Đi Tìm Sylvie Lee

Lượt đọc: 56 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 21
Sylvie

❊ ❊ ❊

Thứ Sáu, ngày 22 tháng Tư

Lukas và tôi đã đóng gói xong hành lý và chuẩn bị ra sân bay. Nhưng khi tôi đến phòng Bà để nói lời tạm biệt, có vẻ như bà đang rất khó thở. Bà thu mình thật sâu vào giường đến độ cơ thể gần như vô hình bên dưới tấm chăn, tựa như bà đã bắt đầu rời xa chúng tôi. Tôi có thể cảm thấy cái chết đang ủ ngập trong phòng, như một sự hiện diện chờ đợi đằng sau tấm rèm nặng nề để đòi bà trọn vẹn. Isa luẩn quẩn quanh bà và lùi lũi với bình ôxy suốt, một ánh nhìn căng thẳng xuất hiện trên khuôn mặt vui vẻ thường thấy của cô ấy.

“Có lẽ chúng ta không nên—” Mí mắt của tôi nóng ran và nhầy ướt. Làm sao tôi có thể bỏ bà như thế này? Thời gian của tôi với bà thật quý giá. Mỗi muỗng tôi bón cho bà ăn, mỗi bài hát tôi nghêu ngao cho bà nghe, tôi sợ đó sẽ là lần cuối cùng.

Bà mở miệng nhưng không có lời nào phát ra. Bà bắt đầu ho, khung sọ bủng beo cố chiến đấu vì hơi thở. Tôi đỡ bà ngồi dậy. Bà giữ chặt cánh tay tôi và kéo tai tôi về phía môi bà. “Đi đi.”

Với một cử chỉ mơ hồ và vô định, bà chỉ tay về phía Tasha, con búp bê vải đang ngồi trên bàn cạnh giường với nụ cười bình yên trên môi, rồi đức Phật Quan Âm tự tại ngụ ngay trong góc bàn thờ. “Ta đang ở trong vòng tay của thần nữ.”

Lukas cúi xuống cạnh chúng tôi, trán anh ấy nhăn lại. “Chúng ta vẫn có thể hủy. Sẽ không có vấn đề gì đâu.”

“Cuối tuần là sinh nhật của con rồi,” Bà rủ rỉ. Sau ngần ấy năm, bà vẫn nhớ. “Bà không gọi con tới đây để xem bà chết. Bà không bao giờ muốn gánh nặng đó đè lên những người mà bà yêu thương nhất. Bà chỉ muốn nhìn thấy con sống tốt. Đi đi. Hãy vì bà.”

Tôi ôm lấy cơ thể yếu đuối của bà trong vòng tay và thì thầm vào mái tóc rối bù ấy, “Con yêu bà. Chúng con sẽ trở lại sau vài ngày nữa.”

Bà gật đầu và phẩy tay ra vẻ sốt ruột để chúng tôi rời đi. Khi Lukas cúi xuống nói lời chia tay, bà chộp lấy áo anh. “Hãy chăm sóc con bé.”

Anh ôm chầm lấy bà và nói, “Nhất định rồi Bà.”

Những lời tiếp theo của bà là một tiếng thì thầm vào không trung. “Hãy mở rộng lòng mình, hãy hạnh phúc nhé con.”

Tại điểm hẹn của chúng tôi ở sân bay Schiphol, tôi phát hiện Estelle từ đằng xa. Cô ấy mặc một chiếc đầm bằng vải lanh kiểu ngoại lai làm nổi bật khung xương quai xanh rõ rệt bên dưới chiếc khăn choàng màu be có tua rua ở rìa, cùng tông màu với làn da vàng của cô ấy. Cô túm lấy tôi trước, hôn thật nồng nhiệt lên môi tôi, lưỡi cô ấy gần như ngoáy xuống cổ họng tôi. Đó là Estelle. “Tớ luôn muốn làm điều đó, cậu thật tuyệt vời.”

Vừa cười, tôi vừa đẩy cô ấy ra. “Cậu lấy đâu ra chiếc đầm này vậy? Nó dễ thương đấy.”

“Tớ có một thợ may ở Bombay thiết kế chúng cho tớ. Bất cứ khi nào bay đến đó, tớ đều đến gặp ông ta. Tớ sẽ mua cho cậu một cái vào lần tới nhé.” Rồi cô ấy quay sang Lukas. “Và bây giờ là cậu.” Cô ấy cũng hôn anh thật sâu như vậy cho đến khi một bàn tay nam tính đáp xuống mái tóc của Lukas và kéo anh ra khỏi cô ấy.

“Tớ thấy quá đủ rồi đấy,” Filip nói, đôi mắt sáng rỡ, những ngón tay vẫn đang bới tung mái tóc đen của Lukas, anh ấy trông rất ổn trong chiếc quần jean ống suông tối màu, chiếc áo khoác đen được thiết kế riêng, và một chiếc áo sơ mi cài nút dáng ôm màu xanh navy được trang trí bằng họa tiết viên kim cương nhỏ tí xíu. Nhìn thấy cả hai người họ đứng cạnh nhau khiến tôi gần như ngừng thở. Anh ấy ném cho Lukas một cú đánh yêu phía sau đầu.

“Mày đã cứu tao,” Lukas nói, giả vờ lau mồ hôi rịn trên trán.

“Yeah, đúng rồi. Mày trông chảnh chọe như con vượn bảy dái vậy,” Filip nói. “Mà mày đang mặc cái quái gì thế? Không tìm nổi bộ nào đó đẹp hơn một chút sao?”

“Cái khỉ gió gì chứ?” Lukas lúng túng nhìn xuống chiếc áo khoác da mòn cũ của mình và quần jean bạc màu phía trên đôi giày leo núi cổ thấp nặng ịch mà anh luôn mang. Tôi giấu một nụ cười.

“Mà tao khuyên mày nên nhét thêm ít đồ nữa trong này,” Filip nói, chỉ tay về chiếc ba lô vải nhỏ xíu lại có thể chứa tất cả quần áo và đồ dùng vệ sinh cá nhân mà Lukas đang mang trên vai. “Và bớt lại cái mớ linh tinh kia.” Filip chỉ vào chiếc túi máy ảnh màu đen khổng lồ với đầy ống kính và dụng cụ mà Lukas khuân đi muôn nơi.

“Tao mang đồ lót sạch đó,” Lukas càu nhàu.

“Thôi nào hai anh đẹp trai,” Estelle chen ngang, quàng cánh tay cô ấy vào tay Lukas. “Tới giờ qua cổng an ninh rồi đấy.” Cô ấy dừng lại để một toán khách du lịch châu Á đi ngang qua. Cuối đoàn là một người phụ nữ lớn tuổi ngồi xe lăn, được đẩy bởi một cô gái trẻ tuổi và hấp dẫn, có lẽ là cháu gái của bà ấy.

“Chờ đã.” Tôi đứng đó, hồ như đông cứng giữa sự nhộn nhịp của đám đông. “Tớ không thể ngừng suy nghĩ về Bà được. Có lẽ mình nên ở lại.”

Tất cả dừng lại. Filip chìa tay và xoa nhẹ tóc tôi bằng những ngón tay anh. “Đây là quyết định của em, Sylvie mỹ nhân à, nhưng anh nghĩ Bà sẽ muốn em tận hưởng ngày sinh nhật của mình.”

Tôi đưa mắt nhìn nhóm bạn nhỏ của mình, ngạc nhiên khi họ nhìn tôi quan tâm - và nắm lấy tay tôi. “Anh nói đúng. Mà em cũng chưa bao giờ đến Venice.”

Tôi gà gật tựa lên vai Filip trên máy bay. Anh ấy đánh thức tôi khi chúng tôi chuẩn bị hạ cánh tại sân bay Marco Polo. Có phải Estelle và Lukas cũng rúc mình vào ghế phía sau lưng chúng tôi? Tôi đưa cổ nhìn ra ngoài cửa sổ. Tôi thấy những cụm đảo lớn nằm trong vùng biển màu lam ngọc, và trục đường cao tốc dọc trên biển được điểm tô bằng các cọc gỗ dài, nơi thuyền và tàu taxi chở khách tua tủa theo hai hướng. Tôi đang ở một thế giới song hành.

Chúng tôi lấy hành lý của mình sau khi xuống xe. Bên ngoài nhà ga, đến cả không khí cũng có mùi thật khác, phảng phất hương rong biển và cỏ mới. Nơi đây, tôi sẽ quên Jim. Tại đây, tôi sẽ trở thành một Sylvie mới, hạnh phúc và tự do với chúng bạn. Chúng tôi đi bộ đến bến tàu, tíu tít tranh luận rằng phà hay taxi trên sông sẽ đắt tiền hơn. Cuối cùng, vì chỉ có bốn người, chúng tôi quyết định nhảy lên con tàu taxi.

