Vũ giả trên cung tròn

Vũ Giả Trên Cung Tròn

Lượt đọc: 126 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Em Họ

❊ ❊ ❊

Đại học A, tôi vĩnh viễn không bao giờ muốn đến nữa.

Những thứ như buổi đối thoại về "Văn học và nhân sinh", đối với tôi, thực chất chỉ là hành vi tự chuốc lấy rắc rối vì nhược điểm không biết từ chối của bản thân mà thôi. Văn học đúng là từng nuôi dưỡng tâm hồn tôi. Cứ đánh bạo mà nói thì quả thực nó cũng từng nuôi dưỡng tâm hồn của "chúng tôi". "Chúng tôi" — một nhóm nhỏ? Đây là một sự thật lịch sử. Nếu phủ nhận triệt để, nghĩ kỹ lại, luôn có cảm giác áy náy như kẻ bội bạc với thời đại. Nhưng đó là văn học của năm ấy. Là "chúng tôi" của năm ấy. Và cái năm tháng mà một đứa học sinh tiểu học dù chỉ nhặt được một xu cũng hết sức thành kính đem nộp cho chú công an. Giờ đây nhân dân tệ trượt giá, "tinh thần một xu" ấy dẫu thế nào dường như cũng chẳng thể "tinh thần" nổi nữa rồi.

Ngày nay văn học và nhân sinh rốt cuộc còn có mối quan hệ gì chứ? Nếu bảo là có, chẳng qua cũng chỉ liên quan đến cuộc đời của nhà văn. Hoặc bao gồm cả một số kẻ vẫn đang khao khát trở thành nhà văn. Người ta bây giờ nói chung, còn chưa đến tuổi suy ngẫm về cuộc đời thì phần lớn đã nhìn thấu nhân sinh cả rồi. Mười bảy mười tám Thanh Hoa Bắc Đại, hai bảy hai tám đại học truyền hình học đêm, ba bảy ba tám muốn gì chẳng có, bốn bảy bốn tám chờ đợi đề bạt, năm bảy năm tám chuẩn bị về nhà, sáu bảy sáu tám chơi chim dưỡng hoa, bảy bảy bảy tám hồn về với đất mẹ, tám bảy tám tám... Cái quy luật này hiển hiện một lộ trình nhân sinh thượng đẳng. Còn hạng hạ đẳng thì sao, từ năm mười bảy mười tám tuổi, nếu trượt đại học, mười phần thì có năm sáu phần gia nhập hàng ngũ "đầu bù tóc rối", thế là mặc kệ đời, đâm lao thì phải theo lao. Giãy giụa hay còn gọi là "phấn đấu", dẫu đáng khen thật đấy, nhưng trước một hiện thực vẫn luôn lấn lướt bức người, chỉ qua một hai hiệp là thường mình mẩy đầy thương tích, thậm chí "tàn phế" cả đời. Cho nên người Trung Quốc ai nấy đều có vài phần chùn bước trước chữ "phấn đấu". Cách nói giả vờ tiêu sái là "lười phấn đấu". Huống chi trong cuộc đọ sức giữa hiện thực và nhân sinh, hiện thực xưa nay luôn nắm chắc phần thắng. Nhân sinh thỉnh thoảng thắng được một ván, đó cũng chẳng phải bản lĩnh gì của nhân sinh. Chẳng qua là hiện thực cố ý để lộ một sơ hở, nhường cho nhân sinh một phen mà thôi. Nhân sinh đánh trận nào thua trận nấy, cuối cùng chưa đánh đã tự tan, đến cả hiện thực cũng cảm thấy nhạt nhẽo, chẳng còn hứng thú làm hiện thực nữa. Huống chi, cái gì mới gọi là thắng bại của nhân sinh chứ? Nghĩ thông suốt cũng vậy, nghĩ không thông suốt cũng vậy, trừ phi anh làm quan đến cấp bộ trưởng trở lên, chứ năm bảy năm tám, chẳng phải ai nấy đều phải chuẩn bị về nhà cả sao? Vượt qua một giai đoạn "cai sữa" giữa nhân sinh và xã hội, quen với nỗi quạnh quẽ sau khi về nhà rồi, ai thích chơi chim chẳng phải đều có thể nuôi một con chim như nhau sao? Ai thích dưỡng hoa chẳng phải đều có thể trồng một chậu hoa như nhau sao? Điểm khác biệt duy nhất chẳng qua chỉ là con chim được chơi hay chậu hoa được trồng kia quý giá hay không quý giá mà thôi...

Nhân sinh còn như thế, tâm hồn còn mong cầu gì hơn nữa? Một nhân sinh đầy tính khái niệm chỉ có thể "chắt lọc" ra thứ văn học đầy tính khái niệm. Văn học khái niệm làm sao có thể "nuôi dưỡng" những tâm hồn dường như chới với bơ vơ từ thuở thanh xuân? Tâm hồn một khi đã gắn quá chặt với nhân sinh thì dùng thứ gì cũng không dễ nuôi sống được nữa. "Chúng tôi" của năm xưa sống thật đặc biệt. Dường như nhân sinh là nhân sinh, tâm hồn là tâm hồn. Nhân sinh đào bới dưới mặt đất, nếm trải sự tầm thường có thật, nhưng tâm hồn lại như có thể bay lượn lên tận bầu trời, từng chiếc lông vũ đều phô diễn vinh quang sau khi được thăng hoa. Ấy gọi là bù trừ khiếm khuyết, càng thêm rạng rỡ. Người ta bây giờ thì thực tế hơn nhiều. Điều tâm hồn hy vọng cũng chính là điều nhân sinh hy vọng. Thậm chí còn xa xỉ hơn, mãnh liệt hơn điều nhân sinh hy vọng, tuyệt đối không hề kém cạnh. Hứa hẹn với người ta bằng hai thứ khác biệt là điều tuyệt đối không xong. Mưu toan dùng phương thức của năm xưa để dụ dỗ tâm hồn người ta thoát ly khỏi trải nghiệm thực tế của cuộc đời mà "thăng hoa" lên, về cơ bản chỉ là ảo tưởng viển vông một phía. Ngày nay cuộc đời của ai nấy đều mong ngóng được "thăng hoa", trong khi tâm hồn lại chẳng mấy mặn mà. Cho nên cũng có thể rút ra một kết luận là — "chúng tôi" của năm xưa quá ngốc, còn thời đại năm xưa lại quá xảo quyệt. Người bây giờ quá "khôn", mà thời đại bây giờ lại chưa nghiên cứu ra được chiêu thức xảo quyệt hơn để đối phó với những kẻ quá "khôn" ấy. Chi phí cho "công tác tư tưởng" không nghi ngờ gì đã tăng gấp mấy chục lần so với năm xưa, hình thức rầm rộ hoành tráng nhưng hiệu quả thực tế lại vô cùng nhỏ bé... rất khó chạm sâu vào tận tâm hồn.

Tất nhiên tôi không đến trường đại học "đối thoại" với tư cách và bộ mặt của một "người làm công tác tư tưởng". Tôi đến với tư cách và bộ mặt của một tiểu thuyết gia. Ai nấy đều biết, mặt mũi tôi gầy gò hốc hác, thân hình tiều tụy trơ xương. Một con người như thế, nếu không phải đạo sĩ mà là tiểu thuyết gia, thì dẫu thâm tâm chẳng ưu tư phiền muộn điều gì, người nhìn vào cũng có thể cố nhìn ra đôi chút nét ưu sầu lo nghĩ. Chí ít thì người ta cũng đâm ra lo lắng thay cho một tiểu thuyết gia như vậy. Vì thế tôi luôn bị coi là tiểu thuyết gia thuộc mẫu hình ưu thời mẫn thế. Dù sau mỗi lần đối thoại, tôi đều năm lần bảy lượt thanh minh — hiện thực thực ra rất tốt đẹp, chẳng cần ai phải lo nghĩ thay cho nó cả, người ta chỉ cần lo cho bản thân mình là đủ rồi. Thế nhưng các sinh viên lại càng xem tôi là tiểu thuyết gia ưu thời mẫn thế hơn. Lại còn đôn hậu mà cho rằng, tôi đã vì hiện thực mà lo nghĩ đến mức không muốn mở miệng nói về nỗi ưu tư ấy nữa.

Tất nhiên tôi cũng chẳng phải loại người không chịu nổi sự cô đơn, rảnh rỗi lúc nào là lén lút chạy đến trường đại học để tìm kiếm cảm giác thỏa mãn của một tiểu thuyết gia. Lại nói, cô đơn là khoảng thời gian quý báu biết bao khó mà có được. Người Trung Quốc, anh muốn cô đơn, phỏng có cô đơn nổi không? Mỗi lần "đối thoại" đều là do bị vận động mà đi. Mà chủ đề của mỗi lần "đối thoại" lại nhất tề đều là "Văn học và nhân sinh". Tiểu thuyết gia nói về văn học, không nghi ngờ gì là thích hợp nhất trần đời. Nhưng ở thời buổi hôm nay, nếu chỉ nói về văn học, há chẳng phải là một việc rất xa rời quần chúng sao? Phải ghép với "nhân sinh" cùng bàn luận thì mới nói tiếp được. Người nghe cũng mới nghe lọt tai. Nếu không có "nhân sinh" nêm nếm gia vị, thì cuộc "đối thoại" mang bất kỳ nội dung nào dường như cũng cứ nhạt nhẽo thế nào ấy, phải không? Văn học và "nhân sinh", đối với tôi, thuần túy là sự tao ngộ gượng gạo của hai chủ đề. Còn đối với các sinh viên, có lẽ nó tương đương với món "cocktail" pha giữa bia và rượu trắng chăng? Món bia văn học nhờ có rượu trắng nhân sinh mà dường như khiến người ta sôi sục máu huyết. Món rượu trắng nhân sinh nhờ có bia văn học mà dường như sủi được chút bọt bèo. Đại khái là chuyện như thế đấy...

Thế nhưng sau mỗi lần "đối thoại", trở về nhà, nghiêm túc ngẫm lại, tự vấn lương tâm, tôi lại luôn cảm thấy mình giống như một gã lang băm bán thuốc giả chốn giang hồ, tự sản xuất tự tiêu thụ, lại kiêm luôn chân quảng cáo, hành vi chẳng khác nào bịp bợm thế gian. Đành phải dùng một thứ logic thế này để tự biện giải cho mình — có trường đại học thì ắt có hội sinh viên. Có hội sinh viên thì ắt có đủ loại hoạt động được tổ chức. Không có hoạt động thì sinh viên sẽ có ý kiến với hội sinh viên của họ. Mà văn học thì luôn nằm trong danh mục "hoạt động" của sinh viên, không mời tôi đi thì cũng phải mời người khác đi. Người khác e rằng chưa chắc đã dễ mời như tôi. Sinh viên là rường cột của quốc gia. Khi chưa thành rường thành cột mà đã vấp váp khắp nơi, khó tránh khỏi làm tổn thương sự tự tin muốn trở thành rường cột của họ. Nhờ vào một kẻ dễ mời như tôi mà cổ vũ lòng tự tin của họ, liệu có tính là đã làm tròn chút nghĩa vụ đối với tương lai của đất nước chăng? Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách mà!

Nghĩ như thế, lòng tôi cũng thấy thanh thản yên ổn hơn.

Có một ngày tôi đang ốm nằm ở nhà, thì có một vị khách không mời mà đến. Lại là một cậu sinh viên hoàn toàn xa lạ.

"Có việc gì thế? Cứ nói đi!"

Chờ cậu ta ngồi xuống rồi, tôi biết rõ còn cố hỏi.

"Thầy Lương, sức khỏe thầy không tốt sao?"

Tôi bảo đúng vậy, tôi ốm rồi.

"Bệnh gì thế ạ?"

Tôi nói bệnh cũ chưa khỏi, lại thêm bệnh mới. Bản thân tôi cũng chẳng rõ rốt cuộc thứ khiến tôi phải ngừng viết, buộc phải nằm bẹp một chỗ thế này là bệnh cũ hay là bệnh mới nữa, chính tôi cũng không rành lắm.

Thế là cậu ta ấp a ấp úng, dáng vẻ như có lời muốn nói lại thôi.

Cậu ta không mở miệng. Tôi cũng chẳng lên tiếng. Cậu ta ngồi. Tôi nằm. Cậu ta nhìn ti vi, mà ti vi thì chưa bật. Tôi nhìn cậu ta, mà cậu ta dường như chẳng hề nhận ra tôi đang nhìn mình. Cậu ta là một thanh niên vóc người nhỏ thó. Gương mặt trông khá thanh tú. Chiếc áo vest là đồ mới. Nhưng chiếc quần thì có vẻ hơi bẩn. Ít nhất cũng nửa tháng chưa giặt rồi. Đôi giày da cũ đã đi đến biến dạng. Nhưng rõ ràng là trước khi đến đã được đánh xi, bụi bặm bám đầy một lớp trên mũi giày. Bên trong áo vest là một chiếc áo len rất mỏng. Cổ áo và cổ tay áo đều đã sứt chỉ. Chiếc quần chắc chắn là bị ngắn. Bởi vì cậu ta vừa ngồi xuống đó, chiếc quần len bên trong đã lộ ra một đoạn dài. Tất thì rách ở ngay mắt cá chân. Trời mới chớm đông, nhưng đợt không khí lạnh đầu tiên đã ùa vào thành phố. Hệ thống sưởi vẫn chưa bật, mấy chậu hoa trong phòng đều bị lạnh đến héo rũ. Bên ngoài gió thổi cấp năm cấp sáu. Tôi trải đệm điện, đắp một chiếc chăn nhỏ. Tôi nhận ra người cậu ta đang lạnh. Trong lòng cũng lạnh. Muốn tỏ ra niềm nở hơn với cậu ta một chút, nhưng lại sợ hễ mình chủ động hạ bớt phòng tuyến thì sẽ giẫm lại vết xe đổ, lại phải ôm thân bệnh tật bị lôi đến trường đại học, lại nhai đi nhai lại cái điệp khúc cũ rích, ba hoa chích chòe một hồi về "văn học và nhân sinh", nên tôi hạ quyết tâm, lần này sẽ giữ kẽ đến cùng. Nếu cậu ta không mở miệng nói ra mục đích đến thăm, thì không cần hỏi; nếu thấy tôi đang ốm mà cậu ta vẫn mở miệng nói, vậy chứng tỏ cậu ta là một sinh viên không hiểu chuyện, cần phải kiên quyết trả lời một tiếng "Không"!

"Thầy Lương, em... về nhé?"

Cậu ta đứng dậy.

Không nói là "Em về đây", mà lại dùng giọng điệu thăm dò hỏi "Em về nhé?", như thể muốn về cũng phải được sự cho phép của tôi vậy.

Thực ra tôi mong cậu ta về lắm. Nhưng không phải mong cậu ta nói ra câu như thế. Tôi cho rằng cậu ta đã suy đi tính lại kỹ càng rồi mới nói vậy.

"Không ngồi thêm một lát nữa sao?"

Tôi cũng dùng giọng điệu thăm dò.

Từ bao giờ mà tôi lại trở nên giả tạo thế này nhỉ?

"Thầy đang ốm, em không làm phiền thêm nữa."

"Thực ra, cậu ngồi thêm một lát cũng chẳng sao đâu. Tôi ốm không nặng đến thế..."

Miệng tôi nói vậy, nhưng trong lòng vẫn cứ mong cậu ta mau về cho rảnh.

"Không ạ. Em không ngồi nữa đâu. Về muộn thì sẽ lỡ mất giờ cơm trưa của trường..."

Lời cậu ta nói ra nghe vô cùng nghiêm túc.

"Thế à?" Tôi giả vờ liếc nhìn đồng hồ treo tường, càng tỏ vẻ áy náy đến tột cùng sự giả tạo, "Trong nhà cũng chẳng có cơm nước gì làm sẵn, nếu không thì thực ra tôi cũng muốn giữ cậu ngồi lại thêm một lúc..."

"Cảm ơn thầy..."

Cậu ta nói, rồi bước ra ngoài.

"Để tôi tiễn cậu..."

Tôi nói, nhưng chẳng hề lập tức xuống giường. Chẳng qua chỉ nhổm người dậy trên giường một cách tượng trưng mà thôi.

Lắng nghe tiếng cửa nhẹ nhàng khép lại, tôi lại bắt đầu tự khiển trách bản thân.

Tiếng gió bên ngoài dường như càng rít to hơn.

Nếu tôi giữ cậu ta lại ăn bữa cơm, đối với tôi chẳng tốn bao nhiêu công sức. Tôi cũng chưa ốm đến mức không bò dậy nổi. Còn đối với cậu ta, dẫu chỉ là húp một bát cháo nóng, ăn nửa cái màn thầu, sẽ là một chuyện vui vẻ biết chừng nào? Tại sao tôi lại chẳng chịu cho người thanh niên này một chút niềm vui chứ? Đúng vậy, tôi không quen cậu ta, xưa nay chưa từng gặp gỡ. Nhưng điều này dẫu có thể trở thành lý do để tôi không muốn tiếp đón cậu ta, thì cũng không thể trở thành căn cứ để tôi giả tạo đối phó với cậu ta như thế! Con người, con người ôi, người Trung Quốc ôi, giữa những người quen biết nhau, chúng ta thường xuyên đem sự giả tạo ướp mặn tính cách của mình đã đành, ngay cả đối với những cơ hội mà chúng ta hoàn toàn không cần bất kỳ e ngại nào để dùng thái độ chân thật chứng minh rằng sự thẳng thắn là điều khả thi trong cuộc sống, chúng ta cũng lại quen tay biến nó thành khoảnh khắc khó chịu như bát "canh vón cục" bị thiu. Chúng ta thà lòng tiếp chuyện huyên thuyên với những kẻ mà mình vô cùng phản cảm thậm chí chán ghét, nhưng lại keo kiệt từng lời nói đến mức quý như vàng ròng đối với một người thanh niên có lẽ vẫn chưa bị nọc độc giả tạo của cuộc đời vấy bẩn. Chúng ta thường theo bản năng dùng sự giả tạo để bôi nhọ lòng thành kính của người khác, chứ không chịu thẳng thắn dứt khoát trả lời một chữ "Không". Lẽ nào chúng ta đã giả tạo thành tính? Lẽ nào chúng ta đã không còn biết thẳng thắn nữa rồi sao? Nếu không, tại sao trong hoàn cảnh căn bản chẳng cần đến sự giả tạo, chúng ta lại cứ tự cho là mình đã giả tạo thành công kia chứ?...

Nỗi tự trách ấy kéo dài mãi cho đến khi con trai tôi tan học về nhà mới tạm thời dừng lại.

Hâm nóng cơm canh, lo cho con trai ăn xong để đi học, tôi một mình cầm quyển sách lên nhưng đọc không vào, lại nghĩ đến chuyện người thanh niên kia tìm đến nhà. Cứ như tự làm khó bản thân mà nghĩ đi nghĩ lại, chẳng phải vì tôi có đức tính "tự phê bình" cao đẹp gì cho cam. Mà là vì nhất thời tôi không thể thoát ra khỏi sự ngượng ngùng khó xử. Đúng thế, đó là một nỗi ngượng ngùng không thể gọi tên. Khi người thanh niên kia ngồi trên sô pha, tôi chỉ thấy ngượng thay cho cậu ta. Lại còn cảm thấy hậu quả của sự đường đột từ phía cậu ta thì tôi chẳng cần phải chịu trách nhiệm gì cả. Cậu ta đi rồi, mới thấy không hẳn là như vậy. Mới thấy lúc ấy bản thân mình cũng đang ở trong sự ngượng ngùng. Mới thấy nỗi ngượng ngùng ấy rốt cuộc đã để lại trọn vẹn cho chính mình. Càng nghiền ngẫm kỹ lại càng nếm ra mùi thiu thối. Giống như vì muốn lừa dối người khác mà bản thân tự gắp một con ruồi bỏ vào miệng nuốt vậy. Bắt đầu hối hận. Bắt đầu cồn cào ruột gan. Bắt đầu buồn nôn.

Thứ tâm lý nhạy cảm quá mức một cách kỳ quặc với chính mình này lại khiến tôi nhớ đến một chuyện khác. Mấy hôm trước, một người bạn học thời trung học của tôi đến Bắc Kinh, qua điện thoại chúng tôi hẹn nhau ngày hôm sau tôi sẽ đến thăm anh ấy. Anh ấy ở nhà khách Bộ Cơ khí ngõ Tô Châu. Tức là một con ngõ nằm cạnh bưu điện đối diện ga xe lửa. Nhưng hôm sau khi đi, tôi lại nhớ nhầm thành "ngõ Kim Ngư". Đương nhiên quanh quẩn ở khu đó nửa ngày trời tôi cũng chẳng tìm thấy "ngõ Kim Ngư" đâu. Thế là tôi bèn hỏi mấy cậu thanh niên đang ngồi trên xe ba gác đánh bài tây. Họ tỏ ra vô cùng nhiệt tình. Chỉ dẫn tỉ mỉ cho tôi phải bắt xe thế nào, chuyển tuyến thế nào, chuyển mấy lần xe, cuối cùng đi mấy trạm, xuống xe rồi đi tiếp thế nào. Tóm lại nghe qua thấy xa vô cùng. Điều này khiến tôi lập tức sinh lòng nghi ngờ. Bởi vì người bạn trung học kia đã nói với tôi rành rọt — ngay gần cái bưu điện đó, đi bộ chưa đầy ba phút! Nghi ngờ một khi đã dấy lên, theo lẽ tự nhiên, tiếp theo chỉ có thể nghĩ thế này — người đời bây giờ thất đức quá, xấu xa quá! Không biết thì lắc đầu bảo không biết. Biết mà lười không muốn chỉ hoặc không muốn nói, thì cứ mặc kệ tôi là xong. Hà cớ gì phải coi tôi như người ngoại tỉnh rồi lừa gạt tôi mắc bẫy, lừa tôi đi xe chuyển tuyến càng đi càng xa mục tiêu, bắt tôi đi đường vòng oan uổng chứ? Tâm lý của người Trung Quốc chẳng phải quá đen tối, quá có vấn đề rồi sao? Thế là tôi chẳng những không cảm ơn họ, ngược lại còn trừng mắt lườm họ một cái thật dữ dằn. Vừa bước đi vừa ngoái đầu lại lườm. Nếu ánh mắt có thể làm hung khí giết người, thì bọn họ từng người một chắc chắn đã bỏ mạng tại chỗ rồi. Bị tôi lườm, bọn họ dường như ngơ ngác không hiểu gì. Dưới mắt tôi, đương nhiên đó là họ đang vờ vịt. Tôi thầm nghĩ ta đã nhìn thấu dã tâm tồi tệ của các người rồi, đâu dễ bị mắc lừa thế được! Ánh mắt của ta nhất định sẽ khiến các người cả ngày hôm nay như có gai đâm sau lưng, hễ nghĩ tới là toàn thân bứt rứt khó chịu. Cuối cùng bọn họ cũng bị tôi lườm cho nổi giận, từng người một bèn gậy ông đập lưng ông mà đồng loạt trừng mắt nhìn lại tôi. Trong ánh mắt của họ đều có một nỗi tức giận sắp sửa bùng phát. Bốn chọi một, tôi không đỡ nổi ánh mắt của họ, càng sợ họ phát hỏa thật sự, bèn thu hồi "binh khí", ôm mối thắng lợi tinh thần kiểu AQ mà nghênh ngang bỏ đi...

Tôi nghĩ mình cũng thật cứng nhắc, cớ sao cứ phải hỏi "ngõ Kim Ngư" mà không hỏi thẳng nhà khách Bộ Cơ khí chứ? Hỏi thăm thêm một lần nữa, quả nhiên ở ngay sát cạnh. Nhưng con ngõ đó chẳng phải "ngõ Kim Ngư", mà là ngõ Tô Châu. Lúc ấy tôi mới chợt hiểu ra, hóa ra là chính mình nhớ nhầm. Mấy phút trước, hiện lên trong đầu tôi là bộ mặt "đạo đức giả" của bốn gã thanh niên "nhiệt tình" đáng ghét tột cùng kia. Lại còn vì bộ mặt của họ mà càng nguyền rủa lòng người chẳng còn như xưa, thế phong bại hoại. Giờ đây hiện lên trong đầu lại là bộ mặt trợn mắt như hộ pháp kim cương của chính mình khi liên tục ngoái đầu lại. Thế là tôi cảm thấy tâm lý của bản thân thực sự cũng có vấn đề rất lớn.

Gặp lại người bạn cũ thời trung học. Trò chuyện chưa quá ba năm câu, tôi đã hỏi ngay có bản đồ giao thông nội thành không.

Anh ấy bảo có.

Tôi vô cùng sốt sắng xin đem ra xem.

Trong lòng thầm nghĩ — dẫu chứng minh được chắc chắn nơi này là ngõ Tô Châu, thì cũng chưa chắc đã chứng minh được Bắc Kinh thực sự có một con ngõ gọi là "ngõ Kim Ngư" mà tôi nhớ nhầm. Cho dù Bắc Kinh thực sự có một con ngõ tên là "ngõ Kim Ngư", thì tuyến đường xe buýt mà bốn gã thanh niên kia tỉ mỉ chỉ cho tôi, cũng chưa chắc đã là tuyến đường đúng đắn chứ? Nếu là tuyến đường sai, thì vẫn chứng minh bọn họ có dã tâm tồi tệ muốn lừa tôi mắc bẫy. Vậy thì lúc đó kẻ có bộ mặt đáng ghét vẫn là bọn họ, chứ không phải tôi. Những hình ảnh hiện lên trong đầu dẫu có phóng đại lên gấp trăm lần, tôi cũng chẳng cần phải tự trách vì lúc ấy đã lườm họ.

