Mưa dầm rả rích khóc bên ngoài, những chiếc lá héo úa co ro trước khung cửa. Vào một ngày cô đơn thế này, tôi nhớ mẹ. Có ba con mắt đang nhìn trộm tôi qua khung cửa, đều là mắt của cây dương kia. Ngẩn ngơ ngơ ngác nhìn tôi, tôi cảm thấy đó là một ánh nhìn đăm đăm.
Tôi rất muốn được như một hán tử Sơn Đông, trực diện gọi mẹ một tiếng "Nương".
"Nương, sao người không ăn cơm?"
"Nương, sao người lại thấy khó chịu rồi?"
Những hán tử Sơn Đông ở một ngôi làng nhỏ ven biển thuộc vùng Vinh Thành, có phải vẫn thường nói chuyện với người mẹ già của họ như vậy không? Tôi thường tiếc nuối khi đối với tôi, nơi đó chỉ là "quê quán", giống như cái bóng của một con người đương nhiên là phải có, nhưng không có thực ra cũng chẳng sao cả. Tôi không thể cảm nhận được tình cảm sâu sắc của cha đối với ngôi làng nhỏ bé ấy. Bởi vì tôi sinh ra ở thành phố Cáp Nhĩ Tân, lớn lên ở thành phố Cáp Nhĩ Tân. Gặp người phương Bắc tôi mới thấy như gặp được người đồng hương. Tôi có lẽ là hậu duệ trẻ tuổi nhất trong lịch sử của những người "Sấm Quan Đông" — ngày ấy, giữa những đợt di dân bị thiên tai đuổi khỏi vùng đại địa Giao Đông hướng về phương Bắc, có một thiếu niên trạc 12 tuổi trơ trọi một thân áo rách tả tơi, sau này ông đã trở thành cha tôi.
"Con nhất định phải về nhà chúng ta một chuyến! Đó mới là cội rễ gốc gác của con!"
Cha thường nghiêm túc nói với tôi như vậy, từ "ta" được ông phát âm thành "tả", tôi nghe ra ý tứ rất đỗi tự hào.
Tôi không biết mình có nên cảm thấy tự hào một chút hay không, bởi vì theo tôi được biết, ở đó chẳng có ngọn núi nổi tiếng hay di tích lịch sử nào đáng tự hào, cũng chưa từng sinh ra một nhân vật nào xấp xỉ có thể coi là người nổi tiếng. Thế nhưng tôi vẫn cực kỳ muốn đi một chuyến. Bởi vì nơi đó giáp biển.
Nhưng quê nhà của mẹ lại ở đâu? Gần với nơi nào?
Mẹ chưa từng nói với tôi câu nào về việc hy vọng tôi hoặc hy vọng chính bà có thể trở về quê nhà một chuyến.
Mẹ của bà là người Cát Lâm ư? Tôi không dám khẳng định. Dường như là thế. Mẹ sinh ra ở một nơi gọi là "Mạnh Gia Cương" chăng? Có vẻ như vậy. Mà lại có vẻ không phải. Có lẽ mẹ sinh ra ở một nơi gần thành phố Giai Mộc Tư chăng? Một nơi mà cha và mẹ từng cùng nhau sinh sống năm xưa?
Khi tôi còn rất nhỏ, mẹ thường vừa làm đồ may vá vừa kể chuyện quá khứ của mình — anh chị em rất đông, bảy, hoặc tám người. Có năm ở nông thôn dịch đậu mùa bùng phát, chỉ sống sót được ba người — mẹ, đại cữu và tiểu cữu.
"Đều tưởng đại cữu con không sống nổi nữa, thế mà nó lại sống qua được. Nó mở mắt ra, nhìn bên trái, nhìn bên phải, thấy mẹ ở bên cạnh, liền hỏi: 'Chị ơi, Tiểu Thạch Đầu đâu? Tiểu Thạch Đầu đâu?' Mẹ bảo nó: 'Tiểu Thạch Đầu chết rồi!' 'Tam Nha đâu? Tam Nha đâu? Tam Nha cũng chết rồi ư?' Mẹ lại bảo nó: 'Tam Nha cũng chết rồi! Nhị Muội cũng chết rồi! Câm Sĩ cũng chết rồi!' Nó liền òa khóc, khóc đến mức nghẹn cả hơi..."
Khi mẹ kể, nước mắt cứ lã chã rơi, rơi xuống mu bàn tay, rơi xuống vạt áo, cũng không lau, cũng chẳng ngẩng đầu lên. Từng mũi từng mũi, từng đường từng đường, vá áo rách cho tôi hoặc cho các em.
"Năm thứ hai lại có thổ phỉ, ông ngoại con dắt lừa đi giấu, bị bọn phỉ treo cổ lên cây, dùng thừng gai nhúng nước quất... Ông ngoại con thà chết cũng không nói con lừa ở đâu, bà ngoại con ôm chặt mẹ và đại cữu vào lòng, dùng tay bịt chặt miệng chúng ta, trốn trong một cái giếng cạn, nghe ông ngoại con bị hành hạ kêu trời thấu đất. Bà ngoại con không dám trèo lên giếng cạn để nói con lừa ở đâu, bọn phỉ gặp phụ nữ thì không tha đứa nào. Sau đó bọn phỉ đốt nhà chúng ta, con lừa được giữ lại, ông ngoại con thì chết..."
Nói là mẹ đang kể cho mấy đứa con chúng ta nghe, chi bằng nói là bà đang độc thoại nhiều hơn, đó càng là một cách hồi tưởng đặc biệt.
Những mảnh ký ức khắc sâu vào đầu óc tôi ấy, chính là toàn bộ hiểu biết của tôi về thân thế của mẹ. Thêm cả cái địa điểm không rõ ràng "Mạnh Gia Cương" ấy.
Số phận đầy tai ương trong cuộc đời nghèo khó bị trói buộc của mẹ trước khi trở thành mẹ của tôi chính là như vậy.
Sau này số phận của bà gắn liền với cha vẫn tiếp tục bị trói buộc với nghèo đói.
Sau này bà trở thành mẹ của tôi lại tiếp tục trói buộc tôi và các em tôi vào nghèo đói.
Chúng tôi kéo vạt áo đã phai màu của mẹ để trưởng thành. Trong cảnh nghèo khó, bà đã tròn trịa làm trọn trách nhiệm lớn nhất của một người mẹ...
Lòng đồng cảm của tôi với con người ban đầu chính được hình thành từ sự đồng cảm dành cho mẹ. Tôi không oán thán những năm tháng tuổi thơ và thiếu niên từng phải bóc vỏ cây, nhặt lõi than, bởi vì tôi từng gánh vác áp lực nghèo đói đè nặng lên mẹ. Hơn nữa cuộc sống cũng đã ban cho tôi món quà dày dặn — nó dạy tôi kính trọng mẹ và tất cả những người phụ nữ ôm ấp cuộc sống gian khó bằng sự kiên nhẫn, tuyệt đối không buông tay vì nếm trải cay đắng.
Vào một ngày cô đơn mưa dầm không ngớt thế này, tôi nhớ mẹ.
Ngoài cửa sổ có mắt của cây dương ngẩn ngơ ngơ ngác nhìn tôi...
Năm đó nhà tôi bị "vây khốn" trên một "hòn đảo cô độc" giữa lòng thành phố — xung quanh toàn là hào móng sâu hai mét, phế tích giải tỏa và vật liệu xây dựng chuẩn bị sẵn. Hầu như cư dân cả một con phố đã dọn đi hết, chỉ riêng nhà tôi là vẫn chưa biết chuyển đi đâu. Bởi vì nhà chúng tôi thuê là tài sản tư nhân — chủ nhà muốn nhân cơ hội tống tiền một khoản lớn với bên xây dựng, trong khi bên xây dựng cho rằng đó là hành vi vô lý gây rối. Kết quả người chịu thiệt trực tiếp chính là gia đình tôi. Đúng như tôi từng viết trong tiểu thuyết 《Cúc áo đen》, gia đình tôi đã trở thành những "Robinson" giữa lòng thành phố.
Dì út đã về quê. Ở thành phố rộng lớn hơn hai triệu dân ấy, ngoài mẹ chúng tôi ra, chúng tôi chẳng còn người thân nào khác. Mà người thân của mẹ chính là mấy đứa con thơ dại của bà. Vì đồng lương rẻ mạt, mẹ làm công nhân tạm thuê ở nhà máy đường sắt, bán rẻ thể lực tầng đáy của một người phụ nữ. Đúc cát — đó là công việc nặng nhọc và nguy hiểm mà đàn ông mới làm. Công nhân tạm thuê chẳng có chế độ bảo hộ lao động nào sất, hoàn toàn dựa vào việc bản thân phải hết sức cẩn thận trong khi làm việc. Sểnh ra một chút là sẽ bị nước gang làm bỏng hoặc bị vật đúc đè bẹp, đè thương. Gần như chẳng có ngày nào mẹ về nhà mà không mang theo những vết thương nhẹ, quần áo của mẹ bị những giọt nước gang bắn tung tóe thiêu cháy thành từng đám lỗ chỗ.
Nơi mẹ làm việc cách nhà rất xa, không có xe buýt tiện lợi để đi, cho dù có, mẹ cũng nhất định tiếc không chịu bỏ năm xu mười xu để đi xe. Thời gian mẹ về đến nhà mỗi ngày, lúc nào cũng tầm bảy giờ rưỡi, ăn tối xong thường là chín giờ kém, chúng tôi lên giường đi ngủ, còn mẹ thì ngồi ở góc giường, treo bóng đèn chỉ có 20 oát ngay trên đầu, nương theo ánh sáng lờ mờ để vá víu quần áo cho chúng tôi hoặc các em. Năm đó thành phố cưỡng chế tiết kiệm điện, cư dân không được phép dùng bóng đèn vượt quá 40 oát. Mà đối với gia đình chúng tôi, việc tiết kiệm điện lại là tự nguyện, bởi vì điều đó đồng thời cũng có nghĩa là tiết kiệm tiền điện. Cái giá phải trả cũng vô cùng thảm khốc. Đôi mắt của mẹ đã hỏng đi chính là trong những năm tháng đó. Cho đến tận bây giờ thị lực vẫn rất kém. Có đôi khi tôi tỉnh giấc giữa đêm, vẫn thấy đèn sáng. Vẫn thấy mẹ đang từng mũi từng mũi, từng đường từng đường khâu vá, tựa như một cỗ máy tự động hoạt động mà không phát ra tiếng động. Hoặc thấy đèn dẫu vẫn sáng, mà mẹ thì vai tựa vào tường, đầu gục trước ngực, đồ vật vá víu còn trong tay, cứ thế mà ngủ thiếp đi. Có biết bao nhiêu đêm, mẹ cứ thế mà ngủ suốt một đêm. Sáng sớm, khi chúng tôi đang nằm ngổn ngang đầy giường ngủ say sưa ngon giấc, mẹ đã chẳng ăn sáng, mang theo nửa hộp cơm chứa đầy cao lương sống hoặc bánh ngô sống, lặng lẽ rời khỏi nhà, đối đầu với gió hoặc dầm mưa, giống như một lữ khách cô đơn đã quen với cảnh độc hành "vượt núi băng ngàn", vượt qua vùng "vây khốn" đến cả một con đường nhỏ cũng chẳng chừa lại để đi làm.