Người lái tàu của chúng tôi, một anh chàng người Ý dễ thương trong chiếc áo phông bó sát và đeo kính râm, khao khát liếc nhìn Estelle suốt toàn bộ chuyến đi đến khách sạn. Cô ấy cười và vẫy tay với những chiếc thuyền đi qua khi tóc tung bay trong gió. Trên con đường cao tốc giữa biển mà tôi đã thấy từ trên không, chúng tôi lách qua chiếc xe buýt Alilaguna đang tung tẩy lội nước. Nó ních đầy những khách du lịch ép mình vào cửa sổ, đang nhấp nháy chụp ảnh. Lukas đến và đứng bên cạnh tôi, bờ vai rắn chắc ngả vào tôi. Chúng tôi dõi mắt nhìn toán thanh thiếu niên người Ý đang lướt trên những con tàu cao tốc, và các cặp vợ chồng lớn tuổi giàu có đang tận hưởng chuyến đi trên những chiếc du thuyền sang trọng.

Khi chúng tôi băng qua hòn đảo Murano và vòng quanh bờ biển Castell, mặt trời treo lửng lơ phía trên đường chân trời như một tấm huy chương vàng bị nung chảy. Tôi đã mong người ta đánh giá quá cao Venice. Ai cũng biết nó đã ngập trong khách du lịch, Venice đích thực đã bị xóa sổ bởi những quán xá làm tiền, thành phố dần chìm xuống dưới sức nặng của những xói mòn riêng. Tôi cũng đã đọc Cái chết ở Venice. Vậy mà tôi lại đắm say trước đường chân trời nơi những tòa nhà từ thế kỷ mười ba được thắp lên rực rỡ bởi những quả cầu ánh sáng, trước hình bóng tượng Sư tử Venice sải cánh trên đỉnh cột đá granit cao chót vót dưới ánh hoàng hôn tỏa hồng. Một con tàu màu vàng-cam cưỡi sóng lướt qua, được tô vẽ bằng dòng chữ Ambulanza, Venezia Emergenza: tàu cứu thương. Vâng, Venice là một huyền thoại. Nhưng ma thuật của nó là có thật.

Lukas đang chụp ảnh, đôi tay điêu luyện của anh vuốt ve chiếc máy ảnh. Chúng tôi thong dong thả mình qua những ngõ sông dài được soi rọi bởi những quán cà phê nhỏ nơi mọi người tán gẫu dưới ánh nến. Những cây cầu tí tẹo vắt mình trên những dòng kênh yên ả khi những du khách ào ùa và túm tụm nơi những gian hàng với quà lưu niệm lấp lánh trên tay. Chiếc tàu taxi neo lại trước khách sạn của chúng tôi, ngay trên kênh đào chính Grand Canal bên cạnh quảng trường San Marco.

Estelle và các chàng trai đi ăn tối muộn nhưng tôi quyết định đi ngủ. Chuyến đi đã làm tôi kiệt sức. Một khi đã yên vị, tôi không bao giờ muốn rời phòng khách sạn của mình lần nào nữa, một ốc đảo ngát xô thơm và đẽo vàng. Những tấm rèm dày ngăn cách màn đêm khi những ngọn đèn bằng thủy tinh hắt bóng lên tường, những uốn lượn thanh lịch mang dáng dấp xuân thì. Nhân viên khách sạn đã để lại một chai Pellegrino ướp lạnh trong đá, phủ dưới một chiếc khăn thêu mịn. Tôi nằm dựa vào những chiếc gối lông nhung trên giường và ước mình có thể sống từ khách sạn này đến khách sạn khác, không bao giờ dừng lại, không bao giờ cho phép phần đời còn lại bắt kịp tôi.

Sáng hôm sau, tôi tìm thấy Lukas ở nhà hàng của khách sạn, anh đang nghiêng người trên lan can ban công và chụp ảnh những chiếc thuyền gondola có mái che được neo đậu gần đó. Những tay chèo gondola trong chiếc áo phông sọc đen trắng điển hình của họ bước từ thuyền này sang thuyền khác, rà soát và lau dọn trước khi ngày làm việc bắt đầu. Không khí buổi sáng mát mẻ ve vởn quả đầu rối bù của Lukas, trong khi những tia nắng mặt trời nghịch ngợm tóm lấy những sợi hoe vàng và đỏ trên mái tóc thẫm tối.

“Anh dậy sớm thế,” tôi nói.

Anh nhảy lên, và quay lại đối mặt với tôi. “Chúc mừng.” Anh cúi xuống và hôn tôi ba lần. Đôi bờ má vừa nhẵn râu của anh tỏa mùi cam quýt, tuyết tùng và một chút vani. “Ba mươi ba tuổi. Và mới hôm qua thôi, em chỉ có chín tuổi, dường như thế.”

Tôi nhìn vào mắt anh. Tôi không thể nhớ nổi lần cuối cùng tôi cảm thấy sự thỏa nguyện. “Em rất vui vì chúng ta đã quyết định đến đây.”

“Thôi nào, anh đói rồi. Estelle và Filip không phải là kiểu người dễ đánh thức vào buổi sáng đâu.”

Chúng tôi gắp vào đĩa từ bàn tiệc buffet - bánh sừng bò tươi và bánh ngọt, trứng ốp la và salad trái cây - rồi ngồi vào chiếc bàn ngập nắng cạnh dòng kênh. Người phục vụ mang cho chúng tôi trà, cà phê, sữa nóng, cùng nước cam vắt tươi mọng.

Tôi mở một lọ mứt dâu nhỏ và bôi một ít vào chiếc bánh sừng bò của mình. “Đây chắc là nơi đẹp nhất mà em đã từng đến.”

Lukas ngoái nhìn những đóa thu hải đường rộ nở dọc theo lan can rồi đến vùng nước màu lam thẫm nép mình dưới bầu trời u ám không gợn mây. Rồi anh mỉm cười với tôi, đôi mắt anh ấm áp và sẫm tối. “Anh chưa bao giờ thấy điều gì đáng yêu đến như vậy.”

“Không tán tỉnh sớm vào buổi sáng, tao mong thế.” Giọng Filip khô khốc. Bấy giờ, anh ấy đứng cạnh bàn của chúng tôi cùng với Estelle. Cả hai đều đeo kính râm tối màu. “Chúc mừng nhé, cục cưng.”

Từng người họ hôn tôi ba lần, rồi Filip đi lấy thức ăn trong khi Estelle ngồi và thong thả nhấm nháp tách cà phê đen của mình. “Ôi, tớ thật sự rất cần cái này. Bây giờ, chúng ta sẽ làm gì để chúc mừng sinh nhật Sylvie đây?”

“Tớ thực sự không muốn làm gì đó đặc biệt đâu,” tôi nói.

Cô ấy đẩy gọng kính lên đầu và nhìn chằm chằm vào tôi. “Nhảm nhí.”

Filip đặt đĩa của mình xuống, kéo ra một cái ghế và nói, “Chúng ta sẽ đi khám phá vào ban ngày và có thể làm một bữa tối tuyệt vời vào tối nay?”

“Tớ luôn muốn tới Cung điện Doge,” Lukas chen vào.

“Đây là lần đầu tiên Sylvie và Lukas đến Venice, phải không?” Estelle hào hứng. “Các cậu biết điều đó có nghĩa là gì rồi chứ: đi thuyền gondola! Quà tặng của bọn tớ dành cho cậu.”

Lukas và tôi đều rên rỉ.

“Tớ không biết bơi,” tôi uể oải nói.

“Thật không?” Filip hỏi. Anh dựa sát vào tôi, khẽ chùn mi mắt, và thì thầm, “Thỉnh thoảng tớ sẽ phải dạy cậu.”

“Không ai té khỏi gondola được đâu,” Estelle nói, giơ tay lên trong bực tức. “Kể cả những người vụng về cỡ nào. Mà nếu cậu có ngã, tớ sẽ cứu cậu. Tớ được sáu chứng chỉ bơi đấy nhé.”

“Tớ từ chối để một anh chàng người Ý hát cho nghe,” vừa nói, tôi vừa khoanh tay trước ngực.

“Tớ cũng vậy,” Lukas tỏ ý đồng tình, gật đầu thật dứt khoát. “Đặc biệt là nếu gã đó lắm lông.”

