Thứ bảy, ngày 2 tháng 4
Một tháng trước đó
Khi chuyến bay hạ cánh, tôi chợt nhớ đến trò chơi mà khi còn bé, Lukas và tôi từng chơi - kéo, búa, bao - và như tôi cảm nhận, tôi đang lao thẳng xuống bề mặt bằng phẳng của xứ sở hoa Tulip, đất nước Hà Lan bao lấy tôi như một tờ giấy, nâng niu, vỗ về trái tim sỏi đá trong tôi. Cuối cùng, tôi cũng đã trở về nhà sau một cuộc hội hè lạnh lẽo, thất vọng sau một chuyến đi dài.
Trong lúc bối rối trước chuyến đi, tôi đã để lạc mất con búp bê Tasha mà bà đã làm cho. Tasha đã luôn bên cạnh tôi và rồi, đột nhiên nó biến mất. Lukas và tôi đã đi tìm khắp nơi. Chúng tôi tránh nhìn vào mắt nhau, lao vào cuộc tìm kiếm, và với bản năng của những đứa trẻ, rằng sau hôm nay, chúng tôi rồi sẽ phải tìm kiếm nhau thay vì con búp bê. Và mẹ của tôi thì không giống như những gì tôi tưởng tượng. Bà gầy yếu đến mức nhu nhược, rón rén đi lại trong nhà như một vị khách không mời. Trong trí tưởng tượng của tôi, mẹ hẳn rất ấm áp, đầy đặn và khỏe khoắn, tràn đầy tình yêu dành cho tôi. Người phụ nữ này lại dành hàng giờ ở trong phòng của bà ngoại, thì thầm những điều bí mật, và khi tôi rón rén ngồi vào lòng bà ngoại thay vì bà ấy, đôi mắt bà ấy cứ dán chặt vào tôi với đôi môi run lên, như thể đó là lỗi của tôi khi bà ấy đã bỏ rơi tôi. Đôi mắt sắc bén của dì Helena không bao giờ rời mắt khỏi mẹ, cứ như dì ấy sợ mẹ sẽ lấy cắp thứ gì đó quý giá của mình.
Cho đến phút cuối cùng, tôi vẫn tin rằng chúng tôi sẽ tìm thấy Tasha ở đâu đó, nhưng không. Tôi đã bật khóc, đau buồn vì con búp bê như kỷ vật khỏa lấp nỗi buồn rời xa Bà, anh Lukas, dượng Willem, và kể cả dì Helena. Lukas, luôn là người bạn đồng hành trung thành của tôi, cứ oang oang bên cạnh an ủi tôi. Dượng Willem đã ôm tôi vào lòng, che chở tôi khỏi ánh nhìn lạnh lùng của dì Helena.
“Suỵt”. Ông ấy hôn lên trán tôi và vén một lọn tóc ra sau tai tôi. “Tasha sẽ luôn ngự trị trong trái tim con, dượng cũng vậy. Bây giờ, nếu con nín khóc, dượng có cái này bất ngờ dành cho con.”
Tôi sụt sịt, quẹt nước mắt và liếc nhìn dì Helena. Dì ấy không bao giờ thích khi dượng Willem và tôi quá thân thiết. Có lần tôi đã gọi ông ấy là “Bố” khi tôi còn nhỏ và dì ấy đã kéo tay tôi lôi vào phòng, và bắt tôi thề sẽ không được gọi như thế nữa. “Mày có bố của riêng mày, đồ ngu ngốc, mày có hiểu không?” Dì ấy rít lên, đỏ bừng mặt vì giận dữ. Bấy giờ, dì Helena đang lườm chúng tôi, nhưng vì mẹ cũng đang nhìn, và vì đó là ngày cuối cùng của tôi ở Hà Lan, dì ấy đã không dám nói gì.
Dượng Willem ấn một phong bao lụa nhỏ màu đỏ vào tay tôi, tựa như đó là tất cả những gì mà bà có. Đôi mắt ông rưng lệ. “Một ngày nào đó, con sẽ lớn lên và trở thành một người phụ nữ xinh đẹp. Dượng sẽ không có ở đó để thấy nhưng dượng muốn con đeo nó vì dượng.”
Tôi mở phong bao và trút nó vào lòng bàn tay. Một đôi bông tai đuôi vặn sáng bóng rơi ra và lấp lánh trên tay tôi. Tôi kinh ngạc và quàng tay qua cổ ông. Ông ấy có mùi thơm như mùi bưởi và cây tuyết tùng, lúc nào cũng thế. “Chúng thật lấp lánh! Nhưng mà con chưa xỏ lỗ tai.”
“Rồi con sẽ làm mà”, ông nói, giọng trầm đi với lời hứa.
Tôi cảm giác ai đó cạy nắm tay tôi mở ra. Là dì Helena. Dì ấy giằng lấy đôi bông tai từ tôi và đưa chúng lên trước ánh đèn, đôi tay run lên vì tức giận. “Cái này là đồ thật.”
Dượng Willem chợt khẩy lên một điệu cười thật du dương. Ông ấy thả tôi ra và đi về phía vợ mình. Vòng tay ôm bà ấy vào lòng, hệt như trong một cảnh phim, trong khi tất cả chúng tôi đều đang nhìn. “Ngốc à. Tất nhiên chúng là pha lê. Nhưng khuyên thì bằng bạc mà vẫn rất đẹp, phải không nào, Sylvie?” Và ông nháy mắt với tôi.