Con người đôi khi thật là một thứ kỳ quặc. Hoặc nói một cách vi mô và cụ thể hơn, bản thân tôi đôi khi thật chẳng ra cái thứ gì. Luôn muốn trút hết sự tồi tệ sang cho người khác. Luôn muốn giữ cảm giác tốt đẹp về bản thân — thứ vốn chẳng dính dáng gì đến sự tồi tệ — làm độc quyền của riêng mình. Hơn nữa hễ khi bản thân hoài nghi chính mình, lại luôn hy vọng tìm kiếm được căn cứ và bằng chứng để chứng minh cho cái cảm giác tốt đẹp về bản thân ấy.

Bằng chứng như thế tôi không tìm thấy trên bản đồ giao thông. Nhưng tôi lại tìm thấy ngõ Kim Ngư. Càng làm bằng chứng gián tiếp chứng minh tuyến đường xe buýt mà bốn cậu thanh niên có lòng nhiệt tình thực sự kia tỉ mỉ chỉ cho tôi, chính là một tuyến đường vô cùng chuẩn xác, có thể nói là chuẩn xác như đường lối của Đảng ta vậy.

Thế là tôi bảo: "Đi, theo tôi ra ngoài một chuyến."

Bạn tôi kinh ngạc, hỏi: "Đi đâu? Đi làm gì?"

Tôi nói: "Đi xin lỗi bốn cậu thanh niên nhiệt tình kia."

Rồi tôi thuật lại sự xấu xa của mình một lượt.

Bạn tôi nghe xong cười ha hả, nói: "Ông anh ơi, thảo nào người ta thường bảo anh nghiêm túc, tôi thấy anh quá mức nghiêm túc rồi đấy! Anh hỏi đường đi về phía tây, người ta cố ý chỉ anh sang phía đông, loại người xấu xa như thế ở Bắc Kinh có, ở Cáp Nhĩ Tân chúng ta cũng có. Đâu đâu cũng có. Ngày càng nhiều. Đâu chỉ riêng cánh thanh niên! Hôm nay anh may mắn gặp được bốn người không xấu xa, đó là chuyện bất ngờ của anh hôm nay thôi. Tôi thì chẳng may mắn như anh đâu. Tôi đã từng bị mắc lừa bị gạt mấy lần rồi. Cứ coi như hôm nay anh lườm hộ tôi lũ người xấu xa kia đi! Còn tạ với lỗi, xin với lỗi cái nỗi gì nữa?"

Tôi trầm ngâm một lát, cảm thấy ngoài miệng nói như vậy nghe thì sảng khoái thật đấy. Nhưng đem cái lối tư duy này coi như một sự trả đũa đối với hiện thực, thì dường như chẳng phải một đạo lý thông suốt.

Thế là tôi lại nói: "Đi cùng tôi đi. Một mình tôi đi, chẳng phải khó xử lắm sao?"

Bạn tôi ngả người nằm xuống giường, gào lên liên hồi: "Không đi không đi! Anh có nói gì cũng bằng thừa, muốn đi thì tự anh đi..."

Tôi cũng bắt đầu do dự, không còn tha thiết muốn đi xin lỗi nữa. Thế nhưng, những hình ảnh trong đầu lại không vì thế mà "mờ dần". Trái lại, từ cảnh trung chuyển sang cận cảnh rồi đặc tả rồi dừng hình. Điều này khiến tôi như đang nhìn lại chính mình từ góc nhìn của bốn cậu thanh niên kia. Rốt cuộc tôi cảm thấy góc nhìn đã thay đổi, và bản thân tôi khi bị dừng hình cũng đã thay đổi. Trở nên xấu xí dị hợm.

Khoảnh khắc ấy tôi chán ghét bản thân mình biết bao.

Thế là một mình tôi đi tìm bốn cậu thanh niên đó. Tôi biết nếu tôi không đi, tôi chắc chắn sẽ bứt rứt không yên trong suốt một thời gian dài. Giống như phát hiện ra một khối u đáng ngờ ở một chỗ nào đó trên cơ thể mình, tuy rất nhỏ rất nhỏ rất nhỏ, nhỏ đến mức anh có thể không bận tâm đến sự tồn tại của nó, nhưng đối với người có tâm lý nhạy cảm sợ ung thư, nếu không đi tìm bác sĩ, không làm sinh thiết, không cắt bỏ, thì từ đó về sau sẽ chẳng bao giờ được yên ổn. Tôi nghĩ, trong tâm hồn của mỗi con người đều có những góc khuất. Thậm chí có góc tối, có góc chết. Sự khác biệt nằm ở chỗ, chỉ nằm ở chỗ, có chịu khó quét dọn thì tâm hồn mới có thể trong sạch được...

Tuy nhiên bốn cậu thanh niên kia đã đi đâu mất dạng.

Tôi không tài nào tìm lại được họ nữa.

Điều này lại khiến tôi vô cùng chán nản...

Chuyện hôm nay và chuyện mấy hôm trước dường như có đôi chút khác biệt, cũng chẳng có mối liên hệ tất yếu nào. Hơn nữa, với tư cách là một sự việc, một sự việc có lẽ thực sự không đáng để bận tâm suy nghĩ, thì nó đã trôi qua rồi. Nhưng chẳng hiểu vì sao, đối với tôi, nó lại cứ như không thể nào trôi qua nổi.

Bên ngoài tiếng gió gầm rú.

Kẻ rời khỏi nhà tôi, dường như chẳng phải ai khác, mà chính là bản thân tôi.

Kẻ đang nằm trên giường kia, một tiểu thuyết gia trước nay luôn dùng câu chữ và lời nói tuyên bố rằng mình không thể dung thứ cho sự giả tạo, nhưng trong hoàn cảnh bình thường phổ biến nhất của cuộc sống, lại sử dụng sự giả tạo thành thạo như dùng đũa ăn cơm, rốt cuộc là ai chứ?

Chẳng có ai ép buộc chúng ta cả, cớ sao chúng ta lại phải giả tạo?

Tại sao một mặt chúng ta lại tưởng tượng những người chân thành và nhiệt tình giúp đỡ mình xấu xa đến thế, mặt khác đối với người khác chúng ta lại thiếu thốn sự chân thành và nhiệt tình đến vậy? Thiếu thốn đến mức ngay cả một sự thẳng thắn cũng chẳng chịu trao cho nhau? Lẽ nào chúng ta đã hết thuốc chữa rồi sao?...

Bỗng nhiên lại có tiếng gõ cửa.

Mở cửa ra, lại chính là cậu sinh viên đã rời đi một tiếng đồng hồ trước.

"Cậu..."

Dù sao cũng không phải chuyện tôi dự liệu trước. Tôi không khỏi có chút kinh ngạc.

"Có một thứ em để quên ở nhà thầy!"

Cậu ta nói vô cùng chắc nịch.

"Cái... gì cơ?..."

"Lòng tự trọng. Lòng tự trọng của em."

"..."

"Em cứ đi đi lại lại dưới chân cầu thang mãi. Sau đó em quyết định, em nhất định phải làm phiền thầy lần nữa, để tìm lại thứ em đã đánh mất."

Tôi bất giác liếc nhìn ra ngoài cửa sổ — gió to xiết bao!

Đi đi lại lại? — Hôm nay là một ngày không hề thích hợp để đi đi lại lại suốt hơn một tiếng đồng hồ chút nào!

Đối với tôi mà nghe, rõ ràng lời của cậu ta có dấu vết của sự trau chuốt. Có một giọng điệu đối thoại lộ liễu. Hơn nữa còn mang phong cách châu Âu. Tôi có thể đoán ra được, để nói ra ba câu này vừa hàm súc lại vừa sắc bén (có lẽ ý định ban đầu của cậu ta còn muốn không làm mất đi vẻ hài hước, nhưng thực ra chẳng hài hước chút nào, thậm chí cũng chẳng hàm súc), cậu ta chắc chắn đã phải đứng đón gió mà "chuẩn bị sẵn bản thảo trong bụng". Đại khái còn có thể giống như Dostoevsky khi viết lời thoại, không kìm được mà đã diễn tập qua rồi. Bởi vì người Trung Quốc bình thường không nói chuyện như thế. Chỉ có diễn viên đóng phim diễn kịch mới nói chuyện như vậy. Hoặc là tiểu thuyết gia viết lời thoại như thế. Một người vừa chẳng phải đóng phim cũng chẳng phải diễn kịch, lại liên tiếp giáng thẳng vào mặt anh ba câu rõ ràng đã được "chuẩn bị sẵn bản thảo trong bụng", đã được "diễn tập" qua, mang đậm mùi kịch nghệ và đầy vẻ sách vở, tự nhiên thấy buồn cười đến lạ.

Thế nhưng tôi không cười. Không nỡ cười cậu ta nữa. Thậm chí cũng có thể nói là có vài phần không dám cười cậu ta. Bởi vì vào khoảnh khắc ấy, cậu ta trông quá đỗi kích động. Dẫu bề ngoài cậu ta cố làm ra vẻ rất trấn tĩnh, rất chững chạc. Nhưng tôi vẫn nhìn ra được, trong lòng cậu ta đang kích động dị thường. Cậu ta đang mỉm cười, thế nhưng toàn bộ cơ mặt đều cứng đờ. Môi cậu ta run rẩy, hơn nữa, còn tái xanh. Cậu ta mặc quá phong phanh. Cố làm ra vẻ rất trấn tĩnh rất chững chạc, lúc này đối với cậu ta thực sự chẳng phải một chuyện dễ dàng. Càng không phải một chuyện nhẹ nhõm tự nhiên. Trong mắt cậu ta bắn ra ánh nhìn kiên định, không hề quay đầu lại, như thể không thành công thì cũng thành nhân. Như thể thực sự có một viên ngọc quý giá trị liên thành bị rơi lại ở nhà tôi vậy. Nếu tôi không chịu trả lại cho cậu ta, cậu ta sẽ liều mạng với tôi, liều đến mức máu văng mấy thước, thây phơi một chỗ mới thôi.

Tôi bất giác bị cậu ta làm cho xúc động sâu sắc.

Từ trên người cậu ta, tôi nhìn thấy hình bóng của chính mình hơn hai mươi năm về trước.

Tôi hiểu rằng lòng tự trọng của một người thanh niên nếu nhạy cảm dị thường, thì khả năng chịu đựng tâm lý của cậu ta ắt hẳn cũng mong manh dị thường. Họ có thể vì phải chịu một cái lườm nguýt mà canh cánh trong lòng, nhưng nếu bị đánh ngã lăn ra đất rồi giẫm thêm một bàn chân lên thì lại chẳng biết phải làm sao. Họ hoàn toàn không có được thứ dũng cảm khác biệt như Hàn Tín chịu nỗi nhục chui háng, cũng không thể làm được như một số sĩ đại phu thời xưa thà chết chứ không chịu nhục. Họ coi trọng lòng tự trọng quá mức là bởi vì ngoài cái gọi là lòng tự trọng ra thì phần lớn họ chẳng còn lại gì cả. Cho nên khi bảo vệ lòng tự trọng, họ muốn thể hiện sức mạnh nhân cách cao lớn cũng không cao lớn nổi. Muốn hài hước cũng chẳng hài hước thành. Muốn tiêu sái cũng không biết thế nào mới gọi là tiêu sái. Tóm lại, lòng tự trọng của họ thực tế vẫn còn lâu mới trưởng thành đến mức đáng để ai đó mang lòng ác độc cố ý làm tổn thương một phen. Chẳng hạn như sự tiếp đãi lạnh nhạt của tôi đối với cậu ta tuyệt đối không phải cố ý làm tổn thương lòng tự trọng của cậu ta. Thế nhưng bản năng tự vệ quá nhạy cảm của họ, lại thường khiến họ phải chịu những tổn thương thực sự không chút nương tay. Ví như giả sử lúc ấy tôi đang bực mình, nếu tôi gắt lên một tiếng — "Cút ra ngoài! Không rảnh diễn kịch với cậu!" rồi đẩy cậu ta ra khỏi cửa, vậy thì cậu ta sẽ làm gì chính mình đây? Bởi vì một tiền đề lớn hiển nhiên sờ sờ ra đó — nếu tôi thực sự làm như thế, cậu ta dẫu có muốn làm gì tôi thì trên thực tế cũng chẳng thể làm gì nổi tôi. Vậy thì kết quả tất nhiên chỉ còn lại việc tự mình làm gì chính mình mà thôi...

Tôi nhìn cậu ta, trong khoảnh khắc đã suy nghĩ rất nhiều, trong lòng bất giác rùng mình thay cho cậu ta. Lòng tự trọng của cậu ta thực tế mong manh không chịu nổi một đòn. Mà hành vi này của cậu ta dưới sự thúc đẩy của ý thức tự vệ — một hành vi khiến tôi rất bất ngờ, hay nói đúng hơn là hành vi đập nồi dìm thuyền — cũng quá mức cố chấp và mang tính mạo hiểm. Tôi năm xưa vì chuyện này từng phải trả những cái giá vô cùng thảm khốc, từng vỡ đầu chảy máu, đến nay vết sẹo vẫn còn chằng chịt khắp nơi.

Tôi khách khí nói: "Bất kể cậu đến tìm thứ gì, cứ vào phòng ngồi xuống rồi nói chuyện."

Sự khách khí của tôi là thật lòng.

Cậu ta ngạo mạn nói: "Không cần đâu! Lương Hiểu Thanh, tôi nói cho ông biết — sau này tôi nhất định sẽ vượt qua ông!"

Sự ngạo mạn của cậu ta cũng có vài phần kịch tính. Nhất thời tôi chẳng thể phân biệt nổi đó là thật hay giả. Nhưng tôi cảm thấy, thứ ngạo mạn ấy tuy thể hiện tính công kích chủ động, nhưng về bản chất vẫn mang tính tự vệ theo bản năng. Hơn nữa nó cũng giống như cái khí phách muốn tìm lại lòng tự trọng đã "đánh mất" của cậu ta, đều rất mong manh, không chịu nổi một đòn. Thậm chí, chỉ cần tôi đơn giản nhìn cậu ta mà im lặng không nói lời nào, thì nó cũng sẽ không đánh mà tự tan, sụp đổ trong nháy mắt.

Tôi cảm thấy chuyến viếng thăm của cậu ta dường như đã trở thành một tao ngộ mà tôi hôm nay không cách nào né tránh được nữa rồi. Cho dù bản thân tôi lùi lại hai mươi năm trước, tôi nghĩ mình cũng sẽ không dựa vào thói tự phụ của tuổi trẻ và sự bốc đồng quá mức theo cảm tính mà làm như cậu ta. Tôi có thể sẽ liên tục trong mấy ngày, mỗi ngày bưng bát cơm lên là lại chửi thầm trong lòng kẻ đã dùng sự đối phó giả tạo để hắt hủi mình một lần, chứ không mấy khi tìm đến cửa lần thứ hai để đòi lại thứ tự trọng gì đó. Huống chi lòng tự trọng của mỗi người trong suốt cuộc đời chắc chắn sẽ bị tổn thương, bị chà đạp không biết bao nhiêu lần, vì một chuyện cỏn con như ngày hôm nay mà hưng sư vấn tội với thái độ trịnh trọng như cậu ta, thì quả thực quá mức yếu đuối õng ẹo rồi. Huống hồ tôi vốn không có dã tâm làm tổn thương lòng tự trọng của cậu ta, chà đạp lên lòng tự trọng của cậu ta, chẳng qua chỉ là dùng sự đối phó giả tạo khiến cậu ta cảm nhận được sự lạnh nhạt trên thực tế mà thôi. Huống hồ tôi cũng thực sự có bệnh để vin vào, thì cũng nên được coi là có đôi chút tình tiết đáng tha thứ chứ.

Con người khi được lượng thứ thì thường tự khiển trách mình. Nhưng khi bị trách mắng thì lại thường bắt đầu phê phán người khác, và ra sức biện hộ cho bản thân.

Thế nhưng tôi làm sao có thể dùng những lời lẽ phản bác để tiếp tục làm tổn thương một thanh niên có lòng tự trọng nhạy cảm khác thường như thế này được nữa? Ví dụ tôi có thể nói: "Vậy thì xin mời tìm được đồ của cậu rồi gói cho kỹ, nhét cho chặt vào túi rồi cút ra ngoài ngay!" Nếu tôi thực sự đáp trả như thế, dù bản thân tôi không coi đó là sự tổn thương thì trên thực tế cũng tương đương với việc gây ra tổn thương lần thứ hai.

Tôi mỉm cười, nói: "Đừng thiếu chí khí thế chứ. Vượt qua tôi thì có khác nào một đứa trẻ chỉ tay vào một kẻ người lùn mà bảo, sau này lớn lên cháu nhất định sẽ cao hơn bác! Đúng không?"

Cậu ta há miệng, muốn nói lại thôi.

Tôi vỗ vai cậu ta, khoác vai cậu ta đi vào trong nhà. Tôi cảm thấy cậu ta vẫn rất mong muốn tôi làm như vậy. Bởi vì cậu ta bước đi rất ngoan ngoãn.

Đợi cậu ta ngồi xuống ghế sô pha, tôi đi rửa cốc.

Cậu ta nói: "Thầy đừng pha trà. Pha rồi em cũng không uống đâu. Em chẳng thèm uống một chén trà của thầy đâu."

Tôi nói: "Nếu là sữa bò thì cậu cũng không uống sao? Có sữa bột, rất tiện."

"Thế thì em uống."

Cậu ta cười.

Khi tôi quay đầu lại nhìn, cậu ta lập tức tắt nụ cười. Vẻ mặt lại trở nên trang nghiêm.

"Lương Hiểu Thanh, tôi muôn vàn lần không ngờ ông lại là người như thế này!" Cậu ta bắt đầu nói một cách vội vã sốt ruột, "Ông không có hứng tiếp tôi, ông có thể nói thẳng thừng ngay từ đầu. Thế thì tôi tuyệt đối sẽ không mặt dày ngồi lì ở nhà ông đâu! Tại sao ông vừa không hạ lệnh đuổi khách, lại vừa lơ đễnh nói chuyện câu được câu chăng để đối phó với tôi chứ? Ông có hiểu tâm trạng của tôi lúc đó thế nào không? Nếu tôi là một người sau này có thể giúp ích cho ông, liệu ông có đối xử với tôi như thế không?"

Tôi nói: "Không thể."

"Ông tốt nghiệp Đại học Phục Đán ở Thượng Hải, được phân công về Bắc Kinh, chẳng phải ban đầu cũng là một kẻ vô danh tiểu tốt sao?"

Tôi nói: "Đúng thế. Bây giờ cũng chẳng tính là nhân vật lớn gì."

"Ông không cần phải giả vờ khiêm tốn. Thái độ vừa rồi của ông đối với tôi chứng minh trong lòng ông xem tôi là một kẻ tiểu nhân không đáng kể. Đương nhiên cũng chứng minh, trong lòng ông đã ngộ nhận mình là một nhân vật lớn có lý do để nhìn xuống tôi! Lần đầu tiên ông đến nhà Hoàng Tông Giang và nhà Ngô Bá Tiêu, họ có đối xử với ông như ông đối xử với tôi không? Trong tác phẩm của mình, ông viết về họ đẹp đẽ biết bao!..."

Tôi thực sự muốn đập vỡ cái cốc! Cho dù tôi có trêu vào cậu ta, chọc giận cậu ta, thì đó cũng chẳng phải do tôi tìm đến tận nơi, mà là do cậu ta tự tìm đến cửa nhà tôi cơ mà!

Tôi nghiêm mặt nhắc nhở cậu ta: "Họ thực sự là hai bậc trưởng bối đáng mến đáng kính. Cậu có lời gì thì cứ nhắm vào tôi mà nói, đừng lôi họ vào."

"Điều này không cần ông phải nhắc!" Cậu ta lớn tiếng nói, "Sau khi đọc sách của ông, tôi cũng từng đi tìm thầy Hoàng Tông Giang. Thầy ấy đối xử với tôi rất ôn hòa, rất thân thiết, rất chân thành. Không giống như ông giả tạo đối phó với tôi như thế! Nếu cụ Ngô Bá Tiêu còn sống, tôi cũng sẽ đi tìm cụ. Không vì điều gì khác, chỉ là để chứng minh xem trên cõi đời này rốt cuộc có hơi ấm nhân gian thuộc về riêng tôi hay không! Bây giờ tôi đã có cái nhìn khác về cuốn sách mỏng kia của ông rồi, ông mượn cách khen ngợi người khác, thực chất cũng là mưu toan dùng văn học để miêu tả tính cách bản thân thật đáng yêu. Nhưng hôm nay tôi cảm thấy ông và cái người dưới ngòi bút của ông hoàn toàn khác xa một trời một vực! Ấn tượng lúc đó của ông đối với tôi rất xấu xí! Nằm trên giường, đắp chiếc chăn nhỏ, giả vờ giả vịt nói: 'Không ngồi thêm một lát nữa sao?' Ông đối xử với tôi như thế, tôi còn có thể ngồi thêm một phút nào nữa sao? Lúc đó ông hoàn toàn là một người Trung Quốc xấu xí! Một tác giả Trung Quốc xấu xí! Lương Hiểu Thanh, ông có thừa nhận hay không?"

Tràng lời lẽ tràng giang đại hải này của cậu ta lại khiến trong lòng tôi hoàn toàn nguôi giận. Cậu ta thẳng thắn thật đấy. Thẳng thắn đến mức gần như chẳng thèm che đậy chút nào, ngay cả đường lui để đỡ đòn cũng không chừa lại cho bản thân lấy nửa phân. Những thanh niên như thế này ngày nay chẳng còn nhiều nữa. Nhiều nhất là một loại khác — dùng mười hai phần thành kính ngoài mặt để buông lời sùng bái trêu đùa anh, nhưng trong lòng lại thầm chế giễu: Nhìn lão đắc ý chưa kìa! Nhìn cái vẻ hưởng thụ của lão kìa! Bố mày ở đây trêu đùa cho vui thôi, mắc mớ gì lão phải coi là thật thế! Tầm thường không chịu nổi!

"Thừa nhận! Thừa nhận! Ít nhất trong tiềm thức cũng không phải không có thành phần như cậu nói."

Tôi không hề cảm thấy khó xử sau khi bị vạch trần ngay trước mặt. Bởi vì thường xuyên phân tích tiềm thức của bản thân vốn là thói quen nghề nghiệp của tôi. Đôi khi thậm chí còn đem ra cho bạn bè cùng phân tích. Giống như bác sĩ chẩn đoán ca bệnh, dẫu cho căn bệnh nào đó xảy ra trên chính cơ thể mình, thì cũng không phải là không thể phân tích. Huống chi tôi cảm thấy cái thứ tiềm thức này, phân tích kỹ ra thì rất thú vị. Hệt như giải một bài toán hình học vậy. Không những có thể hiểu rõ bản chất của mình là thế nào, mà còn hiểu thêm được bao nhiêu điều về người khác. Huống chi, đứng từ góc độ y học mà nói, một con người hoàn toàn khỏe mạnh là không tồn tại. Nietzsche chẳng phải từng nói — trái đất mắc một chứng bệnh, gọi là "nhân loại" đó sao?

Tôi dịch bàn trà lại gần cậu ta, đặt một ly sữa lên bàn, rồi nói thêm: "Đừng vội, cứ từ từ uống đi, tôi nướng cho cậu mấy lát bánh mì."

Đợi khi tôi nướng xong bánh mì, dùng một chiếc đĩa nhỏ bưng vào, cậu ta đã uống cạn ly sữa kia rồi.

Tôi đoán chừng một ly sữa chắc chắn không đủ cho cậu ta uống, nên đã để nguội sẵn một ly khác cho cậu ta, bèn đặt tiếp lên bàn trà.

Cậu ta rõ ràng là đói cồn cào rồi. Hoặc là, cho rằng lòng tự trọng đã được thu hồi, lại đã nhét gọn vào túi mình rồi, dường như tâm lý đã cân bằng hơn rất nhiều, nhất thời trở nên bẽn lẽn, rất nhã nhặn, xé từng mẩu bánh mì nhỏ một mà ăn. Từng ngụm từng ngụm nhỏ, uống sữa một cách lịch thiệp. Tôi cầm một cuốn sách lên đọc, cố ý không chú ý đến cậu ta, sợ cậu ta mất tự nhiên. Lúc này tôi đã biết cậu ta là "ai" rồi.

Trong mấy phút yên tĩnh, cậu ta ăn hết bánh mì, uống cạn ly sữa thứ hai. Tôi hỏi cậu ta có muốn ăn thêm một cái bánh mì, hoặc uống thêm một ly sữa nữa không? Cậu ta bảo thôi. Khi nói, dáng vẻ trông không chỉ bẽn lẽn, mà còn lộ vẻ hơi ngượng ngùng. Cậu ta cầm lấy chiếc ly định mang vào bếp rửa, tôi đặt sách xuống ngăn lại. Cậu ta cứ nằng nặc đòi đi rửa, tôi cứ nằng nặc ngăn lại, kết quả là một chiếc ly rơi xuống đất vỡ tan tành.

Mặt cậu ta lập tức đỏ ửng lên đến mức đáng thương, ấp úng nói: "Là em lỡ tay, là em lỡ tay..."

Hoàn toàn không còn vẻ phẫn thế tật tục như lúc một lòng muốn thu hồi lòng tự trọng nữa.

