Hai ẩn sĩ chốn thâm sơn
Mùa hạ năm Kiến An thứ mười một (năm 206 sau Công nguyên), chiến loạn trong thiên hạ đã kéo dài mười bảy năm. Những thế lực từng một thời xưng hùng như Viên Thuật, Lã Bố, Công Tôn Trán, Viên Thiệu lần lượt thất bại và diệt vong. Tào Tháo, kẻ mang danh nghĩa "phụng thiên tử dĩ thảo bất thần" (phụng mệnh thiên tử để đánh kẻ thần tử bất trung), nay đã trở thành bá chủ Trung Nguyên không thể chối cãi. Thế nhưng, một tướng công thành vạn cốt khô, đao binh nổi dậy khắp chốn thiên hạ khiến máu chảy thành sông, cộng thêm thiên tai, ôn dịch, đói kém, số nhân khẩu trong hộ tịch thiên hạ nay chỉ còn lại một phần mười so với trước, vô số sinh linh đã vùi thân trong biển lửa chiến tranh...
Tuy nhiên, đất đai Cửu Châu vô cùng rộng lớn, vẫn có những góc khuất mà chiến loạn chưa với tới tới. Hứa Vô Sơn thuộc quận Hữu Bắc Bình ở U Châu (nay là phía đông thành phố Tuân Hóa, tỉnh Hà Bắc, thuộc dãy núi Yến Sơn) chính là một nơi như thế. Nơi này nằm ở ranh giới giữa quận Hữu Bắc Bình và quận Liêu Tây. Do Trung Nguyên hỗn loạn, tộc Ô Hàn - một dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc - đã thừa cơ mở rộng thế lực, chiếm đoạt quận Liêu Tây, cho nên Hứa Vô Sơn thực tế đã trở thành vùng giáp ranh giữa nhà Hán và tộc Hồ. Mà ngay ở phía bắc của dãy núi này còn có Vạn Lý Trường Thành vắt ngang từ đông sang tây.
Trường Thành ở U Châu trên danh nghĩa là do nhà Tần xây dựng, nhưng nền móng của nó vốn là Yến Trường Thành từ thời Chiến Quốc, lịch sử đã có hơn bốn trăm năm. Nay không có người đóng quân phòng thủ lại thiếu sự tu sửa, trông có vẻ rất hoang tàn, đổ nát. Còn về phần dãy núi bao bọc lấy nó, với những chập chùng điệp trùng, muôn vàn khe sâu vực thẳm, rừng rậm xanh tươi cùng gai góc mọc đầy, lại càng khiến nơi này trở nên quạnh hiu, hẻo lánh hơn. Nếu là thời thái bình thì chẳng ai thèm ngó ngàng tới chốn hoang vu này, nhưng ngó lại thời thế nhiễu nhương hiện tại, nếu được ẩn thân chốn núi rừng, ngược lại có thể tìm được chút ít sự an nhần và tĩnh lặng. Đặc biệt là vào độ giữa hè, những con suối trong vắt trong núi róc rách chảy, hòa cùng tiếng chim hót líu lo, tựa như một bản tình ca du dương; trên những tảng đá trong núi khắp nơi đều là hoa dại không tên, uyển chuyển duyên dáng, tỏa hương ngào ngạt, khiến cho ngọn núi hiểm trở trải dài vô tận bỗng mang thêm vài phần cảm giác ấm áp... Nhưng điều khiến người ta bất ngờ là, giữa chốn thâm sơn cùng cốc ấy lại ẩn giấu một ngôi làng. Nơi đó ruộng đồng ngay ngắn, khói bếp lượn lờ, người dân sống những ngày tháng yên bình, an nhủ, cứ như tách biệt hoàn toàn với thế giới chém giết hỗn loạn ở bên ngoài.
Ngôi làng này may mắn nằm ẩn mình giữa hai ngọn núi lớn, ở cửa thung lũng có một khe hở nên rất khó bị phát hiện. Ruộng đất trong làng hoặc nằm ở các vùng trũng, hoặc nằm lưng chừng sườn núi, dẫu tản mác nhưng lại sắp xếp vô cùng ngăn nắp, hài hòa. Dưới chân núi là những luống rau và cây ăn quả ngay ngắn, còn dưới đáy thung lũng là một dải nhà tranh lớn, tuy thô sơ nhưng lại trật tự đâu ra đấy. Giữa các gian nhà tiếng gà gáy chó sủa, trẻ con nô đùa vui vẻ, người dân dắt trâu dê đi lại giữa các lối đi, thậm chí còn có cả lớp học vang lên tiếng đọc sách lảng đảng — ngôi làng này tất nhiên không phải là kiệt tác của tạo hóa tự nhiên, mà là do danh sĩ U Châu Điền Trù dẫn dắt toàn bộ gia tộc già trẻ lớn bé ẩn cư ở đây, mất ròng rã mấy năm trời mới từng chút một tu sửa mà thành. Nếu quan sát kỹ sẽ nhận ra ở lối vào thung lũng và trên các đỉnh núi xung quanh có bố trí các trạm gác, không ít tráng đinh tay cầm gậy gộc luôn túc trực cảnh giác. Nếu có giặc cướp dám đến quấy nhiễu, đám thanh niên sẽ lập tức ùa lên, đánh cho chúng mất mạng ngay dưới làn gậy gộc hỗn độn.
Đúng lúc này, có một người đang cưỡi chú lừa nhỏ đi lóc cóc trên con đường mòn quanh co như ruột dê. Người đến khoảng hơn ba mươi tuổi, dung mạo anh tuấn, tuy mặc áo vải thô, đầu chỉ quấn chiếc khăn vải mộc để buộc tóc, nhưng vẫn không che giấu được khí chất xuất chúng. Có lẽ do đi đường xa trời nóng bức, y hé mở cổ áo để lộ lồng ngực, tôn lên bộ râu dài phất phơ dưới cằm; tay gõ gõ cây gậy trúc, miệng ngâm nga câu hát nhỏ, lại cưỡi trên lưng chú lừa đen nhỏ mũi hồng mắt tròn — quả thật là vô cùng tiêu dao tự tại.
Đám tráng đinh canh làng từ sớm đã trông thấy, chẳng những không ngăn cản mà còn bước ra đón để đỡ y xuống lừa: "Hình tiên sinh đã về rồi! Ngài đi đường chắc vất vả lắm nhỉ?" Người nọ chỉ gật đầu mỉm cười, dắt lừa thong thả bước vào thung lũng.
Vị này họ Hình tên Khuông, tự Tử Âng, người huyện Mậu, quận Hà Bương. Thuở trẻ y từng đọc sách qua muôn vạn quyển, là người đoan chính nhân nghĩa, được bầu làm hiếu lâm, phụ lão quê nhà còn tặng cho y một bài ca dao, gọi là "Đức hạnh đường đường Hình Tử Âng". Thế nhưng thiên hạ phân tranh, chiến tranh đao binh không dứt, y bèn dứt bỏ nguyện vọng hoạn lộ, ngay cả chiếu triệu của Tư đồ đương triều Triệu Ôn cũng chẳng thèm nhận, mà đi theo danh sĩ U Châu Điền Trù bắt đầu cuộc sống ẩn cư, suốt ngày lấy điền viên hoa uyển làm niềm vui. Thời gian thắm thoắt thoi đưa, chớp mắt đã mấy năm trôi qua, nghe ngóng được tin họ Viên suy thoái còn Tào Tháo hưng thịnh, thiên hạ có hy vọng an định, cái tâm nhàn tản bấy lâu của Hình Khuông dần không chịu nổi sự cô quạnh nữa, cho nên mới xuất sơn để thăm dò tin tức.
Hình Khuông vừa vào đến làng lập tức thu hút sự chú ý của rất nhiều dân làng, người thì hỏi thăm tình hình bên ngoài núi, người hỏi y mang về thứ gì, người bưng nước tới để y giải khát, lại có mấy đứa trẻ vây quanh chú lừa nhỏ nô đùa. Hình Khuông ấp úng ứng phó vài câu, rút mấy chiếc bánh hồ bính chia cho lũ trẻ, rồi len lỏi qua đám đông đi về phía sâu trong thôn. Đi thẳng đến trước một viện rào thưa, y buộc lừa lại, tiện tay phủii bụi trên người, cho đến khi chỉnh đốn lại y phục ngay ngắn không chê vào đâu được, lúc này mới nhẹ nhàng đẩy cánh cửa bằng cành cây: "Tử Thái huynh! Ta về rồi đây!"
Y gọi liên tiếp hai tiếng, từ trong nhà tranh bước ra một vị ẩn sĩ có dung mạo đường đường. Người này tuổi gần bốn thập, cao tám thước, mình hùm vai rộng; một khuôn mặt rộng với những đường nét rõ rệt, da ngăm đen; bộ râu màu nâu sẫm mọc rậm rạp quấn quanh mang tai; một đôi mắt sáng như đuốc, hốc mắt sâu thẳm, mũi thông quan, miệng như cánh môi, tai to vểnh; tuy chỉ mặc một chiếc áo vải gai thô màu xám, đầu cũng chỉ dùng cành cây khô để cài tóc, nhưng toàn thân lại toát ra một thứ khí chất cao quý đầy kiêu hãnh. Người này nhìn thấy Hình Khuông không vội cất lời, mà nghiêm cất chắp tay vái chào trước — đích thị là cựu Tòng sự U Châu Điền Trù, tự Tử Thái.
Điền Trù chính là người huyện Vô Thôn, quận Hữu Bắc Bình nằm không xa nơi này. Ông thành danh từ rất sớm, giàu có một phương, từng được cựu U Châu Mục Lưu Ngu mời làm Tòng sự, cũng từng hết lòng hết sức báo hiệu triều đình. Đổng Trác vào kinh khiến thiên hạ đại loạn, Lưu Ngu được triều đình tôn kính từ xa làm Đại tư mã, bèn phái Điền Trù đến Trường An yết kiến thiên tử. Lúc bấy giờ vùng Hà Đề Sóc có Viên Thiệu và Hắc Sơn giao chiến, Trung Nguyên có Tào Tháo và Viên Thuật tranh hùng, khói lửa khắp nơi đường sá trắc trở, Điền Trù mang theo biểu chương lặn lội xa xôi ra chốn tái ngoại, trải qua muôn vàn cay đắng vất vả mới vòng đường đến được Trường An. Lúc ông từ chối chức quan triều ban thưởng để trở về quê hương, mới phát hiện mọi thứ đã đổi thay hoàn toàn. Lưu Ngu đã bị Công Tôn Trán sát hại, những bộ khúc cũ sót lại đều đã đầu quân cho Viên Thiệu. Ông đến trước mộ Lưu Ngu khóc lớn một trận, rồi lại bị tống vào ngục tối, may nhờ không ít quan viên các châu quận cầu xin Công Tôn Trán mới giữ được tính mạng. Thoát khỏi chướng ngục, Điền Trù thề với trời sẽ trả thù cho Lưu Ngu, bèn dẫn theo hàng trăm nhân khẩu thân thuộc trong gia tộc trốn vào núi Hứa Vô, khai hoang trồng trọt, tích trữ lương thảo, tính ra đã hơn mười năm.
