Đi Tìm Sylvie Lee

Lượt đọc: 102 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 7
Amy

❊ ❊ ❊

Thứ tư, ngày 4 tháng 5

Tôi dành cả chuyến bay chỉ để ngồi đếm số hàng ghế đến cửa thoát hiểm trong trường hợp chẳng may gặp nạn, không chỉ vì lo sợ mà còn vì lòng đan tâm của tôi với Sylvie. Máy bay quá nóng. Gã đàn ông to béo ngồi bên cạnh cứ chằng lấy tay vịn bằng khuỷu tay ngấn mỡ của ông ta, và tôi quyết định nhường, cố rúm mình nhỏ nhất có thể trên ghế. May mà có cửa sổ. Tôi lo lắng nhiều cho Sylvie đến nỗi không còn quá băn khoăn liệu máy bay có rơi hay không. Mấy kẻ khủng bố có thể đợi đến lúc tôi tìm ra được việc gì đã xảy ra với chị gái mình. Tôi căng thẳng đến độ không thể nào chợp mắt, kể cả khi đèn trên máy bay đã tắt. Có vô vàn lựa chọn phim ảnh trên màn hình được gắn ở phía sau ghế ngồi trước mặt tôi, nhưng tất cả đều xoay quanh mấy vụ sát nhân hoặc tình dục. Cuối cùng, tôi quyết định cắm tai nghe vào và chỉnh kênh âm nhạc, cố thư giãn. Tiếng ồn và sự rung lắc liên tục của máy bay khiến tôi thấy buồn nôn, và gã đàn ông khổng lồ thì cứ lù lù bên cạnh. Lối ra như bịt kín. Tôi không có đủ không khí. Nhưng tôi không thể hoảng sợ. Chị Sylvie cần tôi. Và tôi cứ thở nông như thế nhiều giờ liền trong bóng tối.

Sau khoảng thời gian dài như bất tận đó, đèn cũng được bật sáng trở lại và các tiếp viên chuyển những hộp điểm tâm được đóng gói sẵn cho chúng tôi: một hộp sữa chua việt quất, một ly nước cam nhỏ xíu với nắp đậy, bộ muỗng nĩa bằng nhựa để không thể dùng chúng tấn công người khác, và một miếng gà quay nguội ngắt, một miếng pho mát kẹp trong miếng bánh mì cứng đờ, cùng cà phê hoặc trà. Tôi khẽ xin một tách trà. Tôi đang run lên vì căng thẳng, thiếu ngủ và sợ hãi, tôi không muốn dùng nhiều Cafein. Người đàn ông bên cạnh đã đánh một giấc ngon lành với chiếc gối cổ đặc biệt và giờ đang vươn vai. Sau khi ông ấy dậy, tôi kéo tấm chắn cửa sổ lên và một vệt nắng buổi sáng cắt ngang cabin tối hệt như một con dao.

Bên dưới tôi, những mảng xanh vuông vắn như những bưu thư đầy bí hiểm và phẳng phiu, xếp cạnh nhau thành những ô chữ, rực lên khắp đó đây sắc cam, trắng và vàng rực rỡ: những cánh đồng hoa tulip nổi tiếng. Không đồi núi, không nhà chọc trời, không rừng cây. Khung cảnh khác biệt này dường như lớp lang và hư ảo đến ngỡ ngàng. Tôi, một đứa kẻ chợ hướng nội, luống cuống biết bao trước trải nghiệm non nớt này.

Tiếp viên thông báo máy bay sắp hạ cánh bằng cả tiếng Anh và tiếng Hà Lan. Ước gì cô ấy thôi ngay việc đó. Tôi biết là mình đang đến một đất nước xa lạ, nhưng tiếng Hà Lan ra rả trên máy bay cứ như bổ vào tôi. Tôi đang làm gì vậy? Trong tất thảy mọi người ở đây, chỉ riêng tôi là không chuẩn bị gì cho việc này. Tôi có thể làm gì cho Sylvie? Chị Sylvie đã quá xuất sắc rồi.

Chị Sylvie đã nhận một suất học bổng Baker của Trường Kinh doanh Harvard, và kết quả tốt nghiệp nằm trong số năm phần trăm sinh viên đứng đầu của lớp. Khi tôi còn đang loay hoay sau khi ra trường, tôi đã hỏi chị bí quyết để thành công như vậy. Lúc chị ấy vừa mới bắt đầu công việc tư vấn quản lý của mình, như mọi khi, chúng tôi thường theo mẹ viếng đền ở khu phố Tàu sau dịp Tết Nguyên Đán.

“Những thứ này sẽ giữ cho đầu óc em tỉnh táo đó, Amy,” vừa nói, chị vừa châm ba nén hương vào ngọn đèn dầu đến khi chúng bắt lửa. “Princeton, MIT, hay Harvard, đều áp lực như nhau cả. Harvard, một ả đàn bà nhanh nhạy với các con số, như đã nuốt chửng một cái máy tính vào bụng. Câu cửa miệng của bọn trường này luôn là “Biện pháp thắt lưng buộc bụng của Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF” hay “Bộ ba bất khả thi của dòng vốn tự do”. Ban đầu chị cũng khiếp. Ai cũng nghĩ đến việc cạnh tranh lẫn nhau vì họ bị chia thành nhiều nhóm và mỗi người trong một nhóm được đánh giá hiệu suất theo phân phối chuẩn. Kiểu suy nghĩ đó sẽ khiến em phát điên. Chị chưa bao giờ so đo với ai. Chị chỉ chiến đấu với chính mình thôi.”