Lại có không ít ngày mẹ tăng ca, thì anh em chúng tôi liên tục mấy ngày thậm chí nửa tháng trời chẳng thể nhìn thấy mặt mẹ. Chỉ biết là tối qua mẹ đã về, sáng nay vừa mới đi. Bằng không sao đèn lại dịch chỗ đi rồi? Bằng không cháo cao lương trong nồi là ai nấu hộ chúng tôi đây?
Em út mới hơn ba tuổi nhớ mẹ, khóc lóc đòi mẹ. Nó cứ tưởng mẹ mất rồi, vĩnh viễn không bao giờ gặp lại mẹ được nữa. Tôi liền dỗ dành nó, hứa với nó tối chắc chắn sẽ gặp được mẹ, để thực hiện lời hứa của mình, tôi chống chọi lại cơn buồn ngủ, kiên quyết không ngủ. Đến đêm, mẹ mới về. Kiệt sức, dáng vẻ chỉ muốn buông thõng cơ thể xuống ngay lập tức.
Tôi nói với mẹ là em út nhớ mẹ.
"Ừ, ừ..." Mẹ mệt đến mức nhắm nghiền hai mắt cởi quần áo, vừa nói: "Ta biết, biết rồi. Đừng nói chuyện với mẹ nữa, mẹ buồn ngủ chết đi được..."
Lời chưa dứt, ôm em út là ngủ thiếp đi.
Hôm sau, em út tỉnh dậy lại khóc lóc đòi mẹ.
Tôi nói: "Mẹ ôm em ngủ đấy chứ! Không tin? Em xem đây là cái gì?..."
Trong vết lõm sâu trên gối, đang yên vị mấy sợi tóc bạc rụng của mẹ.
Tôi dùng hai ngón tay nhặt lên cho em út xem: "Đây chẳng phải tóc của mẹ sao? Ngoài tóc của mẹ ra, nhà mình có ai tóc dài thế này?"
Em út cũng dùng hai ngón tay nhặt những sợi tóc rụng của mẹ từ tay tôi qua, với vẻ mặt khác thường chăm chú nhìn; tiếp theo đặt xuống vết đầu sâu do mồ hôi thấm đọng lại mà mẹ để lại trên gối, rạp người bên gối, túc trực. Giống như đang canh giữ mẹ vậy...
Đáng thương nhất là mẹ vào những dịp cận kề Tết Trung thu, Quốc khánh, Tết Dương lịch, Tết Nguyên đán. Mỗi ngày mẹ chỉ có thể ngủ chừng hai, ba tiếng. Năm đứa con đều cần có áo mới để mặc, mà không có, cũng không có tiền mua. Mẹ liền đêm đêm giặt, khâu, vá, giũa. Nếu là mùa đông, giặt xong nửa đêm đầu mang ra ngoài phơi cho đông cứng lại, nửa đêm sau lại mang vào nhà, hông khô trên ống khói. Mẹ không dám ngủ, sợ cháy khét. Mẹ là một người phụ nữ vô cùng kiên cường, bà hy vọng rằng vào những ngày lễ toàn dân ăn mừng, dù chúng tôi không có điều kiện mặc một bộ quần áo mới, thì từ trong ra ngoài cũng phải mặc thật sạch sẽ. Mặc dù là quần áo đã vá chằng vá đùm, mẹ vẫn tìm đủ mọi cách để làm đẹp cho ngôi nhà của chúng ta.
Ngôi nhà giống như căn hầm, giống như cái tổ chim, giống như cái tổ giữa các gò đất. Đất, bốn bức tường lở đất, trần nhà rớt vữa. Nó khiến cho dẫu người phụ nữ có bản lĩnh đến đâu làm bao nhiêu nỗ lực vì nó đi chăng nữa, thì cũng biến thành công cốc trong vòng mấy ngày.
Thế mà mẹ thường nói: "Ong kiến còn biết dọn dẹp tổ của chúng, huống chi là con người!"
Mẹ dốc kiệt thứ tinh lực chẳng còn một chút dư thừa nào của mình, bằng mọi giá cũng phải khiến cho ngôi nhà của chúng ta trong mấy ngày ngắn ngủi của dịp lễ tết ít nhiều ra dáng một chút.
"Biết đâu sẽ có ai đó đến!"
Mẹ mang trong lòng ước nguyện tốt đẹp ấy, mang theo niềm hân hoan bận rộn làm lụng.
Thế nhưng chẳng có ai đến cả.
Chẳng có ai đến nhưng mẹ cũng chẳng hề cảm thấy cụt hứng hay thất vọng.
Cuộc sống đã không thể biến mẹ thành một người phụ nữ chán chường oán trách trời đất.
Rõ ràng mẹ đang dùng trái tim mình kiên trì bền bỉ ngậm lấy một niềm lạc quan. Niềm lạc quan ấy rốt cuộc dựa vào đâu? Tôi của năm đó không sao biết được, còn tôi của bây giờ hình như đã biết rồi, từ ánh mắt chứa chan nỗi niềm an ủi thầm kín khi mẹ đăm đăm nhìn chúng tôi. Bà sinh ra chúng tôi, bà phải nuôi dưỡng chúng tôi khôn lớn. Bà chưa từng hoài nghi rằng mình không thể làm được. Niềm lạc quan của mẹ năm ấy có lẽ chính là dựa vào thứ niềm tin như thế chăng? Niềm tin duy nhất trước sau như một.
Chúng ta tồn tại nhờ vào mẹ. Giống như cây tỏi phụ thuộc vào củ tỏi. Khi chúng ta đến độ tuổi được người khác định giá, mẹ đã bị chúng ta vắt kiệt. Chẳng có tài sản và kiến thức. Mẹ là một người phụ nữ chẳng có gì trong tay. Thứ mà mẹ cống hiến chính là tâm huyết tràn trề nồng ấm không lạnh lẽo để chúng tôi bú mớm! Mẹ ơi, nương hỡi! Người mẹ già của tôi! Tôi không sao tha thứ cho việc năm ấy bản thân lại vô tâm không biết đau lòng, xót xa cho người.
Đúng vậy, năm đó tôi lại vô tâm đến thế, không hề biết đau lòng và thấu hiểu cho mẹ. Tôi cứ ngỡ mẹ vốn dĩ phải là người chịu thương chịu khó như thế. Tôi cứ ngỡ mẹ sinh ra đã là một người phụ nữ làm lụng không ngừng nghỉ mà không biết mệt mỏi. Tôi cứ ngỡ mẹ mệt thế nào cũng không đổ gục. Kỳ thực mẹ đã từng kiệt sức ngã gục không biết bao nhiêu lần. Vào những lúc đêm khuya thanh vắng, vào những lúc chúng tôi đang chìm vào giấc mơ, không biết bao nhiêu lần mẹ mềm nhũn ngã ra giường, thầm sợ hãi cái chết sẽ tìm đến mình. Nhưng hôm sau bà luôn gượng dậy một cách khiến chính bản thân cũng thấy khó tin, rồi lại đi làm...
Bà thường nói với chúng tôi: "Mẹ sẽ không thấy mệt đâu, đây là phúc phận của các con."
Chúng tôi chẳng thấy đó là phúc phận, mà chỉ tin rằng mẹ mệt thế nào cũng không đổ gục.
Ở Đại Hoang Bắc, tôi từng ăn cá hồi chó. Thịt có màu hồng phấn, béo ngậy, thơm. Người dân địa phương ở sông U Tссу hoặc sông Hắc Long Giang có thói quen dùng thịt cá hồi chó để gói sủi cảo, coi đó là món ăn ngon thết đãi khách quý.
Cách đây không lâu tôi lại nhìn thấy cá hồi chó trên tivi: cá mẹ đẻ con, cá con nở ra. Không ngờ chúng lại lớn lên nhờ vào thi thể của người mẹ đã quen nuông chiều chúng. Cá mẹ quằn quại trong đau đớn, oằn mình giãy giụa, trợn trừng đôi mắt, há hốc miệng và mang, khuấy nước đỏ ngầu một góc. Thế mà không hề bơi đi trốn, cho đến khi thoi thóp, cho đến khi rã rời thành bộ xương khô...
Trái tim tôi lúc ấy chịu một sự kích thích cực kỳ mạnh mẽ.
Trong khoảnh khắc, tôi liên tưởng đến bản thân mình đã trưởng thành và người mẹ của tôi.
Liên tưởng đến tất cả những người mẹ trên chín triệu sáu trăm nghìn ki-lô-mét vuông đất đai này, những người từng và đang kiên cường bền bỉ nuôi dạy con cái trong nghèo khó. Họ chẳng có gì trong tay. Họ bình dị, tầm thường, vô danh tiểu tốt. Phẩm đức xuất sắc nhất có lẽ chính là sự kiên nhẫn. Ngoài sự kiên nhẫn của chính họ ra, họ chẳng có gì để dựa dẫm. Thế nhưng họ có lẽ là những người mẹ xứng đáng với con cái mình nhất! Bởi vì thứ họ cống hiến chính là bản thân họ. Nghĩ đến kiểu cống hiến tựa như bản năng ấy thật khiến tôi xót xa. Mà đằng sau sinh mệnh của họ lại không hề thiếu những trang nam nhi lỗi lạc, đó chính là vẻ đẹp bền bỉ nhất của nhân loại!
Tôi lại liên tưởng đến một chuyện khác: Hồi nhỏ mẹ từng mua hơn chục quả trứng gà, dặn dò chúng tôi tuyệt đối không được làm vỡ, nói rằng đó là dùng để ấp gà con. Gà con lớn lên, nếu có mấy con gà mái, thì sẽ thường xuyên được ăn trứng gà. Mẹ mang đầy lòng tin, hai tay cứ rảnh rỗi là lại cầm một quả trứng lên, nắm lấy, ấp trong lòng bàn tay, khẽ khàng xoa nát. Tôi không tin trong quả trứng như thế lại có thể sinh ra một sinh mệnh. Có hôm mẹ cầm một quả trứng, đi đến trước ngọn đèn, áp quả trứng sát vào ngọn đèn rồi bảo tôi: "Con xem! Trong trứng chẳng phải có thứ gì đó đang cựa quậy sao?"