“Huynh trưởng dạo này vẫn tốt chứ? Đệ có muôn vàn lời muốn nói với huynh…” Nhìn thấy Điền Trù, Hình Khuông không còn giữ vẻ câu nệ nữa, chỉ hận không thể đem hết thảy những gì mình thấy và nghe được trong chuyến xuất sơn này kể hết cho ông nghe. Thế nhưng Điền Trù hình như chẳng hề quan tâm đến những thay đổi bên ngoài núi, chỉ nhẹ nhàng thốt lên một câu: “Hiền đệ vất vả rồi.”
Hình Khuông thao thao bất tuyệt: “Đệ đã thăm dò rõ ràng mọi chuyện ở bên ngoài rồi. Hiện nay Tào Tháo đã thu nạp toàn bộ đất đai của họ Viên, Viên Đàm, Cao Cán lần lượt chịu chết, Thôi Diêm, Vương Tu, Khiêm Chiêu đều đã quy hàng. Tiền thuế ruộng ở Ký Châu mỗi mẫu chỉ thu bốn thưng, sĩ phu và bách tính không ai là không ca ngợi! Tướng bộ U Châu của chúng ta là Tiêu Xúc, Trương Nam sau khi đầu hàng được phong làm Quan nội hầu, các huyện lệnh ở khắp nơi vẫn giữ nguyên chức cũ không thay đổi, những kẻ từ bỏ quan chức đi ẩn cư lần lượt ra làm quan, ngay cả kẻ tự xưng hiệu Ô Hàn Hiệu úy là Diêm Nhu cũng quay sang hiệu lực cho Tào Tháo rồi…”
Điền Trù vẫn mang vẻ mặt đờ đẫn, gọi người nhà chuẩn bị gà luộc và rượu đục. Hai người một đối một chén uống rượu, Hình Khuông hào hứng bàn luận nét mặt rạng rỡ niềm vui; còn Điền Trù từ đầu đến cuối không thốt một lời, ánh mắt nhìn ra ngoài hàng rào, tâm trí chẳng biết đang trôi dạt về chốn nào.
“Huynh trưởng có đang nghe đệ nói không đấy?” Hình Khuông cuối cùng không kìm được đành lên tiếng hỏi.
“Ồ? Ta đang nghe đây…” Điền Trù lúc này mới định thần lại.
Chuyến xuất sơn lần này của Hình Khuông mắt thấy tai nghe rất nhiều chuyện, trong lòng cũng đã có chút tính toán: “Theo ý đệ thấy, chi bằng chúng ta sớm vứt bỏ chốn hoang sơn này mà quay về quê cũ thôi.”
“Về quê ư?” Điền Trù lại hướng ánh mắt ra ngoài viện, trong ánh mắt ngập tràn vẻ mê mông, hoang mang: “Năm xưa Viên Thiệu tiêu diệt Công Tôn Trán, cũng từng phái người đến mời chúng ta về quê, còn muốn mời vi huynh làm Duyên thuộc, may mà ta đã từ chối. Ngươi xem cơ nghiệp nhà họ Viên giờ đang ở đâu? Nhật nguyệt có quy trình, tinh tú có đường đi, hưng vong thành bại chẳng qua chỉ là chớp mắt phù du.”
“Lời của huynh trưởng sai rồi. Mạnh Tử từng nói: ‘Thiên hạ sinh dân đã lâu, một loạn một trị.’ Tào Tháo khác với Viên Thiệu, ông ta phụng thiên tử để đánh kẻ bất thần. Nay ông ta đã đoạt được Hà Bắc, trong bốn biển không còn địch thủ, nếu nam tiến đánh TƯng Châu rồi chiếm Giang Đông, thiên hạ thái bình chỉ còn trong gang tấc!” Hình Khuông tràn ngập vẻ ao ước, kỳ vọng.
“Thái bình ư?” Điền Trù cười nhạt một tiếng đầy cay đắng — năm xưa khi ông cùng người nhà mới đến Hứa Vô Sơn, vốn định chiêu binh mãi mã để đối đầu với Công Tôn Trán. Nào ngờ thực lực chênh lệch, lại thiếu thốn lương thảo, đành phải đi đầu khai hoang trồng trọt trước. Về sau tình hình bên ngoài ngày càng hỗn loạn, rất nhiều bách tính dắt díu gia đình trốn vào núi cầu xin thu nhận, Điền Trù một lòng nhân từ nên đều đồng ý hết, nhân khẩu trong núi ngày một đông đúc, cuối cùng lên tới hơn năm nghìn hộ. Mang theo nhiều bách tính như vậy, ăn mặc đã là vấn đề lớn, còn bàn gì đến chuyện hành quân đánh giặc? Thoắt cái đã hơn mười năm trôi qua, đừng nói tới Công Tôn Trán, ngay cả phụ tử Viên Thiệu cũng đã vong mạng, thù của Lưu Ngu còn biết tìm ai để báo đây? Chí hướng hùng tâm đã thành mây bay quá khứ, Điền Trù sớm lòng nguội lạnh, nay bách tính trong núi được an cư lạc nghiệp, đời sống không tranh giành với đời, hà tất phải quay lại chốn thế giới hỗn độn kia làm gì?
Hình Khuông đã nhìn thấu tâm sự của ông, trầm ngâm giây lát rồi chuyển sang giọng nghiêm túc nói: “Chẳng lẽ Tử Thái huynh chỉ ham muốn sự an nhàn trước mắt, mà mặc kệ sự sống chết an nguy của đời sau con dân đại Hán chúng ta sao?”
“Hửm?” Trên khuôn mặt đờ đẫn của Điền Trù thoáng hiện lên một tia quan tâm: “Hiền đệ sao lại nói thế?”
Hình Khuông ngồi ngay ngắn, giơ tay chỉ về hướng Đông Bắc, chỉ thốt ra hai chữ: “Ô Hàn!”
Hai chữ này chẳng khác nào một cú đánh trời giáng, khiến Điền Trù bừng tỉnh đại ngộ — Ô Hàn vốn là một bộ lạc phân nhánh của tộc Đông Hồ, vì ban đầu hoạt động ở núi Ô Hàn (nay thuộc lưu vực sông Tây Lạt Mộc Lưn vùng Đông Bắc) nên mới có tên như vậy, vốn thuộc quyền cai quản của người Hung Nô. Năm Nguyên Thư thứ tư thời Hán Vũ Đế (năm 119 trước Công nguyên), Vệ Thanh và Hoắc Khải Bệnh đánh bại Hung Nô, đuổi Hung Nô khỏi Mạc Nam, từ đó Ô Hàn quy phục người Hán, thay đại Hán giám sát hoạt động của người Hung Nô. Khi Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán từng có lúc làm phản, đến thời Quang Vũ Trung Hưng lại một lần nữa quy phụ, Quang Vũ Đế ra lệnh cho họ dời đến mười quận ở biên địa như Liêu Đông, Liêu Tây, Hữu Bắc Bình, Sóc Phương…, từ đó sống xen kẽ cùng người Hán. Kể từ đó, nhà Hán liên tục xảy ra xung đột với người Khương và người Tiên Ti, Ô Hàn đứng ở giữa khi chiến khi hàng dao động bất định, thậm chí vào thời kỳ hậu niên của Hán Linh Đế còn cấu kết với Ngư Dương Thái thú Trương Thuần phát động một cuộc nổi loạn, nhưng đã bị Công Tôn Trán dẹp yên. Sau khi Lưu Ngu nhậm chức U Châu đã áp dụng chính sách vỗ về, cho nên dù Trung Nguyên có hỗn loạn, Ô Hàn và người Hán vẫn sống hòa bình với nhau; sau khi Lưu Ngu chết, để liên kết các thế lực nhằm tiêu diệt Công Tôn Trán, Viên Thiệu lại càng hậu đãi Ô Hàn hơn, không những làm giả chiếu chỉ phong cho nhiều thủ lĩnh bộ lạc lớn làm Thiền vu, mà còn gả con gái trong tông tộc họ Viên cho bọn chúng. Loạt chính sách vỗ về này đã khiến thế lực của chúng từng bước lớn mạnh; cộng thêm việc người Tiên Ti ở phía bắc cũng đang nội loạn, lại càng trao cho chúng cơ hội ngàn vàng, chiếm đoạt một lượng lớn lãnh thổ ở Hữu Bắc Bình, Liêu Tây, Liêu Đông, cướp đoạt quyền thống trị địa phương. Nay Hà Bắc đã thuộc về Tào Tháo, Viên Thượng, Viên Hi nương nhờ Ô Hàn, chúng tập trung toàn bộ binh mã của các bộ lạc về Liêu Tây, giương cao ngọn cờ báo thù cho họ Viên, nhân cơ hội này đi cướp bóc khắp nơi, đốt phá hãm hiếp không điều ác nào không làm… Nghĩ đến những chuyện này, trái tim tưởng như sắt đá của Điền Trù lại bắt đầu rộn lên, dẫu sao ông cũng là con dân đại Hán, cũng từng lấy thiên hạ làm trọng trách của mình!
Hình Khuông vẫn luôn chăm chú quan sát biểu cảm của Điền Trù, thấy cơ mặt ông khẽ giật giật hai cái, bèn thừa thắng xông lên nói: “Ô Hàn làm càn làm quấy không phải ngày một ngày hai, chỉ có thuần phục được chúng, bách tính U Châu mới có thể sống những ngày yên ổn, biên cương đại Hán của chúng ta mới không bị họa lớn! Huynh trưởng nếu đã bảy tám mươi tuổi thì đệ cũng chẳng nói những lời này. Nhưng ngài và tôi đều đang ở độ tuổi tráng niên, lập công lập nghiệp vẫn chưa gọi là muộn. Dốc sức vì nước vốn là bổn phận của kẻ sĩ, nếu ngài hiến kế cho Tào Tháo dẹp trừ họa Ô Hàn, không những có lợi cho nước cho dân, mà nếu may mắn được cái chức quan một cở thì cũng coi như có đường lối báo quốc rồi!”