Tôi bảo, theo quan niệm dân gian, khách lỡ tay làm vỡ ly chén của chủ nhà, trái lại lại là chuyện chủ nhà cầu còn chẳng được, báo hiệu tài lộc sắp gõ cửa.

Cậu ta bèn bật cười.

Đợi cậu ta ngồi xuống, tôi vừa định hỏi cậu ta điều gì, thì cậu ta lại mở miệng hỏi tôi trước: "Nhà thầy có mấy phòng thế ạ?"

Tôi bảo có ba phòng.

Cậu ta lập tức hỏi dồn tại sao?

Tôi không hiểu rõ ý cậu ta lắm, bèn bối rối nhìn cậu ta.

Cậu ta nói xét theo tuổi tác và nhân khẩu gia đình của tôi, ở Bắc Kinh mà được ở một căn hộ khép kín hai phòng ngủ đã là khá lắm rồi.

Trong lời nói của cậu ta lộ rõ ý tứ công kích, căm ghét những chuyện bất công trong thiên hạ mà chẳng hề che giấu.

Tôi nói đúng vậy. Tôi bảo trước kia khi tôi ở khu nhà tập thể kiểu ống thông suốt của Hãng phim truyện Bắc Kinh, chỉ có một gian phòng hướng bắc rộng mười hai mét vuông, không kê nổi một chiếc bàn viết, thường phải kê một miếng ván lên cục sưởi để nhào nặn tiểu thuyết. Khi ấy tất cả những người từng đến nhà tôi đều chúc tôi sớm có niềm vui chuyển nhà mới. Bây giờ tôi thực sự chuyển nhà rồi, thì nỗi lo âu trước kia họ dành cho tôi lại biến thành sự ngưỡng mộ đôi khi khiến tôi cảm thấy khó mà gánh vác nổi. Tôi nói con người tôi xuất phát từ đáy lòng, rất muốn ở mọi phương diện đều ngang bằng với mức sống của đại đa số mọi người, chẳng muốn có gì đặc biệt cả. Đặc biệt ở thời buổi này rất có khả năng bị liệt vào "sổ đen". Một khi bị liệt vào "sổ đen", sẽ làm hỏng hết tâm trạng sống trên đời.

Cậu ta lại hỏi thầy chuyển sang Xưởng phim Thiếu nhi là để làm quan phải không?

Tôi lắc đầu bảo không phải.

Cậu ta lại cười. Nụ cười ấy rất dễ khiến người ta phát cáu. Dường như muốn nói: Nhìn xem ông lại trở nên giả tạo rồi đấy. Đừng quên rằng, ông xưa nay luôn là người dùng câu chữ để tự phô trương sự thẳng thắn và chán ghét thói giả tạo cơ mà!

Tôi nói thực sự không phải. Tôi bảo lúc ấy tôi linh cảm thấy người cha già mắc bệnh nặng, với tư cách là một người con, tôi bắt buộc phải đón cha già lên Bắc Kinh ở cùng tôi để làm tròn chữ hiếu. Mà lúc đó chỉ có Xưởng phim Thiếu nhi mới có thể giải quyết vấn đề nhà ở cho tôi. Mà cha già tôi vừa lên đến Bắc Kinh đã được chẩn đoán mắc ung thư dạ dày giai đoạn cuối. Ba tháng sau nằm liệt giường, bốn tháng sau thì qua đời ngay trong chính căn phòng này...

Cậu ta vẫn cười như thế. Cậu ta bảo văn nhân Trung Quốc trong lòng thực ra ai cũng muốn làm quan. Ngoài miệng bảo không muốn làm, đều là dối trá cả. Cố nói là vì nguyên nhân khác mà làm quan, chẳng qua chỉ là một cách nói khéo léo mà thôi.

Tôi nói tôi không hoàn toàn đồng ý với lời cậu ta. Tôi bảo làm quan, làm quan ở các lĩnh vực, cũng tuyệt đối là một sự lựa chọn nghề nghiệp đoan chính. Chỉ cần có thể làm một vị quan tốt, thì hoàn toàn không cần phải xấu hổ mà không dám thừa nhận.

Cậu ta bật cười thành tiếng. Cười xong, cậu ta chua cay nói: "Thầy xem, người ta cứ hễ cuống lên là nói lời thật lòng ngay, phải không? Đây là một quy luật. Thầy cũng không ngoại lệ."

Tôi trừng mắt nhìn cậu ta, nửa ngày không nói nên lời. Trong lòng chỉ có một ý nghĩ duy nhất, đó là tát cho cậu ta một cái bạt tai thật mạnh. Sau đó quát cậu ta cút xéo. Bởi vì tôi không thích những kẻ cay nghiệt. Trong cuộc sống, có những gã đàn ông đắc ý vì sự cay nghiệt của mình, hệt như những người phụ nữ chẳng biết thế nào là đẹp đẽ lại đắc ý vì thói liếc mắt đưa tình của họ. Nếu bảo hài hước là một thứ cơ trí, là một thứ giáo dưỡng, thì cay nghiệt chẳng qua chỉ là máu bầm rỉ ra từ vết sẹo trong tâm hồn con người mà thôi. Huống chi lúc đó tôi vẫn chưa hoàn toàn nguôi ngoai nỗi đau thương trước sự ra đi của cha. Ngay trong chính căn phòng này, nơi người cha già của tôi đã trút hơi thở cuối cùng, cậu ta lại kiên định không dời mà tiến hành công kích tôi, thế này quả thực quá quắt lắm rồi! Mà điều chủ yếu hơn là, tôi không biết phải đối xử với cậu ta thế nào cho phải. Đối phó đương nhiên là giả tạo. Khách khí vẫn sẽ bị coi là đối phó. Thẳng thắn chân thành thì cậu ta không tin. Lấy cay nghiệt đáp trả cay nghiệt, cậu ta rõ ràng lại chẳng phải đối thủ. Còn dứt khoát sa sầm nét mặt hạ lệnh đuổi khách, thì lại có vẻ bản thân quá thiếu sự hàm dưỡng. Cậu ta chỉ khi nói ra những lời đòi lại tự trọng kia trông mới đáng yêu một chút. Lúc ăn bánh mì uống sữa toan đi rửa cốc trông cũng chẳng đáng ghét. Sao mà ăn cũng đã ăn rồi, uống cũng đã uống rồi, tự trọng cũng coi như đã thu hồi triệt để rồi, đại khái người ngợm cũng chẳng còn thấy lạnh nữa, thì lại như biến thành một con người khác mà lấn lướt tôi quá đáng thế này?

Tôi nghiêm mặt nói: "Tiêu Băng, tôi không muốn đôi co với cậu cho vui đâu. Lời phê bình của cậu dành cho tôi, tôi đã tiếp thu rồi. Lòng tự trọng của cậu, cậu cũng coi như đã lấy lại rồi. Vậy thì hai chúng ta hãy thẳng thắn với nhau một chút, đi thẳng vào vấn đề đi! Cậu tìm tôi rốt cuộc có việc gì?"

Ánh mắt kinh ngạc của cậu ta bèn ngưng đọng trên khuôn mặt tôi. Suốt nửa phút đồng hồ, cậu ta im lặng một cách khiến tôi không sao dò đoán nổi. Như thể tôi là một kẻ vô cùng xảo quyệt, còn cậu ta thì mơ mơ màng màng bị tôi bắt cóc đến nhà tôi, không đoán ra được mưu đồ của tôi vậy.

Tôi dùng giọng điệu khích lệ nói: "Nói đi chứ! Đã là hai chúng ta hôm nay tình cờ chạm mặt nhau ở đây rồi, cậu còn do dự điều gì nữa?"

"Sao thầy biết tên em?" Thần sắc của cậu ta bỗng trở nên vô cùng trang trọng. Thậm chí có thể nói là trở nên vô cùng nghiêm trang, vô cùng lẫm liệt.

"Sao thầy biết tên em?" Cậu ta lại hỏi. Giọng điệu rất ngạo mạn, "Hình như từ nãy đến giờ, thầy vẫn chưa hỏi em tên là gì. Mà em cũng chưa kịp nói cho thầy biết." Cứ như thể cậu ta mới là chủ nhà, còn tôi lại là một vị khách không mời mà đến đầy vẻ khó chịu, luôn khiến cuộc trò chuyện trở nên gượng gạo trắc trở vậy.

Tôi nói: "Bởi vì vừa rồi cậu có nhắc đến thầy Hoàng Tông Giang. Có một lần thầy Tông Giang gọi điện thoại cho tôi, dặn dò đặc biệt rằng tôi phải tiếp đón cậu thật chu đáo."

"Thầy ấy nói gì về em?"

"Thầy ấy bảo cậu là một thanh niên cần phải tiếp đón một cách hết sức tỉ mỉ tế nhị."

"Tỉ mỉ tế nhị? Có ý gì ạ?"

"Tôi nghĩ chắc là ý bảo đừng có giả tạo đối phó đấy!"

"Có phải ý đó không? Thực sự là ý đó sao?"

Toàn bộ tâm trí cậu ta bỗng chốc trở nên nhạy cảm.

"Đương nhiên là ý đó rồi." Tôi nói một cách vô cùng chắc chắn, tôi hiểu con người Hoàng Tông Giang. Thầy ấy thuộc mẫu người càng già lại càng lương thiện. Đối với thanh niên lại càng như thế, tuyệt đối sẽ không chứa đựng bất kỳ ý tứ cay nghiệt nào trong lời nói cả.

Thầy Tông Giang quả thực vì cậu sinh viên đang ngồi trước mặt tôi đây, sau khi cậu ta đến thăm thầy, đã đặc biệt gọi cho tôi một cuộc điện thoại. Cũng quả thực từng dặn dò tôi, đối với người thanh niên này "cần phải tiếp đón một cách hết sức tỉ mỉ tế nhị". Lại còn nói: "Lương thiện là có ý nghĩa đấy. Cuộc sống hôm nay đặc biệt cần thêm chút lương thiện. Kẻ bất thiện rốt cuộc sẽ chẳng có duyên với văn học và mọi môn nghệ thuật đâu."

"Thầy... sao thầy ấy lại dùng từ 'tỉ mỉ tế nhị'?"

"Thầy ấy đôi khi thích dùng cách tu từ khác biệt để biểu đạt ý tứ của mình."

"Là thế sao... Thầy ấy còn nói gì về em nữa không?..."

"Thầy ấy còn nói, thầy ấy và cậu đã cùng trải qua một buổi chiều khá vui vẻ."

"Phải rồi phải rồi. Không sai một chút nào. Thầy ấy nói đúng sự thật đấy!"

Tôi nhìn thấy rất rõ, cậu ta ngấm ngầm thở phào một hơi dài. Trạng thái căng thẳng do sự nhạy cảm quá mức tạo nên cũng lập tức giãn ra trong khoảnh khắc. Thật không ngờ, cậu ta lại để tâm đến ấn tượng mình để lại cho người khác đến thế! Nhưng nghĩ đi thì cũng phải nghĩ lại về bản thân mình, tôi chẳng phải cũng để tâm đến mức ấy vào việc để lại ấn tượng cho người khác, cụ thể là cho người thanh niên mà tôi tình cờ chạm trán này sao!

Tôi bất giác cười khổ một tiếng.

"Thầy cười cái gì thế?"

"Đừng nghĩ nhiều, tôi tự cười bản thân mình thôi."

"Tự cười bản thân mình?..."

"Thật đấy."

Lúc đó tôi chưa hề lĩnh hội được hàm ý trong câu "cần tiếp đón tỉ mỉ tế nhị" của thầy Hoàng Tông Giang. Cứ ngỡ chẳng qua chỉ là một cách nói theo "phong cách ngôn ngữ Hoàng Tông Giang" mà thôi. Giờ phút này tôi mới hoàn toàn lĩnh hội được, người ngồi trước mặt mình là một chàng thanh niên còn nhạy cảm hơn cả loài thằn lằn nhỏ. Đừng nhìn chúng đôi khi dường như bất động nằm đờ đẫn ở đó, nhưng dẫu cho bóng của anh chỉ vô tình thoáng qua người chúng một cái, chúng cũng sẽ lập tức cảnh giác ngay, ngỡ rằng anh định làm hại chúng. Thậm chí ngỡ rằng anh đã làm hại chúng rồi. Đối với một người thanh niên như thế, nếu không tiếp đón một cách "tỉ mỉ tế nhị", thì quả thực chẳng khác nào một tội ác chăng? Mà trong thâm tâm cậu ta, rốt cuộc giăng mắc những sợi dây thần kinh cảm giác đặc thù thế nào, lại khiến cậu ta đề phòng bị tổn thương đến thế, khiến cậu ta dễ dàng cảm thấy bị tổn thương đến vậy? Hoàng Tông Giang, Hoàng Tông Giang ơi, bản thân thầy lại là một bậc trưởng bối "tỉ mỉ tế nhị" và lương thiện biết bao! Thầy đã có thể cùng cậu ta trải qua một buổi chiều vui vẻ, cớ sao tôi lại không thể khiến cậu ta đón nhận đôi chút sự chân thành mà cậu ta hằng mong mỏi được đón nhận chứ?

"Tiêu Băng, cậu ở bên hội sinh viên phải không?"

"Không..." Cậu ta giữ kẽ lắc đầu một cái, "Em không phải."

"Vậy thì bây giờ ít nhất có một điểm chắc chắn rồi — cậu đến chỗ tôi, không phải để lôi tôi đến trường các cậu để đối thoại này nọ."

Đây thực sự là một buổi chiều mà tôi muốn vui vẻ cũng chẳng vui vẻ nổi. Có vị khách lạ không mời mà đến. Lại chẳng rõ mục đích của cậu ta là gì. Dường như tôi phải tự mình đoán mò. Dường như tôi phải dỗ dành cậu ta nói cho tôi nghe. Chuyện này cứ như nhân sư Sphinx vậy! Mà tôi đâu phải Oedipus đâu! Tôi cũng chẳng muốn làm Oedipus! Đoán không ra, có lẽ lại bị coi là phương pháp đuổi khách kiểu mong "đánh nhanh thắng nhanh" để rồi "thắng lợi chớp nhoáng". Giống như chơi cờ với hoàng đế, thua thì bảo anh cố ý thua, phạm tội khinh quân. Thắng thì bảo anh một lòng muốn thắng, phạm tội khi quân.

"Nếu đúng là thế, bất chấp gió to như vậy, em đến mời thầy rồi, thầy có đi hay không?"

Cậu ta lại đăm đăm nhìn tôi. Tôi cảm thấy bản thân dường như đang bị tượng đá nhân sư nhìn chằm chằm vậy.

"Thế thì, tôi sẽ đi."

Cậu ta nở một nụ cười kỳ quặc.

"Em muốn biết, khi người khác đến mời thầy, thầy là vui vẻ đi? Hay là không vui vẻ đi?"

"Có lúc vui vẻ đi. Có lúc không vui vẻ đi."

"Những lúc không vui vẻ đi, cũng đi sao?"

"Mười phần thì có tám chín phần, cũng vẫn đi."

"Lại còn phải giả vờ ra vẻ vui vẻ đi?"

"Chuyện này, có lúc giả vờ. Có lúc không giả vờ. Thông thường, cho dù không giả vờ ra vẻ vui vẻ được, thì cũng phải giả vờ ra vẻ không đến nỗi quá khó chịu."

Tôi cho rằng mình trả lời đã đủ thẳng thắn, đủ tỉ mỉ tế nhị rồi.

Nhưng dường như cậu ta vẫn không mấy hài lòng với câu trả lời của tôi.

"Tại sao?"

"Cái gì tại sao?"

"Tại sao rõ ràng lúc thầy không vui vẻ đi, cũng phải giả vờ, dùng cách nói của thầy, giả vờ ra vẻ không đến nỗi quá khó chịu chứ?"

"Bởi vì khi đối diện trước mặt người khác, tôi luôn thiếu đi sự dũng cảm để kiên định nói một chữ 'Không'!"

"Sợ cái gì?"

Tôi nghĩ một lát, thành thật thừa nhận: "Sợ người khác thất vọng."

Cậu ta đăm đăm nhìn tôi, nở nụ cười kỳ quặc, lắc đầu không tin tưởng.

"Sợ người khác không hài lòng về tôi."

"Vậy, có khi nào, rõ ràng trong lòng thầy vui vẻ muốn đi, vô cùng muốn đi, lại giả vờ ra vẻ không muốn đi, như thể nể tình khó chối từ, miễn cưỡng đồng ý không?"

Tôi nghĩ ngợi một hồi, ngẩng cao đầu không thẹn với lòng mà trả lời: "Không có." Tôi biết nói thế có thể lại bị cậu ta cho là lời lẽ giả tạo.

"Một lần cũng không có sao?"

Tôi lại tự kiểm điểm suy nghĩ một lát, vẫn không thẹn với lòng mà trả lời: "Một lần cũng không có."

Tôi thầm thề với bản thân, nhất định phải có kiên nhẫn. Nhất định không được nổi giận. Nhất định phải chân thành, thẳng thắn, tỉ mỉ tế nhị trả lời mọi câu hỏi mà cậu ta đưa ra. Cứ coi như cậu ta là một vị bác sĩ tâm lý thấu suốt mọi điều, còn tôi là một bệnh nhân tâm lý đi!

"Bao nhiêu người ngồi trước mặt thầy, nghe một mình thầy thao thao bất tuyệt, tâm lý thầy chưa từng nảy sinh một chút tự đắc nào sao? Một chút đắc ý nào sao? Một chút cảm giác ưu việt về mặt tinh thần nào sao? Ngay cả Mao Trạch Đông năm xưa cũng từng thừa nhận với Edgar Snow rằng, ông ấy đôi khi cũng nảy sinh tâm lý thỏa mãn này. Lẽ nào đó không phải là một sự thỏa mãn về mặt tâm lý sao? Lẽ nào trong tiềm thức của thầy cũng chưa từng có khuynh hướng theo đuổi sự thỏa mãn ấy ư?"

"Chuyện này..."

Cậu ta điềm tĩnh, lặng lẽ, kiên nhẫn một cách đáng khen ngợi mà chờ đợi câu trả lời của tôi.

Giá như anh ta châm chọc tôi với ác ý thì hay biết mấy! Khi đó tôi đã có lý do chính đáng để đối xử với anh ta bằng một thái độ khác. Thế nhưng trong thâm tâm, anh ta hoàn toàn không hề có ý châm chọc tôi. Ít nhất là theo cảm nhận của tôi là như vậy. Ngược lại, vẻ mặt của anh ta rất thành khẩn, dường như cũng rất đơn thuần. Trông cứ như một kẻ đang khiêm tốn thỉnh giáo. Trông cứ như một kẻ đang chăm chú lắng nghe. Trông cứ như một kẻ đang mang vẻ khiêm cung "nghe anh nói một buổi, hơn đọc sách mười năm". Trông cứ như một kẻ đang "cả gan" bàn luận trao đổi. Tôi không dám chắc liệu vẻ mặt của anh ta rốt cuộc là thành khẩn hay giả tạo, cũng chẳng dám chắc bản thân đã hiểu rõ tiềm thức của chính mình đến mức nào nữa.

"Sinh viên khoa văn các anh, ai nấy đều có hứng thú với Freud lớn như anh sao?"

Tôi đành phải dùng tấn công làm phòng thủ. Tuy nhiên, tôi kìm chế rất tốt, không hề để lộ bất kỳ cái gọi là tâm lý nổi loạn nào. Chẳng qua chỉ là một sự chống cự bất đắc dĩ, đẩy lùi lại những câu hỏi mang tính chất gây sự dồn dập của anh ta một lần mà thôi.

Không ngờ anh ta lại nói: "Hứng thú thì đã qua rồi. Bây giờ bọn tôi bước vào giai đoạn thứ hai."

"Giai đoạn gì?"

"Giai đoạn lý luận gắn liền với thực tiễn."

Tôi không kìm được mà kêu lên một tiếng "Ồ".

"Nghiên cứu Freud rồi mới hiểu rằng, không nghiên cứu Freud thì quả thực sống uổng một đời, chẳng rõ con người là cái thá gì. Sau khi nghiên cứu Freud rồi lại nghiên cứu con người, cũng giống như quan sát hoạt động của tế bào qua kính hiển vi, con người bỗng trở nên thú vị hơn nhiều."

Tôi chợt hiểu ra. Hóa ra thảo nào thỉnh thoảng anh ta cứ đăm đăm nhìn tôi một lúc! Hóa ra trong mắt anh ta, tôi là một tế bào đã được nhỏ chất hiển thị.

"Vậy theo anh, con người là cái thá gì?"

Cuối cùng tôi cũng bị ảnh hưởng bởi anh ta, bắt đầu sinh ra một loại hứng thú nghiên cứu đối với anh ta.

"Con người chẳng qua chỉ là thứ rập khuôn nhất trên thế giới này. Cho đến nay, các nhà khoa học nghe nói đã tìm thấy hai bông tuyết hoàn toàn giống hệt nhau. Thế nhưng nếu nhìn nhận con người từ góc độ tiềm thức, thì ai nấy đều là một thứ giống nhau cả."

"Sao lại thấy thế?"

"Nói thế nào nhỉ, anh trả lời tôi một câu hỏi đi — đứng trước những người phụ nữ xinh đẹp, bình thường anh thường có suy nghĩ gì?"

"Ý anh chỉ tiềm thức, hay là chỉ lý trí?"

"Hãy bắt đầu từ lý trí trước đi. Như vậy thì cả hai bên đều thấy nhẹ nhõm hơn."

"Tôi hy vọng bản thân có thể chiếm được thiện cảm của họ, có thể kính trọng họ từ trong tâm khảm. Nếu như họ đáng được kính trọng. Tưởng tượng họ là vợ của mình. Nếu không thể làm vợ, làm tri kỷ trọn đời cũng được..."

"Khoan đã, khoan đã!" Anh ta cắt ngang lời tôi, cười ranh mãnh và nói: "Giữa đàn ông và phụ nữ xinh đẹp, cái gọi là tình nhân bạn bè vốn dĩ không tồn tại." Ý anh ta giống như muốn cho tôi hiểu rằng, có một câu nói chẳng qua anh ta không muốn thốt ra mà thôi — "Suýt nữa bị anh lừa qua cửa ả."

Tôi nói: "Vậy trừ mười điểm!"

Anh ta nói: "Câu trả lời của anh chẳng ra sao cả. Từ vĩ nhân cho đến kẻ vô lại, lúc làm vẻ nghiêm túc, hầu như ai cũng sẽ trả lời giống như anh vậy. Thôi cứ cho anh đạt điểm trung bình nhé! Giờ hãy trả lời về tiềm thức của anh đi."

Tôi không chút do dự, trong lòng nén một bực dọc căm hờn, miệng lại thốt ra bằng một giọng điệu gần như ngây thơ non nớt: "Chỉ có một ý niệm duy nhất."

"Ý niệm gì?"

"Cưỡng hiếp bọn họ!"

"..."

Lời tôi nói ra từng chữ một rất rõ ràng rành mạch. Tôi sớm đã nhận ra, anh ta rõ ràng là một kẻ vốn ôm thái độ khinh miệt không thừa nhận lý trí của bất kỳ ai, thế nhưng khi tôi thực sự phanh phui tiềm thức ra cho anh ta xem, thì anh ta lại ngẩn người ra đó. Cứ như thể câu trả lời như vậy, xuất phát từ miệng tôi, cũng là điều không chân thực. Là đang làm màu để chuốt lấy sự chú ý. Là mưu đồ làm kinh động thế tục. Cứ như thể tôi vừa thả ra từ trong tiềm thức của mình một con chó dạiè lưỡi đỏ lòe thấy ai cũng cắn, và anh ta đã thực sự bị dọa sợ.

Tôi nhìn bộ dạng ấy của anh ta rồi bật cười. Trải nghiệm được một chút khoái cảm của trò ác ý. Nhân lúc anh ta chưa định thần lại, tôi vội vã tuyên bố: "Cuộc nghiên cứu của anh đối với tôi đến đây là chấm dứt được rồi chứ? Trong ngoài gì thì anh chẳng phải đã nghiên cứu tôi thấu đáo lắm rồi sao? Quay lại chuyện chính đi, mục đích anh đến đây, vẫn là muốn lôi tôi đến trường các anh một chuyến đúng không?"

Trong trạng thái ngẩn ngơ, anh ta gật đầu.

“Anh lại có phải người của hội sinh viên đâu, vốn chẳng có nghĩa vụ này, việc gì phải vẽ vời thêm chuyện làm gì?”

“Cái này… sau này sẽ nói cho anh biết… nhất định…”

“Nói hay không nói chẳng quan trọng gì. Được. Tôi đồng ý với anh. Đại học chứ có phải ngục Bastille đâu. Đối với tôi đó chẳng phải là chốn đáng sợ gì. Anh cho tôi trước một đề tài, giảng về cái gì?”

“Giảng về… văn học và nhân sinh đi…”

“Hừ…”

Tôi nhíu mày. Anh ta không tài nào nghĩ ra được một đề tài nào khác nữa hay sao! Anh ta nói con người là thứ rập khuôn nhất trên đời, xem ra cũng không phải là không có lý.

“Tôi có nghe ngóng rồi, ở các trường đại học khác, chẳng phải anh đều giảng về văn học và nhân sinh đó sao?”

Anh ta nhận ra tôi có chút chán ngán, bèn đưa ra lời giải thích mà anh ta cho là cần thiết.

Tôi không giấu vẻ bực bội mà nói: “Chính vì cứ nói mãi mớ này, cho nên tôi mới hy vọng đổi một đề tài nào khác chứ.”

