Thứ Sáu, ngày 6 tháng 5
Khi chiếc đồng hồ báo thức reo inh ỏi vào sáng hôm sau, tôi hoàn toàn mất phương hướng. Đêm qua, cơn say ngủ trùm lấy tôi như một tấm chăn bê tông nặng ịch. Cơ thể của tôi biết là đã vào giữa khuya và tôi gượng thức dậy; sức nặng của tứ chi như buộc tôi vào bóng tối đê mê. Tôi vùng vẫy và mở mắt ra. Phải mất một lúc để nhận ra tôi không phải đang trên giường của mình, hay thậm chí đang ở một đất nước xa lạ. Đây không phải là một cơn ác mộng. Sylvie đã mất tích. Tôi với lấy điện thoại. Vẫn không có tin gì. Tôi nhắm mắt và bấu chặt lấy lồng ngực. Sao chuyện này có thể xảy ra chứ?
Tôi đã không thấy dì Helena và dượng Willem kể từ khi họ rời đi vào hôm qua. Tôi hiểu họ thường ở nhà vào buổi sáng và ra ngoài cho đến tận khuya, trở về sau khi nhà hàng của họ đã đóng cửa. Họ làm việc suốt tuần và những ngày rảnh rỗi của họ là thứ Hai và thứ Ba. Các bữa tối, tôi tự mình xoay xở với thức ăn họ mang về từ nhà hàng mỗi ngày. Cái tủ lạnh khổng lồ của họ chất đầy thịt bò cay sốt tương đen, tôm nướng, và thịt lợn xiên sốt tương nóng. Thông thường, tôi sẽ tự mình phục vụ. Tôi thích tự nấu để ăn hơn.
Ngày hôm qua, tất cả chúng tôi ngồi quanh bàn ăn trưa. Họ chuẩn bị một rijsttafel của Indonesia - một bàn ăn gồm cơm chiên, cơm vàng Indonesia và bốn mươi món nhỏ hơn: trứng luộc chấm tương ớt, cà ri gà nấu dừa, vịt nướng bọc lá chuối, thịt bò kho thơm cùng nước cốt dừa cay, và nhiều món nữa.
Mặc dù tôi không hảo ăn lắm, nhưng đó là một trong những bữa ăn ngon nhất tôi từng ăn. Có lẽ sau này, khi Sylvie đã về nhà an toàn, tôi sẽ hỏi họ công thức nấu ăn. Khi tôi nói với dì Helena tôi chưa bao giờ ăn món ăn Indonesia trước đây, bà ấy nói, “Chúng ta cần phải phục vụ mọi loại hình ẩm thực châu Á tại đây. Người Hà Lan không thể phân biệt chúng ta, vì vậy, khi họ đến một nhà hàng Trung Hoa, họ cũng muốn thưởng thức món ăn Indonesia và Nhật Bản.” Tôi đã dành cả buổi chiều để sắp xếp lại đồ đạc và cố bù đắp cho một đêm thao thức trên máy bay bằng cách đi ngủ sớm.
Tôi kiểm tra đồng hồ. Gần chín giờ sáng và các sĩ quan cảnh sát dự là sẽ đến vào lúc mười giờ. Có một phòng tắm liền kề với phòng của tôi, nó nhỏ đến mức tôi chỉ có thể chen giữa bồn cầu và bồn rửa để đánh răng. Một bộ lò sưởi trong hình dạng một giá treo khăn gắn bên cạnh vòi sen bé xíu, hai chiếc khăn trắng xếp gọn gàng trên đó. Trước khi bước vào phòng tắm, tôi nhận ra mình đã quên mang sữa tắm. Có một chai màu xanh khổng lồ dán nhãn DOUCHE GEL nhưng tôi ngại dùng vì những lý do quá rõ ràng. Tôi lấy xà phòng rửa tay từ bồn rửa thay thế. Tôi nhắm mắt lại và rửa sạch mùi hôi hám của máy bay, nơi đã bám lấy tôi hàng giờ liền. Cảm giác mất phương hướng vì lệch múi giờ sau chuyến bay vẫn còn, như thể bộ não tôi bị ních chặt trong len.
Tôi lau khô bằng khăn ấm và vơ vội chiếc quần jean, cái áo thun dài tay trơn màu đen, cặp kính và đi xuống cầu thang.