Tôi phẩy tay dập ngọn lửa trên nén hương của tôi và chị. Một làn khói dày đặc tỏa lên theo hình xoắn ốc. “Ờm, vậy suy nghĩ tích cực đó đã cứu chị?”

Chị Sylvie hơi đỏ mặt một chút, má lúm đồng tiền lộ ra. Chị cẩn thận cắm nén hương của mình vào chiếc bình đầy cát trước bức tượng vàng khổng lồ của đức Quan Thế âm - vị nữ thần từ bi, và cúi đầu vái lạy đôi ba lần, dáng vẻ rất thuần thục. Rồi chị quay sang tôi. “Chính điều đó, và chị cũng nghiệm ra được cấu trúc của từng bài giảng và chỉ dành thời gian cho việc quan trọng. Chị không có lựa chọn khác - Chị còn công việc lễ tân tại công ty xây dựng vào buổi chiều và làm phục vụ bàn cho đến tận khuya. Chỉ có buổi sáng để hoàn thành bài vở. Chị phải thật năng suất. Trên lớp, chị nhường người khác những câu hỏi dễ và chờ những câu hỏi khó nhất. Là người Á Đông và lại là phụ nữ, với chị, chuyện chẳng có gì to tát nhưng chị vẫn làm bằng mọi giá. Đôi khi rõ ràng là dù mình có làm việc chăm chỉ đến đâu, mình cũng không được công nhận. Thứ tồi tệ nhất là tiền.” Chị thở dài và nhíu mày. “Ngốn cả thảy hàng trăm đô la cho mọi thứ. Chị đã không biết mặt trái của tấm bằng Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh tại Đại Học Harvard là ở phương diện xã hội - tất cả những lời mời mọc dự sự kiện hay đêm gala, nơi mà em có thể tiếp xúc và gặp gỡ với những người có quyền lực. Chị không tài nào có thể theo kịp, thế nên chị đã chẳng cố làm gì. Dù sao thì, chị cũng không giỏi trong khoản làm người khác thích mình.”

Ngay khi kết thúc nghi thức khấn vái, tôi húc vai mình vào chị. Chúng tôi thường có những mẩu chuyện phiếm như thế này trước đây. “Nghe lố bịch thật đó, chị Sylvie.”

Chị ôm tôi vào lòng, bao lấy tôi trong mùi trầm hương và mùi cam của chị. “Em có siêu năng lực đó Amy, không phải chị.”

Cổ họng tôi nghẹn lại. Sao chưa bao giờ tôi nghe điều này từ chị? Những lời như tôi vẫn hay nói: Chị Sylvie thật phi thường. Bỏ đi từ phi, thì đó chính là tôi: thường, thật tầm thường. Tôi đã phí nhiều tiền mua cái vé máy bay đắt đỏ này để đến Hà Lan, nơi tôi chẳng làm nên trò trống gì. Tôi chột dạ. Điều gì sẽ xảy ra với tôi và các khoản vay của mình, giờ là của Sylvie - Tôi ngăn mình lại trước khi kịp nghĩ thêm gì nữa. Sao tôi có thể ích kỷ như vậy?

Tôi choáng ngợp ngay khoảnh khắc đặt chân xuống sân bay Schiphol, một cái tên tôi thậm chí còn không biết cách phát âm. Nó hiện đại và sạch không tì vết, chuyến bay kết thúc với một giọng nói vô hình nhắc nhở tôi “Chú ý bước chân” nơi cuối các băng chuyền. Mọi người dường như cao đều như nhau, đầu họ như lơ lửng treo trên tôi. Tôi như lạc trong một rừng người. Những tiếng xì xào khó hiểu cứ bủa vây lấy tôi như một dòng suối thanh âm mà tôi buộc phải lội qua, mù tịt và đơn độc. Tôi mong được trở về nhà, với mẹ và bố. Sao các bảng hiệu lại có nhiều thứ tiếng khác nhau đến vậy?

Tôi đi bộ đến một trong những nhà vệ sinh lớn. Các cửa chắn ngăn dài đến tận sàn. Tôi mất cả buổi để tìm cách xả bồn cầu. Tôi định xem thử mình trong gương nhưng nó được treo cao đến nỗi tôi chỉ có thể nhìn thấy phần đỉnh đầu và một chút phần kính mắt. Bên cạnh tôi, một người phụ nữ cao lớn đang rửa tay một cách kỹ lưỡng, rồi sải bước về phía lối ra mà chẳng mảy may nhìn vào chiếc gương vừa tầm cao với bà ấy. Thực sự là, không ai dặm lại son hay phấn gì cả. Tôi thậm chí còn không ngửi thấy mùi nước hoa.

Chị Sylvie thực sự đã sống ở đây gần như cả tuổi thơ của mình sao? Cả quãng thời gian chị ấy có trước khi tôi ra đời. Chị không thường tiết lộ về cuộc sống của chị khi còn ở Hà Lan, nhưng những khi kể, mặt chị cứ ửng đỏ lên, đôi mắt chớm ủy mị. Tôi biết chị ấy yêu nơi này đến nhường nào và luôn khao khát quay trở lại. Sao mẹ và bố có thể gửi chị gái của tôi ở đây được? Liệu họ cũng định đưa tôi sang đây? Mẹ hay ôm ấp và cưng nựng tôi, nhưng đôi mắt thì luôn dõi theo chị Sylvie với đầy thương yêu - mỗi khi mẹ cố ôm Sylvie vào lòng, chị ấy cứ luôn vùng vẫy cho đến khi mẹ từ bỏ. Chị thường dựa vào tôi mỗi khi chúng tôi xem tivi cùng nhau, chị nắm tay tôi khi đi trên đường. Ngay cả bây giờ, chúng tôi vẫn luôn tay trong tay. Khi chị Sylvie đi học đại học, tôi rấm rứt khóc mỗi đêm trong giấc ngủ, đếm từng ngày cho đến khi chị trở về nhà trong kỳ nghỉ ngắn ngủi. Sứ mệnh của chị Sylvie, luôn là những chuyến đi và những cuộc phiêu lưu. Còn việc của tôi là chờ chị ấy trở về an toàn. Giờ thì con chuột đồng như tôi buộc phải bước ra thế giới bao la rộng lớn này.