Tôi luôn nghi ngờ, đặc biệt là vì đôi bông tai đó chưa bao giờ bị xỉn màu. Vì vậy, tôi đã mang chúng đi thẩm định vào mấy năm trước - là kim cương thật hoàn toàn, hơn nửa cara mỗi viên, với phần khuyên bằng bạch kim. Đó là một món quà cực kỳ không phù hợp với một cô bé nhưng tôi vẫn đeo chúng hôm nay. Dượng Willem luôn là người hào phóng. Ông ấy thường lấy giấy hình vuông và phẳng để tạo hình origami, và như một phép màu, những khủng long và bướm, những rồng và máy bay sẽ xuất hiện từ những ngón tay ông, khiến tôi và Lukas rất thích thú. Tôi chưa bao giờ thấy dượng ấy làm theo một mẫu nào trong sách. Dượng ấy hẳn đã có sẵn hàng trăm mô hình trong đầu.
“Anh là một gã Trung Quốc xấu xa,” vừa nói, ông vừa lắc đầu. “Mê mẩn nghệ thuật xếp giấy của Nhật Bản. Nhưng nó làm anh thấy thư giãn.”
“Là do anh không có gia đình, không có cội rễ nên thế,” dì Helena đáp. “Một thói quen lãng phí. Tốn quá nhiều giấy.” Dù gắt gỏng là thế, dì ấy lại cất công tìm những loại giấy origami có hoa văn đẹp và để những gói giấy khắp nơi trong nhà để dượng tìm thấy, như thể ngẫu nhiên. Dì Helena luôn tử tế với mọi người, trừ tôi.
Lần cuối cùng tôi đến sân bay Schiphol, nắm lấy tay một người phụ nữ tôi không quen biết và đi cùng bà ấy để bắt đầu một cuộc sống mới. Người phụ nữ ấy là người mẹ mà tôi đã hằng mong mỏi, nhưng trái tim tôi đã không còn chỗ cho bà ấy. Đã quá muộn. Tôi ngoái nhìn họ: Lukas bé nhỏ với khuôn mặt buồn bã, dì Helena thở phào nhẹ nhõm một cách kín đáo, dượng Willem đầy vẻ rầu rĩ, bà đang nhìn chằm chằm vào tôi và mẹ như thể muốn chạy ngay đến và đi cùng chúng tôi.
Và tôi đã làm được gì trong những năm sau đó? Tôi đã tham vọng rất nhiều nhưng chỉ có thể nắm giữ được quá ít. Từ lúc nào chuyện của tôi và Jim bắt đầu đổ vỡ? Có lẽ là sau cuộc trò chuyện trên đường về nhà từ buổi tiệc mừng cô bạn Caitlin sắp sinh của anh ấy.
Đương nhiên, Jim có hàng tấn bạn nữ. Caitlin và Jim học cùng trường tư thục độc nhất lúc đó trước khi vào Princeton. Cô ta cao ráo, mặt đầy tàn nhang, thích cưỡi ngựa và đi thuyền buồm. Hồi còn ở trường đại học, chúng tôi có đến chơi một lần vào cuối tuần với cô ấy và bạn trai của cô lúc đó - bây giờ là chồng, anh Xavier, trên trang trại của bố cô ở tiểu bang Wyoming. “Cậu có phiền lắm không nếu mấy người bọn tớ ra ngoài cưỡi ngựa?” Cô ấy hỏi dò với ý xin lỗi, định bụng rằng một đứa nhập cư nghèo khổ như tôi hẳn sẽ luống cuống với trò này. “Ồ, mình nghĩ là mình sẽ tham gia cùng các cậu,” tôi trả lời, “Mình rất thích cưỡi ngựa.” Tôi đã rất hả hê khi thấy miệng cô ta há hốc ra sao khi tôi nhảy phốc lên yên và huých con ngựa phi vọt đi. Tôi đã không nói với cô ta rằng cô bạn cũ của tôi - Estelle - là một đứa cuồng ngựa, như rất nhiều cô gái Hà Lan khác, và tôi bị cô ấy lôi theo cùng để chải lông và cưỡi trên con Umbra của cô ấy mỗi tuần. Tôi đã hốt “kha khá” phân ngựa cùng với Estelle.
Khoảng một năm rưỡi trước, khi tôi và Jim đang trên xe về nhà sau buổi tiệc chúc mừng Caitlin sắp lâm bồn, anh ấy bật hỏi: “Còn chúng ta thì sao nhỉ?”
Tôi nhìn chằm chằm ra ngoài cửa sổ khi vút qua đường cao tốc, vờ như không nghe thấy anh ấy. Tôi giật nảy lên khi anh tiến tới và chạm vào tay tôi.
“Anh biết em không muốn nói về điều đó, nhưng thời gian không còn nhiều đâu. Chúng ta đã kết hôn một năm rồi. Anh hy vọng–” Tôi hiểu được cả những điều anh chưa nói. Chúng ta rồi sẽ già sớm thôi. Sau cùng, khi tôi chạm phải ánh nhìn của anh ấy, đôi mắt xanh của anh nói với tôi điều anh đang mong mỏi: một tâm hồn nhỏ bé, yếu đuối sống lệ thuộc vào anh, trở về tổ ấm nơi người vợ đảm đang đang nướng bánh mì chuối, một viễn cảnh mơ hồ mà ở đó, anh ấy sẽ được yêu chiều và ngưỡng mộ như một vị vua.
Tôi cố dịu giọng.“ Jim à, anh biết là em phải làm việc tám mươi giờ một tuần, và người cố vấn đã nói rằng em đang làm rất tốt.”
Jim nhún vai, như thể anh không quan tâm.