Điền Trù nghe y có chí hướng bước chân vào quan trường, ánh mắt lại trở nên ảm đạm, im lặng nốc cạn một bát rượu: “Nhập sĩ làm quan thì thôi đi. Vi huynh đã nhàn tản quen rồi, từ lâu đã không còn ý nghĩ đó nữa…”
“Huynh trưởng không nghĩ cho bản thân, thì cũng phải nghĩ cho bách tính chốn này chứ. Cứ chui rúc trong chốn thâm sơn cùng cốc này, đến tháng năm nào mới là điểm dừng? Người già đến chết cũng không được về lại quê cha đất tổ, lũ trẻ cho đến tận bây giờ vẫn không biết bên ngoài núi ra sao, không thể ra ngoài báo quốc tạo phúc cho dân chúng, ngài dạy chúng đọc sách minh lý để làm gì chứ? Con người sống là phải ra ngoài xông pha, cái khe núi nhỏ này không thể giam hãm bọn họ cả đời được đâu!”
Biểu cảm của Điền Trù vô cùng đau đớn — chốn núi non này thực sự rất kỳ diệu, lúc mới tới chỉ muốn mài giũa binh mã giết trở về để báo thù, nhưng theo thời gian trôi qua lại bắt đầu lưu luyến nơi này, thậm chí bắt đầu sợ hãi thế giới bên ngoài. Thế nhưng Điền Trù cũng hiểu rõ, ngày tháng thế này sớm muộn gì cũng có lúc kết thúc, không có bất kỳ xó xỉnh nào có thể cản nổi cái thế giới ngoài kia, ngày phải đối mặt với hiện thực sớm muộn gì cũng sẽ tới…
“Hiền đệ nói rất đúng, sớm muộn gì cũng sẽ có ngày đó. Ngươi đúng là người giác ngộ trước dân chúng.”
“Ngài đồng ý xuất sơn rồi sao?” Hình Khuông tốn hết bao nhiêu lời lẽ cuối cùng cũng đả thông tư tưởng được ông: “Đã vậy, hãy mau chóng thu dọn hành lý, ngày mai chúng ta lập tức đến Nghiệp Thành yết kiến Tào công! Bảo bà con dân làng…”
“Đừng vội.” Điền Trù xua xua tay: “Phụ tử Viên Thiệu, Viên Thượng đều từng triệu dụng ta, ta nghe tiếng bọn họ kiêu ngạo nên đã không nhận lời. Nghĩ rằng Tào Tháo nay binh cường mã tráng, cách đối nhân xử thế chắc cũng chẳng ngoài cái khung đó, chi bằng đừng hành sự vội vàng thì hơn.”
“Huynh trưởng thiên kiến rồi. Viên Bản Thụ cậy thế bốn đời ba công chiếm cứ Hà Bắc, nhưng Tào Mạnh Đức là Tư không đương triều, phụng thiên tử để đánh kẻ bất thần. Nghe nói ông ta chiêu hiền đãi sĩ thu hút rộng rãi kỳ tài, huynh đệ chúng ta nếu đi, sau này nhất định sẽ được triều đình trọng dụng.”
“Triều đình ư?” Điền Trù không kìm được cười nhạt: “Thiên hạ ngày nay còn đâu cái gọi là triều đình nữa? Viên Thiệu lúc sinh thời dựa vào sự hùng mạnh của binh mã mà tự tác uy phúc, nay Tào Tháo cũng đi đến bước đường này rồi, từ xưa đến nay chức tước quyền thế là thứ dễ làm lay động lòng người nhất, người trong quan trường ai có thể thực sự giữ được sự khiêm cung thủ bổn suốt một đời? Lấy hiền đệ mà nói, theo vi huynh ẩn cư nhiều năm, ta tưởng ngươi đã đạm bạc danh lợi không màng thế sự rồi, nhưng bây giờ chẳng phải vẫn muốn tìm lại bậc thang bước chân vào quan lộ đó sao?”
Hình Khuông bị câu nói của ông chặn họng đến mức nghẹn lời, nhất thời không thốt nên câu.
Lúc này trời đã dần tối hẳn, trong thung lũng sâu thẳm lại càng mịt mờ không một ánh sáng, những ô ruộng và ngôi nhà tranh đã hòa tan vào một màn sương mờ ảo. Điền Trù cầm lấy đôi đũa, thẫn thờ gõ gõ lên chiếc vò đất trên án thư, đợi một lúc lâu mới cất lời:
“Thế này đi, làm phiền hiền đệ vất vả thêm chuyến nữa, đi gặp Tào Tháo trước xem rốt cuộc ông ta là hạng người thế nào, rồi hãy hay. Cổ nhân có câu ‘đói không theo mãnh hổ ăn, chợp mắt không theo dã tước ngủ’, Tào Tháo nếu thực sự lễ độ với hiền sĩ, yêu thương bách tính, vi huynh tự khắc sẽ đi; còn nếu hắn ta là kẻ kiêu ngạo ngang ngược, vi huynh thà già chết trong núi này chứ quyết không vì hắn mà hiến kế lập mưu. Điền mỗ ta không thể đi phò tá kẻ gian tặc tàn bạo bất nhân!”
Dứt lời, chợt nghe từ xa vẳng đến một tiếng hú sói sắc lạnh. “Không hay rồi!” Điền Trù giật mình đứng phắt dậy, ngẩng đầu nhìn quanh khu rừng tối đen như mực: “Bầy sói bị đuổi đi tháng trước lại tới rồi. Mau bảo dân làng chốt đuốc lên, tổ chức tráng đinh lên núi săn sói!”
Trong thôn chốc lát trở nên náo nhiệt, không ít thanh niên đã cầm chắc gậy gộc sẵn sàng xuất phát. Hình Khuông liên tục lắc đầu: “Cái chốn quỷ quái này, ba dặm hai bữa lại tranh đấu với mãnh thú hổ báo, bao giờ mới là điểm dừng? Chi bằng sớm dời đi thì hơn.”
Trong bóng tối mịt mờ không nhìn rõ biểu cảm của Điền Trù, chỉ nghe giọng nói trầm đục của ông đáp lại: “Hổ báo sói beo vốn không đáng sợ, thứ thực sự đáng sợ chính là lòng người. Con người trên đời này tuy sinh ra có bề ngoài đền đặn, nhưng khi đã tháo bỏ lớp mặt nạ giả dối rồi thì còn độc ác hơn cả cầm thú!”
Hải cương chi chiến
Vùng biển Thanh Châu sóng cuồn cuộn, tiếng triều dồn dập vỗ bờ. Nhất là trong tiết trời cuối thu này, gió tây thổi mạnh từng cơn vi vu, hòa quyện cùng những con cuộn sóng cuồn cuộn, chốc chốc lại đánh văng vài ngọn sóng lớn giữa những mỏm đá ngầm, như những con rồng nước vươn cao mấy trượng, rồi lại giáng mạnh xuống bãi cát... Thế nhưng, cuộc đại chiến đang diễn ra bên bờ biển ngày hôm nay còn ly kỳ và chấn động lòng người hơn cả khung cảnh hùng vĩ đó.
Viên Đàm tuy đã bị tiêu diệt, nhưng khói lửa chiến tranh ở Thanh Châu vẫn chưa tắt. Liêu Đông thái thú Công Tôn Khang cũng chẳng kém cạnh cha mình là Công Tôn Độ, là một kẻ đầy dã tâm, hắn nhân lúc Tào Tháo tây chinh Cao Cán đã phái bộ tướng Liễu Nghị cấu kết với tên đầu sỏ hải tặc Quản Thừa, xuất binh vượt biển mưu đồ cướp lấy Thanh Châu. Tàn dư giặc Khăn Vàng dấy binh ở Tế Nam thừa nước đục thả câu, Xương Lự thái thú Xương Bá - kẻ nhiều lần đầu hàng rồi lại làm phản - cũng hùa theo nổi loạn. Mấy đường phản tặc hô ứng lẫn nhau ngày càng dữ dội, cuối cùng đã chọc giận Tào Tháo. Ông thân chinh dẫn đại quân đến chinh tiệt, ba trận đánh ba trận thắng, nay đã dồn chủ lực của Liễu Nghị và Quản Thừa ra sát bờ biển.
Đây quả thực là một trận quyết chiến một mất một còn, quân Tào liên tiếp giành chiến thắng khí thế đang ngùn ngụt, quân Liêu Đông đường cùng tử chiến một phen, tướng sĩ đôi bên đều dốc cạn sức lực, hai bên chiến tuyến tựa như hai con rồng lớn quấn chặt lấy nhau, thoạt nhìn không phân định rõ địch ta, ai nấy đều giơ binh khí liều mạng chém giết, sương máu thỉnh thoảng bắn tung theo gió, nhuốm màu tang thương bi tráng lên toàn bộ bãi biển. Tiếng hô giết, tiếng gào thét, tiếng binh khí va chạm vào nhau không dứt bên tai, hòa lẫn với tiếng sóng biển từ xa vẳng lại, tựa như một khúc ca bi tráng đứt ruột...
Hình Khuông ngồi cùng Tào Tháo trên một ngọn đồi nhỏ phía tây chiến trường, chứng kiến cuộc giao tranh ác liệt ngay trước mắt khiến tim y đập loạn nhịp. Một kẻ thư sinh chưa từng trải qua trận mạc thế này, lòng bàn tay Hình Khuông sớm đã vã mồ hôi, vừa sợ hãi vừa hoảng hốt, vậy mà lại có chút cảm giác kích thích — đây là lần đầu tiên trong đời y cảm nhận được điều ấy. Thật ra chẳng riêng gì ngày hôm nay, từ khi từ biệt Điền Trù xuất sơn lần thứ hai, ngày nào đối với y cũng giống như đang mơ vậy.
Y rời Hứa Vô Sơn đi Nghiệp Thành trước, do Tào Tháo dẫn quân đi vắng nên không thể yết kiến như nguyện vọng. Thế nhưng vị Đại công tử Tào PhI ở lại trấn thủ lại vô cùng nhiệt tình hiếu khách, nào là ban tiệc rượu lại tặng vàng, kiên quyết giữ lại hơn nửa tháng, cuối cùng mới phái người hộ tống y đến Thanh Châu.
Đến đại doanh Thanh Châu thì tình hình còn hoành tráng hơn nữa, Quân sư Tuân Du, Tế tửu Quách Gia, Gián nghị đại phu Đổng Chiêu, Tham quân Trọng Trường Thống dẫn đầu tất cả các duyên thuộc xếp hàng nghìn đón, lại thêm một màn tiếp phong tẩy trần. Hình Khuông sống trong thâm sơn nhiều năm, vốn tưởng người bên ngoài từ lâu đã quên mất mình, không ngờ trong đại doanh Tào gia vẫn có người nhớ đến, vẫn cung kính y như thượng khách, khiến y lúc ấy cảm động đến mức không biết nói gì hơn. Sống nhàn tản trong doanh trại, ăn uống thì chẳng phải lo, đáng tiếc vẫn chưa được diện kiến Tào Tháo, cho đến sáng nay Đổng Chiêu chạy tới báo rằng Tào công có ý muốn triệu kiến, thế là y cứ thế mơ hồ bị đưa tới chiến trường, cùng ngồi xem trận đại chiến này.
