Ty Bỉ Đích Thánh Nhân: Tào Tháo 7

Lượt đọc: 57 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 8
Tào Tháo Xưng Tướng

❊ ❊ ❊

Tào công bái tướng

Tháng sáu năm Kiến An thứ mười tư (năm 208 Công nguyên), một sự kiện trọng đại làm thay đổi vương triều nhà Hán thậm chí cả vận mệnh cá nhân Tào Tháo đã xảy ra — Tư đồ Triệu Ôn vừa mới bị bãi miễn đã công khai dâng biểu, tâu xin phế bỏ Tam công, đề cử Tào Tháo ra làm Thừa tướng.

Đề nghị này lập tức làm chấn động triều đình lẫn giang sơn. Nếu nói có người còn hoài nghi về việc Triệu Ôn trưng trắc Tào Phi, thì thông qua lần dâng biểu này coi như đã nhìn thấu triệt để bộ mặt của vị lão thần bảy mươi tuổi này, ông ta rõ ràng chính là một quân cờ của Tào Tháo. Tam công không còn nữa, Thừa tướng độc đoán chuyên quyền, đây là điều mà người xưa gọi là "chấp thừa thiên tử, trợ lý vạn cơ". Từ nay về sau không chỉ Kinh Châu thuộc quyền Tào Tháo quản lý, toàn bộ các châu quận, thành huyện trong thiên hạ, tất cả văn võ quan viên đều trở thành hạ thần của ông ta, mọi việc lớn nhỏ trong ngoài không có việc gì là không bẩm báo, chẳng khác nào một vị thiên tử không mặc long bào.

Đối với biến cố này, văn võ bá quan đại khái có ba loại thái độ: Phần lớn mọi người chỉ là chết lặng, Tào thị nắm quyền là sự thật nhiều năm rồi, kháng cự cũng chẳng ích gì, chủ động hùa theo lại trái với đạo làm thần tử nhà Hán, trời muốn mưa thì mẹ muốn gả, quản cũng không quản nổi, chuyện không liên quan đến mình thì treo cao kệ bóng; Thêm nữa là các quan viên và duyện thuộc do Tào Tháo cất nhắc sau khi nắm quyền chính, Đổng Chiêu, Trần Quần và những người khác trong triều hết lời ca ngợi đề nghị của Triệu Ôn, lần lượt bày tỏ lão đại nhân "già dặn mưu nước, trung nghĩa đáng khen", Tào công nên sớm lên ngôi vị thừa tướng để xoa dịu lòng người trong thiên hạ, còn về phần duyện thuộc phủ Tào lại càng tích cực hơn, chưa nói tới tiền đồ rộng mở sau này, Tư không phủ nâng cấp thành Thừa tướng phủ, bổng lộc của duyện thuộc cũng nước lên thuyền lên, từ ba trăm thạch nâng lên sáu trăm thạch, mọi người đều được hời, việc gì mà không làm? Nhưng cũng có người mang thái độ phản đối, hạng người này số lượng không nhiều, nhưng đều là những cựu thần từ Trường An hộ giá đông về, bọn họ mang lòng luyến tiếc đối với xã tắc nhà Hán, thế nhưng ngoài "cái loa lớn" Khổng Dung ra, cũng chẳng ai dám đứng ra nói chuyện, nhiều lắm là lén lút mắng vài câu mà thôi. Xã tắc nhà Hán tuy quan trọng, cái đầu cũng rất quan trọng, ai mà không sợ cây đao đồ tể trong tay Tào Tháo chứ?

Đáng thương nhất thực ra là đám quan viên lễ chế ở Thái thường sự, nhà Hán không đặt chức Thừa tướng hơn hai trăm năm, bỗng dưng khôi phục chế độ cũ, ai mà biết nghi thức bái tướng trông như thế nào? Tra điển tịch thì tra điển tịch, lật sử sách thì lật sử sách, lại còn phải chọn ngọc thạch gấp rút chế tạo ra tướng ấn, tốn bao nhiêu công sức vẫn khảo chứng không rõ lễ nghi thuở xưa Hán Cao Tổ bổ nhiệm Tiêu Hợp làm tướng. May mà Tào Tháo cũng không làm khó bọn họ, sau màn cáo từ ba lần theo đúng phép tắc văn vẻ thì chính thức biểu lộ thái độ — thiên hạ chưa bình định thì không cần câu nệ lễ chế, đem ấn Thừa tướng đưa tới cho ta là được rồi!

Thừa tướng không ở trên điện tiếp nhận sách phong của thiên tử, lại muốn triều đình đem ấn thừa tướng đưa đến tận nơi, rốt cuộc ai là chủ ai là thần đây? Tào Tháo chính là muốn bày cái vẻ này, muốn cho toàn thiên hạ đều biết sự tôn quý của mình. Thế là một màn bái tướng náo nhiệt bắt đầu. Hoàng đế Lưu Hiệp tự mình ban chiếu thư, kể lường công tích của Tào Tháo, do Thái thường khanh Từ Cử nhận chiếu thư, tướng ấn, cầm tiết đến Tư không phủ trao ấn, bá quan triều đình đều phải mặc cát phục đi bộ theo sau. Người biết chuyện thì hiểu là Tào Tháo đã lên kế hoạch từ trước, người không biết lại còn tưởng Tào Tháo không muốn làm, là thiên tử và quan viên khắp triều mặt dày mày mạnh cứ nài nỉ bắt ông ta làm ấy chứ.

Bận rộn chuẩn bị một phen, Thái thường khanh Từ Cử quỳ nhận chiếu thư, phù tiết ở hoàng cung, thực ra đến phủ họ Tào chỉ cách vài bước chân, nhưng chiếu theo yêu cầu lễ chế lại làm vô cùng phức tạp. Trước tiên phải ngồi chiếc đại sứ xa tượng trưng cho sứ giả thiên tử, bốn ngựa kéo xe bánh son, lụa che trắng rèm đỏ; đội ngũ hộ vệ hai bên gồm hai xe công tào, hai xe tặc tào, hai xe rìu, hai xe đốc, phía sau lại có bốn xe tùy tùng, chở các quan viên cao cấp bậc Cửu khanh, Thị trung, Đại phu; chính diện đội ngũ còn có bốn mươi kỵ binh tuần tra, mười hai cung nỗ thủ, đều do lang quan đảm nhiệm, phụ trách dẫn đầu xe cộ để hiển bày uy nghiêm. Một dãy xe ngựa dài cộng thêm quan viên tùy hành, tốp đi đầu đã tới cửa phủ họ Tào, tốp phía sau mới vừa rời hoàng cung. Sĩ nông công thương trong thành ngoài thành, có ai là không ra đường xem náo nhiệt chứ? Bách tính tụ tập hai bên đường đứng xem, mặt mũi của Tào Tháo coi như được phô bày triệt để.

Sự chuẩn bị ở phủ họ Tào cũng rất chu đáo. Biển hiệu "Tư không phủ" đã gỡ xuống, biển hiệu mới "Thừa tướng phủ" vẫn chưa treo, Vương Tất dẫn dắt kim giáp võ sĩ phong tỏa đường sá, toàn bộ duyện thuộc đều thay y phục màu đen tuyền mới tinh, xếp hàng đông nghịt ngoài cửa — chiếu theo quy định chế độ, duyện thuộc Tư không nhiều nhất là hơn bảy mươi người, mà thuộc viên do Thừa tướng trưng dụng có thể lên tới hơn ba trăm tám mươi người, đội ngũ này sau này sẽ càng lớn mạnh hơn nữa. Đội xe sứ giả vừa đến, toàn bộ duyện thuộc lập tức quỳ rạp đồng thanh hô vạn tuế, khí thế lớn đến mức làm chấn động cả phố xá, ngói nhà rung lẩy bẩy, bá quan cũng phải chắp tay vái dài đáp lễ. Mặc dù một bên là thuộc viên hèn mọn, một bên là triều thần mão miện, thế nhưng bên nào là thật bên nào là giả, trong lòng mỗi người đều rõ. Hành lễ xong mọi người lùi lại, nhường ra một con hẻm người, Từ Cử được yết giả đỡ xuống xe, hai tay nâng cao chiếu thư đi thẳng vào cửa phủ, đại thần từ Thượng thư trở lên đi sát theo sau, đi đến đâu gia tướng, bộc đồng cũng lần lượt quỳ rạp hành lễ, sứ giả cầm tiết ngang với thiên tử giá lâm.

Từ Cử lúc này đã là một lão ông bảy mươi tuổi, ông từng bị Viên Thuật giam lỏng nhiều năm nhưng vẫn không khuất phục tiết nghĩa, cuối cùng còn nhân lúc Viên Thuật bệnh mất mà đánh cắp truyền quốc ngọc tỉ trở về triều đình, vì thế được phong làm Thái thường. Đại sự quốc gia chỉ có tế tự và chiến tranh, Thái thường đứng đầu Cửu khanh, không có Tam com thì ông chính là vị quan lớn nhất dưới Tào Tháo. Từ Cử tinh thần hoắc thước bước đi vững vàng, vẻ mặt trang trọng mắt không nhìn nghiêng, trong lòng lại tràn đầy phẫn uải — hai mươi bốn năm trước khởi nghĩa Khăn Vàng, ông theo Chu Tuấn trấn áp nghĩa quân từng cộng sự với Tào Tháo, lúc ấy chỉ cảm thấy Tào Tháo có chút tài năng dụng binh, nào ngờ cậu nhóc vắt mũi chưa sạch năm xưa nay lại trở thành Thừa tướng quyền khuynh thiên hạ, chính mình còn mang trọng trách sứ giả chạy đến đưa ấn cho người ta, đúng là chuyện đời khó lường mà! Ông đè nén tâm trạng, thong thả bước lên đại sảnh, chỉ thấy ghế dựa dời trống không, hương án đã được bày biện sẵn sàng; thế nhưng vị Thừa tướng sắp nhậm chức lại không thấy tăm hơi đâu, chẳng lẽ vị đại thừa tướng "ba lần nhường rồi mới nhận" này lại còn muốn giở trò gì nữa đây?

Từ Cử hoàn toàn không hay biết, giờ phút này Tào Tháo đang đi đi lại lại ở hậu đường, bị một chuyện phiền lòng quấy rầy. Trước khi về Hứa Đô, ông ra lệnh cho Vu Cấm, Trương Liêu, Trương Cáp, Chu Linh, Lý Điển, Lộ Chiêu, Phùng Giai bảy đạo quân đồn trú gần Duyển Xuyên, từ đó trở đi bảy con hổ lớn này không có một ngày nào yên ổn, đều là những kẻ chiến công hiển hách, không có Tào Tháo ở trước mặt quản chế, không ai phục ai. Hôm nay chia lương thực tranh chấp một chút, ngày mai chiatư trọng đánh nhau một trận, sau sự việc còn viết tấu báo đưa đến trước mặt Tào Tháo, toàn là chuyện lông gà vỏ tỏi, ai nấy đều tự lý lẽ riêng. Tào Tháo còn trông cậy bọn họ ra sức đánh giặc, đành phải nhắm một mắt mở một mắt, cũng lười so đo. Gây mâu thuẫn nhỏ thì thôi đi, thế nhưng sáng nay bỗng nhiên gửi báo cáo quân sự tới, trung lang tướng dưới quyền Chu Linh là Trình Ang xúi giục binh lính làm phản!

