Đi Tìm Sylvie Lee

Lượt đọc: 104 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 25
Sylvie

❊ ❊ ❊

Thứ Hai, ngày 25 tháng 4

Ngôi nhà trống trải một cách kỳ lạ khi tôi và Lukas mở cửa trước - chiếc áo choàng mà Isa thường treo trên giá đã biến đi đâu mất? Có lẽ chị ấy ở hiệu thuốc. Lukas và tôi rón rén bước lên lầu, lo sợ Bà thức giấc. Tôi nắm chặt món quà cho bà trong tay, một chiếc móc khóa bằng vàng trắng và chìa khóa Murano. Cánh cửa phòng bà để hở. Tôi đẩy mở nó và một cơn ớn lạnh đột ngột quét qua. Giường của bà đã được dọn sạch và trống không. Thuốc men và bình ôxy cũng biến mất. Không, không thể nào. Nếu có chuyện không hay xảy ra, dì Helena và dượng Willem hẳn phải gọi cho chúng tôi.

Lukas đứng khựng. Sau đó, anh gọi vọng xuống cầu thang, “Mẹ ơi, bố ơi! Bà đâu rồi?”

Dượng Willem ló ra từ phòng ngủ của họ, râu ria lởm chởm, vẫn trong bộ đồ ngủ.

Có gì đó không ổn. Tôi gần như không thở được. Tôi ấn khớp ngón tay vào lồng ngực nhói đau. Giọng tôi the thé và khin khít. “Dì dượng đưa bà đến nhà an dưỡng rồi sao?”

Ông ta lắc đầu, đôi mắt đỏ sưng húp đủ nói lên tất cả. Lukas thều thào, “Không.”

Tôi ghì chặt bên trái đầu như để bịt tai lại, như để ngăn lời xác thực của ông ấy về những gì tôi đã nhận ra. Hơi thở nghẹn lại trong lồng ngực. Tôi lảo đảo lao vào phòng ngủ của bà, nhưng hai đầu gối khụy xuống và tôi va vào khung cửa, chiếc chìa khóa thủy tinh ghim sâu vào lòng bàn tay. Tôi loạng choạng tiến về phía trước cho đến khi ngã sấp xuống, đôi cánh tay sõng soài trên giường bà, nơi tôi đã trò chuyện với bà chỉ vài ngày trước. Chiếc chìa khóa rơi ra khỏi những ngón tay cứng đờ của tôi, đập xuống sàn gỗ và vỡ tan. Tôi úp mặt vào chiếc khăn trải giường đã từng ủ ấm cho bà, nó vẫn còn đây trong khi bà của tôi đã mất, và tôi bật khóc nức nở.

Chiếc giường khẽ rung bật, một sức nặng quằn xuống bên cạnh, và Lukas đang vuốt vuốt lưng tôi. Anh nghẹn ngào, “Ôi, Sylvie.” Tội nghiệp Lukas. Bà đã chăm sóc cho anh cả phần đời.

Lukas sụt sịt, và tôi vực người dậy để đón anh vào lòng. Chúng tôi ôm nhau khóc trong cơn đau quằn quại đến khôn xiết.

Rồi cánh tay dượng Willem choàng lấy cả hai và tôi cứng đờ người. Mùi mồ hôi tỏa ra từ ông ta, sự ấm áp của da thịt lộ rõ qua bộ đồ ngủ mỏng manh. Một cái ôm quá thân mật và tôi cố né đi.

Lukas hỏi, gương mặt anh đẫm lệ, “Chuyện như thế nào? Tại sao ba mẹ không gọi cho chúng con?”

Dượng Willem đứng thẳng dậy và cào xới mái tóc rối bời của ông. “Bà đã yêu cầu thủ tục trợ tử ngay khi các con đi. Bà không muốn hai đứa biết. Đừng tự trách mình. Bà đã định sẵn như vậy. Đó là những gì mà Bà muốn.”

Trước những lời vừa nghe thấy, tôi úp mặt vào tay. Bà không muốn tôi ở bên cạnh. Ngay cả lúc cuối đời bà cũng từ chối tôi. Bà mất khi chỉ có dượng Willem và dì Helena ở bên. Tôi đã mang cả Lukas của bà đi cùng. Vì tôi, mà bà ra đi trong đơn độc.