Filip nhướn mày, giọng anh trở nên tinh quái. “Đó chính xác là lý do tại sao cả hai người phải kinh qua cái trải nghiệm du lịch rập khuôn ‘số một’ này. Hãy cứ coi nó như một nghi lễ của vòng đời.”

Chúng tôi đã dành cả buổi sáng tại cung điện Doge xa hoa. Sau khi chúng tôi leo lên cầu thang mạ vàng hai mươi bốn cara Scala d’Oro, tôi dừng lại trước một hòn đá khắc họa gương mặt một người đàn ông nhăn nhó với đôi mắt thấu suốt và một cái miệng mở toang.

“Sợ à?” Vừa hỏi, Filip vừa tiến lại gần. Tôi có thể cảm nhận sự ấm áp từ cơ bắp rắn chắc của anh ấy xuyên qua lớp áo mỏng đang áp vào lưng tôi.

“Nó là gì?”

“Bocca di leone, miệng sư tử. Đây là một hộp thư cho những lời buộc tội bí mật, nơi mọi người sẽ để lại những ghi chú về hàng xóm của họ. Quốc vụ Mười sau đó sẽ dẫn đầu một cuộc điều tra được điều hành bởi dịch vụ bảo mật đáng sợ.”

Tôi rùng mình. “Thật đáng ngại.”

“Mỗi bí mật đều có cái giá của nó. Thôi nào, chúng ta đến Cầu Than Thở đi.”

Anh nắm lấy tay tôi và dẫn tôi đến cây cầu nơi các tù nhân đã thở than khi lần cuối cùng được nhìn thấy Venice trước khi bị dẫn vào xà lim tối. Bên trong ngục, các mảnh graffiti được khắc vào những bức tường đá là bằng chứng duy nhất về những mảnh đời đã bị rút cạn ở đó.

Chúng tôi chỉ có ít ỏi thời gian dùng bữa trưa với lát bánh pizza mỏng, giòn từ một người phụ nữ với làn da rám nắng và chiếc khăn in hoa phủ trên tóc trước khi đến Basilica di San Marco - Vương cung thánh đường với những ngọn tháp xa hoa, mái vòm Byzantine, và đá cẩm thạch khảm hoa văn. Trong tất cả các chuyến công tác, tôi chưa bao giờ dành thời gian để tận hưởng những nơi mình đã đến thăm. Luôn là một khách hàng hoặc một đồng nghiệp cần phải gây ấn tượng, luôn là một bài thuyết trình nào khác cần phải được chuẩn bị. Bây giờ thì tôi có thể rồi. Chúng tôi nhảy phốc lên chiếc buýt đường thủy vaporetto để tham quan Kênh đào Chính - Grand Canal, lướt mình qua những tòa nhà được trang trí kỳ công ngay chính trên dòng kênh đông đúc với những sà lan chở hàng, thuyền kayak, thuyền giao nhận, và taxi đường thủy. Tôi phấn khởi khi thấy một trạm xăng được đặt ở bến tàu, phục vụ thuyền thay vì những ô tô.

Vào buổi chiều muộn, Estelle tuyên bố đã đến lúc cho chuyến du ngoạn bằng thuyền gondola. Cô ấy đã lo liệu vé tàu vaporetto và bảo tàng cho chúng tôi, và giờ thì cô ấy mặc cả sành sỏi với một người chèo thuyền trước khi gọi chúng tôi đến. Cố nhiên, cô ấy nói với anh ấy vì đây là sinh nhật của tôi, thế nên tôi có chỗ ngồi danh dự với Lukas - một trinh nữ Venice - như Estelle đã gọi. Estelle và Filip ngồi trên những chiếc đệm nhung đỏ đối diện với chúng tôi. Thay vì một anh chàng ca sĩ người Ý thích ve vãn mà tôi đã e ngại, một quý ông tóc bạc và nhỏ thó bước lên tàu. Anh ta đeo một tấm thẻ nhựa được ghim vào chiếc áo sơ mi gọn gàng. Người chèo gondola đẩy thuyền ra, và ông lão bật loa dưới chân và bắt đầu hát bằng chất giọng nam trung đẹp đẽ, giọng ông ấy vang dội khắp các tòa nhà chung quanh và xuyên qua các dòng kênh hẹp.

Đến cả Filip cũng nhắm mắt lắng nghe, một nụ cười nhoẻn miệng cho thấy sự chấp thuận về chuyên môn của anh đối với phần thủ tục âm nhạc. Anh ấy trông điển trai đến khó chịu: hàng mi đen láy với làn da sáng mịn, đôi môi cong đầy đặn. Điện thoại của tôi kêu tít lên với một tin nhắn từ Amy, chúc tôi sinh nhật tuyệt vời và hỏi khi nào cả hai có thể trò chuyện. Tôi nhanh chóng trả lời lại với một cái cớ, không muốn em ấy biết tôi đang tạm xa Bà, rồi cất điện thoại đi và tiếp tục ngắm nhìn Filip. Nếu Amy từng gặp anh, con bé chắc sẽ thích anh ngay. Anh ấy chính xác là mẫu người Amy chọn: yêu âm nhạc, hài hước và thông minh.

Lukas vòng tay ôm lấy tôi và tôi rúc vào bên anh. Không một điều gì khiến tôi cảm thấy an toàn hơn Lukas.

“Em có nhớ món quà lễ Tình nhân mà anh tặng em không? Trước khi em đi ấy?” Anh lầm bầm.

Tôi nhăn trán. “Anh chưa bao giờ tặng em cái gì như thế cả.”

“Có mà, anh đã làm nhưng anh không ký tên. Anh để nó trong ngăn bàn của em vào ngày lễ Tình nhân.”

Tôi cố nhớ lại. Đã có một cái gì đó. Tôi đã rất ngạc nhiên khi thấy nó, đặc biệt là vì, vào thời điểm đó, ngày Valentine không thực sự được tổ chức ở đây - một tờ giấy bìa cứng màu đỏ rúm ró trong hình dạng một trái tim. Nó đã viết gì chứ? Tôi bật cười. “Đó là anh à? Em nhớ là em được so sánh với một ngón chân hay gì ấy nhỉ?”

Anh gật đầu hài lòng. “‘Không có em, anh như một chiếc tất không bàn chân.’ Giờ thì em biết cảm nhận của anh về em rồi đó.”

Tôi cười thầm, rồi xuôi mình trôi theo nhạc khúc du dương giữa những tòa nhà, tiếng nước vỗ ì ạch vào mạn thuyền, nhịp điệu khua khoắng của các mái chèo gondola. Với khoảng cách gần, tôi có thể thấy cách những ngôi nhà chao nghiêng, những viên gạch đổ vụn chòng chành xuống mặt sóng, rong rêu sinh sôi và nảy nở dọc con nước, đôi ba bức họa graffiti nguệch ngoạc khắp đây và kia. Sự mong manh, yếu đuối của nơi này lại khiến tôi yêu mến nó nhiều hơn.

Lukas kéo tôi lại gần và tựa má vào tóc tôi. Dù Estelle đang luyên thuyên nói và Filip dường như đang ngủ, tôi nhận ra cả hai người họ đều dõi theo chúng tôi: Estelle liếc nhìn từ khóe mắt và Filip với cái khép mắt hờ. Mặt, cổ và tai tôi bắt đầu nóng bừng lên. Tôi vươn vai và kéo mình ra khỏi vòng tay của Lukas. Trước ánh mắt ngạc nhiên của anh ấy, tôi nhún vai một chút và ngồi thẳng người, giữ một khoảng cách giữa cả hai.

Khi người ca sĩ dừng lại, Filip nói chuyện với ông ấy bằng tiếng Ý trôi chảy.

Lukas quay sang tôi và ngoác miệng nói, khoe mẽ.

Estelle đạp chiếc giày lười của mình lên chân Filip. “Được rồi, đủ ấn tượng rồi đấy. Cậu có thể dừng được rồi.”

Filip nhìn chúng tôi mất một lúc. “Tớ từng có một người bạn Ý rất tốt.” Rồi anh nói gì đó với người hát rong khiến ông ta ném trả anh ấy một tràng cười.

Estelle liếc nhìn tôi và chỉ vào tay chèo thuyền gondola của chúng tôi. Tôi quay lại và thấy ông ấy đang chụp ảnh tự sướng cùng với điện thoại. Filip bắt gặp ánh mắt của người chèo thuyền và rồi tặng cho ông ta một nụ hôn gió có chủ đích. Người đàn ông đỏ mặt và suýt làm rơi cả điện thoại.

Tôi cười thầm và Estelle nghiêng người về phía trước. “Cậu nên cười nhiều hơn, Sylvie. Nó rất hợp với cậu.”