Tôi đảo mắt. Biết ngay mà. “Như dự án hiện tại, em đã tham gia từ lúc lên ý tưởng đến khi hoàn thành và vận hành thực tiễn. Anh có hiểu điều đó có ý nghĩa gì không? Em không nói là không bao giờ – chỉ là một hoặc hai năm, chỉ vậy thôi.” Tôi không muốn vứt bỏ hết mọi thứ mà tôi đã cố gắng, mọi thứ tôi đang có trong tay. Tại sao không ai cho rằng nó quan trọng?
“Em yêu, em biết là anh tự hào về em như thế nào mà. Nhưng lẽ nào mối quan hệ của chúng ta không quan trọng? Chúng mình đã chờ đợi quá lâu để có thể kết hôn vì sự nghiệp của em,” anh ấy nhẹ nhàng nói. Những tia nắng mùa thu đang dần tắt và khi nó chiếu xuyên qua cửa chắn gió, phủ lên gương mặt anh một chiếc mặt nạ vàng nhợt nhạt. Những chiếc lá rực sắc lìa khỏi cành khi chúng tôi lướt vụt qua, xoay tròn trong không trung như để tìm cho mình một nơi an nghỉ cuối cùng.
“Tất nhiên rồi. Nhưng đó là cơ thể em và em phải có trách nhiệm với nó, Jim à. Cuộc sống của em sẽ bị trì hoãn. Hoặc là sẽ được thăng chức hoặc là em bị đuổi khỏi công ty. Nếu em không được lên làm quản lý dự án hoặc vị trí tương đương trong năm tới, em sẽ bị tống cổ. Giai đoạn sắp tới sẽ rất căng thẳng.” Nhịp tim tôi đập nhanh trước ý nghĩ về nó - một đứa bé đang khóc, như khi Amy mới chập chững biết đi với vô số những màn ăn vạ và tôi thì phải ở nhà một mình với em ấy. Tất cả những gì tôi muốn là làm bài tập về nhà trong yên tĩnh và được thoải mái chơi ở nhà những người bạn gái khác. Là lỗi của tôi. Nếu tôi không lãng phí những năm tháng làm công việc kỹ sư hóa học, để đi tìm bản ngã của riêng mình, tôi sẽ không già hơn các cộng sự khác. Tôi sẽ có thêm thời gian để xây dựng sự nghiệp và kịp có một đứa con.
Chiếc xe bên cạnh kêu bíp bíp, đột ngột lấn vào làn đường của chúng tôi.
Jim vừa kịp nhấn phanh giảm tốc độ. “Đồ điên,” anh lẩm bẩm. Mấy ngón tay anh bấu chặt lấy vô lăng. “Anh cũng có thể nghỉ việc.”
Tôi khựng miệng: Anh cần quái gì công việc. Anh đã có sẵn tiền của bố mẹ và danh tiếng của gia đình, một chỗ quá êm ái để hạ cánh còn gì. Nhưng với cảm giác tội lỗi và sự gay gắt của lời nói, tôi đã không thốt lên điều đó. “Anh không biết có một đứa con sẽ như thế nào đâu. Em đã từng trải qua việc đó đây.”
Những đường gân trên trán Jim hằn rõ và cơn nóng giận làm gò má anh tối sầm lại. Anh lớn tiếng. “Em cứ luôn khư khư quan điểm của mình và không bao giờ nhượng bộ. Thôi nào, anh cũng muốn mình được ưu tiên để thay đổi một chút trong mối quan hệ này.”
“Anh đang đố kỵ”. Tôi bất giác thốt ra. “Anh cảm thấy thua kém khi có một người vợ kiếm được gấp sáu lần số tiền anh làm ra.” Một sự im lặng đáng sợ. Tôi đã đi quá xa. Jim đã biến thành một bức tượng bên cạnh tôi. Anh nhắm nghiền mắt trong chốc lát. Tôi là một kẻ xấu xa. “Jim, em xin lỗi.”
Anh hít một hơi thật sâu và nở một nụ cười lạnh nhạt. Giọng anh lịch sự. “Thôi không nói về chuyện này nữa.” Và chúng tôi đã không nói gì nữa.
Chúa ơi, tôi đã rất vui khi thoát khỏi tất cả mọi thứ. Mọi người rời khỏi máy bay và nhanh chóng đi qua sân bay. Tâm hồn tôi nhảy nhót như thể vừa sổ lồng. Tôi đã rời khỏi khu rừng của thành phố New York và trở về với vùng đồng bằng ấm áp và dễ chịu. Sân bay thật lộng lẫy và nhộn nhịp làm sao. Tôi đã qua bao nhiêu thành phố tính đến lúc này rồi? Quá nhiều chuyến bay công tác. Một tuần ở khách sạn tại Atlanta, một tuần khác ở Chicago, sau đó là vài ngày ở San Francisco. Cũng không hề dễ dàng gì đối với Jim. Không còn phải thế nữa rồi, Sylvie à. Hãy để tất cả lại phía sau. Tôi hít một hơi thật sâu. Đôi vai tôi bắt đầu thư giãn trên nền nhạc của tiếng Hà Lan xung quanh mình. Tôi như run lên vì sung sướng. Tôi vẫn có thể hoàn toàn hiểu mọi người đang nói gì. Cục vàng ơi, em có thấy thẻ lên máy bay của anh đâu không? Xin chào, taxi, chúng tôi hạ cánh rồi, gặp ở đâu thì được đây? Con phải dừng ngay lại, không thì sẽ chẳng có miếng kẹo cam thảo nào cả.