Lukas rền rĩ, “Nhưng chúng con không nói được lời từ biệt với bà.”

Dượng Willem giơ tay lên hồ như muốn an ủi chúng tôi một lần nữa, nhưng rồi ông thay đổi suy nghĩ, và lại buông thõng tay. “Bà muốn ra đi theo cách nhẹ nhàng nhất có thể. Bà đã tính đến điều này từ mấy tháng trước với bên ủy ban trợ tử khi bà biết bà đã mắc bệnh nan y.”

Tôi cố dò hỏi, “Chuyện đã xảy ra như thế nào?”

“Rất thanh thản. Các thủ tục bắt đầu ngay khi tụi con đi. Hai bác sĩ đã đến vào ngày hôm qua - một là bác sĩ riêng của bà và một từ ủy ban. Họ nói chuyện riêng với bà để chắc chắn rằng bà làm điều đó một cách tự nguyện, không bị ép buộc, và trong tình trạng tỉnh táo và minh mẫn.” Dượng Willem xoa xoa sau gáy tai, chứng co giật cơ mà ông ta mắc phải.

Hôm qua ư, khi tôi và Lukas đang quay cuồng trong điệu nhảy và đắm say trong cái hôn, khi tôi đang vui đùa với chúng bạn. Tôi gần như không thể thốt nên lời. “Có nhanh không?”

“Hai mũi tiêm. Một mũi để cho bà chìm vào giấc ngủ và một để làm tim ngừng đập. Bà không đau đớn gì cả. Bà đi rất thanh thản.”

Một giọng nói cáu gắt và nặng nề phát ra từ phía cửa. “Chơi bời ở Venice thích quá nhỉ?” Là dì Helena, đôi mắt bà ta ngầu đỏ, làn da tái nhợt nhạt, quai hàm nghiến lại như đang kìm nén cơn tức giận và nỗi đau buồn.

Lukas nói, giọng anh vỡ òa, “Mẹ, tụi con không biết gì. Nếu biết, tụi con sẽ không bao giờ đi.”

Bà ta đến bên giường ôm lấy Lukas. “Mẹ không trách con.”

Đôi mắt bà nhìn tôi. Tôi hiểu rõ bà ta muốn ám chỉ ai.

Tôi khao khát có thể ôm ngoại của tôi một lần nữa hoặc một thứ gì đó thuộc về bà. Tôi nhìn quanh căn phòng trống. “Tasha đâu rồi?”

“Ai cơ?” Dì Helena hỏi.

Tôi thều thào, “Dì biết mà. Con búp bê mà Bà đã may cho con. Nó được đặt trên bàn cạnh giường khi con đi.”

Bà ta nhún vai. “Chắc ta đã lỡ tay ném nó đi rồi.”

Tôi giật thót như thể vừa bị bà ta đánh. Tôi ấn nắm đấm vào miệng như để không bật ra tiếng khóc. Cả Tasha và bà đều ra đi. Giống như ngày tôi rời khỏi Hà Lan, bỏ lại tất cả những người tôi yêu thương. Tôi chợt hiểu ra, cũng chính dì Helena đã lấy Tasha đi. Thật nhẫn tâm khi làm thế với một đứa trẻ. Bà ấy biết tôi đã có số gia bảo của ngoại nên đã đánh cắp Tasha từ tôi. Lukas quay qua lại giữa chúng tôi và chìa tay ra cho tôi nhưng tôi đứng phắt dậy. Nếu anh ấy chạm vào tôi, tôi sẽ lại suy sụp mất, tôi không muốn mình như thế trước mặt người phụ nữ này, người luôn ghét cay ghét đắng tôi.

Tôi loạng choạng bước ra khỏi phòng và để nỗi đau buồn chiếm ngự khi một mình trên gác mái.

Venice như một giấc mơ đẹp nhưng giờ tôi lại phải đối mặt với thực tế. Bà đã không còn. Những vật dụng của bà cũng đã bị vứt đi hoặc bị giấu ở đâu đó và dì Helena sẽ không bao giờ cho tôi đụng tới chúng. Tasha, con búp bê mà bà đã tự tay làm cho tôi, đã bị ném vào thùng rác. Tôi đã không ở đây vì bà trong suốt những năm qua và cũng không có mặt để ôm bà khi bà mất.

