Vũ Giả Trên Cung Tròn

Lượt đọc: 126 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phát Biểu

❊ ❊ ❊

Sự sống thuần túy chỉ là một sự ngẫu nhiên. Quan điểm này giờ đây đã được đại đa số mọi người công nhận. Tương đối mà nói, nhân sinh lại phức tạp hơn một chút, ít nhất là rắc rối hơn. Giả sử sự sống ngẫu nhiên lại vướng phải một thời đại tất yếu, hành trình nhân sinh đôi khi lại rắc rối đến mức chẳng có đạo lý nào để nói. Cho đến chết, mới xem như cuối cùng giành được sự giải thoát. Đúng như người ta vẫn nói, không mời mà đến, không mời mà đi. Giống như tranh nhau chen chúc tiến về tham dự buổi đại lễ trọng đại cuối cùng; giống như đó là một hoạt động có giới hạn số lượng và thể hiện thân phận, mặc dù trong tay ai nấy đều được phát trước một tấm vé vào cửa, nhưng đi muộn thì vé vào cửa sẽ thành vô tác dụng, vì thế mà có vẻ thật đáng tiếc vậy.

Năm năm gần đây, tính trung bình, mỗi năm đều phải tham dự lễ truy điệu của mấy người, trong lòng tôi vô cùng thương cảm. Năm nay lại tiễn đi hai người vong niên giao (bạn vong niên), trong đó có một vị chính là Ôn tiên sinh, tôi vẫn luôn tôn kính gọi ông là "thầy Ôn".

Thầy Ôn hưởng thọ bảy mươi ba tuổi. Khi sinh thời thể chất tráng kiện, vẫn kiên trì tập thể dục buổi sáng. Những người quen thuộc với ông, đều cho rằng ông có thể sống đến tám mươi ba. Cố gắng một chút, sống đến trên chín mươi tuổi, xem ra cũng là chuyện rất có khả năng, bởi vì ông tráng kiện biết bao!

Không lâu trước khi ông qua đời, tôi đã gặp ông, tại một buổi tọa đàm sách mới do nhà xuất bản tổ chức. Một cuốn tiểu thuyết rất tầm thường, những người đến dự đều là những kẻ vì danh tiếng mà cô quạnh, cùng với tôi — kẻ cũng tầm thường và cũng mang tiếng hão một cách lệch lạc tương tự — đóng vai trò là kẻ nhàn rỗi giúp vui thổi phồng cho sự tầm thường, nói những lời tầm thường nước đôi, giả tạo để ứng phó lúc bách hội. Có người thậm chí cả sách cũng chẳng thèm lật xem, thế mà vừa mở miệng ra đã ra điều đang phát biểu những lời bình luận mang tính uy quyền. Sau buổi họp có chuẩn bị tiệc buffet, thầy Ôn bảy mươi ba tuổi vẫn còn một hàm răng tốt chắc khỏe và sắc bén, về cơ bản là răng thật; lại có một bộ dạ dày cực kỳ tốt với chức năng hấp thu và tiêu hóa đều tuyệt vời. Hôm đó ông ăn vô cùng ngon miệng, ăn uống thỏa thích. Uống bia thì giống như kẻ bị thiếu máu trầm trọng đang tham lam húp oxy, ba bốn cốc vào bụng, vậy mà mặt cũng chẳng hề ửng đỏ lấy một chút. Ông uống rượu rất hào phóng. Đang giữa mùa hè, xét đến khả năng thích ứng dạ dày của đại đa số mọi người, người ta không cung cấp bia ướp lạnh mà cung cấp một đĩa đá viên. Người khác tối đa chỉ thả một hai viên đá vào cốc, còn ông thì không, ông chuyên môn gắp riêng cho mình một đĩa đá nhỏ. Ông uống một ngụm bia, liền bỏ một viên đá vào miệng. Tiếp theo, nhai kêu lục bục giòn tan. Những người xung quanh nhìn ông với vẻ mặt ngẩn ngơ, không một ai là không lộ ra vẻ ngưỡng mộ cho đến ghen tị.

Còn ông, sau khi nuốt xuống, liên miệng nói: "Thế này mới sảng khoái chứ! Thế này mới sảng khoái chứ!"

Rõ ràng là, trong đó cũng có chút ý khoe khoang hàm răng tốt và dạ dày tốt, vẻ mặt đắc ý vô cùng.

Thế là, tất cả mọi người đều sinh lòng kính nể đối với hàm răng tốt và dạ dày tốt của ông.

Còn ông thì nửa đùa nửa thật nói: "Cảm ơn sự cải tạo đối với tôi trước kia, thụ ích phi thiển, thụ ích phi thiển..."

Mỗi khi có người vì hàm răng tốt và dạ dày tốt của ông mà nhìn ông bằng con mắt khác xưa, ông đều nói như vậy. Nói một cách cực kỳ thành kính. Ông từng là "phần tử hữu phái", bị cải tạo ở một nông trường biên ải nào đó hơn hai mươi năm. Dường như, ông cho rằng hàm răng tốt và dạ dày tốt của mình, cùng với sự khỏe mạnh tráng kiện toàn diện, chính là lợi ích có được nhờ việc bị cải tạo lâu dài, cho nên bản thân thực tế lại là kẻ hưởng lợi "phản hữu". Thường thường, vì sợ người khác nghi ngờ sự thành kính của mình, ông lại luôn phải bổ sung hai chữ sau những lời cảm kích ấy — "Thật đấy!"

Thử nghĩ xem, một cụ già bảy mươi ba tuổi, nâng chén uống cạn, tiếp đó nhai ngấu nghiến đá viên lục bục giòn tan, đó là một khung cảnh hùng tráng đến nhường nào?

Thế nhưng nửa tháng sau, tôi lại chính tay viết cáo phu nhân và điếu văn cho ông. Độc giả không khó tưởng tượng, khi nghe tin ông qua đời, những người quen thuộc với ông đã ngạc nhiên biết bao. Trong đó dĩ nhiên bao gồm cả tôi.

Ông không phải chết vì tai bay vạ gió.

Cũng không phải chết vì loại virus cướp mạng nào đó ẩn nấp lâu ngày trong cơ thể ông.

Mà là — chết vì một cuộc họp.

Chính xác mà nói, là chết vì một bài phát biểu. Một bài phát biểu của chính ông. Bài phát biểu cuối cùng trong cuộc đời ông.

Khi tôi từ miệng người khác, chắp vá thu được nguyên nhân cái chết của ông, tôi liền không còn kinh ngạc như lúc ban đầu nữa. Xưa nay nhân sinh ai mà không chết chứ? Đối với một cụ già bảy mươi ba tuổi, chết thế nào mà chẳng giống nhau cơ chứ? Tôi thậm chí còn cảm thấy, chết vì một bài phát biểu của chính mình, ngược lại còn là chuyện may mắn hơn so với chết vì tai họa hay bệnh hiểm nghèo. Phải không nào? Chết vì tai họa, khó tránh khỏi việc chết trong cảnh da rách thịt rơi, đứt chân văng máu. Chết vì bệnh hiểm nghèo, lại thường khiến cho chuyện chết chóc này kéo dài đằng đẵng. Cho đến khi bản thân bị hành hạ không ra hình người là một chuyện, ắt cũng sẽ kéo theo người thân con cháu thể xác lẫn tinh thần suy kiệt, cuối cùng thầm cầu mong bản thân sớm buông xuôi hơi thở, cầu sự giải thoát cho tất cả. Hai kiểu chết trên, kiểu thứ nhất không bình thường, hơn nữa thường để lại những vụ kiện trách nhiệm cho người thân con cháu. Kiểu thứ hai quá bị động, ép người ta phải chấp nhận cái hiện thực duy nhất, hơn nữa thường đánh mất phẩm giá tối thiểu của con người. So sánh mà nói, chết vì bài phát biểu cuối cùng trong đời mình, suy cho cùng, vẫn coi như chết sạch sẽ. Dường như, nó thích hợp hơn với cách chết của một trí thức. Mặc dù, bài phát biểu đó đã khiến ông lại rước lấy muôn vàn phiền não cùng phẫn uất, và khiến cho đầu óc ông bị xuất huyết diện rộng. Nhưng chút máu đó, rốt cuộc lại không chảy ra ngoài da đầu, mà chỉ ứ lại trong hộp sọ. Cả không khiến bản thân hoảng loạn, cũng chẳng dọa sợ người khác.

Vì tôi là bạn vong niên của ông, nên đối với tình hình đại khái cả đời ông, tôi có sự thấu hiểu nhất định. Chính vì có sự thấu hiểu, đối với cái chết của ông, tôi dần dần từ kinh ngạc chuyển thành cho rằng đó là số mệnh đã định. Đã đành cả cuộc đời ông đều bị chi phối bởi những chuyện phát biểu kiểu này, thì chết vì bài phát biểu cuối cùng, không chỉ phù hợp với đại khái niệm "đặc sắc Trung Quốc", mà cũng có thể xem là trước sau như một nhỉ? Mặc dù chưa chắc đã đúng chỗ.

Thầy Ôn nguyên quán Sơn Đông, sinh ra ở miền Bắc, theo học ở miền Nam. Tốt nghiệp đại học năm 1952, chuyên ngành là xã hội học. Thời sinh viên, ông đinh ninh rằng xã hội học là con mắt của đất nước, có thể thay đất nước nhìn thấy những gì chưa từng thấy, tiến tới nghĩ những gì chưa từng nghĩ, từ đó viết sách lập ngôn, bàn luận trôi chảy về lý niệm trị quốc, thực hiện hoài bão phục vụ đất nước.

Bởi vì có dự định nhân sinh đơn thuần như vậy, cho nên ông cơ bản là một sinh viên "an phận" lúc bấy giờ. Nói cách khác, hoặc không chủ động tiếp cận với các tổ chức Đoàn thanh niên cộng sản Trung Quốc, Đảng Cộng sản Trung Quốc ngầm trong khuôn viên đại học, hoặc không bị những tổ chức như "Tam thanh đoàn" trong khuôn viên đại học nhắm đến lôi kéo. Bởi vì ông quá an phận, quá "lấy việc học làm đầu", cho nên trong mắt các đảng viên và đoàn viên đảng cộng sản ngầm trong khuôn viên đại học, ông là một sinh viên thiếu nhiệt tình chính trị, tư tưởng gần như cổ hũ. Việc lôi kéo thành công ông là không mấy dễ dàng. Việc phơi bày thân phận chính trị với ông là hoàn toàn không đáng. Còn những tổ chức như "Tam thanh đoàn", dựa trên cái nhìn tương tự về ông, cũng vô cùng khinh miệt không thèm đoái hoài đến ông. Kỳ thực, đối với Đảng Cộng sản và Quốc Dân Đảng, ông không phải là một thanh niên hoàn toàn không có lập trường. Chỉ là lập trường của ông hình thành ở trong lòng, không biết nên bày tỏ bằng cách nào và với những ai cho thỏa đáng. Trong khuôn viên đại học lúc bấy giờ, ông không chỉ là một sinh viên quá an phận, mà còn tỏ ra vô cùng tách biệt với tập thể, đi lại độc lập. Thế nhưng, sự hủ bại suy đồi nay mai không giữ nổi của chính quyền Tưởng Giới Thạch, cục diện dưới đòn đả kích nặng nề của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc mà đã cạn kiệt mưu kế, bại lui từng bước, tan tác như bèo, dẫu sao cũng rành rành đập vào mắt ông. Tin chiến thắng truyền về dồn dập của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, dẫu sao cũng từng hồi chuông kích động mạnh mẽ trong trái tim trẻ tuổi của ông. Đó là niềm vui sướng chân thực mà một thanh niên đang tri thức hóa dành cho ánh sáng hy vọng hiển hiện trên bầu trời đất nước đau thương của mình. Thế nhưng người thanh niên này vẫn như mọi khi tách biệt với tập thể; vẫn như mọi khi đi lại độc lập; vẫn như mọi khi hướng nội; vẫn như mọi khi trầm ngâm ít nói; vẫn như mọi khi vùi đầu nghiên cứu các tác phẩm xã hội học Trung Quốc và nước ngoài; vẫn như mọi khi không được các đoàn viên và đảng viên đảng cộng sản ngầm trong khuôn viên đại học thấu hiểu, cũng không lọt vào mắt xanh của các tổ chức như "Tam thanh đoàn" của Quốc Dân Đảng. Sự kích động và vui sướng không lộ vẻ ra ngoài của ông, cũng chỉ hóa thành từng dòng thơ nhỏ trong nhật ký vào lúc đêm khuya thanh vắng mà thôi...

Ông tin rằng các nhà xã hội học có thể đóng vai trò là con mắt của đất nước, tin rằng tín điều xã hội học có thể ảnh hưởng đến lý niệm trị quốc của chính phủ, chưa từng mảy may thay đổi. Chính phủ của Quốc Dân Đảng không xong nữa rồi, chính phủ của Đảng Cộng sản chẳng phải sắp ra đời rồi sao? Chỉ cần một đất nước có chính phủ tồn tại, bất kể chính phủ đó tốt hay xấu, xã hội học suy cho cùng vẫn sẽ có ích đối với nó chứ. Nó xấu, xã hội học có thể khiến nó trở nên tốt hơn một chút. Nó tốt, xã hội học chắc chắn sẽ khiến nó tốt hơn nữa. Xã hội học có ích cho nó, chẳng phải cũng đồng nghĩa với việc có ích cho nhân dân hay sao? Ông đinh ninh rằng chính phủ tương lai là một chính phủ tốt.

Phải, đây chính là suy nghĩ thực sự của ông lúc bấy giờ.

Phải, người thanh niên này đối với xã hội học mà mình đã lựa chọn và sẵn sàng hiến dâng cả đời, cũng giống như mọi nghệ sĩ say mê đối với nghệ thuật mà mình theo đuổi, mảy may không hoài nghi về ý nghĩa của nó.

Ông cứ mang theo tâm trạng như thế, đón chào sự kiện lớn trong lịch sử Trung Quốc "triệu hùng binh vượt Đại Giang". Thế rồi Đảng Cộng sản tiếp theo đó trở thành chủ nhân của Trung Quốc. Dĩ nhiên, đồng thời cũng trở thành chủ nhân của trường đại học nơi ông theo học. Chỉ sau một đêm, diện mạo tinh thần của trường đại học đó hoàn toàn thay đổi. Cuộc vui chơi cuồng nhiệt nhất của giai cấp vô sản chính là việc tuyên bố sự khởi đầu của một thời đại mới. Các đoàn viên, đảng viên ngầm và các tổ chức ở mọi cấp của Đảng Cộng sản Trung Quốc do đó mà công khai toàn diện triệt để. Sự kích động và vui sướng hội tụ thành sự phấn khích cuồn cuộn, các hoạt động liên hoan hoạt động khánh thành nối tiếp nhau diễn ra trong khuôn viên trường, cao trào này nối tiếp cao trào khác. Cậu sinh viên năm hai ngày thường vùi đầu nghiên cứu xã hội học, vô cùng kinh ngạc phát hiện ra rằng, một số vị tiên sinh dường như chưa từng hỏi đến chuyện chính trị, hóa ra lại là những người lãnh đạo có thân phận rất cao trong tổ chức đảng ngầm của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Một số bạn học an phận ngày hôm qua dường như cũng giống như mình "hai tai không nghe chuyện ngoài cửa sổ, một lòng chỉ đọc sách thánh hiền", hóa ra lại là những đoàn viên, đảng viên ngầm xuất sắc của Đảng Cộng sản. Mà những hoạt động cách mạng xuất sắc mà họ lâu nay tiến hành ngầm để nghênh đón sự kiện lớn giải phóng toàn Trung Quốc, một khi đã trở thành đề tài bàn tán công khai, liền khiến ông vô cùng khâm phục. Đồng thời, cũng khiến ông vô cùng hổ thẹn.