Tôi bám vào lan can để đảm bảo đôi chân mình không trượt ra khỏi những bậc thang nông.
Couscous, con mèo mướp mà tôi gặp tối qua, đang cọ mình vào chân dì Helena. Dì Helena mặc bộ trang phục nhung đen để đi làm nhưng lại không đi giày. Khi dì ấy chiên vài con cá tươi trong chảo (cho bữa sáng chăng?), dì mắng con Couscous bằng tiếng Hoa vì quá tham lam. Lukas đang ngồi ở bàn ăn, uống thứ gì có mùi như cà phê từ một chiếc cốc Mun Shou Trung Quốc truyền thống, loại gốm trông như được thêu với những hoa sen xanh. Đằng sau anh, ánh sáng ban mai trong trẻo và vô cảm, lã chã tuôn qua những ô cửa sổ của cánh cửa đôi lớn, làm bừng sáng khuôn mặt lởm chởm râu và đôi mắt thâm quầng của anh. Tôi có thể nhìn thấy cả khu vườn ở phía sau, bãi cỏ như bị đâm xuyên bởi những phiến đá vôi sắc nhọn.
Dì Helena phù phù thổi để làm nguội chỗ cá phi lê, sau đó cắt nó thành từng khúc. Bà ấy xếp chúng vào đĩa, cẩn thận xem xét để đảm bảo chúng không còn xương, và đặt món ăn trên sàn nhà. Hóa ra, con cá này là dành cho Couscous.
“Nó đang béo lên đấy, mẹ à,” Lukas khẽ trách. “Mẹ đừng làm hư nó nữa.”
“Sao con có thể nói về một con mèo cái như vậy chứ?” Dì Helena phẫn nộ nói. Bà ấy cúi xuống vuốt ve con mèo đang ngấu nghiến cá. “Chỉ là do bộ lông của nó lớn thôi.”
Tôi giật nảy mình khi dượng Willem lù lù xuất hiện từ phía sau tôi, tiến thẳng đến kệ bếp. Ông ấy có cần phải đến quá gần vậy không?
“Chào buổi sáng, Amy. Con muốn uống trà hay cà phê?” Ông ấy hỏi.
“Trà ạ.” Tôi ngồi vào bàn đối diện với Lukas. Có một ổ bánh mì, vài cái hộp chứa nào là cốm rắc cupcake, bơ - không phải dạng que mà là dạng khối, một miếng phô mai lớn chưa cắt, nhiều loại mứt và gia vị khác. Không ngũ cốc. Không bánh mì nướng. Không bột yến mạch.
Dượng Willem đặt cốc trà trước mặt tôi. “Dùng đường chứ?”
“Có, với sữa ạ”. Tôi thấy dượng Willem nhướng mày khi tôi yêu cầu như thế, dù ông ấy vẫn lấy hộp sữa ra khỏi tủ lạnh cho tôi. “Ở đây người ta không uống trà với sữa sao ạ?”
“Ừmm, không. Chỉ có mấy đứa nhỏ nhỏ thôi.” Dượng Willem quơ tay diễn tả lúc rắc đường vào cho tôi. “Như con thấy trên bàn đó, nhà dì dượng dùng bữa sáng theo phong cách Hà Lan. Con có muốn thử hagelslag[1] không? Sylvie từng rất thích nó. Con phết bơ lên bánh mì và rồi rắc nó lên. Nhà mình cũng có tijgerbrood[2] từ tiệm bánh mì đó, ổ bánh mì ở đằng kia kìa.”
Tôi nhẹ thả lỏng người. Cuối cùng, đã có một bình luận về Sylvie mà không mang tính công kích.
Dượng Willem chuyển ổ bánh mì cho tôi. Nó có màu nâu nhạt, với phần trên phồng rõ nét, sực nức mùi thơm đến phát thèm. Rồi ông ấy hỏi, “Mẹ con có khỏe không?”
“Bà ấy khỏe ạ, vẫn làm việc chăm chỉ như mọi khi.” Tôi thử món hagelslag và bơ như ông ấy gợi ý ở một góc lát bánh mì chưa nướng của tôi. Cốm rắc màu cam và vàng tươi cùng hương vị đúng y như diện mạo - hệt như đường rắc trên bánh mì. Tôi chợt thấy một lọ bơ đậu phộng với sự nhẹ nhõm. Sau khi tôi phết nó lên phần còn lại của lát bánh, tôi múc một ít thạch dâu tây đặt lên trên, rồi nhận ra tất cả đều đang chằm chằm nhìn vào tôi.