– Chu Văn Bác rốt cuộc làm ăn thế nào vậy? – Tào Tháo giận dữ nói. – Lúc trước ta đã căn dặn đi căn dặn lại, binh lính Hà Bắc mới quy hàng, nên đối xử với bọn họ bằng tấm lòng khoan hậu. Sao hắn lại coi lời ta như gió thoảng bên tai chứ? Còn chưa chinh phạt Kinh Châu, đã khiến người ta xem trò cười trước rồi! Những tướng lĩnh này cậy có công lao mà coi thường pháp kỷ, ta nhất định phải lấy Chu Linh ra làm gương, dạy dỗ bọn chúng cho đàng hoàng!

Mặc dù Chu Linh đã bắt sống Trình Ang, và dâng biểu tự trách ngay từ thời điểm đầu tiên, thế nhưng vẫn gây ra ảnh hưởng xấu, một số binh lính Hà Bắc bất mãn đãi ngộ đã trốn nhiệm vụ chạy trốn về nhà. Vu Cấm vốn không hòa hợp với Chu Linh, lại viết thư tố cáo Tào Tháo, vạch trần tính khí ngạo mãng ngỗ ngược, đánh đập binh sĩ, mắng mỏ tướng tá, cướp đoạt lương thảo của hắn, chẳng khác nào đổ thêm dầu vào lửa.

Trưởng sử Tiết Đễ đi sát theo sau Tào Tháo, giống như cái đuôi vừa đi vòng quanh vừa khuyên can:

– Thôi đi thôi đi, Chu Linh đã nhận lỗi rồi, lời Vu Cấm nói cũng có nước, tổn thất lại không lớn...

– Đau tuy có thể nhịn nhưng ngứa cũng rất khó chịu! – Tào Tháo hận không phải vì chút tổn thất này, ngặt nỗi đúng lúc nhận chức Thừa tướng lại xảy ra chuyện lộn xộn, đây chẳng phải là bôi nhọ lên mặt ông sao?

Chủ bưu Ôn Khôi tỏ ra rất thản nhiên:

– Chính vì sự việc xảy ra vào thời điểm then chốt này, chủ công càng nên biến chuyện lớn thành chuyện nhỏ, chuyện nhỏ thành chuyện không có, bây giờ xử lý tướng lĩnh, chẳng phải càng khiến người ta chê cười sao? Thái thường họ Từ vẫn đang chờ bên ngoài đấy, đừng nên chậm trễ.

– Haiz! Nhịn vậy. – Tào Tháo dần dừng bước, lại cảm thấy đầu óc âm ỉ đau, lẩm bẩm nói, – Ngày đại h tốt lành mà không có một chuyện nào khiến ta thuận lòng, cái lão già Hoa Đà đó không biết làm ăn thế nào, thuốc sắc lúc linh lúc không, không châm cứu thì không khỏi, chẳng lẽ lão ta muốn để lại căn bệnh để uy hiếp lão phu sao?

Phàn nàn vài câu cuối cùng cũng quay về chủ đề chính:

– Sự tình đã đến nước này ta cũng không truy cứu nữa, trước tiên kêu Trương Liêu, Nhạc Tiến chia bớt quân cho Chu Linh đi. Gửi thư trả lời cho hắn ngay bây giờ, ta nói các ngươi viết.

Ký sự Trần Lâm đã sớm cầm bút đứng chờ ở một bên, thấy cơn giận dữ của ông cuối cùng cũng tiêu tan, vội vàng vừa nghe vừa viết:

"Lý do quân ngũ cho là nguy hiểm, ngoài đối địch quốc, trong có mưu gian biến cố khó lường. Xưa Đặng Vũ chia đôi quân Quang Vũ đi về phía Tây, mà có nạn Tông Hâm, Phùng Âm, sau đem hai mươi bốn kỵ binh về Nghi Dương, Đặng Vũ nào vì thế mà suy giảm đâu? Thư gửi tới khẩn thiết, dẫn nhiều lỗi lầm, chưa chắc đã như lời đồn!"

Trần Lâm hiểu rõ như ban ngày — Tào Tháo hoàn toàn không khiển trách Chu Linh, còn đem hắn so sánh với danh tướng thời trung hưng là Đặng Vũ. Thế nhưng đây đều là lời thoái thác, cuối cùng lại điểm ra "thư gửi tới khẩn thiết, dẫn nhiều lỗi lầm, chưa chắc đã như lời đồn", há chẳng phải là sự hoài nghi đối với Chu Linh hay sao? Nếu Chu Linh biết điều, từ sau nên kẹp đuôi làm người cho tốt.

Hiệu sự Triệu Đạt mang dụng ý riêng liếc mắt nhìn văn thư, giọng không mặn không nhạt nói:

– Trong quân xuất hiện kẻ gian chính là do giám sát không nghiêm gây ra, cho dù không trách tội Chu Linh, cũng nên truy cứu lỗi của Thứ gian lệnh sử.

Thực ra hoàn toàn không có lý lẽ nào cả, Thứ gian sử vốn không nhậm chức trong quân của Chu Linh, hoàn toàn không hay biết gì về việc này nên cũng có thể châm chước. Thế nhưng kẻ ngồi ở chức vụ này lại là Cao Nhu, Tào Tháo trọng dụng hắn chính là để trút bỏ mối hận năm xưa, Triệu Đạ lại càng không tiếc sức xúi giục làm chuyện xấu.

Tào Tháo đang không biết trút vào đâu:

– Nói đúng lắm! Cao Nhu phạt bổng lộc một năm để tỏ rõ trừng phạt.

Phạt bổng lộc chứ không cách chức, vẫn phải giữ hắn lại tiếp tục chịu tội, quả thực là mèo vờn chuột.

Ôn Khôi cảm thấy vô cùng bất công nhưng lại không có cách nào giải quyết, chỉ đành nói:

– Xử lý ai không xử lý ai không phải là điểm cốt lõi, nên cử người vào quân điều hòa các tướng, Vu Cấm, Chu Linh đều là những kẻ tranh cường hiếu chiến, nếu không có ai đứng ra khuyên giải điều phối, những chuyện thế này sau đó chắc chắn sẽ còn xảy ra.

– Có lý... Cử ai đi thì thích hợp đây? – Tào Tháo gõ trán suy nghĩ.

Ôn Khôi đã có sẵn nhân tuyển, nhưng lại không nói toạc ra:

– Nếu theo ý hạ thần, nên chọn một người tính tình ôn hòa, chậm chạp.

– Tính tình ôn hòa, chậm chạp. – Mắt Tào Tháo sáng lên. – Lập tức điều Triệu Yễm ra làm Thất quân tổng hộ quân!

Triệu Yễm nổi tiếng là người tính tình ôn hòa, sống hơn bốn mươi tuổi mặt chưa từng đỏ lần nào, để một mình hắn quản lý hộ quân bảy bộ, đám võ phu kia dẫu tính khí có lớn đến đâu cũng bị mài mòn cho hết.

Dù sao thì chuyện này cũng coi như tạm gác lại, mọi người vội vàng xúm vào giúp Tào Tháo chỉnh sửa y quan, vội vã đi ra ngoài. Thế nhưng vừa đối mặt lại thấy Tào Phi, Tào Thực hoảng hốt chạy tới. Tào Tháo vừa thắt đai ngọc vừa hỏi:

– Chạy tới đây làm gì? Thiên sứ đều đến rồi, sao còn chưa ra sân quỳ đón?

Tào Phi mồ hôi đầm đìa:

– Xung nhi, Bưu nhi, Lâm nhi không biết chạy đi đâu mất rồi, phụ thân không nhìn thấy sao?

Phụ thân thụ phong quan lớn, các công tử cũng phải mặc trang phục lộng lẫy tham dự, phải quỳ tạ thánh ân ở dưới hành lang, y phục mới đã sớm thay cho chúng, lúc này lại không tìm thấy người đâu nữa.

– Ái chà! Ta thấy bọn chúng hồi nào đâu. – Tào Tháo giận đến mức dậm chân. – Mấy tiểu tử thối này, chạy đi đâu chơi rồi? Còn không mau đi tìm! Ngẩn ra đó làm gì, đều đi tìm cho ta mau!

Tào Tháo la lối một trận, phía sau bắt đầu náo nhiệt hẳn lên. Tư không phủ cũng không nhỏ, nhà nối nhà viện nối viện, ngay cả Tào Phi, Trần Lâm, Tiết Đễ dẫn theo phu nhân, bộc phụ, nha hoàn chạy Đông chạy Tây vừa la vừa tìm, cũng chẳng màng gì đến quy củ trong ngoài nữa. Theo lý mà nói mấy đứa nhóc tì có tham gia hay không cũng chẳng có gì lạ, thế nhưng thái độ của Tào Tháo lại vô cùng nghiêm túc — Tào Lâm do người vợ tái giá họ Đỗ sinh ra, mẹ đẻ của Tào Bưu chẳng qua chỉ là một tì nữ bình thường trong phủ, hai đứa con này đều không quan trọng; người mà ông thực sự quan tâm là Tào Xung con trai của Hoàn thị. Tào Xung là người thừa kế được Tào Tháo ngầm định trong lòng, dù làm thiên tử hay làm quyền thần, mọi thứ sau lưng đều phải giao cho đứa con này thừa kế, cho nên ngày hôm nay vinh quang như thế, nhất định phải để đứa bé này ra mặt một phen, biểu diễn cho bá quan văn võ khắp triều thấy. Vì thế mấy ngày trước Tào Tháo còn đặc biệt "cướp mũ" cho cậu bé, lấy biểu tự là Thương Thư.

Tào Tháo đi xuyên qua các phòng viện đang vô cùng sốt ruột, chợt nghe thấy có một tên gia đinh ở cách đó không xa hô lớn:

– Tổ tông của ta ơi, sao lại chạy đến đây thế này! Ta tìm thấy rồi đây!

Hắn vội vàng chạy tới nhìn chăm chú — đây là một cái tiểu viện nằm trong nhị môn, có mấy gian nhà thấp và bếp lò, là nơi thợ nấu chuẩn bị rượu tiệc, ai mà ngờ được quý công tử lại chạy đến chỗ này để chơi đùa chứ? Lúc này Hoa Đà đang dẫn đệ tử Lý Đương Chi nấu thuốc bên lò; có hai đệ tử mới thu nhận là Ngô Phổ, Phàn A cũng ở một bên, thế nhưng lại không hiểu bọn họ đang làm gì, đang vặn vẹo cơ thể bày ra một bộ dạng kỳ quái.

Ngô Phổ một chân nhón đất, duỗi thẳng hai tay lắc lư lên xuống, dáng vẻ giống như một con chim lớn; Phàn A co vai rụt lưng gãi đầu gãi tai, hình dáng tựa như loài vượn. Nhìn sang bên cạnh một chút, Tào Tháo tức điên lên — Tào Xung, Tào Bưu, Tào Lâm ba tiểu tử đang phủ phục trên mặt đất, làm ra vẻ bộ dạng, cũng không biết là đang bắt chước gấu hay hổ, y phục mới thay dính đầy đất cát.

