Đi Tìm Sylvie Lee

Lượt đọc: 104 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 13
Sylvie

❊ ❊ ❊

Thứ tư, ngày 6 tháng 4

Sau khi gạt tôi ra khỏi bữa ăn vào thứ bảy tuần trước, dì Helena đã cố gắng bù đắp cho tôi theo cách riêng của bà ấy.

Sáng hôm sau, bà ấy nói chuyện với tôi trong bữa điểm tâm. “Dì có mua cho con một số thứ. Đây là thẻ từ OV. Con có biết cái này là gì không?”

Tôi lắc đầu.

“Con có thể dùng nó để lên và xuống bất kỳ phương tiện giao thông công cộng nào. Nó đã được nạp tiền đủ để con đi lại trong một thời gian. Dì cũng đã mua cho con một số vật dụng vệ sinh cá nhân.”

Tôi định nói có mang nhiều đồ dùng cho mình, nhưng chợt nhận ra đây là một sự cầu hòa, tôi đành nói lời cảm ơn bà ta: “Dì thật chu đáo.”

Dì Helena đưa cho tôi thẻ OV và một chiếc giỏ đan bằng cây liễu gai, trong đó có dầu gội, dầu xả, sữa tắm và dầu bóng.

Tôi lấy chai sữa tắm lớn màu xanh lá cây quen thuộc ra khỏi giỏ, mở nắp ra và hít hà mùi hương của nó. Umm, mùi trà xanh và dưa chuột. “Con đã từng rất thích mùi này. Dì vẫn còn nhớ.”

“Tất nhiên, dì đã chăm sóc con suốt bao năm trời mà,” bà ấy liến thoắng nói. Bà ta hất cao mặt và hắng giọng. “Dì xin lỗi vì sự thiếu sót ngày hôm qua. Có rất nhiều đồ ăn cho con trong tủ lạnh khi dì và dượng Willem đi làm. Con cứ tự nhiên nhé, Sylvie.”

Kể từ lúc đó, chúng tôi đã dàn hòa với nhau, nhưng vẫn như mọi khi, sự yên bình giữa dì Helena và tôi chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn. Tôi dành phần lớn thời gian của mình giúp Isa chăm sóc bà, hơi thở nặng nhọc của bà như hòa trên nền một bản nhạc bất biến. Tôi dìu bà vào nhà vệ sinh và tắm - làn da nhợt nhạt do thiếu ánh nắng lộ ra, tay chân lẻo khoẻo và yếu ớt bị phơi trần - một sự gần gũi mà bà chưa bao giờ chia sẻ cùng tôi trước đây. Lúc đầu, cằm bà khẽ run run, nhưng tôi đã an ủi, “Khi yêu thương ai đó, không có gì là xấu hổ cả Ngoại à. Khi con nhìn Ngoại, con chỉ biết rằng Ngoại là bà ngoại của con và Ngoại rất đẹp. Ngoại đã tắm cho con khi con còn nhỏ. Giờ tới lượt của con. Chẳng phải Ngoại luôn nói là, lão nhân rồi cũng hóa nhi đồng còn gì.”

Lần đầu tiên tôi đánh bạo thử nấu cháo, chuông báo cháy kêu inh ỏi (Bà: “Lukas! Con chạy lại chỗ công tắc ngay được không? Nhanh lên! Không biết hàng xóm họ sẽ nghĩ gì?”. Lukas loạng choạng đứng trên một cái ghế đẩu để tắt và bật lại chuông báo cháy đang reo điếc tai. Bà thều thào, “Sao mà cháo có thể cháy khét được? Đầy một nồi nước cơ mà.”) Và thế là tôi không được phép bén mảng lại gần bếp nữa. Thay vào đó, tôi ngồi xé thịt gà và rau luộc trộn cơm đút cho bà vào những ngày bà yếu, khi bà gần như không đi lại, bàn tay tong teo lơi lỏng đặt trên tấm khăn phủ.

Hầu hết thời gian, Lukas, Isa và tôi đưa bà đi dạo. Sau khi khệ nệ khuân chiếc xe lăn của bà xuống lầu, Lukas sẽ dìu bà bước xuống, bước lùi xuống cầu thang từng bậc chầm chậm, để làm chỗ tựa vững chắc cho bà vịn vào. (Bà, bấu chặt lấy bắp tay của Lukas: “Đẹp trai và khỏe như bố mày. Đúng là hổ phụ sinh hổ tử.”) Bà nắm vào lan can bằng tay trái khi tôi giữ chặt cánh tay, Isa theo phía sau chúng tôi với bình ôxy và các thiết bị khác. Chốc chốc chúng tôi dừng lại để bà có thể thở một chút, và nhìn xem liệu bà có đang gắng sức quá hay không. Ra đến bên ngoài, đôi mắt mờ đục của bà như bừng sáng khi bà ngửi thấy mùi của gió, thích thú với những ngọn cỏ xanh còn sót lại sau mùa đông và những đám mây bồng bềnh trên bầu trời.

“Phong thủy ở đây rất tốt. Hơn hẳn những nơi sơn nhân sơn hải nhiều.” Bà đã từng nói vào một sáng nọ rằng, bà luôn ghét đám đông, đột nhiên mắt bà rưng rưng, “Dù vậy, đây vẫn không phải là quê hương Trung Hoa.”

Trái tim tôi đau nhói, chợt hiểu bà đã da diết mong ngóng về mảnh đất nơi thanh xuân của bà thuộc về khi gần đất xa trời như thế nào.

Lukas bước lại gần và choàng cánh tay anh ấy qua đôi vai gầy nhẳng của bà. Anh khẽ ngã đầu và đặt gò má mình lên mái tóc bạc của bà. Tiếng Trung của anh chưa bao giờ tốt được như tôi, nhưng dẫu sao nó vẫn tốt chán so với Amy. Anh nói, “Nhưng cô cháu gái có đôi mắt lấp lánh như làn nước mùa thu yêu dấu của bà thì đâu có ở Trung Quốc.”

Tôi xúc động nhìn bà mỉm cười qua hàng lệ. “Phải rồi. Hai đứa cháu yêu của bà đang hộ tống bà thưởng ngoạn mây nước, mang lại cho già này niềm vui.”