Trong cơn choáng váng, tôi đứng yên trên một đoạn băng chuyền và để cảnh vật xung quanh cứ thế lướt qua. Tôi như bị dòng hành khách cùng mớ hành lý lùa đi theo một hướng duy nhất có thể. Chúng tôi đứng xếp hàng ngay ngắn tại cửa soát hộ chiếu, nơi chàng sĩ quan trẻ tuổi đằng sau quầy lướt nhìn qua hộ chiếu của tôi trước khi cất lời bằng giọng Anh ngữ gãy gọn: “Chào mừng đến Hà Lan.”

Tôi không thể tin được rằng mình đang ở châu Âu khi tôi thậm chí còn chưa bao giờ rời khỏi New York. Sảnh nhận hành lý khổng lồ được thắp sáng rực rỡ với hơn hai mươi đường băng tải hành lý, và tôi đợi nhầm ở một đường băng khác mãi đến khi nhận ra mình lẽ ra phải đứng ở một khu vực khác. Tôi nửa sợ hãi, chạy vội đến đúng chỗ nhận. Cuối cùng tôi cũng lấy được hành lý được đưa đến một cách thật vi diệu, tôi đẩy những đồ đạc của mình ra khỏi cánh cửa bên dưới tấm biển “Không cần khai báo” màu xanh lá cây. Trông tôi có vẻ lo lắng đến mức một trong những nhân viên hải quan lên tiếng hỏi, “Cô có ổn không?” trước khi cho tôi qua.

Tôi bước ra ngoài và đập vào mắt là một bức tường đầy mặt người - có rất nhiều người da trắng ở Hà Lan. Tôi cảm thấy mình thấp bé và nhỏ choắt khi những người Hà Lan cao lênh khênh vội vã lướt qua tôi và ôm chầm lấy nhau. Tôi tiến lên phía trước, và bất giác phát hiện ra ba mái đầu đen: hai người đàn ông và một phụ nữ. Có thể họ là dì Helena, dượng Willem và con trai của họ, anh Lukas, những người mà tôi chưa gặp bao giờ. Họ vận một “cây” đen, hình ảnh khiến nỗi sợ hãi như đâm sầm vào tim tôi cho đến khi tôi nhận ra rằng họ đang để tang cho bà, không phải cho chị Sylvie. Quần áo người phụ nữ trông có vẻ rườm rà và đắp đầy những chi tiết ren.

Tôi lững thững bước về phía họ. Họ là người Trung Quốc duy nhất ở đây nhưng tôi vẫn không chắc. Vẻ bề ngoài của gã trai to lớn, xù xì đặc biệt làm tôi lo lắng - lẽ nào đó là anh Lukas? Anh ấy tầm hơn ba mươi tuổi, râu lởm chởm, mái tóc đen dài như thể tự cắt. Đôi mắt của anh - màu nâu, pha chút màu bột quế - chớm sưng, dường như vừa khóc hoặc bị ai đó đánh cho một trận, còn quần áo thì cũ và sờn rách, như thể anh ta vừa lê lết, bò trườn qua sa mạc. Vẻ cau có thường trực như hằn lên trên trán và chân mày của anh ta. Đây là bạn thời thơ ấu của chị Sylvie sao? Tôi nghe nói anh ấy là một phóng viên ảnh, và thực sự trông anh ấy như vừa mạo hiểm thoát khỏi một vùng chiến sự.

Người đàn ông còn lại lớn tuổi hơn, có lẽ khoảng độ năm mươi mấy, cao ráo và sành điệu trong bộ âu phục và cà vạt được cắt may tỉ mỉ, tôi thậm chí còn có thể nhìn ra điều đó - hình như là bố anh Lukas, dượng Willem. Mặt ông ta nhẵn nhụi, sáng ngời, với những nét quý phái, ông ta vẫn còn rất phong độ. Tôi tự hỏi liệu Lukas có trông như thế nếu anh ta cạo râu và ăn vận sạch sẽ. Có gì đó trong cách ông Willem nhìn chằm chằm vào tôi, như thể ông ta có gì đó không ổn trong đầu. Trong khi đó, người phụ nữ, có vẻ là vợ ông ấy, dì Helena, mang làn da bóng mịn thái quá, lớp son môi quá sáng màu. Mái tóc đen như được chuốt thành một suối tóc óng ả gọn gàng vắt trên cổ chiếc áo sơ mi ren.

Rồi bà ấy nhoẻn miệng cười. Vừa giơ tay lên, bà ta vừa nói gì đó thật nhanh với tôi bằng tiếng Hoa. Tôi quá choáng ngợp trước tất cả những thứ lạ lẫm xung quanh đến nỗi không thể hiểu bà ấy đang nói gì.

Tôi chớp mắt, đứng im, và Lukas bước về phía tôi. Anh ấy nói gì đó rất nhanh bằng tiếng Hà Lan với mẹ mình, rồi quay sang tôi và nói bằng tiếng Anh, “Em có phải là Amy không?”

Thật nhẹ nhõm khi nghe được thứ ngôn ngữ của mình, tôi nói, “Vâng.”

Dì Helena nhìn Lukas như nhắc anh nói: “Anh là anh họ của em”.