Cuộc trò chuyện vừa có liên quan trực tiếp đến anh ta, anh ta lại đâm ra có chút tôn trọng tôi, bèn thăm dò hỏi: “Đổi đề tài gì thì hay đây?”

Tôi cũng nén lại sự bực bội, bàn bạc với thái độ tôn trọng tương tự: “Bàn về bản thân văn học thì thế nào? Ví dụ như sự biến đổi của quan niệm văn học…”

“Không hay.” Anh ta vội vàng phủ quyết, “Anh có lẽ không hiểu lắm về sinh viên đại học bây giờ. Hoặc là không thực sự hiểu sinh viên đại học bây giờ. Bọn họ sớm đã không còn chút hứng thú nào với bất kỳ vấn đề nào thuộc về bản thân văn học nữa rồi. Bọn họ học chuyên văn hoàn toàn chỉ vì cân nhắc tính thực tế khi điền nguyện vọng mà thôi.” Cứ như thể bản thân anh ta không phải là một sinh viên khoa Trung vậy.

“Thế còn văn học và xã hội?”

“Cũng không hay. Thật đấy. Cũng không hay nốt. Xã hội, tính chính trị quá mạnh. Vẫn là văn học và nhân sinh đi! So ra thì đây là một đề tài trung tính nhất rồi.”

Đằng nào thì tôi cũng đã ghép văn học và nhân sinh lại với nhau không biết bao nhiêu lần rồi, chẳng buồn bận tâm làm thêm một vóc này nữa, bèn gật đầu một cái, coi như thuận nước đẩy thuyền mà chấp nhận.

Tôi hỏi: “Được rồi chứ?”

Anh ta bảo: “Cái gì?”

Tôi nói: “Tôn nghiêm của anh, anh đã triệt để thu hồi lại rồi. Tôi với tư cách là một cái thung nước, cũng đã hào phóng cung cấp cho anh nghiên cứu một trận rồi. Mục đích anh ghé thăm nhà tôi, cũng coi như đạt được khá suôn sẻ. Tôi có thể hy vọng rằng, chúng ta đến đây là chấm dứt, kết thúc rồi chứ?”

“Được. Được chứ.”

Anh ta biết điều đứng phắt dậy.

Tôi bèn tiễn anh ta ra cửa.

Đến cửa, anh ta quay người dặn với lại: “Nhớ kỹ đấy, chỉ bàn nhân sinh, đừng bàn xã hội.”

Tôi liên mồm đáp: “Nhất định. Nhất định.”

“Nếu có ai đưa giấy nhắn, nhờ anh trả lời những câu hỏi liên quan đến tiềm thức, thực ra anh không trả lời cũng được.”

Tôi nói: “Đã trả lời anh rồi, thì tôi đối với tất cả các câu hỏi liên quan đến tiềm thức, đều dám không kiêng nể gì mà trả lời tuốt. Đằng nào thì tiềm thức hình như cũng chỉ có dính dáng chút đỉnh đến nhân sinh thôi, còn cách xã hội xa lắm.”

Anh ta khuyên nhủ với giọng điệu như đang dạy bảo: “Thì cũng không thể trả lời một cách thẳng thừng như anh được. Dù sao thì người tôi mời là một nhà văn, chứ không phải một kẻ biến thái tâm lý. Anh nên hiểu tâm lý của thính giả hiện tại. Anh không nói thật, bọn họ cho là anh giả dối. Anh đem cả chân tướng trong tiềm thức phơi bày ra cho bọn họ, bọn họ lại sẽ cho rằng hóa ra anh là một tên lưu manh. Hơn nữa cũng chẳng đáng phải thế, có phải không?”

Tôi nhận ra, anh ta sợ nhất là tôi nói ra những lời thể thống gì khiến cho anh ta cũng phải chịu nhục lây. Bèn hứa hẹn với anh ta một tiếng.

Anh ta bước ra ngoài cửa, lại nói: “Đương nhiên, anh dẫu đã hứa với tôi rồi, nhưng không đi cũng được. Chẳng có gì cả. Tôi không phải người hội sinh viên, chẳng có gánh nặng nghĩa vụ gì, anh hoàn toàn không cần phải vì tôi mà uốn éo bản thân mình. Như thế vô vị lắm.”

Tôi đáp: “Phải, phải. Tôi không uốn éo bản thân mình đâu.”

Anh ta nói: “Thế thì, chúng ta nói trước với nhau rồi đấy, là tự anh vui vẻ đi đấy nhé. Còn với tôi thì chẳng có liên quan gì nữa đâu. Tôi chẳng qua chỉ thay anh mang về một tâm nguyện, truyền đạt một thông tin mà thôi, đúng không?”

Sao mọi chuyện lại thành ra thế này cơ chứ!

Tôi thầm nghĩ, sao mình rẻ mạt thế không biết!

Thế nhưng, sự việc đã thành ra thế này rồi, muốn thay đổi bản chất của nó, chẳng biết lại phải tốn thêm bao nhiêu là nước bọt. Theo lời anh ta mà nói — “Như thế vô vị lắm!”

“Được, được, được! Rất tốt! Thế thì đành nhờ cậy vào cậu vậy!”

“Có gì đâu. Chuyện nhỏ như con thỏ ấy mà…”

Chúng tôi bắt tay nhau một cái, anh ta đi rồi…

Tôi thẫn thờ ngồi một mình, đem đầu đuôi sự việc ngẫm nghĩ lại tường tận một lượt, cảm thấy đây đúng là một chuyện “mẹ kiếp” thật sự. Càng ngẫm kỹ, lại càng thấy “mẹ kiếp”. Hơn nữa, lại cảm thấy hoàn toàn là vì bản thân mình quá “mẹ kiếp”, nên chuyện này mới biến thành một chuyện “mẹ kiếp” như vậy. Điều “mẹ kiếp” hơn nữa là — trước đó tôi đã đến trường đại học A ba lần giảng về “văn học và nhân sinh” rồi cơ mà! Chẳng phải tôi đã biến thành kẻ buôn chuyến chuyên bán tháo không biết chán cái món “văn học và nhân sinh” đó rồi hay sao! Cho dù có là chuyên gia trong lĩnh vực này đi nữa, thì cũng chẳng còn ngần ấy thứ để mà giảng mãi thế chứ lị!

Sao lúc anh ta ở đây, tôi lại có thể bỏ sót điểm này cơ chứ? Tôi giận đến mức đập đầu liên hồi, hối hận khôn nguôi. Cứ như thể bản thân mình là thủ phạm đầu têu khuấy đảo giá cả thị trường vậy. “Văn học và nhân sinh”, vì sự buôn chuyến của tôi mà đã trở thành món hàng rẻ mạt nhất. Tôi cảm thấy cách phối hợp này, tức là sự phối hợp giữa “văn học” và “nhân sinh”, quả là một sự phối hợp vớ vẩn hết chỗ nói. Có lẽ “văn học” thì thôi đi, chứ “văn học” mà đi chung một giuộc với “nhân sinh”, thì giống như một món đồ dán nhãn sai vậy, nghe sao mà đáng ngờ làm sao, phải không nào?

“Anh dẫu đã hứa với tôi rồi, nhưng không đi cũng được. Chẳng có gì cả…”

Lời nói của anh ta văng vẳng bên tai tôi một cách rõ mồn một, cứ như thể đã được tai tôi ghi âm lại vậy.

Đi?… Không đi?…

Đấu tranh tư tưởng hồi lâu. Cuối cùng vẫn quyết định là phải đi.

Có những lúc rõ ràng bạn biết tỏng là bản thân đang uốn éo bẻ cong chính mình, thế nhưng bạn vẫn khó tránh khỏi việc tự nhủ với bản thân rằng: thôi đi, chẳng phải chỉ là uốn éo một chút thôi sao? Đằng nào thì cũng đã bị người khác và bị chính mình uốn éo không biết bao nhiêu lần rồi. Sống ở đời người Trung Quốc mà còn chẳng sợ, lại còn sợ bị uốn éo nữa chắc? Bạn đã sống, lại còn ôm mộng ước không uốn không cong, chẳng phải bạn sống quá kiểu cách rồi sao? Chẳng phải bạn sống quá làm màu rồi sao? Hơn nữa bạn thậm chí còn có thể rút ra một kết luận đủ để khiến bản thân cảm thấy được an ủi: thà rằng tự mình uốn éo bản thân một chút thì hơn. Có được cái ý thức tự giác và phong cách chủ động uốn éo bản thân kiểu này, một số chuyện bỗng chốc trở nên cực kỳ đơn giản. Huống hồ, cái từ “uốn éo” ấy, đặc biệt là cái kiểu nói “tự mình uốn éo bản thân”, nghe vào thì thấy kỳ cục khó chịu thật đấy, chứ đến lúc thực sự “uốn éo” rồi thì lại chẳng hề đau đớn như lúc mang ra bàn tán đâu. Đã có ai tận mắt thấy ai bị người khác túm tay kéo chân, “uốn éo” giống như xoắn thừng bao giờ chưa? Nếu như việc “uốn éo” mà đáng sợ và tàn nhẫn đến thế, thì chẳng phải rất nhiều người đã sớm tự sát rồi hay sao? Dân số Trung Quốc chẳng phải sẽ giảm đi đáng kể mà chẳng cần phải vất vả thực hiện kế hoạch hóa gia đình nữa hay sao? Rất nhiều người Trung Quốc, vào rất nhiều thời điểm, cứ thế mà quen thói thành tự nhiên “uốn éo” bản thân, thứ duy nhất mà họ chứng minh được chỉ có một điều — uốn éo bản thân, chắc chắn là một phương pháp giải quyết vấn đề hoặc thoát khỏi cảnh khốn cùng tiện lợi hơn rất nhiều so với việc không “uốn éo” bản thân. Một phương pháp vô cùng thiết thực khả thi, hiệu quả linh nghiệm, thấy ngay kết quả mà lại chẳng hề đau ngứa gì đối với người Trung Quốc.

Không giải thích như thế, thì giải thích thế nào đây?

Không giải thích bản thân như thế, thì quả thực là tự rước lấy mười phần vạn sự bối rối cho chính mình, từ lý trí cho đến tiềm thức đều chẳng cách nào tự tài nào hiểu nổi bản thân mình nữa rồi!…

Ở Trung Quốc chúng ta, bất kể là ai nói về cái gì, thì rốt cuộc vẫn sẽ có không ít người muốn nghe. Dân số mười hai tỷ người kia mà, miễn là bản thân bạn không cam chịu cô đơn, thì bạn sẽ chẳng bao giờ phải nếm trải cái ngày cô đơn đâu. Mặc dù tôi đã từng lớn tiếng bàn luận ba lần về “văn học và nhân sinh” tại đại học A rồi, nhưng đến lần thứ tư, vẫn có cả một phòng học chật ních người ngồi. Một trường đại học có hơn ba ngàn sinh viên, chỉ cần có một phần mười số đó nể mặt bạn, thì bạn cũng sẽ cảm thấy mình có những thính giả trung thành.

Thế nhưng ngày hôm đó khi đối mặt với họ, thoắt cái tôi lại cảm thấy một nỗi hoang mang chưa từng có. Có lẽ là do lý do tâm lý, tôi thậm chí còn cảm thấy, dường như có tới hai phần ba cho đến ba phần tư khuôn mặt đều tựa như những gương mặt quen thuộc. Trong khi tôi thì chuẩn bị giới thiệu chính cái con người đó lần thứ tư cho họ như một “đối tượng” vậy.

Phía sau tôi cũng lác đác đứng vài cô cậu sinh viên ưu tú.

Tôi nghe thấy bọn họ xì xào bàn tán:

“Cứ nghe cái đề tài này là tớ biết lại là lão ta rồi!”

“Thế cậu còn đến làm gì?”

“Thì vừa thi xong mà! Hơn nữa đèn trong ký túc xá hỏng rồi, phòng đọc sách hôm nay lại không mở cửa.”

“Này, lần này là ai mời đến thế nhỉ?”

“Không biết nữa…”

“Nghe nói là lão tự nguyện đến đấy.”

“Sao lão lại có cái thú vui này nhỉ?”

“Suỵt, khéo là bóng đèn nhà lão cũng hỏng rồi ấy chứ…”

Tôi phát hiện Tiêu Băng đang ngồi ở hàng ghế giữa. Giống hệt như tất cả những kẻ chẳng dính dáng gì đến màn “lên kế hoạch” cho chuyện này, mang một bộ mặt đằng nào thì cũng chẳng có việc gì nghiêm túc hơn để làm. Cậu ta còn mang theo cả sổ tay và bút nữa chứ! Lúc tôi phát hiện ra cậu ta, thì cậu ta đang nhìn tôi. Ánh mắt chúng tôi vừa chạm nhau, cậu ta liền quay phắt mặt đi, nói gì đó với người ngồi bên cạnh. Ánh mắt tôi vừa quét qua, cậu ta lại ngước lên nhìn tôi.

Thế là tôi cảm thấy mình bị bán đứng một cách có chủ đích.

Chỉ khi nảy sinh thứ tâm lý này rồi, việc tự uốn éo bản thân mới có vẻ là một chuyện ấm ức hết chỗ nói.

Người chủ trì giới thiệu thế này: “Các bạn sinh viên, xin mọi người hãy giữ trật tự. Đồng chí nhà văn Lương Hiểu Thanh, dẫu thời gian vô cùng quý báu, nhưng lại có một thứ tình cảm đặc biệt đối với trường chúng ta, cho nên anh ấy đã tự nguyện đưa ra một yêu cầu với chúng tôi, hy vọng lại có thêm một cơ hội nữa để tiếp tục bàn với chúng ta về ‘văn học và nhân sinh’, mọi người nhiệt liệt hoan nghênh!”

Tiếng vỗ tay bỗng vang lên nhiệt liệt đến mức vô đối.

Sinh viên đại học quả thực là những người đáng yêu nhất.

Đợi tiếng vỗ tay dứt hẳn, tôi mặt đỏ tía tai nói: “Các bạn sinh viên, người chủ trì của chúng ta vẫn chưa nắm rõ tình hình cho lắm. Thật ra, tôi dẫu có tình cảm đặc biệt với các bạn, nhưng lại không phải tự nguyện đến đây để bàn về ‘văn học và nhân sinh’ lần thứ tư đâu. Điểm này các bạn có thể hỏi đồng chí Tiêu Băng. Chính cậu ta hôm trước bất chấp gió bão đến nhà tôi để mời tôi. Tôi đã bị sự thành khẩn của cậu ta làm cho cảm động. Hơn nữa… hơn nữa cậu ta là em họ tôi. Vì mối quan hệ đặc biệt này, tôi không thể từ chối được. Balzac có một câu danh ngôn — bằng mọi giá không được đắc tội với các cậu em họ…”

Tôi quả thực đã từng đọc được câu cuối cùng này từ một cuốn tiểu thuyết. Nhưng tuyệt đối không phải do Balzac nói. Cho dù có là một câu nói bình thường nhất hay thậm chí ngốc nghếch nhất đi nữa, nếu khiến người ta tin rằng nó xuất phát từ miệng của danh nhân, thì không phải danh ngôn cũng thành danh ngôn. Cho nên tôi đành mượn danh nghĩa của Balzac vậy, đằng nào thì ông ta cũng là người chết rồi, có nhận hay không thì cũng phải chịu thôi. Huống hồ sách của ông ta nhiều như núi, chẳng có ai dại dột đi hoài nghi không phải do ông ta nói cả. Đồng thời, điều đó cũng đủ để chứng minh vốn hiểu biết rộng rãi, trí nhớ siêu phàm và khả năng trích dẫn cừ khôi của tôi chứ bộ? Trong tiềm thức của tôi, phảng phất vẫn còn có một chút ác ý nhỏ nhoi nào đó đang quậy phá. Vì ngắm nhìn từng ánh mắt đổ dồn về phía “cậu em họ”, ngắm nhìn vẻ ngượng ngùng mất tự nhiên của cậu ta trên chỗ ngồi, tôi đã trải nghiệm được khoái cảm của việc dùng sự thông minh để trả đũa người khác một vố. Quan trọng nhất là, tôi đã đính chính trước công chúng rằng không phải tôi tự nguyện. Mà đem cái sự lúng túng khiến tôi mặt đỏ tía tai ấy, vứt tót lên đầu “cậu em họ” ngay trước mặt mọi người…

Chiều hôm sau chừng hơn bốn giờ, “cậu em họ” lại đến cửa.

Tôi mở cửa, thấy là cậu ta, không khỏi ngẩn ra. Theo suy đoán của tôi thì trong cõi đại thiên thế giới này, cuộc chạm trán giữa hai chúng ta đã là một chuyện khép lại rồi cơ mà. Sao cậu ta lại tới nữa chứ? Nhìn bộ dạng của cậu ta, tôi đoan chắc mẩm cậu ta thể nào cũng lại đến để đòi lại tôn nghiêm rồi. Tôi đường đường là một người anh họ của cậu ta cơ mà, tôi thầm nghĩ, chắc cũng chẳng đến mức làm ô uế cậu ta đâu nhỉ, thế mà còn định hạch tội gì nữa đây? Bộ dạng của cậu ta trông hoàn toàn là kiểu kẻ thiện thì không đến, kẻ đến thì không thiện.

“Lương Hiểu Thanh, rốt cuộc anh ôm cái bụng dạ gì thế hả?”

Cậu ta vừa bước vào hành lang đã hùng hổ chất vấn.

Sợ hàng xóm láng giềng trên lầu dưới nghe thấy rồi truyền đi những lời ong tiếng ve khó mà giải thích rạch ròi cho hết, tôi liền kéo phắt cậu ta vào trong nhà.

“Cậu nhỏ tiếng chút được không hả? Tôi lại làm sao nữa nào?”

“Làm sao á? Tự anh không rõ lắm hay sao? Ai là em họ của anh hả? Lúc đó tôi đã nói rất rõ ràng rồi, hy vọng anh đừng tự uốn éo bản thân. Lại còn nói anh dẫu đã hứa với tôi rồi nhưng không đi cũng được. Nói tôi chỉ chịu trách nhiệm mang tâm nguyện của anh về, truyền đạt một thông tin mà thôi. Lúc đó chẳng phải anh hoàn toàn không có dị nghị gì đó sao? Sao lúc ở đông người anh lại giở cái trò đó ra với tôi hả?”

Tôi ngụy biện: “Thế cậu tự nói xem, cậu đội gió lốc đến nhà tôi, rốt cuộc là vì cái gì?”

Cậu ta nói: “Không sai. Tôi đến nhà anh, quả thực là để mời anh. Nhưng đây chẳng qua chỉ là tâm nguyện của tôi thôi. Anh có thể nhận lời, nhưng hoàn toàn cũng có thể từ chối mà! Đi hay không đi, anh có quyền và sự tự do lựa chọn hoàn toàn cơ mà! Tôi ép uổng anh à? Không hề. Tôi dùng lợi ích dụ dỗ anh à? Không hề. Tôi van xin anh à? Không hề. Bản thân anh có quyền và sự tự do lựa chọn không đi, thế mà anh lại chọn đi, không phải do anh tự nguyện thì là ai tự nguyện? Sao anh lại cứ mở mồm trước đông người để người ta tưởng như tôi quỳ lạy van xin anh mãi thế hả? Anh làm thế chẳng phải ti tiện lắm sao?…”

Tôi vừa đóng cửa sổ vừa dựa vào lý lẽ để tranh cãi: “Tiêu Băng, cậu dùng từ phải có chừng mực chứ! Cậu nói nặng lời quá rồi đấy! Tôi nói cậu là em họ tôi, chẳng qua chỉ muốn mở đầu câu chuyện cho nó hài hước, dí dỏm một chút thôi, thì dính dáng gì đến ti tiện với không ti tiện cơ chứ?”

“Nhưng anh đã gây ra sự hiểu lầm cho bạn gái tôi về tôi rồi!” Giọng điệu của cậu ta chẳng hạ xuống mảy may nào, “Cô ấy tưởng tôi nài nỉ anh nhận tôi là em họ anh! Cô ấy tưởng tôi dùng mọi thủ đoạn để bấu víu vào một nhà văn! Anh thì hay ho gì chứ? Chẳng qua chỉ viết được vài ba cuốn tiểu thuyết nửa nạc nửa mỡ trong mấy năm người ta dùng việc đọc tiểu thuyết để giết thời gian rảnh rỗi mà thôi! Sao tôi lại phải thèm bấu víu vào anh chứ? Anh phải chịu trách nhiệm cho hậu quả nghiêm trọng mà anh đã gây ra! Anh phải xin lỗi tôi!…”

Đúng lúc này mẹ già của tôi từ bên ngoài về.

Trước mặt mẹ già, tôi không tiện nổi đóa, bèn cười và nói: “Được, được, được. Tôi xin lỗi cậu. Là tôi không phải, khiến cậu phải chịu nỗi nhục nhã tày đình. Thế được chưa nào?”

Mẹ không biết tôi đã làm chuyện tày trời gì, vẻ đầy nghi hoặc và bất an nhìn tôi, rồi lại nhìn cậu ta, lặng lẽ đứng sang một bên, thấp thỏm quan sát diễn biến của sự việc.

Tôi bảo: “Mẹ, mẹ vào trong nhà đi. Chẳng có việc gì của mẹ đâu.” Nói rồi đẩy mẹ vào trong nhà.

Mẹ không chịu để bị đẩy vào trong nhà, dùng giọng điệu hòa giải nói với cậu ta rằng: “Con à, nếu nó có làm chuyện gì có lỗi với con, nhất định mẹ sẽ nghiêm khắc dạy bảo nó. Có gì các con cứ từ từ nói chuyện, đừng có cãi vã nhé. Người ta thường bảo, oan gia nên giải chứ không nên kết, đúng không nào…?”

Trước mặt mẹ già của tôi, cậu ta đâm ra có chút ngại ngùng. Bỗng chốc cũng bật cười, lễ phép nói: “Thưa bác, thực ra… thực ra nó chẳng làm chuyện gì có lỗi với con cả. Bọn con cũng không phải đang cãi nhau. Bọn con chỉ là… chỉ là đang bàn luận vấn đề thôi. Nhất thời cao hứng nên giọng hơi to một chút ấy mà…”

Mẹ thấy cậu ta nói có vẻ thành tâm, bèn xua tan nỗi bất an, bảo: “Mấy đứa các con ấy, suốt ngày cứ lắm vấn đề để bàn luận thế không biết. Không cãi nhau là tốt rồi. Vào nhà ngồi rồi từ từ mà bàn luận chứ.”

Tôi lại đẩy mẹ vào nhà: “Mẹ, mẹ tự vào trong nhà trước đi! Bọn con bàn thêm vài câu nữa là thôi không bàn nữa.”

Cậu ta cũng hùa theo: “Thưa bác, bọn con tuyệt đối không cãi nhau đâu, bác cứ yên tâm một trăm phần trăm đi ạ!”

“Chưa thấy đứa nào như con, cứ đứng chặn khách ở lối đi để bàn luận vấn đề thế này!” Mẹ trừng mắt lườm tôi một cái, cuối cùng cũng chịu bước vào nhà.

Cậu ta hạ giọng nói: “Chỉ xin lỗi tôi thế thôi thì chưa đủ đâu.”

Tôi dùng cái giọng còn nhỏ hơn cậu ta để hỏi: “Thế phải thế nào mới đủ?”

Cậu ta nói: “Lời xin lỗi ban nãy của anh không tính. Anh phải xin lỗi tôi trước mặt bạn gái tôi, đồng thời giải thích rõ ràng với cô ấy, thì mới chứng minh được thành ý của anh.”

Tôi đáp: “Được. Cậu nói có lý, cứ theo lời cậu mà làm. Mấy hôm nữa, tôi sẽ đến trường các anh. Chúng ta một đập ăn cướp cho rồi.”

Cậu ta bảo: “Không cần phiền anh phải đến trường chúng tôi một chuyến nữa đâu. Cô ấy hôm nay cũng đi cùng tôi đến đây rồi…”

“Cái này… cô ấy đang ở đâu thế?…”

Tôi không kìm được lại ngẩn ngơ đôi chút.

“Đang đợi ở dưới lầu ấy ạ. Em bảo là em quên mất nhà anh tầng mấy cửa nào rồi, tìm chuẩn xác xong mới dám mời cô ấy lên. Em đi gọi cô ấy lên gặp anh ngay đây…”

Không đợi tôi bày tỏ ý kiến gì, cậu ta đã vội vã chạy xuống lầu.

Tôi thầm kêu khổ thấu trời xanh. Tự nhủ, cuộc đời thật là đặc sắc. Cuộc đời thật là kỳ diệu. Một chuyện vốn đã “mẹ kiếp” rồi, nay lại càng “mẹ kiếp” hơn! Nhỡ đâu cậu ta dẫn lên đây một mồm mép tép nhảy nào đó, hoặc một nữ tư tưởng gia còn có nghiên cứu về tiềm thức con người sâu sắc hơn cả cậu ta nữa, thì tôi phải đối phó thế nào đây? Có không muốn uốn éo bản thân cũng phải uốn éo lại lần nữa, có không muốn giả dối cũng phải giả dối tiếp thôi chứ biết sao giờ!…

Cậu ta dẫn lên lầu một cô gái tóc cắt ngắn. Một gương mặt vô cùng dịu dàng thanh tú điển hình của con gái miền Nam. Áo sơ mi trắng. Váy xanh. Một đôi giày đế xuồng bệt bằng vải màu đen. Trông toàn thân vừa gọn gàng vừa thanh tao thướt tha.

Để chứng minh bản thân không phải là không có thành ý, tôi đứng cung kính đợi sẵn ở cửa.