Hình Khuông vừa cảm thấy kỳ quái vừa thấy kỳ diệu trước sự sắp xếp "chu đáo" của vị Tam công đương triều này, lại càng thêm hứng thú với ông ta, lúc thì ngước nhìn chiến trường, lúc lại liếc sang vị trí chủ soái bên trái — Tào Tháo mặc giáp vàng rực, bên ngoài khoác chiến bào đỏ thắm, đội mũ trụ tua đỏ, thắt lưng đeo bảo kiếm bằng đồng xanh; nhìn lên gương mặt, bộ râu dài màu hoa râm, ít nếp nhăn, nước da trắng trẻo, sống mũi hơi thấp, nhưng đôi mày rậm tựa cánh nhạn, một đôi mắt ưng ánh nhìn sắc bén, toàn thân toát lên vẻ tinh anh mạnh mẽ.
Thế nhưng, ngay bên tay trái của Tào Tháo, còn có một "vị khách quý" khác cũng được mời đến xem trận chiến, cảm giác của người này rõ ràng kém xa Hình Khuông. Người này tên là Âm Phổ, vốn là Tòng sự dưới quyền Ích Châu mục Lưu Tường, phụng mệnh đến Hứa Đô yết kiến thiên tử, nói là đến gặp thiên tử, nhưng thực chất là để yết kiến Tào Tháo. Xung quanh Thục địa kể từ đời cha của Lưu Tường là Lưu Yên đã tự lập một cõi, cắt đứt tin tức với triều đình đã hơn mười năm, Tào Tháo dời đô về Hứa Xã tái lập triều đường mà bọn chúng cũng chẳng thèm đến chúc mừng. Nhưng hiện tại không đến không được, Tào Tháo đã thống nhất Hà Bắc, nếu còn không đến biểu thị chút lòng thành, chọc giận vị đại nhân Tư không này thì không phải chuyện chơi đâu. Chỉ có điều Tào Tháo rõ ràng không mấy hài lòng với cái kiểu "nước đến chân mới nhảy" này, lại tiếp sứ giả ngay bên lề chiến trường, đây chẳng phải là uy hiếp dằn mặt hay sao? Cho nên Âm Phổ thấp thỏm không yên, nhìn những binh sĩ quân Tào đang liều mình chiến đấu ở đằng xa, cảm giác như đang ngồi trên đống lửa.
Đúng lúc này, Tào Tháo cất lời: "Sứ giả thấy khí thế quân ta thế nào?"
Âm Phổ tất nhiên phải dùng lời lẽ ca ngợi: "Những gì Tào công dẫn dắt đều là vương sư của triều đình, người nào người nấy anh hùng dũng mãnh không thể cản phá!"
“Ồ? Các ngươi vẫn biết trẫm... à không, lão phu đại diện cho triều đình cơ đấy?” Tào Tháo liếc xéo hắn một cái, lạnh lùng hỏi: “Lúc dời đô sao Lưu Tường không phái sứ giả đến? Lúc hạ hịch văn thảo phạt Viên Thuật sao các ngươi không xuất binh? Lúc bị vây hãm ở Quan Độ nguy trong một sớm một chiều sao các ngươi không tới? Nay Hà Bắc đã bình định Hứa Đô vững chắc, trong mắt các ngươi lại có cái triều đình này rồi phỏng? Rốt cuộc là trong lòng ôm ấp xã tắc vương vấn thiên tử, hay là sợ hãi binh lính dưới tay lão phu đây?”
Âm Phổ vừa thẹn vừa sợ, vội vàng giải thích: “Không phải Lưu Ích Châu coi thường triều đình, chỉ vì đất Thục xa xôi, Hán Trung lại có giặc gạo chặn đường, cho nên mới chậm trễ…”
“Hừ!” Tào Tháo càng thêm mỉa mai: “Ngày trước Mã Đằng, Hàn Toại đem binh phạm Trường An, Lưu Yên cấu kết với chúng, phái năm nghìn binh mã làm hổ trợ, lại lệnh cho hai con là Lưu Phạm, Lưu Đản làm nội ứng. Lúc đó sao không thấy giặc gạo chặn đường? Chẳng lẽ trên đường đi vào đất Thục có quỷ dữ, chỉ cho phép kẻ làm loạn đi qua, chứ không cho phép người yết kiến thiên tử đi qua sao?”
Lưu Yên cấu kết với Mã, Hàn là sự thật rành rành, Âm Phổ không dám chối cãi, đành nói thật: “Lúc đó giặc gạo Trương Lỗ vẫn chưa mưu phản làm loạn.”
“Hay cho cái câu mưu phản làm loạn! Chỉ là không biết kẻ mưu phản làm loạn rốt cuộc là ai?” Tào Tháo sớm đã điều tra rõ mồn một mọi chuyện trong Thục địa: “Trương Lỗ vốn là thuộc hạ của Lưu Yên, chịu sự sai khiến của hắn tấn công sát hại Hán Trung thái thú Tô Cố để chiếm đoạt đất đai, miệng thì nói giặc gạo chặn đường, nhưng thực chất là để canh giữ đường tháp vào Thục cho Lưu Yên, ngăn cản binh lính của triều đình. Chỉ có điều mấy năm nay trở mặt với Lưu Tường, nên mới chiếm cứ Hán Trung tự làm oai làm phúc. Ngươi tưởng lão phu ở tận Trung Nguyên mà không biết cái mưu kế quỷ quyệt này chắc?”
Tào Tháo vạch trần tận gốc rễ của Lưu Yên, Âm Phổ không tài nào ngồi yên được nữa, người lảo đảo ngã quỵ xuống ngay chân ông: “Những lời minh quan vừa nói ti chức không dám cãi lại, nhưng lão châu mục đã qua đời nhiều năm, Lưu Ích Châu vốn tính tình thuần lương, từ khi nhậm chức luôn hậu đãi bách tính, không dám tùy tiện gây chiến, việc phái ti chức đến yết kiến thiên tử, kết giao với minh quan cũng xuất phát từ một lòng thành kính, cúi xin minh quan thấu hiểu!” Nói Lưu Tường bản tính thuần lương thì có lẽ đúng, nhưng không dám tùy tiện gây chiến không phải vì cảm thấy có lỗi, mà vì hắn hèn nhát vô dụng, không có bản lĩnh làm phong ba bão táp như cha mình.
“Mấy câu này xem ra còn xứng đáng với lương tâm… Đứng lên đi!” Tào Tháo dán chặt hai mắt vào chiến trường, miệng lại bảo hắn: “Ta chỉ cho các ngươi một con đường sáng. Cổ nhân có câu ‘đạo ở gần mà lại tìm nơi xa, việc ở dễ mà lại làm việc khó’, chỉ cần Lưu Tường tôn kính triều đình, cùng tiến cùng lùi với lão phu, thì sợ gì không có chốn về tốt đẹp? Ngươi quay về thay ta chuyển lời với hắn, lão phu làm chính trị công tội phân minh, sẽ không đem tội lỗi của cha hắn để trút lên đầu hắn, chỉ cần tuân theo hiệu lệnh của triều đình, ngày thiên hạ thái bình tiến có thể chia đất phong hầu, lùi không mất tước vị phong hầu, ta bảo đảm cho con cháu hắn phú quý, cũng bảo đảm cho tiền đồ mai sau của các ngươi những kẻ sĩ đất Thục.”
“Vâng.” Âm Phổ đáp lớn một tiếng, “Tại hạ sẽ khắc ghi những lời này trong lòng, nhất định không phụ sự phó thác của minh quan.” Dứt lời liền cáo từ, ở cái chốn này hắn không dám ở lại thêm dù chỉ một khắc.
“Khoan đã!” Tào Tháo gọi hắn lại, đổi sang giọng điệu ôn hòa: “Từ xa đến đây không dễ dàng gì, lão phu không thể để ngươi chạy chuyến công không được. Ta dâng biểu lên thiên tử gia phong Lưu Tường làm Chấn uy tướng quân, ban tặng cho huynh trưởng hắn là Lưu Mao chức Bình khấu tướng quân, ngươi cứ đến Hứa Đô lãnh chiếu thư ấn thụ, như vậy lúc về phục mệnh cũng được nở mày nở mặt.”
Đúng là một trời một vực, ban nãy còn vừa bị quạt cho một trận tưởng cái mạng nhỏ khó giữ, nào ngờ chớp mắt đã có sắc phong. Ôm hai chiếc đại ấn này trở về, Lưu Tường há lại không thưởng lớn? Âm Phổ mừng rỡ khôn xiết, quỳ sụp xuống dập đầu liên tiếp: “Đa tạ Tào công, tại hạ sau khi về nhất định sẽ khuyên chủ công nhà ta quy thuận triều đình, thuế má lao dịch cống nạp quanh năm không dứt…”
“Thôi được rồi, mấy lời này đem về nói với Lưu Tường ấy.” Tào Tháo xua tay, thiếu kiên nhẫn đuổi khéo hắn đi.
Lúc hai người bọn họ nói chuyện, Hình Khuông vẫn luôn đứng bên cạnh quan sát, thấy Âm Phổ mừng rỡ hớn hở đi xuống núi, lúc này mới giơ ngón cái lên: “Tào công thật cao minh!”
Tào Tháo mỉm cười nhẹ: “Ồ? Tiên sinh quá khen rồi.”
“Không phải tại hạ nịnh hót đâu, minh quan đúng là bậc lão thành mưu quốc.” Hình Khuông từ tốn phân tích: “Phụ tử Lưu Yên, Lưu Tường cắt cứ đã lâu, Âm Phổ đến đây lần này sao lại có thể đem lòng can phế ra đối đãi? Minh quan cố ý dùng lời lẽ dọa dẫm rồi lại ban cho chút ơn huệ nhỏ, để tỏ rõ công tội phân minh chuyện cũ không nhắc lại, mục đích là để xóa bỏ gièm pha ngăn cách, xui kẻ này quay về hết lời ca ngợi ơn đức của triều đình, từ đó thúc đẩy Lưu Tường quy thuận.”
“Ha ha ha…” Tào Tháo vuốt râu cười lớn: “Tiên sinh có thể nhìn thấu chút thủ đoạn nhỏ nhặt này của lão phu, xem ra tiên sinh mới thực sự là cao nhân.”
“Tại hạ không dám nhận.”
“Thật ra Lưu Tường ở Ích Châu dẫu sao cũng chỉ là một kẻ tầm thường vô dụng, cũng chẳng có dã tâm lớn lao gì, cho nên lão phu mới tìm cách tranh thủ. Còn nếu hắn ta có mưu đồ bất chính muốn làm loạn thiên hạ, thì ta đã chẳng tốn ngần ấy lời lẽ làm gì. Đối với những kẻ cuồng vọng như vậy…” Tào Tháo nói nửa chừng, đột nhiên giơ tay chỉ thẳng ra chiến trường.