Sáng nay, tôi đã dành cho bà một điều đặc biệt. Tôi háo hức cho bà xem ảnh và video của mẹ, bố và Amy mà tôi mang theo trong điện thoại. Nhưng chỉ vài phút sau đó, Lukas đặt nhẹ bàn tay to lớn của anh ấy lên vai tôi và hướng cằm về phía bà ra hiệu. Tôi đã quá say sưa đến nỗi đã không nhận ra bà đang thầm khóc, miệng bà há hốc trong nỗi thống khổ câm lặng.

“Ngoại ơi,” tôi ôm chầm lấy bà và nói. “Con không có ý làm Ngoại buồn.”

“Ngoại sẽ không bao giờ được gặp lại con gái mình nữa,” bà nấc nghẹn, thổn thức trong làn hơi. “Bà cũng sẽ không gặp được em gái Mỹ Lài của con.”

Lukas vỗ lưng bà khi tôi nói, “Ngoại sẽ được gặp tất cả mọi người sau khi vượt qua cõi hồng trần này. Ngoại rồi sẽ siêu thoát khỏi thân xác này thôi.”

Bà dần dịu lại. “Ngoại sẽ sớm về với tổ tiên.” Bà ngẩng lên và chớp đôi mắt sưng húp với chúng tôi. “Tụi con sẽ cúng đốt cho Ngoại sau khi Ngoại đi chứ? Ngoại sẽ có ngân lượng để tiêu xài và vải vóc để mặc ở thế giới bên kia.”

“Tất nhiên rồi ạ,” tôi nói, lòng ngập ngụa trong cơn đau. “Bây giờ, họ làm cả những chiếc Mercedes và TV màn hình phẳng bằng giấy để mọi người có thể đốt cho những người thân của họ nữa.”

Bà nghiêng đầu sang một bên. “Không, ngoại không thích Mercedes. Ngoại muốn một chiếc Jaguar.”

Lukas phì ra một tiếng nấc thút thít, đâu đó lẫn giữa tiếng cười và tiếng khóc.

Tôi đề nghị, “Con hát cho Ngoại nghe nhé? Con vẫn còn nhớ mấy bài hát cũ mà Ngoại đã hát cho tụi con nghe.”

“Chim se sẻ non

Con còn quá nhỏ

Sẻ mẹ tìm giun

Mong con chóng lớn.”

Và với sự lắng nghe chăm chú của Lukas, tôi hát cho đến khi bà chìm vào giấc ngủ.

Chiều hôm đó, tôi đã hỏi ý kiến cô y tá Isa về việc tôi muốn mua một ít phấn trang điểm và thuốc nhuộm tóc từ hiệu thuốc. Tôi muốn trang điểm nhẹ và tự nhiên cho bà. Khi còn nhỏ, tôi đã tập trang điểm hàng giờ trước chiếc gương lốm đốm gắn trong phòng tắm của căn hộ ở New York, cố chỉnh ánh đèn màu vàng để đánh những tông màu sao cho thật chuyên nghiệp. Tôi cũng thích trang điểm cho Amy, nhưng con bé chẳng bao bao giờ quan tâm đến kết quả, cũng như không bao giờ nhớ cách thực hiện lại. Sau đó, nó sẽ khăng khăng đòi trang điểm lại cho tôi và vẽ tôi như một chú hề. Nhưng Amy đâu cần mỹ phẩm. Vẻ đẹp của em ấy rực sáng từ bên trong, trong khi tôi chỉ có vẻ bề ngoài.

Người phụ nữ ở cửa hàng soi mói nhìn tôi với ánh mắt nghi ngờ, một người lạ nhập cư ở thị trấn bé nhỏ này. Cô ta nghĩ tôi là một kẻ móc túi nên lén theo sau tôi khi tôi lướt qua một người khách khác. Cô ta thực sự nghĩ tôi sẽ chọn người đàn ông lớn tuổi này để hành nghề ngay trước mặt cô ta? Cô ấy nhìn chằm chằm tôi khi tôi chọn một vài chiếc kẹp tóc cho Amy, có lẽ vì chúng khá nhỏ nên cô ấy sợ tôi sẽ nhét chúng vào túi. Tôi giơ một bộ kẹp có đính những hạt pha lê lên. Amy sẽ trông rất đẹp khi cài nó. Chúng sẽ làm lấp lánh mái tóc dày, bồng bềnh của em ấy khi kẹp nó lên trên khuôn mặt trái tim của mình.

Người bán hàng bắt đầu làm phiền tôi. Cửa hiệu này cũng khá gần Amsterdam, nhưng hành động của cô ta như thể chưa bao giờ nhìn thấy một người da màu nào trước đây. Tôi biết số người Trung Quốc chúng tôi ở đây chỉ chiếm một phần ba của một phần trăm dân số Hà Lan - nhưng điều này thật nực cười. Tôi quay sang cô ấy và nói tiếng Hà Lan một cách lưu loát, “Cô có thể giúp tôi chọn một màu tóc nào đó cho bà của tôi không?”

Cô ta giật mình kinh ngạc. Đôi vai giãn ra và một nụ cười chậm rãi tỏa ra trên khuôn mặt. Nếu tôi nói tiếng Hà Lan tốt như thế, tôi có lẽ không phải là tội phạm. “Tất nhiên rồi, thưa cô. Bên này.”

Khi tôi mang đồ về đến phòng bà, tôi có thể ngửi thấy mùi bệnh tật đang ăn mòn tim và phổi của bà bên dưới mùi hương thanh mát của cao bạch hổ mà chúng tôi đã thoa trên ngực bà trước đó. Bà gần như đã hồi phục sau cơn xúc động lúc sáng, nhưng vẻ đau đớn vẫn phủ phục trên đôi mắt, che đi màu nâu vàng nguyên gốc của chúng. Nó làm nhói tim tôi. Tôi túm tóc buộc đuôi ngựa để không bị vướng víu khi làm việc. Khi Isa và tôi gội đầu cho bà, hơi thở của bà dốc nông hơn, tôi sợ mình sẽ gây ra một sai lầm khủng khiếp, quá sức chịu đựng của ngoại.

Isa nháy mắt nhìn tôi. “Không sao đâu, đừng lo, mọi thứ đều ổn.”