“Em ăn bơ đậu phộng chung với thạch sao?” Lukas hỏi. Với miếng nhai đang đầy mồm, tôi khẽ gật.
Anh ấy nhăn mặt và gõ vào giữa trán đôi lần bằng ngón trỏ của mình. Khùng.
Tôi cố không bị hoảng loạn bởi những cử chỉ tay của người Hà Lan. “Thế anh ăn bơ đậu phộng như thế nào?” “Ăn không thôi. Đôi khi kèm bơ và pho mát.”
Đúng thôi. Tôi quay lại với bữa sáng của mình. Dượng Willem đặt cái giỏ đầy những tờ giấy gấp mà tôi đã thấy trước đó trên bàn phòng ăn, bên cạnh con thú làm bằng giấy đang gấp dở. Ông ấy nhấm nháp tách cà phê khi vừa ghép thêm những mảnh mới vào sinh vật bằng giấy với bàn tay cẩn thận và khéo léo.
“Dượng đang làm gì vậy?” Tôi hỏi.
“Modular origami[3],” ông ấy trả lời với một nụ cười. “Dượng bắt đầu với loại origami truyền thống rồi mới chuyển sang phiên bản ba chiều.”
“Đây là một con rắn sao?”
Ông lắc đầu. “Một con rồng Trung Hoa.”
Sở thích của dượng Willem, ổ bánh mì ngon nghẻ, nét yêu đời của dì Helena khi thủ thỉ cùng con mèo con trong bếp: nó khiến tôi nhớ đến gia đình mình. Giá như mẹ và bố ở đây. Giá như Sylvie ở đây. Tất thảy như dồn thúc vào cổ họng và tôi lo là tôi sẽ nghẹt thở vì sợ hãi. “Con rất lo cho chị Sylvie.”
Helena khựng lại, bàn tay lửng lơ trên bộ lông của Couscous. Vẻ vồn vã xuất hiện trên khuôn mặt. “Con không cần phải lo đâu. Sylvie luôn biết cách tự xoay xở mà.”
Tôi nổi đóa vì sự cay nghiệt trong lời nói của bà ta. “Con biết Sylvie cái gì cũng giỏi, nhưng không ai nghe tin gì từ chị ấy một tuần rồi. Phải có lí do gì đó.” Tôi có thể nghe thấy sự tuyệt vọng như đang xé vụn lời tôi nói. “Hy vọng là chị ấy có đủ tiền để sống.”
Bàn tay Lukas nắm chặt quanh thành cốc cà phê của anh ấy đến nỗi các đốt ngón tay chuyển màu trắng. “Em ấy khỏe.” Tôi liếc nhìn anh. “Ý anh là sao?”
Anh ngó đăm chiêu vào khu vườn phía sau, cố tránh ánh mắt của tôi. “Em ấy chỉ đang muốn làm gì đó cho riêng mình.” Giọng anh nứt vỡ và anh trông có vẻ dằn vặt vì điều đó.
“Con bé có thiếu gì đâu chứ, mẹ chắc chắn luôn.” Giọng điệu của dì Helena mang tính buộc tội nhiều hơn là trấn an. Và bà ấy không nói thêm gì khác.
Trong không khí im lặng bao trùm, tiếng chuông cửa reo vang. Cảnh sát đang ở đây.
Một người đàn ông cao lớn bước vào nhà, khom người để tránh bóng đèn treo thấp ở hành lang. Ông ta phải cao ít nhất một mét chín mươi lăm, với đôi tai đỏ lô nhô và khuôn mặt nhão xệ, tinh anh như một chú chó Bull Pháp. Đầu ông ta trọc nhẵn nhưng từ hàng lông mày và lông mi nhuốm màu hoa râm, ông ta độ chừng năm mươi tuổi. Đi cùng là một phụ nữ trẻ, có lẽ tầm hai mươi. Mái tóc đen hoe vàng được buộc đuôi ngựa và cô ấy có khuôn miệng kiên định, quyết đoán. Cách ăn vận của cả hai người họ trông như thường phục hơn là đồng phục cảnh sát.
