm bản hoặc cắt ảnh một cô bé và dịch chuyển nó để hình ảnh ma mị đó như trôi bồng bềnh phía trên người bố vừa tung cô bé lên không trung. Từ góc độ của cô bé, tôi không tài nào biết được liệu người đàn ông kia có đang sẵn sàng đón lấy cô trong vòng tay hay ông ta vừa tung cô vào khoảng không tuyệt vời. Có cả những tấm ảnh của Lukas trong chuyến đi Nam Mỹ vào năm ngoái. Anh đứng dưới nước ngập sâu tới đầu gối, mang đôi ủng cao su cao, hàm răng trắng lộ giữa khuôn mặt xồm xoàm, tay cầm một sợi dây cước lủng lẳng bên dưới là một con cá với hàm răng to.

Tôi cúi xuống nhìn kỹ tấm ảnh hơn. “Đây là cá răng đao phải không?”

“Bữa tối của tụi anh hôm đó đấy. Con sông ở đó đầy loại này.”

“Em cá là anh đã rất thích đôi ủng. Ai chụp cho anh những bức ảnh này vậy?” Tôi hỏi, chuyển sang một bức ảnh khác của anh. Lukas đang mỉm cười trước ống kính, một con khỉ nhện đen vừa vòng một cánh tay quanh cổ anh vừa lè lưỡi liếm những ngón tay còn lại.

“Hướng dẫn viên, anh ta muốn thử chụp máy ảnh của anh. Anh nghĩ là con khỉ đó đã tìm thấy một con bọ chét trên tóc anh và rất khoái chí khi ăn nó.”

Ảnh một bà cụ ngồi trong túp lều xiêu vẹo, làn da nhăn nheo được ánh lửa nhập nhoạng cháy trong hộp thiếc trước mặt soi rọi. Một tấm rèm rách rưới treo bên cạnh, ngăn cách bầu trời đêm bên ngoài. Sự bình thản và giằng xé hằn trên gương mặt. Rồi một tấm ảnh Polaroid bạc màu của tôi rơi ra. Tôi ngó lom lom vào mình lúc tám tuổi đầy thô kệch rồi lật nó lên. Một số chuyện tôi đã không muốn nhớ đến.

“Sao cái này lại ở đây?”

“Đây là bức chân dung đẹp đầu tiên mà anh chụp.”

“Anh cứ luôn lén la lén lút với chiếc máy ảnh Polaroid đó. Chứ không phải anh để dành chụp vào dịp sinh nhật của mình sao?” Tôi đã không được phép chạm vào nó. Dù Lukas không phiền gì, nhưng tôi hiểu sự khác biệt giữa Lukas và tôi, giữa một đứa con ruột và một đứa với danh nghĩa bầu bạn. Cuộn phim rất đắt đỏ. Tôi chưa bao giờ chụp một tấm nào riêng một mình với nó.

Anh gật đầu. “Em có nhớ hôm đó cô giáo đã bắt chúng ta hát vào ngày sinh nhật anh như thế nào không?”

“Thật là khủng khiếp.” Tôi vẫn nhớ lời bài hát, nó nhại theo giai điệu của bài “Chúc mừng sinh nhật.”

Hanky panky Shanghai

Hanky panky Shanghai

Hanky panky

Hanky panky

Hanky panky[1] Shanghai

Không hiểu sao người Hà Lan rất thích bài hát đó. Họ kéo xệch đuôi mắt thành khe ti hí và đung đưa chúng qua lại khi nghêu ngao hát. Và tệ hại hơn nữa: đó là người giáo viên mà chúng tôi rất yêu mến, một người phụ nữ thân thiện với mái tóc dài màu đỏ thường cho chúng tôi trà và bánh quế bọc caramel khi chúng tôi ngoan ngoãn. Trong khoảnh khắc đó, một hố sâu ngăn cách giữa phần còn lại của lớp học với Lukas và tôi - những đứa trẻ không phải da trắng duy nhất trong lớp - nứt toát ra thành một vực thẳm. Nó đã luôn tồn tại, tôi nhận ra sau đó, chỉ là tôi đã không hề ý thức về điều đó. Lukas nhăn mặt cau có và liếc nhìn tôi. Tôi mím môi, không biết phải làm gì để dừng họ lại.

“Đừng ngại nào,” cô giáo nói với giọng cổ vũ quen thuộc. “Lại đây, hát theo nào!”

Trước sự im lặng của chúng tôi, cô ấy đã nắm tay hai chúng tôi và dẫn lên đứng trước lớp, để bị sỉ nhục. “Được rồi, tất cả chúng ta hát cùng nhau nào. Một lần nữa nhé.”

Bọn trẻ vâng lời. Lukas và tôi đưa mắt nhìn khắp lớp, những mái đầu bợt nhợt lặn ngụp trong biển hát bủa vây lấy chúng tôi.

“Các con cũng hát đi.” Cô giáo gọi, gật đầu ra lệnh với chúng tôi và vỗ tay khích lệ.