Tôi đã nhìn thấy, trong quả trứng bán trong suốt, quả thực có thứ gì đó ẩn hiện đang cựa quậy.
Bàn tay ấy của mẹ cũng hóa thành màu đỏ.
Đó là sắc máu đấy!
Máu tựa như sắp nhỏ từng giọt qua kẽ tay mẹ vậy!...
"Mẹ ơi, mau vứt đi!"
Tôi chồm về phía mẹ, giật lấy quả trứng đó, ném vỡ xuống đất — trong lòng đỏ trứng, một sinh mệnh xấu xí không thành hình đang nguầy nguậy bò. Tôi dùng chân dẫm lên, giẫm nát. Không phải để trút giận tàn nhẫn, mà bắt nguồn từ nỗi sợ hãi. Tôi cảm thấy cái sinh mệnh xấu xí không thành hình ấy, nhất định là vì qua bàn tay của mẹ mà hút máu của mẹ nên mới biến thành như vậy! Tôi ngẩng đầu nhìn mẹ, sắc mặt mẹ tái nhợt biết bao, trong lòng tôi tràn ngập sợ hãi, càng thêm tin tưởng những gì mình nghĩ là đúng. Tôi không muốn tâm huyết của mẹ bị hút cạn! Dù cho đó là bất kỳ sinh mệnh vô hình xấu xí nào bị tôi dẫm chết giẫm nát đi chăng nữa, hay là cái nghèo đói tội ác tày trời kia! Bởi vì tôi quá hiểu rõ, nếu chúng ta giàu có, cho dù có sống trong cỗ quan tài mục nát, cũng sẽ có người vui vẻ đến thăm, bất kể là ngày lễ hay ngày thường. Hơn nữa còn mang theo đủ loại quà cáp tùy thân...
"Không, không!" Tôi khóc lớn.
Tôi gào lên: "Con không ăn trứng gà nữa! Không ăn nữa! Mẹ ơi, con sợ..."
Mẹ giận dữ nói: "Con cái nhà này thật nghiệt ngã! Con hại chết một sinh mệnh nhỏ bé rồi! Con sợ cái gì?"
Tôi nói: "Mẹ ơi con sợ mẹ chết... Nó hút máu mẹ..."
Mẹ cúi đầu nhìn tôi, sững người một lát, lặng lẽ ôm chặt tôi vào lòng. Ôm thật chặt...
Cuối cùng đám gà con cũng nở ra hết, con nào con nấy vàng óng như cục bông, hoạt bát đáng yêu. Chúng lớn dần lên, trong đó có ba con gà mái. Sau đó cứ cách vài hôm, chúng tôi lại có thể ăn trứng gà. Nhưng tôi suốt một thời gian dài không dám ăn, đối với lũ gà ấy tôi lại có một thứ tình cảm đặc biệt, coi chúng như những sinh vật có tính người, cảm thấy chúng có một mối quan hệ tựa như huyết thống vậy...
Ba năm thiên tai liên tiếp khiến nước cộng hòa của chúng ta cũng rơi vào khoảng thời gian khó khăn tương tự. Các cửa hàng nhà nước chỉ bán một loại thịt — "thịt nhân tạo", làm từ nước vo gạo sau khi đã lắng cặn. Lương thực là trân bảo, nước vo gạo tự nhiên cũng có hạn. "Thịt nhân tạo" mỗi hộ mỗi tháng chỉ có thể mua được một cân theo sổ mua hàng. Sau đó "thịt nhân tạo" không thu gom đủ lượng nước vo gạo cần thiết để sản xuất, "thịt nhân tạo" liền khó mà mua được. Dùng từ ngữ bây giờ mà nói, chính là "hàng hot". Muốn mua được phải đi "cửa sau".
Đài Phát thanh Trung ương trong chương trình "Vì nhân dân phục vụ" đã nhiệt tình tuyên truyền rằng một lớp màu xanh nào đó dưới mương nước cũng có thể ăn được, thứ đó gọi là "tảo tiểu cầu". Hơn nữa còn chứa phong phú chất này vitamin kia, giá trị dinh dưỡng cực kỳ cao...
Mẹ đi làm về muộn hơn. Nhưng ngày nào cũng mang về một túi nửa túi lộc du. Tôi kinh ngạc vì mẹ vậy mà có thể trèo lên cây để tuốt lộc du. Thế nhưng đó chính là lúc bà trèo lên những cây lộc du lớn cao vút ở nhà máy để tuốt.
""Yêu lạp tử" (sâu róm) không?"
Lúc chúng tôi rửa, mẹ luôn hỏi một câu như vậy.
Lần nào chúng tôi cũng phát hiện có.
Lần nào chúng tôi cũng trả lời là không có.
Chúng tôi biết mẹ giống như nhiều người phụ nữ khác, không hề nhát gan, nhưng lại cực kỳ sợ loại sâu bọ kiểu như "yêu lạp tử" bám vào người.
Lộc du năm ấy đối với chúng tôi là món ngon vật lạ. Chúng tôi chỉ sợ mẹ vì sợ "yêu lạp tử" mà không dám tuốt lộc du cho chúng tôi ăn nữa. Nếu là đầu tháng, trong nhà có lương thực, mẹ sẽ trộn một ít bột đậu vào lộc du, nêm muối, hấp cho chúng tôi ăn. Rất ngon. Nếu không có bột đậu, mẹ sẽ nấu canh lộc du cho chúng tôi uống. Không những bỏ muối, mà còn bỏ cả dầu. Rất ngon miệng.
Có hôm mẹ được đồng nghiệp dìu về nhà — khi mẹ đang trèo cây tuốt lộc du, chợt thấy khắp người bò đầy "yêu lạp tử", hoảng sợ ngã xuống...
Tôi nói với mẹ: "Mẹ ơi, sau này con đi theo mẹ đến nhà máy nhé. Con biết trèo cây giỏi hơn mẹ, con không sợ "yêu lạp tử"..."
Mẹ xoa đầu tôi nói: "Con ngoan, nhà máy không cho trẻ con vào."
Hôm sau, tôi vẫn bướng bỉnh đi theo mẹ đi làm. Dù mẹ có nói thế nào, bác gác cổng vẫn lắc đầu, kiên quyết không cho tôi vào nhà máy.
Tôi đành đứng ngoài cổng nhà máy, trơ mắt nhìn mẹ một mình đi vào nhà máy. Không về nhà, tôi nghĩ mẹ tuyệt đối sẽ không bỏ mặc tôi ở ngoài nhà máy đâu. Chẳng bao lâu sau, tôi nghe thấy mẹ gọi nhỏ mình. Thấy mẹ đã ở bên ngoài bức tường cao, vẫy tay gọi tôi. Tôi tranh thủ lúc bác gác cổng không để ý, lủi dọc theo chân tường, mẹ vội vàng kéo tay tôi chạy, nhà máy lớn quá, bức tường cao quá. Chạy một lúc, chạy đến một lỗ hổng trên tường, nhà máy dùng chỗ đó để thải nước thải ra ngoài, chốc lát lại xả ra một đợt, chốc lát lại xả ra một đợt. Nhân lúc quãng nghỉ giữa hai đợt xả, tôi và mẹ lần lượt chui vào trong nhà máy.
Trước mắt bất ngờ hiện ra một rừng cây du, khiến tôi mừng rỡ mày mở mắt cười. Trong lòng không kìm được nảy sinh một thứ dục vọng chiếm hữu ích kỷ — giá mà nhà mình có nhiều cây du thế này thì tốt biết bao! Thế thì trước tiên tôi sẽ bịt cái lỗ hổng trên tường đó lại, rồi nuôi thêm hai con chó canh rừng. Đương nhiên phải là chó sói dữ dằn!
Mẹ dặn dò tôi: "Đừng đi lung tung khắp nơi. Bị ai hỏi thì cứ nói là con tự chui từ cái lỗ đó vào. Tuyệt đối đừng nhắc đến mẹ. Bằng không mẹ sẽ bị phê bình đấy! Lúc về, vẫn phải chui cái lỗ đó đấy nhé!"
Nói xong, mẹ vội vã rời đi.
Tôi tuốt đầy một bao tải lương thực lộc du, chui từ cái lỗ đó ra, vác trên vai, lòng phơi phới vui sướng đi về nhà. Thỉnh thoảng lại thò tay bốc một nắm lộc du trong bao tải ra, vừa đi vừa ăn.
Kết quả là đằng sau tôi có thêm một vài đứa trẻ trạc tuổi tôi. Thèm thuồng nhỏ dãi nhìn cái miệng đang nhai của tôi.
"Cho ít đi!"
"Cho ít đi mà!"
"Không cho, nói cho chúng tao biết tuốt ở cây nào cũng được!"
Tôi không thèm hó hé, rảo bước đi thật nhanh.
"Còn không cho tao cướp đấy nhé!"
Tôi chạy.
"Cướp!"
"Không cướp thì phí phạm!"
Chúng đuổi theo tôi, đẩy ngã tôi. Cướp...
Lúc tôi từ dưới đất bò dậy, những tên "cướp" đã chạy trốn tứ tán, ngay cả bao tải lương thực cũng bị cướp mất rồi.
Tôi thẫn thờ đứng đó, trên mặt đất là một mảng màu xanh bị dẫm nát bét.
Tôi ôm nỗi ấm hận bỏ đi.
Quay đầu nhìn lại, một bà lão đang nhặt nhạnh ở đó...
Sau khi mẹ tan làm, tôi khóc lóc kể lại tao ngộ của mình cho mẹ nghe, thê thảm bi thương vô cùng.
Mẹ nghe rất chăm chú. Phàm là những chuyện thế này, mẹ luôn lặng lẽ lắng nghe trước, không ngắt lời tôi, ra vẻ kiên nhẫn và xót xa. Cho đến khi các con cảm thấy không còn gì để bổ sung nữa, mẹ mới bình tĩnh đưa ra kết luận của mình.
Mẹ thản nhiên nói: "Trách con thôi. Lẽ ra con nên chia cho chúng một ít chứ, con tuốt cả một bao tải cơ mà! Đứa nào cũng là trẻ con, đứa nào cũng chịu đói. Lại còn keo kiệt như thế, chúng nó không cướp của con thì cướp của ai? Sau này nhớ kỹ, lần sau gặp phải chuyện thế này, trước khi người ta ra tay cướp, hãy chủ động đưa trước, chủ động chia cho người ta. Người ta hài lòng với con, bản thân con cũng chẳng chịu thiệt..."