Tôi nằm lì trên giường cả ngày lẫn đêm. Tôi gửi tin nhắn cho Filip xin hủy bỏ phần còn lại của lịch học. Lukas cố gặp tôi, nhưng tôi không để anh ấy vào. Tôi yêu anh, nhưng chúng tôi không thể tiến xa hơn. Tôi đã cháy hết mình. Tôi đã tận hưởng thời gian của chúng tôi ở Venice: niềm khao khát, cảm thức về anh, làn da, mùi hương, sự đụng chạm của anh… Nhưng sau những đam mê đó, sự phản bội dường như là tất yếu. Tôi biết ham muốn này sẽ dẫn tôi đến gần hơn với bờ vực, với cám dỗ của số phận. Tôi đã lao xuống và suýt chết tự bao giờ. Tôi không chắc mình đã hành động ra sao. Nỗi thống khổ đã ăn mòn thân xác và tôi không thể chịu thêm bất kỳ một tổn thương nào nữa với trái tim xước sẹo của mình.

Estelle để lại tin nhắn cho tôi, nhưng tôi không trả lời. Tình bạn đã khiến tôi thảm hại. Theo một cách nào đó, tôi đã giận cả ba người họ vì đã lôi kéo tôi đến Venice, dù tôi biết đó là lỗi của chính mình. Hơn nữa, tôi cũng đã phá nát mối quan hệ giữa tất cả.

Khi tôi bình tâm lại, tôi gọi cho mẹ và nói với mẹ rằng Bà đã mất. Mẹ nức nở khóc, từng tiếng nấc đâm vào những yếu điểm trong tôi. Tôi không dám nói với mẹ rằng tôi đã không ở cạnh bà lúc cuối đời. Tôi đã không thực hiện được mục đích ban đầu của tôi khi quay lại Hà Lan. Khi Amy nói qua điện thoại, tôi đã dặn con bé, “Chăm sóc mẹ giúp chị.” và con bé đã đồng ý, “Em hứa.”

Hai hôm nữa là Ngày của Vua, là sinh thần của Quốc vương Willem Alexander. Dù chỉ ở trong nhà, nhưng tôi thừa biết đám người Hà Lan sẽ mặc lên mình những bộ đồ màu cam neon lòe loẹt, ăn mừng và uống rượu bia linh đình khắp cả nước. Bọn họ vẽ cờ Hà Lan lên mặt; khoác khăn choàng màu cam và đeo những chiếc kính râm to oạch có dòng chữ KING; họ đội những chiếc mũ có thể đựng cả lít bia, với một ống dẫn để có thể hút chúng xuống miệng. Đây là dịp để những người Hà Lan luôn sống trong khuôn phép có thể lơi lỏng và bung xõa. Nhiều người tiết kiệm cả năm chỉ để dành tiệc tùng cho ngày này. Thật là một ngày tệ hại để khóc thương cho những tang tóc.

Khi tôi còn nhỏ, nó được gọi là Ngày của Nữ hoàng, vì lúc đó Nữ hoàng Beatrix vẫn còn trị vì. Bà đã từng rất thích ngày lễ này. Đó là một ngày trong năm khi mọi người có thể bán những món đồ cũ của họ trên đường phố, mà không cần bất kỳ loại giấy phép nào. Bà sẽ đánh thức tôi và Lukas thật sớm để ra khỏi nhà vào lúc bảy giờ sáng.