Họ bắt tay với tất cả mọi người, kể cả tôi. Tạ ơn Chúa, không có ba nụ hôn của họ. Dì Helena đi vội đôi giày cao gót khi chúng tôi di chuyển vào phòng khách. Dượng Willem rót cho mọi người một ly cà phê hoặc trà. Lukas kéo một chiếc ghế từ bàn ăn và ngồi xuống. Tôi thấy mình bị nêm chặt trên đi-văng giữa dượng Willem và dì Helena.
Đầu gối vị nam cảnh sát gần như có thể chạm đến mang tai khi ông ta ngồi trên chiếc ghế bành nghiêm nghị. Một tràng tiếng Hà Lan tuôn ra từ miệng ông.
Dượng Willem đáp lời lại, chỉ tay về phía tôi.
“Ồ, tôi xin lỗi,” người đàn ông bối rối nói với chất giọng đặc quánh. “Cô chỉ nói tiếng Anh thôi phải không?” Khi tôi gật đầu, ông liền giới thiệu, “Tên tôi là Pim de Jong. Đây là đồng nghiệp của tôi, Danique Smits. Cô là Amy Lee, em gái của…”
Khi ông đang tìm kiếm cái tên, Danique cúi người về phía trước trên chiếc ghế bành của cô. Cô ấy mỉm cười và cố xoay xở để trông vừa chuyên nghiệp, vừa ấm áp, và tiếng Anh của cô ấy tốt hơn người đàn ông kia nhiều. “Người mất tích. Cô đến từ Mỹ? Còn Sylvie Lee, cô ấy cũng là người Mỹ?”
Cùng lúc tôi nói, “Vâng,” Lukas lại phủ định, “Không, cô ấy là người Hà Lan.”
Sau đó, Helena mỉm cười và nói, “Cô ấy là người Trung Quốc,” như thể đã giải quyết xong vấn đề bằng điều vừa thốt ra.
Dượng Willem nói, “Sylvie là người Mỹ gốc Hà Lan.”
Pim viết nó xuống sổ ghi chú của mình. Ông khẽ lắc đầu với đồng nghiệp và tôi thấy họ đã quyết định rằng cô ấy sẽ hỏi chuyện còn ông thì ghi chép.
Danique nói, “Chúng tôi đã có những thông tin cơ bản mà bạn đã cung cấp cho chúng tôi qua điện thoại và bây giờ chúng ta có thể chính thức bắt đầu.”
Tôi nói, “Sao? Các người chỉ mới bắt đầu bây giờ thôi sao? Tại sao vậy?”
“Cô ấy là một người trưởng thành, có năng lực tinh thần và thể chất tốt. Không có gì cho thấy cô ấy có thể đang gặp nguy hiểm hoặc sẽ gây nguy hiểm cho người khác. Không có dấu hiệu của tội phạm.”
“Sylvie sẽ không bao giờ biến mất như thế này.”
“Hầu hết những người mất tích có thể tự trở về và cảnh sát có nguồn nhân sự giới hạn. Đối với một đứa trẻ hoặc một người lớn tuổi, chúng tôi ngay lập tức hành động. Đối với một người trưởng thành khỏe mạnh, chúng tôi sẽ chờ. Nhưng chúng tôi sẽ làm hết sức để tìm chị gái của cô, tôi hứa với cô điều này. Cô có hình gần đây của cô ấy không?”
Tôi muốn tự đánh vào mình. Tại sao tôi không nghĩ đến việc mang theo ảnh của chị? Mắt tôi lướt qua những hình ảnh của Lukas trong phòng khách. Rõ ràng không ai ở đây từng đủ quan tâm để chụp ảnh chị ấy. Nhưng Lukas kéo một phong bì lớn từ một bìa lưu trữ mà anh ấy cất bên dưới ghế. Anh chuyển nó cho Danique.
“Từ đâu mà anh có cái này vậy?” Tôi hỏi.
“Anh đã chụp nó.”
Tất nhiên, tôi đã quên phéng anh ấy là một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp. Danique mở phong bì, trượt ra một bức ảnh cỡ 20x25cm, và giơ nó lên để tất cả chúng tôi có thể thấy. Cô ấy nhướng mày. “Đây có phải là một bức ảnh đẹp của cô ấy?”