Tôi đã chọn loại thuốc nhuộm tóc bình thường không mùi với tông màu nâu mật ong. Sau khi nhuộm, mái tóc bà như được phủ một lớp màu sáng. Sau đó, tôi nhẹ nhàng kẻ bút chì lên đôi lông mày mỏng manh nổi lên trên lằn xương sọ, chấm nhẹ trên đôi môi khô bằng thỏi son bóng hồng đào tự nhiên, và đánh một chút phấn hồng trên má. Tôi để bà nhắm mắt lại và thoa một lớp phấn phủ màu hồng nhạt lên làn da nhợt nhạt của bà.

Khi tôi mang chiếc gương đến trước mặt bà, bà mỉm cười, tựa hồ nhận ra một cố nhân. “Con cởi mấy thứ dây nhợ của bình ôxy này ra giúp bà và gọi Lukas đến để gặp bà. Bảo nó mang theo cả máy ảnh nữa.”

Sau khi Lukas trầm trồ ngưỡng mộ, và chụp cho bà vài kiểu ảnh để làm bà vui lòng, chúng tôi rón rén ra khỏi phòng để bà nghỉ ngơi. Bên ngoài cánh cửa đóng, Lukas nhìn tôi, rồi đưa tay lên và kéo đuôi tóc tôi lơi lỏng. Những sợi tóc rơi lòa xòa quanh mặt. Anh vén tóc tôi, rồi cúi người và thì thầm: “Cảm ơn em”.

Tối hôm đó, vẫn như trước đây, tôi đi ngủ trước khi dì Helena và dượng Willem trở về sau buổi ăn tối muộn ở nhà hàng.

Có tiếng gõ cửa phòng gác mái. Khi vừa mở ra, tôi thấy dì Helena đã đá văng chiếc dép mang trong nhà với vẻ tức tối. Cánh mũi bà ta phồng lên và hai chân dang rộng. Bà ta giơ một ngón tay, run run thấy rõ, chiếc vòng bằng vàng rồng và ngọc bích dày cộm trên cổ tay run rẩy dưới ánh đèn nhập nhoạng ở hành lang.

Nơi đây tôi đã từng co rúm lên vì sợ, nhưng giờ tôi quyết định đối đầu với bà ta. “Có chuyện gì thế dì Helena?”

Bà ta nghiến răng bực dọc hỏi: “Mày đã làm gì với mái tóc và khuôn mặt của bà?”

Việc này sao? Lẽ ra tôi nên biết. Tôi giữ giọng bình tĩnh. “Điều đó làm cho bà vui.”

Bà ta chỉ tay về phía tôi, cách mũi tôi chừng hai centimet. “Nó làm cho bà kiệt sức thì có. Mày có thể làm bà đau đớn. Bà ấy đang sống những ngày cuối đời. Đẹp thì cũng có ăn được đâu. Bà ấy đâu có cần mày vẽ cho như một con mèo nhếch nhác như vậy. Để cho ai xem chứ?”

Tôi gạt bàn tay thô thiển của bà ta ra khỏi mặt mình. “Cho chính bà.”

Helena chồm lên, và tôi nghĩ bà ta sẽ tát tôi. Tôi gần như mong bà ta sẽ làm thế. Và tôi sẽ trả lại cho bà ta một đòn vào lưng thật mạnh để đầu óc bà ta quay mòng mòng trong một tuần trời. Rồi bà ta rít lên, “Không nghĩ mày khôn đến thế. Tao biết lý do tại sao mày quay lại đây, dù không ai mời mày cả.”

Tôi nhướng mày. “Sao?”

“Mày lại muốn xin xỏ bà ấy chứ gì. Giờ bà ấy đã già và sẵn sàng để lại tài sản của mình, sau khi mày bỏ đi từng đó năm. Trong khi tao là người duy nhất luôn cận bên chăm sóc bà ấy. Chỉ có tao và gia đình tao đây này.” Bà ta nhấn mạnh từng từ với cái đầu gục gặc.

Cơn giận dữ trỗi dậy trong tôi. Tôi phải nói nhanh những lời tôi muốn nói trước khi chúng vỡ tan thành những giọt nước mắt nhục nhã mà tôi đang đang kìm nén. Tôi nắm chặt nắm đấm trong tay. “Vậy bà có biết lý do tại sao từ bấy lâu nay tôi không muốn trở lại ngôi nhà này? Tôi được đối đãi tử tế chỗ nào chứ? Chẳng phải là vì Ngoại nên tôi mới phải đi hay sao?”

Helena phì phù thở như một con chó đang lồng lộn bực tức vì bị buộc vào một sợi dây ngắn. Bà ấy chưa bao giờ thấy tôi dám cãi lại như thế. Bà ta lắp bắp, như bị bóp nghẹt bởi cơn thịnh nộ và xấu hổ, “Bà luôn yêu thương mày nhất, những người khác cũng yêu quý mày. Mày và cả mẹ của mày nữa.”

Tôi không thể kìm lại lời nói của mình. “Vậy tại sao dì lại không quan tâm tôi?” Tôi chừng giơ cánh tay về phía dì ta: người phụ nữ này lẽ ra đã là tất cả đối với tôi, thay vào đó bà ta lại dạy tôi phải dè chừng với yêu thương.

Dù bị bắt thóp tận tâm can về sự thù hằn của mình, Helena vẫn tiếp tục nói, lờ đi câu hỏi của tôi. “Số vòng vàng nữ trang đó của bà là thuộc về nhà này. Nhà này đã cho ở và lo ăn mặc cho bà ấy suốt bao năm nay. Tao mới đúng là con gái của bà ấy hơn là mẹ mày.”

Cánh tay tôi buông thõng. “Những năm đó, bà chưa bao giờ trả bất cứ đồng tiền công nào cho ngoại tôi, trong khi ngoại đã làm việc ở đây cho nhà này như một người giữ trẻ, nấu ăn, người giúp việc. Bà chỉ đưa cho ngoại tiền tiêu vặt. Điều tối thiểu nhất mà bà làm cho ngoại đó là cho một chỗ ở và nuôi ăn. Bây giờ bà còn muốn lấy cả số trang sức còn lại của ngoại tôi?”