“Nhanh lên nào, không thì chẳng còn đồ tốt đâu.” Bà giục. Bà mang theo cả chiếc xe đẩy lớn của mình cùng với chúng tôi. Quảng trường ở trung tâm bỗng trở nên khác lạ, đông nghịt những trẻ em cùng bố mẹ đang co ro trước những cơn gió buổi sáng sớm, mỗi hộ sẽ trải một tấm bạt và đổ đống lên đó nào là đồ chơi cũ, sách, ấm trà, và cả xe đạp. Nhiều người đang nhấm nháp cà phê trong khi mắt lim dim, họ vận lên mình những chiếc áo và mũ màu cam chói lóa. Bà rất thích mua những món hời và sẽ ghé lại ở từng quầy hàng. Bà cũng luôn cho Lukas và tôi một ít tiền để tiêu xài - năm mươi xu cho bộ trò chơi ráp hình, một hào florin[1] cho một chiếc xe đồ chơi. Thỉnh thoảng người ta cũng bán bánh quy hoặc bánh nướng còn nóng hổi. Lukas luôn tiêu hết sạch tiền ngay cho những thứ như viên bi, khủng long bằng nhựa, bộ trò chơi Lego, còn tôi thì thích để dành tiền của mình, biết thừa rằng tôi có thể sẽ tìm thấy thứ gì đó đắt hơn. Chính tại những khu chợ trời trong Ngày của Nữ hoàng, tôi đã mua những cây nến thơm mùi hoa oải hương và những tách trà tao nhã cho Bà, dì Helena và dượng Willem. Mặc cho nỗi sợ dì Helena vẫn đeo bám, tôi vẫn yêu và cố gắng hết sức để làm hài lòng dì ấy. Bà mua cho chúng tôi những cốc socola nóng hổi hoặc những chiếc bánh quế caramen ấm nóng vừa mới ra lò để nhóp nhép khi chúng tôi đi mua sắm. Bà sẽ chất đầy xe đẩy với những tượng vũ công ba-lê bằng sứ, đồng hồ bằng đồng, ly thủy tinh, rồi chúng tôi sẽ cùng nhau đi bộ về nhà, Lukas sẽ đẩy xe, còn bà và tôi đi theo sau, tung tẩy tay trong tay.

Trước khi bà mất, tôi đã nói chuyện với bà về luật chôn cất ở Hà Lan và về nguyện vọng của bà. Chuyện này chẳng giống người Trung Quốc chút nào. Chúng tôi không muốn nói một cách quá cởi mở về cái chết, nhưng tôi muốn chắc chắn rằng mọi thứ sẽ được thực hiện theo những gì bà tâm nguyện, chứ không phải theo ý muốn của dì Helena.

“Sao cơ? Bọn họ có thể đào mộ bà lên sau mười năm? Rồi sau đó đem ném xương cốt đi?” Điều này không thể xảy ra với bà. Ở Trung Quốc, nơi chôn cất là một điều vô cùng quan trọng. Nhà nhà tranh giành nhau những chỗ tốt nhất trên núi cho những người thân yêu của họ vì đó là nơi duy nhất có phong thủy tốt. Theo cách này, người ta tin rằng, những người quá cố có thể tiếp tục ban phước lành cho những người còn sống. Sinh khí của gió, nước và đất hòa hợp ở đó. Bà lắc đầu. “Thật man rợ.”

“Phong tục ở đây rất khác. Luật chôn cất cần phải được thay đổi ở Hà Lan và cả trong những nghĩa trang vì dân số quá đông đúc. Chẳng có đủ chỗ nữa. Họ thường không cho phép gia hạn sau mười năm.”

Bà tựa lưng vào gối, má và mắt trũng xuống, trầm mặc. “Con quyết định đi, Sylvie.”

Một cơn đau lướt qua khi nghĩ về cái chết của bà. Nó đã đến rất gần đến vậy sao? Tôi phải tự vực mình dậy. Điều quan trọng nhất là bà vui. “Con không thể làm điều đó, ngoại ơi. Việc này rất trọng đại. Con muốn nghe mong muốn của ngoại. Cũng có khả năng một ngôi mộ thiên nhiên. Nghĩa là ngoại sẽ được đặt ở đâu đó trong thiên nhiên, không có bia mộ. Nhiều người Hà Lan thích lựa chọn này.”

Bà giận dỗi và phẩy tay yếu ớt. “Không tên và bị lãng quên trong mớ bùn lầy của đất nước này à? Ngoại không muốn đâu.”

Tôi nén một nụ cười. “Chúng con có thể cố đưa ngoại đến một vùng đất khác.”

Bà ngồi thẳng dậy, tôi đặt một cái gối sau lưng để bà không bị mỏi. “Ở đâu? Đến nước Mỹ, nơi mà ta chưa từng đến bao giờ? Hay trở về lại Trung Hoa? Không, ngoại đã đi quá lâu rồi. Ngoại muốn bay tự do, như phượng hoàng. Ngoại muốn gặp lại ông của con. Rồng và phượng, âm và dương, nam và nữ. Cái chết rồi sẽ như mây trôi nước chảy: tự nhiên, đẹp đẽ, tự do.” Giọng bà như lạc đi. Sự kích động đã khiến bà đuối sức.