Tôi nhanh chóng tìm thấy hành lý của mình và đi ra ga đến. Mắt tôi lướt nhanh qua đám đông, tìm kiếm dì Helena, dượng Willem và Lukas, đặc biệt là Lukas. Anh ấy không đến sao? Anh ấy đâu rồi? Nhưng rồi, một người đàn ông châu Á to lớn đứng trước mặt tôi thay vì một cậu bé mà tôi tìm kiếm trong tiềm thức. Tôi không thể nhận ra Lukas ngày nào trong anh ta. Đôi má phúng phính đáng yêu đã biến thành một khuôn mặt sắc sảo, góc cạnh. Cái hàm vuông này ở đâu ra, cả vầng trán cao kia nữa? Đâu rồi đôi vai gầy gò, yếu đuối? Trước mặt tôi là một người xa lạ. Trái tim tôi xì hơi như lốp một chiếc xe đạp cũ. Người đàn ông nhẵn nhụi, mái tóc dài được chải gọn sau gáy, thoáng sũng ướt. Tôi mấp mé hỏi bằng tiếng Hà Lan lần đầu tiên sau bao nhiêu năm trời, lưỡi dần quen với nhịp líu âm uốn chữ lần nữa. “Anh có phải là Lukas không? Em không nhận ra anh.”
Anh ấy mỉm cười rồi đặt lên má tôi ba nụ hôn, chân thật chứ không hề gượng ép như cái ôm của người Mỹ, phải giữ khoảng cách giữa ngực mình với người kia. Nhưng tôi vẫn cứ đứng đờ ra. Anh ôm chầm lấy tôi, một sự mãnh liệt bùng cháy trong đôi mắt anh mà đến giờ tôi vẫn còn nhớ. “Em không thay đổi gì cả.”
Giọng anh trầm ấm, không the thé như trước đây khi anh cười một mình như điên. Tôi phải tìm gì đó để nói với người mà tôi không còn quen mặt. Tôi muốn Lukas của tôi ngày xưa. “Vậy là anh từ Nepal về sao?”
“Dẫu sao thì cũng đã đủ mỏi gối chồn chân rồi em à.”
Tôi đã không nhắc gì đến bà. Áng mây buồn ẩn sau đôi mắt anh. Tôi biết lý do anh quay trở lại. Có một sự im lặng khó xử. Tôi ngó quanh tìm dì Helena và dượng Willem. Họ đã không đến. Bà ta lại chơi khăm tôi lần nữa. Tôi thật ngốc nghếch làm sao, phí công chọn chiếc quần và áo trông như bình thường nhưng rất đắt tiền này, để chỉn chu như vậy. Rồi còn chỉnh lại tóc tai và soi gương trang điểm khi trên máy bay, để chứng minh cho dì Helena thấy một Sylvie mới đã trở lại.
Ánh mắt Lukas tinh ý hiểu ngay cả khi tôi không nói. Anh ngắc ngứ không thành lời, má ửng lên vì xấu hổ. “Bố mẹ anh không đến được–”
Tôi ngắt lời. “Em hiểu mà.” Cả hai chúng tôi đều hiểu cảm giác bị xúc phạm là như thế nào.
Anh ấy đeo túi máy ảnh to màu đen ngang lưng, rồi xách vali của tôi bằng một tay và bắt đầu lách qua đám đông. Khi chúng tôi chen qua dòng người ra bên ngoài, anh nói, “Anh đã định đón em bằng chiếc xe tay ga nhưng như vậy thì không chở được hành lý. Đi tàu điện được không, hay em muốn đi taxi?”
Dì Helena và dượng Willem đã không cho anh ấy sử dụng xe. “Em thích đi tàu điện.”
“Em đã đi tàu điện lần nào trước khi về Mỹ chưa nhỉ?” Lukas bấm nút và mua hai vé từ một cái máy màu vàng.
“Trong chuyến đi dã ngoại của lớp đến bảo tàng ở Amsterdam, anh còn nhớ chứ?” Tôi mỉm cười với ký ức. Anh ấy luôn là bạn đồng hành của tôi, luôn như thế. Chúng tôi thường nắm tay nhau khi chạy nhảy trên sân trường, dẫu cho đám bạn cứ chọc ghẹo chúng tôi vì con trai và con gái mà lại thân với nhau - người bạn tri kỷ của tôi cũng chính là anh ấy. Vào ngày lễ Thánh Nicolas, bà đã tạo một bất ngờ khủng khiếp cho cả hai chúng tôi mặc dù bà không biết gì về vị Thánh này. Khi những đứa trẻ khác khoe những món quà như mô hình robot bằng giấy bồi khổng lồ hay cả khoảng sân khúc côn cầu phủ đầy kẹo và quà, chúng tôi chỉ có vỏn vẹn những bất ngờ từ tấm bìa cứng cuộn tròn mà lại vừa khéo hao hao giống với bất cứ thứ gì, ngoại trừ việc chúng là lõi cuộn giấy vệ sinh. Lần đầu tiên, tôi tự hỏi Lukas đã phải kham khổ ra sao sau khi tôi rời đi.
Anh cười toe. “Anh nhớ chúng ta đã giành nhau xem ai sẽ ngồi cạnh cửa sổ cho đến khi cô giáo dọa sẽ tách chúng ta ra.” Gì cũng được trừ điều đó — thế là chúng tôi im lặng ngay lập tức.
“Mọi người khỏe chứ ạ?” Tôi hỏi khi chúng tôi bước trên băng chuyền xuống tầng dưới của nhà ga. Các bánh xe vali của tôi cót két kêu khi chúng cào vào bề mặt sàn gân kim loại.
Khi chúng tôi đợi tàu trong sân ga, anh ấy đã kể cho tôi nghe: Estelle đang bay cho hãng Hàng không Quốc gia Hà Lan; công việc phóng sự ảnh của anh rất ổn, anh đã có ảnh đăng trên một vài tạp chí uy tín của Hà Lan và quốc tế, nhưng phải mất khá nhiều thời gian để thâm nhập vào một lĩnh vực cạnh tranh như vậy; anh đang thuê căn hộ có gara của bố mẹ và anh ghét nó, mặc dù bây giờ nó rất thiết thực.