“Từ Tác Dao.”

Cô ấy cười, rất đỗi hào phóng chìa ra một bàn tay với tôi. Lúc cười, trông rất ngọt ngào, rất yểu điệu.

Tôi thầm nghĩ, xét từ vẻ bề ngoài mà nói, “cậu em họ” này rõ ràng kém xa cô bạn gái của cậu ta. Điểm này thậm chí còn khiến tôi cảm thấy sảng khoái trong lòng hơn cả việc tranh cãi nảy lửa với cậu ta trước đó.

Tôi bắt tay cô ấy một cái, mời cả hai bước vào nhà, rồi thuận theo cái “hiệp ước” đã ký kết trước với cậu ta, nói với cô ấy mấy lời xin lỗi tạ tội để đính chính lại chân tướng sự việc.

Không ngờ cô ấy lại cười và bảo: “Đừng nói với em mấy chuyện này. Đừng nói với em mấy chuyện này. Em và anh ấy cùng tới đây, mục đích chính chẳng qua chỉ muốn làm quen với anh chút thôi, sao anh lại cứ làm thật thế cơ chứ!”

Nói đoạn, cô ấy tự nhiên ngồi phịch xuống ghế sô-pha.

Tôi bèn làm vẻ mặt không biết phải làm sao nhìn sang “cậu em họ”. Ý như muốn bảo, cậu thấy đấy, cậu làm quá lên rồi chứ gì? Xin hãy tiếp tục chỉ thị xem bây giờ tôi còn phải làm gì nữa nào?

Cậu ta trừng mắt nhìn cô ấy, hạ giọng nhưng hết sức nghiêm túc nói: “Hóa ra em có dụng ý lợi dụng anh từ trước à?”

Cô ấy đáp: “Nói năng kiểu gì thế hả? Thế này mà cũng tính là lợi dụng anh á?”

Vừa nói cô ấy vừa kéo cậu ta ngồi xuống.

“Thật là vô lý hết chỗ nói!”

Cậu ta vung tay hất văng tay cô ấy ra, mặt đỏ bừng định bỏ đi luôn.

“Tiêu Băng, anh đừng đi. Sao anh lại có thể cứ thế mà bỏ đi thế này chứ! Cái này… làm thế này thì lố bịch quá đấy biết không?”

Tôi chặn cậu ta lại, không cho cậu ta đi mất. Sợ rằng cậu ta đi thật, lại để lại một thứ bầu không khí ngượng ngùng khác cho một mình tôi thưởng thức.

Trái lại, Từ Tác Dao của cậu ta lại bảo tôi: “Cứ để anh ta đi đi. Đừng chặn anh ta lại. Anh ta muốn đi thì cứ để anh ta đi.”

Thế là cậu ta đâm ra lại không bước ra ngoài nữa.

Cô ấy liếc xéo cậu ta một cái, rồi nói: “Anh đấy, con người anh thỉnh thoảng chán ngắt đi được ấy! Cứ như thể người khác ở đâu cũng đang tính kế ám hại anh, cố tình chống đối với anh không bằng! Anh không thể có chút khiếu hài hước nào hay sao chứ? Lúc người khác nghiêm túc thì anh là đứa cợt nhả nhất. Lúc người khác mưu tính tạo ra bầu không khí nhỏ nhẹ nhàng vui vẻ thì anh lại nghiêm túc hơn cả đảng viên cộng sản đứng đắn nhất, ở đâu cũng bắt bẻ tính chân thực và không chân thực của từng chi tiết. Sao lúc nào anh cũng cứ đóng cái vai phá đám thế nhỉ?”

Cậu ta lẩm bẩm: “Làm sao mà anh biết trong lòng em nghĩ thế chứ…”

Cô ấy không chịu buông tha mà nói: “Thế sau khi anh biết rồi, sao lại còn giở thói giận dỗi, lại còn đòi bỏ đi nữa? Trong tiềm thức của anh, có cái quái quỷ gì đang giở trò thế hả?”

“Không có!” Cậu ta cãi, “Tiềm thức của anh lúc này trống rỗng và trong sạch không một tì vết!”

“Dẹp đi! Làm gì có cái tiềm thức nào trong sạch không tì vết chứ? Nhất là cái giống đàn ông các anh ấy!” Cô ấy tiếp tục công kích cậu ta. Tôi cảm thấy còn không lưu tình chút nào hơn lúc cậu ta công kích tôi nữa. Tôi thầm nghĩ, có lẽ trong lĩnh vực nghiên cứu và phân tích tiềm thức con người, cô ấy chính là thầy hoặc là người hướng dẫn của cậu ta cũng nên? Tôi cảm thấy mất mặt thay cho cậu ta, đồng thời cũng thấy mất mặt thay cho chính mình. Bởi vì câu nói “đàn ông các anh” ấy đã khiến tôi cũng không tránh khỏi việc vạ lây. Thực ra cô ấy cũng đã công kích cả tôi rồi, hay nói cách khác là tôi cũng đã bị thương nhầm. Mặc kệ là cô ấy có cảm nhận được điều đó hay không.

Thế nhưng cậu ta lại chủ động mỉm cười giảng hòa.

“Em ngồi xuống cho anh.”

Cậu ta ngoan ngoãn ngồi xuống.

Cô ấy huých cùi chỏ vào người cậu ta một cái: “Tạm gác cái tiềm thức của anh sang một bên đã, đợi về trường rồi sẽ phân tích thật kỹ cho anh sau!”

Mẹ nghe thấy tiếng động bèn từ phòng bên khác bước ra, mở tủ lạnh, bưng ra một quả dưa hấu to đùng đặt lên bàn trà, nhiệt tình mời họ ăn.

Từ Tác Dao đón lấy con dao từ tay mẹ, bảo: “Bác ơi, để con! Để con!” Ba đường bốn nhát, cắt dưa hấu nát bét cả ra.

Cậu ta đứng cạnh nhìn vào, liền chê bai: “Em xem em cắt kiểu gì thế hả? Có ai cắt thế này không cơ chứ? Người ta toàn là, cắt xuôi theo đường vân của dưa trước, rồi sau đó mới…”

“Có ăn hay không thì bảo!” Cô ấy lại liếc xéo cậu ta một cái, “Chê em cắt không đúng quy chuẩn thì đừng có mà ăn! Đồ giáo điều!” Nói đoạn, liền bưng lấy một miếng ăn ngấu nghiến.

Mẹ hỏi: “Có ngọt không con?”

Cô ấy liên mồm đáp: “Ngọt ạ. Vừa mát vừa ngọt, tuyệt cú mèo luôn!”

“Cậu… cậu đúng là vô lý hết chỗ nói! Sao cậu không nhường bác trước hả?…”

Giọng điệu của cậu ta có chút làu bàu hậm hực.

Rõ mười mươi là cậu ta đã thực sự bất mãn với cô ấy từ trong tận đáy lòng rồi đây.

“Bác ơi, bác ăn miếng ở giữa này đi ạ!”

Cậu ta dùng hai tay bưng một miếng hầu như không có hạt nào, cung kính đưa tới trước mặt mẹ già của tôi.

“Được, được. Mẹ cùng ăn với mấy đứa…”

Mẹ khiêng một chiếc ghế đẩu nhỏ, ngồi xuống đối diện với cậu ta.

Lúc cậu ta nói chuyện với mẹ tôi, tôi cảm thấy ánh mắt của cậu ta rất đặc biệt, rất khác thường. Trong tròng mắt đong đầy sự dịu dàng, ngữ điệu cũng cực kỳ dịu dàng. Đó chính là thứ dịu dàng chỉ có ở những đứa con hiếu thảo nhất đối với người mẹ già đã chịu đựng cay đắng suốt cả cuộc đời mình. Thái độ ấy cũng là thứ không thể chỉ dùng những từ như cung kính hay lễ phép để hình dung nổi. Sự dịu dàng ấy phảng phất khiến cậu ta trở nên vô cùng nữ tính. Trông hoàn toàn khác một trời một vực so với sự nhạy cảm lúc cậu ta bảo vệ tôn nghiêm của mình, so với sự hùng hổ áp đảo lúc cậu ta thu hồi tự tôn của bản thân, so với sự mỉa mai đắc ý lúc cậu ta phân tích và nghiên cứu tiềm thức của người khác, và so với sự ranh mãnh điềm tĩnh lúc cậu ta dụ dỗ người khác rơi vào cái tròng “tự uốn éo bản thân” mà không cách nào dứt ra được.

Hỏi trên đời này còn có chuyện gì vui sướng hơn việc chứng kiến người khác đối xử với mẹ già của mình bằng sự dịu dàng chân thành nữa cơ chứ?

Khoảnh khắc ấy tôi sinh ra hảo cảm cực lớn đối với cậu ta. Thậm chí hoàn toàn có thể nói rằng, tôi đã bị cậu ta làm cho cảm động. Cảm thấy cậu ta thực ra chẳng hề đáng ghét chút nào. Cảm thấy ngay cả cái tính nhạy cảm mà tôi vốn vô cùng chán ghét đó, cùng với cái sở thích quái đản thích phân tích và nghiên cứu tiềm thức của người khác ấy, không những có thể dung thứ được mà thậm chí còn rất thú vị nữa là đằng khác…

Nữ sinh đại học chịu phải lời chỉ trích công khai, thoạt đầu dường như lập tức nhận thức được rằng lời chỉ trích này chính xác đến mức không chê vào đâu được, bèn chẳng hề tỏ vẻ mất mặt chút nào, chẳng qua chỉ lè lưỡi ra rồi liên mồm nói: “Chỉ trích đúng lắm ạ, chỉ trích chuẩn lắm ạ. Bản thân em xin khiêm tốn tiếp nhận.” Lại cười nói với mẹ tôi rằng: “Bác đừng trách em nhé! Cháu vốn là đứa quen thân mồm quen miệng từ bé, mãi chẳng sửa nổi thói quen này.”

Mẹ già bảo: “Con bé này, ta thích cái tính cách này của con đấy. Mấy đứa cứ khách sáo câu nệ quá, thì ta lại đâm ra chẳng biết phải đối xử với các con thế nào cho phải nữa cơ.”

Cô ấy lại huých cùi chỏ vào cậu ta một cái: “Nghe thấy lời của bác chưa hả? Em chẳng qua chỉ cố tình lộ ra một sơ hở, để cho anh có cơ hội phản công đấy chứ. Không thì làm sao tâm lý của anh được cân bằng hả?”

Cậu ta chỉ cắm cổ ăn dưa cho thật ra dáng, chẳng thèm đếm xỉa gì đến cô ấy.

Cô ấy nhìn cậu ta, bỗng nhiên phì cười khúc khích, cười đến mức khiến cậu ta, rồi cả tôi và mẹ già của tôi, đều ngơ ngác chẳng hiểu mô tê gì.

Cậu ta bảo: “Em bị làm sao thế hả? Ở nhà người ta thì em ra dáng nghiêm túc một chút không được à?”

Cô ấy nói: “Được, được! Anh mới nghiêm túc làm sao! Nghiêm túc đến mức lúc ăn dưa mà cứ như có cả trăm cái máy quay đang chĩa vào quay phim ghi hình vậy. Đến hạt dưa cũng chẳng thèm nhả ra nữa cơ chứ! Người ta có sẵn một cô em họ để gả đâu cơ chứ, chẳng phải anh công cốc uổng công tranh thủ điểm ấn tượng tốt đẹp rồi còn gì!”

Câu nói khiến tôi và mẹ cũng phải phì cười theo.

Đúng là một cặp đôi có tính cách trái ngược nhau hoàn toàn. Không biết làm thế nào mà cậu ta lại khiến cô ấy trở thành bạn gái của mình cơ chứ? Hoặc nói ngược lại, chẳng biết cô ấy rốt cuộc thích điểm nào trên người cậu ta nữa? Mặc dù bọn họ đều là sinh viên đại học, thế nhưng tôi vẫn cảm thấy bản chất họ vẫn chỉ là hai đứa trẻ. Hai đứa trẻ vừa mới kết thúc thời kỳ bú mớm, vừa mới trưởng thành đến giai đoạn cai sữa. Những đứa con nít ở giai đoạn này, con trai thì đứa nào cũng thích tưởng tượng rằng bản thân đã trải sự đời mọi chuyện trên thế giới này rồi, chín chắn hết mức có thể, sâu sắc hết mức có thể. Trong khi con gái thì luôn thích cố tình nán lại ở giai đoạn thiếu nữ, tưởng tượng rằng mình mãi mãi tuổi mười bảy mười tám, còn tuổi hai mươi là một cột mốc xa lắc xa lơ nào đó…

Ăn dưa xong, cậu ta định xin phép ra về, nhưng mẹ giữ họ lại ăn cơm.

Mẹ nói: “Hôm nay chẳng phải thứ bảy sao? Về trường muộn chút thì có sao đâu nào? Ở lại phụ bác gói sủi cảo đi! Chẳng phải ở trường các con khó lòng mà được ăn một bữa sủi cảo hay sao?”

Cô ấy nhìn cậu ta. Cậu ta nhìn tôi. Tôi nói với mẹ: “Mẹ à, bọn họ ăn sủi cảo chẳng khó khăn gì đâu ạ.”

Mẹ từ xưa đến nay vẫn luôn vậy, hễ trong nhà có người lạ đến là coi như khách quý, hễ khách chịu ở lại ăn cơm là vui mừng khôn xiết. Mẹ đặc biệt thích tiếp đãi những thanh niên trẻ tuổi tầm đôi mươi. Sống chung với ông con trai suýt soát tuổi tứ tuần lâu ngày rồi, người làm mẹ nào mà chẳng thấy cô đơn chứ.

Mẹ bảo: “Mấy đứa đừng nhìn nó. Nhìn nó làm gì cơ chứ? Chẳng lẽ ta lại không làm chủ được việc giữ mấy đứa ở lại ăn một bữa cơm hay sao?”

“Bác ơi, thế này thì…”

Cậu ta ấp úng, chẳng biết phải nói sao cho phải.

Cô ấy liền trêu chọc cậu ta: “Anh là em họ cơ mà, ở nhà anh họ ăn một bữa cơm thì có gì mà phải băn khoăn lo nghĩ chứ hả?” Lại quay sang nói với mẹ: “Bác ơi, em lâu lắm rồi không được ăn sủi cảo, em ở lại. Em là đứa hiểu chuyện, tuyệt đối không bao giờ làm tụt hứng các bậc cao niên đâu ạ…”

Tôi vội vàng tuyên bố: “Hôm nay tôi không viết lách gì hết, hôm nay tôi không viết lách gì hết…”

Thế nhưng sau đó tôi vẫn một mình trốn vào căn phòng khác, đóng cửa lại rồi ngồi viết lách.

Hai đứa sinh viên đại học mới quen vừa phụ mẹ già của tôi gói sủi cảo vừa lén lút đấu khẩu qua lại lẫn nhau, chốc chốc lại vọng lên từng trận cười vang giòn giã vui vẻ của mẹ già tôi. Thỉnh thoảng cô ấy cũng cười khúc khích, để rồi sau đó thể nào cũng nghe thấy tiếng xuỵt suỵt và lời trách mắng của cậu ta: “Em cười nhỏ tiếng chút không được à! Đây có phải nhà em đâu cơ chứ!”

Và thế nào cũng lại nghe thấy tiếng mẹ bênh vực cho cô ấy: “Nó cười thì mặc kệ nó chứ, con quản nó làm gì! Ta chướng mắt nhất cái kiểu đàn ông các con cứ hở ra là quản chế phụ nữ đủ đường thế đấy! Con bé ơi, cứ cười đi, muốn cười thì việc gì phải nhịn không cười cơ chứ!…”

Tôi bỗng cho rằng bản thân nên gửi lời cảm ơn sâu sắc đến hai đứa nó.

Bởi vì mẹ già của tôi đã lâu lắm rồi chưa từng cười sảng khoái vui vẻ đến thế.

Mẹ quá cô đơn. Cố nhiên cũng giống như sự phiền nhiễu không chịu nổi của tôi vậy.

Tôi dứt khoát đặt bút xuống, cùng tham gia gói sủi cảo với bọn họ.

Từ đó tôi có thêm một “cậu em họ”, kèm theo đó là có thêm một “cô em họ” nữa…

Hai

Năm nhất chủ nghĩa lý tưởng; năm hai chủ nghĩa lãng mạn; năm ba chủ nghĩa hiện thực; năm tư chủ nghĩa hiện thực phê phán — đó là "bốn chương khúc học đường" do chính các sinh viên tự tóm tắt tổng kết lại.

"Cậu em họ" và "cô em họ" đã kể với tôi như vậy.

"Cậu em họ" đã học năm ba học kỳ hạ rồi. Con đường “chủ nghĩa hiện thực” của cậu ta sắp đi đến hồi kết. Mọi nỗ lực của cậu ta xoay quanh việc phân bổ hướng đi cá nhân dường như ngày càng trở thành một giấc mơ phi thực tế. Cậu ta bộc lộ một cách quyết liệt, ngày càng rõ rệt tư tưởng sắc bén của một kẻ theo “chủ nghĩa hiện thực phê phán” ở khắp mọi nơi. Dù sao thì cậu ta vẫn còn nguyên vẹn một năm trời để tìm kiếm cái “điểm” của mình trên tọa độ xã hội. Phía nhà trường ngược lại rất khuyến khích bọn họ tự đi tìm lấy, cấp giấy giới thiệu, giáo viên viết trước giấy nhận xét. Đối với những sinh viên có năng lực tự bươn chải kém, không rõ hướng đi tương lai mịt mờ, những lời phê đưa ra vừa tích cực lại vừa mang dụng ý sâu xa. Sự khích lệ này mang tính gợi ý ngầm — mau chóng tranh thủ thời gian lên nhé, hoàn toàn dựa vào mấy cậu cả đấy! Giống như các cô nuôi dạy trẻ ở cô nhi viện động viên lũ trẻ đi tìm cha mẹ ruột mà chúng chưa từng gặp mặt vậy. Mà xung quanh bọn họ, các sinh viên năm tư vì để tìm kiếm cho ra cái “điểm” ấy, vô số người bươn chải phờ phạc, vô số người sứt đầu mẻ trán, vô số người kiên trì nhẫn nại, kiên cường không chùn bước tiếp tục đem bản thân đi tiếp thị khắp xã hội, vô số người cuối cùng cũng đành chịu thua, dứt khoát từ bỏ cơ hội tìm kiếm và lựa chọn, phó mặc cho số phận biểu thị sự cam tâm tình nguyện giao phó bản thân cho Chúa trời tức là giao cho nhà nước, thông qua kênh phân phối thống nhất đầu tiên. Với thái độ có đầu có đuôi, cất lên tiếng bè trầm bi tráng tiễn biệt khuôn viên đại học ở đoạn nhạc kết của “chủ nghĩa hiện thực phê phán”, chuẩn bị sẵn sàng tinh thần “hoa rơi nước chảy đành chịu thôi”, “tráng sĩ một đi không trở lại”. Điều này khiến một số sinh viên năm ba không đành lòng vượt tuyến tham gia quá mức vào sự cạnh tranh với các sư huynh sư tỷ của họ. Đồng thời cũng khiến một số sinh viên năm ba càng thêm sốt ruột hơn, càng cho rằng cuộc cạnh tranh vượt tuyến này quả là chuyện không thể nhường nhõi. Thế là một số sinh viên năm tư lên án bọn họ là vô nhân đạo. Nhưng lại có một số sinh viên năm tư xoay chuyển một trăm tám mươi độ trở nên rộng lượng, thốt ra mấy câu kiểu như “Trung Quốc bé thật đấy” để tự trào phúng an ủi bản thân. Những kẻ may mắn, sớm đã nắm chắc trong tay hướng đi được phân phối, ôm ấp hoài bão đầy tự tin về tương lai thì lúc nào cũng có. Để không trở thành mục tiêu ghen tị, họ tuân thủ nghiêm ngặt bí mật của từng người, tuyệt đối không dám dùng sự tự tin của mình để kích thích tâm lý người khác. Thỉnh thoảng thậm chí còn phải hùa theo “vì cố nặn ra từ mới mà rên rỉ ngâm thơ”, giả vờ ra vẻ mất mát vô cùng chán nản khi nhìn về tương lai…

“Cô em họ” đại khái thuộc về nhóm người may mắn ấy. Kém “cậu em họ” một khóa, suốt ngày vẫn chìm đắm trong làn khói hồng khói tím của “chủ nghĩa lãng mạn” để chế tạo và trải nghiệm đủ mọi thứ cảm giác nhỏ nhặt của mình. Cha của cô ấy từng là thị trưởng một thành phố ven biển nào đó. Nơi thành phố ấy có một khu nghỉ mát mới được khai phá. Số lượng quan chức Bắc Kinh và những nhân vật tên tuổi trong giới văn nghệ mà cha cô ấy tiếp đãi khi còn tại chức không phải là ít. Bọn họ và bọn họ, một cách đường hoàng thuận lý thành chương, đã trở thành những “bác trai”, “bác gái”, “chú”, “dì” của cô ấy ở Bắc Kinh. Thực ra có những lúc cô ấy cùng “cậu em họ” đến nhà tôi, đối với bản thân cô ấy mà nói thực ra chỉ là sự hy sinh về mặt thời gian. Đối với “cậu em họ” mà nói thực ra là một sự cống hiến. Đối với tôi mà nói, là một tấm gương soi. Vì tôi vẫn luôn biết rất ít về “cậu em họ”. Cậu ta dường như cũng không hy vọng tôi hiểu quá tường tận về mình. Đã có mấy lần tôi cố gắng trò chuyện với cậu ta về chính cậu ta, cậu ta đều mơ hồ né tránh trả lời tôi. Kể từ đó tôi không gặng hỏi sâu thêm nữa. Khi một kẻ vốn dĩ không quen biết trước kia, trên thực tế đã xông xáo bước vào cuộc sống của bạn rồi, chẳng lẽ bạn không lúc nào cũng muốn hiểu về cậu ta nhiều hơn và toàn diện hơn hay sao? Việc này chẳng liên quan gì đến chuyện tin tưởng hay không tin tưởng cả. Đương nhiên cũng chẳng phải sự hiếu kỳ tò mò gì, mà chỉ đơn giản là một xu hướng tâm lý theo thói quen nào đó mà thôi. “Cậu em họ” đến nhà tôi mấy bận rồi, bây giờ không chỉ đơn thuần là “cậu em họ” của tôi nữa, mà còn là “con trai nuôi” của mẹ nữa. Mẹ không thiếu “con trai nuôi” và “con gái nuôi”. Có bạn học hồi cấp một cấp hai cấp ba, bạn chiến đấu thời thanh niên trí thức của tôi, lại có cả bạn học hồi cấp một cấp hai cấp ba, bạn chiến đấu thời thanh niên trí thức và đồng nghiệp của các em trai em gái tôi nữa. Bọn họ hoặc các cô ấy cực kỳ hào hứng xác lập thứ quan hệ dân gian truyền thống này. Mẹ cũng rất vui lòng. Cho đến nay, mối quan hệ kiểu này đại khái vẫn đang được duy trì rất tốt. Hiện tại tôi vẫn chưa rõ lắm rốt cuộc “cậu em họ” đã trở thành “con trai nuôi” của mẹ bằng cách nào. Tôi nghĩ mẹ từ xưa đến nay vốn rất có lòng tự trọng, chắc sẽ không đến mức “Mao Toại tự tiến cử” đâu. Mà “cậu em họ” lại là một thanh niên nội tâm kín đáo có thừa, dù cho mỗi lần cậu ta đến, sự thân thiết với mẹ lại tăng lên gấp bội, thế nhưng vẫn khiến tôi khó mà tưởng tượng được cậu ta lại có thể chủ động nói ra mấy câu kiểu như “Thưa bác, sau này con coi bác là mẹ nuôi nhé”…

Tôi chỉ có thể lờ mờ thoáng thấy qua tấm gương soi là “cô em họ” về một thứ bối cảnh mập mờ nào đó của “cậu em họ” ẩn giấu ở giữa— một vùng quê nghèo rớt mồng tơi, một ngôi làng nghèo rớt mồng tơi, nằm sâu tít trong những dãy núi non hiểm trở. Cậu ta là sinh viên đại học duy nhất mà toàn thôn sinh ra được trong suốt gần một thế kỷ qua. Cũng là người duy nhất trong toàn thôn gần nửa thế kỷ nay có may mắn xuất hiện ở Bắc Kinh. “Cô em họ” đã kể với tôi như vậy.