Tôi nắm lấy tay bà trong đôi tay của mình. Hạnh phúc biết bao khi bà vẫn ở bên chúng tôi. Tôi trân trọng từng khoảnh khắc bên bà, bất kể hỉ nộ thế nào. Tôi hắng giọng để nuốt trôi cơn khản đặc. “Ngoại có muốn hỏa táng không?” Đây là cách mà tôi muốn cho bản thân mình. Nó tốt cho thân thể này.

Bà suy nghĩ một lúc rồi khẽ gật đầu. “Đúng rồi. Ta là một phụ nữ hiện đại. Các nghi lễ phải phù hợp với nơi mà chúng ta đang sống. Thầy phong thủy già của chúng ta chắc sẽ khốn đốn lắm nếu sống ở châu Âu.”

Trong ngày tang lễ của bà, chúng tôi lái xe qua một khu đất rậm rạp để đến một tòa nhà một tầng hình chữ nhật dài, trông như một khối bê tông giữa một đồng cỏ bằng phẳng. Tháng tư thật ngọt ngào nhưng lại vận một chiếc khăn tang trắng. Mặc cho những ngày đầu mùa ấm áp, ngày hôm nay lại hóa ngày lạnh lẽo nhất trong năm, gần như chạm tới đỉnh cực của mùa đông hơn bất cứ sự tái sinh nào của mùa xuân. Bầu trời trải dài đến đường chân trời, xám và trong, như màu mống mắt của một con ngươi không bao giờ chớp. Khi tôi và Lukas bước ra từ ghế sau xe, hơi thở chúng tôi hóa sương mù. Chúng tôi rét buốt như những con cừu vừa bị tỉa sạch lông.

“Ít nhất bà cũng sẽ vui vì trời khô ráo,” Lukas nói, hơi thở của anh bay biến vào trong không khí như một bóng ma.

Bà luôn mang theo một chiếc ô lớn hơn cả bà vào những ngày mưa. Bà ghét thời tiết ẩm ướt lạnh lẽo. Những phụ huynh khác thường để ý, họ chờ đợi lúc bà sẽ bị gió bốc lên như một chiếc trực thăng giữa bão tố. Cả Lukas và tôi đều chui lọt bên dưới chiếc ô đồ sộ đó. Anh ấy luôn là chàng trai cao khỏe nên đã giúp bà giữ nó khi tôi nắm chặt tay bà ở phía bên kia.

Chúng tôi bước vào sảnh lễ tân, nơi những vị khách đang đứng đợi. Trước sự ngạc nhiên của tôi, Oma và Opa đã có mặt ở đó. Tôi đã hoàn toàn quên mất họ. Oma giật mình khi nhìn thấy tôi. Tôi nghĩ bà ấy cũng không ngờ sẽ gặp tôi. Đã quá nhiều năm. Họ từng đến thăm chúng tôi từ Bỉ vào mỗi dịp sinh nhật và những ngày lễ lớn. Khi dì Helena ngày càng trưởng thành hơn, Oma và Opa lại ngày càng nhỏ thó và gầy gò hơn. Da và mắt của họ đục trắng, dù tóc của Oma vẫn nhuộm đen. Tôi không biết nhiều về họ. Họ chưa bao giờ gần gũi đủ để xóa bỏ những khuôn phép. Tôi vẫn nhớ họ luôn mang theo những bao sô cô la lớn cho Lukas và tôi.

Giờ thì tôi đã cao hơn cả hai người họ. Tôi cúi xuống hôn Oma ba lần trên má.

Nước mắt trào ra trong đôi mắt bà ấy. “Bà biết con rất yêu ngoại con.”

“Con cảm ơn, Oma.” Tôi đã không bao giờ nhận thấy giọng Bỉ của họ khi tôi còn nhỏ, nhưng vì khi ấy họ chỉ mới chuyển đến Antwerp. Đây là cách giúp tôi có thể nhận thức rõ về thời gian: Oma và Opa đã sống ở đó đủ lâu để học được chất giọng ở đó.