Rồi tàu cũng đến và chúng tôi lên tàu. Tôi ngồi đối diện Lukas và nhìn ngắm anh ấy khi chúng tôi trên đường trở về ngôi làng bé nhỏ dọc bờ biển. Ẩn dưới những đường nét góc cạnh trên khuôn mặt anh ấy, tôi chợt nhận ra cậu bé của ngày nào: nhút nhát, chân thành và tinh nghịch. Đôi mắt vẫn ấm áp, ánh lên nét hài hước, thông minh, và dần dà, anh ấy cũng chú ý lại tôi, Lukas của tôi. Khi bạn thực sự quý mến một ai đó và khi gặp lại họ, ngay cả đã nhiều năm trôi qua, khuôn mặt mới của họ như quyện vào khuôn mặt cũ, như thể thời gian ngần ấy năm chưa hề tồn tại. Chúng tôi chui qua một đường hầm và cuối cùng, ngoi ra từ phía bên kia. Bấy giờ, tôi thấy một vùng quê xanh tươi nền nếp quá đỗi thân thuộc, tựa hồ một phần ký ức mang máng về một bài hát ru đã vỗ về khi tôi còn là một đứa trẻ. Kể cả khi từ bên trong, tôi vẫn có thể cảm nhận được sự khác biệt trong bầu không khí ẩm ướt và khoan khoái này. Thật sự không đâu bằng nhà mình. Cơn mưa vẫn gõ nhịp đều đặn trên đầu. “Mà sao anh có thể lớn lên thành một gã khổng lồ như vậy?”
Anh ấy bật cười - âm thanh vang dội khiến tôi kinh ngạc. “Còn em sao vẫn không khác gì mấy vậy?”
“Gì chứ?!” Tôi nói với giọng trách móc. “Sao anh có thể nói vậy được? Nhìn đây này.” Tôi chỉ vào mắt phải của mình. “Và đây nữa”. Tôi nhe hàm răng hoàn hảo của mình khoe với anh. “Mấy năm trời đeo miếng che mắt đó. Và em đã phải tốn cả mớ tiền để nhổ cái răng đó đi và trồng một cái răng giả thay thế. Em làm ngay việc đó khi vừa lên đại học. Giờ anh lại bảo em chẳng khác gì!”
“Thật sự, anh rất xin lỗi về tai nạn đó với cái răng của em”.
Tôi khịt mũi. Một tai nạn đã được giấu nhẹm, không ai mong nó xảy ra. Khi tôi bảy tuổi, tôi được Lukas đèo trên yên sau chiếc xe đạp và khi chúng tôi ngã, răng cửa của tôi gần như rơi ra. “Ui dào, cũng có một phần lỗi nhỏ do em mà.”
“Tại em cứ lắc lư qua lại, nghêu ngao hát um trời. Em cố làm mọi cách để chúng ta ngã lăn quay. Em toại nguyện rồi còn gì.”
Bên ngoài, mưa bắt đầu nặng hạt hơn, tôi lần lần mấy ngón tay dọc theo những vệt nước mưa bên ngoài ô cửa. Bên trong vẫn ấm áp, an toàn và khô ráo. Tiếng mưa rơi át tiếng gầm rú đều đặn của con tàu, và giữa những hạt mưa đọng trên cửa kính, tôi thoáng thấy hình ảnh phản chiếu của mình. Sấm chớp lóe lên và trong một khoảnh khắc, hình ảnh chúng tôi khi còn là những đứa trẻ trong quá khứ và khi đã trưởng thành ở hiện tại như lồng ghép nhập nhòe vào nhau.
“Em không thể tin được là đã bao lâu trôi qua rồi.” Tôi thầm thì.
“Em có bao giờ quay trở lại đâu.” Giọng nói anh đượm buồn.
“Anh có đến thăm em đâu.” Sau đó, cả hai chúng tôi đều im lặng, nghĩ về những năm tháng đã qua. Chuyện tôi không kham được việc lui tới thăm giữa hai nước ra sao. Chuyện tôi đã nhận thức được sự căm ghét ẩn sâu trong lòng dì Helena khi tôi lớn lên như thế nào. Chuyện tình yêu thương tôi dành cho anh Lukas và bà đã không đủ lớn để vượt qua nỗi sợ dì Helena ra sao. Và mối quan hệ phức tạp, quanh co của tôi với dượng Willem cũng chẳng can hệ gì.
Cuối cùng, tôi đánh liều hỏi, “Bà thế nào rồi anh?”
“Bà không còn nhiều thời gian. Bà đang cố đợi em.” Khi chúng tôi lên bảy tuổi, một con mèo con đi lạc có bộ lông màu xám và đôi mắt sáng màu xanh đã theo chúng tôi từ trường về nhà. Lukas đã trông chừng nó không rời mắt, bò quanh sàn nhà với nó, làm đồ chơi cho nó từ giấy báo và bìa cứng. Và mặc cho chúng tôi van nài cỡ nào, dì Helena vẫn bắt chúng tôi phải đưa con mèo đó đến trại tị nạn động vật chỉ vài ngày sau đó. Lúc ấy, đôi mắt Lukas trông hệt như bây giờ, ngập đầy trong đó nỗi tuyệt vọng.
Tôi mím môi lại và gật đầu. Chúng tôi lại im lặng.