“Đều là người trong gia đình. Ai lại đi trả tiền cho người nhà chứ? Như tao đã có lấy đồng bạc nào tiền tã mà tao đã mua cho mày không? Bất cứ thứ gì bà ấy yêu cầu, nhà này đều mua cho bà. Tao mới xứng đáng là người thừa kế số nữ trang đó.” Đôi mắt Helena trừng lên cơn thịnh nộ trần trụi. Tôi không thể biết được liệu chúng đang được lấp đầy bởi lòng tham hay sự mưu cầu được yêu thương đến tuyệt vọng. Tôi thậm chí không chắc liệu nó có khác biệt: Cơn thịnh nộ khởi phát từ nỗi thèm thuồng. Có lẽ tất thảy những ham muốn đó đều bắt nguồn từ cùng một nơi trong cõi lòng tan nát, vụn vỡ của cả tôi và bà ấy.

“Ngoại tôi chỉ có một đứa con và đó là mẹ tôi.” Tôi biết tôi đã giáng một đòn nhạy cảm vào Helena. Bà ta tái mặt và tôi thấy xấu hổ. Tôi cố gắng dịu giọng. “Ngoại cũng rất yêu thương dì, và con biết bà đã cho dì một vài thứ quý giá, như chiếc vòng vàng rồng mà dì đang đeo. Ngoại cũng chỉ muốn để lại thứ gì đó cho con gái của mình, chỉ vậy thôi. Điều đó thì có gì là sai sao?”

Dì Helena lấy tay che chiếc vòng vàng, như thể bà ta nghĩ tôi sẽ giằng nó ra khỏi cổ tay của bà. “Có phải bà đã kêu mày qua đây?”

“Đúng vậy.”

Sự tổn thương trong đôi mắt bà ta nhanh chóng bị cơn giận dữ nuốt chửng. Bên dưới ánh đèn nhập nhoạng ở hành lang, khuôn mặt bà ta như một mảnh chắp vá những vết tấy đỏ và trắng bệch. “Số vàng đó phải thuộc về tao và gia đình này. Tao sẽ làm bất cứ điều gì để không cho mày lấy nó đi. Đừng hòng qua mặt tao, Sylvie.”

Không nói thêm lời nào, bà ta quay ngoắt bỏ đi.

Quãng thời gian khi tôi còn sống ở Hà Lan, bà thường cho tôi chơi với những đồ trang sức của bà khi chỉ có tôi và bà ở trong phòng. Bà không bao giờ cho Lukas thấy, đó là cách duy nhất bà muốn tôi biết rằng tôi là máu mủ ruột thịt của bà. Dòng họ nhà tôi đã từng giàu có trước khi Cách mạng Cộng sản lên nắm quyền ở Trung Quốc và phần lớn tài sản được cất giấu dưới dạng nữ trang. Một số món đã được truyền lại nhiều đời trong gia đình. Lúc tôi còn nhỏ, tôi đặc biệt rất thích mặt dây chuyền hình cá chép có vảy bằng ngọc bích hoàng gia. Những viên đá ngọc lục bảo xanh biếc, sinh động đến nỗi con cá trông như thật, và tôi sẽ cầm nó vờ như đang bơi trên giường của bà.

“Con được sinh ra là để đeo ngọc bích, Tuyết Lài à. Con nhìn xem nó sống động như thế nào trên làn da của con nè.” Bà nói với tôi.

Nhưng tôi không bao giờ dám. Tôi là một đứa nhát gan, một anh hùng rơm, bởi vì có một lần, tôi vừa nhảy chân sáo xuống cầu thang vừa ngắm nghía một chiếc nhẫn vàng đính kim cương, chiếc nhẫn quá lớn so với ngón tay của tôi, và dì Helena đã bắt gặp.

Sự tức giận hiện rõ mồn một trên khuôn mặt bà ta. “Mày đã lấy thứ đó ở đâu?”

Tôi đã chạy ngược trở lên lầu về phòng của bà, nơi những món trang sức vẫn còn rải khắp trên giường. Dì Helena đã xông vào phòng và tất cả chúng tôi đứng đó, cả ba người, im lặng và không động đậy như những tảng băng. Ngoại ra hiệu bằng ngón tay. Tôi tháo chiếc nhẫn ra và đưa nó lại cho bà. Không nói gì, bà gom tất cả lại và đặt chúng vào túi trang sức của mình. Bà đợi cho đến khi dì Helena bỏ ra ngoài mới đem giấu nó đi. Không ai trong chúng tôi nói về việc đó nữa.

Bà không thích nhắc đến cái chết vì đó là điềm xui xẻo, nhưng bà đã nói với tôi nhiều lần trước khi tôi về Mỹ, “Nếu có bất cứ điều gì xảy ra với bà, Tuyết Lài à, con phải lấy những thứ này. Bà để dành nó cho con, em gái con và mẹ con. Vật gia bảo bà được mẹ bà trao lại và bà cố của con cũng được truyền lại từ mẹ của bà ấy, nên nhất định phải giữ lấy nó.”

Buổi sáng sau ngày tôi nhuộm tóc cho bà. Chỉ có tôi và Lukas ở nhà cùng với bà, và bà ngồi thẳng lưng trên giường. Đó là một ngày đẹp trời. Bà nói, “Sylvie à, cho Ngoại xem con còn nhớ chỗ cất đồ không, hãy lấy nó ra giúp Ngoại.”

Tôi liếc nhìn Lukas, anh ấy có vẻ bối rối.

“Không sao đâu. Nó là một thằng bé tốt tính.” Bà nói.

Và tôi làm theo lời bà. Tôi đi xuống cầu thang và lấy cái tuốc-nơ-vít ra khỏi hộp dụng cụ, quay lại và đi đến cái tủ nhỏ trong phòng bà. Tôi dỡ xuống các hộp xếp tầng tầng lớp lớp lên nhau, trong đó đựng đầy những mớ vải kim tuyến và gấm, những cuộn len cũ, những kiểu áo lỗi thời bốc lên mùi băng phiến, những đồ lưu niệm rẻ tiền của Hà Lan cho đến khi nhìn thấy tấm thảm bị mòn rách bên dưới. Tôi cạy mở một miếng rời mà tôi biết ở góc trái phía trong. Sau đó, tôi phủi sạch lớp bụi phủ trên mấy vết trông như những đinh ốc trên sàn nhà nhưng thực chất là những con vít. Tôi vặn mở chúng, nhấc tấm ván lên và lấy ra kho châu báu của bà.