Dì ấy đưa tay ra đón tôi nhưng khi tôi định ôm lấy, dì đã ghì chặt lấy vai tôi và hôn lên má tôi, mỗi lượt ba lần. Sau mỗi lần, tôi cố lùi rồi lại nhận ra dì ấy vẫn chưa kết thúc. Tôi cố giữ người để không bị xoay theo nhịp bên này, bên kia khi dì hôn má tôi. Tôi sợ mình sẽ chạm phải đôi môi dính đầy son của dì ấy.

“Cả nhà dì rất lo lắng cho Sylvie.” Tiếng Anh của dì ấy khá tốt, chỉ là hơi cứng ở ngữ điệu. Tôi chợt nhớ ra rằng tiếng Anh là ngôn ngữ thứ ba của dì ấy, sau tiếng Trung và tiếng Hà Lan. Dì Helena để lại mùi nước hoa nồng nặc trên người tôi. Cái mùi làm tôi cảm thấy buồn nôn.

“Tiếng Anh của dì tốt quá.” Tật nói lắp lại xuất hiện, đúng khi tôi căng thẳng và hồi hộp.

“Ở đây dì cũng có nhiều khách hàng là khách du lịch mà. Dù sao thì con cũng nên học tiếng Trung. Lukas sẽ dạy con.” Dì Helena gật đầu với Lukas, tin chắc vào sự tự nguyện của anh ấy, rồi đảo mắt nhìn khắp chiếc áo sơ mi đen nhăn nhúm và cái quần jean rộng thùng thình của tôi. “Con trông không giống chị gái của con nhỉ.” Thật kỳ lạ, có vẻ gì đó ưng thuận trong lời nói của dì ấy.

Dì Helena đẩy Lukas lại gần và anh ta cũng miễn cưỡng hôn tôi ba lần, da mặt anh ta xù xì những râu ria. Anh ta toát ra vẻ gì đó thật hoang dã và bụi bặm. Tôi nhanh chóng học được cách giữ mình bình tĩnh và đứng yên để họ thực hiện mấy nghi thức đó. Rồi tôi lại nhận ba nụ hôn nữa từ dượng Willem, khi ông giữ nhẹ vai tôi, tôi tựa hồ như một quý nhân với ông ấy.

Ai đó cất tiếng gọi, “Chào, anh Lukas!” Tôi nhìn lên và thấy một nữ tiếp viên hàng không đi ra từ cánh cửa phía sau chúng tôi. Cô ấy mặc một bộ đồng phục khác lạ và sải bước về phía chúng tôi. Cô ấy ôm chầm lấy Lukas và hôn vào môi anh ấy - ôi trời - tôi chợt để ý đến bốn vạch ngang trên cầu vai cô ấy, khi cô choàng tay qua cổ anh. Cô ấy là một phi công, không phải là tiếp viên hàng không. Cô vẫn còn đang hôn anh ấy. Thêm một lần nữa, không phải là ba nụ hôn. Cuối cùng, họ nói gì đó bằng tiếng Hà Lan với nhau, anh Lukas mỉm cười và quàng tay ôm nhẹ lấy cô ấy.

Dì Helena và dượng Willem nhìn họ, không khó chịu nhưng cũng không hài lòng. Có lẽ họ không chấp nhận một cô bạn gái không phải người Trung Quốc. Lukas khua tay hướng về tôi và người nữ phi công quay sang tôi vừa cười toe, vừa chìa tay ra. “Vậy ra em là em gái của Sylvie. Chị là Estelle.”

Cái bắt tay đầy tự tin như chính ánh nhìn của chị ấy. Chị và Lukas tạo thành một cặp đôi thật nổi bật. Màu tóc chị ấy bừng sáng gần như trắng, và khi đứng cạnh chị ấy, Lukas như biến từ một gã hoang dã xù xì thành một chàng nghệ sĩ gợi cảm, tựa hồ luồng ánh sáng từ chị ấy rọi vào anh, làm bật lên những đường nét đặc trưng ấy. “Chị vừa bay trở về từ Nairobi.”

Có gì đó rơi từ túi xách to của Estelle xuống đất và Lukas tách rời khỏi chị. Anh ấy nhặt món đồ óng ánh đó lên và đưa lại cho Estelle. Cẩn thận chứ. Cái gì này?

“Khăn trùm đầu của em. Em luôn mang theo nó đến bất cứ đâu mà em tới, để che tóc khi ở các nước Hồi giáo ấy mà. Em còn không biết khi nào mình sẽ lại cần nó nữa.” Chị ta nháy mắt với tôi khi chị nhét nó trở lại vào túi. Tôi không thể hình dung ra một cuộc sống mà lúc nào cũng phải mang những thứ như thế trong túi của mình. Có cần thiết phải giấu đi mái tóc của mình? Hay chị ấy chấp nhận nó như một lựa chọn của mình để đến đó? Chị ấy nói tiếng Anh gần như người bản ngữ, chỉ là dường như hơi tốn sức một chút để phát âm đúng.

Lukas nói với chị ấy bằng một giọng bất ổn: “Sylvie mất tích rồi.”

“Sao?” Estelle trở nên im lặng. “Anh và cô ấy cãi nhau à?”. Cãi nhau? Ánh mắt tôi đổ dồn vào chị. Chị ta nhíu mày và mím môi. Estelle nhìn chằm chằm vào Lukas, như thể đang định tội anh. Tại sao Lukas và Sylvie lại cãi nhau?

“Anh sẽ kể cho em sau.” Lukas ném cho chị ấy một ánh nhìn đầy trấn áp.

Estelle rõ ràng muốn hỏi anh ấy thêm nhưng liếc thấy nét mặt lạnh băng của dì Helena.