– Các ngươi đang làm gì vậy! – Tào Tháo lớn tiếng quát dừng.

Ngô Phổ vội vàng quỳ rạp xuống:

– Khởi bẩm Tư... Thừa tướng, đây là sư phụ mô phỏng theo thuật đạo dẫn của người xưa biên soạn thành "Ngũ cầm hịch", luyện cái này có thể cường thân kiện thể.

– Hồ ngôn loạn ngữ! – Tào Tháo kéo Tào Xung ôm chầm vào lòng. – Ngươi coi bọn chúng là hạng người nào? Đường đường là con trai công hầu há có thể làm cái bộ dạng cầm thú này!

Hoa Đà vội vàng tạ tội:

– Lão hủ không dám tự ý dạy dỗ mấy vị công tử, là bọn họ nhìn thấy thú vị nên mới...

Còn chưa để ông ta nói hết câu, Tào Tháo đã lạnh lùng cắt ngang:

– Hoa tiên sinh, lão phu đối với ông cũng coi như khách khí lắm rồi, ông cho tới nay vẫn chưa thể trừ tận gốc căn bệnh của lão phu, tôi cũng chưa hề trách móc. Từ nay về sau đám đệ tử của ông không được phép ở trong phủ của ta nữa, tất cả mau chóng dọn ra ngoài đi! Đây là Thừa tướng phủ, không phải chợ búa phố xá!

Tào Xung thấy phụ thân tức giận, bỗng nhiên chỉ tay về phía lò nấu thuốc nói:

– Phụ thân mau nhìn lò thuốc kia kìa, lửa ở dưới nước ở bên trên, hài nhi ngày hôm trước vừa học "Kinh Dịch", dưới Ly trên Khảm gọi là "Thủy hỏa ký tế", "Ký tế" chẳng phải có ý nghĩa viên mãn hay sao? Phụ thân hôm nay thụ phong Thừa tướng, nhà chúng ta viên viên mãn mãn, thật là cát tường quá đi chứ!

Đây vốn là câu nói giải hòa, ai ngờ đệ tử của Hoa Đà là Phàn A lại là một người tính tình ngay thẳng, nhịn không được xen mồm nói:

– Tiểu công tử giải thích không chính xác, quẻ từ của "Thủy hỏa ký tế" có câu "Hanh tiểu, lợi trinh. Sơ cát chung loạn.", ví như trăng tròn thì khuyết nước đầy thì tràn, cái quẻ này tên nghe hay lắm, nhưng lại không cát tường chút nào...

Nói được nửa câu mới nhận ra mình nói hớ, vội vàng ngậm miệng dập đầu.

Chuyện của Chu Linh đã khiến Tào Tháo phiền lòng rồi, ngày đại h tốt lành mà lại ăn nói gãy quẻ không may, không tức giận đến mức phát cuồng mới là lạ! May mà đầu óc Ôn Khôi nhanh nhẹn, ôm chầm lấy Tào Lâm:

– Tiểu công tử của ta ơi, mau đi thôi! Bá quan văn võ ở bên ngoài đang chờ đấy! Lại còn chậm trễ thời gian nữa thì để quần chúng bàn tán thế nào đây?

Nói chuyện với trẻ con cho người lớn nghe. Tào Tháo biết hắn là đang giục mình, đè nén ngọn lửa giận trong ngực, nghiến răng nghiến lợi trừng mắt nhìn Phàn A:

– Các ngươi cút ngay cho ta! Từ nay về sau không được đến đây quấy rầy nữa, nếu không chém không tha! Hoa tiên sinh, ông cũng tự giải quyết cho tốt đi.

Nói xong dắt lũ trẻ phất tay áo bỏ đi.

Khi Tào Tháo với cử chỉ đoan trang xuất hiện trên đại sảnh, Từ Cử đã đợi đến mức có chút mất kiên nhẫn. Phụng thiên tuyên chiếu nào đã từng thấy người tiếp chiếu nào như thế này, trơ trơ bắt sứ giả đợi hắn trên đại sảnh hơn một khắc đồng hồ, ngồi thì không thể ngồi, chiếu thư lại không thể vứt xuống. Vừa không đặt sứ giả vào trong mắt, thì há lại coi thiên tử ra gì? Từ Cử còn đỡ, hai vị yết giả phía sau ông, một người cầm phù tiết, một người bưng tướng ấn, hai thứ trọng lượng đều không hề nhẹ, hai người giơ tay một lúc lâu đều run lẩy bẩy, trong lòng sớm đã thầm "hỏi thăm" mười đời tổ tông họ Tào không sót một ai.

Các con của Tào Tào lén lút dọc theo chân hành lang quỳ xuống, Tào Xung và Tào Phi một trái một phải xếp ở vị trí đứng đầu. Từ Cử trải chiếu thư ra trước mặt mọi người đọc to, Tào Tháo làm đại lễ tam quỳ cửu khấu. Mà ngay tại khoảnh khắc ông tiếp nhận tướng ấn, lại chối từ bắt đầu:

– Tào mỗ tài hèn đức mỏng kham không nổi trọng trách này. Từ công là lão thần ba triều, vị Thừa tướng này vẫn là do ngài làm thì hơn.

Từ Cử giật mình thon thót, thấy hắn chuyện đến nước này rồi mà vẫn còn đang làm hàng giả vờ giả vịt, vội vàng lùi liên tiếp mấy bước vái chào đến đất:

– Tào công công lao hiển hách, lão hủ khó mà với tới. Mong Tào công vì thiên hạ làm trọng mà gánh vác đại nhiệm.

– Mong Tào công vì thiên hạ làm trọng mà gánh vác đại nhiệm! – Quần thần dưới sảnh nhao nhao hùa theo gọi một tiếng.

– Haiz! – Tào Tháo làm bộ làm tịch thở dài một hơi. – Đã thiên hạ không có ai, ta đành miễn cưỡng làm vị Thừa tướng này vậy.

Cứ như vậy, Tào Tháo "khiêm nhường" một phen cuối cùng cũng ngồi lên chiếc ghế thừa tướng mà mình đã mưu tính từ lâu, năm nay năm mươi tư tuổi. Vừa rồi còn là thiên sứ Từ Cử lùi lại hành lang dẫn dắt bá quan đại lễ tham bái, tất cả mọi người đều thần phục dưới chân ông ta. Tào Tháo khách sáo vài câu, mời mọc khắp lượt quan viên triều đình buổi tối qua phủ dự yến, liền quay người trở về hậu đường cởi bỏ bộ lễ phục này, tiếp tục trù tính sách lược nam chinh...

Phú quý kiêu nhân

Tiệc rượu buổi tối rất náo nhiệt, các yếu nhân triều đình hiếm hoi lắm mới tề tựu một đường, ngay cả những người bình thường ít khi xuất hiện, ngày hôm nay cũng đến, còn đông hơn cả buổi thiết triều. Tào Tháo ngày đầu tiên đảm nhận chức Thừa tướng, ai dám không nể mặt chứ? Thế nhưng điều nằm ngoài dự đoán chính là, Tào Tháo đã tuyên bố một sự bổ nhiệm ngay trong bữa tiệc — nguyên Quang lược huân Sĩ Hư được thăng chức Ngự sử đại phu.

Tào Tháo phế bỏ Tam com tự mình làm Thừa tướng, đã là độc đoán chuyên quyền, không ai ngờ rằng ông lại nổi hứng làm ra một chức Ngự sử đại phu nữa. Cái chức quan này trên danh nghĩa là phó Thừa tướng, nhưng không cần giải thích cũng hiểu rõ, cũng là cái vỏ bọc che mắt thiên hạ, có chức danh mà không có thực quyền. Sĩ Hư hoàn toàn không chuẩn bị trước ngây người tại chỗ, Tào Tháo không nói hai lời kéo hắn ngồi vào ghế chủ tiệc, cùng nhau tiếp nhận lời chúc mừng của bá quan — so với buổi lễ bái thưa náo nhiệt, Sĩ Hư làm quan lần này thê thảm hơn nhiều.

Tào Tháo nâng chén rượu ngon nhìn khắp lượt mọi người, phát hiện thiếu mất vài nhân vật quan trọng:

– Phục quốc trượng và Triệu lão tư đồ sao không tới?

Hoa Hâm ngồi ở phía Đông, vội vàng nói:

– Phục quốc trượng bệnh tình trầm trọng không di chuyển nổi. Triệu Tư đồ bây giờ đã là thường dân, tự cảm thấy chướng ngại nên không đến nữa.

Quốc trượng Phục Hán thấy nhà Hán sắp sụp đổ, con gái là Phục hậu lại hết ngày này đến ngày khác viết thư đến khóc lóc kể lể, số ruột đến mức liệt nửa người không dậy nổi, bây giờ chỉ còn thoi thóp thở qua ngày. Triệu Ôn là kẻ giúp Tào Tháo làm quá nhiều chuyện, không còn mặt mũi nào để gặp ai nữa.

Tào Tháo tiếp tục tìm kiếm, phát hiện Tuân Úc thế mà cũng không đến:

– Lệnh quân đâu?

Hoa Hâm cười ngượng ngùng:

– Có chút không trùng hợp, Tuân Thường bá hai hôm trước vừa mới tạ thế, Lệnh quân ở bên kia đang bận lo tang sự. Khổng tử có câu "Khốc, tắc bất ca", sợ có điều kiêng kỵ nên không qua đây được.

Thị trung Tuân Duyệt là chú họ của Tuân Úc, vừa mới qua đời, Tuân Úc lấy cớ này để không tham gia tiệc rượu.

Tào Tháo buồn bã không vui, thế nhưng cũng chẳng phàn nàn gì, chỉ nói:

– Lão phu vậy mà lại không hay biết, hôm nào cũng qua phủ tế bái một chút vậy.

Lời còn chưa dứt chợt nghe thấy một tràng tiếng cười lớn chói tai — Khổng Dung.

Người nên tới thì không tới, người không nên tới thì lần nào cũng không bỏ sót. Khổng Dung từ sau khi nới lỏng lệnh cấm rượu lại càng ngày càng kiêng kỵ điều gì, suốt ngày tụ tập rượu chè uống say sưa, Thái y lệnh Chi Hợp, Nghị lang Tạ Cải và những người bạn nhậu khác ngày nào cũng dài cổ ở trong phủ của ông ta. Hôm nay lúc tới đã có chút say mèm, có lẽ đã uống qua một trận rồi.

Tào Tháo ghét bỏ liếc hắn một cái:

– Văn Cử huynh, mấy năm không gặp vẫn bình an chứ?

– Thừa tướng hà tất phải hỏi chứ, – Khổng Dung cười ha hả nói, – Tôi bình an hay không, Triệu Đạ bọn họ chẳng phải đều nói cho ngài biết rồi sao!

Mọi người trong tiệc giật mình thon thót, Hoa Hâm, Trần Quần vội vàng giảng hòa:

– Nói đùa, nói đùa thôi. Văn Cử huynh tính tình hài hước.

Tào Tháo lại thản nhiên cười nói:

– Văn Cử huynh chẳng lẽ có gì bất mãn hay sao?