Trong một buổi tọa đàm trò chuyện thoải mái về tâm trạng và cảm nghĩ ngày giải phóng, Ôn trẻ tuổi đã có bài phát biểu đầu tiên trong đời. Buổi họp do các đoàn viên và đảng viên ngầm trước kia phát động và chủ trì. Những người tranh nhau phát biểu lại hầu như toàn bộ là các thầy cô và học sinh từng xa lánh chính trị trước kia. Trong số những người trước rất ít người phát biểu. Họ chẳng qua chỉ lắng nghe hoặc ghi chép. Bởi vì họ vốn dĩ không cần thông qua phát biểu để bày tỏ lập trường của mình. Vì điều này đã sớm được chứng minh và kiểm chứng trong các cuộc đấu tranh ngầm của họ. Đó càng là cơ hội bày tỏ thái độ công khai dành cho nhóm người sau. Nhóm người sau đã nhận thức được điều đó. Bài phát biểu của nhóm người sau vô cùng sôi nổi. Việc họ chưa từng đóng góp gì cho sự ra đời của thời đại mới ở Trung Quốc, đã trở thành một sự thật không cần bàn cãi. Cho nên họ đều nỗ lực thông qua cơ hội phát biểu, để bày tỏ rằng tấm lòng của mình từ rất rất sớm đã giống như tình yêu thầm kín mà hướng về Đảng Cộng sản Trung Quốc một cách say đắm. Mà đây là một chuyện ngoài việc chứa chan nước mắt ngập tràn hốc mắt, ngoài đôi môi run rẩy, ngoài những lời lẽ bùng cháy và khẩu hiệu mang đầy màu sắc tình cảm ra, rốt cuộc vẫn cần thêm những điều khác, dẫu chỉ là một chút sự thật chứng minh. Thế là mỗi người trong số họ, hầu như đều tại chỗ "cung cấp" sự thật chứng minh. Mặc dù không có bất kỳ ai yêu cầu hoặc ám chỉ họ nên làm như vậy, nhưng bản thân họ tự có yêu cầu đó với chính mình, tự sinh ra sự ám chỉ tâm lý ấy với bản thân. Trong số họ có người trưng ra một tấm vải đỏ, nói rằng đã chuẩn bị từ những ngày tháng khủng bố trắng, mục đích là để làm ngay một lá cờ đỏ chào mừng vào đúng ngày quân giải phóng tiến vào thành phố rồi giương cao ra ngoài. Nào ngờ quân giải phóng lại tiến vào thành phố ngay trong đêm chứ? Có người lật giở nhật ký của mình cất cao giọng đọc to, nói rằng những đoạn lời lẽ còn cộng sản hơn cả chủ nghĩa Mác, còn đảng viên hơn cả đảng viên cộng sản ấy, là do bản thân viết ra trong những ngày tháng lo âu nhất cho vận mệnh đất nước. Nói rằng lúc ấy bản thân khao khát được hòa vào lòng đảng cộng sản biết bao, thế nhưng trên trán các đoàn viên đảng ngầm trong trường lại không dán thông báo, đi lướt qua nhau mười lần một ngày cũng chẳng thể nhận ra. Thế là khiến cho những người lắng nghe phải nghiền ngẫm ra ý vị nuối tiếc vì bỏ lỡ cơ hội. Cũng có người dạt dào cảm xúc ngâm nga những câu thơ đỏ viết trong nhật ký của mình. Những câu thơ như vậy vào những thời kỳ khủng bố trắng một khi bị điều tra ra là do ai viết, nhẹ thì vào tù ngồi gông, nặng thì mất đầu. Các đoàn viên đảng ngầm của Đảng Cộng sản trước kia trái lại tuyệt đối không viết những câu thơ như thế trong nhật ký của mình, bởi vì điều đó bị kỷ luật nghiêm minh của công tác đảng ngầm nghiêm cấm. Còn nhóm người sau lại thề non hẹn biển tuyên bố rằng, sở dĩ dám viết những câu thơ như thế trong nhật ký, là vì đã chuẩn bị sẵn sàng tư tưởng "chặt đầu không sao cả, miễn là chân lý đúng"...

Công bằng mà nói, đại đa số bài phát biểu của những người phát biểu đều bắt nguồn từ tình cảm chân thành. Nhưng quả thực có bài phát biểu của người ta, là dựa trên sự cân nhắc xem xét thời thế. Dùng cách nói hiện nay, không thiếu yếu tố làm màu. Những lời lẽ trong nhật ký và những câu thơ đỏ của họ, rốt cuộc có thực sự được viết trong những ngày tháng khủng bố trắng hay không, rất đáng để hoài nghi. Có lẽ chỉ là lén lút chèn viết vào các trang trống dòng trống của nhật ký vào ngay trước ngày phát biểu mà thôi...

Trong "thời kỳ điểm uốn" của bước ngoặt lịch sử "sấm sét ngàn cân mở ra càn khôn mới", "gió đông muôn dặm quét sạch mây mù", tâm thái muôn hình vạn trạng của đủ loại người, đều tự nhiên đến thế, đường hoàng đến thế, có thể hiểu được đến thế. Thậm chí, ít nhiều khiến người ta sinh lòng thương cảm. Bởi vì, rõ ràng là, nhất là động tác làm màu của những kẻ làm màu đó, không thiếu những yếu tố tự bảo vệ bản thân đầy nơm nớp lo sợ. Họ trước kia quá thờ ơ với chính trị, quá không quan tâm đến cách mạng Trung Quốc, mà sự kiện lớn thu hút toàn thế giới chú ý "giải phóng" này, đã khiến họ trở nên mất trọng tâm chưa từng có trong "thời kỳ điểm uốn" của bước ngoặt lịch sử... Họ nôn nóng vụ lợi mưu đồ chỉ thông qua vài lần bày tỏ thái độ, để xác định mối quan hệ thân thiết giữa mình và chính quyền mới...

Ôn là người phát biểu cuối cùng.

Khi người chủ trì buổi họp hỏi: "Còn vị nào phát biểu nữa không?"

Lúc ấy, chỉ còn một mình Ôn là chưa phát biểu. Người chủ trì chẳng qua tiện miệng hỏi một câu. Giống như mọi người chủ trì theo lệ đều phải hỏi một câu như vậy. Thế nhưng lọt vào tai Ôn, lại tựa như đang nhắm vào mình mà hỏi. Mặc dù ánh mắt người chủ trì không nhìn về phía ông. Thực ra người chủ trì cho đến lúc đó vẫn chưa hề chú ý đến sự tồn tại của một người như ông. Dù ông không phát biểu, người chủ trì cũng sẽ cho rằng tất cả đều đã phát biểu rồi...

Thế nhưng Ôn do dự đứng dậy. Thế là ánh mắt của tất cả mọi người đều tập trung vào người ông.

Giống như tất cả những người đã phát biểu, Ôn vốn dĩ cũng có sự chuẩn bị mà đến. Cũng rất cần một cơ hội, công khai bày tỏ thái độ tôn sùng của mình đối với chính quyền mới đối với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Hơn nữa, thái độ loại đó của ông, chính xác mà nói lập trường loại đó của ông là phát xuất từ nội tâm. Nghe từng bài phát biểu của những người lên tiếng, ông lại không muốn phát biểu nữa. Bởi vì trong quá trình lắng nghe, trong đầu ông đã hình thành một suy nghĩ khác. Mà nghe xong lời của người chủ trì, ông lại cảm thấy không phát biểu thì không ổn, cũng không hay. Ngay cả cơ hội bày tỏ công khai thái độ và lập trường mà cũng không bày tỏ, thì bản thân rốt cuộc đến đây để làm gì? Chẳng phải còn tỏ thái độ mập mờ hơn cả việc không tham gia họp hay sao?

Người chủ trì nhìn ra sự do dự trong lòng ông,èn động viên: "Những người có mặt đều là bạn của đảng cộng sản, là người ủng hộ chính quyền mới. Việc xây dựng xã hội chủ nghĩa vĩ đại, chính quyền mới sau này vẫn còn phải trông cậy vào sự hỗ trợ đủ điều của các vị. Đừng có điều gì phải cố kỵ, vẫn là giao lưu chia sẻ cảm nghĩ thay đổi non sông với mọi người đi!"

Thế là Ôn không còn do dự nữa.

Ông dùng giọng điệu đều đều, chậm rãi đặc trưng của mình mà nói rằng, ông cũng mang theo một cuốn sổ nhật ký, trong sổ nhật ký cũng có viết vài vò thơ ngóng trông chiến thắng toàn quốc của quân giải phóng, nguyền rủa vương triều họ Tưởng mau chóng diệt vong, cũng có ý định ngâm tụng trước mặt mọi người một phen...

"Nhưng mà..."

Ông giơ cuốn nhật ký trong tay lên, từ từ xé làm hai phần.

Khoảnh khắc đó, sự kinh ngạc của tất cả mọi người là có thể tưởng tượng được.

Bầu không khí trong chốc lát trở nên vô cùng nặng nề. Thậm chí, lập tức trở nên có chút căng thẳng. Biểu cảm của các đảng viên Đảng Cộng sản có mặt, trong tích tắc đều hiện lên vẻ nghiêm nghị trước một trận đại chiến không thể tránh khỏi.

Ông tiếp tục nói, bản thân thực tế là một người theo chủ nghĩa "cứu quốc bằng cải cách". Đối tượng cải cách, tự nhiên là chính quyền của Quốc Dân Đảng. Sách lược cải cách mà bản thân cho là đúng, tự nhiên là xã hội học. Từ đó, đủ thấy sự non nớt và nông cạn về mặt chính trị của bản thân trước kia. Mà sự thật sự ra đời của Trung Quốc mới đã giáo dục ông, khiến ông cuối cùng cũng bắt đầu hiểu ra — chỉ có cuộc cách mạng bạo lực do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo, mới có thể lật đổ sự thống trị của vương triều họ Tưởng, mới có thể cứu Trung Quốc. Từ giây phút này trở đi, ông sẽ làm một kẻ theo đuổi tâm phục khẩu phục, kiên định son sắt đối với sự nghiệp vĩ đại của Đảng Cộng sản Trung Quốc...

Ông nói, Đảng Cộng sản Trung Quốc vì sự thành công của sự nghiệp mình, đã hy sinh hàng hà sa số những người xuất sắc. Khí tiết cao cả mà họ thể hiện khi đối mặt với lưỡi dao và nòng súng quả thực kinh thiên động địa, mang tính chất thi ca. Còn bản thân mình, ban ngày thì khôn ngoan né tránh lưới khủng bố trắng trong khuôn viên trường, mang nặng chủ nghĩa cá nhân vùi đầu đọc sách, nhằm mưu cầu việc thành danh thành gia sau này; chẳng qua chỉ là ban đêm trở về ký túc xá, cài then cửa, kéo rèm cửa lại, mới viết vài dòng thơ đỏ trong nhật ký, hơn nữa còn cảm thấy cất giấu nhật ký ở đâu cũng không đủ an toàn... Đã thế, những câu thơ như vậy, cho dù hôm nay nhìn có đỏ bao nhiêu, cách mạng bao nhiêu, đọc lên thì có ý nghĩa gì chứ? Lại có thể cảm động được mấy phần cơ chứ? Cho nên ông đã thay đổi suy nghĩ, quyết định không đọc nữa, quyết định xé nát nhật ký trước mặt mọi người...

Ông nói, cứ nghĩ đến những thanh niên cách mạng đã hy sinh xương máu vì sự ra đời của Trung Quốc mới, những chí sĩ anh dũng không sợ chết, coi cái chết tựa như không của Đảng Cộng sản Trung Quốc, trong niềm vui sướng lớn lao của toàn thể nhân dân sau khi nước Trung Quốc mới thành lập, sự kính trọng của bản thân lại càng khó lòng diễn tả, sự hổ thẹn của bản thân lại càng khó lòng hình dung...

"Tôi nghĩ, cùng là thanh niên Trung Quốc, tôi kỳ thực là kẻ đáng xấu hổ nhất khi nhắc đến hai chữ 'cách mạng'. Đối với sự kiện lớn máu chảy thành sông, lớp người trước ngã xuống lớp người sau tiến lên mang tên 'cách mạng' này, tôi chưa từng làm được gì cả. Các bậc cha chú phụ lão miền Bắc Trung Quốc, còn tình nguyện tiễn đưa người thân cuối cùng ra tiền tuyến, dâng hiến vốc gạo cuối cùng bằng cả hai tay cho tiền tuyến, còn tôi thì sao? Tôi kỳ thực ngay cả việc cùng chia sẻ niềm vui giải phóng toàn quốc với nhân dân cũng không xứng đáng nữa là!..."

Thế là ông từ từ quay người lại, cung kính cúi đầu ba lần trước bức di ảnh của Mác, Ân, Lênin, Staline, Mao treo trên tường.

Bài phát biểu của ông, trước tiên đã giành được tràng pháo tay nhiệt liệt vô cùng từ các đoàn viên và đảng viên.

Người chủ trì buổi họp không kìm được bản thân rời khỏi chỗ ngồi, sải bước tiến đến trước mặt ông, ôm chặt lấy ông mà nói: "Ấy chà, ấy chà..."

Người chủ trì trong chốc lát vậy mà không tìm được từ ngữ thích hợp để đánh giá bài phát biểu của ông — ông — kẻ phát biểu sau cùng này, phát biểu thực sự quá xuất sắc.

Hốc mắt người chủ trì đẫm lệ vì cảm động.

Bản thân ông cũng đẫm lệ đầy hốc mắt.

Đó là những giọt nước mắt chân thành một trăm phần trăm.

Thế nhưng sau đó, không ít bạn học và thầy giáo bắt đầu xa lánh Ôn. Có lẽ, thẳm sâu trong đáy lòng họ, vẫn ít nhiều sinh lòng khinh miệt Ôn. Họ đều là những người từng mang theo sổ nhật ký tham gia buổi tọa đàm hôm đó, và là những người từng ngâm đọc những lời lẽ đỏ trong nhật ký hoặc ngâm nga những bài thơ đỏ nhỏ trong nhật ký.

Giá như Ôn không xé nát nhật ký của mình trước mặt mọi người thì tốt biết mấy.

Giá như bài phát biểu của Ôn có sự đồng điệu với bài phát biểu của họ thì tốt biết mấy.

Thế nhưng Ôn lại xé nát nhật ký của mình trước mặt mọi người. Cách làm này khiến ông tạo ra sự đối lập rõ rệt với người khác; khiến người khác cảm thấy cách làm của ông là sự sỉ nhục có chủ tâm đối với người khác, mục đích là để gói ghém bản thân trở nên chân thành hơn người khác.

Thế nhưng Ôn lại đưa ra bài phát biểu hoàn toàn không đồng điệu với người khác. Hơn nữa, dùng cách nói ngày nay mà nói — đưa ra bài phát biểu kích động nhất, thế là đem ra so sánh khiến bài phát biểu của người khác hoàn toàn thiếu sự kiểm điểm, do đó dường như càng kích động lại càng lộ vẻ khoa trương.

Trong mắt người khác, bài phát biểu của Ôn là giả tạo nhất, là biểu diễn nhất, cho nên là đạo đức giả nhất.

Sự chân thành ở vùng đất cổ xưa mang tên Trung Quốc này, là thứ thường xuyên nhất bị hiểu lầm tiến tới xuyên tạc. Từ hơn một nghìn năm trước khi người phương Tây phát hiện ra hiện tượng "tiềm thức" từ các hoạt động ý thức của con người, trong "Kinh Thi" của Trung Quốc đã có câu "Người ta có lòng, ta lường tính nó". Sau đó trong "Tam Quốc Chí" lại càng có danh ngôn "Biết người khéo xét, khó đánh lừa bằng giả dối". Dưới sự giáo huấn của nền văn hóa Trung Quốc xa xưa, kinh nghiệm "đo lường" người khác của người Trung Quốc là vô cùng phong phú. Có thể nói thẳng ra là cấu thành nên nguyên tố đặc biệt trong gen chủng tộc của người Trung Quốc.

Ôn hoàn toàn không hay biết, không cảm nhận được người khác đang "đo lường" mình như thế nào. Bởi vì bản thân ông, là một người ít có thói quen và kinh nghiệm "đo lường" người khác. Huống chi, những kẻ xem bài phát biểu của ông là giả tạo, là biểu diễn, xem ông là kẻ đạo đức giả, đều mang chiếc mặt nạ giả dối giao du thân thiết với ông trong đời sống học đường sau này, đem cái tâm "đo lường" ông bọc lại vô cùng kín kẽ.

Ôn lại cắm đầu lao vào thế giới xã hội học của mình. Theo suy nghĩ của ông, đã biêt chính phủ hủ bại đã được thay thế bằng một chính phủ mới mẻ tốt đẹp, vậy thì xã hội học mà ông theo đuổi, chẳng phải càng hữu dụng hơn sao?

Nửa thế kỷ sau, vào một ngày nọ, khi thầy Ôn kể cho tôi nghe về bài phát biểu đầu tiên trong đời thời trẻ tuổi ấy, ngay cả tôi nghe xong cũng không kìm được mà giống như người khác "đo lường" ông, nhịn không được mà hỏi rằng: "Bài phát biểu lúc đó của ông có yếu tố biểu diễn thậm chí là tranh thủ sự sủng ái trong đó không?"

Ông bị hỏi đến mức ngẩn người.

Tôi liền tiếp lời: "Ý tôi là trong tiềm thức của ông."

Ông lắc đầu nói: "Tôi không biết. Tôi không rõ. Năm đó tôi mới hai hai tuổi, đúng là cái độ tuổi thanh niên thích thể hiện. Đã thích thể hiện thì không tránh khỏi việc nhân cơ hội biểu diễn trước đám đông một phen. Theo cách nói hiện nay, nếu tôi quả thực đang biểu diễn, thì phải gọi là biểu diễn cái gì?"

Tôi nói: "Biểu diễn sự chân thành."

Ông trầm mặc giây lát, cười khổ nói: "Nhưng lúc đó tôi rất chân thành. Chân thành chính là chân thành, tôi có lý do gì phải biểu diễn nó chứ?"

Tôi nói: "Tiềm thức không thể giải thích bằng việc có hay không có lý do. Tiềm thức có thể khiến con người ta bị chi phối đến mức không kìm chế nổi trong tình trạng bản thân mù mịt không rõ."