Đó là một bức chân dung tuyệt đẹp của Sylvie. Chị ấy hơi quay lưng lại với máy ảnh, góc gò má cao và chiếc mũi thẳng được làm nổi bật bởi ánh nắng vàng chiếu trên da và đọng lại trên mái tóc bóng mượt, đôi mắt buồn bã dưới hàng chân mày sắc sảo. Đôi môi dì Helena mím chặt, sôi sục, còn dượng Willem thì nhìn chằm chằm vào hình ảnh ấy với vẻ thèm khát lộ liễu khiến tôi thấy xấu hổ.
Danique coi sự im lặng của chúng tôi như một sự mặc nhận. “Mọi người có thể mô tả tính cách của cô ấy như thế nào?”
“Tủn mủn,” dì Helena nói.
Tôi muốn hất tung bà ta đi. Nhưng rồi tôi nghĩ về tất cả những thứ tôi không biết, và vẫn chưa biết, về chị gái mình. “Kín đáo. Kiên định. Giỏi giang.”
Đôi mắt sắc bén của Danique quét qua Helena. “Tại sao bà lại nói là ‘tủn mủn’?”
Helena nhún vai, một động thái lấc cấc, gây hấn. “Con bé toàn giữ suy nghĩ cho bản thân.”
“Bà có thể nói cô ấy sống nội tâm hay đơn độc mà?”
“Chẳng đúng với con bé ấy chút nào,” Helena trả lời.
“Chúng tôi cũng vậy,” Lukas nói, khẽ lườm mẹ mình. Tôi thấy vui vì tôi không phải là người duy nhất không thích nghe những điều tiêu cực về Sylvie. Điều này khiến tôi có cảm tình hơn với anh ấy.
“Ý anh là sao?” Danique hỏi.
Lukas xoay tư thế ngồi trên ghế. “Không phải dễ dàng gì khi là một trong số ít các gia đình Trung Quốc sống ở đây.”
Miệng Pim há hốc, và nếu ông ta vẫn còn tóc, tôi chắc hàng lông mày của y cũng sẽ mất dạng. “Nhưng ở làng này không có sự phân biệt chủng tộc.”
Lukas gục đầu, đôi mắt tóe lửa. “Có thật không? Vâng, ông là một người đàn ông da trắng và là một nhân viên cảnh sát, thế nên mọi người không thể đối xử theo cách khác với ông được, đúng chứ?”
“Đây là chuyện ngoài lề rồi,” Willem nói. “Điều quan trọng nhất bây giờ là tìm Sylvie.”
Danique quay sang tôi. “Cô có đồng ý rằng chị cô là người ngoài cuộc không, cô Amy?”
“À thì,” tôi chậm rãi, “chị Sylvie luôn khá đặc biệt, nên có thể, chị ấy khác với người bình thường.”
“Tôi biết cô ấy đến đây vì bà của cô ấy sắp mất. Cô ấy có vẻ gì chán nản sau khi bà của cô ấy qua đời không?”
Helena khịt mũi. “Con bé đã có một bữa tiệc sinh nhật hoành tráng ở Venice khi bà của nó qua đời.”
“Gì cơ?” Tôi phản đối. “Sylvie sẽ không làm điều đó. Chị ấy yêu bà vô cùng. Chị ấy đến đây để được ở bên bà của mình.” Venice! Sylvie đến Venice làm quái gì cơ chứ? Có phải chị ấy đi một mình? Nhưng quả thực, Sylvie đã không gọi cho tôi vào ngày sinh nhật của chị. Chị ấy đã nhắn tin cho tôi rằng có quá nhiều chuyện trong gia đình xảy đến với chị và với sự chênh lệch múi giờ, tâm sự ấy vẫn chưa có cơ hội được thổ lộ. Tôi quắc mắt khắp căn phòng. Lukas đảo ánh nhìn sang hướng khác và cổ anh ta đỏ bừng lên.
Helena bặm chặt môi, như thể cố kìm giữ những lời nói bên trong bằng vũ lực.
“Cô Sylvie có bao giờ nói về việc làm tổn thương chính mình không?” Danique hỏi.
“Sylvie không bao giờ có ý định tự tử.” Tôi thẳng thừng.
“Một khi có ai đó biến mất và không trở lại trong vòng ba ngày, thường chỉ có bốn khả năng chính: tự sát, bị giết hại, bị bắt cóc hoặc đào tẩu.”