Mẹ thường giống như một vị đại pháp quan, hoặc một nhân viên hòa giải, xoa dịu khuyên nhủ những xung đột bồng bột tuổi trẻ của chúng tôi với xã hội, chưa bao giờ dài dòng triết lý dạy đời từng tràng. Vẫn luôn là ba hoa hai điều, nói năng rõ mành mành, đúng sai phải trái, đều nằm trọn trong những lời dạy bảo ân cần. Hơn nữa còn thể hiện ra vẻ tuyệt đối công bằng, mong chúng tôi tiếp thu logic của bà.
Chúng tôi tiếp thu rồi, mẹ liền vui mừng, khen chúng tôi: Đứa trẻ ngoan.
Mà logic của mẹ là logic lương thiện, bao hàm một chữ "Nhẫn" dường như chẳng màng tranh đấu mà cũng dường như đầy bất đắc dĩ.
Chỉ để làm mẹ vui lòng, chúng tôi cũng đành gật đầu mà thôi.
Có lẽ vì từ nhỏ đã phải chịu đựng quá nhiều chăng? Sau này trong tính cách của tôi, đáng tiếc lại sinh ra một sự phản kháng bất khuất không chịu nhẫn nhịn. Tôi của năm nay 39 tuổi, đấu đá với người và việc khá nhiều, nói không chằng chịt vết sẹo thì cũng là khắp mình trầy xước. Mỗi khi ngẫm nghĩ lại những lời răn dạy trước kia của mẹ, tôi lại đâm ra ghét bản thân mình là một kẻ cứng đầu ương ngạnh. Sự ăn năn càng sâu sắc lâu dài, tôi lại càng hay tự khắc chế bản thân mà ngẫm nghĩ về chữ "Nhẫn" mà mẹ truyền cho mình. Hoặc ngược lại sự phản kháng, hay gọi là "pháp biện chứng hai mặt" cũng chẳng có gì là không ổn. Thế nhưng lại thường hay đầy rẫy những nghi vấn sau màn "khắc kỷ phục lễ". Không tài nào hiểu nổi đứng ở góc độ một con người, thì rốt cuộc cách đó tốt hay là không tốt?...
Sau trận mưa, lộc du đã biến thành lá cây du.
Lá cây du cũng có thể làm "đậu phụ nhỏ". Nấu canh lá du. Trơn tuột, tựa như trong canh được pha thêm bột mì vậy.
Thế nhưng nhà ăn trong nhà máy của mẹ đã canh gác khu rừng cây du đó vô cùng cẩn mật, lá du đã trở thành món ăn kèm của các chú các bác công nhân.
Tạm biệt nhé, món "đậu phụ nhỏ" xôn xao náo nhiệt...
Tạm biệt nhé, thứ nước canh "trơn tuột" xanh ngắt một màu...
Tạm biệt nhé, toàn bộ mảnh rừng cây du từng khơi gợi trong tôi dục vọng chiếm hữu mãnh liệt và tưởng tượng sau này sẽ dùng chó sói để canh gác nghiêm ngặt...
Chúng ta là đất nước xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc phân phối theo chủ nghĩa cộng sản, đem lá cây du có thể làm "đậu phụ nhỏ" có thể làm món "trơn tuột" ra "cộng sản" hóa, suy cho cùng cũng là chuyện nằm trong dự liệu. Ngược lại cái tâm tư đen tối muốn chiếm làm của riêng của tôi khi đem ra bàn luận vào năm ấy, lại phảng phất chút ý vị tư tưởng vị kỷ tư bản chủ nghĩa mang tính tự phát.
Thế nhưng năm ấy tôi chưa từng sám hối, cũng chẳng hề nguyền rủa.
Mẹ vẫn mang đồ mang vác về cho chúng tôi, một gói vải nhỏ căng phồng — là những bông cỏ đuôi chó được bó thành bó.
Cỏ đuôi chó không thể làm "đậu phụ nhỏ" để ăn.
Không thể làm món "trơn tuột" để uống.
Nhưng lại có thể đan thành những chú chó nhỏ, mèo nhỏ, thỏ nhỏ, lừa nhỏ, lạc đà nhỏ bằng bông xù...
Mẹ luôn có thứ để mang về cho những đứa con cô đơn côi cút hằng ngày mòn mỏi ngóng chờ bà tan làm.
Mẹ mà không mang về được thứ gì, hình như sẽ cảm thấy vô cùng có lỗi với chúng tôi.
Bất kể là thứ gì đi nữa, loại có thể thay thế lương thực cũng được, loại không thể thay thế lương thực cũng xong. Loại kỳ lạ cũng được, loại không kỳ lạ cũng chẳng sao, từ chiếc túi vải nhỏ rách rưới của mẹ trút ra, hình như đều biến thành những món đồ tốt đẹp cả. Cho dù trong mắt những đứa trẻ khác, đó là những thứ chẳng thèm liếc mắt nhìn lấy một cái. Điều quan trọng duy nhất chính là, chúng tôi cảm nhận được trong lòng mẹ dành cho chúng tôi một tấm lòng từ ái biết nhường nào. Đó chính là nguồn cung cấp dinh dưỡng cao cấp "thay thế lương thực" có một không hai trong những năm tháng gian khó đấy!
Mẹ hiểu rất rõ điều này.
Một ngày nọ, trên đường đi học về, tôi bị thu hút bởi một cỗ xe ngựa đậu trước cửa cửa hàng. Con ngựa gầy đứng im lìm trong bóng mát, tựa như một nhà triết học đang chìm trong trạng thái tư duy. Người đánh xe nằm ngủ trên xe ngựa, mà chiếc gối ông ta gối đầu bên dưới, hóa ra lại là bánh đậu.
Cả một góc tư đấy nhé!
Trong số các bạn học của tôi có một người là con trai của chủ tịch quận, có lần cậu ta chia một chiếc bánh bao lớn cho tôi và mấy đứa bạn cùng lớp, thơm đến mức chúng tôi ăn xong cứ chép miệng liên hồi.
"Chiếc bánh bao này nhân gì thế?"
"Bánh đậu!"
"Bánh đậu á? Nhà cậu lấy đâu ra bánh đậu mà dùng?"
"Bố tớ là chủ tịch quận cơ mà!"
Chúng tôi im bặt không nói gì nữa.
Bánh đậu chính là đặc quyền của một vị chủ tịch quận trong những năm tháng gian khó.
Chính là bánh đậu...
Tôi lượn quanh cỗ xe ngựa ấy một vòng, rồi lại một vòng, đoán chừng người đánh xe thực sự đã ngủ say rồi, liền ra tay giật lấy miếng bánh đậu đó.
Người đánh xe vốn chẳng hề ngủ say.
Hán tử nhà quê tuổi chừng bốn mươi hơi mở hé mắt nhìn tôi, tôi cũng nhìn ông ta.
Ông ta nói: "Cút đi."
Tôi nói: "Đi thì đi."
Trộm không thành, chỉ còn cách cướp thôi!
Tôi phắt một cái giật phăng miếng bánh đậu góc tư ấy ra khỏi dưới đầu ông ta, khiến đầu ông ta đập bốp một tiếng xuống ván xe giật nảy mình.
Ông ta lại mở mắt ra, đờ đẫn nhìn tôi.
Tôi cũng ngẩn ngơ nhìn ông ta.
"Mày..."
Tôi cắm cổ chạy tản mác, ôm khư khư miếng bánh đậu góc tư trong lòng, nặng trĩu.
"Bánh đậu! Bánh đậu của tao! Đứng lại!..."
Người đánh xe hãy còn ngẩn ngơ lúc này chạy đi một quãng khá xa mới bừng tỉnh hiểu ra chuyện gì đang xảy ra, vừa hét vừa đuổi theo tôi.
Tôi chạy càng nhanh hơn, giống như một con chuột túi, nhảy nhót luồn lách trong địa hình phức tạp vây quanh nhà mình, tự cho là đã cắt đuôi được kẻ đang truy đuổi, nơm nớp lo sợ đâm sầm vào cửa nhà người ta.
Mẹ hoảng hốt hỏi: "Có chuyện gì thế? Bánh đậu ở đâu ra vậy?"
Tôi cuống cuồng lo lắng, tiền hậu bất nhất nói: "Mẹ mau giấu bánh đậu đi... Ổng đuổi theo con đấy!..." thế nhưng vẫn ôm chặt miếng bánh đậu không rời, ngồi xổm sụp xuống đất thở hồng hộc thành một cục.
👤
Tôi nghĩ mình không thể nói thêm với mẹ một câu nào nữa —— "Mẹ ơi, chúng ta về nhà thôi!"
Điều đó đồng nghĩa với việc thứ tôi đánh mất là hơn ba mươi cuốn truyện tranh, còn thứ mẹ đánh mất là lòng tự tôn bị khinh miệt đến cực điểm. Lòng tự tôn của một người phụ nữ có lòng tự ái.
Tôi không thể nói thế...
Mấy viên cảnh sát bước ra, vẫn không hề chú ý đến chúng tôi, lần lượt lên xe đạp đi về nhà.
Cuối cùng "Gregory" lại bước ra.
"Này, tao bảo tụi mày muốn ngủ ở đây à?"
Mẹ không nhìn hắn. Không trả lời. Đang nhìn đăm đăm vào thứ gì đó ở đằng xa.
"Cầm lấy cho tụi mày này!"
"Gregory" ném mấy cuốn truyện tranh của tôi cùng chiếc cặp sách vào lòng tôi.
Mẹ trầm giọng bảo tôi: "Đếm đi." Giọng điệu rất bình tĩnh.
Tôi đếm một lượt, bảo với mẹ: "Thiếu ba cuốn "Thủy Hử"."
Lúc này mẹ mới ngẩng đầu lên. Nhìn thẳng lên "Gregory", rành mạch nói: "Thiếu ba cuốn "Thủy Hử"."
Hắn cười, từ trong túi áo lấy ra ba cuốn truyện tranh ném cho tôi, lầm bầm: "Ô hay, lại còn dám giở trò này với ông à..."
Mẹ cuối cùng cũng kéo tôi đứng dậy, hiên ngang bước xuống bậc thềm.
"Đứng lại!"
“Gregory” chạy xuống bậc thềm, tiến về phía chúng tôi, hắn bước đến trước mặt mẹ, dùng một ngón tay hất chiếc mũ vành rộng lên, sau đó vuốt chòm râu con kiến của mình.