Ông trân trân nhìn tôi một lúc lâu, giận dữ nói: "Mẹ kiếp cái tiềm thức! Nếu nhìn người mà chuyên đi phân tích đến tầng tiềm thức, vậy trên thế giới này còn mấy kẻ dám ngẩng cao đầu sống đàng hoàng nữa? Bất kể lúc đó người khác nhìn tôi thế nào, dù sao tôi cho rằng bài phát biểu của mình là ruột gan trong trẻo, quang minh lỗi lạc!"

Thấy ông nổi giận thật sự, tôi chỉ đành cười trừ...

Mặc dù, bài phát biểu năm xưa của ông đã khơi mào cho một số kẻ "đo lường" ông, nhưng dẫu sao cũng khơi mào được cảm tình của một số người khác. Nhóm người khác đó, chính là những người đại diện cho chính quyền mới tiếp quản trường đại học đó.

Họ hầu như đồng thuận cho rằng ông rất chân thành. Hơn nữa cho rằng ông là một con người mà họ vô cùng cần đến.

Thế là họ đặc biệt mở họp nghiên cứu về ông.

Trong cuộc họp có người cung cấp tình hình mới nhất về ông, nói rằng gần đây ông từng để lộ ý định khao khát gia nhập đảng với một giáo viên đảng viên.

Trải qua nghiên cứu, mọi người thống nhất cho rằng vẫn không nên kết nạp ông vào đảng thì hơn. Thống nhất cho rằng thân phận sau này của ông nên là thành viên đảng phái dân chủ. Một sinh viên vốn dĩ rất thờ ơ với cách mạng trước khi nước Trung Quốc mới thành lập, chính là một sinh viên như thế, sau khi nước Trung Quốc mới thành lập lại tôn sùng sự cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc đến mức sát đất — chính quyền mới vô cùng cần những điển hình như vậy ở các trường đại học. Xây dựng nên một điển hình như vậy, có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với việc ảnh hưởng đến người khác, đối với việc chính quyền mới chiếm lĩnh trận địa kiến trúc thượng tầng đại học về mặt tư tưởng ý thức hệ. Nếu ông thực sự gia nhập đảng, tác dụng ngược lại sẽ bị suy giảm. Còn ông không được kết nạp làm đảng viên, ngược lại gia nhập đảng phái dân chủ, tác dụng điển hình mới lớn, mới lâu dài.

Thế là ông trở thành một thành viên của đảng phái dân chủ.

Thế là quỹ đạo nhân sinh sau đó của ông, bắt đầu được đưa vào sự thiết kế sẵn của người khác dành cho ông.

Đương nhiên, đây là điều ông không hề hay biết.

Tôi từng hỏi ông sao năm xưa không gia nhập Đảng Cộng sản, mà lại gia nhập đảng phái dân chủ?

Ông nói, lúc đầu ông cũng không phải hoàn toàn tự nguyện. Đảng Cộng sản đã trở thành đảng cầm quyền, thanh niên trí thức từ đáy lòng tôn sùng Đảng Cộng sản, có mấy ai là không muốn gia nhập Đảng Cộng sản chứ? Thế nhưng những người thuộc đảng phái dân chủ tìm gặp ông nói chuyện lại bảo, kỳ thực cũng là đại diện cho Đảng Cộng sản để động viên ông. Nói là tổ chức đảng phái dân chủ trong các trường đại học rất mỏng manh, đảng hy vọng trong các trường đại học có một tỷ lệ nhất định nhân sĩ đảng phái dân chủ. Nói một người đã gia nhập đảng phái dân chủ, sau này vẫn có thể xuyên tổ chức gia nhập Đảng Cộng sản mà...

Thế là ông mang đầy lòng thành kính tuân mệnh, trở thành một nhân sĩ đảng phái dân chủ trẻ tuổi nhất trong trường đại học.

Thế là, sau đó ông thường xuyên được thông báo, đôi khi là bị yêu cầu, bị chỉ thị tham gia các loại hội họp mang đủ thứ danh nghĩa. Đất nước xã hội học nhiều, thời kỳ đầu mới thành lập Trung Quốc mới lại càng như vậy.

Mục đích của những kẻ thiết kế nhân sinh cho ông, cũng nằm ở việc rèn luyện ông, bồi dưỡng ông. Đương nhiên, hoàn toàn nhào nặn ông theo ý nguyện của họ. Tâm huyết dạt dào của họ, cũng bắt nguồn từ một thứ lòng trung thành. Lòng trung thành đối với sự nghiệp vĩ đại muôn đời muôn thuở của chính quyền mới.

Ông là trọng điểm công tác của họ.

Giống như việc họ trung thành cho rằng bản thân là một bộ phận cực kỳ quan trọng của chính quyền mới. Thế là dần dần, ông rời xa xã hội học của mình, đến rất gần rất gần với chính trị. Đôi khi ông cũng không tránh khỏi vì thế mà sinh ra phiền muộn. Đó không phải là một nỗi phiền muộn thuần túy, mà là một nỗi phiền muộn pha lẫn cảm giác tốt đẹp vì được coi trọng thậm chí được sủng ái. Nhưng những người chịu trách nhiệm bồi dưỡng ông đã khải thị ông — cái gọi là xã hội học ấy, trong học thuyết của chủ nghĩa Mác, kỳ thực chính là việc tiến hành điều tra nghiên cứu đối với xã hội. Bất kỳ một đảng viên Đảng Cộng sản nào, kinh nghiệm về mặt này đều phong phú hơn ông rất nhiều. Chi bằng tạm thời để những người có nhiều kinh nghiệm hơn làm, chắc chắn sẽ làm tốt hơn ông. Tác dụng hiện tại của ông, chính là dùng phương thức phát biểu độc đáo, vô cùng chân thành đó của mình, thông qua việc họp hành để giáo dục người khác, ảnh hưởng người khác, nâng cao giác ngộ chính trị của người khác, khơi dậy đủ loại nhiệt tình tham gia chính trị của người khác. Còn về xã hội học của ông, đường dài còn lắm thời gian mà!

Thế là nỗi phiền muộn vốn không hề thuần túy đó của ông tan thành mây khói.

Dần dần, ông dường như đã trở thành một ngôi sao. Một ngôi sao phát biểu nổi tiếng với tài phát biểu giỏi, nổi danh trong trường và cũng nổi danh ở rất nhiều trường đại học khác.

Dần dần, trong những bài phát biểu của ông đã có sự làm màu rõ rệt và — biểu diễn.

Ông có ý thức sứ mệnh. Ông cho rằng mỗi lần phát biểu của mình chính là sự hoàn thành một sứ mệnh. Cho nên mang ý nghĩa vô cùng to lớn. Cho nên cần phải hoàn thành cho thật tốt. Cho nên, việc thêm vào các yếu tố biểu diễn cũng là điều không có gì đáng trách.

Ông không còn vùi đầu nghiên cứu xã hội học nữa. Hứng thú của ông đã chuyển dời sang tất cả những cuốn sách liên quan đến diễn thuyết. Tuyển tập diễn thuyết của các nhân vật nổi tiếng trong và ngoài nước là vật gối đầu giường của ông. Mayakovsky trở thành nhà thơ mà ông yêu thích nhất. Ông có thể kết hợp những câu thơ mang nhịp điệu dồn dập, khí thế áp đảo, mạnh mẽ vang dội dễ đọc dễ thuộc của nhà thơ ấy vào mỗi lần phát biểu của mình một cách hoàn hảo không một kẽ hở, rồng mây hội tụ, tôn lẫn nhau lên.

Những người bồi dưỡng ông đối với bài phát biểu của ông — không, sự thay đổi phong cách diễn thuyết, rõ ràng là công nhận. Bởi vì họ chưa từng chỉ ra điều đó có gì không thỏa đáng. Trái lại, họ dùng giọng điệu khích lệ để khen ngợi ông, nói rằng bài phát biểu của ông ngày càng mang sức hút phong phú. Phải, bài phát biểu của ông, từ lâu đã không còn là bài phát biểu của một người theo nghĩa thông thường nữa, mà là những màn diễn thuyết chính cống hết lần này đến lần khác. Thời đại vô cùng cần những bài phát biểu của ông. Ông đã cảm nhận được điều đó. Ông dần dần hoàn thành xuất sắc vai trò của mình trong thời đại. Hơn nữa, vui vì nó mà không biết mệt mỏi; hơn nữa, cảm thấy vô cùng vinh dự.

Số lượng các cuộc họp mà ông tham gia suốt quanh năm, ngay cả những cán bộ lấy việc họp hành làm trọng trách năm xưa cũng phải chào thua.

Một cuộc họp nào đó, đặc biệt là cuộc họp liên quan đến công tác tư tưởng chính trị của thanh niên, nếu như bất ngờ không mời ông đến, thì quả thực chính là sự tiếc nuối tột cùng của ban tổ chức hội nghị.

Tên tuổi của ông bắt đầu xuất hiện tần suất cao trên báo chí. Những lời bàn luận của ông trong cuộc họp nào đó, những lời bàn luận đã được cân nhắc câu chữ trước đó, vậy mà bắt đầu được những thanh niên khác đang tích cực phấn đấu tiến bộ về mặt chính trị chép lại truyền tay nhau và trích dẫn trong bài phát biểu của chính họ, giống như trích dẫn danh ngôn của người nổi tiếng vậy.

Ngay cả những kẻ từng "đo lường" ông, cũng bắt đầu chấp nhận một sự thật rằng — ông nhờ một bài phát biểu khác biệt mà được coi trọng, tiến tới nhờ vô số bài phát biểu "mang phong cách họ Ôn" mà trở thành nhân vật hot, trở thành người nổi tiếng, tiền đồ vô lượng.

Thế là họ cũng chỉ đành nhìn nhận ông với tư cách là một người nổi tiếng. Ít nhất bề ngoài bày tỏ sự kính trọng. Thái độ thay đổi của những kẻ từng "đo lường" ông đối với ông, đặc biệt phù hợp với quy luật phổ biến như thế này — khi một người vô danh tiểu tốt, người khác phớt lờ anh ta; khi một người bắt đầu thể hiện sự khác biệt của mình và nhờ đó dường như gặp vận may, người khác ngầm ghét cay ghét đắng anh ta. Cho dù thứ anh ta dâng lên là sự chân thành, trong mắt người khác cũng là màn biểu diễn đạo đức giả; còn khi một người thực sự được khói hương tía rực rỡ tôn sùng mà trở thành một nhân vật nào đó, cho dù anh ta rõ mười mươi là đang biểu diễn đi chăng nữa, người khác ngược lại thu lại sự phản cảm, đối xử lễ độ với anh ta.

Hai năm sau, Ôn nhận được bằng tốt nghiệp đại học, đồng thời được trọng dụng giữ lại trường, và được bổ nhiệm làm Phó trưởng phòng Tuyên truyền trường đại học. Đối với một thanh niên vừa mới tốt nghiệp đại học ở tuổi hai hai, điều đó vào thời điểm bấy giờ đã là chức vụ đủ khiến thế hệ đồng trang lứa phải ngước nhìn.

"Năm xưa tôi quả thực thụ sủng nhược kinh. Tôi nằm mộng cũng không dám bước vào con đường làm quan đâu!"

Thầy Ôn trước khi qua đời, mỗi khi trò chuyện với tôi về chuyện năm xưa, vẻ biểu cảm đó, giọng điệu đó, vẫn giống như vừa tỉnh giấc Nam Kha, tựa như ngơ ngác không biết trần gian nay là năm tháng nào, cảm thán vô vàn. Thế nhưng dẫu sao ông cũng là một con người có bản tính bộc trực đáng yêu, cho nên luôn kèm theo việc mổ xẻ bản thân vô cùng không nương tay, thừa nhận năm xưa bản thân quả thực từng có lúc kiêu ngạo...

Chiếu theo tiêu chuẩn của Đảng Cộng sản Trung Quốc mà đánh giá, công bằng mà nói, Ôn là một cán bộ tuyên truyền vô cùng xứng chức trong trường đại học năm xưa. Nếu lại đánh giá từ góc độ mặt trận thống nhất mà xét, vậy thì ông thực sự có thể xem là một người ở ngoài đảng, nhưng lại tuân thủ nguyên tắc tính đảng hơn cả người ở trong đảng, trung thành với đảng hơn. Đảng thống nhất chiến tuyến ông, ông bắt đầu thay đảng thống nhất chiến tuyến người khác; đảng thiết kế nhân sinh cho ông, ông bắt đầu thay đảng thiết kế nhân sinh của người khác. Động cơ và nguyện vọng thống nhất chiến tuyến và thiết kế ông của đảng là tốt đẹp. Động cơ và nguyện vọng thay đảng thống nhất chiến tuyến người khác, thay người khác thiết kế nhân sinh của người khác của ông, cũng là tốt đẹp. Đảng khiến ông dần dần hiểu ra và vui vẻ chấp nhận loại lý niệm này — chỉ cần tôi nỗ lực làm công cụ cho đảng, đảng sẽ chịu trách nhiệm sắp xếp và lo liệu cả đời tôi. Sẽ còn đáng tin cậy hơn, chu đáo hơn, ít khúc chiết hơn và ngày càng tiến lên hơn so với sự sắp xếp và lo liệu nhân sinh của chính tôi đối với bản thân. Mà ông cũng dùng một cách thức đầy tính nghệ thuật để khiến người khác dần dần hiểu ra và vui vẻ chấp nhận loại lý niệm ấy...

Ông phong vận trẻ trung. Ông phấn chấn dạt dào. Ông có nhiệt huyết công tác rực lửa như lửa, sức mạnh kích động giống như quạt gió, cùng với uy quyền nói một câu làm một hành động ảnh hưởng đến cả một mảng lớn.

Tôi từng nhìn thấy giấy khen và bằng chứng nhận tuyên dương mà ông đạt được năm xưa. Ít hơn các giải thưởng sáng tác văn học mà tôi đạt được cho đến nay chẳng là bao.

Tôi hỏi ông sao lại bảo quản chúng?

Ông ngẫm nghĩ, vậy mà lại đáp lại tôi thế này:

"Con người ta rốt cuộc vẫn phải giữ lại cho mình chút gì đó chứ. Năm xưa ngoài những thứ này ra, tôi chẳng còn thứ gì đáng để giữ lại nữa."

Câu nói của ông khiến tôi ngẩn người.

Còn bản thân ông thì ra điều suy ngẫm, cũng mang nỗi niềm mất mát.

Tôi hỏi ông sao lại giữ được đến vậy?

Ông bảo banh ra, nhét từng tờ vào trong vỏ chăn. Để không bị chồng chéo, mỗi một tờ đều được cố định vị trí cẩn thận bằng băng dính. Để khiến chăn của mình và chăn của người khác trông giống nhau, không tỏ ra bất thường, lại dùng chỉ thô vạch ra khoảng cách các dòng, có thể thoải mái lật giở...

Ông còn nói, "Con người tôi, cuộc đời sắp đi đến hồi kết, ngay cả chút vật kỷ niệm tình yêu đáng để lưu giữ cũng không có."

Câu nói này khiến tôi xót xa thay cho ông.

Đúng vậy, ông đương nhiên là một kẻ ngay cả chút vật kỷ niệm tình yêu đáng lưu giữ cũng không có. Bởi vì ông đã đem cả tình yêu của mình giao trọn cho những con người bồi dưỡng ông gánh vác. Họ cũng quả thực rất có trách nhiệm với ông. Một cô gái đem lòng yêu ông và cũng được ông yêu, vì xuất thân không tốt, đã bị những người bồi dưỡng ông chém đinh chặt sắt phủ định tư cách làm vợ ông. Điều này khiến trái tim cô gái ấy vỡ thành nhiều mảnh, mang theo vết thương bay cao bay xa, thề vĩnh viễn không bao giờ quay lại thành phố đó nữa. Ông và một cô gái khác thực tế đã xảy ra quan hệ xác thịt, ông yêu cô ấy còn hơn cả cô gái thứ nhất. Thế nhưng cô gái đó không chỉ từng chịu sự giáo dục của trường dòng, mà còn là một tín đồ Công giáo thành kính, không chỉ mỗi ngày ba bữa làm cầu nguyện, mà còn hở ra là làm dấu thánh trước ngực, miệng lẩm bẩm rằng: "Chúa ơi..."

"Cô ấy thực sự rất xinh đẹp. Trên khuôn mặt có một vẻ đẹp thanh bình thánh thiện, giống như thiên thần, đứng trước mặt cô ấy tôi thường cảm thấy hồn xiêu phách lạc."

Ông từng nói những lời như vậy, khi hồi tưởng lại cuộc đời mình với tôi. Tôi không chỉ là bạn vong niên của ông, mà còn là người lắng nghe trung thành của ông.

Tôi hỏi vậy sao họ không thành đôi?

Ông bảo vì thế mà ông đã phải chịu một lời chỉ trích khá nghiêm khắc. Người chỉ trích đã phê phán ông quên mất bản thân không phải là một người bình thường, mà là một nhân vật điển hình tích cực tuyệt đối về mặt chính trị được chính quyền mới xây dựng nên. Một nhân vật như ông, sao có thể kết hôn thành vợ chồng với một nữ tín đồ Công giáo chứ?