Khổng Dung nghịch chén rượu trong tay nói:

– Khách ngồi trên ghế thường đầy, chén rượu trong tay không trống. Tôi còn có thể có bất mãn gì nữa chứ?

Phải đấy, thiên tử sắp mang họ Tào rồi, muốn quản cũng không quản nổi, ngoài uống rượu ra thì còn có thể làm gì nữa?

Tào Tháo cố ý làm khó dễ hắn:

– Hôm nay quần hiền tề tụ, Văn Cử huynh sao không cao giọng ngâm một khúc để trợ hứng cho mọi người nhỉ?

– Kêu ta làm thơ ư? – Trong ánh mắt Khổng Dung lóe lên vài phần oán hận, nhưng ngược lại cười nói, – Được! Ta đọc cho ngài nghe!

Quần thần đều trở nên căng thẳng, không biết hắn có lại thốt ra những lời cuồng ngôn không đúng lúc nào nữa hay không; chỉ thấy hắn ném chén rượu xuống, đứng dậy giữa sảnh, vung tay áo dài hát lên rằng:

"Lục nguyệt thê thê, nhung xa ký sức. Tứ mẫu quây quây, tải thị thường phục.

Huyên hận khổng xích, ngã thị dụng cấp. Vương vu xuất chinh, dĩ khuông vương quốc.

Bỉ vật tứ ly, nhàn chi duy tắc. Duy thử lục nguyệt, ký thành ngã phục.

Ngã phục ký thành, vu tam thập lý. Vương vu xuất chinh, dĩ trợ thiên tử.

Tứ mẫu tu quảng, kỳ đại hữu ng옹. Bạc phạt huyên hận, dĩ tấu phu công..."

Trái tim thấp thỏm của mọi người dần bình ổn lại, Khổng Dung không tự mình làm thơ, mà ngâm một bài "Lục nguyệt" của "Kinh Dịch". Bài thơ này là khúc ca ngợi danh thần nhà Chu là Doãn Cát Phủ phò tá Chu Tuyên Vương chinh phạt Tây Nhung, mượn để ca ngợi chiến công hiển hách của Thừa tướng đương triều quả là rất thích hợp. Thế nhưng cũng có một số ít sĩ tử uyên bác nếm ra hương vị khác biệt, Doãn Cát Phủ tuy là danh thần nhà Chu, nhưng cuối cùng lại bị hôn quân Chu U Vương giết chết. Đem một kẻ không có cái kết tốt đẹp ra so sánh với Tào Tháo, đây chẳng phải là cố tình trù ẻo sao? Sĩ Hư, Vương Lãng đều suy đoán ra được, thế nhưng lại thấy Tào Tháo mặt mày mỉm cười liên tục gật đầu, nghĩ rằng chắc là không nghe ra rồi. Thực ra bọn họ đoán sai rồi, Tào Tháo thuở trẻ gia nhập làm lang nhờ thông hiểu cổ học, "Kinh Dịch" lại càng nằm lòng trong ngực, sao có thể không nghe ra chứ? Tào Tháo đúng là đã cười, nhưng cái cười không phải vì thơ hay, mà cười Khổng Dung sắp chết đến nơi rồi mà hoàn toàn không hay biết.

Một khúc "Lục nguyệt" ngâm xong, văn võ trên sảnh không ai là không vỗ tay tán thưởng. Ngự sử đại phu Sĩ Hư vội vã nâng chén rượu:

– Kính chúc Tào công...

– Đừng chúc ta, – Tào Tháo thuận thế nắm lấy cổ tay hắn, – Ngươi và ta nay nhận trọng trách của thiên tử, sau này còn phải dựa dẫm nhiều vào bá quan văn võ khắp triều. Nào nào nào, hai ta xuống dưới kính mọi người một ly!

– Vâng vâng vâng. – Sĩ Hư vội vàng đứng dậy, đi sát theo sau Tào Tháo.

Khổng Dung ngâm thơ xong liền đứng thẳng giữa sảnh, thấy Tào Tháo, Sĩ Hư đi tới, vội vàng quay người cầm chén rượu, thế nhưng khi quay người lại thì thấy Tào Tháo lướt qua vai mình, hoàn toàn phớt lờ không thèm đếm xỉa đến mình. Khổng Dung không những không tức giận mà ngược lại còn mừng rỡ, phỏng đoán hắn đã hiểu được sự châm biếm vừa rồi, vui vẻ tự mình ngửa cổ uống cạn chén rượu.

Chiếu theo cấp bậc chức quan, trước tiên cần phải kính rượu chính là liệt khanh, Từ Cử, Đinh Xung, Vương Ấp lần lượt tránh ghế đứng dậy đáp lễ. Tào Tháo thấy Đinh Xung từ sớm đã uống đến mức mặt mày đỏ bừng lên:

– Cái đồ mèo say rượu nhà ngươi, ta nghe nói ngươi mấy hôm trước uống say mèm, cầm đao chạy khắp sân, hô hào muốn giết người, có chuyện này không?

Đinh Xung uống say là chuyện thường xảy ra, thế nhưng tình trạng uống say làm càn thì lại không nhiều lắm. Trong lòng hắn có tâm sự — nhà họ Đinh dẫu sao cũng là môn phi hộ tộc Tam công nhà Hán, bản thân Đinh Xung càng là công thần phò tá thiên tử đông về, năm xưa đi theo Tào Tháo thiết lập Hứa Đô, vốn tưởng rằng từ nay về sau nhà Hán có hy vọng khôi phục, nào ngờ dã tâm của Tào Tháo lại bành trướng; cộng thêm phu nhân họ Đinh bị Tào Tháo hưu, hai nhà đã sinh ra khoảng cách, mấy chục năm bạn cũ, thân gia cũ đi đến bước này, rượu vào ruột sầu dĩ nhiên uống nhiều rồi làm càn.

Tào Tháo thấy hắn vẫn cứ cắm cổ uống rượu mà phớt lờ không đáp, lại nói:

– Ngươi nếu không muốn làm cái chức quan này nữa thì cứ việc lên tiếng, ta tìm cho ngươi một chỗ nhàn tản cũng được. Hai đứa con trai của ngươi cũng không còn nhỏ nữa, hôm nào dẫn đến phủ để Mao Giới gặp mặt, ta ban cho chúng chức quan. Chúng ta là bạn cũ, chuyện con cháu ta sẽ sắp xếp giúp ngươi.

– Hửm. – Đinh Xung nấc một cái, lẩm bẩm cũng chẳng biết là nghe hiểu hay không nghe hiểu nữa. Tào Tháo thở dài một hơi, lắc đầu bỏ đi. Sĩ Hư không dám chậm trễ, chỉ nâng chén hờ hững, vội vã đi theo sau mông hắn — vị "phó Thừa tướng" này quả thực giống như một kẻ đi theo xách dép.

Sát cạnh Đinh Xung là Đại tư nông Vương Ấp, kẻ này lúc trước xưng hùng xưng bá ở Hà Đông, lại còn ba phải ở giữa cuộc chiến tranh giành triều đình với Cao Cán, Tào Tháo dùng biện pháp cường bách bổ nhiệm Đỗ Kỳ làm Hà Đông thái tể mới đổi được hắn về. Con giạ đầu sừng sỏ làm oai làm quái năm xưa, lúc này lại ngoan ngoãn hệt như một con cừu non. Tào Tháo cười nhạt đầy vẻ mỉa mai:

– Vương khanh gần đây có khỏe không, đám bộ hạ cũ ở Hà Đông có đến thăm ngông không?

Vương Ấp đặt chén rượu xuống liên tục dập đầu:

– Thừa tướng tuệ nhãn thức nhân, Đỗ Kỳ từ khi nhậm chức ở Hà Đông đến nay luôn làm tròn trách nhiệm gặt hái được rất nhiều thành tựu, hơn hẳn hạ thần gấp vạn lần! Đám bộ hạ theo đuổi Đỗ quận tướng vì nước tận trung, sớm đã quên mất ta rồi! Hạ thần bây giờ thân thể không khỏe, mỗi ngày đóng cửa đọc sách tâm vô bàng vật.

Hắn sợ rước họa bị nghi kỵ nên hết sức giải thích, cũng chẳng biết câu nào chạm vào chỗ thương tâm, thế mà lại rơi hai giọt nước mắt.

Tào Tháo không những không thương xót mà ngược lại còn cười lớn:

– Ngươi tâm vô bàng vật hưởng thụ thanh phúc cũng không tệ đâu. Trăm mưu ngàn kế đại nửa đời người, cũng nên nghỉ ngơi thôi! Hha ha ha...

Người ở dưới mái hiên sao dám không cúi đầu? Vương Ấp cũng coi như một trang tuấn kiệt một thời, thế nhưng lúc này đối mặt với lời mỉa mai chỉ đành gượng cười, bảo toàn tính mạng đã là may mắn lắm rồi. Thế nhưng ngay sát bên cạnh hắn, Mã Đằng, Vi Đoan, Đoạn Úy ba vị liệt khanh cùng xuất thân từ cục diện cát cứ Quan Trung lại đang trò chuyện vui vẻ vô cùng thoải mái. Đoạn Úy tuổi tác đã cao, lại có công tru sát Lý Thác, ở chung với Tào Tháo khá tốt. Vi Đoan và Mã Đằng đều đặt cược đúng trong cuộc chiến Viên - Tào, cũng coi như người có công; huống hồ bọn họ tuy dời nhà vào kinh, tusy tùng dư bộ của Vi Đoan giao cho con trai Vi Khang, đội quân của Mã Đằng giao cho con trai Mã Siêu, bọn họ ở Lương Châu vẫn còn có binh lính đấy!

Hai người Vi - Mã vừa mới vào kinh nhậm chức, Tào Tháo chỉ gặp qua một cách tượng trưng một lần, hôm nay có cơ hội đối mặt trong gang tấc, phải quan sát thật kỹ mới được — Vi Đoan dung mạo đoan trang ngữ điệu tao nhã, không hổ danh là danh môn Kinh Triệu; Mã Đằng lại vóc dáng vạm vỡ tướng mạo dữ tợn, đã hơn năm mươi tuổi rồi mà ngồi ở đó lúc lắc không hề vững vàng, bộ quan phục trên người trông giống như đi mượn, nhìn thế nào cũng không giống một vị quan lại, hơn nữa mắt nâu râu quặp, nghe nói người này là hậu duệ của danh thần trung hưng Mã Viện, nhưng sao lại có vẻ mang một chút huyết thống người Hồ thế nhỉ? Mã Đằng cũng khá là thật thà chất phác, thấy Tào Tháo trừng mắt nhìn mình ngẩn ra, dứt khoát nói thẳng thừng:

– Đại thừa tướng tổ sà lị? Chê ấu trưởng xấu á? Mị đà địa phương người ta đều tấp mờ lè!

Nói đến mức Tào Tháo trừng trừng hai mắt.

Vi Đoan che miệng cười:

– Thừa tướng chớ nên trách quái, Mã Vệ úy nói tiếng Lương Châu đấy.

Tào Tháo cũng phì cười — để ổn định cục diện, một kẻ thô lỗ thế này cũng được phong làm Cửu khanh, cái này mà ở trên triều đường mà dùng mấy câu "tổ sà lị", "tấp mờ lè" nói ra, bên cạnh chắc chắn phải có người phiên dịch cho hắn mất.