Tôi đăm chiêu cúi nhìn xuống mặt nước và tự hỏi điều gì mà Estelle đã nhìn thấy trên gương mặt tôi bấy lâu.

Tối hôm đó, chúng tôi đi ăn tối tại một nhà hàng chuyên phục vụ các món ăn Venice. Chúng tôi ngồi dưới những chiếc ô màu đỏ trên tầng thượng nơi đầu dòng sông đào, nước bao phủ chung quanh. Bữa ăn hôm nay do tôi mời, tất nhiên, một phong tục đã làm ngáng chân tôi khi lần đầu tiên tôi chuyển đến Hoa Kỳ. Đối với người Hà Lan, theo thông lệ, người có sinh nhật sẽ thết đãi những người khác, trong khi ở Mỹ, điều này là ngược lại.

Estelle, luôn chu đáo và thiết thực hơn bao giờ hết, đã nói với nhà hàng về việc tôi dị ứng hải sản, rồi ngồi vào ghế bên cạnh tôi, và tất cả chúng tôi cùng nâng cao chai prosecco như một lời chúc mừng.

Tôi tựa khuỷu tay lên bàn, đan những ngón tay vào nhau và đặt cằm lên đôi tay. Tôi nghiêng đầu về phía Estelle, thật thi vị, tự do, và bất cần. Tất cả mọi thứ tôi mong muốn. “Cậu tiến xa thật đấy. Một nữ phi công. Cậu có thấy khó không?”

Cô ấy xoay một ngón tay quanh mép ly. “Cậu không biết đâu.”

Filip lên giọng chế giễu và đảo mắt. “À, vâng, rất khó để trở thành người phụ nữ duy nhất trong buồng lái với đám đàn ông mặc đồng phục. Thôi nào, tớ biết thừa là cậu thích được chú ý mà.”

Cô cười toe toét và uống một ngụm lớn. “Nó rất tuyệt, nhưng đôi khi thôi. Giống như khi chúng tớ bay đến châu Phi và ra ngoài vào ban đêm, tất cả họ đều để mắt đến tớ. Nhưng rồi gã phi công phụ đến gõ cửa và đòi quan hệ, và nếu tớ nói không, gã sẽ nói với mọi người rằng mình là một ả phi công bần tiện. Có kẻ còn thẳng thừng nói với tớ rằng đây không có chỗ dành cho một phụ nữ.”

“Chà, đó không phải là một nghề hay ho gì nếu cậu muốn lập gia đình.” Một làn gió thoáng qua khẽ thổi xù tóc Lukas khi anh nói.

Thức ăn của chúng tôi đến sau đó và mọi người im lặng khi trầm trồ nhìn ngắm món ăn, hít hà những mùi thơm ngào ngạt, và phẩy tung khăn ăn ra.

Estelle đã gọi món sò điệp với thì là. Cô ấy cắn một miếng và nhai từ tốn trước khi trả lời. “Thật. Nếu là một người phụ nữ muốn có nhà cửa, vườn tược và thú cưng, thì việc trở thành một phi công không phải là lựa chọn tốt, trừ khi cậu có thể tìm một người đàn ông tốt bụng để làm chồng.” Cô ấy chun mũi với Lukas đang cười toe. Họ đã nói về điều này sao? Dừng lại đi Sylvie. Đó không phải là việc của mày.

Tôi nếm qua mì sợi tagliatelle với atisô và pho-mát pecorino rồi chép miệng; độ sắc nét của phô mai làm nổi bật sự mượt mà của mỳ ống. “Món này ngon quá, tuyệt vời số một luôn ấy.”

Những người khác gật gù cùng ý kiến.

“Nhưng đôi khi tớ có thể tưởng tượng điều đó không dễ dàng gì với cậu,” tôi nhấn mạnh.

Khuôn mặt biểu cảm thường ngày của Estelle lặng dần đi và cô ấy đánh rơi vẻ mặt hồ hởi trong khoảnh khắc. “Ai cũng đều nghĩ tớ là một tiếp viên hàng không. Các hãng bay luôn nói họ muốn tuyển thêm thật nhiều phi công nữ nhưng sự thật là, không có luật nào quy định điều này và họ thì ưu tiên đàn ông hơn. Khi tớ làm bài thi để nhận giấy phép thương mại, người chủ khảo mở cửa và anh ta nói với tớ rằng, ‘Ủa, là đàn bà sao. Cô có biết bầu trời màu gì không đó?’ Ha ha. Tớ đã cho ông ta thấy tớ giỏi như thế nào. Nhưng tớ không thể tưởng tượng được mọi chuyện đều thuận buồm xuôi gió đối với cậu luôn đấy, Sylvie.” Trên gương mặt cô ấy, tôi có thể thấy cô ấy đã nhớ đến một tôi thô kệch, quê mùa, kỳ quái và bị cô lập ra sao.

Tôi nốc cạn ly của mình và đưa nó cho Filip rót đầy. Tôi nên nói với cô ấy bao nhiêu đây? Nhiều năm im lặng theo thói quen dường như đã khóa chặt môi tôi, nhưng cơn sóng vỗ rì rào, thiên đường ấm áp được tạo ra bởi ánh nến, ánh trăng tròn lơ lửng treo như một quả mọng trên đầu, và gương mặt cảm thông của họ đã khiến tôi phải suy xét lại.

“Muốn cắn một miếng không?” Vừa hỏi, Filip vừa đẩy đĩa mỳ linguine mực đen về phía tôi.

Tôi giơ tay từ chối. “Bị dị ứng, nhớ chứ? Tớ không muốn đến bệnh viện vào ngày sinh nhật đâu nhé.” Tôi quay sang Estelle, cô ấy xoay ngược ghế trở lại, tay vẫn giữ khư khư chiếc ly. Tôi đã giữ Jim trong lòng mình quá lâu và mải tơ tưởng về nơi tôi thuộc về. Một Sylvie mới sẽ được sinh ra ở Venice. “Thật ra, nó vẫn rất khó đối với mình. Người Quản lý Nhân sự trong dự án cuối cùng của tớ đã nói với mình rằng, ‘Tao ngưỡng mộ dân nhà mày nhiều lắm. Ý tao là, bọn nhập cư Trung Quốc ấy.’’’

Filip lắc đầu buồn bã. “Chẳng phải là một lời khen.”

“Tiếp theo là, ‘Dân Tàu đang hủy hoại nền kinh tế của bọn tao’ hoặc là ‘Bọn dân Tàu bốc mùi kinh lắm.’ Lukas đẩy con cá tuyết muối của mình vòng quanh đĩa.

Tôi nhớ đến cô giáo ở trường tiểu học New York của tôi, người đôi khi gọi tôi là Miss Ching Chong. “Tớ nghĩ rằng dù ở bất cứ đâu, sống trong thế giới như một người da trắng là một trải nghiệm hoàn toàn khác với một người da màu. Phân biệt đối xử là vô hình với họ bởi vì nó không ảnh hưởng đến họ. Họ thực sự bị sốc.”

“Hoặc giả sử bạn là một phụ nữ hay đồng tính nam,” vừa chêm vào, Filip vừa gõ gõ ngón tay xuống mặt bàn.

Người phục vụ xuất hiện sau đó để nhận đơn món tráng miệng của chúng tôi. Filip hỏi, “Tớ tự làm nhé?” và chúng tôi gật đầu. Anh ấy liếc nhìn thực đơn và bắn ra một tràng tiếng Ý mau lẹ.

Sau khi người phục vụ rời đi, Filip ngả người ra sau và bắt chéo chân. “Các cậu biết đó, đã có tuyến nhân vật người châu Á da vàng trên tivi suốt nhiều năm. Kể từ sau khi cậu đi.”

“Tớ đã nghe về nó.” Tôi đã đọc tin tức Hà Lan suốt thời gian tôi không ở đó. “Không phải là cũng có phim sao?”

Lukas khum tay quanh cây nến trên bàn. Ánh sáng chấp chới tỏa ngang sống mũi thẳng, gò má cao của anh ấy. “Có, một phụ nữ da trắng ăn mặc như một người châu Á, nói thứ tiếng Anh kinh khủng và lạc quẻ với những ngôi sao nổi tiếng quốc tế. Một kiểu giả khù khờ. Hay còn gọi là ngu si. Có lẽ người châu Á đơn thuần không phản kháng đủ mạnh.”

Món tráng miệng đã đến, những chiếc đĩa chứa đầy bánh quy giòn zaeti, bánh rán vòng ciambelle, một chiếc bánh quy hạnh nhân amaretti, và bánh bao chiên ngọt kiểu Venice.