Ông nói chính vì cô gái đó là tín đồ Công giáo, cho nên mới có thể thấu cảm tối đa những khó khăn của ông. Sau khi phá thai một lần, cô ấy cũng lặng lẽ biến mất khỏi bán kính cuộc sống của ông, bốc hơi không một dấu vết. Ông nói những người sau đó nhào nặn ông thành điển hình và tiếp tục "giám hộ" nhân sinh của ông, đã mai mối cho ông yêu đương với một nữ trưởng ban tuyên truyền của một trường đại học khác. Ban đầu ông không tài nào thông suốt, bởi vì đối phương cũng là con gái của nhà tư bản. Nhưng ông đã được thông báo một cách nghiêm túc rằng, đối phương từ sớm đã phản bội gia đình mình, từ sớm đã là đảng viên rồi. Có một người vợ là đảng viên, đối với ông mà nói là thích hợp nhất. Kỳ thực điểm chủ yếu khiến ông không mấy tự nguyện, lại là vì đối phương không xinh đẹp bằng hai cô gái trước mà ông từng lọt mắt xanh. Hơn nữa, đối phương hở ra là dùng góc độ chính trị để nhắc nhở giáo huấn ông trong cách yêu đương, cũng khiến ông cảm thấy chuyện yêu đương quấn quýt lãng mạn này, giữa họ trở nên nhạt nhẽo vô vị đến mức khó mà chịu đựng nổi. Thế là quan hệ giữa hai người cứ kéo dài ngập ngừng mập mờ đứt quãng, kéo dài mãi cho đến năm 1957, năm đó ông đã ba mươi tuổi...

Trong vận động "Phản hữu", ông tự tay chủ trì triệu tập nhiều đại hội vạch trần phê phán, lôi ra ánh sáng mấy tên "phần tử hữu phái". Thế nhưng cấp trên đối với thành tích công tác của ông không mấy hài lòng, cho rằng những "phần tử hữu phái" cần bị lôi ra hoàn toàn không chỉ có mấy tên đó, yêu cầu ông phát huy năng lực kích động xuất sắc của mình, tiến xa hơn trong việc "dụ rắn ra khỏi hang". Ông lĩnh hội, đó cũng chính là chỉ thị ông tự mình làm đầu đàn thổi bùng ngọn lửa.

Đêm hôm đó ông mất ngủ.

Ông từng nói với tôi rằng: "Năm xưa không phải tôi không nhìn thấy những sai lầm và vấn đề của Đảng Cộng sản, ví dụ như chủ nghĩa quan liêu, chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa sách vở, chủ nghĩa hình thức hoành hành. Bản thân tôi cũng thường xuyên chịu sâu sắc tai họa từ đó. Thế nhưng tôi nghĩ, một chính đảng hoàn toàn không có kinh nghiệm cầm quyền, gánh trên vai áp lực từ các thế lực phản động hình thành từ các phía, việc lãnh đạo xây dựng một nước Trung Quốc mới là chuyện dễ dàng sao? Cho nên trong mắt tôi, những kẻ bị đánh thành hữu phái không một ai oan uổng cả! Đương nhiên đều lấy danh nghĩa góp ý cho đảng để ngấm ngầm tấn công độc ác vào đảng..."

Tôi hỏi vậy thì ông đã góp ý cho đảng thế nào?

Ông bảo, ông đương nhiên đã góp ý một cách vô cùng nghiêm túc và gay gắt. "Dụ rắn ra khỏi hang" mà. Lại nói, nhưng cũng không thể góp loại ý kiến chọc thẳng vào chỗ đau chứ! Chẳng phải thành ra tung đòn chí mạng sao? Chẳng phải đồng nhất tính chất với "lời lẽ hữu phái" thật sự sao? Nói cho nên mới cần suy nghĩ cẩn thận, cân nhắc nhiều lần, thế nên mới mất ngủ.

Tôi hỏi năm xưa ông có cảm thấy sống không hề thoải mái nhẹ nhõm vì được bồi dưỡng không?

Ông bảo không có đâu. Ông bảo cảm giác được bồi dưỡng năm xưa khi ấy tuyệt vời lắm chứ. Tri thức trí thức là "một nhúm lông" mà! Tóm lại là phải bám vào một tấm da chứ! Năm xưa, ở Trung Quốc, một thanh niên trí thức, nếu có thể bám thật chặt vào tấm da của đảng cầm quyền, dù là nghĩ trong lòng hay trong mắt người khác, đều đồng nghĩa với việc giá trị nhân sinh có được sự thể hiện lớn nhất nha! Ông nói năm xưa đối với ông, mỗi một ngày đều vô cùng phong phú tràn đầy. Chưa từng có cái gọi là khoảng thời gian trống rỗng trong nội tâm. Lại càng không đi suy tư mấy cái vấn đề nhạt nhẽo tột cùng như "ý nghĩa nhân sinh rốt cuộc nằm ở đâu".

Tôi nói, vấn đề đó hoàn toàn không nhạt nhẽo tột cùng.

Ông khăng khăng cho rằng, vấn đề đó cho dù là hôm nay, thì vẫn nhạt nhẽo tột cùng. Khăng khăng cho rằng, trí thức Trung Quốc cho dù là hôm nay, thì vẫn là "một nhúm lông", vẫn phải bám vào một tấm da nào đó. Chỉ là có thêm vài tấm "da" để lựa chọn mà thôi. Ông nói bất kỳ ai, từ vĩ nhân đến thứ dân cho đến trí thức, suy cho cùng đều không thể không phải là "một nhúm lông", không thể không bám vào một tấm da nào đó. Đây là một thứ quy tắc sắt không phân biệt biên giới quốc gia. Ví dụ như Clinton bám vào tấm da chính trị Mỹ; Bill Gates bám vào tấm da công nghệ Mỹ đồng thời kiêm luôn tấm da kinh tế Mỹ.

Chúng tôi tuy là bạn vong niên, nhưng dẫu sao vẫn tồn tại khoảng cách thế hệ. Lời nói không hợp ý, tôi thường im lặng trước, hoặc chuyển chủ đề.

Hôm đó tôi lại không tránh khỏi quá mức nghiêm túc, dùng giọng điệu suýt soát đôi co mà nói rằng: "Có lẽ trí thức rất khó triệt để thoát khỏi số phận là một nhúm lông, nhưng có hay không có ý nguyện tự giác không muốn làm một nhúm lông, điều đó khác nhau rất nhiều."

Thế nhưng ông lại vặn hỏi: "Cậu có phải là một nhúm lông không?"

Tôi ngẩn người.

Ông lại hỏi: "Cậu dám nói cậu không phải là một nhúm lông? Cậu chính xác là một nhúm lông điển hình nhất, bám vào một thể chế không thay đổi trong suốt gần năm mươi năm của đất nước này, vừa nhận lương, vừa nhận nhuận bút. Rõ ràng là kẻ được hưởng lợi, lại cứ phải ra vẻ mặt thanh cao. Loại người như các cậu ấy, một mặt chìa tay đòi nhà, đòi chức danh, đòi vinh dự, đòi thân phận, đòi đãi ngộ, mặt khác lại ra điều kiện tuyên bố bản thân là cái gọi là 'trí thức tự do', nực cười biết bao. Ngày mai phát cho các cậu một căn nhà, 'tiếng nói tự do' của các cậu liền thu liễm lại đôi chút, ngày mốt lại cấp cho các cậu một chiếc xe hơi, lại thu liễm lại đôi chút nữa. Ngày kia phong cho cái danh hiệu gì đó, không cần người khác dạy, bản thân đã sớm học thói ngoan ngoãn rồi. Trung Quốc nay đã thay đổi vô cùng to lớn, nhưng theo mắt tôi nhìn thì tập tính của trí thức Trung Quốc kỳ thực chẳng thay đổi là bao."

Mặt tôi đỏ bừng, biện bạch nói: "Tôi chỉ xin nhà có một lần vào mười năm trước thôi."

---❊ ❖ ❊---

Năm xưa sau một đêm mất ngủ, hôm sau Ôn đã tiên phong đưa ra bài phát biểu mang ngôn từ sắc bén trong một đại hội, mũi nhọn chĩa thẳng vào "chính sách chuyên gia Liên Xô" của nhà trường. Năm xưa trong trường đại học của ông, có không ít các giáo sư, học giả được mời từ Liên Xô sang. Có người là giáo sư thật, học giả thật; có người chỉ là kẻ mượn chỗ sung số, hàng giả mạo mà thôi. Đều được hưởng đãi ngộ chuyên gia đồng loạt, ở lầu nhỏ, nhận lương cao, có nhân viên phục vụ, ra ngoài có xe hơi đưa đón. Nguyên nhân ông muốn góp ý từ điểm này, là vì trong suy nghĩ của ông, đây kỳ thực là điểm ít có khả năng khiến hình ảnh của đảng phải chịu tổn hại nhất. Chẳng qua chỉ là đối với "đại ca" tốt quá mức mà thôi, dẫu sao vẫn minh mỉ hơn là đi phát biểu nhắm vào chủ nghĩa quan liêu của đảng. Hơn nữa, còn dễ giành được sự hưởng ứng của đông đảo giảng viên học sinh Trung Quốc. Người không vui, chỉ có các vị "đại ca" mà thôi. Họ có là "đại ca" thế nào đi nữa, thì suy cho cùng cũng là khách. Ông cho rằng ở "nhà" mình, trong tình huống buộc phải "mãnh liệt khai hỏa" vào hiện tượng nào đó, với thân phận của ông, đắc tội với các vị "đại ca" là điều ít quan trọng nhất...

"Đại ca phải có dáng dấp của đại ca chứ, ngậm tẩu thuốc nhả khói mịt mù trong lớp học, đó là dáng dấp của đại ca sao? Lớp học đại học của chúng ta, đối với đồng chí Stalin đương nhiên lý ra nên ngoại lệ, nhưng họ không phải là bản thân đồng chí Stalin. Quấy rối nữ sinh Trung Quốc, đó là dáng dấp của đại ca sao? Say khướt ngã gác trong khuôn viên trường, đó là dáng dấp của đại ca sao? Với tư cách là nhà trường, có nên kiểm điểm lại chính sách chuyên gia của chúng ta không?"

Bài phát biểu đanh thép từng câu từng chữ của ông, đã khơi dậy sự cộng hưởng lớn, giành được từng tràng pháo tay giòn giã.

Cuối cùng ông đứng trên đài cất cao giọng hỏi: "Tất cả những điều này nói lên điều gì?"

Một số học sinh đồng thanh đáp: "Nô tài bợ đỡ!"

Sự hưởng ứng của học sinh, đã khiến tính chất bài phát biểu của ông trở nên trầm trọng.

Lúc ấy ông cũng nhận thức được điều này, cũng rất hối hận vì đã hỏi học sinh câu nói như vậy, nhưng lại hoàn toàn không đánh giá đầy đủ mức độ nghiêm trọng của vấn đề.

Nếu đó là dấu chấm hết cho mọi chuyện, thì số phận sau này của ông cũng không đến nỗi quá tồi tệ.

Thế nhưng đó không phải là dấu chấm hết.

Tối đến, vài khung cửa sổ của tòa lầu nhỏ nơi các giáo sư Liên Xô ở đã bị đập nát.

Hôm sau, rất nhiều học sinh bãi khóa tiết của các giáo sư Liên Xô.

Có mấy nhân viên phục vụ còn cự tuyệt tiếp tục phục vụ họ.

Trong số các giáo sư Liên Xô có người đã phải chịu sự sỉ nhục trước đám đông.

Bởi vì hiện tượng mà ông chỉ ra trong bài phát biểu, là sự thật tồn tại trên thực tế và từ lâu đã gây ra sự bất mãn phổ biến.

Thế là sự việc làm kinh động đến đại sứ quán Liên Xô, và dĩ nhiên cũng làm kinh động đến cấp cao Trung Quốc.

Thế là sự việc không chỉ đơn thuần là người Trung Quốc tự mình tiến hành vận động chính trị nữa, mà đã biến chất thành sự kiện chính trị trọng đại gây tổn hại đến quan hệ hữu nghị Trung - Xô.

Thế là, vào cái đêm mà ông hoàn toàn không hay biết, vẫn cho rằng bản thân cơ bản đã hoàn thành nhiệm vụ chính trị "dụ rắn ra khỏi hang", đại công cáo thành, có thể yên tâm ngủ một giấc ngon lành, những người khác lại triệu tập cuộc họp khẩn cấp, thảo luận xem có nên định tính ông là "phần tử hữu phái" hay không.

Có người biện hộ giúp ông vài câu. Nói rằng hậu quả tuy rất nghiêm trọng, ảnh hưởng chính trị tuy rất tồi tệ, nhưng rõ ràng không phải do tư tưởng của ông phản động mà dẫn đến. Ông là cán bộ chính trị ngoài đảng mà chúng ta bồi dưỡng nhiều năm qua. Ngựa hay ngựa quý cũng có lúc vấp ngã, nên tha thứ cho ông. Người biện hộ thay ông chính là những kẻ từ trước đến nay vẫn luôn thưởng thức ông, coi trọng ông, bồi dưỡng ông. Ông là theo chỉ thị của họ để "dụ rắn ra khỏi hang". Nhưng có nhiều người hơn phản đối nhóm người đó. Nhóm người phía sau đông đảo hơn với vẻ mặt căm phẫn sục sôi nói rằng, nếu ngay cả những lời lẽ độc địa của ông ta mà cũng không được tính là "lời lẽ hữu phái", vậy thì những "phần tử hữu phái" đã được định sẵn kia, đều không đáng phải đeo chiếc mũ "hữu phái" nữa rồi! Rõ ràng là, họ đang dậu đổ bìm leo, đổ thêm dầu vào lửa, muốn đẩy ông vào đường cùng cho sướng tay. Họ hoặc là vì có hiềm khích từ trước với ông, hoặc là ghen tị với sự được sủng ái của ông, hoặc là nhòm ngó chức vụ của ông nên đang nóng lòng muốn lên thay thế. Những kẻ biện hộ thay ông, vì sợ bản thân cũng bị liên lụy, nào dám tuyên bố lý do ông công khai phát biểu những lời lẽ như vậy, kỳ thực là đã lĩnh hội ý chỉ của họ? Họ vừa không dám gánh vác chút trách nhiệm nào, dưới những lời tru diệt sắc bén của những kẻ có ý định hủy hoại triệt để ông, lời biện hộ tiến hành thay ông vì thế mà trở nên kém phần đường đường chính chính. Thậm chí còn tỏ ra đầy điều kiêng dè, úp úp mở mở muốn nói lại thôi.

Đang thảo luận thì từ phía trên gọi điện tới, đại ý là—— một người như họ Liễu nọ, được đảng trọng dụng, được đảng bồi dưỡng, được đảng tin tưởng, không màng tư cách mà giao phó trọng trách, thế mà lại công khai nhảy chồm chồm lên phản Xô phản đảng, mang ý nghĩa hiện thực sâu sắc của một cuốn sách giáo khoa phản diện, một giáo viên phản diện. Phản Xô tức là phản cộng, đây là vấn đề lập trường rạch ròi. Về vấn đề này, họ Liễu đã đủ để trở thành một điển hình...

Thế là cuộc thảo luận không cần tiếp tục tiến hành nữa.

Có thể tưởng tượng được, khi họ Liễu bị tuyên bố là "phần tử hữu khuých", anh ta đã chấn động, khó hiểu, uất ức và tâm phục khẩu phục đến nhường nào. Thế nhưng dù anh ta có thế nào đi nữa, cũng đã không thể thay đổi được vận mệnh của mình.

Bởi vì anh ta lại trở thành một điển hình.

Giống như việc năm xưa anh ta bất ngờ trở thành một điển hình chỉ vì một lần phát biểu vậy.

Điều khiến anh ta càng chấn động hơn là, anh ta vẫn tưởng kết cục của mình chắc chắn sẽ khơi gợi sự đồng tình rộng rãi, nào ngờ lại tức khắc rơi vào biển lửa "khẩu tru phạt" (dùng miệng lưỡi để chỉ trích, lên án). Không một ai đồng tình với anh ta. Anh ta hoang mang tột độ.

Đúng với câu nói ấy —— cây đổ khỉ ho. (Nguyên văn: Tường đổ mọi người xô).

Lúc đó anh ta mới đau đớn xót xa nhận ra, hóa ra không ít người vẫn luôn mong chờ anh ta có ngày này.

Mà vị hôn thê "đại nghĩa diệt thân", "vạch trần phê phán sâu sắc", lại càng khiến cho vận mệnh của anh ta thêm phần họa vô đơn chí.

Tuy nhiên, mục đích thành kính phối hợp với tình hình "điệu hổ ly sơn" (nhử rắn ra khỏi hang) của anh ta quả thực đã đạt được —— có thêm hơn mười học sinh bị quy là "hữu khuých" cùng đợt với anh ta —— những học sinh không những viết đại tự báo ủng hộ phát biểu của anh ta, mà còn có thái độ hỗn xược xúc phạm chuyên gia Liên Xô.

Thành quả của trận chiến "chống hữu" vì thế mà được mở rộng.