Chiếc túi nhung thêu nhỏ gọn nhưng nặng trĩu so với kích thước của nó. Tôi đặt nó lên giường của bà, và khi bà yên vị, tôi mở dây rút để rơi ra những phong bao vải nhung đỏ cộm có dây kéo. Lukas bước đến sau tôi và khi tôi mở một vài cái cho anh ấy xem bên trong, hàng lông mày rậm của anh gần như biến mất dạng trên trán. Phải chăng điều này đã làm tổn thương anh ấy vì bà đã để tôi biết những thứ này còn anh ấy thì không?

Một vòng đeo cổ bằng ngọc bích-và-vàng điểm xuyết những hột xoàn lấp lánh, mỗi hột được treo lúc lắc trên một sợi dây vàng lấp lánh tinh xảo. Một con bọ cánh cứng có bộ cánh bằng đá ruby - ngày tôi còn nhỏ, con bọ cánh cứng này và con cá chép đã có những cuộc phiêu lưu cùng nhau. Chiếc vòng cổ và một chiếc vòng tay nặng trịch được viền bằng vàng ròng, những bông hoa thanh tú với những hạt nước li ti đóng băng thành những viên đá quý, một chiếc túi nhỏ đựng toàn nhẫn cưới, vàng hai mươi bốn kara, hơi méo mó và trầy xước qua nhiều năm sử dụng, nhưng vẫn tỏa sáng lấp lánh. Tôi đã cố đeo một trong số những chiếc nhẫn đó vào tay nhưng giờ nó quá nhỏ so với tôi, như thể nó chỉ dành cho những cô dâu nhí.

Rồi đến hai túi lụa nhỏ hơn, một túi đựng đầy đồng tiền vàng và một túi nặng trĩu những viên ngọc bích thượng hạng. Tôi đã biết được một vài điều từ khi còn nhỏ và bây giờ biết thêm rằng loại ngọc tốt nhất có thể mang lại vận may trong kinh doanh, đặc biệt là những loại tôi có thể nhận ra ở đây: ngọc phỉ thúy, băng ngọc thủy tảo, ngọc cẩm thạch, nhưng chủ yếu, và giá trị nhất trong số đó là ngọc hoàng bảo.

Bà khẽ nhấc bàn tay ngoắt ngoéo lên. Giọng nói trầm đục của bà như vỡ ra: “Chiếc túi này đã gánh trên nó sức nặng của thời gian, Tuyết Lài à. Nó hiếm như lông phượng hoàng và sừng kỳ lân vậy. Nó được truyền lại từ những người phụ nữ trong dòng tộc chúng ta, mang theo những hỉ nộ ái ố của họ, nó sẽ được truyền lại cho mẹ của con và sau đó, là cho con và em gái của con.”

Tôi cố nuốt. “Ngoại ơi, con không muốn lấy đi những thứ này của ngoại.”

“Con phải dõng dạc và dứt khoát chứ. Hãy giữ đi. Bà đã giữ nó an toàn trong suốt những năm qua cho mẹ con. Rồi cũng tới lượt con giữ nó. Bảo với mẹ con là nó có thể bán bất cứ thứ gì khi nó cần. Số vàng này là để phục vụ cuộc sống chứ không phải làm nô lệ cho chúng.”

Tôi nghĩ đến đống chi phí chất chồng hiện tại trong khi tôi đang thất nghiệp và không có chồng hỗ trợ, đến những hóa đơn tín dụng còn nằm trong bao thư chưa mở trong phòng khách. Các khoản vay của Amy, mẹ và bố, và căn hộ của họ. Tôi đã không nghĩ đến bất cứ điều gì ngoài việc trốn chạy. Tôi ước mình có thể rũ bỏ hết mọi thứ của hiện tại và cuộc sống sẽ như tôi mong ước. Nhưng tất cả đều là ác mộng: Jim; công ty tư vấn; cuộc đấu tranh tuyệt vọng và vô ích để giành lấy tình yêu thương và sự đồng thuận từ bố và mẹ - và tôi vẫn sẽ phải trở lại đó. Tôi hiểu điều này.

Bà tiếp tục nói, mắt đăm chiêu nhìn ra cửa sổ. “Ngoại đã mong sẽ trao tận tay nó cho mẹ của con. Nhưng ngoại biết nó sẽ không đến được. Không bao giờ, kể cả là lúc này.” Quá nhiều nỗi thống khổ trong giọng nói đến độ tôi phải kìm chặt lấy tay bà.

“Ngoại ơi, mẹ con luôn nghĩ về Ngoại. Mẹ con sẽ đến nếu mẹ có thể.”

“Mẹ con lánh mặt không phải vì nó không quan tâm. Mà vì nó quá thương Ngoại,” bà nói. “Ngoại hiểu chứ, nhưng vẫn không tránh khỏi buồn. Con hãy giữ lấy số của cải này ngay bây giờ, khi con còn có thể.”

Tôi chỉ nói hai từ, “Dì Helena.” Helena, bà ấy đố kỵ đến mức mù quáng. Qua khóe mắt, tôi thấy Lukas gật đầu.

Bà nói, “Người phụ nữ đó đã ăn phải giấm. Lúc nào nó cũng luôn hằn học. Thật đáng tiếc khi để nó bắt gặp số vàng ngày đó, nhưng cũng đã có tin đồn trước rồi. Ngoại là người cuối cùng trong cuộc tháo chạy khi xưa. Khi ngoại mất, nó chắc chắn sẽ bới tung căn phòng này lên để tìm. Cạn tàu thì ráo máng. Rồi thù hằn lẫn nhau. Con hãy lấy nó đi và giấu trong tủ cất hành lý nơi ga tàu hoặc chỗ nào đấy đại loại vậy.”

Lukas phụt cười.

Tôi nói, “Ngoại lậm phim Hồng Kông quá rồi đấy, Ngoại à. Con có phải là điệp viên đâu. Dù chỉ là cóc ghẻ mà đòi ăn thịt thiên nga, dì ấy chắc chắn không từ bỏ, dì không quan tâm bà ấy có xứng hay là không. Bà ấy biết ngoại đã định đưa cho con. Và bà ấy đã nói sẽ làm mọi cách để ngăn lại. Nếu không tìm thấy nó trong phòng này, chắc chắn bà ấy biết là con giữ.”