Mã Đằng vừa cười vừa luyên thuyên nói một tràng dài, chỗ nào Tào Tháo không hiểu thì hỏi Vi Đoan, làm mò một hồi lâu mới hiểu rõ: Hóa ra Mã Đằng đúng là hậu duệ của dòng họ Phù Phong, thế nhưng nhánh của ông ta lại không hề hưng vượng giống như Mã Dung, Mã Nhật Đê, đến đời cha ông là Mã Túc vô cùng bất đắc chí, chỉ kiếm được chức Huyện úy nhỏ ở quận Thiên Tỉ, sau đó lại mất quan chức bỏ việc lưu lạc đến Lũng Tây, kết hôn với một người phụ nữ Khương sinh ra Mã Đằng, cho nên ông ta mang một chút huyết thống người Hồ. Do cha mất sớm, Mã Đằng thời niên thiếu mây mưa kiếm củi mưu sinh sống qua ngày vô cùng gian khổ, sau đó Biên Chương, Hàn Toại, Vương Quốc và những kẻ khác dấy binh làm phản, ông ta gia nhập quân triều đình dũng mãnh chiến đấu thăng chức làm Tư mã. Chính quyền Hán Linh Đế hủ bại, mấy vị Lương Châu thứ sử được bổ nhiệm liên tiếp đều không xứng với chức trách, Mã Đằng báo quốc vô môn, dứt khoát cũng gia nhập vào hàng ngũ phản tặc. Ông ta kiêu dũng thiện chiến, đối xử với người khác lại rất trọng nghĩa khí, rất nhanh đã trở thành nhân vật thủ lĩnh, sau đó thế mà lại cùng Hàn Toại hợp lực tru sát thủ lĩnh giặc, chia đôi tất cả binh mã, lúc này mới trở thành quân phiệt bá chủ Lương Châu.

Ấn tượng ban đầu của Tào Tháo đối với kẻ thô lỗ này không tốt, thế nhưng thấy ông ta thành khẩn như vậy không chút giấu diếm, ngược lại cảm thấy ông ta thật thà đáng yêu, thậm chí có chút ngốc nghếch. Thực lực của ông ta xa không phải hai người Đoạn, Vi có thể so sánh, nếu không phải ngốc nghếch khờ khạo ham mê quan lớn, sao lại chỉ nghe vài câu ngọt ngào mà từ bỏ binh mã vào kinh làm quan chứ? Lại chỉ để lại mỗi trưởng tử Mã Siêu, còn các con trai và người nhà nữ quyến đều đưa tới hết, e rằng ông ta đến việc mình là con tin còn chẳng nhận thức rõ nổi ấy chứ!

Dù thế nào đi nữa, có thể nắm chặt Mã Đằng trong lòng bàn tay đối với Tào Tháo mà nói là chuyện tốt, điều duy nhất không mỹ mãn là Hàn Toại không thể đến kinh, chỉ phái tới một đứa con trai út. Nghĩ đến đây Tào Tháo quyết định bán cho Mã Đằng một ân tình, cũng là để làm gương cho Hàn Toại:

– Mã Vệ úy đưa cả nhà vào kinh rất đáng được khen ngợi, lão phu phải dâng biểu triều đình, tấn phong con trai ngài là Mã Hưu làm Phụng xa đô úy, Mã Thiết làm Kỵ đô úy, trưởng tử Mã Siêu ở lại trấn thủ Lương Châu thăng chức làm Thiên tướng quân!

Phụng xa đô úy là chức quan mặt mũi chuyên dẫn dắt thánh giá, Kỵ đô úy cũng là võ quan hai nghìn thạch, tuy không thể sở hữu thực quyền nhưng cũng đủ vinh quang rồi. Còn về chức Thiên tướng quân, nói ra thì cũng có chút xui xẻo. Vốn dĩ là do Vương Phục đảm nhận, kết quả làm ra vụ án "Chiếu thư đai ngọc", sau đó Quan Vũ lấy công lao Bạch Mã, Diên Tấn cũng làm Thiên tướng quân, cuối cùng dứt khoát làm tới chỗ Lưu Bùi. Cho nên Tào Tháo có chút chán ghét chức quan này, cho nên để trống nhiều năm.

– Chỉ cần các ngươi một lòng một dạ đi theo lão phu, ta bảo đảm con cháu các ngươi vinh hoa phú quý!

Lời nói ban đầu của ông luôn mang theo triều đình, bây giờ lại chỉ khoa trương khoe khoang với bản thân, hai chữ "triều đình" liên tục nhắc đến cũng chẳng thèm nhắc nữa.

Rời khỏi bọn họ, Tào Tháo tự mình cười không ngừng, ngước mắt lên lại thấy bên cửa xếp một bàn tiệc, ngồi đó là hai vị lão thần tóc tai bạc phơ — Quang lược đại phu Dương Bưu và Kỵ đô úy Tư Mã Phòng. Tào Tháo vội vàng qua kính rượu:

– Dương công, Tư Mã công, xem ra mặt mũi Tào mỗ không nhỏ, các vị cũng tới... Ngồi ngồi ngồi, Dương công chẳng phải bị tật ở chân sao? Ta gánh không nổi đôi chân của ngài đâu, mau ngồi xuống đi.

Dương Bưu bị Tào Tháo bãi miễn Thái úy, từng có khoảng thời gian bị tống vào đại lao, còn từng chịu sự tra tấn của Mãn Sủng, sau khi ra tù tuyên bố bị tật ở chân đóng cửa không ra, xã giao công tư đều không tham gia. Hôm nay thật sự không thoái thác được nữa mới ra ngoài lộ diện một chút, không ngờ lại bị Tào Tháo châm chọc thế này. Tư Mã Phòng lúc Tào Tháo cử hiếu liêm đang nhậm chức Thượng thư hữu thừa, cùng Thượng thư Lương Húc từ chối yêu cầu ra làm Lệnh huyện Lạc Dương của Tào Tháo, trong lòng cũng không yên ổn cho lắm.

Tào Tháo nhìn vẻ lúng túng của hai kẻ từng cưỡi lên đầu mình này, trong lòng tràn ngập cảm giác sảng khoái khi được trả thù, vỗ vai Tư Mã Phòng:

– Ngày xưa ta muốn làm Huyện lệnh đệ nhất thiên hạ, các người lại chỉ cho ta làm Bắc bộ huyện úy, nay thì thế nào rồi?

Câu trả lời của Tư Mã Phòng cũng rất chừng mực:

– Xưa nay khác biệt, sao có thể đánh đồng ngày nay với ngày xưa được? Thời điểm minh công cử hiếu liêm ngày trước, tài năng tư lịch còn chỉ thích hợp làm huyện úy mà thôi.

– Ồ? – Tào Tháo càng cười lớn hơn. – Vậy hôm nay ta rất thích hợp làm Thừa tướng rồi! Tư Mã công, lệnh lang Tư Mã Lãng nay làm quan ở Duyện Châu, lão phu rất coi trọng hắn, sau này còn muốn thăng quan cho hắn nữa. Thế nhưng ngài cũng nên rộng lượng một chút, nghe nói trong phủ của ngài có tám vị công tử, sao lại chỉ để một người ra sức vì lão phu chứ? Con trai thứ hai của ngài tên là Tư Mã... gì ấy nhỉ?

– Khuyển tử Tư Mã Ý.

– Chính là hắn! Lão phu ba lần trưng trắc không chịu nhậm chức, chẳng lẽ mặt mũi của ta không đủ lớn sao?

– Không dám, không dám. – Tư Mã Phòng giật mình thon thót.

– Chuyện qua rồi thì cho qua đi, làm phiền ngài khuyên nhủ lệnh lang, sớm ngày nhận lệnh vào kinh báo cáo, ta lại có ăn thịt hắn đâu!

Tào Tháo nói xong lại liếc mắt nhìn Dương Bưu:

– Dương công cũng có một người con trai tên là Dương Tu phải không? Ngày xưa Nễ Hành từng có câu "Đại nhi Khổng Văn Cử, tiểu nhi Dương Đức Tổ", nay cũng đã hơn ba mươi rồi nhỉ? Lão phu cũng định triệu hắn vào phủ, ngày mai làm luôn! Ta phải khuyên nhủ ngài lão nhân gia một tiếng, con cháu lớn lên tự khắc phải để chúng mưu cầu tiền đồ, chớ nên để chúng vô sự vô nghề, đi giao du với lũ cuồng bạo vô sỉ.

Cái gọi là "lũ cuồng bạo vô sỉ" của hắn đương nhiên là đang ám chỉ Khổng Dung.

Dương Bưu từ đầu đến cuối không nói một lời, âm thầm chịu đựng sự sỉ nhục, nâng chén rượu lắc qua lắc lại, mặt mày khổ sở nốc cạn — nhà họ Dương bốn đời Tam com đức hạnh không chút tổn hại, vậy mà lại sa cơ lỡ bước đến nông nỗi này, bị cái hạng tiểu nhân hoạn quan như Tào Mạnh Đức giày vò thế này. Ly rượu cuộc đời này thật khó uống làm sao!

Tào Tháo mỉa mai hai người một trận, trong lòng càng thêm sảng khoái, dứt khoát xuống sảnh cùng quần thần uống rượu chung. Các quan lại cấp dưới bên ngoài thì khác, phần lớn là phái ủng hộ Tào, mặt mày tươi cười ân cần mời rượu. Tào Tháo uống liền bảy tám chén, trên mặt phiếm hồng. Sĩ Hư thấy hắn có vẻ say, muốn khuyên vài câu lại bị hắn đẩy văng ra; hắn lảo đảo mấy bước lại đi tới trước một chiếc kỷ án, người ngồi ở đó là Kim Tuyền, Hàn Huyền hai vị nghị lang.

Kim Tuyền tự Nguyên Cơ, người Kinh Triệu, là em ruột của vị Duyện Châu thứ sử Kim Thượng bị Tào Tháo đuổi đi ngày trước; Hàn Huyền là người Hà Nội, anh trai của Trung hộ quân Hàn Hạo. Quan hệ giữa hai người này với Tào Tháo khá tốt, mặt mày tươi cười đón ý hùa theo hai phía.

Tào Tháo liếc nhìn Kim Tuyền:

– Nói về chuyện ta có điểm nào có lỗi với người ta, huynh trưởng của ngươi tính là một. Ngày xưa nếu không phải ta trục xuất hắn khỏi Duyện Châu, thì sao hắn lại phải bỏ mạng oan uổng dưới tay Viên Thuật chứ? Ta đối xử với huynh trưởng ngươi không tốt, liền bù đắp lên người ngươi vậy. Mấy hôm nữa xuất binh, ngươi theo quân nghe dùng. Nếu như đánh hạ được vùng Giang Nam, kiểu gì cũng cho ngươi làm một cái quận thủ!

Hắn đường hoàng đem chức quan ra làm tư tình.

– Đa tạ minh công cất nhắc. – Kim Tuyền mừng rỡ rơi nước mắt. – Huynh trưởng ở trên trời có linh thiêng, nhất định sẽ cảm kích tấm lòng tốt này của ngài.