Có một lần mẹ hỏi thăm tình hình quê nhà của cậu ta. Mẹ thích nói chuyện về quê hương của mình với người khác. Cứ hễ nhắc đến là nói huyên man không dứt. Thật ra mẹ chẳng qua chỉ đang hoài niệm về những chuyện quá khứ thời thơ ấu của mình mà thôi. Bởi vì kể từ khi làm mẹ đến nay mẹ chưa từng về quê lần nào nữa. Ở quê cũng chẳng còn bất kỳ người họ hàng nào thích hợp. Không còn nghi ngờ gì nữa, tôi cho rằng mẹ từ lâu đã trở thành một người phụ nữ bị quê nhà triệt để lãng quên rồi. Thế nhưng mẹ lại có vẻ tin chắc rằng, chắc chắn rồi, ở quê nhà từ trước đến nay vẫn lưu truyền đủ mọi câu chuyện vụn vặt nhưng vĩnh hằng về bà. Trong tưởng tượng của bà, bản thân bà ở quê nhà đã mang màu sắc của truyền thuyết rồi. Người ta ở quê sao có thể quên được cái hồi còn nhỏ dám trèo lên cây cao tít để móc trứng chim giống như một đứa con trai cơ chứ? Bà đánh chết cũng không tin. “Con không biết đâu. Con chẳng hiểu gì sất. Sinh ra ở một ngôi làng, và sinh ra ở một thành phố, hoàn toàn khác nhau đấy con ạ. Một ngôi làng, mới chính là nơi khắc ghi con người sâu sắc nhất. Con lúc sống là người của làng nào, thì sau khi chết đi vẫn là ma của làng ấy. Con có không muốn quay về đi chăng nữa, thì Diêm Vương gia cũng sẽ sai tống cổ con về lại đấy. Con mấy chục năm không về, người trong làng nhắc nhở con suốt mấy chục năm. Con cả đời không về, người trong làng nhắc nhở con suốt mấy đời người!” Mẹ thường nói với tôi như thế. Mẹ cũng thích nghe người khác kể chuyện quê hương của người khác. Mỗi khi nghe, là tập trung cao độ, vô cùng thành kính. Ở điểm này, tôi cảm thấy mẹ giống như mấy đứa trẻ thích nghe người khác kể chuyện quỷ thần vậy.

“Băng à, con đi học đại học ngần ấy năm rồi, chưa từng về quê thăm nhà lấy một lần sao?”

Mẹ bắt đầu hỏi “cậu em họ” như thế.

Cậu ta đáp là chưa.

“Lần đầu tiên rời xa quê nhà lâu đến thế, không thấy nhớ à?”

Cậu ta bảo có lúc cũng nhớ, nhưng phần lớn thời gian thì không.

“Thế thôn các con có bao nhiêu hộ gia đình thế?”

“Mười bốn hộ ạ.”

“Đấy là một ngôi làng nhỏ xíu rồi nhỉ! Làng càng nhỏ, thì càng khắc ghi con người ta vào lòng sâu sắc hơn, có phải thế không?”

Cậu ta bảo vâng.

“Nếu sinh ra ở một thành phố lớn, mấy triệu với cả hơn chục triệu người, ai cũng coi đó là quê hương, thì cũng chẳng đáng để con một mình cứ mãi nhớ nhung về nó nữa, đúng không nào?”

“Hai bác cháu mình, càng trò chuyện lại càng thấy hợp cạ với nhau ghê cơ!”

“Mẹ ơi. Mẹ trò chuyện chủ đề khác đi!”

Tôi cố gắng đánh trống lảng đổi chủ đề.

“Con tránh ra một bên đi!” Mẹ giận tôi rồi, “Con dẫu có viết được mấy cuốn tiểu thuyết, chứ đã làm quan to gì đâu cơ chứ, mà lại đâm ra chán chẳng thèm nghe người ta trò chuyện mấy chuyện vặt vãnh thường ngày hả? Không bằng lòng so với người sống, thì chúng ta so với người chết đi, Tào Tháo con so nổi không hả? Ngay cả Tào Tháo trong tuồng kịch, còn từng thốt lên câu ‘Cáo chết quay đầu về gò mả cũ, quê hương sao nỡ lãng quên’ cơ mà!”

Đương nhiên tôi cũng là kẻ có quan niệm về quê hương vô cùng sâu sắc. Thế nhưng tôi không muốn mẹ và “cậu em họ” trò chuyện về cái chủ đề mà cậu ta không muốn nhắc đến với người khác. Có một lần nhân tiện tôi hỏi cậu ta, thế nhưng cậu ta lại vặn vỏng hỏi ngược lại tôi: “Tôi có thể không trả lời được không?” Từ đó tôi biết được chuyện về quê hương chính là chủ đề kiêng kỵ của cậu ta.

Không ngờ ngày hôm đó cậu ta lại nói: “Cháu trò chuyện với bác thế này, lúc nào cũng thấy tâm đầu ý hợp cả.”

Mặc dù cậu ta đã được mẹ công nhận là “con trai nuôi”, thế nhưng vẫn gọi mẹ là “bác”. Ngược lại là Tác Dao, lập tức tước bỏ cách gọi “bác”, mà mở miệng ra là gọi mẹ bằng “mẹ nuôi” ngọt xớt.

“Bác ơi, bác bảo trong lòng con người ta, rốt cuộc là có thể cất giữ những chuyện đại sự dài lâu được không? Hay là có thể cất giữ những chuyện cỏn con dài lâu được thế ạ?”

Cậu ta hạ giọng hỏi mẹ. Lúc nói chuyện với mẹ, dường như trong mắt cậu ta chỉ có mỗi mình mẹ mà thôi. Cho dù có cả tôi và Tác Dao ngồi bồi tiếp bên cạnh đi nữa, thì cậu ta cũng chẳng thèm bận tâm đến chúng tôi.

Mẹ trầm ngâm suy nghĩ một lát, rồi bảo: “Đương nhiên là những chuyện cỏn con rồi! Lòng người từ xưa đến nay, vốn chỉ có thể cất giữ những chuyện cỏn con dài lâu được mà thôi. Chẳng ai nhớ nổi mỗi lần rửa mặt mình dùng hết bao nhiêu nước, thế nhưng chẳng ai quên được lúc khát khô cổ họng nhất, mình đã ngậm ngụm nước bọt trong hoàn cảnh nào đâu, con nói có phải không?”

“Con thấy cũng đúng ạ. Thôn chúng con ít người, quan hệ cư xử với nhau đều rất tốt. Thế nhưng điều khiến con nằm mơ cũng thấy, lại là một con cừu mẹ già…”

Mẹ ngẩn người ra một nhịp.

Tôi cũng ngẩn người ra một nhịp. Bực bội lườm mẹ một cái.

Thế nhưng cậu ta lại từ tốn kể lể. Cậu ta bảo trước cậu ta từng có người rời khỏi cái ngôi làng ấy rồi. Chỉ là chuyện từ trước thời kỳ Tân Trung Quốc mà thôi. Thế nhưng lại chẳng có lấy một người nào rời đi mà quay trở lại cái chốn đó, cái ngôi làng đó nữa. Có người vì cách mạng mà hy sinh, có người tiếp tục chiến đấu vì cách mạng không ngừng nghỉ. Người trong làng đã quen với việc bị những kẻ rời bỏ họ lãng quên rồi. Giống như họ đã quen với việc lãng quên những con người ấy vậy. Bọn họ đều bảo, chốn khỉ ho cò gáy thế này, quên thì cứ quên đi thôi. Đáng quên lắm chứ. Không quên, thì chúng ta cũng chẳng cảm nhận được đâu. Chi bằng bị quên đi cho rồi. Khỏi phải nhọc công chúng ta ghi nhớ. Cậu ta bảo, thế hệ ông của cậu ta lúc còn sống, vẫn thường hay nhắc đến những người rời đi năm ấy. Nhắc đến chuyện cả thôn cùng nhau gom góp cặn bánh cám đường đi cho ai nấy. Nhắc đến chuyện tiễn đưa ai nấy mãi tận ra ngoài đại sơn, vì sợ đi một mình trong núi sẽ bị mưu tài hại mệnh. Vì muốn có một bộ quần áo ít miếng vá hơn, chuyện giết người trong núi khi ấy xảy ra như cơm bữa. Con đi ngang qua một ngôi làng, có thể được nhiệt tình giữ lại ngủ qua đêm, thế nhưng ngày hôm sau lại bị chặn lại giữa đường rồi bị ra tay sát hại. Chỉ vì quá khao khát cái bộ quần áo ít miếng vá hơn trên người con mà thôi. Giữ con ở lại ngủ qua đêm là lòng nhiệt tình chân thành đấy. Nhưng vì cái bộ quần áo ít miếng vá hơn trên người con mà nửa đường chặn lại giết chết con, cũng là lòng nhiệt tình chân thành nốt. Sự tàn nhẫn lạnh lùng tràn đầy thành nhiệt tình chỉ vì một bộ quần áo ít miếng vá hơn của con. Cậu ta bảo lúc ông nội sắp qua đời, còn dặn dò cha cậu ta phải ghi nhớ tên cúng cơm của ai nấy cho thật kỹ. Nếu có một ngày quay về làng thăm nom, thì hãy bảo rằng lúc trút hơi thở cuối cùng ông nội vẫn còn nhắc nhở đến người đó. Cậu ta bảo, bây giờ những người thuộc thế hệ của ông nội cậu ta đã qua đời sạch sành sanh cả rồi. Còn những người thuộc thế hệ của cha cậu ta, thì chẳng mảy mai bàn luận với nhau về những con người rời đi năm ấy, hay kể lại cho bọn họ nghe, yêu cầu bọn họ cũng phải khắc ghi không được quên. Thế hệ cha chú cho rằng, những chuyện của năm ấy chẳng qua chỉ là lịch sử. Những con người rời khỏi làng năm ấy, cũng chẳng qua chỉ là lịch sử mà thôi. Dù chưa chết thì cũng vẫn là lịch sử. Hơn nữa chẳng qua chỉ là lịch sử của ngôi làng. Là thứ lịch sử chỉ có chút ít ký ức liên quan đến thế hệ đời trước mà thôi. Nếu cứ khăng khăng cho rằng nó có mối liên quan nào đó với bọn họ, cũng như với con cháu đời sau của bọn họ, thì chẳng qua cũng chỉ là một thứ mối quan hệên gượng ép chẳng có chút ý nghĩa nào mà thôi.

Lúc nói sắc mặt cậu ta nhàn nhạt, ngữ điệu cũng nhàn nhạt. Cúi gằm mặt, cứ như thể một ông cụ trạc tuổi mẹ đang kể lại lai lịch của một món đồ gia dụng cũ kỹ nào đó vậy. Còn người ta muốn đem nó bán đi hay tháo tung ra rồi bày biện tiếp ở đâu, thì hoàn toàn tùy ý người ta muốn ra sao thì ra.

Tôi sực nhớ lại những lời mà mẹ từng dạy bảo tôi: Một ngôi làng chính là nơi khắc ghi con người sâu sắc nhất. Cảm thấy nếu như đem lời này nói với “cậu em họ”, thì chẳng biết cậu ta sẽ có biểu cảm thế nào đây?

Hắn trầm mặc một lát, chuyển đổi chủ đề, tiếp tục nói: "Nhưng có một con cừu, một con cừu mẹ già, mà tôi vẫn luôn hoài niệm. Khi tôi sáu, bảy tuổi, cùng mấy đứa trẻ trong thôn đều mắc một thứ bệnh quái ác. Không ăn, không uống, sốt cao. Từ sáng đến tối hôn mê bất tỉnh. Trong thôn nghèo đến mức ngay cả một con lừa, một chiếc xe bò rách cũng không có. Người đến trạm y tế công xã gọi bác sĩ quay về nói rằng, rất nhiều thôn đang bùng phát căn bệnh trẻ em này, không lo xuể cho thôn chúng ta, có đến cũng phải bốn, năm ngày nữa. Các bà mẹ đều lo lắng đến phát khóc. Nhưng con cừu ấy lại cứu mạng mấy đứa chúng tôi. Con cừu đó do nhà lão thôn trưởng nuôi, đã già đến mức chạy không nổi rồi. Thế nhưng mỗi ngày vẫn vắt được một ít sữa. Lão thôn trưởng liền vắt sữa mỗi ngày, đổ vào trong bình, một ngày hai lần, đi đến từng nhà mang sữa cho mấy đứa trẻ bị bệnh chúng tôi. Trên bình có dùng dây thừng buộc mấy nấc, nhà đứa trẻ nào cũng không thiên vị, uống đến vạch thừng là không cho uống nữa. Một đứa trẻ một lần cũng chỉ có thể uống vài ngụm thôi. Một ngày hai lần, một lần mấy ngụm sữa cừu, vậy mà duy trì được cái mạng nhỏ của chúng tôi sống sót. Mấy ngày sau, bầu vú của con cừu đó đều bị lão thôn trưởng tuốt sưng lên. Đến tận sau đó, một giọt sữa cũng không vắt ra được nữa. Lão thôn trưởng bèn hạ quyết tâm, giết con cừu đi. Nấu canh thịt cừu, cũng đổ vào trong bình cung cấp cho chúng tôi uống. Kì diệu thay, bệnh của mấy đứa trẻ chúng tôi không cần bác sĩ công xã đến chữa, ngày một tốt hơn lên. Đó là con cừu duy nhất trong thôn. Cũng là con cừu duy nhất có thể coi là tài sản trong thôn. Con gái của lão thôn trưởng, vì mỗi ngày ăn cám nuốt rau, không có sữa. Ngoại tôn nữ của ông, vừa mới hơn một tuổi, cũng nhờ có sữa con cừu đó mà nuôi lớn. Cừu bị giết, cô bé đó cả ngày đói đến oa oa khóc. Đợi đến khi mấy đứa trẻ chúng tôi có thể rời khỏi nhà, chúng tôi liền hẹn nhau, đến nơi chôn xương cừu, xếp hàng quỳ xuống đất, tất cả đều dập đầu lạy cừu. Đều khóc. Giống như mấy tiểu huynh đệ tỷ muội cùng chung một sữa, khóc người mẹ đã khuất của chúng tôi. Thương thay con cừu mẹ già ấy, sữa vì chúng tôi mà bị vắt cạn, thịt nấu thành canh bị chúng tôi uống sạch. Ngay cả xương, cũng hầm hết lượt này đến lượt khác, cho đến khi hầm đến mức không nhìn thấy một chút mỡ nào nữa, hầm đến trắng phau nhừ tử, mới nỡ đem chôn. Không ai dạy chúng tôi đến dập đầu lạy con cừu đó, đến khóc vì nó. Hoàn toàn là ý nghĩ đồng lòng trong tâm trí mấy đứa trẻ chúng tôi. Chúng tôi còn ở nơi chôn xương cừu, dùng đá núi đắp cho con cừu một cái gò mả, xung quanh trồng mấy cây nhỏ. Sau khi đến Bắc Kinh, cảnh tượng tôi thấy không nổi nhất, chính là mọi người vây quanh người bán xiên thịt nướng, ăn xiên thịt nướng. Nhìn thấy một cảnh tượng như thế, ban đêm liền mơ một giấc mơ. Mơ thấy con cừu mẹ già năm xưa cứu mạng chúng tôi, bê bê kêu hướng về phía tôi..."

Một loại sự việc nào đó, hoặc một loại trải nghiệm nhân sinh nào đó, nghe hồi ức của các bậc cao niên là một sự tiếp nhận, mà nghe một thanh niên thong thả kể lại thì hoàn toàn là một sự tiếp nhận khác. Bởi vì nó khiến bạn cảm giác một hiện thực nào đó tuy không liên quan gì đến bạn, nhưng nó quả thực đứng sừng sững ở một nơi nào đó, như thể cũng đang kể lể với bạn điều gì đó. Khiến bạn chẳng tài nào dửng dưng cho được.

Tôi chấn động trước tâm hồn của một người thanh niên nhạy cảm, cần phải có loại năng lực và kỹ thuật duy trì sự cân bằng như thế nào, mới có thể dung gói trọn vẹn những chuyện cũ thời thơ ấu như vậy, hơn nữa lại mài giũa thành một thứ tình cảm dạt dào như thế chứ? Tôi đặc biệt chấn động trước cách kể thong thả của cậu ta. Kiểu ngữ khí nhạt nhòa ấy, trái lại khiến tâm hồn của chính tôi cảm thấy chịu đựng một sự va đập mãnh liệt.

"Đứa nhỏ này, đứa nhỏ này, thật không ngờ... Cô bé kia thì sao? Rốt cuộc là đã bị chết đói sao?..."

Mẹ thổn thức.

Cậu ta cười cười, nói: "Mấy đứa trẻ chúng tôi, sao có thể để con bé chết đói chứ? Tôi lớn nhất, tôi dẫn dắt bọn chúng, khắp nơi bắt ếch. Chỗ chúng tôi là vùng núi, không có sông, thế nên không có chỗ để đi câu cá. Chỉ có thể khắp nơi bắt ếch, nấu canh ếch. Canh ếch thay sữa, con bé mới không bị chết đói, sau này chúng tôi liền gọi con bé là em Ếch, bây giờ đã lớn thành một thiếu nữ rồi..."

Lúc này "biểu muội" tới. Nó thấy dáng vẻ của mẹ, kinh ngạc hỏi nhỏ tôi rốt cuộc là chuyện gì xảy ra. Tôi nói không có gì. Chẳng qua là cậu ta kể một số chuyện cảm động thôi. Chẳng qua là mẹ vốn sinh ra đã hay rơi lệ mà thôi.

"Cậu còn biết kể chuyện cảm động cơ à? Hôm nào kể cho tôi nghe với! Tôi muốn nghe. Tôi phải chứng minh xem bản thân mình rốt cuộc còn có thể bị cảm động nữa hay không..."

"biểu muội" lại trêu chọc cậu ta.

Mà cậu ta lạnh lùng đáp lại cô ta một câu tiếng Anh. Khuôn mặt cô ta bỗng chốc đỏ bừng.

Tôi dẫu không hiểu tiếng Anh, cũng biết những gì cậu ta nói chắc chắn là một câu nói tổn thương người. Liền lập tức giảng hòa, hỏi mẹ: "Mẹ, chẳng phải mẹ nói Tự Dao đến rồi, hôm nay còn gói sủi cảo cơ mà?"

"Đúng, đúng. Tự Dao à, hôm nay cháu trộn nhân nhé, bác gái nhào bột. Cháu chẳng phải nói ăn sủi cảo mấu chốt là ở việc ăn nhân sao? Hôm nay chúng ta đem việc mấu chốt giao cho cháu làm đấy!"

Mẹ vừa nói, vừa đứng dậy, dùng sự thân thiết mười phần, xoa dịu sự lúng túng của "biểu muội". Dắt một tay của "biểu muội", cùng nhau đi vào phòng bếp.

Tôi nhỏ giọng hỏi "biểu đệ": "Cậu dùng tiếng Anh mắng cô ấy phải không?"

Cậu ta nói: "Chẳng lẽ tôi lại đứng trước mặt hai người mà dùng tiếng quốc ngữ mắng cô ta chắc?"

"Cậu mắng cô ấy cái gì?"

"Tôi đương nhiên sẽ không mắng cô ta những lời quá khó nghe đâu."

Tôi bướng bỉnh hỏi: "Rốt cuộc cậu đã mắng cô ấy cái gì?"

Cậu ta ấp ú nói: "Đại khái có ý là cút đi cho mẹ mày... thôi."

Tôi nói: "Nghe đây. Cậu bắt buộc phải xin lỗi cô ấy! Tôi không muốn nhìn thấy lúc các cậu ăn sủi cảo, còn trừng mắt nhìn nhau, dáng vẻ ai cũng phớt lờ ai đâu. Bằng không sau này các cậu đều đừng tới nữa..."

Cậu ta trầm mặc chốc lát, ngoan ngoãn đứng dậy đi về phía phòng bếp.

Mẹ lúc sau gọi tôi, nói là cũng phải phân công cho tôi một việc làm. Sau đó ám chỉ tôi đi theo bà ra đến cửa.

"Con đi mua xì dầu với giấm!"

Mẹ cố tình nói lớn như vậy, nhét cho tôi mười tệ, thế nhưng lại chẳng đưa cho tôi một cái chai nào cả.

Tôi nói: "Đưa chai cho con chứ!"

Tôi sớm đã không nhớ rõ trong nhà cái chai nào là đựng xì dầu, cái chai nào là đựng giấm nữa rồi.

Mẹ lại nhỏ giọng nói: "Bảo con đi mua nhân thịt!"

Tôi kỳ lạ, hỏi: "Chẳng phải hôm qua mẹ đã..."

Mẹ một tay che miệng tôi lại: "Mẹ vốn định đổi khẩu vị, hôm qua mua là nhân thịt cừu..."

"biểu đệ" tuy đã xin lỗi "biểu muội", bữa sủi cảo đó ăn vẫn không mấy vui vẻ cho lắm. Ăn xong không lâu, "biểu đệ" liền cáo từ.

Cậu ta hỏi "biểu muội" có đi không?

"biểu muội" bực bội nói: "Cậu quản tôi à!"

Mẹ nói: "Cháu nếu có việc, thì cứ đi trước đi. Tự Dao đến ít lần hơn cháu, hai mẹ con ta vẫn còn mấy lời tâm tình muốn trò chuyện cơ mà?"

Cậu ta dường như lĩnh hội được điều gì, bèn rời đi.

Mẹ liền đuổi tôi sang căn phòng khác, bắt đầu khuyên "biểu muội" ngàn vạn lần đừng giận "biểu đệ". Bà nói bà ấy không giận. Bà nói cô ấy chịu sự tổn thương của cậu ta, cũng chẳng phải một lần hai lần gì nữa. Bà nói nếu đổi lại là người khác, sớm đã tuyệt giao với cậu ta rồi. Bà nói chẳng qua bà ấy không nỡ hạ cái quyết tâm đó mà thôi. Bà nói trong lòng cô ấy có chút tủi thân, là không có cách nào nói với người khác, đều tự mình lén lút khóc không biết mấy bận rồi...

Cậu ta càng nói cô ấy không giận, chẳng qua chỉ là có chút đau lòng, mẹ lại càng khuyên cô ấy. Mà một bà mẹ già đã hơn bảy tuổi, nói năng lúc trò chuyện rất dễ lộn xộn đầu đuôi không khớp, lải nhải không ngừng, khuyên một nữ sinh đại học đang lúc đau lòng, đôi khi hiển nhiên là chuyện quá sức. Mẹ càng khuyên cô ấy, cô ấy dường như lại càng đau lòng, cuối cùng thế mà lại ô ô khóc lên. Rành rành ra đó, mẹ cho rằng, sự bất hòa giữa cô ấy và "biểu đệ", bản thân có trách nhiệm không thể chối cãi. Mẹ mang vẻ mặt đầy áy náy đẩy tôi vào trong phòng, rồi đóng cửa phòng lại. Cứ như thể chuyện mà bà đã cảm thấy lực bất tòng tâm, do tôi tiếp quản là chuyện đương nhiên vậy.

Tôi ngồi đối diện "biểu muội", lặng lẽ đợi cô ấy khóc cho thỏa thuê.

Cuối cùng cô ấy cũng không khóc nữa. Khi cô ấy rút khăn tay lau vết nước mắt, tôi hỏi: "Khóc đủ chưa?"

Cô ấy ngượng ngùng cười cười.

Tôi lại nói: "Cậu xem, cậu còn chẳng cho tôi cơ hội thể hiện, đã giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ rồi."

Cô ấy nói: "Tôi lớn ngần này, từ trước tới nay chưa từng chuốc lấy việc ai dùng loại lời nói đó để mắng tôi cả. Tiếng Anh cũng không được! Cho dù là tôi tự chuốc lấy sự bẽ mặt đi, mẹ tôi lại đã làm gì cậu ta chứ? Tôi lúc đó chẳng qua chỉ là không có chuyện tìm chuyện nói, thuần túy muốn đùa giỡn với cậu ta mấy câu, dỗ dành cậu ta vui vẻ hơn một chút thôi! Cậu ta thường xuyên mang cái bộ dạng thời xã hội cũ rích đó, ở cùng cậu ta, tôi cảm giác thiếu điều sắp bị cậu ta làm cho ảnh hưởng thành già đi luôn rồi..."

Tôi nói: "Chẳng phải cậu ta đã hướng về cậu mà nhận sai rồi sao! Tính cách người này có chút quái dị, cậu nên là người hiểu rõ hơn tôi chứ..."

Tôi đang định đứng dậy đi sang chỗ mẹ phục mệnh, không ngờ cô ấy lại hỏi: "Thầy Lương, chẳng lẽ anh không muốn hiểu rõ cậu ấy hơn chút sao?"

Tôi nhìn cô ấy một cái, thấy cô ấy đang mang ánh mắt cầu xin nhìn tôi.

Ở nhà tôi, từ ngày đầu tiên cô ấy xuất hiện ở nhà tôi, đã nửa thật nửa giả, một cách trêu chọc mà gọi tôi là "biểu ca". Tôi đã quen rồi. Hơn nữa trong lòng cũng sai lại càng sai mà thừa nhận luôn. Bỗng nhiên cô ấy gọi tôi là "thầy Lương", đồng thời lại hỏi câu nói đó, khiến tôi cảm giác, "biểu đệ" có lẽ từ sớm đã khiến cô ấy phiền não rồi. Có lẽ từ sớm đã là một thứ gánh nặng nào đó của cô ấy rồi chứ? Bằng không sao cô ấy lại nhìn tôi như thế chứ? Tôi thầm dự đoán cho "biểu đệ" một thứ nguy cơ nào đó, chậm rãi ngồi xuống lại.

Cô ấy lại do dự. Không mở miệng nữa.

Tôi nói: "Cậu cứ kể đi. Tôi đương nhiên rất muốn hiểu rõ cậu ta thêm một chút. Mặc dù, tôi là thông qua cậu ta, mới quen biết cậu. Nhưng cũng là thông qua cậu, mới ít nhiều hiểu rõ về cậu ta hơn. Phải không?"

Cô ấy gật đầu xem như thừa nhận, lại suy nghĩ đắn đo mãi mới nói: "Tôi kể cho anh nghe. Anh ngàn vạn lần phải giả vờ như hoàn toàn không biết gì hết, càng không thể nói với cậu ta. Cậu ta đoán ra được sẽ hận tôi mất, thật đấy. Vậy thì tôi tội gì chứ?"

Tôi thề thốt nói: "Nhất định."