Bà chống chiếc cằm tam giác nhọn, hệt như của mẹ và Amy. “Vậy à? Quá tội cho nó. Lúc đó thì, gạo đã nấu thành cơm rồi.”

Tôi thở dài, nghĩ về những lời tàn nhẫn mà tôi đã nói với dì Helena. “Con nghĩ Ngoại đúng.”

Lukas nói, “Mẹ sẽ bẽ mặt. Sẽ là một cảnh tượng tồi tệ. Mẹ anh thậm chí sẽ đòi lục soát hành lý của em hoặc bảo rằng em đã lấy cắp nó từ bà. Bão tố sẽ nổi lên. Bà ơi, hay bà cứ làm theo cách của người phương Tây đi, cứ nói thẳng với mẹ con rằng bà trao lại gia bảo của bà cho Sylvie.”

Cả hai chúng tôi trợn mắt và nhìn chăm chăm vào anh như thể vừa thấy nước bốc hỏa.

Bà nói, “Sao mà được hở con, chúng ta có phải là người Hà Lan đâu. Điều đó sẽ làm tổn thương mẹ con còn hơn bất cứ chuyện gì khác. Bà không thể là người nhẫn tâm như vậy được. Chúng ta cần cho nó một đường lui để giải thoát kể cả khi nó đang cướp của nhà đang cháy. Nó cũng muốn lấy được số vàng này cho con đó, Lukas à. Bà mong là con hiểu?”

Lukas nhún vai. “Con lấy nó để làm gì?”

Nhưng miệng anh ấy gượng gạo và tôi nhớ đến ước mơ sở hữu một studio riêng của anh.

Tôi nói, “Bà ấy thèm khát tình thương của Ngoại, Ngoại à.”

“Nó có mà, mặc dù nó đã đối đãi tốt hơn với Ngoại trong những năm qua. Nhưng những gì Ngoại nhìn thấy trong căn nhà này, đó là cách nó đối xử với con. Cả con và nó như không đội chung một bầu trời.” Đôi vai bà sụp xuống. Bà xoa gan bàn tay lên lồng ngực gầy trơ xương. Đây là lần đầu tiên chúng tôi nói về chuyện này. “Ngoại đã chẳng thể làm gì để giúp con lúc đó cả. Vì thế mà con và mẹ con cần phải có những nữ trang này. Đó là ân tình ít ỏi nhất mà Ngoại có thể cho con, để con phòng thân. Ngoại hiểu vấn đề của Helena. Nhưng bây giờ con phải lấy độc trị độc, và ngoại có ý này.”

Sáng hôm sau, tôi mệt lả khi tỉnh giấc. Mặc dù đã phải dùng đến thuốc ngủ mang theo từ New York, nhưng tôi hầu như không thể chợp mắt. Tôi chẳng thiết nghỉ ngơi. Tôi sẽ ngủ cả đời này nếu có thể, nhưng cái gì tôi càng khao khát, thì nó lại càng lảng tránh tôi, như những thứ mà tôi đã từng ao ước. Tôi luôn khó ngủ trong bóng tối, vẫn là múi giờ Hà Lan, nhưng sao những thứ hỗn độn đổ nát của cuộc đời cứ đuổi vây lấy tôi, những lo lắng cứ lởn vởn và quanh quẩn trong đầu như một con chó dại, Jim và cô gái đó, những lời xì xầm trong cơ quan, những khoảnh khắc dịu dàng bên Jim khi cả hai chúng tôi còn quá đỗi ngây thơ, những cuộc điện thoại với Amy, niềm tin mù quáng của con bé dành cho tôi, rồi bà Ngoại, ngày một dần xa tôi cho đến khi bà biến mất nơi chân trời. Tôi uống thuốc ngủ vào ban đêm để cố dỗ mình vào quên lãng và rồi bị chính thứ ma túy kích thích đó vào mỗi buổi sáng tồi tệ lại kéo tôi dậy và trở lại với thực tại.

Tôi đang ôm đầu ngồi ở bàn ăn khi Lukas bước vào. Bà đang ngủ trưa trên lầu còn dượng Willem và dì Helena đã đi ra nhà hàng.

Ánh mắt anh dừng lại chỗ quầng thâm dưới mắt tôi. “Em ổn chứ?”

“Đương nhiên rồi.” Tôi cố tỏ ra là mình khỏe và sốt sắng như cách người Hà Lan vẫn làm, nhưng nó chỉ làm cơn đau đầu của tôi thêm tồi tệ hơn.

Anh lướt nhìn khắp căn bếp lạnh tanh. “Em còn chưa pha trà cho mình nữa kìa.”

“Do lệch múi giờ thôi,” tôi nói dối, mặc dù lúc đó tôi đã ở Hà Lan được gần một tuần. Có vẻ tốn quá nhiều công sức để chuẩn bị bữa sáng cho chính mình, và dù sao thì tôi cũng thường bỏ bữa khi còn ở nhà, chạy vội đến với các cuộc họp và những buổi thuyết trình. “Anh biết không? Em từng mong sẽ có một kỳ nghỉ dài, nhưng giờ khi đã có thời gian, em lại không biết bản thân muốn làm gì.”

“Em có chịu nghỉ ngơi bao giờ. Bắt cái này, chụp cái kia.

Đôi khi em phải để mình nghỉ ngơi, Sylvie à.”

“Dã tràng xe cát, là em đấy.” Tám mươi đến một trăm tiếng một tuần ở nơi làm việc. Ánh sáng xanh hắt ra từ laptop vẫn cặm cụi cùng tôi khi Jim đã ngáy khò trong phòng ngủ. Những chuyến công tác bay đến hết thành phố này đến thành phố khác. Hết deadline nọ đến deadline kia, hết khủng hoảng này đến khủng hoảng nọ. Để làm gì cơ chứ? Khi vấn đề xảy ra, không ai đứng lên bảo vệ tôi dù tôi đã mang về không biết bao nhiêu tiền cho công ty. Tôi bắt đầu nhận ra rằng mình đã buộc bản thân phải bận rộn như để tránh tra khảo cuộc đời mình, giờ tôi đã có cơ hội, tôi chẳng thấy thích thú gì cả.