– Ta chỉ nói một câu thôi, ngươi khóc cái gì chứ? – Tào Tháo lại quay sang Hàn Huyền, – Huynh đệ của ngươi tòng quân nhiều năm công lao không nhỏ, ngươi từ nay về sau cũng theo quân nghe dùng, lão phu cũng sẽ không để ngươi chịu thiệt thòi đâu.

– Đa tạ Thừa tướng đề bạt. – Hàn Huyền vốn dĩ là một kẻ văn không thành võ chẳng xong, chỉ dựa vào việc cày thâm niên, nhận được sự quan tâm bất ngờ tự nhiên rất vui mừng.

Tào Tháo uống cạn chén rượu, Hàn Huyền lại giúp hắn rót đầy, đang định tiếp tục đi tới phía trước, chợt thấy Trưởng sử Vương Tư mặt mày rạng rỡ chạy từ ngoài viện vào:

– Đáng mừng đáng mừng! Triều đình lại có hỉ sự lớn rồi.

– Có hỉ sự gì chứ? – Những kẻ đang uống rượu say sưa bỗng chốc im phăng phắc.

Vương Tư mày hớn hở:

– Lưu Chương sai Ích Châutòng sự Trương Túc vào kinh nạp cống. Lần trước việc khai sáng đối với Âm Phổ đã có hiệu quả, Trương Túc lần này không chỉ đưa tới cẩm lụa Thục, tạp vật ngự dụng, còn giải đưa ba trăm người binh Sơ, xem ra Lưu Chương có ý định dâng đất quy hàng.

– Ngoại phiên nạp cống, dị tộc quy phụ, đây là điềm lành mà! – Hàn Huyền vội vàng hùa theo nói ngọt.

– Vẫn còn nữa! – Vương Tư lại nói. – Nghị lang Châu Cận thương lượng với Hung Nô rất ăn ý, Tả Hiền vương đã đồng ý đưa Thái Chiêu Cơ về Hán rồi!

Sau khi Cao Cán chết thì Tỉnh Châu hoàn toàn nằm trong lòng bàn tay Tào Tháo, người mà ông chỉ định điểm danh, Hung Nô sao dám không thả người chứ?

Sĩ Hư nâng chén rượu lên cao tiếng hô hào:

– Uy quang nhà Hán chiếu khắp bốn bể, di man rông địch lần lượt thần phục, chúng ta cùng nâng chén này chung vui chúc mừng triều đình ta...

– Sĩ công thực sự không biết cách nói chuyện. – Kim Tuyền cắt ngang, – Đây đều là công lao của Tào công... Không! Là công lao của Thừa tướng. Chúng ta cùng kính Thừa tướng một chén!

Tào Tháo đã có mấy phần say rượu rõ rệt, lại bị mọi người chuốc thêm một chén, bỗng nhiên sinh ra những suy nghĩ vẩn vơ; mơ màng cảm thấy bình định thiên hạ, thân đăng cửu ngũ chính là chuyện ngày mai, Lưu Hiệp, Tôn Quyền hoàn toàn không đáng nhắc tới, dường như đại quân của ông vừa tới là có thể dọa bọn họ cởi giáp quy hàng. Ông sống hơn năm mươi tuổi, chưa từng có ngày nào sảng khoái như hôm nay, đây là một sự buông thả hoàn toàn không chịu bất cứ sự ràng buộc nào. Trời cao đất rộng ta là lớn nhất, sinh linh trong thế gian đều giống như định mệnh phải thần phục dưới chân. Tào Tháo thậm chí còn mường tượng xa xôi rằng, sau khi thống nhất thiên hạ phải chấn hưng chính sự, dẫn dắt nhà Hán... Không, dẫn dắt một vương triều mới bước tới thời kỳ thịnh thế, vứt bỏ Nghiêu Thuấn Vũ Thang lại phía sau! Dưới sự thúc đẩy của hơi rượu, hắn bỗng nhiên hứng thơ đại phát, bước nhanh mấy bước đặt một chân lên bậc đá, giơ cao chén rượu cất cao giọng ngâm ca:

"Đối tửu ca, thái bình thời, lại bất hô môn.

Vương giả hiền thả minh, tể tướng cổ công giai trung lương.

Hàm lễ nhượng, dân vô sở tranh tụng.

Tam niên canh hữu cửu niên trữ, thương cốc mãn doanh, ban bạch bất phụ đái.

Vũ trạch như thử, bách cốc dụng thành, khước tẩu mã, dĩ phẩn kỳ thổ điền.

Tước công hầu bá tử nam, hàm ái kỳ dân, dĩ truất thăng u minh.

Tử dưỡng hữu nhược phụ dữ huynh, phạm lễ pháp, khinh trọng tùy kỳ hình.

Lộ vô thập di chi tư, lũng dữ không hư, đông tiết bất đoạn nhân.

Mão điệt giai đắc thọ chung, ân trạch quảng cập thảo mộc côn trùng."

Chính trị thanh minh, bách tính an lạc; ngũ cốc sung túc, già yếu không lo; đường không nhặt của rơi, thân thiện không tranh cãi; chúng sinh bình đẳng, ân trạch vạn vật! Đúng như "Lễ Ký" gọi là "Thế giới đại đồng". Trong mắt Tào Tháo, dập tắt khói lửa chiến tranh không còn là vấn đề nữa, thứ mà ông phải phấn đấu sau này chính là làm sao trị thế. Thiên hạ nằm ngay trong lòng bàn tay ông. Tất cả mọi người có mặt ở đây — bất kể có đồng tình với Tào Tháo hay không, đều không khỏi bị bài hát này chấn động, thiên hạ biến loạn hơn hai mươi năm, đao binh nổi tứ tung máu chảy thành sông, nên kết thúc rồi nhỉ? Bất kể sau này xã tắc mang họ Lưu hay họ Tào, cũng nên kêu bách tính thiên hạ thoải mái thở phào nhẹ nhõm một hơi rồi...

– Chư vị! – Đổng Chiêu đột ngột đứng bật dậy, hắn ngẩng cao đầu sải bước đi tới bên cạnh Tào Tháo, cất cao giọng đảo mắt nhìn quanh mọi người nói, – Kẻ hụt hẫng cho rằng vị thánh hiền được nhắc đến trong bài thơ vừa rồi chính là Thừa tướng của chúng ta! Công lao trùm khắp thiên hạ cứu vớt bách tính lầm than, Thừa tướng chính là hào kiệt đệ nhất thiên hạ! Chính là trụ cột của Cửu Châu Hoa Hạ chúng ta! Hạ thần đề nghị, chúng ta đều đứng lên, trang trọng kính Thừa tướng một chén rượu, cung chúc Thừa tướng vạn thọ kim an!

Đây nào phải kính rượu, rõ ràng là thăm dò, xem ai dám không đứng lên? Hoa Hâm, Vương Lãng, Trần Quần không còn như xưa nữa, không còn là tri kỷ của Khổng Dung nữa, là những kẻ đầu tiên đứng lên; Đoạn Úy, Mã Đằng, Vi Đoan tự mình nói cười vài câu, cũng đi theo đứng lên; Vương Ấp thất hồn lạc phách run rẩy bò dậy; Dương Bưu, Tư Mã Phòng hai vị lão thần cảm thán một trận, dìu dắt lẫn nhau cũng đứng lên; Sĩ Hư đi sát theo sau lưng Tào Tháo, muốn không đứng cũng không được; đám người bên ngoài lại càng khỏi phải nói, Kim Tuyền, Hàn Huyền đám người đứng đầu, một bầy ong đều đứng lên.

Chỉ có hai kẻ vẫn tại chỗ bất động — Đinh Xung sớm đã say đến mức bất tỉnh nhân sự, gục ngáy o o bên án; Khổng Dung cũng ôm vạc rượu say mèm ngủ gục dưới đất, nhưng không biết là say thật hay say giả.

Đổng Chiêu liếc mắt nhìn Khổng Dung một cái cũng không thèm nhìn, nâng cao chén rượu:

– Nào! Thừa tướng hoằng đức ân trạch chúng sinh, chúng ta cung chúc Thừa tướng vạn thọ kim an!

Thừa tướng hoằng đức ân trạch chúng sinh... Cung chúc Thừa tướng vạn thọ kim an...

Tất cả những lời chúc tụng xuất phát từ đáy lòng, tràn đầy vẻ bi thảm, gió chiều nào che chiều ấy, không có ý kiến gì hợp lại với nhau, làm chấn động màng tai ong ong ngói nhà rung lẩy bẩy. Tào Tháo ngạo nghễ nhìn xuống tất cả mọi người có mặt, hài lòng gật đầu, đắm chìm trong những lời tán dương ngọt ngào.

Ngự sử đại phu

Một buổi tiệc náo nhiệt mãi cho đến khi lên đèn mới tan, đừng thấy các trọng thần trên sảnh bề ngoài phụ họa cười bồi, nội tâm lại tràn đầy lo sợ và bất lực, cho đến khi bước chân ra khỏi cửa phủ Tào Tháo mới yên tâm trút bỏ một hơi thở nhẹ nhõm. Đều là những kẻ chìm nổi chốn quan trường mấy chục năm, Tào Tháo muốn làm gì, trong lòng mỗi người đều rõ, thế nhưng không có một ai dám đứng ra ngăn cản. Duy trì thiên hạ nhà Hán quả thực là lý tưởng của rất nhiều người, thế nhưng sự tình đến nay quyền bính đều quy về họ Tào, bọn họ hoàn toàn không có chút sức lực kháng cự nào. Chỉ cầu hòa cùng ánh sáng, hòa cùng bụi trần, bình an vô sự trải qua phần đời còn lại, còn về giấc mơ phục hưng thiên hạ nhà Hán — hãy cứ để nó giống như chiếc lá rụng cuốn theo chiều gió bay đi mất...

Thế nhưng không phải ai cũng có thể bình an vô sự qua ngày, lão Tư đồ Triệu Ôn may mắn toàn thân rút lui, Ngự sử đại phu Sĩ Hư lại bị trói lên cỗ xe của nhà họ Tào. Tào Tháo phế truất Tam com khôi phục Thừa tướng, điều này rành rành ra là muốn chuyên quyền triều chính, thế nhưng không ai ngờ rằng, sự tình đến nước này lại dựng lên một vị Ngự sử đại phu, ngay cả bản thân Sĩ Hư trước đó cũng hoàn toàn không hay biết. Chiếu theo chế độ cũ nhà Hán, Ngự sử đại phu có quyền hỏi đến chính vụ, giám sát bá quan, tương đương với phó Thừa tướng. Thế nhưng cái chức Ngự sử đại phu mà Sĩ Hư làm lại kỳ quặc khó hiểu — vừa không thể quản lý Ngự sử trung thừa, Thị ngự sử, cũng không được phép mở phủ kiến nha. Không nắm giữ Ngự sử trung thừa, Thị ngự sử thì không có quyền giám sát, không thể mở phủ chiêu mộ duyện thuộc thì không có quyền can thiệp chính sự, chẳng phải là mang danh hão huyền hay sao?