Cô ấy nói, cuộc sống gia đình cậu ta đến nay vẫn rất nghèo khó. Cuộc sống quê hương cậu ta đến nay cũng vẫn rất nghèo khó. Cô ấy nói, trong toàn trường, có một số sinh viên đến từ những nơi nghèo khó. Thế nhưng tuyệt đối sẽ không có sinh viên thứ hai nào, đến từ một nơi nghèo khó hơn quê hương của cậu ta nữa. Cô ấy nói loại hiện thực nghèo khó đó, là điều mà rất nhiều người ở thành phố khó mà tưởng tượng nổi, cho nên cũng hoàn toàn sẽ không dễ dàng tin tưởng. Cho nên cậu ta từ trước tới nay không bao giờ kể với người khác. Cô ấy nói ngay cả trong khuôn viên đại học, đối với những bạn học đến từ những nơi vô cùng nghèo khó, xung quanh thực ra cũng rất ít có sự giúp đỡ chân thành xuất phát từ đáy lòng. Cô ấy nói sự lạnh lùng về tình cảm giữa các bạn học với nhau, sự không quan tâm lẫn nhau, thường cũng đều biểu hiện một cách ép người quá đáng, khiến người ta lạnh gáy. Huống chi những bạn học đến từ những nơi cực kỳ nghèo khó đó, phần lớn tính cách đều có chút khác người, lòng tự trọng cũng vô cùng mong manh và nhạy cảm. Bọn họ lại đại đa số đều dùng phương thức độc lai độc vãng để tự vệ mềm mỏng. Cho dù có một số bạn học điều kiện sinh hoạt gia đình ưu việt, xuất phát từ đáy lòng muốn thỉnh thoảng chu cấp cho bọn họ về mặt tiền bạc vật chất, cũng không dám hành động thiếu suy nghĩ. Chỉ sợ bị hiểu lầm thành sự đồng tình rẻ múng, thậm chí bị hiểu lầm thành hành vi thí ơn kiểu quý tộc. Mà một khi không được thấu hiểu, thậm chí bị hiểu lầm, chắc chắn sẽ khơi mào sự phản kháng trong nội tâm của bọn họ. Nếu như chuyện thế này xảy ra giữa các nữ sinh với nhau, sự phản kháng thì cũng chỉ là phản kháng thôi, cũng chẳng có gì là to tát cả. Thế nhưng xảy ra giữa các nam sinh với nhau, đôi khi không chỉ đơn thuần là vấn đề phản kháng hay không phản kháng nữa. Huống chi đám đông sinh viên nói chung, tình hình kinh tế gia đình dù không hề nghèo khó, thì cũng chẳng bàn gì đến chuyện giàu có cho cam. Sinh viên lớn lên ở thành phố, đặc biệt là nam sinh, nhà ai mà mỗi năm không gửi cho tám chín trăm tệ? Chỉ dựa vào tiền trợ cấp, bọn họ ở trong trường đại học đơn giản sẽ trở nên giống như những kẻ ăn mày. Sáu bảy trăm là ít nhất, chính là mỗi năm hơn một nghìn tệ, bình thường bọn họ vẫn sẽ cảm thấy tiền rất eo hẹp. Lúc bọn họ mua sách, cần phải hạ quyết tâm rất lớn. Một số cuốn sách công cụ mười mấy tệ hai mươi mấy tệ một cuốn, muốn mua nữa, thường cũng chỉ có thể thở dài một tiếng rồi thôi. Ai mà có thể hào phóng đến mức lấy tiền mồ hôi nước mắt của bố mẹ để chu cấp cho người khác cơ chứ? Cô ấy nói cô ấy quen biết "biểu đệ", chính là bởi vì có một lần phát hiện cậu ta ăn trộm sách. Mà lúc đó cô ấy đã biết, cậu ta là biên ủy phụ trách mảng thơ ca của hội văn học nhà trường, có uy tín nhất định trong số các bạn học yêu thích thơ ca. Hơn nữa cô ấy đã là người sùng bái thầm lặng của cậu ta rồi. Đương nhiên, thứ mà cô ấy sùng bái chỉ đơn thuần là thơ của cậu ta, chứ không phải con người cậu ta.

"Kỳ thực cái đó cũng không tính là sùng bái. Chỉ chẳng qua cho rằng thơ cậu ta viết có một loại chân tình mà thôi. Cậu ta từng đăng một chùm thơ tình trên ấn phẩm của hội văn học, tổng tiêu đề là 《Không vì yêu mà sống》. Cái gì mà—— Thiếu nữ yêu tôi / Tôi không yêu nàng / Tôi không yêu nàng / Nàng đành chịu, tôi cũng đành chịu / Trong sự đành chịu của đành chịu / Tôi không vì yêu mà sống / Nhưng cũng cam lòng / Vì yêu mà chết... Ban đầu tôi thích thơ của cậu ta, thích đến phát cuồng. Tôi vừa bước chân vào cổng trường đại học, một lòng chuẩn bị yêu một người, hoặc được một người yêu. Trải nghiệm cảm giác yêu đến chết đi sống lại giống như Vi Vôi hát. Trước kỳ thi đại học, tôi thiếu điều biến thành một cỗ máy học tập căng thẳng. Đậu đại học, con người dường như cũng thả lỏng ra. Mặc dù trên thực tế hoàn toàn thả lỏng rồi, thế nhưng vẫn cảm thấy thả lỏng chưa đủ. Giống như một người mắc bạo bệnh, tổn thương nguyên khí, không tiêm một mũi thuốc trợ tim, hình như liền không thể hồi phục từ trạng thái hư thoát. Tôi không phải là một cô gái có thiên tư vô cùng thông minh. Tôi thế mà lại thi đậu đại học, đối với chính bản thân tôi mà nói cũng đã là một kỳ tích. Từ năm lớp ba tiểu học bắt đầu biết nhẫn nại khổ cực, tiếp sau đó rốt cuộc là chín năm đấy! Thi đậu trường trung học trọng điểm xong lại tiếp tục thi đậu cao trung trọng điểm. Chín năm trời bản thân lên dây cót đầy đủ, một khắc cũng không dám lơi lỏng, anh hãy ngẫm nghĩ kỹ mà xem, tuyệt đối không hề nhàn hạ thoải mái hơn người có công việc đâu! Những điều tôi kể này anh có thể hiểu không?..."

Cô ấy dường như kể có chút mệt rồi, thở dài một hơi thật dài.

Tôi nói: "Có thể hiểu."

"Tôi vừa rồi kể về cậu ta, kể đến đâu rồi nhỉ?"

Tôi nói: "Kể đến việc lúc trước cậu thích thơ của cậu ta nhường nào."

Cô ấy nói: "Bây giờ tôi hoàn toàn không thích thơ của cậu ta chút nào nữa. Cái đó cũng tính là thơ ư? Thế nhưng lúc trước tôi cho rằng tương lai cậu ta tuyệt đối có thể trở thành một nhà thơ lớn!" Cô ấy tự giễu cười khổ một tiếng, "Có một lần tôi thẳng thắn nói với cậu ta, tôi cảm thấy cậu ta căn bản không có chút tài tình viết thơ nào, cũng căn bản không có chút hy vọng trở thành nhà thơ nào cả. Hơn nữa còn thẳng thắn nói với cậu ta, người khác cũng bắt đầu nghĩ như vậy rồi."

Tôi thầm nghĩ, cô gái à, anh mà là em, tuyệt đối sẽ không làm như vậy. Sự thất vọng của em, là lỗi của em. Hoàn toàn không phải lỗi của cậu ta. Em đem lỗi lầm của mình chuyển sang người khác, điều này không công bằng đâu!

"Cậu ta giận chứ?"

"Cậu ta không giận. Cậu ta nói: 'Tại sao tôi cứ nhất định phải trở thành nhà thơ chứ?' Sau đó cậu ta không bao giờ viết thơ nữa. Hơn nữa kiên quyết không thèm làm biên ủy thơ ca của hội văn học nữa."

Tôi cảm thấy, đối với chuyện này, tôi không có sự cần thiết phải bày tỏ bất kỳ suy nghĩ nào.

"Sao tôi lại thế mà kể đến thơ của cậu ta rồi nhỉ? Tôi quên mất, là từ chỗ nào mà kể lệch đi vậy?"

"Từ chuyện cậu ta ăn trộm sách."

"Đúng. Từ chuyện cậu ta ăn trộm sách. Anh hoàn toàn không cảm thấy kinh ngạc sao?"

Tôi nói: "Không. Tôi không cảm thấy kinh ngạc." Lúc tôi học đại học, bởi vì trong túi eo hẹp, cũng từng nảy sinh ý định ăn trộm sách.

Cô ấy ngược lại trợn tròn mắt nhìn tôi một lúc lâu với vẻ rất kinh ngạc, tiếp tục nói: "Hôm đó bạn học cầm giúp tôi tiền từ nhà gửi tới. Vừa mới đưa cho tôi. Là một tờ một trăm tệ. Bởi vì mặc váy, trên dưới chẳng có cái túi nào, liền kẹp vào trong sổ tay. Sau đó lại trực tiếp đến thư viện đọc sách. Không biết làm thế nào mà, tiền lại bị kẹp vào trong sách. Đó là một cuốn 《Từ điển thưởng thức tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc》. Rất dày. Giá bìa đại khái phải hơn ba mươi tệ. Lúc tôi chuẩn bị rời khỏi thư viện, phát hiện tiền không cánh mà bay. Nghĩ lại, chắc chắn là kẹp vào cuốn sách đó rồi, liền lập tức đi tìm giữa các giá sách. Vừa khéo nhìn thấy một người, đang chui từ cửa sổ mở ra đi ra ngoài. Đồng thời phát hiện cuốn sách đó đã không còn ở trên giá sách nữa. Không nhảy cửa sổ, là không thể mang một cuốn sách dày như thế rời khỏi thư viện được. Tôi khẳng định người đó chắc chắn là một tên trộm sách. Vừa định hô lên, lại nghĩ, ngộ nhỡ là công nhân lắp kính thì sao? Ngộ nhỡ cuốn sách đó đang ở trong tay người khác và đang được xem thì sao? Thư viện ở tầng hai, tên trộm sách nào mà vì một cuốn sách lại dám mạo hiểm nhảy từ tầng hai xuống chứ? Gây ra một trận hú vía hụt hẫng, chẳng phải sẽ trở thành trò cười cho thiên hạ hay sao? Tôi cũng thò nửa người ra khỏi cửa sổ nhìn, thấy người đó đang từ ban công mạo hiểm trèo về phía cửa sổ của một phòng học ở tầng ba. Ánh mắt chúng tôi chạm vào nhau. Tôi đã nhận ra đó là ai. Khoảnh khắc ấy, không biết vì sao, tôi hạ quyết tâm không hô nữa. Mặc dù tôi đã biết tại sao cuốn sách đó lại không còn ở trên giá sách nữa. Phát hiện cậu ta ăn trộm sách, bản thân tôi ngược lại ra vẻ hoảng hốt. Lúc rời khỏi thư viện, người quản thư thấy sắc mặt tôi khác thường, liền sinh lòng nghi ngờ, cứ dùng ánh mắt chằm chằm nhìn tôi đến tận cửa. Nếu hôm đó tôi mang theo túi sách, nói không chừng sẽ bị kiểm tra. Tôi vừa bước ra khỏi thư viện, liền thình thịch thình thịch chạy lên tầng ba, một mạch chạy đến trước cửa phòng học tầng ba đó, muốn chặn cậu ta ở cửa. Thế nhưng trong phòng học vô cùng yên ắng, tắt đèn. Mấy phút sau vẫn không thấy cậu ta đi ra. Tôi đẩy cửa ra nhìn, thấy bóng dáng cậu ta đang đứng trên bệ cửa sổ, do thanh đẩy của cửa sổ bị gỉ sét, chỉ có thể mở ra đến mức độ một nửa, cậu ta không cách nào chui vào được. Tôi vội vàng chạy qua, từ bên trong đẩy một phiến cửa sổ khác ra, giúp cậu ta chui vào. May mà là ban đêm. Bằng không cậu ta sớm đã bị phát hiện rồi. Cậu ta nói: 'Cảm ơn bạn.' Tôi nói: 'Không cần cảm ơn. Ai ở trong tình huống nguy hiểm thế này cũng sẽ giúp bạn thôi. Bạn trả tiền lại cho tôi đi, đó là tiền sinh hoạt phí tháng này của tôi.' Cậu ta hỏi: 'Tiền gì? Tôi không hiểu lời bạn nói.' Tôi nói: 'Trong cuốn sách bạn mượn này, kẹp một trăm tệ của tôi.' Tôi nhấn mạnh rất rõ chữ 'mượn'. Cậu ta lật sách một cái, quả nhiên lật ra được tiền. Cậu ta lại nói: 'Xin lỗi. Tôi không biết. Thật đấy.' Tôi nói: 'Tôi tin. Đừng giải thích nữa, mau rời khỏi đây đi!' Tôi cầm lấy tiền, quay người liền đi. Mặc dù lúc chúng tôi nói chuyện khoảng cách rất gần. Thế nhưng tôi lại không nhìn rõ vẻ mặt lúc đó trên mặt cậu ta rốt cuộc là thế nào. Kỳ thực tôi vẫn luôn cúi đầu, cũng không dám nhìn thẳng vào cậu ta một cái. Cứ như thể người ăn trộm sách chính là bản thân tôi vậy. Trở về ký túc xá, tim tôi vẫn đập thình thịch. Tôi có chút thầm hối hận cách làm của bản thân. Cảm giác một cách vô hình, tôi cũng giống như đang tham gia vào hành vi trộm cắp của cậu ta vậy. Thế nhưng tôi vẫn hạ quyết tâm, miễn là không bị điều tra đến đầu mình, đối với bất kỳ ai cũng không nói chuyện này. Cứ như cũng là đang bảo mật cho chính mình vậy. Sau này tôi lại gặp cậu ta mấy lần. Cậu ta luôn luôn từ đằng xa đã đi vòng tránh đi. Tránh không thoát, thì gật đầu một cái, tăng nhanh bước chân vội vã lướt qua tôi. Bỗng nhiên có một hôm, tôi ngẫu hứng nổi lên, bỗng dưng nổi ý lạ, cũng viết một bài thơ, bỏ vào trong phong bì, điền tên cậu ta, gửi cho hội văn học. Kỳ thực hoàn toàn có thể trực tiếp đưa tới, thế nhưng tôi suy tới nghĩ lui, cuối cùng vẫn chọn phương thức gửi. Hơn nữa, ở phía dưới bài thơ, còn chú thích thêm một câu—— 'Bạn quen tôi. Bởi vì tôi đã giúp bạn.' Phân tích ra mà nói, trong tiềm thức của tôi, nhất định đã lóe lên một ý niệm đáng khinh, đó chính là chi bằng lợi dụng cậu ta một lần xem sao? Anh xem, tôi cái gì cũng kể cho anh nghe rồi, anh chắc không đến mức khinh bỉ tôi chứ?"

Tôi nói: "Không đâu. Tôi cảm thấy tất cả những điều này đều rất trẻ con."

"Trẻ con? Anh cho là vậy? Chẳng phải sao, chính là quá trẻ con mà thôi!"

"Mấy ngày sau, cậu ta mời tôi đến hội văn học. Trong tình huống chỉ có hai chúng tôi, cậu ta và tôi ngồi đối diện nhau, vô cùng nghiêm túc bàn về bài thơ của tôi. Cậu ta hỏi tôi: 'Bản thân bạn cảm thấy thơ của mình thế nào?' Tôi khiêm tốn nói: 'Viết không hay. Tôi vừa mới bắt đầu có hứng thú với thơ ca.' Cậu ta nói: 'Tôi đồng ý với quan điểm của bạn. Bây giờ xin hãy trả lời câu hỏi thứ hai của tôi—— Tại sao lại đem bài thơ mà bản thân thừa biết viết không hay gửi tới đây? Hơn nữa tại sao lại cứ nhắm vào tôi mà gửi, lại còn phải thêm vào một câu nói như thế chứ?' Tôi vạn lần không ngờ tới, cậu ta thế mà lại trực diện như vậy, mặt đối mặt mà hỏi tôi những câu như thế! Tôi trong phút chốc cứng họng, không biết phải trả lời thế nào cho phải. 'Để tôi trả lời thay bạn nhé,' cậu ta trừng mắt nhìn đôi mắt tôi, nói một cách nhỏ giọng, nhưng lại hầu như từng chữ từng chữ rõ ràng, 'Bạn muốn lợi dụng tôi, phải không?' Tôi cảm thấy máu toàn thân trong chớp mắt đều dồn lên mặt, đột ngột đứng phắt dậy, tức giận nói: 'Bạn vu khống tôi! Tôi mới không phải là loại người như bạn tưởng tượng.' Cậu ta nói: 'Bạn đừng kích động. Nếu như bạn quả thực không phải là loại người mà tôi tưởng tượng. Chuyện này sẽ dễ giải quyết hơn nhiều rồi. Tôi bây giờ chính thức trả lại bài thơ này cho bạn. Chúng tôi tuy làm là một ấn phẩm in rô-nê-o nhỏ thôi, thế nhưng cũng có tiêu chuẩn đấy.' Tôi giật phăng bài thơ của mình từ trong tay cậu ta, ba ngã bảy ba, xé nát tơi bời, ném xuống đất, quay người liền đi. Ở cửa, tôi hùng hổ uy hiếp nói với cậu ta: 'Anh hoàn toàn là có tật giật mình!' Cậu ta cười lạnh một tiếng, nói: 'Câu nói này có lẽ cũng thích hợp với cả cô đấy. Không sai, tôi từng làm kẻ trộm một lần, thế nhưng thời khắc này hoàn toàn không chột dạ.' Tôi chạy ra ngoài, vừa thẹn vừa hận, tức giận đến mức trốn vào một góc khuất khóc một trận. Tôi nghĩ tôi phải tìm lại thơ của mình. Mảnh giấy vụn nào cũng không được để lại ở đó. Ngộ nhỡ lại bị cậu ta thu nhặt lại, sau này có cơ hội liền đem ra bêu rếu trước công chúng, vừa hạ thấp tôi, đồng thời lại vừa chứng minh tính nguyên tắc của cậu ta thì sao? Tôi đời nào cho cậu ta cơ hội đó! Cứ nghĩ như thế, tôi lại quay về. Cậu ta quả nhiên đã đang dán lại mấy tờ giấy bị tôi xé nát đó. Tôi cười lạnh nói: 'Tôi đã nghĩ đến thủ đoạn này của anh rồi! Cho nên tôi lại về lấy thơ của mình. Anh tốn công vô ích rồi chứ gì?' Cậu ta có chút hoang mang trợn tròn mắt nhìn tôi. Không đợi cậu ta nói gì, tôi giật lấy thơ của mình rồi đi..."

Mẹ đưa cho cô ấy một cốc trà bước vào, xoay người một cái, thế nhưng lại không rời đi ngay, rõ ràng cũng rất muốn ngồi xuống nghe thử.

Tôi nói: "Mẹ, trong xưởng chiếu phim đấy. Mẹ buồn chán rồi, thì đi xem phim đi!"

Mẹ ủ rũ nói: "Vậy được, mẹ đi xem phim đây. Tự Dao này, trong lòng có bao nhiêu uất ức, đều trò chuyện với biểu ca của cháu nhé. Dù sao nó cũng lớn hơn mấy tuổi, có lẽ có thể giúp cháu tham khảo một chút..."

Sau khi mẹ đi rồi, cô ấy uống một ngụm trà, thăm dò hỏi: "Biểu ca, tôi không đang làm lãng phí thời gian của anh chứ?"

Tôi nói: "Không có."

Tôi nghĩ, cô kể, tôi liền nghe. Cô không kể nữa, tôi cũng không hỏi nhiều. Mỗi con người vào thời điểm nào đó, đều sẽ nảy sinh mong muốn thổ lộ vô cùng mãnh liệt. Trên tàu hỏa, ở những nơi như nhà khách, rất nhiều người dưới sự chi phối của mong muốn thổ lộ, đã không chút giữ gìn mà trò chuyện tâm sự cả đời mình với một người vừa mới quen biết, hơn nữa còn sợ đối phương nghe thấy phiền. Thổ lộ vào một số thời điểm không những là một mong muốn của con người, mà còn là một thứ khoái cảm. Tôi cảm giác cô ấy đã ở vào biên độ tâm lý từ mong muốn biến chất thành khoái cảm rồi, tôi không thể không hầu chuyện cho phải phép. Huống chi đây là một nhiệm vụ mà mẹ giao cho tôi. Do tôi hoàn thành, rốt cuộc vẫn lý tưởng hơn so với do mẹ hoàn thành.

Cô ấy lại nghiêm túc nói: "Vậy, thực sự lãng phí thời gian quý báu của anh rồi, hoàn toàn là trách nhiệm của chính anh đấy nhé!"

Tôi nói: "Chẳng lẽ cậu nhìn ra tôi nghe đến mức thấy phiền rồi sao?"

Cô ấy cười.

Lúc này tâm trạng của cô ấy đã ổn định hơn rất nhiều rồi. Tôi thầm cho rằng lúc bắt đầu cô ấy không tránh khỏi nói quá lên. Ít nhất cho đến khoảnh khắc này tôi nghe thấy, vẫn chưa cảm thấy cô ấy thực sự rơi vào cái gọi là xoáy nước tình cảm bất hạnh nào cả. Tất cả những gì cô ấy kể ra, trong tai tôi nghe, chẳng qua chỉ rất thú vị mà thôi. Chỉ thế mà thôi. Chỉ có thế thôi.

"Tôi vừa đi vừa xem lại mấy bài thơ đó của mình, bản thân cũng cảm thấy quả thực không hay. Cậu ta đã sửa giúp tôi hơn chục chỗ. Qua tay cậu ta sửa, dường như đã có chút ý vị rồi. Vần điệu chỉnh tề hơn rồi. Thế nhưng cũng chẳng khá hơn là bao. Hơn nữa, cậu ta dán giúp tôi vô cùng tỉ mỉ. Đại khái, cậu ta là muốn tìm cơ hội nào đó, lại đem trả lại tận mặt cho tôi một lần nữa. Tôi bỗng nhiên cảm thấy xấu hổ. Tự trách bản thân đã nghĩ người ta quá xấu xa. Chuyện này, cũng không hề làm lung lay quyết tâm ban đầu của tôi. Tôi tự nhủ với bản thân, Tự Dao à, Tự Dao, cậu đã che giấu bí mật cho hành vi không mấy quang minh chính đại của cậu ta lâu như thế rồi, cậu hãy cứ bảo mật đến cùng đi! Bằng không, cậu sẽ trở thành một kẻ ti tiện mất! Sau này, chúng tôi lại đụng mặt nhau, tình huống lại ngược lại. Không phải cậu ta né tránh tôi, mà là tôi né tránh cậu ta rồi. Anh thấy chuyện này buồn cười không?"

Tôi lắc đầu.

"Anh có tin vào chuyện duyên phận không?"

"Tôi rất tin."

"Trước đây tôi không tin. Thế nhưng kể từ khi có cái mối... quan hệ này với cậu ta (cô ấy dường như cực kỳ không muốn dùng hai chữ 'mối quan hệ') tôi bắt đầu tin rồi. Thế nhưng tôi nghĩ mãi không thông, nam sinh đại học nhiều như vậy, người từng bày tỏ thiện cảm với tôi cũng không phải không có, tại sao cứ cố tình là tôi và cậu ta giữa chốn đông người, hoặc nói ngược lại, nữ sinh đại học nhiều như vậy, tại sao cứ cố tình là cậu ta và tôi... anh hiểu ý tôi chứ?"

"Hiểu."

"Cái gọi là duyên phận của mọi người, rốt cuộc là do ai quyết định? Chẳng lẽ thực sự có Thượng đế sao?"

Tôi từ sớm đã quen với những sinh viên năm nhất năm hai đại học, đặc biệt là những nữ sinh buông Nietzsche và Sartre xuống, xoay tay liền ôm lấy tiểu thuyết Quỳnh Dao, đưa ra những câu hỏi ngây thơ non nớt hơn, vô nghĩa hơn cả những câu hỏi loại này rồi.

Tôi không cần suy nghĩ mà nói: "Tin rằng có thì sẽ có, tin rằng không thì sẽ không. Tin rằng có, so với tin rằng không, phương pháp nhìn nhận vấn đề có lẽ sẽ đơn giản hơn một chút. Mỗi người đều có thể cho rằng bản thân chính là Thượng đế của mình. Thế nhưng lại chẳng có ai đến lúc lâm chung vẫn duy trì được sự tự tin như thế."

"Mặc kệ cái thá gì Thượng đế chứ! V vốn dĩ, qua mấy ngày, tôi đã quên béng cậu ta đi rồi. Tôi vẫn chưa từng nhắc tới người chị gái của tôi với anh bao giờ đúng không?"

"Chưa."

"Chị gái tôi đang học cao học ở một trường đại học khác. Chị ruột. Lớn hơn tôi năm tuổi. Dịp nghỉ hè, tôi cùng chị gái đến Hoàng Sơn chơi. Sinh viên các nơi trên toàn quốc, dường như trong việc ủng hộ sự nghiệp du lịch của quốc gia, nhiệt huyết đều cao ngất ngưởng không nhường ai. Nông dân gần Hoàng Sơn, liền có nghề nghiệp thứ hai. Anh từng đi Hoàng Sơn bao giờ chưa?"

"Đi rồi."

"Mấy lần?"

"Một lần."