Lukas đổ nước vào ấm điện. Ánh nắng ban mai chiếu xuyên qua cửa sổ, làm rọi lên những đường nét nổi bật trên đôi vai vạm vỡ của anh. Mái tóc anh đen mượt, gần như thẳng, chỉ có chút xoăn nhẹ nơi gáy cổ. “Hôm nay trời đẹp và anh muốn đi chụp ảnh. Đi cùng anh nào. Anh sẽ chuẩn bị cho chúng ta một ít bánh mì sandwich. Anh mới phát hiện ra chỗ này.”

Ấn bàn đạp trên chiếc xe hoa văn màu hồng mà Estelle đã cho tôi mượn, tôi hít hà mùi thơm thoang thoảng của hoa dạ lan hương. Khung cảnh bao la trải dài trước mắt chúng tôi, những cánh đồng hoa nghệ tây và hoa thủy tiên rực rỡ khẽ rung rinh trong gió, và tôi cảm thấy như lòng mình được nới lỏng. Một đàn ngỗng trời thong thả bay vút lên xung quanh, đập cánh và thả mình vào không trung khi chúng tôi đi ngang qua. Tôi đã quên mất cảm giác tuyệt vời như thế nào khi cơ thể tôi thăng bằng trên hai bánh nhỏ của xe đạp, sự tự do trên cung đường thoai thoải bên dưới và cảm giác thích thú khi làn gió mơn trớn trên khuôn mặt.

Lukas dẫn chúng tôi đi dọc một con đường rợp bóng cây ngay bên cạnh kênh đào Amsterdam-Rhine, nơi làn nước sâu sáng lấp loáng. Chúng tôi dừng lại ở một điểm dã ngoại nhỏ có một chiếc ghế dài hướng về phía dòng nước gợn lăn tăn. Một cái cây ngã rạp xuống mặt sóng, đôi ba con vịt đang bơi qua lại giữa những nhành cây.

Khi khóa chiếc xe đạp và đặt nó tựa vào cây, tôi nói, “Kỳ lạ thật, vì em vốn dĩ sợ nước, nhưng lại rất thích nó.” Lukas mở cái túi trên xe đạp ra. Sau đó, anh ấy tháo giày và lột cả tất. Anh bước chân trần quanh khu dã ngoại như một con hồng hạc to kềnh. Tôi cười khúc khích. “Anh đang làm gì vậy?”

“Đang cố tìm một chỗ khô đây. Mà sao em lại sợ nước nhỉ?” Anh ấy giậm chân đôi ba lần ở một chỗ, vừa lẩm bẩm vừa lôi ra một chiếc chăn màu xanh lá cây dày từ trong túi.

Tôi bước đến để giúp anh ấy trải nó ra mặt đất. “Vì em có thể bị chết đuối ở độ sâu hai mét nước, ngốc ạ.” Tôi vỗ lên cánh tay anh, rồi khoanh chân ngồi xuống. Tôi lướt một ngón tay lên lớp chăn lông mềm mại.

“Ồ, anh quên mất.” Lukas nhăn nhó, vẻ ngượng ngùng. Mọi người ở Hà Lan đều biết bơi. Anh ngồi xuống một góc chăn bên cạnh tôi. “Vậy, sao em lại thích nước?”

“Em cảm giác nó như sự tự do.”

Anh duỗi người và nằm ngửa ra. Những sợi tóc trải trên tấm chăn, óng ánh như màu ánh kim của vỏ sò được rửa sạch bởi sóng biển. Anh nói với đôi mắt nhắm nghiền. “Anh đã từng ở giữa đại dương mấy tháng trời trong chuyến đi đến Alaska. Những con sóng khổng lồ, lớn hơn rất nhiều so với chúng ta. Biển cả như một nghĩa địa hay một thứ gì đó không tưởng, một hang động nơi thế giới cổ đại bị nuốt chửng và chờ đợi được khai phá lần nữa.”

Tôi cúi người. Anh ấy tỏa ra mùi hương của cỏ mới cắt, húng quế và đất. Có gì đó rất quen thuộc nhưng cũng rất mới mẻ ở anh. Hàng mi dày vẫn thế, những tàn nhang li ti dưới gò má trái góc cạnh, vết sẹo luồn dưới mái tóc sau thái dương từ khi anh bị ngã ở khu tập thể dục ngoài trời của trường. Đôi chân trần, đầy lông của anh thò ra khỏi chiếc quần jean bó. Đôi môi đầy đặn. Anh mở mắt và tôi chợt giật lùi.

Tôi hắng giọng. “Chất thơ của anh khiến em không tài nào ngấm được. Em chỉ là một đứa con gái bình thường thôi.” Tôi bật dậy và quanh quẩn tìm thứ gì đó để làm. Tôi đút tay vào túi quần và lại hắng giọng lần nữa. À, đúng rồi, đồ ăn. “Em sẽ mở túi bánh sandwich.”

Anh chống người dậy bằng một bên khuỷu tay, chiếc cúc trên cùng của chiếc áo sơ mi căng ra, để lộ một mảng da rám nắng mịn màng. “Ha ha, bình thường á. Em đã ngấu nghiến đọc sách trước cả khi anh bắt đầu học bảng chữ cái kia kìa. Em có nhớ là tất cả mọi người đều không thể hiểu được tại sao em cứ nhìn vào sách mà chẳng có hình ảnh gì không? Vì thực sự là không ai nghĩ em đang đọc nó.”

Tôi buộc mình quay nhìn đi chỗ khác và bắt đầu lục lọi trong túi xe đạp. Tôi nói, dùng một câu thành ngữ được dịch từ tiếng Trung sang tiếng Hà Lan, “Chim đần thì phải sớm tập bay chứ.”

Tôi ngồi phịch xuống cố né anh càng xa càng tốt. Quá đủ nhạt nhẽo rồi, Sylvie à. Khi bớt căng thẳng, tôi bắt đầu ngân nga rồi rót trà cho cả hai từ một chiếc phích. Tôi mỉm cười khi thấy những chiếc khăn ăn bằng vải được gấp khéo léo thành những cái chong chóng hoàn hảo. “À, anh vẫn hay sử dụng chiêu này nhỉ. Trông chuyên nghiệp phết. Em quên mất anh là con trai của một chủ nhà hàng. Em còn không nhớ cách xếp nó thế nào nữa.”