Tôi không kìm được mà ôm chặt lấy "lương thực tinh thần" của mình vào ngực.
Còn mẹ kéo tôi lại gần bên người, giống như lúc nãy ngồi trên bậc thềm, lại dùng một cánh tay ôm lấy tôi.
"Gregory" dùng thứ ngôn ngữ không cho phép cãi lại mà một vị tướng lệnh cho hai người lính dùng để nói: "Đợi ở đây, không có sự cho phép của tao thì không được rời đi!"
Tôi nơm nớp lo sợ ngẩng mặt lên nhìn mẹ.
"Gregory" quay người bỏ đi.
Hắn đi chặn một chiếc ô tô, lớn tiếng nói với tài xế: "Đưa người phụ nữ và đứa trẻ đó về nhà. Phải đưa thẳng đến tận cửa nhà!"
Cuốn tiểu thuyết dài đầu tiên tôi mua là "Cận vệ thanh niên". Hơn một đồng tiền. Mẹ vẫn chưa từng cho tôi nhiều tiền như vậy bao giờ.
Tôi cũng chưa từng đòi mẹ nhiều tiền như thế bao giờ.
Những người cùng thế hệ với tôi, khi các cậu cũng giống như tôi, vẫn là một học sinh tiểu học năm lớp năm, nếu các cậu cũng giống như tôi, sống trong một gia đình lao động bình thường nghèo khó, các cậu hãy làm chứng cho tôi, có ai từng quyết định mở lời xin mẹ hơn một đồng tiền mà trong lòng lại không thiếu đi sự dũng cảm?
Chúng ta của những năm tháng ấy, coi tiền lương một ngày của bố mẹ là một con số phi thường đến nhường nào cơ chứ!
Nhưng tôi khao khát có được một cuốn "Cận vệ thanh niên" đến mức ngẩn ngơ suốt cả ngày, phờ phạc vô hồn.
Tôi từng nghe phát thanh dài kỳ tiểu thuyết "Cận vệ thanh niên" mấy lần từ chiếc đài của nhà bạn học. Hồi đó chiếc đài cũ nhà tôi đã bán mất rồi, đã bị tôi và các em ăn vào bụng rồi.
Thứ được ăn thẳng vào bụng đương nhiên không thể thay thế cho "lương thực tinh thần".
Lúc đó tôi còn chưa biết cái gọi là "vitamin", lại càng chưa từng nghe ai nhắc đến "calorie", nhưng đại não lại rất thích nuốt "chủ nghĩa anh hùng cách mạng". Giống hệt như các cô bé ngày nay thích nhai kẹo cao su vậy.
Dưới sự xúi giục của chính mình, tôi đã đến nhà máy của mẹ để xin tiền mẹ. Năm đó mẹ bị nhà máy đường sắt sa thải, vì mức lương hai mươi bảy đồng mỗi tháng, lại đi làm việc ở một xưởng nhỏ thuộc phố phường. Một xưởng nhỏ phố phường mang phong cách nô lệ thời trung cổ chuyên gia công mũ giày vải bông.
Một hàng cửa sổ rách nát, ít nhất có một phần ba bị chôn vùi dưới đất. Cửa cũng vậy. Cho nên chỉ có thể mở hướng vào trong. Kính cửa sổ bẩn đến mức mất đi độ trong suốt, giống như kính mờ vậy. Tôi không phải bước vào trong cửa mà là nhảy vào trong. Tôi không ngờ mặt đất bên trong cửa lại thấp hơn mặt đất bên ngoài nửa mét. Một chiếc ghế đẩu nhỏ dùng để bước chân được trưng dụng làm bậc thềm trong cửa. Tôi giẫm lật nó, ngã nhào vào trong cửa giống như rơi xuống một cái hố sâu.
Đó là lần đầu tiên tôi đến cái nơi mà mẹ kiếm tiền nuôi chúng tôi.
Không gian vô cùng thấp bé. Thấp bé đến mức khiến người ta cảm thấy tâm lý vô cùng đè nén. Xưởng sản xuất chưa đầy hai trăm mét vuông, bốn bức tường ẩm ướt xiêu vẹo, bảy tám mươi chiếc máy khâu cũ kỹ xếp thành từng hàng, bảy tám mươi người phụ nữ tuổi đều không còn trẻ đang bận rộn sau chiếc máy khâu của mình. Bởi vì ánh sáng mờ tối, phía trên đầu mỗi người phụ nữ đều treo một bóng đèn. Đúng lúc đang là mùa hè oi ả, cửa sổ không thể mở, nhiệt lượng tỏa ra từ cơ thể của bảy tám mươi người phụ nữ và bảy tám mươi bóng đèn khiến tôi có cảm giác như đang ở trong lồng hấp. Những người phụ nữ ấy nóng đến mức chỉ mặc áo ba lỗ. Có chiếc áo ba lỗ rộng thùng thình, có chiếc chật chội, có người còn mặc áo ba lỗ của đàn ông, để lộ ra một khoảng khá lớn ngực đầy đặn hoặc khô héo, đủ mọi hình thù kỳ quái. Bông vải bay phấp phới giữa những người phụ nữ, những người mẹ như sương mù màu nâu, như bông tuyết bay lả tả khắp nơi. Mà họ buộc phải đeo khẩu trang từng người một. Trên khẩu trang của những người phụ nữ, những người mẹ, đều có ba hình tròn màu nâu đặc kín. Đó là bởi vì hơi thở từ mũi và miệng của họ làm ẩm khẩu trang, bông vải bám dính lên trên đó. Tóc, cánh tay và áo ba lỗ của những người phụ nữ, những người mẹ cũng gần như đều biến thành một màu nâu nổi bật, lông lá xù xì. Tôi cảm thấy bản thân như đang ở giữa những người phụ nữ, những người mẹ thời kỳ người vượn Sơn Động.
Tôi đờ đẫn đảo mắt nhìn lướt qua những người phụ nữ, những người mẹ ấy, mà không tìm thấy mẹ mình.
Tiếng ồn phát ra từ bảy tám mươi chiếc máy khâu cũ kỹ điếc cả tai.
"Tìm ai đấy?"
Một ông già dùng cái vạt tre đập vào đệm bông lớn tiếng quát tôi, nhưng tay vẫn không ngừng đập.
Ông già phủ đầy lông lá màu nâu ấy trông giống như một con vượn đực già.
"Tìm mẹ cháu!"
"Mẹ mày là ai?"
Tôi lớn tiếng nói tên mẹ ra.
"Đấy!"
Ông lão chỉ tay về phía góc trong cùng.
Tôi bước qua một hàng máy khâu, đi đến góc đó, nhìn thấy một tấm lưng còng vô cùng gầy gò phủ đầy lông lá màu nâu, đầu cúi sát vào mặt bàn máy khâu. Hơi nóng từ mấy chiếc bóng đèn xung quanh nướng rát mặt tôi.
Mẹ ơi...
Tấm lưng thẳng lên, mẹ tôi. Quay người lại rồi, mẹ tôi. Phía trên chiếc khẩu trang bẩn thỉu phủ đầy lông lá màu nâu, ánh mắt mệt mỏi của một đôi mắt quen thuộc đang kinh ngạc nhìn tôi, đôi mắt của mẹ tôi.
Mẹ lớn tiếng hỏi: "Mày đến đây làm gì?"
"Con..."
"Có chuyện gì thì nói mau đi, đừng làm lỡ việc làm ăn của mẹ!"
"Con... muốn tiền..."
Vốn dĩ tôi không muốn thốt ra hai chữ "muốn tiền" đâu, thế mà lại thốt ra mất rồi!
"Lấy tiền để làm gì?"
"Mua sách..."
"Bao nhiêu tiền?"
"Một đồng rưỡi là được ạ..."
Mẹ lấy từ trong túi áo ra một cuộn tiền lẻ, dùng những ngón tay nứt nẻ đếm.
Người phụ nữ bên cạnh dừng máy khâu lại, rướn người về phía mẹ, quát lớn: "Đại tỷ, đừng cho! Không có ai làm mẹ kiểu này cả! Cung cấp cho chúng ăn, cung cấp cho chúng mặc, cung cấp cho chúng đi học, lại còn cung cấp cho chúng tiền đọc truyện tranh nữa à!..." Lại quát lớn với tôi: "Mày nhìn xem mẹ mày kiếm tiền bằng cách nào đây hả? Mày nỡ lòng nào ngửa tay xin tiền mẹ mua truyện tranh hả!..."
Nhưng mẹ đã nhét tiền vào lòng bàn tay tôi, lớn tiếng đáp lại người phụ nữ kia: "Ai bảo chúng ta làm mẹ làm chi! Thằng bé thích đọc sách thì tôi rất vui!"
Nói xong, mẹ lập tức ngồi xuống lại, lập tức còng lưng xuống lại, lập tức cúi đầu sát vào mặt bàn máy khâu lại, lập tức chìm vào trạng thái bận rộn cơ học dùng cả tay lẫn chân...
Ngày hôm đó, lần đầu tiên tôi phát hiện ra mẹ mình hóa ra lại gầy gò nhỏ bé đến thế, suýt chút nữa đã là một bà lão rồi! Khoảng thời gian đó tôi vẫn luôn cố gắng hồi tưởng lại hình ảnh của một người trẻ tuổi, vậy mà lại không tài nào nhớ nổi rốt cuộc mẹ đã từng trẻ tuổi vào lúc nào.
Ngày hôm đó, lần đầu tiên tôi cảm thấy mình đã lớn, nên là một người lớn rồi. Và vì tận mười lăm tuổi mới nhận thức được rằng bản thân nên là một người lớn mà cảm thấy xấu hổ vô cùng, không có chỗ nào để dung thân.
Sống mũi tôi cay xè, nắm chặt tiền chạy vụt đi...
Hôm ấy, tôi dùng một đồng rưỡi đó mua cho mẹ một hộp đồ hộp trái cây.
"Cái thằng bé này, ai bảo mày mua đồ hộp trái cây cho mẹ hả?! Không phải mày nói mua sách thì mẹ mới cho tiền mày sao?!"
Hôm đó mẹ đã mắng tôi một trận tơi bời. Mắng tôi xong, lại gom góp đủ số tiền mua "Cận vệ thanh niên" cho tôi...
Tôi nghĩ mình không có quyền dùng số tiền đó để mua bất kỳ thứ gì khác nữa, dù là cho bản thân hay cho mẹ.
Từ đó tôi đã có cuốn tiểu thuyết dài đầu tiên...