Chẳng bao lâu sau, anh ta bị đày tới nông trường để cải tạo. Hơn mười học sinh bị quy là "hữu khuých" cùng đợt với anh ta, không vì thế mà đồng bệnh tương lân, thương tiếc lẫn nhau với anh ta. Không, bọn họ chẳng những không làm thế, mà còn hận anh ta. Bởi vì trong suy nghĩ của bọn họ, bản thân mình đã làm vật tế thần chính trị cho anh ta. Đều là sinh viên đại học, chẳng ai kém trí cả. Sau đó bọn họ giao lưu, gợi ý cho nhau, thế là hiểu ra tất cả. Thế là nỗi căm hận đối với anh ta phình to gấp bội. Có một tối, bọn họ lừa anh ta ra bãi hoang, đánh cho anh ta một trận nhừ tử. Thậm chí cả mấy nữ sinh cũng động cước động thủ với anh ta. Sau khi bọn họ trút giận xong rồi giải tán, anh ta ngồi ở bãi hoang khóc rống lên. Hồi đó gió Tây thổi vù vù, nghe như tiếng bò rống. Mấy nữ sinh nhổ nước bọt lên người anh ta, đóng băng thành từng mảng băng khắp mặt anh ta. Tình trạng lúc đó, có thể dùng bốn câu thơ để hình dung—— "Minh nguyệt chiếu tích tuyết, sóc phong kình thả ai"; "Sương nghiêm y đái đoạn, chỉ trực bất đắc kết".

Mấy năm sau đó, đám học sinh ấy lần lượt được "tháo mũ", lần lượt được phân công công việc, lần lượt rời khỏi nơi cải tạo lao động. Khi người học sinh cuối cùng rời đi, anh ta đối với người ta lại vô cùng lưu luyến không nỡ. Bởi vì có họ ở đây, tuy đều là "hữu khuých", tuy ở phía anh ta có tư thế thấp hèn, hết lần này đến lần khác cẩn trọng từng chút một, chỉ sợ chọc giận họ mà rước lấy sự mắng mỏ, nhưng —— dẫu sao thì anh ta cũng ở trong một tập thể nhỏ. Anh ta không biết nếu chỉ còn lại một mình mình, những tháng ngày cô độc và dài đằng đẵng không có điểm dừng này phải tiêu khiển thế nào, cùng với việc vận mệnh sẽ còn trừng phạt anh ta ra sao.

Sự lưu luyến không nỡ của anh ta đã làm cảm động đối phương.

Khi chia tay, đối phương nói: "Thầy ơi, thầy trân trọng nhé. Em chẳng có gì tặng thầy làm kỷ niệm cả, xin tặng thầy một câu nói vậy!"

Câu nói đó là —— miệng là cửa họa, lưỡi là dao chém thân.

Một câu nói trong tiểu thuyết của Phùng Mộng Long.

Tấm lòng của đối phương rất lương thiện. Thế nhưng lọt vào tai anh ta, dường như lại hàm chứa ý mỉa mai rõ rệt —— bởi vì cái miệng của anh ta hầu như chỉ còn là cái "cửa" để ăn uống, bởi vì cái lưỡi của anh ta hầu như chỉ còn lại chức năng nếm mùi vị. Một là điều lệ cải tạo lao động hạn chế nghiêm ngặt tự do ngôn luận của "hữu khuých"; hai là đã là "hữu khuých" rồi, trong lòng cẩn trọng, tự mình trói buộc ham muốn nói năng của bản thân. Anh ta đã gần như biến thành một kẻ ái kỷ chuẩn mực.

Thực ra anh ta cũng có khả năng được tháo mũ "hữu khuých" sớm hơn. Chỉ cần anh ta thành kính biểu thị nhận tội. Mười mấy học sinh kia, chính vì thái độ nhận tội tốt, nên mới lần lượt được "khoan hồng xử lý". Riêng anh ta trong mấy năm trời không ngộ ra được. Hết lần này đến lần khác viết thư thỉnh cầu ở chỗ này chỗ nọ rằng mình vô tội. Đợi đến khi nơi cải tạo lao động chỉ còn sót lại một mình anh ta là "hữu khuých", đợi đến khi anh ta cuối cùng cũng ngộ ra thì đã muộn. Không thể tháo mũ tất cả được. Toàn bộ phong trào tháo mũ chẳng phải là công cốc hay sao? Anh ta là điển hình "hữu khuých", đã là điển hình thì đừng mong tự mình muốn không làm là được —— đừng có hòng. Điển hình tức là phải luôn đóng vai trò làm điển hình mãi mãi, dù là chính diện hay phản diện.

Khi "hữu khuých" không còn là một tập thể nhỏ tập trung, mà là một cá nhân đơn lẻ, thì vận mệnh của họ đại khái có hai hướng —— hoặc là theo sự trôi đi của thời gian, ánh mắt giám sát của mọi người dần mỏi mệt, cuối cùng chấp nhận anh ta cũng chỉ là một con người, lờ đi việc anh ta là "kẻ khác loài"; hoặc là vì sự độc nhất vô nhị trong một môi trường nào đó, càng trở thành tâm điểm chỉ trích của dư luận, mỗi khi có vở kịch chính trị được công diễn, liền trở thành "sao phản diện", để làm nổi bật hình ảnh chính diện của người khác. Sự may mắn của loại vận mệnh thứ nhất thường thể hiện ở chốn dân gian, như một ngôi làng hẻo lánh cụ thể, một cộng đồng trấn nhỏ, hoặc một xưởng thủ công nghiệp nửa thủ công nghiệp quy mô nhỏ với số lượng người không nhiều, lấy nữ giới làm chủ thể. Ngọn gió chính trị dẫu có thổi đến đó đi chăng nữa, thì thông thường cũng không trở thành tình tiết sinh hoạt chính của dân gian. Lại thêm do dân gian đối với người có văn hóa khá cao vẫn duy trì sự kính trọng truyền thống từ mấy ngàn năm nay, nên "phần tử hữu khuých" ở những nơi đó chịu sự kỳ thị ít hơn, chịu tổn thương cũng ít hơn. Mà sự bất hạnh của loại vận mệnh thứ hai, thường thể hiện ở nông trường lớn, xí nghiệp lớn, tập thể lớn lấy nam giới làm chủ thể. Do những nơi đó lớn, khi gió chính trị thổi tới vẫn còn rất mạnh mẽ, mà cấp bậc lãnh đạo của họ cũng cao. Phương thức nghênh đón gió chính trị của họ thường có thói quen làm rầm rộ. Hơn nữa do những nơi đó chật ních trí thức lớn nhỏ, cũng không thiếu cán bộ chính trị hoặc cán bộ kỹ thuật xuất thân từ trí thức. Trí thức đặc biệt không có chút bất an nào đối với việc dùng đồng loại của mình làm bia nhắm để chứng minh lập trường chính trị kiên định của bản thân.

Liễu là kẻ bất hạnh. Anh ta bị áp giải chuyển đi hết lần này đến lần khác, bị áp giải từ nơi nhỏ đến nơi lớn hơn, nơi lớn hơn nữa. Không khí chính trị ở đâu bị cho là chưa đủ nồng độ, anh ta liền bị áp giải đến đó. Mà hễ anh ta bị áp giải đến đâu, không khí chính trị ở đó liền trở nên sôi nổi. Giống như người nuôi cá, thấy ao cá nào kém phần sinh động, thả một con cá séc vào, những con khác liền bơi lội tung tăng. Tính điển hình của anh ta, dường như có giá trị bền vững.

Trong hai mươi hai năm, theo lời chính họ Liễu kể, anh ta ít nhất đã bị phê đấu bốn năm trăm lần. Trong mười năm "Cách mạng văn hóa", lại càng gần như ngày nào cũng bị phê bị đấu. Giả sử mấy thanh niên kỹ công tốt nghiệp trung chuyên thấy thời gian nghỉ trưa rảnh rỗi quá, lôi anh ta ra phê đấu một trận cho bõ bèn là xong chuyện. Trong mười năm "Cách mạng văn hóa", một số đơn vị lớn cấm chơi cờ đánh bài vào giờ nghỉ trưa. Thế là việc phê đấu anh ta cũng tương đương với một ván cờ, hoặc đánh vài ván bài.

Theo lời chính họ Liễu kể, trong hai mươi hai năm, có không ít người nhờ phê phán anh ta mà nâng cao tài năng viết bài phê phán, nâng cao trình độ tư tưởng trong các bài phát biểu. Ngay cả khi Liên Xô và Trung Quốc xảy ra xung đột vũ trang biên giới ở đảo Trân Bảo, những người phê phán cũng có thể liên kết với "phần tử hữu khuých" là anh ta, cho rằng việc anh ta năm xưa giả vờ "phản Xô" trong những chuyện vặt vãnh không đáng bàn tới, mục đích chẳng qua chỉ muốn làm tê liệt mọi người, khiến nhận thức của mọi người đối với Liên Xô không thể tập trung vào bản chất chủ nghĩa xét lại. Đó là thủ đoạn "chửi nhỏ giúp lớn"...

Theo lời chính họ Liễu kể, trong hai mươi hai năm, không ít người nhờ anh ta mà nâng cao tài năng viết bài phê phán, nâng cao trình độ tư tưởng trong các bài phát biểu, thế là giống như anh ta năm xưa, thu hút được sự chú ý, được coi trọng, tiếp đó từ công nhân lên làm tổ trưởng, được kết nạp vào đảng, làm chủ nhiệm phân xưởng gì gì đó. Cũng có người được điều động vào tổ viết lách, trở thành tuyên truyền viên chính trị, tiếp đó trở thành cán bộ tuyên truyền chính trị chuyên trách...

Lời nói của anh ta mang lại cho tôi ấn tượng thế này, anh ta hồi đó giống như một tấm bia ngắm, rất nhiều người có thể thông qua việc bắn anh ta mà rèn luyện thành thiện xạ. Lại giống như một cái thây ma biết đi, rất nhiều người có thể thông qua việc giải phẫu anh ta mà chuyển nghề thành "bác sĩ ngoại khoa" chính trị...

Theo lời chính họ Liễu kể, năm 1979 anh ta được minh oan, trên đường điều động trở lại trường đại học cũ, đã được một vị phó huyện trưởng của một huyện nọ khoản đãi suốt mấy ngày. Hóa ra đối phương cũng từng là cao thủ "bắn" anh ta, chuyên gia giải phẫu anh ta, nhờ đó mà con đường làm quan hanh thông. Điều càng khiến anh ta dở khóc dở cười là, đối phương còn vì thường xuyên viết đại tự báo, khẩu hiệu lớn phê phán anh ta mà cuối cùng lại trở thành hội trưởng hiệp hội thư pháp của huyện đó. Hơn nữa, quả nhiên viết được một tay thư pháp đẹp. Ít nhất là trong mắt anh ta thì là như vậy. Nhân lúc anh ta sắp khởi hành, người ta tặng anh ta một câu đối, viết tám chữ là —— "Đa ngôn số cùng, bất như thủ trung".

Là câu nói của Lão Tử.

Trong văn cổ, chữ "trung" thông với chữ "trùng". "Bất như thủ trung", ý là chi bằng lặng lẽ duy trì sự hư tĩnh, áp chế sự bốc bồng.

Hai mươi hai năm như cơn ác mộng, Liễu lặng lẽ trở về trường đại học nơi anh ta từng đảm nhiệm chức vụ bộ trưởng bộ tuyên truyền. Có một nữ nhân viên công tác của "phòng minh oan" đã tiếp đón anh ta, sắp xếp cho anh ta ở lại nhà khách của trường. Nữ đồng chí đó khoảng hơn bốn mươi tuổi, thái độ tiếp đón anh ta vừa khách sáo lại vừa chu đáo. Mời anh ta không cần phải vội vàng lo các sự hạng cụ thể sau khi "minh oan", yên tâm thoải mái nghỉ ngơi một thời gian thì hơn, nếu có yêu cầu gì thì thời gian còn dài. Những ngày tháng đó, so với hai mươi hai năm kia, khiến anh ta cảm thấy hạnh phúc vô bờ bến. Cả ngày chẳng có việc gì làm, ngủ đến mười giờ mới dậy cũng chẳng ai can thiệp, cứ như sống cuộc sống của thần tiên vậy. Sự trở về trong tĩnh lặng của anh ta, quả thực có thể dùng bốn chữ "thần xuất quỷ nhập" để hình dung, có chút ý vị "ẩn náu" trở lại. Những ngày đầu tiên, ăn no rồi ngủ, tỉnh dậy rồi ăn, ăn xong lại ngủ. Trong hai mươi hai năm, bộ phận bị tổn thất nghiêm trọng dường như lại chính là giấc ngủ, đại não không bỏ lỡ thời cơ, phản xạ mãnh liệt một thứ bản năng cấp bách cần được bù đắp. Một tuần sau anh ta mới bắt đầu đi dạo khắp nơi trong khuôn viên trường. Mọi thứ vẫn giống như trước đây. Chỉ có điều cây cối đã già, tòa nhà đã cũ, con đường mọc thêm mấy lối, nhìn thấy toàn là những gương mặt xa lạ. Người khác không biết anh ta là ai, anh ta cũng chẳng nhận ra ai. Dù có lướt qua đồng nghiệp cũ hay cấp trên cấp dưới cũ đi chăng nữa, thì cũng chẳng thể gây được sự chú ý cho nhau...

Cuối cùng anh ta được nữ đồng chí kia thông báo đi họp. Một lần, hai lần, mấy lần, đều là thảo luận về việc tẩy trừ độc hại của "Cách mạng văn hóa", thúc đẩy giải phóng tư tưởng. Anh ta đến từ rất sớm, ngồi ở một góc, trong lòng ghi nhớ khắc sâu lời mà người học sinh năm xưa đã tặng mình, cũng như bức hoành phi mà vị phó huyện trưởng nọ đã trao tặng, tự niêm phong cái miệng của mình, tự niêm phong chiếc lưỡi của mình.

Có lần tham gia hội nghị phần lớn là người trẻ tuổi, có đại diện sinh viên, cũng có giáo viên ba bốn mươi tuổi, một sinh viên phát biểu rằng: "Không phá không lập, phá là trên hết, lập nằm ở trong đó. Trung Quốc xã hội chủ nghĩa, giống như một cái nồi lớn, một tòa đại hạ, cái nồi đã rạn nứt chi chít, tòa đại hạ đã xiêu vẹo. Chi bằng nhân lúc nhiệt độ giải phóng tư tưởng dâng cao, đập nát nó một mẻ, lật đổ nó, làm lại từ đầu một lần nữa! Giống như dùng cục tẩy xóa sạch những vết chì hỗn độn trên giấy, khiến nó trở lại là một tờ giấy trắng, vẽ lại bức tranh mới nhất đẹp nhất..."

Đang là thời kỳ "bắt loạn phản chính", người trẻ tuổi ăn nói không kiêng dè, một khi phấn khích, những lời lẽ quá khích thỉnh thoảng vẫn xảy ra. Người chủ trì hội nghị dù có không đồng tình đi nữa, thông thường cũng không quá coi đó là chuyện nghiêm trọng.

Nhưng tình hình của buổi họp hôm đó có chút khác biệt. Những người thu thập động hướng tư tưởng chính trị cho cấp trên từ các phía đều ngồi ẩn ở bốn góc. Người chủ trì hội nghị đã sớm dự liệu được điều này. Sắc mặt chốc lát trở nên vô cùng khó coi. Muốn phản bác, nhưng nhất thời không thể sắp xếp được những lời lẽ đanh thép; mà cứ giữ im lặng mãi, thì lại gần như đồng nghĩa với việc dung túng...

Lúc này liền thấy có người đứng lên nói: "Tôi cũng muốn phát biểu."

Người đứng lên không phải ai khác, chính là Liễu.

Người chủ trì hội nghị không quen biết anh ta, chỉ sợ anh ta lại thốt ra những lời lẽ khó nghe nào đó, liền nảy ra ý hay, tuyên bố nghỉ giải lao vài phút.

Nào ngờ anh ta kiên quyết nói: "Tôi yêu cầu được phát biểu lúc này, lát nữa có lẽ tôi sẽ không muốn mở miệng nữa đâu!"

Mặt anh ta đỏ bừng, môi run rẩy, trông có vẻ vô cùng kích động.

Có người hình như cố tình muốn làm cho người chủ trì hội nghị thêm phần lúng túng, liền vỗ tay rầm rộ.

Người chủ trì hội nghị đành phải đồng ý cho anh ta phát biểu.