Opa vỗ nhẹ lên cánh tay tôi. Tôi dành một chút thời gian để xem xét xung quanh khu vực tiếp đón khách, lạnh lẽo và buồn bã. Chỉ có một chiếc ghế sofa dài hiện đại với phần da đệm phẳng. Phần mông ghế cứng phủ màu nâu tối với lưng tựa sặc sỡ màu be và cam như được thêm vào để la liếm chút khí sắc cho gian phòng. Mọi thứ không theo một tôn giáo nào. Chẳng có cây thập tự giá cũng không có tượng Phật ở đâu cả. Chúng tôi đã được hỏi là liệu có cần một linh mục không nhưng chúng tôi đã lịch sự từ chối. Căn phòng này trông thực dụng như chính người Hà Lan, không có gì gợi lên ý nghĩ về một thiên đàng hay thế giới bên kia. Tôi nhắm mắt và cầu nguyện với các vị thần ngự trong tâm. Xin hãy đưa bà về với tổ tiên của chúng con.

Chủ trì buổi tang lễ, một người đàn ông phục phịch trong bộ com-lê tối màu, chào chúng tôi và dẫn chúng tôi đến phòng dành riêng cho tang gia. Nó giống như một phòng khách kiểu mẫu của Hà Lan, với một vài chiếc ghế bành vuông bọc vải màu chàm được bố trí xung quanh hai bàn cà phê không ăn nhập gì với nhau. Chúng tôi ngồi đó và được phục vụ trà, cà phê. Cảm giác như chúng tôi đang đến thăm những người họ hàng xa, chứ không phải để tiễn đưa người phụ nữ mà tôi yêu thương nhất - người mẹ thực sự duy nhất tôi từng có.

Sau đó, vị chủ lễ nói với chúng tôi rằng nếu muốn, chúng tôi có thể nói lời tạm biệt với người quá cố riêng trong phòng tẩm liệm. Oma, Opa, dì Helena và dượng Willem đứng lên nhưng tôi vẫn ngồi lại đó. Lukas ngồi sau lưng tôi, anh xích lại gần tôi hơn trên chiếc ghế sofa. Tôi không muốn để dì Helena nhìn thấy nỗi buồn đau của mình và chắc dì ấy cũng không muốn tôi thấy cảm xúc của bà ta lúc này. Sau một hồi khó xử, họ rời đi.

Khi họ trở lại, đôi mắt họ sưng lên và lớp trang điểm trên mặt dì Helena gần như đã trôi đi. Tôi đã chẳng buồn trang điểm. Sau đó, Lukas và tôi vào phòng tẩm liệm cùng nhau. Căn phòng nhỏ xíu, chỉ đủ chỗ cho một vài người đứng xung quanh chiếc quan tài gỗ gụ đỏ đóng kín, đặt trên một chiếc bàn cao ở trung tâm. Hai chiếc ghế đơn độc dựa vào tường, màu be dịu mắt được phủ lên trên nó.

Tôi thật sự không thể hiểu: Bà ở trong chiếc quan tài đó. Sao bà có thể thở được chứ? Nó chẳng có ý nghĩa gì cả. Bà nhỏ bé làm sao khi ở nơi chật chội đó. Một cảm giác đột ngột thôi thúc tôi mở nắp, để giải phóng cho bà, để bà được tự do. “Bà không thích mấy thứ tum hum kiểu Hà Lan đó đâu.”

Rồi một bàn tay to lớn nắm lấy tay tôi và Lukas ôm tôi vào lòng. “Bà đã đi rồi. Bà đã được tự do rồi.” Tôi nhắm mắt lại và tựa má vào vai anh khi anh ấy vuốt tóc tôi. Anh khẽ nói, “Không còn đau đớn nữa. Không phải nhọc nhằn thở nữa rồi.”

Rồi chúng tôi lại nức nở khóc, cánh tay chúng tôi choàng lấy nhau, hai đứa trẻ mà bà đã từng chăm sóc, ấp ôm.

“Chúng ta đã không có mặt,” tôi thì thầm. “Em đã khiến cho bà thất vọng. Là lỗi của em.”

“Không phải.” Anh ấy giữ cằm tôi trong tay và cúi xuống lau nước mắt cho tôi. “Bà đã muốn như thế. Em có nhớ điều cuối cùng bà nói với chúng ta không?”

“‘Hãy mở lòng. Hãy hạnh phúc nhé con.’” Và với những lời đó, gánh nặng trong tôi nhẹ bẫng đi đôi chút. Tôi nhủ thầm trong đầu, Ngoại ơi, con biết là ngoại có thể nghe thấy con. Con yêu ngoại.