Sau đó tôi có cuốn thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm... "Thép đã tôi thế đấy", "Ngưu Mãn", "Dũng cảm", "Hạnh phúc", Khúc ca cờ đỏ...
Tôi không bao giờ mở miệng xin tiền mẹ vì muốn mua sách nữa.
Tôi đã là người lớn rồi.
Tôi bắt đầu kiếm tiền rồi — kéo xe cút kít. Ở bãi hàng hóa nhà ga, dưới dốc Tế Hồng Kiều, trên con đường lớn ngoại ô...
Khi dùng chính số tiền do mình vất vả kiếm được để mua sách, bạn sẽ càng cảm thấy thứ mình mua là thứ đáng đồng tiền bát gạo nhất, tuyệt vời nhất trên đời.
Thế là tôi có hơn ba mươi cuốn tiểu thuyết dài. Đứa trẻ mười lăm tuổi là tôi yêu sách như phụ nữ yêu cái đẹp, khoe khoang sách của mình với người khác chính là sự hư vinh lớn nhất của tôi hồi đó.
Ba năm sau, hầu như tất cả sách đều biến thành "cỏ độc".
Trường học đang đốt sách. Thư viện đang đốt sách. Tất cả các gia đình có sách đều đang đốt sách. Tự mình không đốt, người khác sẽ đến nhà bạn lục soát, kết quả cuối cùng vẫn không tránh khỏi việc bị đốt, gia đình của những người bình thường chỉ còn lại sách của một người, hơn nữa phải đặt ở nơi dễ thấy nhất.
Phố phường cũng trở thành "Ủy ban chấp hành Cách mạng Văn hóa Vô sản" —— một trong những sứ mệnh cũng là đi từng nhà lục soát "cỏ độc" để thiêu hủy.
“Người nhà họ Lương kia, nghe nói trong cái sân này nhà các cháu là con cái nhà người ta mua sách phản động nhiều nhất đấy, giao hết ra đây đi!”
Đối mặt với những người xông vào nhà, mẹ bình tĩnh tuyên bố: "Tôi là người mù chữ, không biết sách nào là sách phản động."
“Ngoài sách của Chủ tịch Mao và Phó tổng tư lệnh Lâm ra, toàn bộ đều là sách phản động, cỏ độc. Đạo luật cách mạng đơn giản dễ hiểu này ngay cả người mù chữ cũng nên hiểu chứ!”
“Sách của con tôi, tôi đã đốt rồi, đốt sạch rồi. Bây giờ nhà tôi chỉ có mấy cuốn Sách Đỏ đó thôi.”
Mẹ chỉ cho họ xem.
Họ nghi ngờ.
Mẹ liền bưng ra một chậu tro giấy: "Sợ các đồng chí không tin, cho nên giữ lại tro giấy để các đồng chí kiểm chứng. Nếu trong nhà tôi mà lục ra được một cuốn sách phản động nào, các đồng chí cứ phê phán tôi."
“Nghe nói con trai bà có mấy chục cuốn sách cơ mà, mà đốt thành mỗi một chậu tro thế này thôi à?”
“Đều giữ lại cả đấy, mười mấy chậu cơ. Tôi chẳng qua chỉ giữ lại một chậu cho các đồng chí xem thôi.”
Vẻ mặt mẹ vô cùng thành kính thật thà.
Họ tin rồi.
Lúc họ đi, mẹ hỏi: "Vậy chậu tro giấy này tôi cũng đổ đi được chứ?"
Họ tốt bụng nói: "Đừng đổ nhé! Giữ lại, giữ cho kỹ vào. Chúng tôi tin rồi, nhỡ đâu mấy người đến kiểm tra lại lần nữa sau này của chúng tôi lại không tin thì sao. Giữ lại là có cần thiết đấy!"
Tro giấy là báo cũ được đốt trước.
Sách của tôi, sớm đã được mẹ giúp đỡ, dán lên trần nhà rồi.
Trước khi tôi về nông thôn, xé giấy dán trần ra, lấy sách từ trên trần xuống, bỏ vào một chiếc hộp, khóa lại, giấu ở trong cùng dưới gầm giường.
Lúc giao chìa khóa cho mẹ, tôi dặn: "Mẹ ơi, mẹ tuyệt đối đừng để bất kỳ ai mở chiếc hộp đó ra nhé."
Mẹ trọng trọng gật đầu nhận lấy chìa khóa: "Con cứ yên tâm về nông thôn đi! Nhỡ nhà mình có hỏa hoạn, mẹ cũng sẽ dặn các em cứu chiếc hộp đó."
Tôi tin tưởng mẹ.
Nhưng khi tôi rời khỏi thành phố, trong lòng mang theo nỗi u buồn sâu sắc. Sách của tôi, một thế giới của tôi đã bị khóa lại, và được mẹ bảo quản hộ tôi giống như một người đầy trung thành, tôi chẳng có gì phải không yên tâm cả. Thế nhưng ai sẽ là người gánh vác nỗi sầu muộn thay cho mẹ đây? Dù chỉ là gánh vác một chút xíu thôi?
Tôi biết, chẳng bao lâu nữa em trai thứ ba cũng phải về nông thôn.
Tiếp theo sẽ đến lượt em trai thứ tư.
Vậy trong nhà sẽ chỉ còn lại cô em gái không gánh nổi nước, người anh trai phát điên và tôi cùng người mẹ gầy gò hốc hác mang bệnh lâu ngày!
Chúng ta sẽ chỉ có thể giống như bố, từ hai hướng ngược lại, Đông Bắc đại ngàn và Tây Bắc xa xôi mà hướng về ngôi nhà ngày càng tàn tạ của chúng ta với ánh mắt đầy quan tâm...
Mẹ càng kiên cường che giấu nỗi sầu muộn bao nhiêu, tôi lại càng thương xót mẹ bấy nhiêu.
Trợ giúp của Chúa, nhà tôi không hề bị hỏa hoạn. Chỉ là vì ngôi nhà lún sâu xuống lòng đất, giống như cái xưởng nhỏ mà mẹ kiếm tiền vậy, vào mùa hè không biết bị nước mưa ngập bao nhiêu lần.
Năm 1979, cách biệt năm năm, lần đầu tiên tôi từ Bắc Kinh về thăm nhà, giúp mẹ dọn dẹp đồ đạc rác rưởi trong nhà, kéo chiếc hộp khá nặng nề từ dưới gầm giường ra. Trên đó phủ đầy rêu mốc trơn tuột.
Tôi hỏi mẹ: "Mẹ ơi, trong hộp này đựng gì thế ạ?"
Mẹ nhìn, hồi tưởng lại, cũng giống như tôi, không tài nào nhớ nổi.
“Mẹ ơi, đưa chìa khóa mở cái hòm này cho con đi...”
“Mẹ cũng không nhớ rõ chiếc chìa khóa nào để mở chiếc ổ khóa này nữa, con thử xem đi!”
Mẹ lấy từ trong túi ra một chùm chìa khóa đưa cho tôi.
Ổ khóa đã rỉ sét cứng ngắc, chẳng có chiếc chìa khóa nào mở được cả. Cuối cùng bị tôi dùng gạch đập tung ra.
Cạy nắp hộp ra, một mùi mốc meo xộc thẳng vào khoang mũi. Cả một hòm sách đã biến thành một hòm giấy vụn ngả vàng.
Trong đống giấy vụn có mấy sinh mệnh nhỏ màu hồng đang ngọ nguậy, giống như những ngón tay phụ nữ vừa mới bị chặt đứt được dưỡng ẩm vô cùng kỹ càng.
Tôi phịch một tiếng đóng nắp hộp lại, rồi dùng hai sức ấn chặt xuống, cứ như thể bên trong hộp có một con quỷ dữ mặt mày dữ tợn vậy.
Cho dù có nhét cả thế giới vào một chiếc hộp như thế thì cũng sẽ mốc meo mà thôi.
Rốt cuộc trong một hòm là gì thế nhỉ?"
Mẹ lại hỏi một câu đầy khó hiểu...
Bố mang theo một trái tim bị tổn thương rời Bắc Kinh về sống ở nhà em trai thứ tư, tôi viết thư cho em trai thứ ba hy vọng mẹ có thể đến Bắc Kinh sống. Đây là chuyện của năm 1985. Tính ra tôi lại sáu năm không gặp mẹ rồi. Việc bố bỏ đi, khiến tôi càng nhớ mẹ hơn. Trong lòng tôi thường xuyên bị một thứ hoảng sợ tiềm ẩn quấy nhiễu, tôi luôn cảm thấy một sự thật không thể vãn hồi đang phục kích ở những ngày rất gần tôi, khi nó đột ngột chồm đến trước mặt tôi, tôi không biết mình phải gánh chịu nỗi bi thương, áy náy và hổ thẹn đó như thế nào.
Thế là mẹ nhanh chóng đến Bắc Kinh.
Có phải mẹ đã cảm nhận được tâm trạng của tôi không?
Vợ chồng tôi mỗi đêm đều ngủ ở phòng làm việc, nhường căn phòng nhỏ mười ba mét vuông của chúng tôi cho mẹ, cô giúp việc nhỏ người An Huy Tú Hoa và cậu con trai ba tuổi rưỡi của chúng tôi. Hai người phụ nữ một già một trẻ và một đứa trẻ đêm nào cũng chen chúc trên chiếc giường cứng không hề rộng rãi.
Mẹ đã lắp toàn bộ răng giả rồi.
Bệnh đau mắt của mẹ càng nghiêm trọng hơn.
"Cô cậu là gì của bác ấy?"
Ở khoa mắt bệnh viện Tích Thủy Đàm, sau khi bác sĩ kiểm tra tỉ mỉ đôi mắt của mẹ, lạnh lùng hỏi tôi.
"Là con trai ạ."
“Tại sao đến mức độ này rồi mới tới khám?”
Tôi á khẩu không trả lời được. Tôi biết để chữa khỏi đôi mắt cho mẹ, các em đã thực hiện rất nhiều nghĩa vụ và hiếu tâm của những người con. Tôi cũng nghe ra ý trách móc trong lời nói của bác sĩ.
"Mộng thịt rất khó loại bỏ, quá dày, hiệu quả phẫu thuật sẽ không lý tưởng đâu. Hơn nữa cũng cực kỳ có khả năng tổn thương đến con ngươi..."
“Vậy —— ít nhất, là nên cấy lông mi giả chứ ạ?...”
Người mẹ đáng thương, đôi mắt đến một cọng lông mi cũng chẳng còn! Đôi mắt mất đi sự bảo vệ thường xuyên bị viêm nhiễm hành hạ.