Hình Khuông lúc này mới chú ý tới chiến trường đang giằng co bỗng có sự thay đổi. Quân Liêu Đông dưới thế công vũ bão của quân Tào đang bại lui từng bước, một đội kỵ binh quân Tào dũng mãnh lao thẳng vào đám đông quân địch, chỗ nào có đông người là đâm thẳng vào đó, chẳng mấy chốc đã đánh cho địch quân tan tác không còn hình thù gì. Có kẻ hoảng sợ hét lớn: “Liễu đô đốc bị chém đầu rồi!” Tướng lĩnh quân Liêu Đông tử trận, binh lính chớp mắt mất đi ý chí chiến đấu vứt dao định tháo chạy. Nhưng chạy trốn đâu phải chuyện dễ dàng? Quân Tào ùa lên vung đao chém giết, chia cắt quân Liêu Đông thành mấy mảnh, mặc sức chém giết. Chốc chốc ánh máu lại bắn tung tóe, khắp nơi đều là từng vũng máu đầm đìa, những thây ma lìa đầu bị giẫm đạp đến mức nát bấy thịt xương. Nhìn những vòng vây ấy ngày một thu hẹp lại, cho đến khi quân Tào tụ lại một chỗ phát ra tiếng hò reo vang động cả đất trời — kẻ địch đã bị tiêu diệt sạch sẽ!
Hình Khuông sớm đã xem đến mức mồ hôi đầm đìa, không kìm được lẩm bẩm: “Đúng là hổ lang chi sư mà!”
Tào Tháo chỉ vươn vai một cái, đứng dậy vỗ vỗ vai Hình Khuông vẫn chưa hết bàng hoàng nói: “Nên về đại doanh thôi, xin mời tiên sinh sóng vai đi cùng ta.”
Hình Khuông lúc này mới hoàn hồn, vội vã đứng dậy: “Thảo dân không dám.” Dẫu sao y cũng chỉ là một kẻ áo vải, sao dám sóng vai đi cùng Tam công đương triều.
Tào Tháo không nói hai lời kéo thốc cổ tay y lại: “Người đời an phận với thói tục cũ, hào kiệt thì hành sự theo bản tính. Lễ pháp trên đời há lại do kẻ như chúng ta định đoạt, ngài chính là khách quý của lão phu cơ mà!”
Cổ tay Hình Khuông bị ông siết đau nhói, trong lòng lại cảm thấy ngọt ngào vô hạn.
Lễ hiền đãi sĩ
Một kẻ áo vải như Hình Khuông lại được Tào Tháo nắm tay sóng vai đi cùng, đám tướng lĩnh duyên thuộc đều phải né sang hai bên trái phải. Đoàn quân chiến thắng cao ngẩng khúc khải hoàn, chẳng mấy chốc đã trở về đại doanh.
Quân Tào hiện nay đã khác xưa rất nhiều, bộ khúc cũ thân cận cộng thêm lực lượng Hà Bắc mới quy thuận, binh giống như núi binh tướng như rừng, văn thần võ tướng dưới quyền Tào Tháo sai khiến tựa như một tiểu triều đình, gần đây còn đến thêm không ít quan lại địa phương, trong trướng trung quân không chứa hết, nên đã sớm dựng lên một cái soái đài tạm bợ ngay trong doanh trại. Cái đài này cao tới hơn một trượng, bên trái dựng cờ đuôi nheo trắng bên phải treo búa vàng, trên đài chỉ đặt duy nhất một chiếc ghế độc tọa và một chiếc án soái.
Tào Tháo xuống ngựa bước qua cửa doanh, trực tiếp leo lên đài, xoay người phân phó: “Thêm ghế trên soái đài, mời Hình tiên sinh nghỉ ngơi!”
Hình Khuông giật mình thon thót, càng thêm không dám vượt quá phận sự. Gián nghị đại phu Đổng Chiêu từ bên cạnh bước ra, mỉm cười nói: “Hình tiên sinh, đã đến thì nên an tâm đi, mau lên trên nghỉ ngơi đi chứ.” Trọng Trường Thống, Quách Gia cũng tới khuyên nhủ, Hình Khuông từ chối không được, đành nửa đẩy nửa kéo leo lên đài, vái chào một vòng, rồi ngồi xuống chiếc đôn gỗ ở bên cạnh.
Lúc này toàn bộ văn võ trong đại doanh đều đang đứng, ngoại trừ Tào Tháo ra thì chỉ có một mình y có ghế ngồi, cái thể diện này đâu có nhỏ? Hình Khuông cũng dần thả lỏng tâm trạng, nhìn xuống đám thuộc hạ dày đặc bên dưới, trong đó không thiếu những gương mặt quen thuộc, những cái tên từng dưới chướng Viên Thiệu như Vương Tu, Lý Phụ, Lệnh Hồ Thiệu đều có mặt đủ cả, con trai của cố Thượng thư Lô Trích là Lô Dục, em trai danh sĩ Hà Nội Trương Phạm là Trương Thừa cũng nằm trong số đó. Những nhân vật có máu mặt đất Hà Bắc này, nay đều nằm dưới chân y, Hình Khuông bỗng chốc cảm thấy vô cùng vinh quang, giấc mộng hoạn lộ ngủ quên bấy lâu cũng triệt để bị đánh thức.
Sắp xếp đâu vào đấy xong Tào Tháo liền ngồi xuống, chỉ thấy một vị trung niên tướng quân mặt nhẵn râu dài bước ra khỏi hàng quỳ sụp xuống, trong tay còn ôm một bọc vải căng tròn: “Mạt tướng Vu Cấm đã đánh tan phản tặc Đông Hải, đã chém đầu phản tặc Xương Hi, dâng thủ cấp lên xin chủ công lãm mục!” Xương Hi vốn là hiệu của Xương Bá, Vu Cấm gọi như vậy đủ thấy sự khinh miệt bên trong.
Thân binh tiếp lấy thủ cấp dâng lên soái đài, Tào Tháo không thèm liếc mắt nhìn thẳng: “Lão phu nghe nói lương thảo của Xương Hi đã cạn kiệt, vốn là chủ động đầu hàng. Sao Văn Uy tắc không xin lệnh ta mà lại tự ý chém đầu hắn?”
Vu Cấm cung kính đáp: “Chủ công có lệnh, vây thành rồi mới hàng thì không tha.”
Tào Tháo vuốt râu nói: “Vây xong mới hàng chiếu theo luật tuy không tha, nhưng bắt giam lại rồi áp giải về cũng không gọi là trái lệnh. Hơn nữa Xương Hi với ngươi là đồng hương Thái An, các đạo đại quân cùng vây thành, hắn lại chỉ hướng một mình ngươi đầu hàng, chắc chắn là muốn mượn thể diện của lão đồng hương ngươi để cầu xin ta tha mạng cho hắn. Văn Uy tắc không vị tình riêng quả nhiên là việc tốt, nhưng cứ tiên trảm hậu tấu thế này, ngươi không sợ người đời nói ngươi khắc bạc vô tình hay sao?”
Vu Cấm chắp tay thề non hẹn biển: “Phụng hành pháp lệnh là tiết tháo của kẻ làm bề tôi, Xương Hi tuy là đồng hương, nhưng mạt tướng há dám vì tư tình mà mất tiết tháo? Hơn nữa, Xương Hi chứng nào tật nấy, đây đã là lần thứ năm hắn làm phản, nếu lại tha thứ cho hắn thì chẳng phải là nuôi dưỡng khí thế cho giặc hay sao? Sợ rằng thiên hạ sẽ cho rằng chủ công chấp pháp dung túng, sau này hễ thấy không vừa ý chút là lại dấy binh làm phản, mưu phản thất bại lại đầu hàng để sống lây lất. Cứ lặp đi lặp lại vòng tuần hoàn này thì thiên hạ bao giờ mới được thái bình?”
Tào Tháo tự nhiên hiểu rõ đạo lý này, nhưng một tên Xương Hi nhỏ bé, dưới quyền chưa đầy nghìn tám trăm người, thực sự muốn lấy mạng hắn thì sớm đã lấy rồi, sao dung túng cho hắn làm phản tới năm lần? Tào Tháo đã quyết tâm tiến thêm một bước tiến tới vương quyền, cho nên phải dương oa hiển đức để thu phục nhân tâm; giữ lại kẻ phản loạn tới năm lần vẫn được khoan dung, thực chất cũng là một chiêu bài, có thể mượn cách này để cho thiên hạ thấy được tấm lòng rộng lớn nhường nào của mình.
Vu Cấm tuy là võ tướng nhưng tâm tư tỉ mỉ tinh tế, vừa thấy nét mặt vi diệu của Tào Tháo, đã đoán ra được tám chín phần mười những gì ông đang suy nghĩ, liền vội vàng nói cho tròn vành rõ chữ: “Quả thực ơn trùm tứ hải của chủ công mang đức độ nhân thứ, nhưng thiên hạ rộng lớn thế nào cũng có những kẻ ngoan cố không chịu thay đổi. Kẻ phân biệt được phải trái thì cảm kích sự lương thiện của chủ công, kẻ không hiểu chuyện có lẽ còn bảo chúng ta dùng binh vô năng, đánh năm lần mà vẫn không hạ nổi Xương Bá ấy chứ! Đã vậy, cái tiếng khắc bạc này cứ để mạt tướng gánh chịu. Chỉ cần chủ công có thể quét sạch khói lửa định đoạt bốn biển, mạt tướng dù có tan xương nát thịt cũng không tiếc, dèm pha phỉ báng thì có gì đáng sợ chứ?”
Những lời này vừa ca tụng công đức vừa biểu lộ lòng trung thành, hoàn toàn không giống những lời mà một võ phu có thể thốt ra, Tào Tháo liên tục gật đầu: “Lòng trung của Văn Uy tắc thật đáng khen! Chuyện này không trách lão phu dung túng, cũng không trách Văn Uy tắc hà khắc, muốn trách thì trách Xương Bá tính toán không chu toàn. Lại đi hướng một mình Văn Uy tắc xin hàng, há chẳng phải là số trời sao? Phản tặc bị tru diệt là điều đương nhiên, ghi cho Văn Uy tắc một đại công!”