Tôi cắn một miếng ciambelle và nói, “Ở Mỹ, có thể họ cũng phân biệt chủng tộc, nhưng ít nhất họ vẫn nhận thức được rằng điều đó là sai.”

Vừa nói, Estelle vừa nhét một cái bánh bao vào miệng, “Đôi khi tớ nghĩ bởi vì người Hà Lan cho rằng chúng ta được giải phóng và tự do quá nhiều, chúng ta dần trở nên mù quáng trước những lỗi lầm của chính mình.”

Filip nghiêng đầu sang một bên và nhìn tôi với ánh mắt xanh trong vắt. “Vậy chuyện với gã Quản lý Nhân sự của em thế nào nữa?”

Tôi hít một hơi thật sâu và tự nhắc nhở mình, một Sylvie mới. “Thật ra, anh ta khiến em bị sa thải.”

Lukas như đóng băng với chiếc bánh quy zaeti dang dở trên đĩa. Estelle đưa tay ra và nắm lấy tay tôi. “Gì chứ? Ôi, bạn thân yêu. Chuyện gì đã xảy ra vậy?”

Tôi không thể nhìn vào ánh mắt họ. “Hắn ta đã muốn tống khứ tớ ngay sau khi tớ nói rõ với hắn là tớ không hứng thú chơi đùa với gã trên giường. Vì vậy, khi tớ đã dại dột ném cho anh ta một cái cớ, anh ta đã xuống tay ngay.” Tôi nhún vai. Tôi đã thất bại trước tất cả. Họ sẽ nghĩ gì về tôi lúc này?

Lukas nghiêng cằm tôi trong tay anh. Khuôn mặt anh mờ mịt. Tôi chớp mắt để nhìn rõ hơn khi anh nói, “Đó không phải là lỗi của em.”

Tôi cười nghẹn ngào và đưa một bàn tay run rẩy lên má. “Hắn ta không phải là người duy nhất muốn tớ đi. Tớ không thực sự có bạn bè khi ở Mỹ.” Cổ họng tôi đặc quánh, thể như tôi đang bị dị ứng.

Estelle ném cho tôi một cái nhìn hoài nghi. “Sao cậu có thể nói vậy? Tại sao không chứ?”

“Người ta cần mình để tạo mối quan hệ thôi, còn những người không cần thì biến mất ráo.” Tôi ôm vai mình, cằm rụt sâu xuống cổ. Tôi đột nhiên thấy ớn lạnh.

Lukas hỏi, mắt dán chặt vào tôi, “Tại sao vậy?”

Thật đau đớn khi phải thừa nhận tất cả mọi thứ, nhưng cảm giác cũng thật tốt. Không trốn chạy nữa. “Là lỗi của em. Em luôn giữ khoảng cách với họ. Em lạnh lùng và vô cảm. Em luôn là người phải chơi violin đầu tiên.”

Filip mỉm cười và vờ rùng mình trước ý nghĩ tôi chơi bất kỳ nhạc cụ nào, sau đó nhấc tay tôi từ bên kia chiếc bàn nhỏ và ấn vào đó một nụ hôn ấm áp. “Nực cười thật. Cậu không hống hách. Hãy nhớ rằng, cây cao sẽ bị gió lớn quật ngã.”

Estelle vòng tay ôm lấy tôi. “Tớ có giải pháp này: Đừng trở lại, Sylvie. Hãy ở lại đây với bọn mình.”

Tôi ôm cô ấy và nhìn hai người đàn ông phía bên kia bàn: Filip, với đôi lông mày thanh lịch cong lên trong thách thức, và Lukas, với trái tim nồng ấm tỏa rực trong đôi mắt. Hãy ở lại.

Sau đó, khi chúng tôi cố gắng băng qua Quảng trường San Marco để trở về khách sạn. Tôi đã rất ngạc nhiên khi thấy nước ngập lênh láng ít nhất 25 cm, ánh đèn lơ lửng treo trên từng cổng vòm đang phản chiếu dưới làn nước lấp lánh. Quảng trường rộng lớn đã trở thành một vùng biển, chẳng có nơi nào khô ráo cả. Một vài du khách bọc tấm lót nhựa ở gót và chân trong khi những người khác lội chân trần. Một số người thì gác chân trên những chiếc ghế tre và kim loại bị ngâm một phần trong nước được bố trí sẵn trước đó để dùng bữa, giày của họ treo lủng lẳng trên tay vịn.

“Chuyện gì xảy ra thế này?” Tôi hỏi, cảm giác khó thở trước sự biến đổi chóng vánh này.

Estelle nói, “Hiện tượng Acqua alta đấy. Xảy ra trong suốt các chu kỳ nhất định của mặt trăng khi thủy triều lên cao.”

“Cậu biết trước vụ này sao?” Vừa nói, Lukas vừa phát nhẹ vào cánh tay cô ấy. “Mà sao cậu không báo cho mọi người chứ?”

Estelle mở chiếc túi tote bằng da màu đen của mình và rút ra một đôi ủng cao su bọc trong một túi nhựa mỏng.

“Không thể tin được,” Filip reo lên với một tiếng cười sảng khoái.

“Cậu giữ cả ủng trong túi hiệu Prada sao?” Tôi tròn mắt nói rồi lắc đầu trong hoài nghi.

“Mua một đôi giày đi mưa với giá rẻ bèo ở HEMA, chỉ mười euro,” cô ấy vui vẻ nói và cởi bỏ đôi búp bê Rockstud hiệu Valentino của mình và nhét chúng vào chiếc túi nhựa mà cô đã sử dụng cho đôi ủng.

Lukas thở dài. “Đúng là thằng chột thì được làm vua xứ mù mà.”

Cô ấy xỏ đôi giày đi mưa kaki vào. Tôi nhìn xuống đôi giày sục champagne satin hiệu Chanel, quần ống rộng vải lanh màu xanh của mình. Chúng sẽ bị nước làm hư mất.

“Tớ đã định sẽ nói với cậu,” Estelle nói, “nhưng tớ biết cậu chẳng thể nhét vừa thứ gì vào chiếc xắc nhỏ xinh của cậu đâu. Mà nhân tiện, tớ thích nó lắm đấy. Chất lụa dệt trông đáng yêu kinh khủng.”

Estelle bắt đầu lội qua quảng trường. Tôi hít một hơi và chuẩn bị lao theo sau cô ấy khi Lukas ngăn tôi lại bằng một cú chạm vai.

“Hãy cho phép anh cõng em nhé,” anh nói, ánh đèn đường phía sau tỏa quầng sáng chói lọi trên mái đầu. Anh đứng đó, khoáng đạt và khôi ngô, dang đôi tay thay cho một lời mời, với một nụ cười nhỏ hiển hiện trên khóe miệng.

Nhưng trước khi tôi có thể bước vào vòng tay của anh ấy, Filip đã nhấc bổng tôi lên từ phía sau. Tôi ôm chặt lấy cổ anh, cười ào khi anh xoay tròn mãi đến khi thế giới đảo lộn khiến tôi choáng váng và thở hổn hển. Rồi anh sải bước qua vùng nước mênh mông tối của quảng trường, cánh tay mạnh mẽ của anh ôm chặt lấy tôi, trong khi bỏ lại Lukas ở phía sau.

Đến sáng hôm sau, nước lũ đã rút đi như thể nó chưa bao giờ tồn tại. Đây là ngày cuối cùng của chúng tôi ở Venice. Chúng tôi đã cố mua bằng được vé cho buổi hòa nhạc tối này, nhưng chương trình duy nhất còn lại được trình diễn bởi các nhạc sĩ trong trang phục cổ xưa.

Filip vờ dí ngón tay xuống cổ họng. “Tớ từ chối xem chương trình Punch và Judy này nhé.”

“Bữa tối hóa trang và khiêu vũ trước đó.” Estelle đọc tờ chương trình. “Yêu cầu: Dùng mặt nạ.” “Kiểu ‘bẫy du lịch’ chăng?” Filip nói.

“Tớ nghĩ có vẻ vui đấy,” vừa nói, tôi vừa liếc nhìn qua vai cô ấy. “Mà chẳng phải hôm nay chúng ta sẽ mua quà và đồ lưu niệm sao?”

Để xoa dịu Filip, lần đầu tiên chúng tôi đến thăm nhà hát opera nổi tiếng Teatro La Fenice. Chúng tôi quyết định đi theo tour âm nhạc, nhưng mãi đến lúc Estelle và Lukas biến mất, tôi bắt đầu thấy chán dần. Thay vào đó, tôi luẩn quẩn theo Filip. Khuôn mặt anh hớn hở, vẻ càu nhàu đã hoàn toàn tan biến.