Tôi hỏi, “Chị biết chị của em sao?”

Giọng chị ta dần nhỏ lại, sự sôi nổi ban đầu đã biến mất. “Tụi chị là bạn thân từ thuở nhỏ cho đến khi cô ấy quay trở lại Hoa Kỳ. Và chị rất vui khi gặp lại cô ấy vào tháng trước.” Ánh mắt sắc bén của Estelle lần nữa hướng về phía Lukas.

“Bọn anh đều sống cùng một khu,” vừa giải thích với tôi, Lukas vừa tránh cái nhìn của chị ấy.

Dì Helena ngắt lời: “Tốt hơn là chúng ta nên đi ngay bây giờ. Hôm nay dượng Willem và dì vẫn phải làm việc và Amy hẳn là rất mệt mỏi sau chuyến bay dài.”

“Bác phải đi làm sao? Nhưng hôm nay là ngày Quốc Khánh mà,” Estelle nói. Tôi còn không nhận ra hôm nay là một ngày đặc biệt ở Hà Lan.

“Công việc kinh doanh của nhà bác thường bận nhất vào dịp lễ”, dì Helena nói, và tôi ngộ ra lý do tại sao dì ấy và dượng Willem lại ăn mặc trang trọng như vậy, không phải vì tôi mà là vì họ cần phải quản lý một nhà hàng Trung Hoa lớn của họ ở Amsterdam.

“Em muốn nói chuyện với anh,” Estelle nói với Lukas, giọng đanh thép. “Hãy gọi cho em ngay khi anh có thể.” Rồi quay sang tôi với một nụ cười. “Amy nè, sau khi em lấy lại sức sau chuyến bay dài, em có muốn ra ngoài ăn trưa với anh chị không? Ngày mai được chứ?”

“Dạ em rất vui ạ.” Tôi đáp lời, dù trông Lukas như nuốt phải thứ gì đó gây khó chịu. Tôi đồng ý lời mời, không phải chỉ vì chị Estelle có vẻ rất tốt bụng mà còn bởi tôi muốn tìm hiểu những gì chị ấy biết về Sylvie.

Tôi bị ních chặt vào băng ghế sau của xe cùng với Lukas, người gần như chiếm hết khí ôxy trong xe với vẻ cau có của mình. Không phải bởi thân hình, dù anh ấy khá to cao, mà là cảm giác hoang dại xung quanh anh, dường như không thứ gì mà anh ấy không dám làm. Tôi để mắt đến đôi bàn tay to của anh ấy, chốc chốc anh lại bẻ ngón tay. Nhưng khi nhìn kỹ hơn nét mặt quay nghiêng ấy, tôi tự hỏi liệu mình có nhầm lẫn giữa sự đau khổ và sự xấu tính hay không.

Tôi chuyển sự chú ý của mình ra bên ngoài. Chúng tôi đi qua những cánh đồng bị che mờ trong màn sương sớm, dày đặc đến nỗi tôi không nhìn thấy được mặt đất bên dưới. Sương mù chốc tụ rồi lại tan, đọng lại nơi các nếp oằn bên dưới bề mặt tù mù của các vật thể huyền bí. Bầu trời cáu bẩn nằm thấp ngang mặt đất, những đám mây xám xịt bồng bềnh trôi. Tôi giật thót người vì ngạc nhiên khi có gì đó như một con tàu ma lướt đi trên cánh đồng cuồn cuộn, nhưng dì Helena đã quay lại từ hàng ghế trước và giải thích, “Là con tàu chạy trên một con kênh cắt ngang qua thôi. Ở đây chỗ nào cũng có nước.”

Tôi nói, “Dạ, có hơi lạ với con khi nghĩ đây từng là nhà của chị Sylvie. Nó có hơi ma mị một chút.”

“Ma quỷ không là vấn đề gì với Sylvie đâu.” Lần đầu tiên, khẩu khí chân thật của Lukas làm cho tôi thấy có cảm tình với anh ấy. “Nhỏ đó không biết sợ là gì. Cái quái gì nó cũng làm được.”

Dì Helena nói như hát, “Ừ, Sylvie có thể làm bất cứ thứ gì và đều xuất sắc lắm.”

Đầu tôi cứ quay qua quay lại giữa họ. Bà ta đang ám chỉ điều gì? Cái gia đình điên rồ này là sao? Tôi tháo kính xuống để lau và, khi đeo trở lại, tôi thấy dượng Willem đang nhìn tôi qua gương chiếu hậu. Ánh mắt ông ta vừa dữ dội lại vừa dịu dàng. Rồi ông ấy lại tập trung vào đường phố trước mặt. Dường như ông ta có chút vấn đề về thần kinh. Có lẽ dì Helena chọn ông ta vì cái mã đẹp và chấp nhận bỏ qua mọi khiếm khuyết tâm thần. Tôi bắt đầu cảm thấy tội cho chị Sylvie khi chị ấy đã phải sống với mấy người này trong quãng thời thơ ấu của chị.

Những đám mây tối dần, và cơn mưa phùn dần gõ nhịp đều đặn hơn bên ngoài xe. Sau một hồi im lặng, tôi mạo muội hỏi, “Con nghĩ là nhà mình sống ở Amsterdam?”

Lukas giễu cợt: “Người Mỹ nào cũng nghĩ ai ở đây cũng sống ở Amsterdam chắc. Chỗ mình cách đó khoảng nửa tiếng.”