Tào Tháo thì thấy mãn nguyện, nhưng các tướng lĩnh khác nghe xong lại thấy khó chịu, ai nấy đều cảm thấy Vu Cấm nịnh hót quá mức lộ liễu. Cái gì mà tan xương nát thịt, không sợ dèm pha, chẳng lẽ ngoài hắn ra, người khác không phải là trung thần hay sao? Trương Liêu đứng ngay bên cạnh Vu Cấm, hắn vốn có giao tình cũ với Tang Bá, Tôn Quan, Xương Hi, từ sớm đã thấy tâm cơ của Vu Cấm quá thâm độc, nay thấy đối phương dùng những lời lẽ hoa mỹ để kiếm công lao lại càng thêm bất phục, liền vội vàng bước ra lớn tiếng hô: “Mạt tướng cũng có tin thắng trận! Ban nãy ta đã chém đầu giặc cướp đô đốc Liễu Nghị, thủ cấp đang ở đây!”
Trương Liêu không câu nệ như Vu Cấm, hoàn toàn không bọc thủ cấp lại, cứ thế túm tóc giơ lên cho Tào Tháo xem. Cái đầu lâu này vừa mới chém xuống vẫn còn nóng hổi, ròng rã nhỏ từng giọt máu. Đám văn sĩ vừa nhìn thấy cảnh này không ai là không nhíu mày, có người dùng tay áo che mặt, Hình Khuông ở trên đài nhìn xuống cũng thấy thắt ruột thắt gan; vậy mà Trương Liêu chẳng hề bận tâm, còn đặc biệt xoay người, huơ huơ cái đầu lâu bê bết máu ngay trước mặt Vu Cấm, mang đầy ý khích bác - ngươi lập công là do người ta đầu hàng, ngươi trở mặt vô tình đem người ta đi chém sạch, còn cái đầu này của ta là ta đường đường chính chính chém được nơi trận tiền hai quân giao tranh đấy!.
Vu Cấm cười lạnh hạ mi mắt xuống, cũng không thèm tranh cãi với Trương Liêu, im lặng lùi lại phía sau. Tào Tháo lại ngửa mặt cười lớn: “Hay lắm! Ban nãy thấy quân địch hỗn loạn, ta đã đoán kẻ lập công chính là ngươi. Lão phu nghe nói Liễu Nghị từng khuyên phụ tử Công Tôn Độ tự tôn xưng là ‘Liêu Đông vương’, có thể thấy cũng là một kẻ xem trời bằng vung. Giết hay lắm, ghi cho Trương tướng quân một đại công nữa.”
“Đa tạ chủ công!” Trương Liêu mặt mày hớn hở, nhưng lại nói tiếp: “Liễu Nghị tuy đã chết, nhưng hải tặc Quản Thừa lại trốn thoát, mạt tướng xin một đạo lệnh tiễn, đi truy sát tên tặc tử này một phen.”
“Khoan đã!” Từ phía quan lại địa phương Thanh Châu bên hướng đông có một người bước ra: “Ti chức có lời muốn bẩm báo.”
Tào Tháo nheo mắt nhìn — hóa ra là Trường Quảng thái thú Hà Quê, tự Thúc Long. Trường Quảng vốn là một huyện, chính vì Quản Thừa, Liễu Nghị quậy phá ở đây nên mới đặc biệt đổi huyện thành quận để tăng cường quản lý. Chắc là những lời Hà Quê sắp nói có liên quan đến việc đánh giặc rồi.
Quả nhiên, Hà Quê thẳng thắn bộc bạch: “Ti chức muốn xin chủ công tạm dừng việc dùng binh.”
“Tại sao?”
“Các hòn đảo ven biển phân bố rải rác, Quản Thừa lẩn trốn nhiều năm đã quen thuộc địa hình, chỉ sợ quân ta mào hiểm hành động chẳng những không bắt được hắn, ngược lại còn đẩy hắn đi tàn hại những nơi khác. Hơn nữa, lực lượng của Quản Thừa tuy là hải tặc, nhưng trong đó xen lẫn không ít ngư dân. Chính sách vóc bóc của Viên Đàm đã dồn ép họ đến đường cùng mới phải sa chân làm giặc, tình cảnh ấy rất đáng thương xót. Dưới quyền ti chức có một tên lại dịch tên là Hoàng Trân, thuở trẻ từng có giao du với Quản Thừa, ti chức xin phái hắn ra biển đi thuyết phục Quản Thừa, nếu có thể khiến hắn quy hàng, thì giặc sẽ hóa dân, vùng ven biển tự khắc sẽ an định.” Hà Quê nói thì nghe có vẻ nhẹ nhàng, nhưng trong lòng lại đang đánh trống trận, không kìm được đưa tay thọc vào ống tay áo — ông xuất thân từ hào tộc Dự Châu, quan niệm chính trị là tận dụng triệt để các hào tộc, có thể không can thiệp thì cố gắng không can thiệp, biến chuyện lớn thành chuyện nhỏ chuyện nhỏ thành không có gì, tuy có chút hiệu quả, nhưng điều này chung quy lại vẫn đi ngược lại với phong cách chính trị kìm kẹp hào tộc, tính toán chi li từng ly từng tý của Tào Tháo; nay ông công khai ngăn cản việc xuất binh, trong lòng sao có thể không thấp thỏm lo âu cơ chứ? Hà Quê trước khi đi nhận chức ở địa phương cũng từng làm duyên thuộc trong Tư không phủ, thừa hiểu Tào Tháo vốn là kẻ dễ nổi giận, thuộc hạ làm việc nếu không vừa ý thường hay bị mắng chửi thậm tệ hoặc dùng gậy gộc đánh đập. Ông lại là danh sĩ bước chân vào quan trường, coi thể diện quan trọng hơn cả tính mạng, tuyệt đối không muốn chịu nhục nhã trước mặt mọi người, cho nên đã giấu sẵn một bình độc dược trong tay áo, vạn nhất Tào Tháo ra lệnh dùng gậy đánh phạt, ông sẽ lập tức uống thuốc tự tử ngay!
Tào Tháo trầm ngâm một lát, gật đầu tán thưởng: “Đây đúng là lòng nhân ái! Đã vậy, việc chiêu an cứ để một mình ngươi toàn quyền xử lý.”
Hà Quê lúc này mới buông lỏng bình độc dược ra, thở dài một hơi thật dài: “Ti chức tuân lệnh.”
Những việc cần giải quyết cũng chỉ có chừng ấy, mọi người không còn lời nào khác, Tào Tháo đảo mắt nhìn khắp văn võ, dùng giọng điệu sâu lắng nói: “Hiện nay Liễu Nghị và Xương Hi đã đền tội, kế sách chiêu an Quản Thừa đã được định đoạt, Tang Bá, Tôn Quan các lộ cũng đã tiến binh vào Tế Nam, phản loạn chẳng mấy chốc sẽ được dẹp yên. Sau khi Thanh Châu được an định, bản tấu bãi bỏ tám nước chư hầu chắc cũng có thể thuận lợi thi hành rồi chứ nhỉ!” Ông đã có dã tâm cướp ngôi nhà Hán để tự lập, ngoài việc nhanh chóng thống nhất thiên hạ ra, thì việc bãi bỏ các chư hầu quốc của nhà Hán cũng là một bước không thể thiếu. Lần này Tào Tháo chơi một ván bãi bỏ luôn tám quận quốc gồm Tề, Bắc Hải, Phụ Lăng, Hạ Bì, Thường Sơn, Cam Lăng, Tế Bắc, Bình Nguyên, bề ngoài thì chẳng ai dám nói gì, nhưng sau lưng lại bàn tán xôn xao. Hôm nay chủ động nhắc tới chuyện này, ai nấy đều cảm thấy bất ngờ, cúi đầu lặng lẽ lắng nghe.
Tào Tháo mang khuôn mặt đầy vẻ chân thành, ôn tồn nói tiếp: “Gần đây trong triều đình và trong quân đội đều có người bàn tán, nói rằng lão phu phế quốc thành quận là có dụng ý khác. Người quân tử ngay thẳng thanh thản, kẻ tiểu nhân thì luôn lo âu thấp thỏm, cho dù có người không hiểu, lão phu vẫn cứ phải làm như vậy. Ngày trước Quang Vũ Đế sở dĩ phân phong chư hầu vương, không chỉ để hậu đãi tôn thất, mà còn muốn họ phò tá triều đình an định bách tính, cho nên phàm là quan chức đứng đầu quận quốc không gọi là ‘thái thú’ mà gọi là ‘quốc tướng’, chính là muốn họ phò tá các vương làm tốt chính vụ… Từ sau loạn Khăn Vàng đến nay, các tông tộc chư hầu chẳng những không đứng lên cứu nước, ngược lại còn nhát gan sợ chết trốn tránh trách nhiệm. Lúc Trương Giác dấy binh làm phản, Thường Sơn vương Lưu Hạo, Hạ Bì vương Lưu Ý bất chấp xã tắc vứt bỏ đất nước mà trốn chạy, trở thành trò cười cho cả thiên hạ! Bọn chúng còn xứng đáng được chia đất phong hầu nữa không? Lại có những chư hầu vương đã qua đời từ lâu, thế sự biến động lại chẳng tìm được dòng dõi đích tôn, cho nên buộc lòng phải phế bỏ. Nơi không có quốc vương mà vẫn gọi là quận quốc, thậm chí nuôi một đống thuộc viên vô tích sự, đây chính là lãng phí quốc lực tài nguyên của dân!”
Nói đến đây Tào Tháo cảm thấy lý do đã đủ thuyết phục rồi, lại bắt đầu thu lời về: “Đương nhiên, có phế thì phải có lập. Mấy hôm trước ta đã phái người đi khắp nơi thăm dò, tìm thấy con trai của cố Lang Nha vương Lưu Dung ở trong dân gian, tên là Lưu Khỉ. Người này tuy không phải con đích tôn của Lưu Dung, nhưng cung kính giữ lễ, khoan hậu có đức. Lão phu đã dâng biểu lên triều đình, lệnh cho hắn kế vị Lang Nha vương, khôi phục lại quận quốc kế thừa nghiệp tổ. Cũng là để cho người đời thấy rằng, Tào mỗ ta công bằng vô tư hoàn toàn không có ý định vượt quá phận sự!” Chuyện này kỳ thực còn có uẩn khúc khác, Tào Tháo một hơi phế bỏ tới tám nước chư hầu, nếu không tượng trưng lập lấy một người để làm phông nền che đậy, chỉ sợ sẽ rước lấy quá nhiều lời dị nghị; hơn nữa, ngày trước ông nghênh đón thiên tử về Hứa Đô, nhờ rất nhiều vào công lực của cố Thị trung Lưu Miễu, Lang Nha vương Lưu Dung là anh trai của Lưu Miễu, còn Lưu Khỉ chính là cháu ruột của Lưu Miễu, cho nên đây cũng coi như là ơn đền nghĩa trả. Nếu đổi lại là nước khác, há đâu Tào Tháo lại có lòng tốt này?