Anh ta lớn tiếng nói: "Các đồng chí ơi, tôi từng là một phần tử hữu khuých, tôi đã bị cải tạo suốt hai mươi hai năm đấy! Cuối cùng tôi cũng lại được như các đồng chí, có quyền công khai phát biểu rồi, lại có tư cách gọi mọi người là đồng chí rồi! Tôi muốn nói, chủ nghĩa yêu nước là gì? Chủ nghĩa yêu nước, chính là tấm lòng yêu nước không một oán hận ân hận đấy! Vừa rồi vị bạn học kia chẳng nói là cái nồi lớn xã hội chủ nghĩa này đã rạn nứt chi chít rồi sao? Vậy thì chúng ta phải giống như những thợ lành nghề, tỉ mỉ vá nó cho thật lành lặn chứ! Tòa đại hạ xã hội chủ nghĩa này dẫu có thực sự xiêu vẹo đi chăng nữa, thì chúng ta phải giống như những người khổng lồ trong thần thoại Hy Lạp, dùng tấm lưng của mình chống cho nó thẳng, chống cho nó vững chứ! Nếu cần thiết, thì chúng ta phải tình nguyện hóa thành trụ đá, vĩnh viễn vĩnh viễn chống đỡ ở đó chứ! Đây chính là tôi, một phần tử hữu khuých điển hình đã trải qua hai mươi hai năm cải tạo, lời bộc bạch đối với người mẹ tổ quốc của chúng ta!..."

Sau đó, anh ta ngắt quãng nhịp nhàng, dạt dào cảm xúc ngâm tụng vài câu thơ:

Dù là thế này,

Hay là thế kia,

Tổ quốc của tôi ơi,

Tôi yêu người!

Dù là nghèo khó,

Hay là giàu có,

---❊ ❖ ❊---

Phát biểu của anh ta mang một hiệu quả lây lan kiểu tích lũy lâu ngày bùng nổ, giống như suối phun trào. Một người có vận mệnh chìm nổi gắn liền với cái sự "mang đặc sắc Trung Quốc" là phát biểu này, ở trong bầu không khí phát biểu sôi nổi người vừa dứt lời tôi đã mở miệng ấy, thật khó mà kiên quyết không phát biểu cho được. Xung động phát biểu của anh ta không những không bị kích hoạt mà lại còn tỏ ra quá ư không bình thường.

Anh ta còn chưa kịp ngồi xuống, người chủ trì hội nghị cũng đã đứng lên rồi.

Người chủ trì hội nghị đưa một tay về phía anh ta nói: "Đồng chí già ơi, vị đồng chí già chịu nhiều oan ức ơi, hãy để tôi nắm lấy bàn tay của anh..."

Anh ta có chút ngơ ngác đưa một bàn tay về phía đối phương.

Bàn tay của anh ta lập tức được hai bàn tay của đối phương nắm chặt lấy.

Đối phương rưng rưng nước mắt nói: "Đồng chí già ơi, hiện giờ, câu nói 'tôi đại diện cho đảng', đã không phải là thứ mà người lãnh đạo đảng ở cấp nào cũng có thể tùy tiện nói ra nữa rồi. Nhưng tôi vẫn muốn nói câu đó. Tôi là bí thư đảng ủy nhậm chức mới. Đồng chí già ơi, tôi thay mặt đảng cảm ơn bài phát biểu vừa rồi của anh, cảm ơn một tấm lòng trung thành của anh!"

Nước mắt của anh ta cũng tức khắc trào ra khỏi hốc mắt.

Lòng biết ơn của bí thư đảng ủy trường đối với anh ta là chân thành. Bởi vì phát biểu của anh ta đã kịp thời nắn lại phương hướng tư tưởng của cuộc thảo luận, giúp cho bản thân thoát khỏi cảnh tiến thoái lưỡng nan.

Một vùng im phăng phắc.

Vô số đôi mắt đờ đẫn nhìn bọn họ.

Một đại diện nữ sinh không kìm được nhỏ giọng nói: "Ái chà, ái chà..."

Trong đa số trường hợp, những người không biết phải nói gì cho phải đều sẽ như thế này.

Cô ấy đã không thể hình dung nổi cảm giác của mình lúc đó.

Mà tiếp theo ngay sau đó là một loạt tiếng vỗ tay đã nhấn chìm tiếng "ái chà" của cô ấy...

Buổi tối, nữ đồng chí phụ trách tiếp đón anh ta đến nhà khách thăm hỏi, vô cùng mãn nguyện thông báo với anh ta rằng bài phát biểu vừa rồi của anh ta có sức lan tỏa vô cùng mạnh mẽ trong khuôn viên trường. Dường như, đó cũng là một niềm vinh quang của cô ấy. Hơn nữa, còn cùng anh ta ăn tối. Trên bàn ăn thăm dò hỏi anh ta có suy nghĩ gì về việc sắp xếp công việc không?

Anh ta nói, vô điều kiện tuân thủ.

Liễu từng nói với tôi rằng, bài phát biểu lúc đó của anh ta chân thành một trăm phần trăm. Trong đầu anh ta chính là nghĩ như vậy. Cuối cùng cũng được minh oan rồi, trong lòng anh ta tràn ngập một thứ cảm xúc tựa như mơ ước, đang vô cùng sốt sắng muốn bày tỏ niềm vui sướng. Mà thứ cảm xúc ấy đang khao khát được tiến hành một sự phun trào chính đáng.

Còn tôi, thì tin tưởng một trăm phần trăm sự chân thành của anh ta.

Khi anh ta hoàn toàn không hay biết gì, bài phát biểu lần đó của anh ta đã được in ra thành văn bản trong các loại tài liệu báo cáo, trong "tham khảo nội bộ", trong văn kiện. Tên tuổi của anh ta lại một lần nữa trở thành tên của một nhân vật điển hình.

Chẳng bao lâu sau, anh ta phục hồi chức vụ cũ.

Lại chẳng bao lâu sau, anh ta kết hôn với nữ đồng chí kia. Chồng cô ấy đã bị bức hại chết trong "Cách mạng văn hóa". Cô ấy là giảng viên trước "Cách mạng văn hóa" của khoa hóa học, được điều động tạm thời đến "Phòng minh oan". Thế nhưng cô ấy lại kiên quyết cho rằng duyên phận của họ có tính chất vật lý, là kết quả của "va chạm hoàn toàn không có tính đàn hồi". Mà vật va chạm với nhau xong không tách rời nhau nữa, lại chuyển động với cùng một vận tốc, là lấy tiền đề tổn thất năng lượng chuyển động lớn nhất làm điều kiện. Anh ta hiểu cô ấy đang ám chỉ việc cô ấy sẽ vì hôn nhân mà tổn hại đến sự theo đuổi sự nghiệp — đã hơn bốn mươi tuổi rồi, mới là giảng viên. Mười mấy năm không được xét phong giáo sư. Không nỗ lực phấn đấu, dẫu cho có bắt đầu xét lại, há có đến lượt phần của cô ấy? Mà nếu nỗ lực phấn đấu đi, cô ấy lại không nỡ khiến người đàn ông mãi năm mươi tuổi mới kết hôn này, dường như chỉ có một người vợ mang tính biểu tượng...

Cuối cùng anh ta cũng lại có thể ngẩng cao đầu xuất hiện ở bất cứ nơi nào trong khuôn viên trường. Trải nghiệm của anh ta bắt đầu lan truyền trong khuôn viên trường. Những người trước đây chưa từng nghe thấy tên anh ta, bắt đầu đặt tên anh ta cùng hàng với tên của các vị lãnh đạo cấp trường để ghi nhớ. Những kẻ từng giậu đổ bìm leo với anh ta từ hai mươi hai năm trước, nhìn thấy anh ta từ xa đã phải đi đường vòng tránh đi. Trong số họ, có kẻ mười năm "Cách mạng văn hóa" không thoát khỏi kiếp nạn trở thành đối tượng bị chỉnh đốn, mà có kẻ lại trở thành "ba loại người".

Anh ta lại buộc phải phát biểu ở các đại hội tiểu hội. Anh ta ghi nhớ kỹ bài học của hai mươi hai năm trước, một câu bản thân cho là không hợp thời cũng không nói, chỉ tuyên truyền lòng trung thành của mình, và sự không oán không hối. Hai điểm này ở cái đất nước Trung Quốc này, hầu như mãi mãi là cầu vượt quá cung. Cho nên hầu như mãi mãi là mặt hàng sốt dẻo. Đối với chính trị mà nói, giống như mạch nha cúng Táo quân. Cho nên, anh ta lại trở thành một ngôi sao được mời đi khắp nơi. Thế nhưng dù sao thì, một chân của Trung Quốc đã bước vào thời đại giải phóng tư tưởng. Mọi người sau khi xúc động trước lòng trung thành, còn cấp thiết muốn nghe thấy sự phản tư.

Anh ta không phải là hoàn toàn không có sự phản tư.

Không, anh ta có chứ.

Chỉ là thề độc rằng ngoài vợ mình ra, sẽ không bao giờ nói với bất cứ ai nữa, càng không bao giờ công khai nói ở bất kỳ hội nghị nào.

Sau khi anh ta chết, vì tôi đã tận lực giúp đỡ lo liệu một chút việc tang ma không đáng kể cho anh ta, người vợ già của anh ta vì để báo đáp, đã mang một cuốn nhật ký của anh ta tặng cho tôi làm kỷ niệm.

Trong nhật ký của anh ta có đoạn thế này: "Thực ra, cuộc cải tạo hai mươi hai năm, khiến cho nhận thức của tôi đối với nền chính trị của đất nước Trung Quốc này, có sự thể nghiệm sâu sắc hơn người khác. Nhưng tôi đã quyết định mang thể nghiệm của mình xuống lò hỏa tảng. Thậm chí đối với cô ấy, cũng hoàn toàn không cần thiết phải nói. Kinh nghiệm lịch sử rất đáng chú ý. Đối diện với những món hời thực tế trước mắt, tôi buộc phải trở nên khôn ngoan. Cu đời tôi đã không còn chịu nổi thêm một lần trừng phạt nào nữa..."

Tôi nghĩ, chữ "cô ấy" trong nhật ký của anh ta, rõ ràng là chỉ người vợ của anh ta.

Kinh nghiệm lịch sử rất đáng chú ý, rõ ràng là chỉ sự kiện hai mươi hai năm trước anh ta từng bị người phụ nữ sắp trở thành vợ mình bán đứng vào thời khắc mấu chốt. Sự kiện ấy lại trở thành bài học khắc cốt ghi tâm khiến anh ta canh cánh trong lòng, là điều mà tôi dẫu thế nào cũng không thể ngờ tới.

Tôi từng gọi điện hỏi người vợ già của anh ta rằng, đã đọc nhật ký của anh ta từ đầu đến cuối chưa?

Bà ấy bảo đến lật cũng chẳng thèm lật, không muốn lật.

Lúc này tâm trạng tôi mới thấy thay anh ta bớt áy náy đi một chút. Bằng không, tôi cho rằng đoạn văn đó đối với bà ấy quá bất công.

Tôi thậm chí cho rằng, sau khi phục chức, bài phát biểu của anh ta, báo cáo của anh ta, thành phần trung thành đã giảm sút đi rất nhiều. Đó chẳng qua chỉ là những lần lặp lại tính chất biểu thị thái độ mà thôi. Việc anh ta hết lần này đến lần khác không biết chán, một lòng một dạ làm như thế, rõ ràng là kết quả của việc hồn phách vẫn còn sợ hãi.

Tôi hoàn toàn thấu hiểu nỗi sợ hãi còn vương vấn trong lòng anh ta. Mang theo lòng thương xót lớn lao để thấu hiểu.

Đương nhiên không phải tất cả mọi người đều có thể thấu hiểu anh ta. Trong cuộc sống hiện thực, một người nếu hy vọng tất cả mọi người đều thấu hiểu mình, thì hoàn toàn là điều vô lý.

Thế nhưng năm xưa anh ta lại vẫn chưa thể nhận thức được quy luật phổ biến bình thường mà ngay cả một người phụ nữ nhà quê bày sạp bán rau cũng hiểu này. Trong suy nghĩ của anh ta, bản thân mình đã bị cải tạo hai mươi hai năm, chỉ dựa vào điểm này, chỉ xuất phát từ sự đồng tình, những người nghe anh ta phát biểu, nghe anh ta làm báo cáo, cũng nên dành cho anh ta những tràng pháo tay chứ.

Thế nhưng sau đó, phát biểu của anh ta, báo cáo của anh ta, trên thực tế đã nhiều lần vấp phải những tiếng la ó phản đối.

Những điều mọi người hy vọng được nghe, anh ta không nói nửa chữ; những điều mọi người nghe đến phát ngấy rồi, anh ta cứ hết lần này đến lần khác nói cho bằng hết. Sự chân thành dẫu đã giảm sút, thì không thể trách người khác nghe ra được. Dù sao cũng không nên đòi hỏi người khác phải hạ thấp chỉ số thông minh của mình mà hoan nghênh anh ta, hùa theo anh ta chứ.

Thế là anh ta dần dần từ một ngôi sao biến thành một kẻ khiến người khác phản cảm.

Anh ta đã ý thức được điều này.

Anh ta mưu tính xua tan sự phản cảm của người khác đối với mình.

Trong các bài phát biểu và báo cáo, anh ta bắt đầu không bỏ lỡ thời cơ để tiến hành giải thích, biện bạch mang tính hàm ý hoặc cấp bách cho bản thân.

Thế là trong mắt người khác, anh ta càng ngày càng giỏi diễn trò hơn. Thế là trong tai người khác, phát biểu của anh ta mang theo màu sắc tự tô vẽ bản thân. Rất nhiều rất nhiều người, hễ nhắc đến tên anh ta, bắt đầu bĩu môi dài. Bọn họ không những bắt đầu cho rằng anh ta đạo đức giả, mà còn bắt đầu cho rằng bản chất bên trong của anh ta thực ra rất tả khuých. Đây vừa là một sự thật, cũng rất khó trách anh ta. Dẫu sao thì, giữa anh ta và những người chưa từng có trải nghiệm bi thảm như anh ta, có khoảng cách thế hệ tận hai mươi hai năm. Hai mươi hai năm sau, phương thức tư duy của anh ta hầu như vẫn dừng lại ở thời điểm năm xưa, mà những người Trung Quốc nói chung, đặc biệt là tầng lớp trí thức Trung Quốc nói chung, phương thức tư duy đã trải qua không ít lần điều chỉnh trọng đại rồi.

Do đó anh ta vô cùng phiền muộn.

Nỗi phiền muộn của anh ta giống như những vết mốc meo, xuất hiện ở từng chỗ trong nhật ký của anh ta thời kỳ đó.

Thế nhưng một lần nữa bị gán cho vai diễn, anh ta lại chẳng biết phải làm sao, hoàn toànó kế sách gì. Chỉ đành âm thầm phiền muộn mà thôi.

Trạng thái công việc của anh ta, từ sự hăng hái phấn chấn cảm giác tốt đẹp ở giai đoạn đầu, đã ngày càng sa sút dần dần đánh mất tính năng động chủ quan. Sau đó thì có cái kiểu làm hòa thượng ngày nào hay ngày đó gõ mõ ngày đó.

Đến năm 1985, trong một đợt thay đổi nhiệm kỳ, chức vụ của anh ta từ chính chuyển thành phó bị người khác thay thế. Vẫn sắp xếp chức phó cho anh ta, chính là thể hiện sự ưu ái của nhà trường đối với anh ta.

Lòng tự trọng của anh ta chịu tổn thương nghiêm trọng, cả ngày có vẻ ủ rũ rười rượi. Lúc bị "cải tạo", ước mơ của anh ta chỉ là một ngày nào đó tháo bỏ được chiếc mũ "hữu khuých"; lúc vừa mới được minh oan, ước mơ của anh ta chỉ là mọi người mau chóng quên đi chuyện anh ta từng là "hữu khuých". Anh ta vốn tưởng rằng yêu cầu của mình đối với cuộc đời đã hạ xuống điểm thấp nhất rồi, nào ngờ nguyện vọng của con người ta vẫn có thói quen từ điểm thấp nhất dần dần leo lên phía trên. Anh ta dẫu sao cũng là con người, liền phát hiện ra bản thân mình cũng không ngoại lệ. Trong phòng tổng đài của trường, tên của trưởng bộ môn được liệt vào cột lãnh đạo trường, còn phó trưởng bộ môn thì không, hơn nữa không có một phòng làm việc riêng biệt, một chiếc điện thoại chuyên dụng nữa. Anh ta vốn tưởng rằng bản thân thực ra hoàn toàn không bận tâm. Một khi đã từng sở hữu rồi lại đánh mất, anh ta mới hiểu ra bản thân thực ra rất bận tâm. Do đó anh ta chán nản, vừa chán nản vì từ chính chuyển thành phó, vừa chán nản vì chính sự bận tâm mà ngay cả bản thân anh ta cũng cảm thấy khó hiểu ấy...

Một năm sau, vị hiệu trưởng già đã mất liên lạc từ lâu, không biết từ ai mà có được tung tích của anh ta, đã viết cho anh ta một bức thư từ Bắc Kinh, hỏi anh ta có bằng lòng đến một trường đại học trọng điểm nào đó ở Bắc Kinh, cụ thể là một trường đại học do đối phương làm hiệu trưởng để mưu cầu sự phát triển của cuộc đời hay không?

Anh ta chuyển buồn thành vui, mừng khôn xiết. Vội vàng viết thư trả lời, bày tỏ vô cùng bằng lòng. Dẫu sao, nếu được điều động đến Bắc Kinh, đồng nghĩa với một bước ngoặt nữa trong cuộc đời.