Chúng tôi đến một ngôi làng nhỏ, với những căn nhà hẹp, cũ kỹ nhưng vẫn được bảo dưỡng tốt, cao không quá ba tầng. Trông như nơi mà Hansel và Gretel từng sống, nơi trẻ nhỏ dám liều lĩnh ra ngoài và rồi bị phù thủy dụ vào nhà tranh hoặc là bị sói ăn thịt. Nhiều ngôi nhà có cột cờ ở mặt tiền và họ giương cao lá cờ Hà Lan bay phần phật trong mưa gió. Mặc dù máy sưởi trong xe đang bật nhưng tôi chợt rùng mình. Một nhà thờ cao ẩn hiện phía xa, rồi chúng tôi đi vào một nơi hiện đại hơn một chút, với những ngôi nhà có tường gạch đỏ và mái xéo.

Bánh xe cứ va vào đá làm tôi phải cố gồng để không bị nảy lên. Một nhóm bô lão trông khá khó coi với trang phục thun Lycra bó sát người, chạy vụt qua chúng tôi trên những chiếc xe đạp đua, đầu cúi rạp trước cơn mưa nặng hạt, họ tan biến nhanh vào không trung như một đàn quạ dị hình.

Chúng tôi lái xe đến một ngôi nhà nằm tách biệt và bên cạnh có một ngôi nhà nhỏ trông như từng là nhà để xe. Ngôi nhà hai tầng lớn nằm khuất sau mặt đường, những ô cửa sổ tối tăm ảm đạm bên dưới mái ngói xéo. Dượng Willem đỗ xe ở một bãi đậu xe dài.

Dì Helena nói, “Có vẻ nhỏ hơn so với chuẩn Mỹ của bên con, đúng không?”

Tôi không suy nghĩ gì về mấy thứ này. Tôi chỉ tự hỏi chị Sylvie cảm thấy như thế nào khi chuyển từ xứ sở như trong câu chuyện cổ tích Grimm này về chui rúc trong căn hộ bé tí của chúng tôi ở New York bận rộn.“Sao ạ, không –”

Dì ấy lại tiếp tục như thể tôi chưa nói gì. “Ở đây phải trả rất nhiều loại thuế. Chỉ hắt hơi thôi cũng phải trả tiền thuế. Dì sẽ mở cửa nhà. Lukas, con giúp em ấy xách hành lý nhé.” Dì mở cửa xe và đi thẳng đến căn nhà chính, đầu ngẩng cao bất chấp cơn mưa. Những cơn gió thổi thốc vào cửa ô tô, một luồng mưa ào ào trút dữ dội. Không ai rủ ai, nhưng cả ba người chúng tôi đều rúc vào trong xe, chờ đến khi cơn mưa tạnh.

“Vẫn chưa đến nỗi nào đâu.” Lukas nói. “Năm ngoái anh ở Honduras, mấy đứa nhỏ ở đó ăn mặc rách rưới chạy chân không theo xe buýt, để bán đồ ăn vặt cho khách du lịch giàu có thay vì đi học. Thuế thì cũng tốt thôi. Ở đây thậm chí còn có cả xe cứu thương cho động vật để giải cứu mấy con thiên nga bị đóng băng trên các kênh rạch vào mùa đông.”

Đột nhiên, dượng Willem quay lại, lần đầu tiên tôi nghe ông ấy nói: “Con có nhớ có lần con và Sylvie tìm thấy con chim đen đó khi con còn bé không, Lukas?” Giọng ông ta trầm và vang. Dù tiếng Anh của ông ấy nghe hơi nặng, nhưng bù lại ông ta nói chậm và rõ ràng. Vậy ra, ông ta không phải là một kẻ đần độn - ý nghĩ khi đó đã để lại trong tôi nỗi sợ sệt và ác cảm đối với ông ta. “Một con mèo đã tấn công nó. Hai đứa đã gọi xe cứu thương cho động vật vào tối muộn mà không nói với ai, và trước cả khi ba mẹ biết chuyện, một chiếc xe lớn màu trắng đã dừng ngay trước cửa nhà mình, hàng xóm ai nấy cứ nhìn vào nhà mình từ cửa sổ.” Ông lắc lắc ngón tay trêu đùa với Lukas.

Lukas cười toe. “Ba cũng cuồng động vật như Sylvie còn gì. Khi ba phát hiện ra, ba đã đổ đầy cơm vào hộp của nó, tụi con còn sợ nó sẽ không thể thở được nữa kìa. Sylvie lại còn đuổi con mèo đi. Em ấy đã rất lo lắng cho con chim đó, và cứ nói mãi ‘Nó cần mẹ của nó, nó cần mẹ của nó.’ Tụi con đã đi tìm cái tổ của nó cả mấy tiếng mà không thấy. Con vẫn nhớ người đàn ông mặc bộ đồ trắng. Ông ta mang con chim đen đi trong một cái lồng và ngày hôm sau, họ thông báo rằng nó đã ổn. Nó đang được chăm sóc bởi một con chim mẹ khác có một đàn con cùng là chim đen và sẽ được thả khi đã chữa lành hoàn toàn. Ba đã nói với Sylvie, ‘Đừng lo nữa, giờ nó đã có mẹ mới rồi.’”

Bao nhiêu khoảnh khắc như thế này mà tôi chưa từng được biết? Sự tàn nhẫn của cuộc đời Sylvie đã chịu trước tôi chính là những cái ngáp dài ngao ngán phục dịch tôi như trong địa ngục. Chị ấy có một gia đình khác, là những người xa lạ mà tôi đang gặp gỡ. Trong một giây, tôi ước gì bố tôi giống như dượng Willem, sành điệu và nhanh miệng, người có thể đùa giỡn với con cái của mình.

“Cô ấy có thú cưng nào ở Mỹ không?” Lukas hỏi, nhưng không nhìn tôi, có vẻ như anh ta ngại.