Hình Khuông dẫu sao cũng chưa từng làm quan trong triều, tự nhiên không hiểu rõ uẩn khúc bên trong, đinh đinh cho rằng ông công minh chính trực không sợ dị nghị; lại liên tưởng đến những gì mình mắt thấy tai nghe mấy ngày nay, càng cảm thấy Tào Tháo là một bậc lương thần danh tướng có uy có đức, trí dũng song toàn, trong lòng đã hạ quyết tâm sẽ ra tay phò tá, thầm cười Điền Trù quá mức cẩn trọng, bảo mình đến quan sát thăm dò đúng là vẽ vời thừa thãi…
Tào Tháo vừa đi bách bộ vừa thao thao bất tuyệt, nói đến câu cuối cùng hình như vô tình bước đến trước mặt Quân sư Tuân Du, liền cất cao giọng: “Cái gì nên phế thì phải phế, cái gì nên lập thì phải lập, đây là đạo lý muôn đời không đổi. Lúc nào nên làm gì, trong lòng lão phu đều nắm rõ. Hy vọng các ngươi cũng có thể nghĩ thông suốt, đừng phụ tình nghĩa chinh chiến nửa đời người của chúng ta… Giải tán đi.” Ông nói nãy giờ, duy chỉ có mấy câu cuối cùng này mới là lời từ đáy lòng.
“Tuân lệnh.” Văn võ bách quan ai về doanh nấy, Tuân Du cũng cúi đầu lững thững bước đi. Tào Tháo nhìn theo bóng lưng của hắn thở dài một hơi — Tuân Úc, người cùng ông khởi nghiệp năm xưa nay lại trở thành lực lượng phản đối lớn nhất cản bước ông bước lên ngai vàng hoàng đế trong triều, Tuân Du là cháu họ của Tuân Úc, lại giữ chức quân sư có uy tín rất lớn, ông đành phải bóng gió gõ mõ khua chiêng nhắc nhở một tiếng… Lẩn thẩn một lát mới sực nhớ ra trên soái đài vẫn còn một vị khách đang ngồi đấy chứ! Quay đầu lại nhìn, Hình Khuông đã đi xuống từ lúc nào, cúi đầu vái chào ông một cái thật sâu: “Những việc minh quan làm khiến hạ quan được mở rộng tầm mắt, liệu địch quyết thắng, hạ mình cầu hiền, thưởng phạt minh bạch, quả không hổ thẹn là lương thần danh tướng đương triều.”
“Tiên sinh hà tất phải quá lời khen ngợi như thế? Lão phu hổ thẹn không dám nhận.” Tào Tháo liên tục xua tay.
Hình Khuông phục sát đất, lại còn bị sự lễ độ của ông làm cho say sưa tâm thần, từ sớm đã hạ quyết định thổ lộ mục đích chuyến đi: “Thật không dám giấu giếm, hạ quan đến đây không phải cuộc viếng thăm thông thường, mà là vì việc chinh phạt Ô Hàn.”
“Ồ? Thật là khéo quá!” Tào Tháo vuốt râu: “Lão phu cũng có ý đó, nhưng Ô Hàn cùng Viên Thượng đồn trú ở Liễu Thành (nay là huyện Triều Dương, tỉnh Liêu Ninh), cách huyện Vô Thôn sáu trăm dặm đường, suốt dọc đường núi non hiểm trở, quân ta dẫu đông nhưng không có đường lương thảo lại không thông thạo địa hình, phải tiến quân thế nào đây? Giá mà có người quen thuộc đường sá chịu làm hướng đạo thì tốt biết mấy…”
Hình Khuông lùi lại hai bước hành đại lễ bái lạy: “Nếu minh quan không chê, hạ quan nguyện ý dẫn đường!”
Thiên hạ sao lại có chuyện khéo đến thế? Tào Tháo đang thiếu người dẫn đường, thì lại có người tự động dâng mình làm hướng đạo? Hình Khuông quả thực đã lọt vào tròng của Tào Tháo rồi!
Vấn đề nằm ở nửa tháng lưu lại Nghiệp Thành. Lúc Tào Tháo không có mặt ở Nghiệp Thành, trên danh nghĩa là Tào Phi ở lại trấn thủ, nhưng thực tế quân vụ nằm trong tay Giám quân hiệu trưởng Tuan Diễn, chính vụ do Trưởng sử Thôi Diêm xử lý, y chẳng qua chỉ là một công tử ngồi chơi xơi nước rảnh rỗi không có việc gì làm; từ lâu từng nghe người ta đồn đại “đức hạnh đường đường Hình Tử Âng”, sự xuất hiện của Hình Khuông vừa vặn cho y bắt được cơ hội để thể hiện phong thái lễ hiền đãi sĩ của mình, cho nên mới chổi quét đón mời tiếp đãi vô cùng nhiệt tình chu đáo. Thế nhưng ở lâu ngày, Tào Phi phát hiện Hình Khuông dường như mang theo một mục đích rất lớn để đến đây, cộng thêm đám người lanh lợi như Lưu Trinh, Nguyễn Vũ ngày nào cũng cùng y đàm đạo xôm tụ, phát hiện y hễ mở miệng là nhắc đến Ô Hàn, thế là đã đoán ra được dụng ý của y.
Tào Phi biết rõ ngọn ngành câu chuyện, từ sớm đã ngầm phi ngựa truyền một phong thư về đại doanh Tào gia. Tào Tháo cùng Đổng Chiêu bàn bạc định kế, sắp xếp mọi thứ vô cùng tỉ mỉ. Cho nên lúc Hình Khuông đến mới có cảnh xếp hàng nghìn đón, nào là xem quân uy, nào là vinh dự bước lên soái đài. Hình Khuông dẫu có chút tiếng tăm nhỏ nhoi đi nữa, thì hà cớ gì lại được hưởng đãi ngộ đặc biệt đến thế? Thật ra ngay cả cái soái đài này cũng là do Đổng Chiêu dựng lên từ hôm trước, mục đích của Tào Tháo chính là muốn kiếm một người dẫn đường, để phò trợ cho việc xuất binh đánh Ô Hàn.
Tào Tháo tốn hết tâm cơ cuối cùng cũng đạt được mục đích, ngoài mặt vẫn phải giả vờ như không biết, hai tay nâng đỡ y dậy: “Ây da da! Thật không ngờ người ở chân trời mà lại gần ngay trước mắt, tiên sinh rõ đường đi Liễu Thành ư? Ngài chịu làm người dẫn đường, lão phu cầu còn không được ấy chứ.”
“Ta sống ở Hứa Vô Sơn nhiều năm, đường sá ở đây sớm đã nắm rõ trong lòng bàn tay. Nếu từ trong núi đi về phía tây, qua huyện Lệnh Chi (nay là thành phố Thiên An, tỉnh Hà Bắc), qua huyện Phì Như (nay là huyện Lô Long, tỉnh Hà Bắc), theo con đường nhỏ ven biển mà tiến lên, thì có thể đem binh đến thẳng Liễu Thành. Dựa vào số lượng giáp sĩ đông đảo, binh khí sắc bén cùng đức độ vỗ về của minh quan, đánh tan Ô Hàn chẳng qua chỉ là chuyện trở bàn tay.”
“Đại công này nếu thành, đều là nhờ sức của tiên sinh cả đấy!”
“Không dám,” Hình Khuông nói tiếp: “Hạ quan chỉ là người hơi thông thạo đường sá, nếu muốn đánh thắng giặc còn cần thêm một người nữa. Cựu Tòng sự U Châu Điền Trù cùng ẩn cư với hạ quan trong núi, người này không chỉ thông thạo địa lý nắm rõ sông núi, mà còn rành rẽ phong tục tập quán, thói quen sinh hoạt, nội tình các bộ lạc của Ô Hàn hơn ai hết, nếu có được sự giúp đỡ của ông ta, còn mạnh hơn hạ quan gấp mười lần! Thật không dám giấu giếm, chính là ông ta bảo hạ quan đến yết kiến ngài đấy chứ!” Chỉ vì nhất thời cao hứng, y đã đem Điền Trù bán đứng luôn rồi.
“Hay lắm!” Tào Tháo vỗ tay cười lớn: “Chẳng lẽ là vị Điền Tử Thái từng lặn lội xa xôi ra chốn tái ngoại dâng biểu tới Tây Kinh đó sao? Lão phu ngưỡng mộ đại danh đã lâu, từng nghe nói phụ tử Viên Thiệu nhiều lần triệu dụng mà ông ta không chịu ra, vậy phải làm thế nào mới mời được ông ta xuất sơn đây?”
Hình Khuông vỗ ngực bảo đảm: “Cứ giao hết cho ta.”
“Tiên sinh sảng khoái lắm!” Mọi chuyện đều diễn ra đúng như ý muốn của Tào Tháo, chuyến vất vả này cuối cùng cũng không uổng công.
Đổng Chiêu đứng một bên quan sát, hình như chê Tào Tháo vẫn chưa đủ nhiệt tình, cũng chạy tới góp vui: “Chủ công định sẽ khoản đãi Hình tiên sinh thế nào đây?”
Câu nói này nhắc khéo Tào Tháo, thế là ông tiếp tục khách sáo: “Sẽ thiết yến trong trướng trung quân, lão phu sẽ đích thân rót chén với tiên sinh.”
Đổng Chiêu hùa theo phụ họa: “Hình tiên sinh có điều không biết, Tào công ban hành lệnh cấm rượu, vốn dĩ không cho phép uống rượu đâu. Chỉ vì ngài đến nên mới phá lệ đấy, ngài tuyệt đối không được phụ tấm lòng thịnh tình này đâu nhé! Đi đi đi, chúng ta vừa uống rượu vừa bàn chuyện dùng binh thôi.” Hắn đẩy ở phía sau, Tào Tháo nhường nhịn ở phía trước, dỗ dành Hình Khuông đến mức mặt mày hớn hở vui mừng khôn xiết.
Ba người vừa nói vừa cười định bước vào trướng lớn, lại thấy Hiệu sự Triệu Đạt chạy hồ hởi tới, áp sát vào tai Tào Tháo nhỏ giọng bẩm báo: “Lô Hồng có mật báo truyền từ Hứa Đô về, mấy ngày trước Thị ngự sử Trần Quần dâng sớ, yêu cầu triều đình thảo luận về việc cải cách luật hình. Luật hình là đại điển cốt lõi của quốc gia, há có thể tùy tiện thay đổi? Liệu trong đó có âm mưu gì nhắm vào ngài không? Chủ công không thể không đề phòng.” Công việc của Hiệu sự chính là giám sát lời nói hành động của trăm quan, âm thầm bẩm báo cho Tào Tháo, Triệu Đạt vừa từ Hứa Đô vội vã chạy đến vào tối hôm qua, nghe tin giải tán đại doanh, liền vội vàng chạy đến báo nhỏ.