“Anh cũng phụ giúp việc ở đấy nhiều mà, bố mẹ vẫn mong anh sẽ tiếp quản nhà hàng đó.”

Cuối cùng, tôi đánh bạo nhìn anh lần nữa. Tạ ơn trời, anh ấy đã ngồi dậy. “Họ có thất vọng không?”

“Rất thất vọng nữa là đằng khác.” Anh bĩu môi, cố nhại lại giọng của mẹ mình. “Vớ vẩn, theo đuổi giấc mơ gì chứ. Muốn sống thì tự lo kiếm cái kế sinh nhai đi. Nhưng anh nghĩ là bố hiểu. Ông ấy chỉ ngại lên tiếng thôi.” Dượng Willem từng là một giáo viên Toán khi còn ở Trung Quốc. Ông có cái đầu tuyệt vời, là người đứng sau những thành công của nhà hàng, ông cân đối giữa đầu vào và đầu ra của hàng hóa và phân bố đội ngũ nhân viên, ông biết chính xác khi nào cần phải giảm xuống và khi nào cần phải nhân lên. Khi ông ấy giúp tôi làm bài tập về nhà, chúng tôi cùng nhau giải quyết các bài toán, chỉ một bước tôi đã nhanh chóng tìm ra đáp án trong khi Lukas phải ngồi giải từng bước một. Tuy nhiên, số tiền mà dượng nợ dì Helena vì đã giải thoát ông ấy khỏi gọng kìm của Trung Quốc là một khoản nợ mà ông ấy sẽ không bao giờ có thể trả được.

Có một sự im lặng khó xử. Tôi khỏa lấp chúng bằng những tiếng ngân nga vô nghĩa lần nữa và Lukas nói: “Em có một chất giọng đẹp.”

“Anh phải nghe giọng của em gái em, Amy kìa.” Tôi đưa cho anh một lát sandwich Brie được đặt trên mẩu bánh mì trộn mè đen và tự mình lấy một cái. “Nếu Amy nghe một bài hát trên radio, con bé có thể chơi lại bản nhạc đó bằng guitar hoặc piano. Giọng Amy rất khỏe và giàu cảm xúc, em hay đứng tựa người trước cửa phòng trong khi nó đang tắm, chỉ để nghe nó hát.”

“Con bé có vẻ tuyệt nhỉ.” Trước sự ngạc nhiên của tôi, lông mày của anh ấy chau lại thành một đường kẻ dày. Vừa rồi là một lời mỉa mai sao?

Tôi e dè nói: “Đúng thế. Nhưng chẳng bao giờ có đủ tiền hay thời gian cho con bé được học bài bản để phát triển tài năng. Lúc đó em vẫn chưa đủ lớn nên không thể giúp gì được.”

Anh cúi xuống và đặt bàn tay to lớn lên đầu gối tôi. Tôi có thể cảm nhận được sự ấm áp xuyên qua lớp vải. “Còn em thì sao, Sylvie? Ai giúp em khi đó?”

Tôi xoay người để bàn tay anh vụt rơi khỏi đầu gối, rồi xé một mẩu bánh mì và ném nó xuống nước cho những con vịt.

Một con bồ câu thấy thế, ré lên dữ dội, trong khi những con khác đã bay đi. “Em luôn ổn mà Lukas. Đừng lo.”

“Anh nghĩ em nên nghỉ ngơi, Sylvie à. Em không thể ăn cho ngày mai. Hãy tận hưởng khi em đang còn ở đây và có thể tìm cái gì đó thư giãn để giữ cho mình bận rộn. Không phải áp lực hiệu quả hay học hành gì.” Anh cắn một miếng sandwich.

Tôi ném một mẩu bánh mì khác vào mấy con vịt ngơ ngác. Chúng đã tụ lại. Lần này, tất cả nháo nhào lên. “Nhưng em sang đây vì bà.”

“Em không thể ở bên bà cả ngày. Em có biết anh và Estelle vừa đi uống bia với ai hôm rồi không? Mà em ăn bánh mì của em đi.”

Estelle. Tất nhiên, đó là chỗ anh hay đến. Tôi lắc đầu và vòng tay ôm đầu gối, đột nhiên thấy mệt mỏi. “Em không đói.”

“Là Filip. Em nhớ cậu ấy chứ? Cậu ta học chung lớp với tụi mình đó.”

Tôi hồi tưởng lại và chợt nhớ về một hình ảnh mơ hồ của một cậu trai nhỏ, tóc đen. “À, có, cậu ấy hay chơi violin hay gì đó trong các chương trình Giáng sinh đúng không?”

Lukas lê qua ngồi cạnh và chộp lấy lát sandwich trên tay tôi. “Đúng cậu ấy đấy. Bây giờ cậu ta là một nghệ sĩ đàn cello chuyên nghiệp trong Dàn nhạc Philharmonic của Hà Lan. Bọn anh chơi thân với nhau sau khi em đi. Cậu ta có dạy kèm tại nhà-trên-tàu của mình ở Amsterdam. Em có thể thử.”

Anh ấy cầm lát bánh mì đưa lên miệng tôi. “Ngừng hy sinh vì người khác đi. Hãy làm gì đó cho chính mình. Cắn một miếng xem nào.”

Tôi nghe theo, cắn một miếng và khẽ chớp mắt nhìn anh ấy khi đang nhai. Anh ấy bỗng dưng rất gần. Tôi nuốt đánh ực. “Đào đâu ra cây đàn cello bây giờ?”

Ánh mắt anh đặt vào miệng tôi. “Anh nghĩ hầu hết sinh viên đều đi thuê.”

Bất giác, tôi quay mặt đi, cố phẩy phủi đôi môi. Có vụn bánh dính trên mặt tôi sao? “Nhưng em không có tí năng khiếu nào về âm nhạc. Amy mới là đứa —”

Anh ấy quay đi và thở dài. “Anh biết mà, em đã nói rồi. Nhưng chính vì điều đó. Hãy cứ đi và thử những điều em chưa từng làm trước đây xem sao. Em không bao giờ biết nó sẽ dẫn em đến đâu đâu.”

Liên Thảo dịch
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.