Tôi há hốc trước những lời nói suông của cô ta. Pim ném cho cô ấy một cái nhìn và nói, “Chúng tôi vẫn chưa biết rõ nguyên nhân.”
Vẻ thoáng bối rối, Danique tiếp tục câu hỏi của mình. “Cô ấy có khá nhiều bằng cấp ấn tượng, điều đó có đúng không? Và một công việc lý tưởng? Đôi khi, một người rất thành công, nếu họ mất mặt, họ có thể trở nên chán nản. Họ có thể làm gì đó vì công việc hoặc có thể chạy trốn. Có lẽ vấn đề là ở mối quan hệ xã hội của họ. Có sự thay đổi nào khác trong hoàn cảnh hiện tại của cô ấy không?”
Tôi không muốn tiết lộ những rắc rối của Sylvie trước mặt Helena, nhưng tôi cũng muốn cảnh sát có thể giúp tìm chị. Trước khi tôi quyết định chuyện sẽ nói, Lukas đã lên tiếng. “Cô ấy đang gặp vấn đề với cuộc hôn nhân của mình. Chồng cô ấy đang rình rập theo dõi cô ấy. Anh ta thậm chí còn xuất hiện ở đây. Họ đã cãi vã.”
Tôi thả rơi tách trà của mình xuống đĩa với một tiếng kêu lớn. Trà nóng đổ vào người nhưng tôi lại không cảm thấy gì cả. “Jim đã đến Hà Lan sao?” Có phải rốt cuộc Sylvie đi Venice với anh ta? Helena thảng thốt và chà khăn ăn vào quần jean của tôi. Tôi chộp lấy nó từ tay bà ta. “Con không sao, cảm ơn dì.”
“Một tuần trước khi cô ấy biến mất. Cô ấy nghĩ là anh ta đã trở lại Hoa Kỳ. Nhưng không ai biết chắc chắn.”
“Em đã gặp Jim vào thứ hai, trước khi bay đến đây,” tôi nói. “Anh ta có chút kỳ lạ. Họ đã cãi nhau vì điều gì?”
Lukas nhíu mày và vung nắm đấm vào lòng bàn tay như thể anh ấy ước nó là khuôn mặt của Jim. “Tôi chỉ tình cờ nghe được phần cuối của cuộc trò chuyện. Anh ta yêu cầu cô ấy đừng hủy hoại cuộc đời anh ta nữa và cô ấy nói cô ấy không còn lựa chọn nào khác. Anh ta đã túm lấy và đe dọa cô ấy khi tôi bước vào.”
Tôi không thể tưởng tượng ra một người dễ tính, tao nhã như Jim lại hành động như vậy. Hủy hoại cuộc sống của anh ta sao? Đe dọa Sylvie? Điều này thật điên rồ. Việc gì khiến Jim phải che giấu? Hay ý anh ta là ly hôn? Có một Jim nào đó khác mà tôi không bao giờ ngờ tới lại tồn tại? Nếu một người phụ nữ biến mất, thường có liên quan đến người chồng hoặc người yêu. Nhưng là Jim sao? Hay Lukas đã không nói sự thật?
“Vì vậy, có thể anh ta đã rời Hà Lan chỉ sau khi Sylvie biến mất,” Danique nói. Họ hỏi tôi về thông tin liên lạc của Jim. Tôi vẫn còn choáng váng vì những tiết lộ vừa rồi đến độ dượng Willem phải huých tôi để trả lời. Rồi Danique nói, “Cô Amy, cuộc sống của Sylvie đã như thế nào khi trở về nhà? Cô có nghĩ là cô ấy hạnh phúc không?”
Nếu là một tuần trước, tôi sẽ ngay tắp lự trả lời có với sự tự tin tuyệt đối. Nhưng hiện tại, tôi ngần ngại trước khi thốt ra, “Tôi không biết.”
“Cô ấy có lý do gì để chạy trốn hay không?”
Sau một hồi, Helena vội trả lời thay cho tôi. “Tôi nghĩ bất cứ điều gì cũng có thể. Bởi ngôi nhà của chúng tôi đã bị đột nhập chỉ vài tuần trước đó.”