Tận đáy lòng, tôi nghe tiếng bà đáp: Ngoại cũng yêu con, Tuyết Lài à.

Khi đến giờ làm lễ, Lukas, dượng Willem, Opa, Oma, dì Helena và tôi đóng vai trò hộ tang. Chúng tôi nắm vào sáu tay khiêng trên chiếc quan tài. Nó nặng hơn tôi tưởng. Có lẽ trọng lượng của gỗ còn nặng hơn cả chính Bà. Opa và Oma đứng ở phía trước, dì Helena và tôi ở giữa, Lukas và dượng Willem giữ phía sau.

Chiếc quai cầm bỏng rát trong tay tôi. Tôi không thể kham nổi áp lực oằn lên mình. Tôi đang khiêng thi thể của bà. Một giọt nước mắt lăn dài trên má. Bà thực sự đang ở bên trong. Tôi sẽ không bao giờ gặp lại được bà, cảm nhận bàn tay bà nắm lấy tay tôi. Tôi sẽ không bao giờ có thể đưa bà đi nghỉ mát ở những nơi xa xỉ, chiêu đãi bà ở nhà hàng hay đưa bà trở về Trung Quốc. Đã quá muộn.

Khi chúng tôi đi vào gian phòng chính, tôi ngạc nhiên khi thấy nhiều người đến dự tang lễ. Tôi đã không mong chờ bất cứ ai. Estelle và Filip ngồi ở hàng ghế đầu. Estelle rõ ràng vừa khóc và Filip trao cho tôi một nụ cười đồng cảm. Có lẽ tôi đã không hoàn toàn phá hỏng tình bạn giữa chúng tôi. Những người hàng xóm đều có mặt, những người Hà Lan tình nghĩa và chân thành. Dẫu cho Bà chưa bao giờ học cách để nói chuyện với họ, họ vẫn đến vì bà. Phần nhạc lễ là một số bài cổ điển chung chung được nhà hỏa táng chọn. Bà chưa bao giờ nói với tôi sở thích của bà.

Khi chúng tôi tiến gần phía trước, tôi khấp khởi khi thấy chiếc bàn cho quan tài được đặt theo cách của người Trung Quốc, với di ảnh được lộng khung lớn ở phía trước. Tôi chăm chú nhìn và nhận ra đó là một trong những bức ảnh mà Lukas đã chụp vào ngày tôi làm tóc và trang điểm cho bà.

Lukas thì thầm với tôi khi chúng tôi ngồi xuống vị trí của mình, “Chính Bà đã chọn nó.”

Căn phòng giản dị một cách khắc khổ - những hàng ghế xếp thành hàng ngay ngắn ở phía đối diện quan tài và một dải ghế vòng cung nằm im ỉm không dùng đến. Đối với người Trung Quốc, đám tang là thời khắc của những đau buồn, bao giọt lệ, những cái đấm vào ngực vì tiếc thương, những cánh tay rũ rục đốt giấy thiêng để hóa bạc vàng dành cho người quá cố. Căn phòng phải luôn ngập đặc trong khói nhang. Đâu rồi những nhà sư tụng kinh, những người than khóc đầy đau xót? Ôi, Ngoại ơi, tôi nghĩ thầm, chúng ta đã đặt chân đến một vùng đất xa lạ.

Hoa của bà đã không được kết thành vòng hoa tang như ở Trung Quốc. Dì Helena và dượng Willem không bao giờ làm theo những phong tục xưa khi ở đây. Những người hàng xóm sẽ nói gì về việc chúng tôi đốt giấy tiền vàng mã ở sân sau? Tôi thầm biết ơn mẹ và bố, những người luôn giữ gìn truyền thống của chúng tôi trong khoảng vườn nhỏ phía sau nhà, nơi mà chính cái ẩn danh ngay trong lòng thành phố New York đã bảo vệ chúng tôi - chẳng một ai nói ra nói vào nếu họ có để ý đến chúng tôi - và cả các sư thầy tốt bụng ở ngôi đền trong khu phố Tàu, nơi chúng tôi thường đến xin những lá xăm về vận mệnh của mình trong năm, mỗi lá xăm được xốc rơi ra từ một chiếc ống tre. Tôi ước gì tôi có thể đưa bà đi. Có bao nhiêu ngăn dành sự hối tiếc trong một con người? Sự ân hận trong tôi là vô hạn.