Lukas vòng tay ôm sát thân hình gầy gò và trừng mắt. Tôi bật khóc.

“Ôi, con ơi.” Cô giáo thốt lên. Sờ tay lên trán tôi. “Thôi, con ngồi xuống đi. Chắc con đang không khỏe rồi.” Ngay khi Lukas và tôi ngồi sụp xuống ghế, tôi nghe cô ấy nói với một giáo viên khác kèm một cái nhún vai, “Chị nghĩ hai đứa sẽ thích, một cái gì đó thú vị thuộc về văn hóa của chúng.”

Lúc này, Lukas nói, “Tới giờ, em thấy đó, người ta vẫn hát bài hát đó vào dịp sinh nhật của mấy đứa trẻ. Nhưng nhiều năm sau khi em đi, anh đã đến gặp hiệu trưởng và nói với cô ấy rằng đó là một bài hát mang tính phân biệt chủng tộc và từ đó họ không bao giờ hát nó ở trường nữa.”

“Anh thay đổi quá, Lukas à.” Anh ấy từng là một đứa trẻ trầm tính, như tôi, và giờ anh ấy đã thay đổi.

“Đúng và sai. Nhưng anh đã nhận ra rằng nếu không nói, sẽ không có ai nghe được mình muốn gì.”

Ngay lúc đó, bụng tôi réo ầm ĩ đến nỗi cả hai cùng giật nảy. Cố nén cười, Lukas nói, “Thôi được rồi, coi nhiêu đó đủ rồi. Giờ mình đi kiếm gì đó để ăn nhé. Em đã nói dối về vụ ăn trên máy bay.” Anh đứng lên và chìa tay về phía tôi.

Tôi để anh kéo tôi đứng dậy. “Sao anh biết?” Tôi duỗi người và lầm bầm. Thật là một ngày dài lê thê.

Lukas đã bước đến bậc cửa rồi ngoái lại nói, “Em tự mua vé máy bay đúng không? Em sẽ không bao giờ mua ghế hạng thương gia. Lúc chúng ta còn nhỏ, anh luôn ăn hết chỗ kẹo của mình trong năm phút, nhưng em thì ăn từng chút một đến mấy ngày sau đó. Dù quần áo của em đắt tiền, nhưng em là người rất tiết kiệm.”

Tôi lên giọng kiêu ngạo. “Ồ. Anh còn là một chuyên gia thời trang sao?”

Anh gãi đầu. “Ừmm, không. Nhưng anh đã thấy mẫu túi của em trong một tạp chí mà anh từng làm việc. Còn bộ quần áo của em có vẻ rất —” Anh ấy phóng xuống cầu thang trước mặt tôi; tấm lưng rộng của anh ta vừa khít với phần lồng cầu thang hẹp. Anh vẫy vẫy tay trong không trung. “Rất đẹp. Nhưng em mua chúng theo kiểu binh lính thu thập vũ khí thì đúng hơn. Và cuối cùng, em là người thực tế. Em sẽ thấy bay vé hạng sang là một điều quá phung phí.”

Mặt tôi bừng đỏ như gấc, may thay, anh ấy đang quay lưng về phía tôi nên không phát hiện ra. Anh ấy nói đúng. Thật sự là, tôi đã sử dụng những thương hiệu thiết kế đó như một chiếc áo giáp, để thể hiện đẳng cấp với khách hàng và đồng nghiệp của mình, không hơn không kém. Tôi không bao giờ đam mê những thứ ngông cuồng chỉ vì bản thân mình.

Anh nói tiếp, “Nhanh nào. Chúng ta có thể đến quán ăn nhẹ rồi ghé qua chỗ Estelle. Cô ấy sẽ rất vui khi gặp em đó. Cô ấy có một chiếc xe đạp cũ và có thể cho em mượn.”

Chúng tôi ra ngoài và anh dắt một chiếc xe đạp màu đen từ bên dưới nhà xe lên. Một cơn gió nhẹ thổi phồng tóc anh.

Tôi ré lên: “Giờ anh lại còn đi xe đạp của nữ à?”

“Em lạc hậu quá, Sylvie à. Đang là trào lưu mấy gã thanh niên cưỡi trên xe đạp của các bà đấy. Anh chỉ cập nhật xu thế thôi, dù Estelle bảo anh cần phải chải chuốt hơn xíu.”

Tôi bật cười khi anh leo lên xe đạp và đợi tôi ngồi lên yên sau. Hệt như hồi còn bé. Yên sắt dằn xóc hơn so với những gì tôi nhớ trong ký ức nhưng tôi cố bám chặt, và khi chúng tôi chao đảo, Lukas nhấn bàn đạp thật mạnh, tôi tựa vai vào tấm lưng vững chắc của anh và tận hưởng bầu không khí Hà Lan trong lành.

❀ ❀ ❀

[1] Hanky Panky: bịp bợm, lừa gạt.

Liên Thảo dịch
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.