Pim kiểm tra hồ sơ của mình. “Đúng vậy, có biên bản ghi chép đây. Không có gì bị mất trộm.
Helena cười nham nhở. “Gia tài của tôi đã bị lấy cắp. Một gia tài có cả vàng và đồ trang sức.”
Danique bước tới chỗ Pim và cả hai cùng xem xét tờ biên bản. Pim tằng hắng. “Đó là theo lời khai nhưng không có bằng chứng.”
“Nó thuộc về mẹ của tôi.” Helena nói. “Bà ấy không bao giờ đeo chúng và chúng tôi đã không nghĩ tới việc chụp ảnh. Bà ấy rất dè dặt. Không cho bất kỳ ai xem, hoặc cho chúng tôi biết nơi nó được cất giữ.”
Danique cẩn thận hỏi, “Bà có chắc là nó tồn tại không?”
“Dĩ nhiên,” Helena nói, gương mặt thoáng đổi sắc. Đôi mắt bà ấy bùng lên như hai lò than đen. “Kho báu đó là một huyền thoại trong gia đình chúng tôi. Tôi đã tận mắt nhìn thấy nó nhiều năm trước.”
“Quay trở lại với Sylvie đi,” Willem nhẹ nhàng nói. “Điều đó không liên quan gì đến việc biến mất của con bé cả.”
“Tất nhiên là không rồi,” Helena đáp, nhưng giọng điệu của bà ta lại khác xa với lời vừa nói.
“Cảnh sát có thể dùng chó đánh hơi mùi của chị ấy hay đại loại vậy không?” Tôi hỏi, thầm biết câu vừa thốt đó nghe như một lời sáo rỗng trong một bộ phim truyền hình. Họ là những chuyên gia ở đây. Không phải họ sẽ hành động sao?
“Cô ấy biến mất cùng với chiếc xe thuê,” Danique nói. “Chó nghiệp vụ sẽ không thể đánh hơi được điều gì. Không có dấu vết mùi hương và chiếc xe được tìm thấy.”
“Có thể chị ấy bị tai nạn.” Tôi đứng dậy và di chuyển ra sau chiếc ghế dài. Tôi không thể chịu được việc bị kẹp chặt trên ghế sofa như vậy. “Ở đâu đó không ai có thể tìm thấy chị ấy - trong rừng hoặc núi. Có lẽ chị ấy đang bị thương.” Nhịp thở tôi trở nên dồn dập. Hình ảnh Sylvie bị gãy một chân, khát lả, đang nằm cạnh xe của mình.
“Không có nhiều rừng núi hoang dã ở Hà Lan,” Danique khẳng định. “Chúng tôi là một đất nước rất văn minh. Thật khó để không để lại dấu vết nào. Những người khỏe mạnh mà đột ngột biến mất thì thường không muốn được tìm thấy.”
Willem hỏi, “Các ông đã theo dõi tài khoản ngân hàng và điện thoại di động của cô ấy chưa?”
Danique có vẻ không thoải mái. “Chúng tôi không được phép truy cập vào thông tin đó do luật riêng tư trừ khi chúng tôi có lý do để nghi ngờ đó là hoạt động phạm pháp.”
“Nhưng đó hoàn toàn không phải là tính cách của chị Sylvie khi không cho ai biết chị ấy đang ở đâu. Tôi sợ là đã có chuyện gì đó xảy ra với chị ấy.” Tôi siết chặt tay mình. Sao chúng ta có thể ngồi thảnh thơi dùng trà khi Sylvie đang rất cần chúng ta cơ chứ?
“Tôi xin lỗi, nhưng chúng tôi cần sự cho phép đặc biệt của công tố viên để truy cập vào dữ liệu cá nhân của cô ấy.”
Pim lên tiếng, giọng ông ta nhỏ nhưng tự tin. “Sẽ không được đâu. Đối với trường hợp này, tôi chắc chắn. Tôi đã có nhiều năm kinh nghiệm rồi.”
Danique hỏi, “Cô ấy có để lại tin nhắn hay cái gì khác không?”
Lukas ngồi vặn vẹo trên ghế nhưng một lần nữa chúng tôi lại im lặng. Cuối cùng, hai viên cảnh sát đứng dậy và ra về, sau nhiều lời hứa sẽ làm hết sức mình giúp chúng tôi.