Rồi đột ngột, Lukas nói, “Bố mẹ anh đã định đến nhưng có chuyện khẩn cấp ở nhà hàng.” Những đốm đỏ hiện trên cổ anh ấy.
Tại sao nó vẫn còn đau sau ngần ấy năm? “Anh không cần phải nói dối em đâu. Em đã kể với anh việc này chưa? Năm ngoái, em có điện qua nhà hàng của dì dượng để chúc mừng sinh nhật anh vì em không gọi được cho anh.”
“Có lẽ lúc đó anh đang ở châu Phi để hoàn thành ký sự ảnh. Nên không có sóng em à.”
“Một người phụ nữ nói tiếng Hà Lan rất sành sỏi đã trả lời điện thoại. Cô ấy nói với em rằng anh không ở đó và sau đó hỏi em là ai. Cô ta còn bảo em đánh vần tên mình. Lúc đầu, em thật tình không nhận ra giọng nói của cô ấy và nghĩ đó là một nhân viên, nhưng, sau đó, em dần nhận ra đó là mẹ anh, dì vờ như không biết em.” Tôi dằn lòng nuốt trôi cơn giận và sự bẽ bàng mà tôi nhận được. “Em đã không đối chất với dì ấy.”
Lukas nhăn mặt. “Anh xin lỗi, Sylvie.”
Tôi với tới và đặt tay mình lên cánh tay anh. “Không có gì đâu anh.”
Đầu anh ngả vào ghế, nhưng mắt anh nhìn tôi như thể anh không thể tin rằng tôi đang thực sự ở đó. Anh kéo chiếc máy ảnh khổng lồ từ trong túi ra và hỏi, “Anh chụp được không?”
Tôi gật đầu. Khi chúng tôi còn nhỏ, Lukas đã sử dụng hết cuộn phim trong máy ảnh Polaroid của anh với tốc độ đáng kinh ngạc. Anh dành phần còn lại của chuyến tàu để chụp ảnh tôi, cảnh vật bên ngoài, và một cái lỗ rách ở ghế kế bên anh.
Tôi hơi mệt do lệch múi giờ sau chuyến bay nên nhắm nghiền mắt lại, đầu tựa vào cửa sổ và tiếp tục cơn mơ.
May thay, với thời tiết ẩm ương của Hà Lan thì mưa đã tạnh trước khi chúng tôi xuống tàu. Tôi hít lấy bầu không khí dịu mát. Nó có mùi như cỏ mới cắt. Những đám mây nhảy nhót trên bầu trời trong xanh. Ngay khi nhìn thấy những con đường gạch nhấp nhô, tôi dừng lại một chốc, vuốt phồng tóc lên và ngồi xuống một chiếc ghế dài để thay đôi giày bệt bằng đôi giày cao gót mà tôi cố tình mang để gây ấn tượng với dì Helena. Nhà của họ cách nhà ga không xa và có thể đi bộ đến đó dọc theo sông Vecht. Anh Lukas kéo vali của tôi, bánh xe của nó cộp cộp va vào những viên gạch nhỏ lát bên vỉa hè.
Mọi người gật đầu chào khi chúng tôi ngang qua. Tôi đã quên béng rằng, chẳng có chuyện bắt chẹt người khác tránh nhìn vào mắt nhau khi giao tiếp như những gì tôi đã trải qua ở New York. Họ tò mò nhìn tôi, nhưng ngay khi tôi mỉm cười và nói Chúc một ngày tốt lành thay lời chào, họ đã rất vui lòng. Có một vài thay đổi ở làng chài từ thời trung cổ này. Một siêu thị lớn hiện đại đã mọc lên ở trung tâm, một ngân hàng, những cây ATM, một tòa nhà văn phòng với chỉ bốn tầng. Rải rác một vài hòm thư nhỏ màu đỏ bên cạnh một thùng rác lớn màu xanh trông rất giống với những hộp thư ở Mỹ. Khi tôi mới đến New York, mẹ vừa kịp ngăn tôi ném miếng khăn giấy nhàu nát của mình vào hộp thư, bởi tôi nhầm đó là thùng rác.
Ngôi nhà đây rồi. Bụng tôi thắt lại. Nó vẫn như tôi hồi tưởng - những khung cửa sổ tối tăm, bí hiểm và lạnh lẽo. Họ đã xây thêm một căn nhỏ phía trên gara riêng cho Lukas. Không, tôi chưa bao giờ hoài niệm về ngôi nhà này, tôi chỉ nhớ một vài người sống trong đó. Khi Lukas mở cửa để chúng tôi đi vào, tôi đã ngạc nhiên xiết bao trước miền ký ức mà tôi đã không quên.
Cách mà cánh cửa trước bị kẹt và nó sẽ không tự đóng lại trừ khi dùng hông để đẩy nó. Giá treo chìa khóa vẫn còn đó, đã có thêm vài bộ chìa khóa cho nhà và gara, giờ là căn hộ của Lukas. Tôi đã đủ cao để với tới nó một cách dễ dàng. Họ đã thay những nội thất sang trọng và hiện đại: những đồ gỗ cũ tối màu đã được thay bằng những gam màu xám và cam lòe loẹt. Căn phòng như bị kìm kẹp trong những cái bóng lập lòe. Đèn đã tắt để tiết kiệm điện, tình cảnh chung của hầu hết các gia đình Hà Lan. Nhiệt độ lò sưởi cũng được hạ ở mức thấp - Ngày áo len dày: sao chúng ta không mặc áo len dày vào nhỉ, vừa tốt cho môi trường lại vừa giúp giảm chi phí điện. Đôi chân của tôi vẫn còn nhớ nơi để tháo giày và cất nó đi. Cánh tay tôi vẫn chưa quên chỗ mắc áo khoác lộn xộn chồng lên nhau. Tôi với tay bật công tắc đèn nửa khuất sau bức tranh in của họa sĩ Vermeer đã cũ trên tường mà không cần dò tìm, dù tôi không còn nhón chân nữa.