“Thật tuyệt vời khi tới đây,” anh ấy nói. “Monteverdi được thuê làm người chỉ huy hợp xướng ở đây. La Traviata và Rigoletto được công chiếu tại đây. Rossini, Bellini.”

Đến lúc này, chúng tôi đã leo lên cầu thang và có thể nghe thấy âm nhạc phát ra từ sân khấu bên dưới. Cánh cửa hé mở và chúng tôi lén nhìn qua một trong những khán phòng opera trung tâm, một nửa khách du lịch đang chăm chú xem một buổi diễn tập giữa đoạn. Chúng tôi chen vào hai chỗ trống. Ban đầu, tôi quá sức kinh ngạc trước vẻ đẹp của nhà hát để chú tâm đến vở diễn. Căn phòng rực rỡ với những khuôn đúc dát vàng tinh xảo và những bức tranh bên dưới một chùm đèn khổng lồ.

Người phụ nữ theo phong cách tối giản vận bộ áo sơ mi và quần đen giản dị, kết hợp với giày cao gót stiletto hiệu Louboutin mà tôi khá chắc bởi cái đế đỏ đặc trưng của họ. Hai nam ca sĩ mặc áo choàng tắm và dép lê. Tôi không thể biết đó có phải phục trang của họ không bởi đây là một vở opera hiện đại hoặc cũng có thể là quần áo bình thường của họ. Khi họ cất tiếng hát, âm nhạc như vang vọng khắp tâm hồn tôi.

Khi chúng tôi rời đi để nhập bọn trở lại cùng Lukas và Estelle, tôi thốt lên, “Tớ nghĩ tớ có thể hiểu kịp rồi.” “Gì cơ?”

“Âm nhạc. Em gái tớ, Amy, sống vì nó. Tớ chưa bao giờ thực sự hiểu trước đây.” Tôi lần lần ngón tay dọc theo bức tường khi chúng tôi đi qua.

Chúng tôi bắt đầu bước xuống bậc cầu thang rườm rà và Filip chụp lấy khuỷu tay tôi. “Coi chừng đấy. Mà cậu học được gì rồi?”

“Cái mà nó có thể diễn tả một điều gì đó ngoài lời nói, ngoài logic và vượt ra cả những suy tưởng lý trí.”

“Lần đầu tiên tớ nghe đàn cello, tớ như tỉnh ra. Giống như âm nhạc vừa gửi một lời chào đến điều gì đó trong tớ, một thứ mà không ai có thể nhìn thấy được.” Anh ấy vòng tay siết lấy vai tôi trong một cái ôm lỏng lẻo.

Thật không bình thường khi Filip cởi mở đến như vậy về một vấn đề quan trọng với anh ấy. Tôi vuốt ve trìu mến đôi tay anh, rồi nhìn đăm đăm xuống cầu thang khi thấy Lukas đang dán mắt nhìn chúng tôi. Estelle đang bận kiểm tra điện thoại của cô ấy ở bên cạnh. Khuôn mặt anh căng lên. Anh ném cho tôi một cái nhìn đau đáu, nhức nhối đến nỗi tôi phải cố né xa Filip đang ghì chặt lấy mình.

“Các cậu đã ở đâu vậy?” Lukas hỏi, giọng bình thản mặc cho nét môi đang căng lên.

“Chúng tớ bị lạc,” Filip đáp với một nụ cười hài lòng. “Nhưng giờ thì tìm được rồi.”

Chúng tôi tiến đến cầu Rialto để mua sắm tại các gian chợ nhỏ và cửa hàng ở hai bên kênh đào Grand Canal. Chân của tôi như rệu rã trước cả khi tới đích. Tôi đã không nhận ra rằng tất cả những cây cầu hình vòng cung quyến rũ ở Venice đều

có nhiều bậc, giống như những cầu thang vậy. Du khách khắp nơi nhốn nháo và hồng hộc lôi hành lý nặng nề của họ đến khách sạn.

Estelle và tôi lang thang tay trong tay qua khu chợ đông đúc và ồn ào, thích thú liếm que kem gelati đang nhiễu giọt. Tôi chợt thấy ở cửa sổ một quầy hàng gần đó đầy kín những mặt nạ và trang phục lễ hội. Bên trong, các nghệ nhân đang cần mẫn làm việc.

“Một nhà sản xuất mặt nạ thực thụ,” tôi thốt lên. “Cả bọn có thể tìm được vài thứ ở đây.”

“Gay go nào bằng bắt chó miễn cưỡng đi săn thỏ kia chứ,” Filip sừng sộ.

Estelle chộp lấy cánh tay anh ta và kéo vào cửa hàng. Lukas ngoan ngoãn làm theo. Chúng tôi xem một nghệ sĩ vẽ chi tiết trên một mặt hề trước khi Estelle và tôi bắt đầu thử mặt nạ che mắt. Cô ấy mua một chiếc được làm bằng nhung thêu những xoáy hoa xanh và bạc. Của tôi thì được phủ bởi lá vàng và dây đan macramé; một chùm lông vũ sắc đen huyền tô điểm trên trán. Với Amy, tôi đã mua một lá trang sức chạm kim hoàn filigree màu đen tinh tế được trang trí bằng pha lê. Trong khi đó, Filip và Lukas cười phá lên trước diện mạo khác lạ của mình. Cuối cùng, Filip chọn một mặt nạ nửa mặt bằng lá bạc và Lukas với mặt nạ kín hết mặt Kabuki đỏ-đen của Nhật Bản.

Trong một cửa hàng bán kính Murano chính hiệu, tôi chọn mua cho Mẹ một chiếc đồng hồ màu lục mặt tròn bản rộng với hạt cườm nhỏ viền xung quanh, và dành cho Bà một chiếc móc khóa bằng vàng trắng với chìa khóa lủng lẳng từ thủy tinh Sommerso. Dòng suối màu xanh hổ phách chảy qua lớp thủy tinh. Tôi gần như thất bại trong việc tìm một món quà dành cho Bố, nhưng rồi Lukas chỉ cho tôi một con dao bỏ túi Solingen với hình chạm khắc con sư tử sải cánh của Venice. Tôi thật sự không thể chờ để trao cho người thân những món quà mà tôi tặng họ.

Tối hôm đó trong bữa tiệc giả trang, một chú hề mặt trắng trôi từ bàn này sang bàn khác, viện cớ này nọ khi anh ta không bán được hoa hồng bằng điệu bộ riêng. Những bông hoa ở khắp mọi nơi, rũ rục nằm trên bàn, bện mình vào tán cây, mùi hương ngọt ngào và nồng nàn của chúng ngập ngụa khắp không gian. Giai điệu du dương từ ban nhạc như trôi trên những phiến đá khi các đôi tình nhân đeo mặt nạ, ngà khướt trong men say và vô định, mơn trớn nhau trong góc tối. Ở bàn bên cạnh, một người đàn ông ẩn sau chiếc mặt nạ hình đầu lâu đính kim cương trắng nhúng những ngón tay vào rượu vang đỏ và để người bạn tình của mình, cô gái với chiếc mặt nạ mèo Ai Cập bằng đồng, khẽ liếm từng ngón tay một. Một người phụ nữ trong bộ váy dáng ball gown lấp lánh với chiếc mũ nữ thần mặt trời cầu kỳ đang xoay vòng quanh sàn nhảy với một người đàn ông đeo mặt nạ bác sĩ dịch hạch kỳ quái, cái mũi dài khoằm chúi vùi vào những sợi lông vũ trên tóc cô ta.

Khi Estelle mời tôi nhảy, tôi lắc đầu. Cô ấy như hồi tưởng điều gì đó lúc lâu, khúc khích cười và cố kéo Lukas đứng lên. Anh ấy cũng từ chối, để lại Filip đang liếc nhìn tôi lần lữa khi anh và Estelle rời khỏi bàn, đôi mắt sáng lấp lánh sau chiếc mặt nạ bạc, khóe môi anh nhếch lên thành một nụ cười nửa miệng.