Tào Tháo không thèm để ý đến Triệu Đạt, tự tay vén rèm trướng lên, bảo Đổng Chiêu đi cùng Hình Khuông vào trước, lúc này mới quay người nói: “Ngươi hiểu lầm rồi, chuyện cải cách luật hình là do chính lão phu phân phó Trần Quần làm đấy.”
Triệu Đạt thầm giật mình kinh hãi — công việc của Hiệu sự đủ kín đáo rồi vậy mà có những sự sắp xếp của Tào Tháo mà ngay cả bản thân hắn cũng chẳng hề hay biết! Lại không dám hỏi nhiều, đành cung kính bẩm báo đúng sự thật: “Trần Quần dâng sớ yêu cầu đình nghị, Tuân lệnh quân lại lấy lý do không hợp thời cơ để ép xuống không giải quyết. Không hiểu sao tin tức lại bị lọt ra ngoài, Khổng Dung đột nhiên nhắc đến chuyện này tại triều hội, lại còn cãi nhau tay đôi với Hi Lược ngay trên điện, khiến Tuân lệnh quân tức giận đến mức phải bãi triều sớm thu dọn giải tán trong vội vã.” Thị ngự sử Trần Quần và Thái trung đại phu Khổng Dung vốn là đôi bạn vong niên, nhưng từ khi được Tào Tháo chiêu mộ làm duyên thuộc rồi được cất nhắc thăng tiến nhanh chóng, quan hệ với Khổng Dung cũng dần trở nên xa cách; còn Quang lộc đại phu Hi Lược vốn dĩ bất hòa với Khổng Dung, hai kẻ đó một kẻ là môn sinh của đại nho, một kẻ là hậu duệ của Thánh nhân, nhìn nhau không vừa mắt.
Tào Tháo nghe tin triều hội xảy ra chuyện rối ren, chẳng những không giận mà ngược lại còn cười trên sự đau khổ của người khác: “Đánh hay lắm! Cứ để bọn chúng đánh nhau đi. Vì chút chuyện thế này mà làm loạn lên, thì cũng chẳng còn thời gian để quản mấy chuyện bao đồng của lão phu nữa. Chuyện này các ngươi không cần phải nhúng tay vào, sau này tự khắc sẽ rõ.”
Đã không cho quản, Triệu Đạt còn nói gì được nữa? Lùi lại hành lễ nói: “Chủ công mưu lược sâu xa thấu suốt mọi việc, bọn chúng tôi đúng là lo xa vẩn vơ…” Định bụng cáo lui.
“Khoan đã!” Tào Tháo gọi hắn lại: “Có chuyện này thông báo cho ngươi biết. Hôm qua ta đã bổ nhiệm Cao Nhu làm Thích gian lệnh sử, từ nay về sau ngươi và Lô Hồng trên danh nghĩa là thuộc hạ dưới quyền hắn, thế nhưng hễ có chuyện cơ mật thì vẫn cứ trực tiếp bẩm báo lên ta.”
[P]Triệu Đạt rất lấy làm không vui——Tào Tháo từng hứa hẹn, hắn hoặc một vị hiệu sự khác là Lô Hồng ai làm việc tận tâm hơn thì sẽ được làm Sát gian lệnh sử, nay tự dưng lòi đâu ra Cao Nhu chiếm bén cái ghế, sao có thể không bực bội? Nhưng Triệu Đạt vốn nổi tiếng mặt hiền dạ ác, trước mặt Tào Tháo lại càng không dám lộ ra nửa phần sắc mặt khó chịu, chỉ cười lень lút nói: "Thuộc hạ tuân theo phân phó của chủ công, sau này sẽ theo Cao lệnh sử hết lòng hiệu lực triều đình, làm việc cho tốt."[/P]
"Ngươi nói cái gì?" Tào Tháo lườm hắn một cái.
Triệu Đạt tự biết lỡ lời, vội vàng đổi miệng: "Là hết lòng hiệu lực chủ công, làm việc cho tốt."
"Ừ, thế mới phải chứ. Viết thư cho Lô Hồng, bảo hắnđinh trứ Khổng Trông cho ta..." Tào Tháo vừa nói đến đây, lại thấy Quách Gia dẫn Hoa Đà đi tới, bèn vội im bặt——Quách Gia thì không nói làm gì, chứ Hoa Đà chưa đủ tư cách nghe chuyện cơ mật của ông.
Quách Gia vái dài cười phụ họa: "Chủ công, vợ của tiên sinh Hoa Đà nhiễm bệnh, đang cần ông ấy về gấp để cứu chữa. Ngài cũng biết ông ấy là người thật thà, ngượng không dám mở lời với ngài. Để thần giúp ông ấy xin một ân huệ, xin ngài chuẩn y cho ông ấy về quê."
Tào Tháo cười: "Việc này có gì mà khó mở lời? Mấy năm nay tiên sinh đã bỏ ra không ít công sức, đến bệnh nhức đầu của trẫm——à nhầm, của ta còn chữa khỏi, chẳng lẽ người nhà bệnh lại không thể về chữa? Ta ban cho tiên sinh một khoản lộ phí, đợi bệnh tình của tôn phu nhân chuyển biến tốt thì hãy quay lại nhậm chức."
"Đa tạ Tào công!" Hoa Đà cung kính hành lễ.
Tào Tháo nắm lấy cổ tay ông, hạ giọng nói: "Phương thuốc ông bốc cho ta và nội nhân rất tốt, Biện thị lại đang mang thai rồi. Thật không ngờ hơn bốn mươi tuổi mà vẫn có thể mang thai, đúng là trâu già sinh kỳ lân mà! Mau đi mau về, ta không thể thiếu ông được." Nói xong lại gọi Quách Gia: "Ngươi đến đúng lúc lắm, cùng uống rượu với chúng ta đi."
Quách Gia từ chối: "Thuộc hạ hai ngày nay tỳ vị không thoải mái, có Công Nhân ở cùng chủ công là được rồi."
Tào Tháo cũng nhận ra Quách Gia gần đây gầy đi không ít, nhưng không để tâm lắm: "Không uống rượu thì đến góp vui cũng được mà."
"Thuộc hạ vẫn không góp vui nữa, về lên kế hoạch dụng binh đây."
"Ngươi đó! Chẳng phải thích náo nhiệt nhất sao? Sao lại đổi tính rồi?" Tào Tháo vốn quen đùa giỡn với hắn: "Người ta không dưng đổi tính là sắp chết đến nơi đấy, ngươi cẩn thận vào! Ha ha ha..." Vừa nói vừa ngẩng mặt cười lớn bước vào lều.
Hoa Đà có chút lúng túng: "Đại ân đại đức của Phụng Hiếu, lão phu kiếp này đời này không dám quên!" Vừa nói vừa vái sâu một cái.
Triệu Đạt vẫn đang đứng bên cạnh, Quách Gia sợ hắn nhìn ra sơ hở gì, bèn gượng cười: "Chuyện nhỏ thế này có đáng gì, tiên sinh mau thu dọn đồ đạc đi. Thêm dạo nữa, trời trở lạnh thì khó đi lắm."
"Hầy..." Giọng Hoa Đà mang theo chút run rẩy: "Thế thì ta đi đây... Phụng Hiếu bảo trọng nhé!" Nói xong liền cắn răng quay đầu bước đi.
Triệu Đạt nhìn mà mơ màng khó hiểu: "Lão già này bị làm sao thế? Hết hành lễ lại còn muốn khóc, lại còn đi chữa bệnh cho người khác, ta thấy chính hắn mới có bệnh!"
Quách Gia vội vàng che đậy: "Hắng! Một tên tiểu lại chữa bệnh chưa từng thấy sự đời, ta nói giúp hắn vài câu, thế là hắn coi ta là ân nhân."
"Chắc là ta làm cái nghề này lâu quá rồi, nhìn ai cũng thấy có bệnh."
"Ngươi có phải thấy ta cũng có bệnh không?" Quách Gia liếc hắn một cái.
"Không dám không dám, hiền đệ tài giỏi nhường nào cơ chứ?" Triệu Đạt thừa biết Quách Gia là đại hồng nhân được Tào Tháo coi trọng, không dám đắc tội bừa: "Mọi người đều nói ngươi là cao nhân, ta đang có chuyện muốn thỉnh giáo ngươi đây. Cái tên Sát gian lệnh sử mới nhậm chức Cao Nhu kia lai lịch thế nào, sao lại được chủ công ưu ái?"
"Ưu ái?" Quách Gia lắc đầu cười khổ: "Ưu ái gì chứ, ta thấy chủ công cố tình chỉnh hắn thì có? Cao Nhu là em họ Cao Cán, hồi chúng ta hai lần đánh Hà Bắc suýt chút nữa thì lật thuyền vì Cao Cán, chủ công sao có thể không hận? Chủ công cho hắn làm Sát gian lệnh sử, trên danh nghĩa là sếp của các ngươi nhưng lại không có thực quyền, mà những chuyện thất đức các ngươi làm người khác lại cứ tính lên đầu hắn, động một tí là phạm lỗi, ngày tháng sao dễ chịu cho được?" Quách Gia coi thường Triệu Đạt, nói chuyện với hắn hoàn toàn bằng giọng điệu khinh miệt.
Triệu Đạt sớm đã quen mặt dày, cũng chẳng để ý: "Nói vậy ngày sau ta phải hầu hạ vị Cao lệnh sử này cho thật tốt rồi? Hề hề..."
"Ngươi bớt làm chuyện thất đức đi!"
Triệu Đạt che miệng cười: "Nếu không có đơn kiện để cáo trạng, ta đây trông mong gì vào việc thăng quan phát tài? Lúc nãy ta thấy thần sắc Hoa Đà có điều bất thường, có lẽ sẽ trốn trừng dịch không quay lại, lão già đó mà trốn thật, hiền đệ vì hắn mà cầu tình chẳng phải sẽ bị liên lụy sao? Ta giúp ngươi một tay, phái mấy kẻ theo dõi hắn. Ngươi thấy thế nào?"
Triệu Đạt vốn định nịnh bợ Quách Gia, nào ngờ Quách Gia trợn trừng mắt: "Hồ đồ! Không cho phép cái đồ chóên điên như ngươi đi cắn càn! Đừng có mở miệng ra là gọi 'hiền đệ', hai ta chẳng có tình nghĩa gì hết! Còn dám nhiều lời, ta bảo chủ công lột da ngươi đấy! Khụ khụ khụ..."
"Vâng vâng vâng." Triệu Đạt thấy Quách Gia ho đến mức gấp gáp, vội vàng xám xịt mặt mày chuồn thẳng——Quách Gia là đại hồng nhân trước mặt Tào Tháo, đắc tội bố đẻ chứ chẳng dám đắc tội hắn đâu!