Cái cảm giác mà tôi lo sợ vào mỗi buổi sáng, lúc dì Helena và dượng Willem còn ở nhà trước khi ra nhà hàng và trở về vào tối muộn. Buổi chiều và buổi tối thật thoải mái, chỉ có tôi, anh Lukas và bà ở nhà, ăn những bữa cơm giản dị và nóng hổi dưới ánh đèn thay vì mấy món đắt tiền từ chỗ nhà hàng mà dì Helena và dượng mang về. Gần như ngày nào, tôi cũng đi ngủ trước khi họ về. Tôi đoán chắc chuyện đó.
Nhưng tôi cũng đã có những khoảng thời gian vui vẻ với dì Helena. Những ngày mà dì ấy dẫn tôi đi mua váy, hay mua cho tôi những sợi thun cột tóc đầy màu sắc. Một mùa đông nọ, khi dòng sông Vecht đã đóng băng. Tôi sửng sốt khi thấy những người hàng xóm bu nghẹt nơi đó. Tôi bấu chặt lấy một bên bờ, cầu cho băng nứt ra và nuốt chửng bọn họ. Một trong những cơn ác mộng của tôi là bị mắc kẹt dưới nước. Nhưng sáng sớm hôm đó, dì Helena cứ lùng sục mãi trong nhà xe cho đến khi dì tìm được mấy đôi giày trượt tuyết cho dượng Willem, Lukas, tôi và cho cả dì ấy.
“Dì đã mua được những thứ này ở chợ trời vào ngày cuối cùng của Lễ Hội Nữ HoàngQueen’s Day đấy,” dì giải thích. Người ta bán những đồ chơi và quần áo đã qua sử dụng với giá gần như cho hôm đó. “Mấy đôi giày trượt tuyết trẻ em có thể điều chỉnh được, nên chúng vẫn vừa với hai đứa con.”
Và sau đó, trong khi dượng Willem dạy anh Lukas trượt tuyết, dì Helena kéo tôi ra giữa dòng sông băng, từ một dòng nước hung hãn, lớp băng bằng phẳng dưới chân tôi đã chịu thuần phục. Tôi cố bám lấy dì và bà ấy cười to. Rồi dì mở cái ghế nhựa xếp mà dì đã mang cho tôi. Tôi nắm chặt vào lưng ghế như những đứa trẻ xung quanh.
“Lấy chân đẩy đi,” dì bảo tôi. “Giữ lực hướng về phía trước. Con làm tốt rồi đấy.”
Tôi đã sử dụng chiếc ghế xếp như một dụng cụ trượt băng và học cách trượt trên băng với dì Helena bên cạnh. Tôi nhớ mình đã ngạc nhiên như thế nào khi lần đầu thấy dì ấy trượt băng một cách hoàn hảo, mà dĩ nhiên rồi, dì ấy lớn lên ở Hà Lan. Và đó là một ngày tuyệt vời.
Giờ thì Lukas đang nhìn tôi. “Chào mừng về nhà,” anh nói, nét mặt nghiêm túc. Anh là người biết tất cả những ngọt đắng, vui buồn thời thơ ấu của tôi rõ hơn bất kỳ ai.
Dù mọi thứ trong nhà đã được thay thế bằng những đồ đắt tiền hơn, nội thất vẫn xấu xí và ảm đạm như cũ. Tôi có thể thấy từ những viên gạch hoa cương chướng mắt như đang đốt cháy sàn nhà. Chiếc ghế dài có hoa văn cũ kỹ được bọc bằng nhựa tổng hợp Vinyl đã biến mất. Lò sưởi nguội lạnh và trống trơ vì khói sẽ làm hỏng đồ đạc. Không còn tấm thảm ấm cúng giúp xua đi cái lạnh vì chúng tích nhiều bụi. Rèm cửa u ám ngày nào bây giờ vẫn vậy.
Không sách, không nhạc. Nhưng khắp phòng treo đầy những tấm ảnh của Lukas: ảnh trên bãi biển, ảnh ở trường mầm non, ảnh đội một chiếc mũ giấy to đùng với số 4 được kẹp cùng thứ trông như mào con công - đó là sinh nhật lần thứ tư của anh, khi chuẩn bị vào tiểu học vào ngày hôm sau. Đó là bàn tay tôi đặt trên vai anh ấy. Tôi không có trong bức ảnh nhưng tôi đã ở đó, nhìn anh ấy, cố gắng không khóc vì Lukas của tôi sẽ rời trường mầm non trong khi tôi phải ở lại cho đến khi đủ bốn tuổi. Còn đó là Lukas cầm tờ chứng nhận loại A môn bơi, rạng rỡ cười khoe hai chiếc răng cửa bị sún. Dì Helena đã dùng lời tiên tri ngớ ngẩn rằng tôi sẽ chết vì nước như một cái cớ để không cho tôi học bơi, trong khi mọi đứa trẻ khác trong khu phố đều được học. Ở Hà Lan, nước ở khắp mọi nơi. Trẻ con có thể bị ngã xuống kênh rạch ngay cạnh nhà, trước trường học, cả trên các cánh đồng. Nguy cơ lũ lụt luôn tiềm ẩn, và người Hà Lan luôn nhận thức được rằng dòng nước của mẹ thiên nhiên đang chảy ngược để bồi đắp cho cội rễ.