Không một lời nói, Lukas lần tìm tay tôi dưới gầm bàn. Anh đứng phắt dậy và dẫn tôi đến khoảng tối phía sau khán đài, và kéo tôi lại gần. Khi tôi đung đưa trong vòng tay anh, màn đêm dường như là hư ảo: những vũ công đeo mặt nạ, mê cung kỳ lạ của những con đường tủa ra từ quảng trường nhỏ, ánh đèn dịu nhẹ, tất thảy đang tạo ra vũ trụ của riêng chúng tôi. Tôi không thể nhìn thấy khuôn mặt anh ấy qua lớp mặt nạ và anh ấy cũng vậy. Ý niệm nhục dục dẫn lối theo thỏa mãn trong tôi: ánh nhìn trong đôi mắt, dưới quai hàm, nơi khé cổ. Khi tôi xoay người bên dưới cánh tay anh, những lông vũ trên mặt nạ cọ vào tay áo anh. Rồi anh ấy dẫn tôi vào một con hẻm tối - và anh áp lưng tôi vào tường gạch, hai tay anh ôm lấy đầu tôi, những ngón tay mơn trớn hốc cổ tôi dịu dàng. Tôi đang thở rất nhanh. Anh cao vượt trên tôi. Chiếc mặt nạ như giấu anh khỏi tầm nhìn của tôi.

“Sylvie,” anh thở hắt ra. Giọng anh dịu ngọt và căng đầy nội nhiệt. “Chuyện này thật điên rồ.”

Anh đẩy mặt nạ lên đỉnh đầu và rồi anh hôn tôi, làn môi anh ấm nóng, chực chờ. Tôi đan ngón tay mình vào khối tóc mượt mà của anh như tôi đã khao khát từ rất lâu. Miệng tôi mở ra, và anh ta nhấc bổng tôi lên khỏi mặt đất, ép tôi vào cơ thể dẻo dai của anh. Nụ hôn đặt trên môi như một rìa núi kéo chúng tôi ngã nhào, chúng tôi đang rơi và rơi. Bàn tay anh, chai sần với những ngón tay dài, mơn trớn làn da tôi, kéo lơi quai áo xuống khỏi vai tôi. Đôi mắt anh tối sầm vì dục vọng, khẩn thiết, và đòi hỏi. Tôi vẫn đeo mặt nạ và cảm giác như mình đang bơi trong mật ngọt; không có gì ngoài xúc cảm. Tôi đang chìm đắm trong nó, với cơ hội cuối cùng của tôi, thứ duy nhất của tôi.

“Một nụ hồng cho người phụ nữ xinh đẹp chứ?”

Tôi nhảy lên và chúng tôi tách nhau ra, cả hai thở hổn hển như thể vừa chạy marathon. Là gã hề vụng tài.

“Ngày mai là lễ hội San Marco. Truyền thống là người đàn ông sẽ tặng cho người phụ nữ anh ta yêu một đóa hồng,” gã hề tiếp tục nói.

“Không!” Lukas gào lên, rồi cả hai chúng tôi cùng phá lên cười khi gã hề giơ hai tay lên và rón rén rời đi một cách cường điệu.

“Gã ta không thể im lặng sao?” Lukas làu bàu.

“‘Chú hề biết nói.’ Nghe là đủ hiểu rồi.” Tôi vuốt tóc mình bằng những ngón tay. Chúng vẫn còn run rẩy. “Bọn mình nên trở lại thôi.”

Anh ấy chìa tay ra và giúp tôi chỉnh chu lại mặt nạ và quần áo, và lẩm bẩm vào tóc tôi, “Hãy nói với anh trước khi chúng ta đi - Filip sao?”

Tôi ấn một nụ hôn dịu dàng vào mu bàn tay anh. “Chỉ là một trò chơi.”

Chúng tôi đã cố trấn tĩnh suốt quãng đường, nhưng khi bắt gặp cái nhìn của những người khác, đôi mắt long lanh và khuôn miệng của họ nói với chúng tôi rằng họ không dễ bị lừa phỉnh chút nào.

Tôi chẳng nghe nổi một nốt nào của buổi hòa nhạc đó. Tôi ngồi run rẩy, hồi tưởng lại từng khoảnh khắc của nụ hôn vừa rồi trong khi dàn nhạc với phục trang cổ xưa đang tấu lên tổ khúc của Vivaldi. Mọi người đã tháo bỏ mặt nạ của họ và tôi biết mặt mình đang đỏ ửng, đôi mắt hóa hoang dại. Lukas ngồi cạnh tôi. Tôi cảm thấy sức nóng tỏa ra từ anh ấy. Tôi cảm nhận rõ từng nhịp gập của cánh tay anh, độ nghiêng của mái đầu, và cả cách những ngón tay anh gõ nhịp trên tay vịn ngăn cách giữa chúng tôi.

Khi chúng tôi rời đi, phần nhiều khán thính giả lại đeo mặt nạ lần nữa. Tôi ngờ rằng họ đang đi đến các lễ hội khác. Tôi đang nhún vai và choàng áo ở ngưỡng cửa khi tôi chựng lại, sững sờ khi nhìn thấy một người đàn ông tóc vàng trong chiếc mặt nạ kín mặt bauta với cái cằm nhô nhọn hoắt và không có miệng. Cách anh ta di chuyển, đôi bờ vai, đường ven cổ: đó là Jim. Tôi chắc chắn về điều đó. Mắt chúng tôi chạm nhau.

Anh ta đang làm gì ở đây? Có phải anh ta đang theo dõi tôi? Tôi bắt đầu luồn lách qua đám đông theo hướng ấy nhưng anh ta đã quay đi. Sau đó, một nhóm người cười đùa chặn tầm nhìn của tôi, một người phụ nữ trong bộ váy đen thời thượng đang khúc khích cười.

“Xin cho qua,” tôi khẩn thiết, cố chen mình qua một người đàn ông đeo mặt nạ hề harlequin đỏ trắng. “Xin cho tôi qua, chuyện này rất quan trọng.”

Nhưng Jim đã đi rồi.

Tôi thở hổn hển khi ai đó nắm lấy cổ tay tôi từ phía sau và xoay ngược tôi lại. Là Lukas.

“Có chuyện gì vậy?” Anh ấy hỏi.

Tôi để đám đông ép mình vào khuôn ngực rắn chắc của anh ấy. Tôi dụi má vào áo của anh và nói, “Em nghĩ em vừa thấy một người mà em biết.”

Cánh tay anh len lỏi quanh eo tôi. “Chồng cũ của em?”

Tôi cứng đờ người khi quay đi. Cuộc sống của tôi là một mớ hỗn độn, và giờ tôi đang phóng mình vào bóng tối. Những gì tôi cảm nhận về Lukas có là thật? “Thật ra, bọn em vẫn còn trong hôn thú. Thôi nào, không thể là anh ấy.”

Trên đường trở về khách sạn, Estelle và tôi đi trước khi những chàng trai nán lại ở phía sau. Giọng nói của họ trôi về phía chúng tôi trong gió đêm. Họ đang tranh cãi về buổi hòa nhạc.

“Cậu có muốn nói về điều đó không?” Estelle nhỏ nhẹ hỏi. Tôi cúi nhìn dưới đất và lắc đầu. Cô ấy đặt một bàn tay dịu dàng lên tôi vai. “Không sao đâu, Sylvie. Tớ không buồn đâu.”

Tôi luồn tay qua cánh tay cô ấy và đan những ngón tay của chúng tôi lại với nhau. “Cậu thật tốt với tớ. Tớ không xứng với một người bạn như cậu.”

Cô ấy khựng lại và nâng bàn tay chúng tôi lên như một chiếc cúp. “Đàn ông rất thú vị, nhưng chúng ta sẽ không bao giờ để ai đó chen giữa tình bạn của chúng ta.”

Tôi mở miệng định đáp nhưng dừng lại khi nghe những tiếng ồn ào phía sau lưng.

“Mày ngạo mạn quá đấy,” Lukas nói. “Mọi thứ phải thật nghệ thuật này nọ nữa cơ chứ.”

“Gã đàn ông vận đồ thêu kim tuyến màu đỏ và đội tóc giả màu trắng. Không có người nhạc sĩ tự tôn nào mặc cái thứ đó cả. Cộng với tiết nhạc tệ hại, lối diễn cường điệu. Nhưng mày cũng không cần phải cố thanh tao đâu, phải không?” Giọng Filip đay nghiến.

Bấy giờ, họ đang tiến đến gần chúng tôi và tôi thấy Lukas bĩu môi. “Ý mày là sao?”

“Bao nhiêu bức ảnh mày bán được trong năm qua? Và bao nhiêu bức mày chụp cho riêng mày?” Filip hỏi. Đôi mắt nhỏ hẹp và ẩn ý lờ mờ tỏa dưới ánh đèn, nhuốm đầy vẻ gay gắt.

Lukas cong vai và nói, “Ai cũng cần phải kiếm sống.”

“Trong khi đó mày đùa cợt với cô em họ đáng yêu. Mày nên cút xa khỏi cô ấy thì hơn.”

Cả hai dừng lại và mặt đối mặt, cơ thể họ gồng cứng, hai bàn tay nắm chặt.

