Thứ Sáu, ngày 6 tháng 5
Bố tụi nhỏ và tôi lặng lẽ nghĩ về sự vắng mặt của hai cô con gái, quay quắt nơi đáy lòng sự trống rỗng đến ngã quỵ. Không ai trong chúng tôi muốn lên tiếng cho những suy nghĩ tiêu cực của mình.
Amy đáng thương có vẻ quẫn trí khi con bé gọi cho tôi từ Hà Lan. Để hiểu tiếng Anh của con bé qua điện thoại còn khó hơn bình thường rất nhiều và tôi đã phải gồng hết sức để theo kịp cuộc hội thoại.
Tôi hỏi con bé, “Dì Helena và chồng thế nào?”
“Họ có một chút lạ mẹ à. Dì Helena rất tốt với con, nhưng đôi khi, con không chắc dì ấy cảm thấy thế nào về Sylvie. Và con không thể rõ về dượng Willem.”
“Tại sao không thể?”
“Có vẻ như ông ta nhìn trộm con quá nhiều, khi ông ấy nghĩ con đang không để ý.”
Tôi nín thở. Rồi khẽ cười. “À, tất cả cô gái trong làng đều nghĩ dượng ấy rất điển trai.”
“Đó không phải ý con muốn nói.” Amy hạ giọng. “Mẹ, mẹ có biết gì về gia bảo không?
Tôi cẩn thận nói bằng thứ Anh ngữ vô dụng của mình, từ lâu tôi đã không sử dụng đến, “Ý con là sao?”
“Dì Helena đang nói về số nữ trang vô cùng quý giá mà dì nghĩ bà đã từng có. Có một vụ trộm và sau đó nó biến mất. Dì Helena dường như nghĩ rằng nó có liên quan đến Sylvie”.
Helena dám buộc tội con gái tôi một điều đáng xấu hổ như vậy. Nhưng nếu Sylvie lấy số nữ trang - không phải đánh cắp, vì mẹ tôi nhất định sẽ trao nó cho con bé - điều đó có nghĩa là con bé vẫn ổn. Cơn thịnh nộ và sự hy vọng như đối chọi trong tôi. Có lẽ Sylvie đang lấy lại bình tĩnh và rồi con bé sẽ xuất hiện trở lại, như đức Phật bà Quan Âm hiện thân trên mặt hồ vấy bùn, vẻ đẹp của một đóa sen vươn mình khoe sắc nơi nhơ nhuốc.
“Có vài thứ,” tôi nói. “Nhưng đã nhiều năm kể từ khi mọi người thấy nó. Mẹ không biết nếu nó vẫn còn. Có lẽ bà đã bán nó.”
“Dì Helena nói rằng dì đã thấy nó. Mẹ có nghĩ có khi nào chị Sylvie đã lấy nó?” Amy giọng khờ khạo và non nớt, như một con thú con cố với lấy mẹ. Giá như tôi có thể nói với con bé rằng, xa đáo sơn tiền tất hữu lộ, thuyền đáo kiều đầu tự nhiên trực - xe đến trước núi ắt có đường, thuyền đến đầu cầu tự nhiên sẽ xuôi dòng.
Thay vào đó, tôi lại nói, “Hãy thử tìm hiểu. Nếu gia bảo vẫn còn đó, bà sẽ đưa nó cho Sylvie. Sẽ ổn thôi. Không phải lo lắng.”
Sau khi cúp điện thoại, tôi nghĩ về số vàng ấy. Tất nhiên Helena muốn có được món nữ trang đó hơn bất cứ thứ gì. Chúng tôi là chị em họ xa chưa bao giờ gặp nhau cho đến khi cô ta trở về từ Hà Lan với cha mẹ giàu có. Một số người tâng bốc tôi và gọi tôi là hoa khôi của làng, nhưng Helena có thứ giá trị hơn cả: con đường xuất ngoại. Bất cứ người đàn ông nào kết hôn với cô ta sẽ có thể rời khỏi Trung Quốc và mang cả gia đình anh ta theo, từng người một. Cô ta như một sợi dây cứu sinh. Cô ta không gặp trở ngại gì trong việc tìm một người chồng ở đó.
Helena hẳn không cần số vàng đó vì giá trị của nó. Cô ta đã có đủ của cải của riêng mình. Cô ta muốn giành nó để chọc tức tôi, cướp thứ gì đó của tôi từ mẹ. Cô ta đã có bà ấy chăm sóc cho cậu con trai của mình ngần ấy năm - chẳng phải là ăn cắp tài sản của tôi hay sao? Món nữ trang đó đã được truyền lại trong gia đình tôi từ mẹ sang con gái, được giấu kín qua suốt các thời chiến, gom góp qua nỗi đau và cái chết.
Tôi đã nhìn thấy nó từ lâu và chợt nhớ lại: ngọc bích quý, đã chuyển xanh hơn và nổi bật hơn trên da của người chủ sở hữu đích đáng; vàng ròng hai mươi bốn cara, nguyên chất, không giống như bạc, bị chê bỏ vì xỉn màu. Loại vàng đó quá mềm bởi độ tinh khiết của nó, quá mỏng manh để trụ lại được ở thế giới này. Giống như mẹ và tôi, nó thuộc về thời đại đã qua. Sức mạnh của nó là ở khả năng uốn cong, nhưng nó có thể cầm cự được bao lâu trước khi đứt gãy mãi mãi?