"Nên nghĩ đến chuyện này, chẳng lẽ cô cậu không cho rằng những gì mình nghĩ đã quá muộn rồi sao? Da mí mắt đã lỏng lẻo như thế này rồi, có cấy lông mi giả thì vẫn sẽ bị lộn ngược vào trong, lại càng tăng thêm đau đớn."
"Vậy..."
"Bao nhiêu tuổi rồi?"
"Sáu mươi bảy rồi ạ."
"Ồ, lớn tuổi thế này rồi... Kê vài lọ nước nhỏ mắt thông thường nhé, mỗi ngày nhỏ cho mẹ mấy lần, giữ vệ sinh cho mắt... Điều này thực tế hơn..."
Tôi dìu mẹ, trong túi áo nhét mấy lọ thuốc nhỏ mắt, chậm rãi bước ra khỏi bệnh viện.
Lặng thầm, tôi không biết nên nói với mẹ lời nào cho phải. Năm mười lăm tuổi, những cảnh tượng khi tôi đến cái nơi mà mẹ kiếm tiền nuôi chúng ta sống qua ngày, từ đó về sau lại càng thường xuyên hiện lên trong tâm trí tôi, đến mức khiến tôi nảy sinh sự nhạy cảm cực độ đối với tất cả những âm thanh giống như dẫm đạp lên máy khâu và tất cả những màu sắc gần với màu nâu.
"Con ơi, con đau lòng thay cho mẹ à? Đừng đau lòng nữa, bác sĩ nói đúng rồi, mẹ lớn tuổi thế này rồi, chữa khỏi hay không thì có sao đâu chứ!..."
Cậu con trai tám tuổi có số lượng "sách" nhiều hơn tôi hồi mười lăm tuổi — tranh truyện hoạt hình, "Nhìn hình đoán chữ", "Tiếng Anh mầm non", "Huấn luyện trí tuệ" gì gì đó. Tiền lương của vợ không cao, thậm chí có thể nói là "tầng lớp thu nhập thấp", nhưng lại rất tin vào những tuyên truyền kiểu như "đầu tư trí tuệ". Những cuốn sách loại này, vợ cũng đọc, con cũng đọc, bởi vì vợ phải tiến hành giáo dục khai sáng cho con, nếu tôi đang viết lách, theo lệ thường cần sự yên tĩnh tương đối, thì bắt buộc phải bày toàn bộ sách lên giường hoặc dưới đất, mặc cho con giày vò, để cắt đứt sự quấn quýt của thằng bé trong chốc lát. Kết quả là người đáng thương hơn không phải tôi, mà là những cuốn "sách" kia của nó.
Đập vào mắt đâu cũng là "sách" của con, chèn ép những "tài liệu đọc" của bố đứa nhỏ từ chỗ tiện tay có thể lấy đến mức không còn chỗ đặt, tôi cảm thấy bất bình khôn nguôi, nhìn thấy lòng dạ rối bời. Vừa phải tiến hành "vườn không nhà trống" đối với sách của mình, vừa phải áp dụng "chính sách tam quang" đối với "sách" của con. Định kỳ quét sạch những cuốn "sách" bị nó giày vò thê thảm kia, không chút tiếc nuối.
Những lúc thế này, mẹ thường hay lẽo đẽo theo tôi bước ra khỏi cửa nhà, đứng ở cửa, nhìn xem tôi ném những cuốn "sách" đó đi đâu, sau đó lại nhặt về. Cứ lặp đi lặp lại như vậy, tôi không hề hay biết.
Một hôm, tôi bước chân vào nhà, lại nhìn thấy cảnh tượng hỗn độn đầy giường đầy bàn toàn là sách vở trẻ em, người đang sắp xếp lại không phải con trai, mà là mẹ. Keo hồ, kéo, dải giấy, thứ gì cũng có đủ. Mẹ đang dán lại những cuốn "sách" đó. Những cuốn "sách" từng bị con trai giày vò thê thảm bị tôi vứt đi.
Mẹ sợ tôi phiền lòng, hoảng hốt lập tức muốn thu dọn lại.
Tôi cầm một cuốn lên lật xem, mẹ dán tỉ mỉ biết bao.
Tôi nói: "Mẹ ơi, đừng dán nữa. Dán có đẹp đến đâu đi chăng nữa thì Lương Sảng cũng không xem đâu, những cuốn sách này sớm đã mất đi sức hút đối với nó rồi!?"
Mẹ bảo: "Mẹ nghĩ, vứt đi thì thấy xót ruột lắm chứ bộ... Hay là để mẹ dán xong hết, mang tặng cho con nhà người ta nhé. Vẫn còn hơn là vứt đi chứ lị!"
Tôi nói: "Rách nát thế này, sao mà mang đi tặng người ta được? Chẳng ai thèm lấy đâu. Mẹ nhìn xem, mẹ có dán theo số trang đâu, cách ba bảy hạm, mẹ lại nhìn mấy trang này xem, dán ngược mất rồi này!..."
Mẹ bảo: "Ấy, cái mắt của mẹ này, hay là gửi về cho con của các em con, hoặc nhờ người mang hộ về cho chúng nó?"
Tôi nói: "Đường xá xa xôi, gửi về hay mang về cho con của các em mấy cuốn sách tranh rách cũ ư? Trong lòng các em không nghĩ gì chắc, các em trai em dâu và em rể không cười chê con sao?"
Mẹ nói: "Thế... hóa ra mẹ dán công cốc rồi à?... Cứ phải vứt đi bằng được sao? Dán xong cất đi, mấy năm nữa, Lương Sảng nó lớn thêm mấy tuổi, lại đưa cho nó xem, biết đâu nó lại thấy giống như chưa từng xem bao giờ ấy chứ?"
Tôi nói: "Cũng có thể. Mẹ thích dán thì cứ dán đi. Dán thành cái dạng gì cũng không sao cả, con không phiền lòng đâu."
Thế là tôi và mẹ cùng nhau dán.
Trong đài phát thanh đang phát một bài hát:
Giày cũ đi rách rồi không vứt thì để làm gì?
Ông cụ bà cụ mấy người thật là lải nhải quá đi mất...
Tôi nghĩ một đứa con trai như tôi chẳng có bất kỳ quyền gì để giễu cợt và trêu chọc những vết hằn sâu do nghèo khó gây ra trên người mẹ tôi. Dưới sự đối lập của tâm lý tiêu dùng và phương thức tiêu dùng hiện nay, điểm này không đến nỗi khiến đứa con trai là tôi cảm thấy buồn cười, mà khiến tôi cảm thấy hình ảnh phản chiếu lạc lõng của nó trong hiện thực lại thê lương và bức bách đến thế.
Tôi bắt buộc phải trang nghiêm.
Đối với tất cả những việc dường như không có ý nghĩa này mà mẹ làm, tôi bắt buộc phải trang nghiêm.
Tôi cho rằng đó là một thứ quyền lợi của mẹ.
Một thứ đặc quyền.
Tôi bắt buộc phải tuân theo.
Tôi bắt buộc phải thành kính.
Tôi không thể tước đoạt đi ngay cả chút quyền lợi ít ỏi này của mẹ mà thiếu đi sự thấu hiểu!
Tôi biết dưới gầm giường, dưới tủ, vẫn còn giấu một số ống đồ uống, hộp bánh quy, những chiếc lọ nhỏ xinh xắn tạp nham gì gì đó, đối với căn phòng mười ba mét vuông mà nói, chúng hoàn toàn là những vật thừa thãi. Vô tích sự.
Tôi vờ như không biết.
Đúng vậy, tôi bắt buộc phải trang nghiêm.
Nó chẳng có gì đáng để giễu cợt và trêu chọc cả. Nếu phát ra từ tôi, đó chính là sự xấu xí của tôi. Mặc dù tôi cũng đành phải định kỳ dọn dẹp chúng đi. Nhưng tuyệt đối không làm trước mặt mẹ, hơn nữa không nỡ làm triệt để, lúc nào cũng phải chừa lại cho mẹ những thứ mà có lẽ mẹ rất coi trọng...
Một hôm, tôi dặn cô giúp việc nhỏ Tú Hoa đưa mẹ ra phòng tắm trong nhà máy tắm giặt. Mẹ bị bỏng nước sôi, là hai người hàng xóm dìu về.
Tôi hỏi hàng xóm: "Tú Hoa đâu?"
Họ bảo cô ấy vẫn đang tắm.
Tôi chưa từng nói lời nào với vẻ mặt nghiêm khắc với cô giúp việc nhỏ cả. Nhưng ngày hôm đó tôi nổi giận, đợi cô ta hớn hở bước chân vào nhà, tôi sầm mặt hỏi cô ta: "Bà bị bỏng mà cô có biết hay không?'
"Biết chứ ạ!"
"Biết mà cô vẫn tắm tiếp á?"
"Cháu tưởng... không nghiêm trọng lắm..."
"Cô tưởng... cô tưởng! Thế mà lúc đó cô chẳng thèm bước đến bên cạnh bà để xem xét một chút sao? Tôi dặn cô thế nào hả!..."
Mẹ thấy tôi quát lên, liên tục nói: "Không nghiêm trọng đâu, không nghiêm trọng đâu, con đừng trách con bé nữa..."
Hơn nửa tháng trời, mẹ âm thầm chịu đựng vết thương đau đớn. Không thốt ra một lời oán trách nào.
Mẹ lại mất răng giả rồi. Mẹ tháo ra ngâm trong cốc súc miệng suốt cả ngày, bị cô giúp việc nhỏ bất cẩn hất nước đổ đi mất.
Mẹ không có cách nào ăn uống được nữa, mỗi bữa chỉ có thể húp cháo.
Đúng hôm tôi sắp đưa mẹ đi làm răng, em gái đánh điện tín tới.
Sau khi xem xong, tôi xé đi.
Mẹ hỏi: "Chuyện gì thế?"
Tôi nói: "Không có chuyện gì ạ."
"Không có chuyện gì thì sao lại đánh điện tín?"
Mẹ gặng hỏi hết lần này đến lần khác.
Mặc dù tôi không muốn, nhưng cuối cùng vẫn đành phải nói cho mẹ biết — người anh cả ở trong bệnh viện tâm thần lâu năm lại xuất viện rồi...
Mẹ im lặng một lúc lâu.
Tôi cũng im lặng một lúc lâu.
Đến phòng làm việc để ngủ trước, tôi trầm giọng hỏi mẹ: "Mẹ ơi, đặt vé tàu ngày nào cho mẹ đây?"