Lỗ mũi Lukas phập phồng. Giọng anh trầm và dữ dội. “Mày không có quyền bảo tao phải làm gì. Mày tự mà nhận lấy lời khuyên của mày đi. Tao biết tao đang làm gì.”

Một tràng cười lỗ mãng phát ra từ Filip. “Thật vậy sao? Mày hiểu tình hình quá cơ đấy? Thật là một thằng oắt khôn lỏi.”

Họ nhảy xổ vào nhau khi Estelle và tôi lao về phía họ. Cả hai bấu lấy nhau, lăn lộn và đá đấm. Filip đạp Lukas dội ngược vào cột đèn đường. Lukas quơ chân và xô anh ta ngã dúi. Filip sóng soài trên vỉa hè và đập trán xuống. Đến lúc này, Estelle và tôi đứng chen ngang giữa họ.

“Dừng lại đi,” Estelle hét lên với nước mắt chực trào. Cô ấy kéo Filip đứng lên. “Cả hai sẽ phải hối hận vì điều này ngay ngày mai.”

Chính tôi đã phải hối hận. Tôi đã làm gì với nhóm bạn của mình? Cả hai người đàn ông đứng phắt dậy và, không nói một lời, Filip quay gót rồi đi về phía trung tâm trong khi Lukas hùng hổ tiến về hướng khách sạn.

Estelle và tôi không nói chuyện sau đó. Tôi trơ trọi tìm đường về phòng khách sạn của mình.

Bất chấp nỗi sợ hãi và lo lắng, tôi hy vọng Lukas sẽ đến với tôi vào đêm nay. Anh ấy có xin lỗi vì những gì đã xảy ra giữa chúng tôi không? Chỉ là một phút bốc đồng sao? Tôi có nên đi tìm anh? Có lẽ anh không ở một mình. Có lẽ tôi sẽ không được chào đón.

Khi tôi cảm nhận được bàn tay của anh ấy bên dưới bàn - thật vậy, khi tôi để Estelle và Filip rời đi - Tôi hiểu rằng không có lựa chọn nào nữa cả. Đã luôn là Lukas, ngay từ đầu. Filip quyến rũ và thú vị, nhưng chẳng gì khác hơn một lời tán tỉnh, một cách để giết thời gian, để nhốt con quỷ trong tôi khỏi hồng trần. Nhưng những nghi ngại về Lukas cũng vấy lên trong tôi. Phải chăng tôi chỉ đang cảm thấy yếu đuối, mất cân bằng và Lukas lại xuất hiện? Tôi chưa bao giờ cảm thấy kết nối với bất cứ ai, kể cả Jim. Có lẽ dì Helena đã đúng về tôi: có lẽ tôi chỉ là một kẻ thích nhận, lợi dụng người khác. Có lẽ tôi không nên nhượng bộ trước ham muốn ngông cuồng của mình. Giờ đây, tôi đã làm tổn thương những người mà tôi yêu quý.

Tôi nằm thao thức hàng giờ, vẫn hy vọng có một tiếng gõ cửa. Nhưng ngoài màn đêm cô đơn đang rũ xuống của Venice, chẳng có ai đến cả.

Khi rốt cuộc đã chìm vào giấc ngủ, tôi mơ thấy cái chết đã cận kề, ví như một cơn gió lớn đang mang người Bà yêu dấu của tôi rời xa tôi. Rồi Bà biến thành Amy, thành Mẹ, và Estelle, Filip lẫn Lukas, khuôn mặt của họ biến hóa liên tục từ người này sang người khác. Họ đang ở trong một vực thẳm, khóc lớn gọi tên tôi. Tôi e sợ cơn bão và rồi chính tôi là cơn bão đó, phá hủy tất cả những gì chạm vào ngoại vi của mình - Jim, trong văn phòng của anh ta, dọa dẫm, bạo lực, ghen tuông, một kẻ nát rượu; gương mặt những đồng nghiệp cũ của tôi; các giáo sư đã đặt niềm tin nơi tôi. Một chồng các hóa đơn chưa thanh toán, cái nhìn trên khuôn mặt Amy, khi con bé nhận ra tôi là kẻ thất bại.

Khi tôi mở toang cửa vào sáng hôm sau, tôi thấy một nụ hồng đỏ thắm, nửa bung mở, như được cắt đi ngay khoảnh khắc nở rộ. Anh ấy rốt cuộc đã không quên. Tôi mang nó vào trong phòng và nâng niu trên tay mình. Mùi hương thật ngọt ngào, say đắm.

Tôi đã đóng xong hành lý để trả phòng, vì vậy tôi cẩn thận ép nụ hồng vào giữa một quyển ghi chép và nhét nó vào túi xách với một lời nguyện nhỏ. Tao không thể nuôi dưỡng mày, nhưng mày có thể tồn tại bất kể đâu.

Tôi là người duy nhất trong nhóm có mặt ở nhà hàng trên sân thượng. Tôi nhoài người, nghĩ về sự tức giận và nỗi thất vọng của đêm qua, tự hỏi liệu có phải chính tôi đã hủy hoại tình bạn giữa chúng tôi hay không. Tôi nghe thấy một tiếng click rồi Lukas và Estelle xuất hiện. Họ đứng cách tôi vài mét - vẫn là Lukas và chiếc máy ảnh. Tôi đã bị ống kính máy ảnh của anh ấy nuốt chửng trong suốt chuyến đi dài.

“Trông anh rầu rĩ thế.” Anh ấy có vẻ mệt mỏi và áo phông thì nhăn nhúm, nhưng trái tim tôi vẫn nhảy vọt ra khi thấy anh.

“Nhiều người chết đuối trong ly hơn là biển,” vừa lên tiếng, Estelle vừa xoa xoa nơi thái dương. Cô ấy đeo kính râm trên đỉnh đầu và sáng nay quầng mắt của cô có vẻ sâu hơn.

“Cậu uống rượu tối qua sao?” Tôi hỏi.

“Bọn anh có làm vài cốc trước khi ngủ,” Lukas trả lời.

Tôi mím môi. Tôi đã cố gắng để không cảm thấy bị bỏ rơi và thất bại. Hóa ra anh đã ở bên Estelle thay vì tôi. Họ nói gì về tôi? Filip cũng ở đó? Đó là lý do tôi bị bỏ lại một mình? Quá nhiều áp lực cho một Sylvie mới.

Lukas nhìn thấy những gì được viết trên mặt tôi và đến đứng cạnh bên tôi. Giọng anh dịu dàng. “Em nên tham gia cùng bọn anh.”

Tôi khẽ cười. “Bọn anh sẽ làm hư em thôi. Gần mực thì đen mà.”

Tôi chẳng phỉnh được ai. Bữa sáng trôi qua yên lặng và Filip đã không đến. Anh ấy gặp chúng tôi sau khi chúng tôi trả phòng. Khuôn mặt anh đanh lại, một vết cào tấy đỏ trên xương gò má bên dưới cặp kính râm tối màu. Khi tôi chạm vào khuỷu tay anh, anh hững hờ phẩy nó ra.

Quảng trường San Marco chật ních người vẫy cao lá cờ của thành phố Venice để chào mừng ngày Quốc Khánh và Lễ hội Thánh Mark - Festa di San Marco. Đàn ông và đàn bà túm tụm bán những đóa hồng cho các cặp tình nhân và vợ chồng.

Estelle và tôi xì xầm đôi ba câu. Các chàng trai thì chẳng nói với nhau lời nào.

Tôi ngồi trên chiếc taxi đường thủy đang tăng tốc về phía sân bay Marco Polo, hít thở trong luồng không khí mặn chát khi mặt trời chiếu sáng không ngừng trên những con sóng hỗn loạn. Venice đẹp đến nao lòng. Tôi sẽ không bao giờ quên hình ảnh con sông đào trong trẻo và ánh mặt trời lóng lánh buổi ban trưa, những ngõ mê cung vào đêm tối, khơi gợi nỗi niềm đam mê và thầm kín, chấp chới những ánh vàng giữa mênh mông huyền tối. Những vụn vặt nhỏ vẽ lại trong tôi: đá lạnh ngập trong một bát nhỏ riêng biệt khi gọi đồ uống nhẹ, biển cấm thuyền gondola ở những con đường thủy cố định, cách mà đôi môi Lukas đượm nồng cuốn lấy tôi. Tôi ngoái nhìn khi ma thuật của Venice mờ dần phía sau lưng, và tự hỏi khi nào tôi sẽ quay trở lại và liệu tôi có trở lại cùng với anh ấy hay không.

Liên Thảo dịch
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.