“Chị ấy vẫn rất yêu động vật,” tôi nói, với sự nhiệt thành hơn cả dự tính. Nhưng cho dù có bao nhiêu câu chuyện về xe cứu thương động vật mà họ kể, chị Sylvie vẫn là của tôi. Tôi hiểu chị ấy hơn bất cứ ai. “Nhưng, chị ấy và anh Jim không nuôi con vật nào cả vì anh Jim bị dị ứng với mọi thứ.”

Lúc này, mặt Lukas nhăn lại. “Tiếc nhỉ. Trời trông có vẻ sáng hơn một chút rồi. Anh sẽ mang vali cho em.”

Khi bước ra ngoài, tôi kéo chiếc áo khoác quanh mình lại chặt hơn. Cơn bão đã biến ngày thành đêm. Trời lạnh như băng vào tháng năm. Gió ở đây mang một cảm giác khác, buốt thấu hơn, xuyên thủng cả cái kén ấm mỏng manh tôi vừa có được khi còn trong xe. Chúng tôi cùng chạy vào nhà. Dì Helena chỉ bật một vài bóng đèn, cảm giác còn lạnh lẽo hơn cả thời tiết ảm đạm bên ngoài. Tôi nhìn vào chỗ cầu thang tối, có những bậc thang nhỏ như chỉ vừa nửa bàn chân bình thường. Phòng khách âm u và nhạt nhẽo, như thể ai đó lượm lặt mấy kiểu bố trí từ các tạp chí qua các thập niên khác nhau rồi sao chép chúng một cách ngẫu nhiên. Các bức tường hiện đại với màu xám đen, không ăn nhập gì với sàn đá cẩm thạch màu vàng cam. Một chiếc ghế sofa da màu nâu chiếm lĩnh căn phòng, gớm ghiếc và ngặt ngõng, đi kèm là hai chiếc ghế bành thanh lịch đối diện với chiếc bàn gỗ á phiện kiểu Trung Quốc truyền thống. Chẳng có cái nào hợp với nhau cả, dù giá trị của từng món quá rõ ràng. Dượng Willem bật thêm nhiều đèn hơn và tôi nhìn thấy hình ảnh phản chiếu của mình trên cửa sổ, nhợt nhạt và hốc hác, không khác gì một miếng giẻ rửa bát cũ mèm.

Ảnh của Lukas được đóng khung ở khắp nơi - rất điển trai, giờ tôi có thể nhìn thấy khuôn mặt của anh ấy khi không có râu tua tủa nữa. Đôi mắt đen với hàng mi dài ma mị, những nét đẹp thừa hưởng từ bố. Trẻ trung, cao ráo. Estelle và Lukas cùng cười nhìn vào máy ảnh, như hai người mẫu tuổi teen đang tạo dáng quảng cáo cho nước hoa. Anh Lukas, nhỏ bé và gầy, sún vài cái răng, mặc một chiếc quần bơi và giơ một mảnh giấy có chữ “A” lên. Một bức ảnh gia đình của dì Helena, dượng Willem và Lukas đứng trước tháp Eiffel. Tất cả đều nheo mắt nhìn về phía ánh sáng mặt trời cứ như thể bị khiếm thị. Một tấm ảnh cưới chụp trong studio của dì Helena và dượng Willem: Dì Helena tươi trẻ trong bộ váy cưới xếp tầng đang ngồi và dượng Willem lúng túng choàng tay ôm lấy dì. Một cái giỏ nhỏ đựng đầy những những mảnh giấy gấp hình tam giác y hệt nhau nằm bên cạnh một tác phẩm giấy tạo hình một sinh vật đang lỡ dở một nửa - một con rắn hổ mang cuộn tròn, có lẽ vậy.

Tôi tìm ảnh của Sylvie nhưng không thấy gì cả: chỉ có một tấm ở đằng kia, một ngón tay nhỏ đặt trên vai Lukas; ở nền bức ảnh, một lọn tóc đen vắt trên chiếc áo khoác màu tím; một phần của đầu gối, cạnh bên chân của Lukas. Ảnh của chị Sylvie đã cố tình bị cắt bỏ, không còn gì ngoài chỏm tóc lơ lửng và một bàn tay cắt rời. Trong nỗi chua xót đến đớn đau, tôi nghĩ, Sylvie ơi, đây có phải là tổ ấm mà chị hằng mong đợi?

Tít cuối phòng khách, một bộ bàn ăn dài và thô kệch, trông như bị bắt vít chặt xuống sàn nhà. Dì Helena đang tất tả trong nhà bếp, ở đó tôi thấy có bàn thờ bà ngoại. Tôi chắp hai tay lại và cúi thấp đầu. Bát hương đầy tàn tro. Rốt cuộc, cũng có thứ gì đó tôi có thể nhận ra ở đây.

Khi tôi sắp xếp đồ đạc, dì Helena nhìn tôi với vẻ ưng thuận. “Để dì chỉ cho con phòng của con.”

Dù bàn chân nhỏ, tôi vẫn cẩn trọng khi leo lên những bậc thang nông. Mấy cái túi của tôi đã biến đâu mất, nghĩa là có ai đó đã mang chúng lên tầng, tạ ơn trời. Phòng ngủ của dì Helena và dượng Willem cũng ở trên tầng hai, cùng với phòng tắm chính và một căn phòng nhỏ chứa đầy những hộc tủ và hộp. Có một căn phòng khác thoang thoảng mùi thuốc, phòng của một người già. Theo phản xạ, tôi biết đây hẳn là phòng của bà. Một móc chìa khóa trống và vài thứ đồ Trung Quốc là tất cả những gì còn sót lại - một bức tượng phật Quan Âm Bồ Tát, thanh thản ngồi trên tòa hoa sen, đặt trên một bàn thờ nhỏ treo trong góc. Một chuỗi hạt bằng gỗ sáng bóng, giống những cái mẹ hay đeo, nằm trơ trọi bên cạnh giường. Dì Helena dừng lại ở bậu cửa và tôi nhìn thấy nét mặt đau buồn của dì. Dì vòng tay ôm lấy mình như thể đang lạnh.