Estelle chấm khăn giấy lên mặt và Filip choàng cánh tay anh qua tay cô. Tôi đã biết thể nào ngày này cũng đến. Nhưng sao lòng tôi vẫn đau đến như vậy? Thật xót xa khi để bà nằm lại trong quan tài khi chúng tôi rời khỏi phòng.

Trong một căn phòng khác, mọi người được phục vụ trà hoặc cà phê và một lát bánh. Mọi thứ đều rất văn minh. Những người hàng xóm, trước bất kỳ xúc cảm mãnh liệt nào, kể cả là buồn đau, đều trao cho chúng tôi ba nụ hôn bất diệt lên má, nói lời chia buồn, và rồi rời đi. Không ai trong số họ thực sự biết Bà. Bà chỉ là một phụ nữ Trung Quốc nhỏ bé đến khôi hài sống trên cùng con phố với họ.

Một cái chạm vào cánh tay. Đó là Filip. Tôi để anh ta kéo tôi ra ngoài phòng dưới cái nhìn cảnh giác của Lukas.

Khi chỉ có hai chúng tôi, anh ấy hỏi, “Cậu ổn chứ?” Không đợi tôi trả lời, anh kéo tôi vào lòng và ôm tôi thật chặt. “Đừng tự trách bản thân mình.”

Tôi sụt sùi. “Mình rất xin lỗi cậu, Filip.” Tôi đã đối xử rất tệ với anh ấy.

Giọng anh như bị bóp nghẹt trong làn tóc tôi. “Nó chỉ luôn là một trò đùa bông phèng giữa cả hai thôi, cưng à. Tớ biết mà.”

Tôi không hỏi thêm nữa. Nhưng nếu thật sự là như thế, tại sao anh ta lại tức giận đến như vậy khi ở Venice?

Khi tôi trở lại phòng, tôi chợt nhớ đến một bài hát thiếu nhi của Hà Lan:

Nơi xứ xanh ngát xanh

Hai chú thỏ tinh ranh

Một du dương thổi sáo

Một lùng tùng trống khua

Chợt gã thợ săn hùa

Nã đạn cướp một đi

Và ta hẳn cũng biết

U hoài và sầu muộn

Đeo bám mãi một kia.

Bây giờ khi bà đã mất, một nửa cuộc đời tôi đã không còn, cả sự bình an trong vòng tay, nụ cười, tình yêu của bà dành cho tôi cũng vụt tan.

Lukas là tất cả những gì tôi còn lại.

Thứ Năm, ngày 28 tháng 4

Sylvie: Bà không muốn chết một cách đau đớn, mẹ à. Cuối cùng thì bà cũng đã hóa bụi hồng rời bỏ trần gian nơi mây trôi nước chảy này.

Mẹ: Mẹ rất mừng vì con đã ở bên bà, Tuyết Lài à. Mẹ chỉ ước mình - [tiếng nức nở]

Sylvie: Kìa mẹ.

Amy: Chị Sylvie, là em đây. Nói chuyện lúc này có vẻ không ổn với mẹ.

Sylvie: Này, chị nhớ em lắm.

Amy: Chị có ổn không?

Sylvie: Ôi, cưng ơi. Thật sự, khá khó khăn em à. [tiếng đứt quãng] Chị thương Bà rất nhiều.

Amy: Em biết mà, Sylvie. Nhưng bà vẫn mãi bên chị. Em chắc chắn về điều đó. Khi nào thì chị về?

Sylvie: Chị cũng không chắc nữa. Công việc của chị ở đây vẫn chưa xong. Chị sẽ bay về ngay khi có thể.

Amy: Chị hứa đấy nhé, Sylvie. Em rất mong được gặp chị.

Sylvie: Hãy chăm sóc cho mẹ thay chị, được chứ?

Amy: Em biết rồi. Hẹn sớm gặp lại chị.

Sylvie: Yêu em. Chị sẽ quay về trước khi em biết.

❀ ❀ ❀

[1] Đồng Florin - đơn vị tiền Hà Lan xưa.

Liên Thảo dịch
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.