Học bơi thật sự rất tốn kém nhưng tôi đồ rằng, sự xấu hổ khi bà khi dẫn tôi đến lớp học của Lukas còn đắt giá hơn cả. Tôi là đứa trẻ duy nhất ngồi trên hàng ghế chờ cùng người lớn thay vì bì bõm trong nước. Nhưng bà không thể để tôi ở nhà một mình và bà lại mê tín đến nỗi đã nghĩ rằng đó là một ý tưởng hay. Ở trường, tất cả đứa trẻ đều kháo nhau: Cậu đã lấy bằng B chưa? Tớ đã bắt đầu học bằng C rồi đấy. Các bữa tiệc sinh nhật được tổ chức tại hồ bơi mà tôi không được phép tham dự; những buổi đi chơi ngoài bãi biển. Những chuyến đi gia đình bằng thuyền phẳng đáy mà họ neo lại trên sông Vecht. Tôi cảm thấy bản thân như một đứa ngoại lai, một kẻ lạc loài. Có rất nhiều lần tôi bị bỏ rơi. Vì vậy, tôi đã giả vờ rằng tôi không thích học bơi, cho đến lúc sự miễn cưỡng hư cấu của tôi trở thành hiện thực, như rất nhiều thứ mà chúng tôi đã mong chờ khi còn bé.
Giờ thì tôi đã biết về những năm tháng mà tôi bỏ lỡ - Lukas khi ở độ tuổi dậy thì chín muồi, nửa trẻ con, nửa thanh niên, ngồi trên một chiếc xe đạp người lớn quá đỗi to so với anh. Lukas ở lễ tốt nghiệp cấp ba, ngượng nghịu và cao ngồng, cùng với cô bạn cũ của tôi, Estelle - cô ấy cũng rất cao! - Răng cô ấy sáng bóng với niềng bọc kim loại, mái tóc vàng kim buộc cao, ôm lấy anh Lukas khi cả hai cười cùng nhau. Tôi cảm thấy có một chút cô đơn, một khao khát được quay ngược lại thời gian, để được bên cạnh họ trong tất cả những khoảnh khắc đã qua đó. Không có một tấm ảnh nào có mặt tôi. Tôi đã bị xóa đi như thể chưa từng tồn tại.
Tôi nhìn chằm chằm vào một cái giỏ nhỏ để ngăn mình rơi lệ. Nó chứa đầy những mẩu giấy gấp nho nhỏ. Hóa ra, dượng Willem vẫn còn giữ sở thích đó — thế còn tình yêu thương ngầm giấu, sự nỗ lực vụng về để bù đắp cho thái độ thù ghét của vợ ông ấy dành cho tôi thì sao? Bây giờ tôi đã là một phụ nữ trưởng thành. Tại sao dì Helena lại có thể đối xử với một đứa trẻ như vậy? Nếu bà ấy ghét tôi như vậy, tại sao lại nhận nuôi tôi? Tôi muốn hỏi bà ấy nhưng mặc cho những thành công tôi có được sau khi rời khỏi đây, tôi vẫn chẳng có gan để thốt nên lời. Tôi không thể thở được khi nghĩ đến cảm xúc đang rần rần trên mặt mình như một phiến nước nông.
Lukas bước đến và choàng tay anh qua vai tôi. “Mọi thứ ổn chứ?”
Tôi không đủ tự tin để nói. Tim tôi đập nhanh, mắt tôi nóng rát. Tôi đã không mong chờ căn phòng này được sửa sang lại vẻ bề ngoài, nhưng thực chất bên trong nó vẫn vậy, là vì tôi. Tôi đã chọn lãng quên nhiều nhất có thể.
Nhưng như mọi khi, Lukas luôn là người hiểu tôi.
“Em đi tay không và trở về vẫn là tay không.” Giọng tôi bật ra.
Đôi mắt tinh anh của Lukas nhìn xuống bàn tay trái của tôi, nơi tôi vẫn đang đeo nhẫn cưới. Tôi không thể chịu nổi nếu dì Helena biết về sự thất bại này của mình. Giọng anh trầm và ấm. “Em luôn là một điều gì đó, Sylvie à. Em rực rỡ như một tia sáng. Đừng để mẹ anh…” Anh ngập ngừng. “Anh rất xin lỗi vì bà ấy… và anh không bao giờ…”
“Nhưng anh đã. Anh đã từng lén đưa đồ ăn cho em ăn khi em bị phạt, nhớ không? Và lúc đó anh cũng chỉ là một đứa trẻ.” Cái từ phạt, như nghẹn lại trong cổ tôi. Lukas chưa bao giờ làm tôi thất vọng.
“Bà ấy không phải lúc nào cũng như thế. Giờ em đã lớn thì bà ấy –” Một lần nữa, anh lại bỏ dở câu nói của mình.
Tôi cũng đã có những ký ức man mác về một dì Helena ấm áp và dễ chịu, người đã hát ngân nga trong lúc tết tóc cho tôi, nhưng vì lý do nào đó, bà ấy lại không còn yêu thương tôi nữa, cũng như những người khác, ngoại trừ Lukas và Amy. Dì Helena luôn muốn tôi biết bà ấy không phải mẹ tôi. Chính những giọng nói kỳ dị mà một lần hiếm hoi tôi được nghe qua điện thoại mới là bố mẹ thực sự của mình. Tôi cảm thấy lạc lõng xiết bao. Nhưng không sao. Chính những lời cay nghiệt đã làm trái tim tôi mạnh mẽ. Và tôi chợt nhận ra rằng có lẽ suốt những năm qua tôi luôn cố gắng nỗ lực không phải vì để được bố mẹ yêu thương, mà chính là để trở thành một đối thủ xứng tầm với bà ta - Helena.