Mẹ nói: "C càng sớm càng tốt, càng sớm càng tốt. Mẹ không về sớm, em trai thứ tư của con lại không thể đi làm được!"
Rõ ràng mẹ càng nói với chính mình hơn.
Tôi nhờ người mua được vé tàu hai ngày sau cho mẹ.
Lúc đi, mẹ dặn dò tôi: "Đừng quên mang theo lọ dầu và cuộn băng gạc đó cho mẹ nhé."
Tôi nói: "Mẹ ơi, vết bỏng của mẹ vẫn chưa khỏi à?"
Mẹ bảo: "Khỏi rồi."
Tôi bảo: "Khỏi rồi thì còn mang theo làm gì?"
Mẹ bảo: "Sắp khỏi hẳn rồi."
Tôi bảo: "Mẹ ơi, con phải xem."
Mẹ đành phải cởi vạt áo ra — lồng ngực gầy hòm của mẹ là một mảng lớn vết bỏng lở loét chưa lành!
Trái tim tôi đau thắt lại.
Tôi không nỡ nhìn, quay mặt đi nói: "Mẹ ơi, con không thể để mẹ cứ thế này mà đi được!"
Mẹ bảo: "Con cũng phải nghĩ cho nỗi khó khăn của em trai thứ tư con chứ!"
---❊ ❖ ❊---
Mẹ đi rồi. Mang theo cả người đầy vết bỏng. Đánh mất cả hàm răng giả. Thứ ở lại, là phiếu khám bệnh tạm thời của mẹ, trên đó những nét chữ nguệch ngoạc viết của bác sĩ khoa mắt — đã không còn giá trị phẫu thuật.
Mùa xuân năm nay, bác Cả bị ung thư qua đời. Sớm từ năm 1964, bác Út đã qua đời rồi. Gia đình nhà mẹ, giờ đây chỉ còn lại duy nhất một người phụ nữ là mẹ, già nua và nhiều bệnh tật, giống như một đoạn rễ cây mục nát. Hơn nữa vẫn gánh vác trách nhiệm đối với các con của một người mẹ già. Đó là thứ mà cho đến chết mẹ cũng không thể rũ bỏ được.
Tôi nghĩ nhất định mình phải quay về bên cạnh mẹ vào lúc mẹ đau buồn. Tôi nghĩ nếu tôi không về thì khốn nạn quá đi mất!
Thế là tôi trở về Cáp Nhĩ Tân.
Mẹ gầy hơn, già hơn, hốc hác hơn. Thực sự trông y hệt như một khúc gỗ lũa được điêu khắc vậy!
Trên khuôn mặt mẹ dường như chẳng hề có sự đau buồn nào. Thần thái thờ ơ đó khiến lòng tôi quặn thắt. Thực ra mẹ đã chẳng còn chút khả năng nào để gánh vác trách nhiệm và sứ mệnh của mình nữa rồi! Mẹ giống như một con mèo già, cái chết đến nơi rồi, chỉ còn mỗi cách quan tâm đến những người thân và con cái đang hấp hối một cách gian nan trên thế giới này mà thôi! Sinh mệnh già nua của mẹ có lẽ đã hoàn toàn mất đi sức sống thể hiện sự bi thương và lòng thương xót trong nội tâm rồi chăng?
Trong nhà em trai thứ tư, lúc chỉ có hai người tôi và mẹ, mẹ cố vực dậy lòng tự tôn cuối cùng của mình, hỏi tôi: "Cuốn sách có tên là "Thành tuyết" mà con viết ấy, tại sao lại làm rùm beng cả thiên hạ lên thế?"
Tôi trầm mặc.
"Vì nhuận bút à?"
“Mẹ... không phải...”
"Không phải? Thế rốt cuộc là vì cái gì?"
“Nghe đây, mẹ với bố chưa từng hy vọng con làm nhà văn nào cả. Con đã là nhà văn rồi thì phải làm cho đàng hoàng vào. Mẹ với bố đều lớn tuổi thế này rồi, đừng có lúc tụi tao còn sống mà làm mất mặt tụi tao nữa...”
“Nhưng trên báo nói thế đấy, em trai con cũng cho là như thế. Đến mẹ và em trai con cũng không thể tha thứ cho những việc con làm, con vẫn thấy mình không sai mấy chắc?...”
“Mẹ, con sai rồi! Con nhất định sẽ nhớ kỹ lời mẹ dặn!...”
Khoảnh khắc đó, tôi thật sự muốn quỳ xuống trước mặt mẹ, nói cho mẹ biết lời thật trong lòng tôi — để làm một nhà văn cho đàng hoàng, tôi đã phải sống khổ sở và mệt mỏi biết bao!
Mẹ không còn mong cầu gì khác ở tôi nữa.
"Không biết làm việc khác nên mới viết tiểu thuyết" — câu nói này hoàn toàn ứng nghiệm với hoàn cảnh của tôi.
Trên thế gian rộng lớn này tôi đã chẳng còn sự lựa chọn nào khác, không còn đường lui nữa rồi!
Mẹ ơi, cứ yên tâm đi. Con nhớ kỹ lời mẹ dặn rồi, cả đời này!
Nếu có ai hỏi nguyện vọng lớn nhất của tôi là gì? Tôi sẽ không chút do dự mà đáp rằng: Đón mẹ già và bố già của tôi đến bên cạnh tôi, để tôi được làm tròn chút hiếu tâm của người con đối với họ. Thế nhưng tôi biết, nguyện vọng này hầu như đồng nghĩa với một thứ ảo tưởng là một bóng trăng trong nước. Khi mẹ già và bố già của tôi còn sống, đại khái là có thể cho là như vậy.
Tôi vô cùng chân thành thành kính biết ơn chính quyền thành phố Cáp Nhĩ Tân vì đã giải quyết vấn đề tuổi già có nơi chốn nương náu cho bố già và mẹ già của tôi. Khiến họ vẫn có thể sống cùng em trai thứ tư của tôi. Nếu không có ân đức này giáng xuống, ở cái không gian sinh sống chật chội tàn tạ rộng hai mươi sáu mét vuông vốn bị chia cắt bởi bốn gia đình, ba thế hệ và một bệnh nhân tâm thần này, chẳng phải bố mẹ già của tôi chỉ còn nước bị nhồi nhét lên trần nhà để ở thôi sao? Giống như hai con mèo hoang vậy! Mà bố với tư cách là thế hệ công nhân xây dựng đầu tiên của nước cộng hòa chúng ta, đã cất bỏ biết bao mồ hôi và sức lực vì nước cộng hòa của chúng ta trong hơn ba mươi năm qua!
Cáp Nhĩ Tân của tôi, thành phố của mẹ tôi ơi, mang thân phận là một nhà văn, vậy mà tôi lại không thể và chưa từng làm được cống hiến thiết thực nào cho người!
Sự áy náy này là nỗi hổ thẹn suốt đời.
Lương Hiểu Thanh vốn dĩ không phải là kẻ chịu ơn mà không biết báo đáp!
Đối với những người đã đọc tiểu thuyết "Loét" của tôi gửi thư về từ đáy lòng, chân thành sẵn sàng nhường ra một gian rưỡi nhà ở của họ để tạm cho mẹ già bố già tôi tá túc, tôi cũng sẽ mãi mãi mang ơn sâu sắc đối với các bạn. Ý nghĩa quan trọng của những việc thế này chính là, biểu thị rằng trong cuộc sống của chúng ta rốt cuộc vẫn tồn tại sự lương thiện.
Một tòa nhà mới của Bắc Kinh chúng tôi mọc lên từ mặt đất. Điều lệ phân chia nhà ở quy định: Cán bộ từ cấp phó phòng trở lên, được cộng tám điểm. Nhân viên nghệ thuật đạt giải thưởng toàn quốc một lần, được cộng hai điểm. Tôi chỉ từng đạt giải thưởng văn học vừa và nhỏ toàn quốc ba lần. Trước khi điền bảng đã xác nhận với các đồng chí trong tiểu tổ phân chia nhà ở tham gia bộ môn văn học, đồng chí ấy thông cảm nói: "Đó là chỉ Giải thưởng Mao Thử, giải thưởng toàn quốc bình thường thì không tính." Tôi tự nhẩm mình từng đạt ba giải thưởng văn học vừa và nhỏ bình thường đã coi như kẻ may mắn trong giới văn đàn, nào dám ôm mộng tưởng giành ba giải thưởng Mao Thử. Cho dù vị thần vận mệnh có thiên vị mà ôm lấy một mình tôi đi chăng nữa, thì tổng số điểm của ba giải thưởng Mao Thử cũng vẫn ít hơn một vị phó phòng hai điểm, mà phó phòng của nước cộng hòa chúng ta phải gấp mấy trăm lần số lượng nhà văn chứ nhỉ?
Mẹ ơi, mẹ cũng phải sống cho thật tốt đấy nhé! Mẹ nhất định phải đợi đấy nhé! Mẹ ngàn vạn lần phải đợi đấy!
Con cầu xin mẹ đấy, mẹ ơi!
Mẹ ơi, trong cõi lòng đầy ưu tư ngưng đọng những đắng cay của mẹ, ngoài việc hy vọng đứa con trai "sống cho thật tốt" làm một nhà văn ra, thì thực sự không còn mong cầu gì khác nữa sao?...
Cơn mưa dầm đã tạnh rồi. Chiếc lá gầy đã đứng yên rồi. Vào một ngày cô độc thế này, tôi nhớ mẹ. Có ba con mắt nhìn tôi qua cửa sổ, đều là những con mắt của cây dương đó. Ngẩn ngơ đờ đẫn nhìn tôi, nhìn người đang nhớ mẹ là tôi.
Đứa trẻ nhà hàng xóm đang hát một bài hát thịnh hành:
Cây dương cây dương cây dương sinh sôi nảy nở đời đời,
Giống như mẹ vậy,
Ai bảo tay không tấc sắt không vướng bận gì nào?...
Từ mẹ già của tôi mà nghĩ đến hàng triệu hàng vạn người mẹ của gần như một thế hệ, những người phụ nữ bình thường thậm chí có thể coi là tầm thường đang hấp hối sinh mệnh ở tận cùng xã hội, đối với con trai của họ, đều là những người mẹ cao quý cả phải không? Từng người một viết ra, đều là những câu chuyện đượm vẻ ấm áp cay đắng và tinh thần nhẫn nại phải không?
Sự thắt thỏm của tôi chính là vì tâm can.
Mẹ ơi!...
Từ chốn xa xôi, con gọi mẹ một tiếng giống như một người đàn ông Sơn Đông, mẹ có nghe thấy không?...