Không biết vì sao, việc này lại bị kéo dài một năm. Vào lúc anh ta thất vọng tràn trề, thì lệnh điều động khiến anh ta mừng rỡ ngoài mong đợi lại tới.

Sau khi được điều động đến Bắc Kinh, vị hiệu trưởng già năm xưa đã có một cuộc nói chuyện với anh ta. Đối phương vì tối hôm quyết định vận mệnh của anh ta hai mươi hai năm trước đã nói giúp anh ta vài câu biện bạch, liền bị cho là có hiềm nghi bao che "ngôn luận hữu khuých", từ đó vẫn luôn chịu sự lạnh nhạt về mặt chính trị. Trong "Cách mạng văn hóa", sổ sách cũ sổ sách mới tính tổng cộng, thế là bị đánh thành "phần tử đường lối đen", cách chức bãi quan...

Hiệu trưởng già nói năm xưa rất có lỗi với anh ta, rõ ràng là chỉ thị anh ta "điệu hổ ly sơn", nào ngờ lại tiện tay quy luôn anh ta thành "hữu khuých". Hơn nữa, bản thân mình cũng không bảo vệ nổi anh ta.

Anh ta nói thực ra bản thân năm xưa rất có lỗi với hiệu trưởng già. "Điệu hổ ly sơn" vốn có rất nhiều cách, lẽ ra nên chú ý thật tốt đến tính nghệ thuật của chính trị mới phải. Là do bản thân bị mờ mắt vì lợi ích, một lời phát biểu chuốc lấy một sự kiện chính trị nghiêm trọng, lại còn liên lụy đến hiệu trưởng già, cùng hơn mười học sinh. Bài học đau đớn này nhất định phải ghi nhớ đời đời kiếp kiếp. Sẽ không bao giờ tái phạm sai lầm tương tự nữa.

Thế là hai người vạn tuế sự thấu hiểu, tay bắt mặt mừng, nhìn nhau rưng rưng không nói nên lời.

Hiệu trưởng già lại nói, vì anh ta là "hữu khuých" điển hình, việc anh ta vào Bắc Kinh đối với các mặt mà nói đều là một việc vô cùng thận trọng, cho nên mới kéo dài tận một năm trời mới được phê chuẩn. Lại còn nói, các mặt đối với biểu hiện ngôn luận sau khi được minh oan của anh ta đều cảm thấy hài lòng, thậm chí còn là thưởng thức. Điều này khiến anh ta không khỏi thầm thấy may mắn, cảm thấy dẫu từng khơi gợi sự phản cảm của rất nhiều người, nhưng rất đáng để thể hiện ngôn luận như vậy.

Hiệu trưởng giới thiệu với anh ta, tạm thời sẽ sắp xếp cho anh ta đảm nhiệm chức vụ bí thư đoàn ủy. Anh ta lo lắng bản thân đã hơn năm mươi tuổi, độ tuổi đó không thuận lợi cho việc triển khai công việc. Hiệu trưởng già nói chẳng qua chỉ là một bước quá độ. Nói trước đây anh ta là người do mình bồi dưỡng ra, bây giờ vẫn thế, thậm chí còn hơn thế. Nói sau khi quá độ một thời gian, sẽ trọng dụng anh ta. Bằng không thì hà cớ gì phải điều anh ta từ ngàn dặm xa xôi đến Bắc Kinh chứ?

Cuối cùng, hiệu trưởng già ân cần dạy bảo anh ta, Bắc Kinh dẫu sao cũng là Bắc Kinh, là kinh đô giải phóng tư tưởng của Trung Quốc. Tư tưởng của tầng lớp trí thức đủ mọi thể loại ở Bắc Kinh, đặc biệt là trong các trường đại học trọng điểm, sau khi đập tan "Bè lũ bốn tên" vẫn luôn thể hiện vô cùng sôi nổi. Trí thức mà ở Bắc Kinh lại mang đến cho người ta một bộ mặt bảo thủ, trì trệ, thậm chí là "tả khuých", thì dẫu có được các nhân vật lớn thưởng thức đi chăng nữa, cũng rất khó gánh vác trọng trách một cách suôn sẻ vui vẻ được. Hy vọng anh ta khi ở Bắc Kinh phải tự mở cửa sổ tư tưởng của mình ra, giỏi tiếp thu tư tưởng sâu sắc của người khác, cũng phải giỏi khiến người khác hiểu rõ trong đầu mình rốt cuộc có những thứ hàng hóa gì có thể gọi là tư tưởng...

Anh ta vâng vâng dạ dạ, vô cùng cảm kích sự quan tâm của đối phương dành cho mình. Hơn nữa, thầm cảm thấy nơm nớp lo sợ.

Anh ta làm việc cẩn trọng trong chức vụ vai trò mới suốt nửa năm trời, khi đó sắp đến cuối năm 1986. Các sinh viên rốt cuộc cũng dần chấp nhận vị bí thư đoàn ủy quá tuổi, hơn năm mươi tuổi này. Bởi vì phong cách làm việc nhận phần rộng lượng về người, nghiêm khắc với bản thân của anh ta, lại còn vì anh ta đã tổ chức thành công mấy hoạt động văn nghệ rất được họ hoan nghênh, các vị lãnh đạo nhà trường cũng tương đối khẳng định thành tích công việc của anh ta, thường dùng hai chữ "vững vàng" để đánh giá. Mà bản thân anh ta thì rõ hơn ai hết, đánh giá đó có được không hề dễ dàng. Nó được đánh đổi bằng "phương châm định sẵn" là cẩn thận tỉ mỉ, đi trên băng mỏng, không cầu có công nhưng cầu không có lỗi. Thực ra tất cả mọi người, bao gồm cả các sinh viên, trong lòng đều sáng như gương, đều đoán chắc rằng anh ta chỉ cần làm việc bình an vô sự thêm mấy tháng nữa, thì chắc chắn sẽ được thăng tiến. Bí thư đoàn ủy hơn năm mươi tuổi, quả là hiện tượng quá ư bất thường mà! Có người thậm chí còn bàn tán sau lưng thế này: "Là để dành cho anh ta khoảng thời gian xuất hiện thật đầy đủ trước mặt sinh viên đấy mà!"

Bản thân anh ta cũng chẳng kém trí, thừa hiểu điều này.

Thế nhưng cũng có người bàn tán rằng anh ta rốt cuộc vẫn gói ghém tư tưởng của mình quá chặt chẽ. Nói một người như anh ta một khi leo lên vị trí cao, sẽ khiến người khác thiếu cảm giác an toàn. Nói đối với người sắp làm lãnh đạo, dù là mặt đỏ hay mặt trắng, rốt cuộc cũng nên mang lại cho mọi người một ấn tượng cởi mở minh bạch.

Vợ anh ta lúc đó cũng đã được điều động đến Bắc Kinh. Những lời bàn tán trên là do cô ấy chuyển đạt lại cho anh ta. Nếu cô ấy chỉ nghe thấy một lần, thì đã chẳng thèm coi là chuyện to tát mà mang về truyền đạt lại cho anh ta rồi. Nhưng cô ấy vô tình nghe thấy rất nhiều lần. Nếu bản thân anh ta không coi đó là chuyện to tát, thì trên thực tế những lời bàn tán đó rồi sẽ tự sinh tự diệt. Cố tình anh ta lại tự mình coi đó là chuyện to tát. Không những coi là chuyện to tát, mà còn coi thành tâm bệnh. Dẫu sao thì không có trải nghiệm phong phú và kinh nghiệm quý báu nào có thể tung hoành ngang dọc nơi quan trường, không rành cái gọi là "cái nhìn của quần chúng", trong vấn đề đề bạt thường có thể coi là con số không.

Thế là đã xảy ra chuyện của sau này: Tại hội nghị tổng kết cuộc thi tranh biện của sinh viên đại học được tổ chức trong trường, anh ta lại nói ra một phen lời lẽ không hợp thời. Đề tài tranh biện là nhìn nhận sứ mệnh chính trị và trách nhiệm chính trị của sinh viên đại học đương đại như thế nào. Lập luận của phe chính là phải phát huy mạnh mẽ tinh thần và truyền thống "Ngũ Tứ". Kết quả tự nhiên là phe chính thắng.

Thế nhưng anh ta lại thẳng thắn bày tỏ trong bài tổng kết rằng: nếu anh ta là một giám khảo, lá phiếu của anh ta sẽ bầu cho phe phản. Tại sao chứ? Bởi vì theo anh ta, các sinh viên đại học Trung Quốc đương đại, hôm qua vẫn chỉ là những cậu ấm cô chiêu nhà hàng xóm, may mắn đỗ đạt kỳ thi đại học, một bước hóa rồng liền đều trở thành sinh viên đại học. Từ cổng trường này sang cổng trường khác, mức độ ngây thơ, vẫn là cậu ấm cô chiêu nhà hàng xóm của ngày hôm qua. Mà "con quái vật chính trị" ấy lại ngày càng cần nghệ thuật điều khiển cao siêu. Cứ canh giữ đống rác mấy ngày không ai dọn ở phía sau cửa ký túc xá, ngửi cái mùi thiu thối của nó tỏa ra mà nằm trên giường nói chuyện phiếm cái gì mà "vai sắt gánh đại nghĩa", quả thực là vừa buồn cười vừa lố bịch. Nếu không có lòng tự biết mình, nhiệt tình chính trị bị lợi dụng rẻ mạt, thì thật là đáng thương...

Anh ta trích dẫn lời của Hồ Thích —— chủ trương sinh viên đại học trước tiên nên chịu trách nhiệm với cuộc đời của chính mình, lo liệu cho tốt cuộc đời của mình, rồi hãy bàn đến vận mệnh quốc gia cũng chưa muộn...

Anh ta phê phán "Tiếng gió tiếng mưa tiếng đọc sách, tiếng nào cũng lọt tai; việc nhà việc nước việc thiên hạ, việc nào cũng quan tâm". Nói tỷ lệ thi đại học của thanh niên Trung Quốc đương đại chỉ có mấy phần trăm, yêu cầu một thanh niên như thế là không thích đáng...

Anh ta trào phúng "Thiên hạ hưng vong, thất phu hữu trách". Nói người có chút kiến thức lịch sử đều biết, thiên hạ hưng vong, trách nhiệm hoàn toàn thuộc về các chính trị gia quân sự gia, không phải là bách tính bình thường. Nếu thực sự muốn gánh vác trách nhiệm thiên hạ hưng vong đó, thì trước tiên cũng phải trở thành chính trị gia hoặc quân sự gia đã...

Cuối cùng anh ta nhấn mạnh, suy cho cùng, tóm lại trong một câu, anh ta chủ trương sinh viên đại học Trung Quốc đương đại hãy bớt bàn về chủ nghĩa đi, hãy thực tế hơn với học nghiệp; hãy rời xa chính trị một chút, lại gần cuộc đời một chút...

Đương nhiên, anh ta cũng dùng chính bản thân mình làm người thật việc thật để nói lên.

Đó lại là một lần phát biểu chân thành nữa của anh ta. Nếu không chỉ trích sự chân thành của anh ta có tạp chất gì, thì đó cũng chẳng qua chỉ là —— anh ta móc tư tưởng chân thật của mình từ trong đầu ra trước đám đông, mưu cầu hiệu ứng một màn ra mắt tư tưởng cởi mở nhất, cố gắng thay đổi ấn tượng của một số người cho rằng anh ta gói ghém tư tưởng của mình quá ư chặt chẽ.

Gậy ông đập lưng ông, lại một lần nữa họa từ miệng mà ra.

Các sinh viên có phản ứng dữ dội đối với bài tổng kết của anh ta. Chỉ có điều đó là phản ứng ngược. Năm 1986, chính là thời đại mà thứ gọi là tư tưởng ở các trường đại học Trung Quốc bị thổi phồng tạo bọt chưa từng có. Sinh viên đại học Trung Quốc đương đại dường như đều cho rằng, hưng vong của Trung Quốc, nếu không phải thế hệ chúng ta thì là ai? Bài tổng kết của anh ta đã chạm đau lòng tự ái non nớt của các sinh viên đại học đương đại, thế là rước lấy đủ loại chất vấn bằng đại tự báo tiểu tự báo giống như thời kỳ "Cách mạng văn hóa". Mang tiếng là chất vấn, thực chất chẳng khác gì "bút phạt". Cũng làm cho các cấp lãnh đạo từ trên xuống dưới nổi giận. Không, nào chỉ là nổi giận, mà đơn giản là khiến họ giận tím mặt. Tệ nạn làm nổi bật chính trị vẫn cứ hoành hành khắp nơi trong khuôn viên các trường đại học, anh ta bị cho là thách thức trực tiếp "chủ quyền chính trị" chủ nghĩa Mác - Lênin trong các trường đại học. Lúc đó đã tiến hành đánh giá lại chức danh chuyên môn rồi, trong các trường đại học lại xuất hiện thêm một lứa phó giáo sư và giáo sư. Trong số đó có những người dạy chính trị đã kịch liệt kháng nghị rằng: "Vậy thì tất cả chúng tôi nghỉ việc ra đường quét rác đi!" Mà cấp trên thì chỉ thị truy lùng bối cảnh.

"Lại còn lôi cả Hồ Thích ra kìa! Hồ Thích là cái thá gì chứ!" Những kẻ tả khuých lúc bấy giờ bắt đầu điều tra lịch sử của anh ta, một lòng muốn làm rõ xem thời trẻ anh ta từng có quan hệ gì, qua lại ra sao với Hồ Thích.

Anh ta liền xuất trình một cuốn tuyển tập của Hồ Thích để thỉnh giáo họ: Sách của Hồ Thích đã được gỡ lệnh cấm xuất bản trong nước từ lâu, công khai trích dẫn vài câu nói của Hồ Thích thì có tội tình gì?

Kết quả lại càng khiến đối phương không chịu bỏ qua cho anh ta. Họ nói nội dung sách có tốt có xấu, có đúng có sai, có tiến bộ có phản động! Sách của Hồ Thích được gỡ lệnh cấm, không có nghĩa là ngay cả mọi tư tưởng ngôn luận của Hồ Thích cũng trở thành chân lý vàng ngọc, có thể dùng làm dinh dưỡng tư tưởng chính diện để nhồi nhét cho sinh viên đại học đâu...

Họ tung thư đi khắp nơi tố cáo anh ta.

Anh ta đã bình luận như thế này trong nhật ký về sự kiện này mà mình vấp phải —— xem ra ở Trung Quốc, tốt nhất vẫn là gói ghém tư tưởng chân thật của mình lại cho thật chặt. Hoặc là, hoàn toàn không có tư tưởng để mà nói thì càng tốt hơn. Bởi vì, tôi cảm thấy không gian tự do được chừa lại cho tư tưởng cá nhân chẳng qua chỉ là một khe hẹp mà thôi. Vậy thì, trừ phi bản thân tư tưởng đó là phẳng lỳ. Bằng không, nó rốt cuộc vẫn cứ sẽ tỏ ra "mặt mày dữ dội". Tư tưởng bị ép sinh trưởng ra từ khe hẹp, nhìn thế nào đi nữa cũng không thể là hình thù kỳ quái cho được...

Anh ta bắt đầu bướng bỉnh lên. Chịu đựng áp lực nhất quyết không kiểm điểm, nhất quyết không nhận sai.

Trong sự kiện này, vị hiệu trưởng già năm xưa của anh ta không còn "có lỗi" với anh ta nữa, mà là "thấy nghĩa hăng hái làm", bảo vệ anh ta giống như một chiến sĩ già. Mặc dù suốt cuộc đời trước đó người sau chưa từng là chiến sĩ nào cả.

Vị hiệu trưởng già năm xưa cũng viết thư đi khắp nơi, tranh luận thay anh ta, bất bình thay anh ta. Trong thư, đối với một số người, thậm chí ngay cả những từ ngữ như "côn đồ đảng" cũng được viết ra...

Vị hiệu trưởng già đột tử vì xuất huyết não vào một đêm nọ.

Khi tang lễ đã kết thúc, ngay cả người nhà của người đã khuất cũng đã đau buồn rời đi, anh ta mới tranh thủ xuất hiện một mình trước khi thi thể được chuyển đi.

Anh ta cúi đầu vái sâu ba vái, đặt xuống một bó hoa, nước mắt đầm đìa. Anh ta cảm thấy, bản thân mình đã mất đi người duy nhất trên đời này có thể nhìn nhận mình một cách khá đúng đắn. Người này coi trọng anh ta, bồi dưỡng anh ta, cũng khiến anh ta trở thành "hữu khuých". Giống như một bà nội trợ vì quá thích một chiếc đĩa, lúc lau chùi cẩn thận quá mức, ngược lại lại sơ ý làm rơi vỡ "nó".

Khoảnh khắc ấy ân và oán đan xen trong lòng, lúc quay người đi trong lòng lại hoàn toàn bị bao trùm bởi một thứ tình cảm biết ơn vô hạn.

Anh ta bị cách chức.

Cái "thời kỳ quá độ" đó đã đóng băng vĩnh viễn trong cuộc đời anh ta.

Chức vụ tưởng chừng như sắp nắm chắc trong tay, vì sự chìm xuống một lần nữa trong cuộc đời anh ta, mà tan thành bọt biển.