Sau khi cánh cửa đóng lại sau lưng họ, tôi nói, “Con không chắc là họ sẽ giúp được.”
Willem xoa xoa vùng da sau tai ông ta. “Công bằng mà nói, họ không có quyền hợp pháp để thực thi quá nhiều trong tình huống này.”
Lukas đăm chiêu nhìn ra ngoài cửa sổ, tựa chừng như mong Sylvie sẽ hiện hữu ở khu vườn phía trước. “Cô ấy là một người trưởng thành và có lẽ cô ấy chỉ muốn suy nghĩ về một số chuyện thôi.”
Tôi nói, cố phát âm từng từ một cách cẩn thận, “Sylvie sẽ cho chúng ta biết. Chị ấy sẽ không để chúng ta lo lắng như thế này.” Sau đó, tôi hít một hơi thật sâu và ngã sụp xuống ghế. Tôi đặt hết kỳ vọng vào cảnh sát. Còn gì ở đây nữa chứ? “Con xin lỗi đã phiền họ phải dùng tiếng Anh. Ngài Pim là sĩ quan cảnh sát lớn tuổi ở đây. Dì dượng và anh có lẽ sẽ nhận được nhiều thông tin hơn từ họ nếu con không ở đây.”
Helena đứng bật dậy và bắt đầu thu dọn cốc. “Chẳng khác gì mấy đâu. Nhưng chuyện của Sylvie tới đây là đủ rồi. Chẳng có gì là đủ với con bé đó cả. Kể cả bây giờ, nó có đang vi vu tận đâu đâu và tất cả những gì chúng ta có thể làm là ngồi nói về nó. Sylvie, Sylvie, Sylvie.”
Tôi nén hơi thở vào lồng ngực. Tôi muốn đuổi theo và tát vào mặt bà ta. Sao bà ta dám? Qua cái cách mà Lukas quất mạnh đầu vào xung quanh, tôi biết anh ấy cảm nhận được sự khó chịu tương tự. “Sao dì lại có thể nói điều đó? Dì không quan tâm chị ấy sao?”
“Tất nhiên là có. Nhưng dì chắc con bé vẫn ổn.”
Bất chấp cơn tức giận, niềm hi vọng khẽ trồi lên trong lồng ngực tôi như một bong bóng nước. “Dì nghĩ chuyện gì đã xảy ra với chị ấy?”
Helena phì cười, một nụ cười đoản hậu và vô duyên. “Dì không biết.” Cơn thịnh nộ và nỗi đau khi xưa bừng lên trong đôi mắt. Bà ta bước ra khỏi phòng khách và tôi nghe tiếng gót giày bà ấy lốc cốc bước trên lầu. Người phụ nữ này, người có vẻ ghét chị tôi rất nhiều, có đúng là người đã nuôi nấng chị ấy? Có phải bà ta biết điều gì đó về Sylvie mà chính tôi cũng không biết?
NOORD NEDERLANDS DAGBLAD
Thứ sáu, ngày 15 tháng 4
Hôm qua, vào thứ năm, ngày 14 tháng 4, trong khoảng từ 13:15 đến 14:00, một ngôi nhà trên Prins Bernhardstraat đã bị đột nhập. May thay, không có thiệt hại và tài sản nào bị đánh cắp. Cảnh sát tin rằng kẻ đột nhập đã rất hốt hoảng trước sự trở về đột ngột của người chủ hộ lớn tuổi đang đi dạo, và do đó tên trộm không thể thực hiện được hành vi.
Chao ôi, không phải vụ trộm nào cũng đều bị thất bại như vậy. Hãy nhớ khóa cửa ra vào và cửa sổ nhà cẩn thận và gọi cho Burgernet[4] nếu bạn thấy bất kỳ dấu hiệu kỳ lạ nào. Bất cứ ai có thông tin khác về vụ đột nhập này và nỗ lực muốn bắt kẻ trộm, hãy liên lạc ngay với cảnh sát địa phương.
❀ ❀ ❀
[1] Món bánh mì sandwich rắc cốm sô-cô-la.
[2] Bánh mì da cọp - loại bánh mì có lớp vỏ ngoài giòn rụm và tách vân rất đẹp.
[3] Origami ghép - loại Origami truyền thống.
[4] Ứng dụng công nghệ giúp bảo vệ và tăng cường an toàn cho người dân của Hà Lan.