Cái mũ quan từ trên trời rơi xuống này đẩy không ra vứt không xong, mang lại cho Sĩ Hư phiền muộn vô tận. Những người khác không dám công khai phản đối Tào Tháo thì có thể trốn tránh, thế nhưng Sĩ Hư muốn trốn cũng không trốn nổi, vị trí ở đâu thì chỉ đành tuân theo, chỉ riêng ngày đầu tiên nhậm chức này thôi đã khiến ông ta lăn lộn cho suýt mất nửa cái mạng. Tiệc rượu phủ Thượng tướng Tào Tháo rót rượu, ông với tư cách là phó chức cũng phải luôn túc trực bên cạnh Thừa tướng, không thể lạnh lùng xa cách cũng không thể tự mình thể hiện, trơ trơ cười bồi suốt một buổi tối, cơ mặt suýt chút nữa cứng đờ. Khi buổi tiệc kết thúc, ông lên xe ngựa về nhà, đã tê dại đến mức không nói nổi một câu.

Thế nhưng chuyện này vẫn chưa kết thúc, xe ngựa vừa về tới cửa phủ nhà mình, Sĩ Hư còn chưa xuống xe đã thấy quản gia cầm đèn lồng hớt hơ hớt hải chạy ra:

– Khởi bẩm chủ nhân, có ba vị khách tới phỏng vấn, đã đợi ngài nửa canh giờ rồi.

Sĩ Hư đầy bụng oán giận, vừa hay lôi ra trút giận:

– Kẻ nào cho phép ngươi thả bọn chúng vào trong? Lão phu không muốn gặp ai hết, đuổi bọn chúng đi cho ta!

Quản gia vẻ mặt khó xử, xích lại gần hạ giọng nói:

– Là duyện thuộc từ Thừa tướng phủ tới ạ.

– Hửm? – Cơn giận dữ của Sĩ Hư lập tức biến mất không tăm tích — chẳng lẽ do Tào Tháo phái tới? Vừa nãy rõ ràng vẫn ở cùng một chỗ, tại sao có chuyện không nói thẳng ra, lại lén lút phái người tới chứ?

– Ngài mau đi gặp đi, ba kẻ này bài vận lớn lắm, tiểu nhân không cho bọn chúng vào phủ còn ăn một bạt tai... Dẫu cho ngài, ngài... – Quản gia sợ sệt không dám nói tiếp — Dẫu cho ngài cũng chưa chắc đã chọc nổi.

Tào Tháo bây giờ đã là Thừa tướng, gia đinh trong phủ đều có thể diện, Sĩ Hư sao dám coi thường chứ? Đành phải lê cơ thể mệt mỏi xuống xe đi thẳng vào phòng khách. Lúc này đã gần đến giờ Hợi, trong sân sớm đã tối đen như mực, đại sảnh lác đác thắp vài ngọn đèn dầu, ba bóng người mờ ảo đang ngồi bên chiếc kỷ án.

– Sĩ công, ngài về rồi đấy à. – Có một kẻ không khách khí chiếm lấy vị trí chủ tọa, cất giọng âm dương quái khí, – Thăng quan tiến chức thật đáng mừng đáng chúc, chúng tôi tới chúc mừng ngài đây.

Lời nói tuy là vậy, thế nhưng hắn ta hoàn toàn không đứng dậy, không có chút tôn trọng nào cả.

Sĩ Hư dụi dụi mắt, nhờ vào ánh đèn yếu ớt mới nhìn rõ — kẻ đó sinh người gầy gò khô khan, một cái lưỡi chó dài, lông mày đấu kê, mắt chó cái, mỏ nhọn má khỉ, chính là hiệu sự Lô Hồng dưới tay Tào Tháo. Ở bên tay phải hắn ta, có một kẻ đầu béo mặt phở, thể trạng phù thũng, mặt mày tươi cười, chính là một vị hiệu sự khác - Triệu Đạ. Lại có một kẻ mặt nhẵn râu dài ngồi ngay ngắn ở tư thế nghiêm trang, cung kính chắp tay vái chào, chính là "ngòi bút" Lộ Tú Lộ Văn Úy trong phủ Tào Tháo.

Lộ Tú thì còn tạm ổn, Lô Hồng, Triệu Đạ há lại là hạng người lương thiện gì? Cú mèo vào nhà không có chuyện thì không tới, Sĩ Hư không khỏi run lẩy bẩy, dưới chân bủn rủn — vị quan viên chức vụ chỉ đứng sau Tào Tháo này — suýt chút nữa thì hành đại lễ với ba tên lại lại duyện.

Triệu Đạ vội vàng cười ha hả đỡ lấy:

– Ơ kìa! Chúng tôi sao dám nhận lễ của ngài, Sĩ công mời ngồi.

Nói xong hướng về phía cửa vẫy vẫy tay, quản gia vội vàng lui ra ngoài, hơn nữa còn đóng cửa lại — Triệu Đạ sai khiến người hầu trong phủ này cứ như sai khiến người nhà mình vậy.

Khách đã ngồi vào vị trí chủ tọa, chủ nhà đành phải chịu uất ở vị trí khách. Sĩ Hư thấp thỏm bất an ngồi xuống:

– Ba vị đêm hôm khuya khoắt đến đây có gì chỉ giáo?

– Chúng tôi có một chuyện tốt đến làm phiền Sĩ công đây. – Triệu Đạ cười hì hì, – Văn Úy huynh, lấy cái thứ đó ra cho Sĩ công xem đi.

Lộ Tú hình như coi thường Triệu Đạ, cũng chẳng thèm đáp lời một câu, từ trong ngực lấy ra một phần trúc giản, trực tiếp đưa tới trước mặt Sĩ Hư. Sĩ Hư cũng không biết "chuyện tốt" mà Triệu Đạ nói là lời thật hay lời mỉa mai, mơ hồ tiếp lấy, tối tăm không nhìn rõ lắm, khom lưng thò sát lại gần ngọn đèn, chỉ xem được nửa câu liền cả kinh thất sắc — Thái trung đại phu Khổng Dung ký phục kỳ tội!

– Bản án định tội của Khổng Văn Cử ư? – Sĩ Hư giật mình suýt chút nữa làm rơi trúc giản vào ngọn lửa, vội vàng nắm thật chặt lấy.

Triệu Đạ cười nói:

– Minh công vốn không hòa thuận với Khổng Dung, trên triều đường tranh chấp nhiều lần, thiên tử đương triều có ý định trị tội xử tử hắn ta, chẳng phải là giúp ngài trút giận hay sao? Đây chẳng lẽ không phải chuyện tốt hay sao?

Sĩ Hư đương nhiên biết hắn đang nói nhảm, thiên tử làm sao có thể làm khó Khổng Dung chứ, phần bản án này nhìn là biết do một tay Lộ Tú ngụy tạo, chắc chắn là do Tào Tháo thụ ý làm ra. Sĩ Hư tuy không hòa hợp với Khổng Dung, nhưng chưa từng nghĩ đến việc ép hắn vào chỗ chết, trong lòng quả thực dâng lên vài phần thương hại, đè nén tâm thần tiếp tục đọc xuống:

"Thái trung đại phu Khổng Dung ký phục kỳ tội hĩ, nhiên thế nhân đa thải kỳ hư danh, thiểu vu hạch thực, kiến dung phù diễm, hảo tác biến dị, huyễn kỳ cuồng trá, bất phục sát kỳ loạn tục dã. Thử châu nhân thuyết Bình Nguyên Nễ Hành thụ truyền dung luận, dĩ vi phụ mẫu dữ nhân vô thân, thí nhược phạp khí, ký thịnh kỳ trung, hựu ngôn nhược tao cơ cẩn nhi phụ bất tiếu, ninh thiện hoạt dư nhân. Dung vi thiên phản đạo, bại luân loạn lý, tuy tứ thị thị, do hận kỳ vãn. Canh dĩ thử sự liệt thượng, tuyên thị chư quân tướng hiệu duyện thuộc, giai sử văn kiến..."

Tào Tháo đem những tội danh như ăn nói xằng bậy làm rối loạn tập thể, bại hoại kỷ cương, trái ngược thiên đạo áp đặt lên đầu Khổng Dung, đây không chỉ là bức hại, mà còn là sự sỉ nhục đối với thân phận danh sĩ của hắn. Điều càng khiến người ta rợn tóc gáy hơn là, ngay phần đầu bản tội trạng này đã viết "Khổng Dung đã nhận tội", rõ ràng là chuẩn bị công khai phát tán ra ngoài sau khi xử tử Khổng Dung. Một người vẫn còn đang nhảy nhót sống sờ sờ, Tào Tháo lại "chuẩn bị hậu sự" cho hắn, không những muốn hắn thân bại, mà còn muốn hắn danh liệt, trên đời còn có chuyện gì độc ác hơn thế nữa!

"Thật là vô lý!" Sĩ Hư vốn dĩ ôn hòa nhã nhặn đột nhiên nổi giận lôi đình, biện hộ cho kẻ đối đầu với mình: "Khổng Dung vốn là danh sĩ đương thời, trong thiên hạ ai mà không biết? Lấy chuyện bắt gió bắt bóng để thêm thắt tội trạng hãm hại vô cớ, lấy gì để phục chúng? Thiên lý ở đâu? Lương tâm còn sót lại chỗ nào?" Nói đoạn ném mạnh bản tội trạng xuống đất.

Lộ Tú tuy là kẻ ngụy tạo, nhưng cũng là phụng lệnh của Tào Tháo mà làm, thực ra là bị ép chẳng đặng đừng, nghe những lời cay nghiệt thấu xương của Sĩ Hư thì cứ cúi đầu không nói. Lô Hồng nào quan tâm nhiều đến vậy, trừng cặp mắt chó cái lên: "Sĩ Hồng Dự to gan! Ngươi còn tưởng mình thực sự là phó thừa tướng đấy à? Ta nói cho ngươi biết, giết ngươi cũng như bóp chết một con..."

"Chớ vội nóng nảy! Chớ vội nóng nảy!" Triệu Đạt cười hì hì đứng lên, "Lô huynh vội cái gì chứ? Sĩ công nói có lý, lấy những chuyện lông gà vỏ tỏi này ra để định tội quả thực có phần gượng ép. Nhưng Khổng Văn Cử thuở làm Bắc Hải tướng, có cấu kết với Viên Thiệu hay không? Khổng Dung qua lại mật thiết với Trương Hoằng, có hiềm nghi ám thông với Tôn Quyền hay không? Chúng ta nên làm bài làm vở trên những chuyện đại sự đại nghĩa chứ!" Vừa nói Triệu Đạt vừa cười, nụ cười ôn hòa như gió xuân, nhưng miệng lại bịa đặt ra hai tội danh thông địch bán nước.

Sĩ Hư nhìn tên tiểu nhân bỉ ổi này, tức giận đến toàn thân run lẩy bẩy: "Các ngươi... các ngươi cút ra ngoài!"

"Đừng vội chứ." Triệu Đạt rất giữ được bình tĩnh, "Chính sự còn chưa nói đâu! Hai tội danh ta vừa mới liệt kê lúc nãy, trên tờ chiếu lệnh này không viết, vậy thì đành làm phiền Sĩ công dâng sớ chỉ rõ vậy."

"Ngươi... ý ngươi là thế nào?"