Anh ta không nắm giữ một chuyên môn nào đủ để mở lớp giảng dạy, tự nhiên cũng không có tư cách tham gia xét duyệt chức danh, chỉ đành đến thư viện làm một thủ thư già.

Ba năm sau, anh ta về hưu. Khi đó đã là thập niên chín mươi. Vẫn không có chức danh, được xếp vào chế độ hành chính chính xứ. Người khác cho rằng anh ta nên cảm thấy được an ủi, còn bản thân anh ta thì cảm thấy bi ai chưa từng có đối với cuộc đời mình. Chỉ có những người đã về hưu, mới có thể thấm thía trải nghiệm được cái hương vị cuộc đời muốn nói lại thôi ấy...

Một người đã về hưu, tự nhiên cũng chẳng có nhiều hội nghị để tham gia, chẳng còn gì để phát biểu nữa.

Thế nhưng tên tuổi của anh ta, lại được nhắc đến bởi miệng người khác trong rất nhiều cuộc hội nghị. Bởi vì Trung Quốc đã xảy ra sự kiện chấn động thế giới đó, mà ngòi nổ của nó trước tiên được châm ngòi ở các trường đại học. Thế nên rất nhiều người bắt đầu đánh giá lại những phát ngôn của anh ta từ ba năm trước, cho rằng không những không sai một chút nào, mà còn hoàn toàn cực kỳ chính xác. Quả thực có tầm nhìn xa trông rộng! Sinh viên đại học không chịu chăm chỉ học tập, thì giở cái thói chính trị gì chứ? Giả sử ba năm trước không phê phán anh ta, không cách chức anh ta, nhân tiện bảo vệ anh ta như một loài động vật quý hiếm, khiến cho những phát ngôn minh mẫn hơn cả Hồ Thích của anh ta có thể tồn tại một cách hợp pháp hợp lý như một thứ âm thanh khác biệt, đồng thời mở rộng sức ảnh hưởng của nó một cách hợp pháp hợp lý, thì tình hình ở các trường đại học sau đó liệu có khác đi đôi chút hay không?

Đương nhiên, cũng chỉ là một sự đánh giá lại, một sự suy đoán sau khi sự việc đã rồi.

Anh ta biết được người khác phát huy quan điểm ba năm trước của mình, trích dẫn lời nói ba năm trước của mình như thế nào, thì chỉ biết cười trừ mà thôi.

Không hiểu thế nào mà ngay cả một số phóng viên nước ngoài cũng biết đến con người anh ta, thế là yêu cầu phỏng vấn.

Dù sao thì cũng đã về hưu rồi, anh ta muốn trò chuyện một chút về cảm giác chân thật của mình đối với Trung Quốc, liền sảng khoái nhận lời.

Kết quả là cái tên của anh ta vậy mà lại xuất hiện trên báo chí nước ngoài, được gọi là "trí thức tự do" của Trung Quốc đương đại.

Còn tôi quen biết anh ta, là chuyện của thời kỳ bùng nổ mạng internet. Tôi vốn dĩ không bao giờ lên mạng, đến nay vẫn chưa đổi bút máy. Nhà mua máy tính cho con trai đã gần mười con năm rồi, tôi chỉ cầm đến con chuột khi lau bụi mà thôi. Đối với những sự náo nhiệt đằng sau màn hình máy tính, tôi gần như hoàn toàn mù tịt, không có chút hứng thú nào. Mạng internet đối với tôi, dẫu có biến thành mỹ nhân đi nữa, cũng không thể cám dỗ nổi tôi. Đương nhiên tôi cũng từng nghe nói trên mạng có những ngôn luận vô cùng không kiêng nể. Chỉ riêng những gì tôi từng nghe nói, nói một cách không mấy khiêm tốn lắm, tôi cảm thấy vẫn chưa có nội dung nào vượt quá bán kính tư tưởng của tôi, cũng không có tư tưởng nào vượt quá tầm nhìn kiến thức của một tài xế taxi ở Bắc Kinh. Kiến thức chứa trong đầu mình là một chuyện, đăng lên mạng lại là chuyện khác. Tôi thừa nhận mạng internet đối với Trung Quốc mà nói, có ý nghĩa giống như "Công viên Hyde" thời kỳ đầu. Cho nên thực ra tôi không hề phản cảm với mạng internet, chỉ là từ chối mà thôi.

Một hôm nọ có một người bạn đến nhà tôi, bàn luận rôm rả với tôi về chính trị trên mạng, liên tục nhắc đến Liễu.

Tôi hỏi Liễu là ai?

Người bạn làm ra vẻ ngạc nhiên: Sao cơ? Anh không biết á? Cậu ta chính là "trí thức tân tả phái" nổi danh lừng lẫy trên mạng đấy!

Liền bắt đầu tuyên truyền với tôi đủ thứ ngôn luận của Liễu trên mạng.

Tôi nghe một hồi lâu, liền nói những ngôn luận đó chẳng có chút gì là mới mẻ cả. Gần hai mươi năm nay, các thế hệ trí thức Trung Quốc, chẳng phải vẫn cứ bàn tới bàn lui mãi không thôi đó sao?

Người bạn liền cảm thấy tôi đã già rồi, chẳng còn nhạy cảm với bất cứ thứ gì nữa. Hơn nữa, ngày càng trở nên nhạt nhẽo.

Cậu ta nói cậu ta sẽ gửi cho tôi mấy bài viết của Liễu, để kích hoạt bộ não của tôi.

Quả nhiên đã gửi tới thật. Toàn là được tải xuống từ trên mạng.

Tôi đã đọc rất nghiêm túc, nhưng vẫn không đọc ra được điểm nào cao minh về mặt tư tưởng, hơn nữa cảm thấy câu chữ rất thô kệch. Về phần tôi mà nói, những năm gần đây đã có nhận thức khác về tư tưởng. Đó chính là —— chỉ có sự dự báo đi trước hiện tượng mới được coi là tư tưởng. Những thứ đến sau chẳng qua chỉ là tư duy mà thôi. Tư duy thì ai ai cũng có, từ cuộc sống hiện thực lên đến trên mạng, ngày nào ai ai cũng đang tiến hành. Thế nhưng tư tưởng, ở Trung Quốc, quá ư ít ỏi. Cho nên tôi tự mình biết mình, đã trở nên né tránh hai chữ tư tưởng còn không kịp, sợ rằng nghiêng về tư tưởng sẽ khiến cuộc đời sinh chán ghét...

Người bạn lại tới, xúi giục tôi đi bái kiến "trí thức tân tả phái" trên mạng.

Tôi nói, người ta viết rành rành trong bài viết của chính người ta kìa, người ta chỉ muốn làm "trí thức tự do" thôi mà! Mấy cậu việc gì cứ phải phong tặng người ta danh hiệu khác chứ?

Người bạn nói, cái đó mặc kệ chứ. Trên mạng có kiểu phong tặng của trên mạng. Trên mạng phong ai là gì, ai không muốn nhận cũng không được.

Tôi thốt lên: Thế thì, đúng là mẹ kiếp cái mạng internet.

Không lay chuyển được người bạn, đành phải đi theo cậu ta.

Kết quả vừa gặp Liễu, liền thích ngay ông cụ này. Ông thật sự là một vị lão nhân vừa uyên trí vừa hài hước. Đáng tiếc thay, một con người như ông, mãi cho đến khi về hưu rồi, mới dần dần thức tỉnh bản tính chân thật trong gen của mình.

Ông nói, máy tính đối với ông, giống như búp bê vải đối với bé gái vậy. Nói bé gái ở trước mặt cha mẹ, hoặc làm nũng, hoặc vòi vĩnh, hoặc làm kiêu, hoặc làm mình làm mẩy, đều là mang tâm cơ nhỏ nhem, có mưu đồ muốn đạt được thứ gì đó. Còn búp bê vải thì chẳng thể cho bé gái được thứ gì cả, thế nên mỗi khi đối diện với búp bê vải, con bé mới lẩm bẩm nói những lời thật lòng...

Nhắc đến danh hiệu "trí thức tân tả phái", ông nói, trên mạng ông lại không mang cái danh hiệu đó nữa, mà là "trí thức tân bảo thủ". Nói trên mạng phong vân biến ảo, hôm nay thổi gió tả, ngày mai thổi gió hữu. Những trí thức cảm thấy lạc lõng trong cuộc sống hiện thực, hoặc những trí thức có dục vọng khó được thỏa mãn, mới lên mạng để chứng minh bản thân, làm phồng bản thân. Ông nói, đương nhiên, điểm này chủ yếu thể hiện ở các "chính trị gia mạng" và "tư tưởng gia mạng" mà thôi.

Vừa nói, tay ông vừa gõ lạch cạch lên bàn phím, gọi ra một số nội dung liên quan đến bản thân rồi chỉ cho chúng tôi xem: "Cậu nhìn xem, chỗ này nói về tôi thế nào này! Cậu xem tôi lại không phải là 'trí thức tân bảo thủ' nữa rồi, mà là 'trí thức nhàn rỗi' rồi! Lại nhìn chỗ này xem, ơ kìa, sao tôi lại thành 'chủ nghĩa bất đồng chính kiến ôn hòa' thế này? Đúng là đội mũ lung tung!"

Nói dứt lời liền cười lớn sảng khoái. Cười vô cùng vui vẻ.

Ông nói, các bài viết trên mạng của ông đã bắt đầu được các tiểu báo tiểu san in lại rồi. Riêng tháng này, đã có mấy khoản nhuận bút được gửi tới. Từ trong ngăn kéo bàn máy tính lấy ra một cuốn sổ nhỏ, lật ra xem một lát, đắc ý nói: "Nhiều hơn tháng trước hai khoản nhuận bút, cộng lại gần tám trăm nhân dân tệ rồi, không ít đúng không? Tôi mê mạng internet, không chỉ vì cô đơn, mà còn là để mưu sinh nữa đấy!"

Vì ông đã là một nhân vật trên mạng rồi, nên trong cuộc sống hiện thực, cũng vì thế mà thu hút ít nhiều sự chú ý, lại thường xuyên được mời tham gia mấy cái hội nghị vớ vẩn nào đó.

"Tôi không thích họp hành, không thích phát biểu tại hội nghị, nhưng nếu có tiền thỉnh giảng, đôi khi tôi cũng đi. Tôi khá thích tiền. Tiền có thể nâng cao mức sống của tôi và vợ tôi đấy chứ!"

Ông thành thật đến mức đáng yêu.

Sau đó tôi đã gặp lại ông tại một buổi hội nghị. Khi người chủ trì giới thiệu ông, đã gọi ông là "nhà bình luận tạp văn mạng nổi tiếng". Ông không hề tỏ vẻ khiêm tốn, đường hoàng nhận lấy. Sau buổi họp, ông mời tôi cùng đi dạo hiệu sách, trước kệ sách chuyên ngành khoa học xã hội, chúng tôi cùng lúc phát hiện ra một hàng mấy cuốn văn tập của tiên sinh Phí Hiếu Thông, sách được xuất bản rất có khí thế. Ông dùng tay mơn trớn gáy sách, giống như ngón tay của người mù lướt trên phím đàn. Lúc đó biểu cảm của ông rất nghiêm nghị, tiếp theo là thê thiết...

Rời khỏi hiệu sách, ông im lặng suốt dọc đường. Khi chia tay, mới hỏi tôi: "Cậu có biết không? Tiên sinh Phí Hiếu Thông khi bảy mươi, tám mươi tuổi, vẫn tự thân vận động làm điều tra xã hội, miệt mài không biết mệt viết thêm mấy triệu chữ..."

Tôi gật đầu tỏ ý biết.

Ông thở dài thườn thượt: "Xã hội học Trung Quốc sau này không có người kế thừa rồi! Đáng lẽ ra, tôi cũng có thể trở thành nhà xã hội học mà. Ít nhất, là có thể trở thành nhà học giả xã hội học đấy chứ! Tôi... không nói nữa, tạm biệt!"

Lời của ông vừa dứt, quay người sải bước rời đi. Đó là một ngày mùa đông, rất lạnh, gió rét thổi cấp bốn cấp năm. Nhìn bóng lưng của ông cụ đi ngược gió rét dần khuất xa, trong lòng tôi dâng lên một nỗi trống trải mênh mông...

Ông đã qua đời khi gục trên bàn máy tính.

Không biết vì sao ông lại vướng vào vòng xoáy mắng chửi lẫn nhau — một "chủ đề" hạ lưu bỉ ổi nhất được lên kế hoạch vô cùng tỉ mỉ bởi một số kẻ hạ lưu bỉ ổi nhất trên mạng. Trên mạng không có lớn nhỏ, thoạt đầu là ông bị "cư dân mạng" mắng mội tơi bời, cuối cùng không giữ nổi sự điềm tĩnh và phong thái của một ông cụ bảy mươi ba tuổi nữa, thế là mắng chửi lại, thế là lại phải hứng chịu những lời mắng chửi lăng mạ nhân cách cay độc hơn nữa...

Ba chữ cuối cùng xuất hiện nhấp nháy trên màn hình máy tính do ông gõ ra là: "Tôi cho rằng..."

Còn một chuỗi ở phía dưới là những lời người khác mắng chửi ông:

"Đồ già dịch, về nhà mà chơi với cái lỗ thị mẹ mày ấy!..."

Lời lẽ dơ bẩn tục tĩu, kể không sao xiết.

Mà tên của trang web đó lại là "Phát biểu công cộng".

Thực sự không thể hiểu nổi, sao ông vẫn còn thích phát biểu đến thế nhỉ?

Đã bảy mươi ba tuổi rồi, cuối cùng cũng có thể làm một người Trung Quốc không cần phải phát biểu nữa cơ mà, tại sao cứ nhất quyết không chịu chứ?

Khi vợ ông phát hiện ra, thi thể của ông đã cứng đờ, đã lạnh ngắt rồi...

Trong nhật ký của ông, có một đoạn dài bàn về những cảm ngộ xoay quanh việc phát biểu của người Trung Quốc, đọc lên vô cùng sâu sắc: "Trung Quốc nước lớn, người đông, hội họp cũng nhiều, đặc biệt là giới trí thức, cả đời có mấy ai chưa từng phát biểu trong các cuộc họp? Hoặc chủ động, hoặc bị động, hoặc bày tỏ thái độ, hoặc bàn bạc công chuyện, cả đời có mấy ai chưa từng vì phát biểu mà ảnh hưởng đến cuộc đời? Có người rốt cuộc nhờ giỏi phát biểu mà gặp vận may, nổi đình nổi đám. Dù đạo đức tài năng tầm thường, vẫn phất lên như diều gặp gió. Có người rốt cuộc vì nói thẳng suy nghĩ của mình mà gặp vận hạn giáng đầu, liên tiếp gặp trắc trở. Dù quang minh lỗi lạc, lại bị đưa vào danh sách khác biệt. Thế là thói qua loa đối phó dần lớn mạnh, lời giả lời suông lời sáo rộ lên thịnh hành. Tệ nạn này kéo dài cho đến nay, làm hỏng phẩm cách trí thức, đầu độc thế hệ thanh niên sau này. Mỗi khi thấy thanh niên phát biểu trong hội họp hào hùng khí thế, lời lẽ phù phiếm nối tiếp nhau, rồi sau hội lại bĩu môi đùa cợt rằng: 'Giả làm thật thì thật cũng thành giả, há ngại gì giả, chi bằng cứ giả', ta lại thấy toàn thân lạnh ngoét. Nghĩ lại ta cũng từng tuân theo thứ luật lệ đê tiện này coi như kinh nghiệm, xấu hổ muốn chết đi, thẹn thùng suýt chết quách cho xong. Hỡi ôi, danh xưng bao giờ mới dứt? Nâng chén hỏi thanh thiên! Hỡi ôi, phát biểu bao giờ mới là thật? Bày tỏ thái độ việc gì phải thường xuyên? Ta muốn bay về theo gió, lại sợ lầu ngọc nhà quỳnh, nơi cao lạnh lắm không chịu nổi..."

Đọc xong, lòng tôi bùi ngùi, vô cùng bùi ngùi.

Một ngày nọ khi đọc lại, một người bạn gọi điện đến, ấp úng báo rằng: "Tôi bị cách chức rồi."

Hỏi đã phạm lỗi gì?

Đáp rằng: "Bởi vì một lần phát biểu, thật ra, đó lại không phải là cái thật của tôi..."

Thế là cứ lải nhải mãi, đau đớn kể lể nỗi oan ức.

Tai tôi ù đi một trận, lập tức thấy đầu óc nặng trĩu.

Tôi nghe chưa hết đã cúp điện thoại——Không thật thì anh còn phát biểu cái nỗi gì chứ?!

Hừ! Trung Quốc ơi, hãy trả lại những lời nói thật cho tôi! Hãy trả lại những con chữ thật cho tôi! Hãy trả lại những kiến giải thật cho tôi! Hãy trả lại những quan điểm thật cho tôi! Hãy trả lại tư tưởng thật, thái độ thật, tính tình thật, lòng dạ thật của con người cho tôi!...

Trả lại cho tôi!

Trả lại cho tôi!...

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 7 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.