Bất giác, tôi chạm vào vai dì ấy. “Con rất tiếc vì bà đã mất. Dì chắc hẳn yêu thương bà rất nhiều.”

Ngạc nhiên, dì chớp mắt nhanh trước khi kéo tôi đi chỗ khác, nhưng nụ cười của dì ấy dành cho tôi là thật. “Đúng là, con khác hẳn với chị gái của con. Cảm ơn con, Amy.”

Tôi đặt chân lên gác mái, nơi có lẽ đã từng là phòng của anh Lukas. Tôi có thể nghe thấy tiếng mưa rơi trên mái ngói bên ngoài. Không khí có mùi ẩm mốc. Không gian khá rộng vì nó trải dọc theo chiều dài của ngôi nhà, và nó đã được dọn sạch sẽ. Chiếc giường được phủ một tấm drap màu xanh lá cây. Tôi thấy hành lý của mình đặt bên cạnh một chiếc bàn đơn sơ và bộ ghế kiểu văn phòng bên dưới cửa sổ tầng mái, nơi những tia sét cứ liên tục chớp sáng bên ngoài.

Tôi rùng mình. “Đây có phải là chỗ mà chị Sylvie từng ở không ạ?” Khi dì Helena gật đầu, tôi chậm rãi nhìn xung quanh. Không có một dấu vết nào của chị ấy. Tôi đã hy vọng sẽ tìm được thứ gì đó của chị. “Đồ đạc của chị ấy đâu hết rồi ạ?”

Dì Helena nhún vai thờ ơ. “Nó đóng gói hết mọi thứ và mang theo rồi. Đó là lý do tại sao mọi người ở đây đều nghĩ nó đã bay trở lại Mỹ. Với lại, nó gần như lúc nào cũng ở nhà của Lukas. Dì nghĩ con bé thích ở đó hơn.”

Mặc cho những khoảnh khắc thân mật trước đó, tôi vẫn bị dì Helena khêu tức. Dì ấy đang cố ám chỉ điều gì? Tôi quay mặt đối diện với dì ấy. “Lạ thật, chị Sylvie không phải người hay phàn nàn.”

Nụ cười của dì Helena làm tôi nghĩ đến cái nhếch môi của một con rối, gượng ép và giả tạo, đôi mắt vẫn giữ nét lạnh lùng. “Uhm, nó cũng đang tập đàn cello suốt ngày đêm. Thế thì phiền hà lắm. Mọi người quyết định tốt hơn là nó không nên ở đây suốt.”

Tôi chớp mắt. Có phải chúng tôi đang nói về cùng một người? “Chị Sylvie không chơi bất kỳ nhạc cụ nào. Chị ấy chưa bao giờ hứng thú với âm nhạc.”

Tiếng sấm giật đùng đùng và dì Helena bước đến kéo các rèm che lại. Dì ấy giật mạnh cái rèm cửa bằng lực nơi cổ tay. “Con bé bắt đầu học khi qua đây - đương nhiên là với một thầy giáo dạy nhạc điển trai. Đẹp trai thì chẳng hại gì, đúng không? Đó là bạn cũ của Lukas. À mà không, nó có tập tành được gì đâu. Nó ghê lắm.” Bà ta bật cười, vẻ ngạo nghễ thật kém hài hước.

Tôi lắp bắp, “Nhưng chị Sylvie đã kết hôn rồi…” Sau đó, tôi chợt nhớ chị ấy đã ly thân với anh Jim. “Dù sao thì, chị ấy cũng chưa bao giờ như thế với đàn ông.” Chị Sylvie là người không để tâm đến mấy gã đàn ông, luôn tập trung cho những dự án lớn tiếp theo của mình. Có lần tôi đến muộn trong một bữa tiệc của đồng nghiệp chị ấy, ngượng ngùng bước vào căn phòng chật cứng người và tôi thấy chị đang ngồi trên một chiếc ghế dài, bị vây kín bởi những gã trai mến mộ chị. Chị Sylvie cười rạng rỡ, lao tới, luồn cánh tay chị vào tay tôi, và rồi chúng tôi vụt lướt đi mà không thèm liếc nhìn họ lấy một cái.

Dì Helena bước về phía cửa và đứng tựa vào khung. Dì gõ gõ ngón tay vào má mình. “Trái tim con còn quá rộng lớn và…” - tôi đoán chắc bà ấy định thốt ra chữ ngu ngốc, nhưng thay vào đó bà ta chọn - “… ngây thơ. Con nên cẩn thận. Mọi người sẽ lợi dụng con.” Rồi với một nụ cười giả tạo trên môi, bà ta quay bước đi.

Sau khi bà ta rời đi, tôi đổ gục xuống ghế và suy nghĩ về những gì bà ấy nói. Cơ thể tôi toát mồ hôi lạnh. Tôi lấy tay trái chà vào trán ba lần, như bao lần mẹ bảo tôi làm, để xua đuổi những lời nói của dì ấy, và tôi nhận ra tay mình đang run rẩy.

Ai có thể lợi dụng tôi, chính dì ấy hay ai khác trong gia đình này? Hay dì ấy ám chỉ chị Sylvie? Và vụ Sylvie chơi đàn cello là cái quái gì chứ?

Liên Thảo dịch
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.