Lô Hồng lạnh lùng nói: "Nói thẳng ra cho ngươi biết. Bài văn này ngươi cũng đã thấy rồi, là phát tán sau sự việc. Nhưng vẫn phải có người công khai dâng sớ đàn hạch Khổng Dung, ngươi hãy làm chuyện này đi."

"Cái gì?" Sĩ Hư chẳng khác nào bị ngũ lôi oanh đỉnh, một trận chóng mặt ngã sụp xuống bên án thư — nói cho công bằng, Sĩ Hư quả thực ghét Khổng Dung, nhưng chỉ là không hợp tính cách, là tranh chấp ý khí, tuyệt đối không đến mức hại Khổng Dung đến chết. Khổng Dung cười cợt chửi mắng tính tình kỳ quái, tuy không câu nệ tiểu tiết, nhưng đại tiết không tổn hại; còn Sĩ Hư lại là kẻ sĩ theo đúng khuôn phép quy củ, đối xử với Tào Tháo có phần trung dung. Hơn nữa một người là môn sinh của Nho học uyên bác, một người là hậu duệ của bậc thánh hiền, tự coi mình cao ngạo nên khó tránh khỏi việc khinh miệt lẫn nhau. Sĩ Hư tuy mượn sức mạnh của Tào Tháo để áp chế Khổng Dung, nhưng điều này không có nghĩa là không đội trời chung. Ngược lại, Sĩ Hư công nhận tài năng và danh vọng của Khổng Dung, giả sử do chính tay mình bóp chết đóa kỳ hoa văn đàn này, người trong thiên hạ sẽ bàn tán thế nào đây?

Triệu Đạt thấy hắn phục ở đó không lên tiếng, lại nói: "Sĩ công cứ yên tâm, chẳng qua chỉ là dâng một đạo tấu chương, những chuyện đằng sau tự khắc sẽ có người xử lý."

"Độ, đây là ý của Thừa tướng sao?"

Lô Hồng cau mày một trận: "Ngươi chớ có kéo quàng xiên vào Thừa tướng, chuyện này không liên quan gì đến ông ấy."

Triệu Đạt lại thêm mắm dặm muối nói: "Sĩ công nhắc đến Thừa tướng nhà ta làm gì? Chi bằng hãy nghĩ về chức trách của mình đi. Ngươi đường đường là Ngự đại phu, đàn hạc kẻ bất pháp, vì nước trừ gian là trách nhiệm vốn có của ngươi, lẽ nào có làm sai sao?" Không thể quản Ngự sử trung thừa, Thị ngự sử, nhưng chuyện tàn hại trung lương lại bắt ông ta phải làm.

Sĩ Hư dần dần hiểu ra, cái chức quan này không phải để làm cảnh, mà còn phải thay Tào Tháo dẹp trừ dị kỷ, thay hắn hại người, thay hắn hành hung, thay hắn chịu đựng sự phỉ nhổ của người đời.

"Thế nào? Sĩ công đã nghĩ kỹ chưa?"

“Ta không làm...” Sĩ Hư nghiến chặt răng, “Ta không phải là thứ ưng khuyển vô sỉ như các ngươi!”

“Đồ già khốn kiếp, cho mặt mũi mà không biết điều!” Lô Hồng tóm lấy cổ áo hắn, vung tay định đánh.

“Dừng tay!” Triệu Đạt ngăn lại, “Hình phạt không áp dụng với đại phu, huống chi lại đánh cả Phó thừa tướng đương triều?” Hắn cười âm hiểm áp sát bên tai Sĩ Hư, “Sĩ công à, ngài có biết chúng ta sẽ xử lý Khổng Dung thế nào không? Không những giết bản thân hắn, mà còn muốn tru di tam tộc già trẻ lớn bé nhà hắn! Người ta sống trên đời ăn chơi hưởng lạc biết bao vui sướng? Chết đi thì tiếc biết bao! Cứ lấy ngài mà nói, ngài là môn sinh đắc ý của Trịnh Huyền đại phu nhân, danh tiếng lan truyền khắp bốn phương. Nghe nói trong nhà ngài cũng con đàn cháu đống, vợ hiền con hiếu, nếu trong nháy mắt những người này đều không còn...”

Sĩ Hư kinh ngạc nhìn tên vô văn nghệ mặt đầy nụ cười này: “Ngươi muốn uy hiếp ta?”

“Cho dù là uy hiếp, ngài thì làm được gì?” Lô Hồng tỏ ra rất thẳng thắn, “Ngươi không làm thì chúng ta tìm người khác, đến lúc đó kẻ phải chết không chỉ có một nhà Khổng Dung, mà tính cả già trẻ lớn bé cả nhà ngươi nữa!”

“Ta có tội gì chứ?”

“Ngươi cũng là một bè lũ với Khổng Dung!” Lô Hồng nghĩ cũng không nghĩ thốt ra ngay. Bảo Sĩ Hư cùng một bè lũ với Khổng Dung e rằng ngay cả kẻ ngốc cũng không tin, nhưng kẻ cường quyền nắm chuôi đao trong tay, nói cái gì thì chính là cái đó, làm gì có đạo lý hay liêm sỉ nào?

Triệu Đạt vẫn giữ cái vẻ “hòa ái dễ gần” đó: “Lô huynh lại bồng bột rồi, hà tất phải làm khó Sĩ công? Người ta tự khắc sẽ nghĩ thông suốt thôi. Những vết xe đổ của Triệu Ngạn, Đổng Thừa, Vương Tử Phục cách đây không xa, Sĩ Hư là cao đồ đắc ý của Trịnh Huyền, lẽ nào lại có thể cam chịu hình phạt tù đày? Nếu không may thực sự có ngày đó, chẳng những Sĩ Hư thân chết tên mất, ngay cả Trịnh lão phu tử ở dưới cửu tuyền cũng sẽ không được yên ổn. Người ta khó tránh khỏi việc bàn tán ‘Trịnh Khang Thành mắt mù, dạy ra cái học trò làm họa diệt cả cửa nhà, nghĩ chắc bản thân ông ta cũng chẳng ra gì, nhất định là kẻ mượn danh chuốt tiếng, kẻ không có tài năng thực học.’ Ngài thử nghĩ xem có phải đạo lý này không? Ngài còn nỡ mang tai vạ họa hại đến vợ con già trẻ không? Ngài còn nỡ bôi nhọ lên mặt người thầy đã khuất bóng không?”

Sĩ Hư vẫn đang run rẩy, nhưng đã không còn phải vì phẫn nộ, mà là vì sợ hãi.

“Chúng ta đây cũng là vì tốt cho ngài thôi.” Triệu Đạt ra điều hợp lý hợp tình, “Há chẳng nghe chuyện của Triều Thố, Viên Áng đó sao? Hai người bọn họ vốn dĩ cũng chỉ là tranh chấp ý khí, Viên Áng vô ý mưu hại Triều Thố, nhưng Triều Thố lại muốn Hán Cảnh đế giết Viên Áng, vậy Viên Áng đành phải ra tay trước thôi! Ngài với Khổng Dung cũng là đạo lý này, ngài nếu không ra tay diệt cả nhà hắn, sẽ có kẻ ra tay diệt cả nhà ngài, là hắn chết hay ngài chết, phải tự cân nhắc cho kỹ đấy...”

“Ta muốn gặp Thừa tướng!” Sĩ Hư đã là sự giãy giụa cuối cùng, “Ta muốn tìm ông ấy hỏi cho rõ ràng!”

“Ngài không gặp được Thừa tướng đâu.” Triệu Đạt lắc đầu, “Sáng sớm ngày mai Thừa tướng đã đến quân doanh giải quyết công việc, Tào Nhân, Tào Hồng đã âm thầm tập hợp tinh nhuệ, muốn cho Lưu Bểu một trận tập kích bất ngờ. Ngài tưởng lão nhân gia ông ta say rượu chắc? Ông ta tỉnh táo lắm đấy!”

“Còn nói nhảm cái gì nữa chứ?” Lô Hồng bắt đầu thiếu kiên nhẫn, “Lão già, ngươi cho một câu dứt khoát đi, làm hay là không làm? Ngươi không làm cái chức Ngự sử đại phu này, có khối kẻ vỡ đầu mẻ trán tranh nhau làm! Không làm cũng được, để lại cái mạng lại đây!”

Sĩ Hư đã bị đánh gục hoàn toàn — bản thân hắn chết thì thôi, người thân quyến thuộc tội gì? Ân sư dưới suối vàng lỗi gì? Hắn nghẹn ngào phục xuống đó, cách một hồi lâu mới nức nở nói: “Ta làm... ta làm bất cứ cái gì cũng được... hu hu hu...”

“Thế này chẳng phải xong rồi sao!” Tảng đá lớn trong lòng Lô Hồng cuối cùng cũng hạ xuống, “Giả nhân giả nghĩa, bắt chúng ta tốn bao nhiêu công sức.”

Triệu Đạt vươn tay đỡ dậy: “Sĩ công chớ đau buồn, vãn sinh còn mấy lời múa rìu qua mắt thợ muốn nói. Sách Trung Dung có câu: ‘Thành giả, tự thành dã.’ Chuyện này tức nhiênngài đã bằng lòng làm, thì coi như xuất phát từ nội tâm thành tâm thành ý làm cho tốt, tuyệt đối không phải là kẻ khác sai khiến mà làm.” Sĩ Hư sao có thể không hiểu ý mượn đao giết người trong này, đành lấy tay áo che mặt nức nở. Triệu Đạt vẫn luôn treo nụ cười trên mặt: “Trời cũng không còn sớm nữa, chúng ta không làm phiền giấc mộng đẹp của ngài nữa. Chi tiết đàn hạc chúng ta đợi sau khi Thừa tướng xuất binh rồi sẽ cùng bàn bạc kỹ lưỡng, dù sao chuyện này cũng không liên quan gì đến lão nhân gia ông ta mà. Bọn ta cáo từ, không làm ngài chướng mắt nữa.” Nói đoạn đẩy tung cánh cửa lớn, vừa bước ra một chân, lại quay đầu lại nói bằng cái giọng âm dương quái khí: “Ngài già đừng buồn, ngài nhất định phải bảo trọng thân thể. Ngài khác với lũ ưng khuyển vô sỉ chúng tôi đây chứ! Cục cúc cúc...”

Đồng hành với tiếng cười như mèo quỷ ban đêm, Triệu Đạt, Lô Hồng nghênh ngang rời đi. Lộ Tú nửa ngày nay không nói một câu, ngẩn người nhìn mọi thứ xảy ra trước mắt, muốn an ủi Sĩ Hư vài câu lại không biết mở lời thế nào, đành cúi đầu vái thật sâu rồi cũng đi theo.

Sĩ Hư khóc lóc thảm thiết tê liệt ngã ngồi xuống đất, lòng đau như cắt — Khổng Văn Cử, ngươi thắng rồi! Không những ngươi coi thường ta, mà giờ đây ngay cả chính ta cũng coi thường bản thân mình rồi. Ông trời ơi! Giàu sang thì rắc rối nhiều, sống thọ thì nhục nhã lắm! Đây là cái thời đạo gì thế này? Không những muốn bức hại người ta, lại còn ép kẻ bị bức hại đi bức hại người khác! Đây là cái thế giới của cầm thú ma quỷ...

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.