"Lần đó của tôi là lần thứ hai rồi. Lần đầu tiên là đi cùng bạn học. Chị gái thì đã đi mấy lần rồi. Thế nhưng chị em chúng tôi từ trước tới nay chưa từng cùng nhau đi lần nào. Cho nên chị gái đã động viên tôi, cùng chị ấy đi thêm một lần nữa. Lúc anh đi, đã nhìn thấy nông dân cõng khách du lịch lên núi chưa?"

"Thấy rồi. Trên lưng đeo một chiếc ghế mây, mời khách du lịch ngồi lên ghế mây, cõng họ lên trên. Năm tệ một lần."

"Anh từng ngồi chưa?"

"Chưa."

"Từ sớm đã không còn là năm tệ nữa rồi. Lần tôi đi đó, đã là mười tệ rồi. Bây giờ có lẽ còn đắt hơn nữa. Chị gái nói, mấy lần trước chị ấy đi, là tự leo lên đỉnh núi. Lần này, nên 'ngồi' lên đỉnh núi mới đúng. 'Ngồi' lên đỉnh núi so với leo lên đỉnh núi, nhất định sẽ có cảm quan vô cùng khác biệt. Hai thứ hưng thú du ngoạn khác nhau đều đã được thỏa mãn, sau này sẽ không đến nữa. Kỳ nghỉ tới đến Nga Mi Sơn thưởng thức Phật quang thôi. Ở cùng tôi, chị gái từ trước đến nay vẫn tự coi mình là người đưa ra quyết định. Chị gái đã thuê hai phu cõng thuê, lúc chị ấy gọi tôi lại gần mình, hai phu cõng thuê đều đang ngồi xổm trên mặt đất, chờ đợi chúng tôi ngồi lên ghế mây. Chị gái ngồi lên trước, giục tôi cũng ngồi lên nhanh chút. Tôi nhìn thấy người phu cõng thuê còn lại kia dáng người gầy nhỏ, chần chừ không dám ngồi lên. Sợ cậu ta giữa đường sức lực không chống đỡ được, làm tôi ngã rơi xuống thung lũng núi. Mà phu cõng thuê đó lại cứng đầu ngồi xổm không đứng dậy. Cậu ta cúi đầu giống như một tên nô bộc. Cậu ta nói: 'Tiểu thư, xin hãy cứ yên tâm mạnh dạn ngồi lên đi! Mặc dù tôi gầy, thế nhưng có sức dai của người gầy. Mỗi một bước tôi đi đều cẩn trọng, tuyệt đối sẽ đảm bảo sự an toàn cho tiểu thư.' Giọng điệu nói chuyện của cậu ta, hoàn toàn là giọng điệu của người miền núi. Dưới sự giục giã của chị gái, cuối cùng tôi cũng ngồi lên. Hai phu cõng thuê một trước một sau, từ đầu đến cuối duy trì khoảng cách mấy bước chân. Chị gái ở đằng trước, tôi ở đằng sau. Chị gái chốc chốc lại quay người lại chụp ảnh cho tôi. Cứ mỗi lần chị gái chụp một bức, liền yêu cầu các phu cõng thuê dừng lại một lần. 'Tự Dao, cười một cái nào!' 'Tự Dao, nhìn ống kính!' 'Tự Dao, chỉ ra phía xa đi!' Tôi mỗi lần đều phải làm đủ mọi tư thế theo lời chị gái. Leo hơn một tiếng đồng hồ sau..."

Tôi sửa lại cô ấy là các phu cõng thuê leo hơn một tiếng đồng hồ sau.

Cô ấy nói: "Mặc kệ anh cho là thế nào. Tôi đã không chút giữ điều gì mà kể cho anh nghe rồi, thì cũng không thèm để ý anh nhìn nhận thế nào đâu. Tôi lấy đồ uống lon nhôm từ trong ba lô ra uống. Người phu cõng thuê cõng chị gái ấy, ngồi cách chúng tôi rất gần. Người phu cõng thuê cõng tôi, ngồi cách chúng tôi lại khá xa. Dường như không mấy nguyện ý ngồi cùng với chúng tôi cho lắm. Chị gái cười chỉ vào cậu ta nói: 'Tự Dao này, người của chị, thoạt nhìn đáng tin cậy hơn của em nhiều đấy nhé! Em phải đề phòng một chút đấy. Đừng có lúc chị mải ngắm cảnh núi non, để cậu ta cõng em về nhà luôn đấy!' Phu cõng thuê của chị ấy nghe xong liền hì hì cười. Chị gái lấy ra một lon đồ uống, đưa cho phu cõng thuê của mình, lại chỉ vào phu cõng thuê của tôi hỏi: 'Hai người cùng một thôn à?' Phu cõng thuê đó lắc đầu nói không phải. Nói không biết phu cõng thuê kia là người ở chỗ nào tới. Nói anh ta năm ngoái năm ngoái vào lúc này đều đã từng đến rồi. Lại còn nói, tiểu hỏa tử người rất đàng hoàng, với các phu cõng thuê ở Hoàng Sơn đều quen thân cả rồi. Bất kể lần nào tới Hoàng Sơn làm cái nghề này, đều kiếm được sáu bảy trăm. Nói nếu không phải vì nhân duyên của cậu ta tốt, các phu cõng thuê bản địa đời nào dung cho cậu ta tới cướp mối ăn, sớm đã đánh cho một trận tơi bời rồi đuổi cổ đi rồi! Tôi lại lấy ra một lon đồ uống, đi qua đưa cho cậu ta uống. Cậu ta lắc đầu, xoay người một cái, quay lưng về phía tôi, cố tình không nhìn tôi. Tôi nhìn thấy trên tấm lưng gầy trần trụi của cậu ta, bị ghế mây đè ra mấy vết rãnh tím đỏ sâu hoắm. Tôi nghĩ may mà tôi chỉ nặng hơn một trăm cân một chút. Cậu ta đây là ngựa gầy chở nặng đấy nhé! Tôi vòng ra đối diện cậu ta, lại đưa lon đồ uống đó cho cậu ta. Cậu ta cúi gằm đầu nói: 'Tiểu thư, cảm ơn. Tôi nếu khát, có nước mang theo tự uống rồi.' Lần này, lời nói của cậu ta, không dùng thổ ngữ của người miền núi nữa. Những gì tôi nghe được là lời nói của một người quen thuộc. Tôi vô cùng chấn động. Thế nhưng tôi thế nào cũng không dám tin. Tôi cầu xin rằng: 'Lão hương, ngẩng đầu lên đi!' Cậu ta nói: 'Tiểu thư, tôi không dám ngẩng đầu.' Tôi nói: 'Đừng gọi tôi là tiểu thư, tôi là sinh viên đại học.' Cậu ta nói: 'Đối với phu cõng thuê chúng tôi, nam từ xưa đến nay đều là tiên sinh, hoặc lão tiên sinh. Nữ từ xưa đến nay đều là tiểu thư, hoặc phu nhân. Sinh viên đại học cũng không ngoại lệ.' Tôi sốt ruột rồi, nói: 'Tại sao anh cứ mãi không dám ngẩng đầu nhìn tôi một cái chứ?' Cậu ta nói: 'Anh đương nhiên không đáng sợ. Tôi chẳng qua chỉ sợ cô quá kinh ngạc mà thôi.' Tôi lúc này đã hoàn toàn có thể khẳng định cậu ta là ai rồi..."

Tôi từ sớm cũng đã nghĩ đến rồi.

Thế nhưng tôi không biết nên nói với cô ấy thế nào cho phải. Cũng không biết nên dành sự đồng tình cho "biểu muội" này, hay là nên dành sự đồng tình cho "biểu đệ" đây.

Tôi tựa như từ trên trời nhìn xuống vực sâu, giữa tiết trời đại thử mà lạnh thấu xương. Cảm giác hiện thực nào đó giữa những trò đùa ác ý, đem con người đùa giỡn đúng là hết chỗ nói. Tựa như có một luồng hơi lạnh, lúc tôi và cô ấy đều không để ý, lặng lẽ lấp đầy căn phòng.

"Tôi gào lên: 'Tiêu Băng, anh ngẩng đầu lên!' Cậu ta cuối cùng cũng ngẩng đầu lên. Cậu ta thờ ơ nhìn tôi. Cứ như thể kinh ngạc không hiểu vì sao tôi lại biết tên họ của cậu ta vậy. Cậu ta đăm đăm nhìn tôi hỏi: 'Tiểu thư, có gì sai bảo?'... Lúc đó... tôi... tôi..."

Nước mắt lập tức từ trong mắt cô ấy tuôn trào như suối...

Cô ấy gục lên tay vịn ghế sofa, ô ô khóc...

Kiểu khóc đó là tiếng khóc ai oán của tâm hồn...

Tôi vẫn không biết nên nói gì với cô ấy cho phải.

Tôi nhìn cô ấy khóc, trong phút chốc bất chợt không lời nào để nói.

Mẹ đúng là đem "biểu muội" này và "biểu đệ" kia coi như những đứa trẻ thân thiết trong nhà. Có lẽ sự quan tâm giống như người mẹ này cũng là sự chứng minh giá trị bản thân mang tính bản năng của những người phụ nữ có tuổi chăng? Tâm trạng đau lòng của "biểu muội", thế mà lại quấy rầy đến mức bà không còn tâm trạng xem phim nữa, tiếng cửa động một tiếng, tôi biết bà đã về rồi. Tiếng khóc của "biểu muội", không những dẫn đến việc bước chân dồn dập của mẹ xuất hiện trước mặt tôi, mà còn làm nổi giận.

"Bảo con khuyên người ta, con căn bản không biết khuyên! Con chỉ biết nhìn người ta khóc thôi đấy à? Lúc mẹ đi, tâm trạng con bé đã tốt rồi cơ mà? Sao lúc này, trái lại khóc lóc trông như người nước mắt thế này rồi? Con ra ngoài đi! Tự Dao, Tự Dao, đừng khóc nữa! Mai mốt cậu ta mà đến nữa, bác gái thay cháu trách mắng nó..."

Mẹ giặt một chiếc khăn mặt ướt, lau mặt thay cho cô ấy.

Tôi nói: "Mẹ, hay là mẹ ra ngoài trước đi. Mẹ cũng có hiểu tình hình đâu, xía vào lung tung cái gì thế chứ!"

Tôi mặc kệ mẹ có tức giận hay không, "mời" mẹ ra ngoài.

Tôi ngồi xuống lại, nói: "Cậu kể tiếp đi."

Tự Dao nói: "Tôi đã tát cậu ta một bạt tai... Tôi cảm thấy, hình như không phải là tôi ngồi chễm chệ trên đầu cậu ta. Mà là cậu ta ngồi chễm chệ trên đầu tôi. Nói chung, tôi cảm thấy từ trước tới nay chưa từng bị lăng nhục một cách trầm trọng đến thế bao giờ! Chỉ hận không thể tung người nhảy một cái, nhảy xuống thung lũng tự đập đầu cho chết! Sao tôi lại có thể nghĩ tới chuyện đó sẽ là cậu ta chứ? Nếu tôi biết đó là cậu ta, tôi có thể tâm an lý đắc mà ngồi chễm chệ trên đầu cậu ta sao? Thế nhưng cậu ta rành rành biết rõ người mình đang cõng là ai. Vậy mà vẫn cứ cõng! Điều này không thể chỉ vì kiếm tiền của tôi. Tôi nghĩ, khi tôi ngồi chễm chệ trên đầu cậu ta, trong lòng cậu ta kỳ thực là khoái cảm. Chuyện thế này hoàn toàn có thể tránh được. Mà cậu ta cố tình khiến nó trở thành một thứ hiện thực. Dùng thứ hiện thực do chính cậu ta cố ý tạo ra này, đẩy tôi vào tình thế vô cùng xấu hổ, khiến cho bản thân tôi tự phán xét chính mình. Cậu ta đứng dậy, vẫn như thể không hề quen biết mà nhìn tôi, vẫn dùng một thứ ngữ điệu lạnh lùng như thế mà nói: 'Tiểu thư, nếu như tôi khiến cô không hài lòng, cô có thể không trả tiền cho tôi, thế nhưng cô không có quyền đánh tôi.' Tôi trừng trừng nhìn cậu ta, tức giận đến mức toàn thân run rẩy, nước mắt ào ạt trào ra, thế mà lại nói không nên lời. Phu cõng thuê của chị gái chạy tới, gầm lên với tôi: 'Mày dựa vào cái gì mà đánh người? Có lý thì giảng lý, đánh người là không được! Mày không xin lỗi, ông đây cũng tát cho mày một cái!' Bộ dáng trở nên vô cùng hung dữ. Chị gái cũng chạy tới, cũng gào lên với tôi: 'Tự Dao mày làm gì thế? Không dư không dựng, sao mày lại đánh người ta? Mày nói đi chứ!' Tôi nói với chị gái: 'Em hận chị!' Chị gái liền tát tôi một bạt tai. Lúc này du khách xung quanh, tụ tập lại xung quanh chúng tôi. Phu cõng thuê khác, lớn tiếng la hét với mọi người: 'Chúng tôi là những người làm công hưởng lương theo lao động, không phải nô bối! Kể từ khi Hoàng Sơn này mở cửa đến nay, vẫn chưa từng nhìn thấy kẻ nào dám tát vào mặt chúng tôi đấy nhé! Huống chi chúng tôi không làm sai bất cứ chuyện gì, không làm ngã cô ta, càng không có hành vi sàm sỡ cô ta!...' Trong phút chốc đạo lý đều đứng về phía người phu cõng thuê đó. Tôi không thể giải thích được. Cũng không thể giải thích rõ ràng với mọi người. Tôi có thể nói gì với mọi người đây? Chẳng lẽ có thể nói: 'Cậu ta là bạn học của tôi, cho nên cậu ta cõng tôi, tôi liền đáng bị tát cậu ta một cái' chắc?"

"'Còn đeo huy hiệu trường, là sinh viên đại học cơ đấy!'"

"'Trông thì có vẻ văn tĩnh thế cơ mà, sao lại thô lỗ thế không biết!'"

"'Không thể cứ dễ dàng buông tha cho cô ta thế được, ghi nhớ xem cô ta học trường đại học nào, nhất định phải phản ánh chuyện này với nhà trường của cô ta! Phải để cô ta nhớ kỹ nên tôn trọng người lao động!'"

"'Phạt tiền cô ta! Phạt thật nặng vào! Phạt sạch tất cả số tiền trên người cô ta đi!'"

“Mọi người đều bày tỏ sự phẫn nộ tột cùng đối với tôi. Tôi nghĩ, cảnh một sinh viên đại học ngồi trên đỉnh đầu của phu khuân vác, chắc chắn đã sớm khơi gợi sự chán ghét mãnh liệt trong đáy lòng một số du khách, chỉ là chưa có cơ hội bộc phát. Anh ấy cũng không ngờ sự tình lại thành ra thế này. Cũng giống như tôi, cảm thấy luống cuống không biết làm sao. Lại có người giơ máy ảnh về phía tôi chuẩn bị chụp. Chị liền dùng tay che kín mặt tôi. Chị rút ví tiền ra, nhét thẳng vào tay anh ta, rồi kéo tôi rảo bước đi thẳng. Mọi người vẫn không chịu bỏ qua, nhao nhao chê trách, chặn đường đi của chúng tôi. Cuối cùng anh ấy cũng lên tiếng, anh ấy nói: ‘Họ là chị và em gái tôi, đây là chuyện giữa chị em chúng tôi, các người đừng có hùa vào quấy rối!’ Nói xong, anh ấy vác chiếc ghế tre của mình lên, cứ thế đi thẳng xuống núi. Mọi người ngẩn người ra, ngơ ngác nhìn theo bóng lưng của anh ấy. Tôi và chị cũng nhân cơ hội chuồn lẹ...

Tôi và chị, ngày hôm sau đã quay về Bắc Kinh. Trên chuyến tàu hỏa, chị tỏ ra còn mang nhiều tâm sự hơn cả tôi, liên tục hỏi tôi về anh ấy. Chị lo lắng khi anh ấy trở về trường sẽ đem chuyện này đồn thổi giữa các bạn học, gây ra áp lực tinh thần cho tôi. Tôi bảo anh ấy chắc không đến mức đó. Chị hỏi tôi tại sao lại có sự tin tưởng anh ấy như vậy? Thế là tôi kể lại đầu đuôi quá trình tôi quen biết anh ấy cho chị nghe. Nghe xong chị mới thấy yên tâm hơn đôi chút. Chị dặn dò tôi: ‘Em quay lại trường nhất định phải nhanh chóng, chủ động tiếp xúc với anh ta một lần. Đại học không phải là chốn quân tử, không thể lơ là chủ quan được. Phải ba mặt một lời với anh ta, làm cho ra ngô ra khoai. Phải cảnh cáo anh ta rằng, thái độ của em là nước không phạm sông, sông không phạm nước. Người không phạm em, em không phạm người.’ Chị còn nói, nếu bản thân tôi không có dũng khí này, chị sẽ tự mình đến trường chúng tôi một lần, thay tôi và anh ta đàm phán một bận.

Tôi kiên quyết phản đối đề nghị của chị. Trở về trường rồi, tôi cũng không nghe lời chị, chủ động đi tìm anh ấy. Nhưng tôi luôn cảm thấy trong lòng bao trùm một bóng râm. Vài ngày trước khi khai giảng, một nữ sinh cùng phòng hớt hơ hớt hải từ bên ngoài bước vào ký túc xá liền lớn tiếng nói: ‘Tố Dao, cậu vẫn theo đuôi ngoài cửa chẳng màng thế sự, một lòng chỉ đọc sách thánh hiền đấy à! Trong khuôn viên trường đang náo nhiệt sắp lật tung lên rồi, cậu không biết sao?’

Tôi hỏi đã xảy ra chuyện gì?

Cậu ấy nói: ‘Các bạn sinh viên khoa Báo chí đã phóng to một bức ảnh, phóng to to ơi là to. To bằng cả mặt bàn ấy chứ! Trên ảnh là một nữ sinh trường mình, đang ngồi trên đỉnh đầu của một phu khuân vác Hoàng Sơn. Không, cậu đừng hiểu lầm, là ngồi trên chiếc ghế tre mà phu khuân vác gánh trên lưng. Cô ấy cười ở bên trên. Phu khuân vác cười ở bên dưới. Cả hai cười ngoác cả miệng lộ cả răng ra! Bên cạnh bức ảnh còn dán mấy trang giấy trắng lớn, chữ viết bằng bút bi, bút lông, bút màu, viết đủ thứ linh tinh lên trên đó. Các bạn khoa Báo chí nhiệt tình lắm, nghe nói còn định tổ chức triệu tập buổi tọa đàm tranh biện nữa cơ!’

Tôi suýt ngừng thở. Cuốn sách tôi đang đọc từ trên tay rơi xuống đất.

Tôi thấp tha thấp thỏm hỏi: ‘Có nhận ra nữ sinh trong ảnh là ai không?’

Cậu ấy bảo: ‘Phóng to thành bức ảnh lớn như thế, sao mà không nhận ra chứ?’

Toàn thân tôi căng cứng lên, gặng hỏi: ‘Là ai? Khoa nào?’

Cậu ấy đáp: ‘Vây đông người quá, tớ chen không vào nổi, nên không nhìn thấy.’

Tôi vùng đứng dậy lao thẳng ra khỏi ký túc xá. Tôi chạy một mạch đến bảng thông báo của khoa Báo chí, chen chúc bước lên nhìn, trái tim đang treo lơ lửng ở cổ họng lúc này mới xem như rơi về đúng chỗ. Nữ sinh trong bức ảnh tuyệt không phải là tôi, cũng không phải người khoa Ngữ văn chúng tôi.

Cơn căng thẳng vừa qua, tôi suýt đứng không vững. Ngày hôm đó tôi gọi điện thoại cho chị ở ngoài trường, cảnh cáo chị, tuyệt đối tuyệt đối không được gửi bức ảnh chị chụp tôi ở Hoàng Sơn tới trường học. Tôi bảo một khi tôi không nhận được, bị người khác bóc ra xem, là tôi tiêu đời.

Trước đây, trong trường học, sôi nổi nhất là sinh viên khoa Ngữ văn. Lần này, lại để sinh viên khoa Báo chí chiếm hết phong độ. Gần như sinh viên khoa nào cũng tham gia. Còn có không ít thầy cô, giáo sư cũng góp mặt. Cuộc tranh luận diễn ra vô cùng gay gắt.

Có bạn sinh viên cho rằng, sự việc này chính là sự bộc lộ trần trụi tâm lý chuẩn quý tộc của một số sinh viên đại học vốn tự cho mình là thiên chi kiêu tử. Thực chất nó là mẫu bản hiện đại của lối sống phong lưu và xấu xa thời Bát kỳ tử đệ. Về căn bản, nó hoàn toàn lạc lõng với chất lượng tinh thần mà một trí thức nên có. Những sinh viên giữ quan điểm này có lời lẽ vô cùng sắc bén, ai nấy đều căm ghét cái ác như kẻ thù.

Có bạn sinh viên lại cho rằng, một sự việc như thế hoàn toàn không đáng để tiến hành một cuộc tranh luận nghiêm túc nhường này. Thời đại đã đổi thay, đối với bất kỳ chuyện gì cũng nên có thái độ bao dung hơn. Du lịch chính là phương thức tìm kiếm niềm vui. Có người kiếm tiền từ đó, có người chi tiền vì điều đó, ai nấy đều được toại nguyện, chẳng có gì đáng phải kinh ngạc cả. Bản thân việc tranh luận những chuyện thế này chỉ là bé xé ra to, chuyện bé xé ra to, gây sự vô cớ, hiếu danh hiếu lợi, chứng minh những kẻ khởi xướng cuộc tranh luận chẳng qua chỉ vì không chịu nổi cảnh cô quạnh tẻ nhạt mà thôi.

Các thầy cô và giáo sư thì chỉ đứng nghe, không tham gia tranh luận.

Từ sự việc này lại khơi mào ra những cuộc tranh luận khác: Rốt cuộc sinh viên đại học có được coi là thiên chi kiêu tử hay không? Rốt cuộc thế nào là tâm lý quý tộc, rốt cuộc thế nào lại là tâm lý chuẩn quý tộc? Trí thức trong thời đại đương đại rốt cuộc nên có chất lượng tinh thần như thế nào? Sinh viên đại học đương đại rốt cuộc có xứng đáng được coi là trí thức hay không?

Có bạn sinh viên nói, nếu sinh viên các trường đại học danh tiếng như chúng ta mà còn không được coi là trí thức, vậy thì trí thức đương đại Trung Quốc của chúng ta chẳng phải còn ít hơn cả gấu trúc hay sao?

Có bạn sinh viên nói, đừng quên chúng ta vẫn chưa tốt nghiệp đâu, chẳng qua chỉ là mẫu số của trí thức mà thôi. Chỉ có thể hy vọng từ trong chúng ta sẽ sản sinh ra những trí thức tương lai. Xứng tầm là trí thức hay không, chủ yếu không phải do bằng cấp phân biệt, mà do có sở hữu phương thức tư duy của trí thức đương đại hay không để phân biệt. Mẫu số càng lớn, phân số càng nhỏ.

Có bạn sinh viên nói, đây là phương pháp phân loại tư tưởng điển hình. Cũng là bản sao của phương pháp phân loại chính trị đơn giản hóa. Phàm là những người có bằng đại học, đều nên được coi là trí thức. Chỉ là trí thức với trí thức lại có điểm khác biệt mà thôi. Có loại bảo thủ, có loại cấp tiến, có loại chuyên môn, có loại con đường làm quan. Giống như cùng là một loài hoa, chủng loại vô vàn. Dù là loại nào, cũng không nên tự cho mình là đúng, ta đây là trí thức nhất thiên hạ, mà đi kỳ thị các loại trí thức khác.

Có bạn sinh viên nói, trí thức đương đại Trung Quốc chỉ có một loại duy nhất. Đó chính là trí thức kiểu 'lông'. Ai cũng là 'lông', ai cũng không phải là 'da' của chính mình, muốn trở thành một chiếc 'da' thì hoàn toàn không thể trở thành chiếc 'da' được. Trước đây là bám vào chiếc 'da' công nông, bây giờ chiếc 'da' công nông ấy, địa vị xã hội đã bị hạ giá, trí thức lại quay sang bám vào chiếc 'da' nhà nước, kẻ nào bám chắc chắn thì đắc ý vênh váo, thỏa mãn vô cùng, tưởng tượng bản thân mình là một bộ phận quan trọng biết bao của đất nước. Kẻ nào bám không chắc chắn hoặc tự cảm thấy không bám lên nổi thì cảm thấy thất vọng, cảm thấy hoài tài không gặp thời.

‘Hái cúc dưới giậu đông, thảnh thơi nhìn Nam Sơn.’ Chứng minh người ở giậu đông, lòng hướng về Nam Sơn. Mắt lé. Liếc Nam Sơn, trên Nam Sơn lại có cái gì chứ? Chẳng phải là liếc về con đường làm quan đó sao? Đến Đào Uyên Minh, Lý Bạch, Đỗ Phủ, thậm chí Khuất Nguyên, đều là những kẻ 'lông' như thế cả, huống chi là đám học trò thi thư chúng ta cơ chứ?

Có bạn sinh viên nói, xưa nay trong ngoài nước, trí thức từ trước đến nay vẫn luôn là 'lông'. Chỉ có thể là 'lông'. Chỉ có thể là 'lông', lại tủi thân vì là 'lông', không cam lòng làm 'lông', lại ảo tưởng muốn làm 'da', đó chẳng phải cũng là một thứ tâm lý mờ ám hay sao?

Lại có sinh viên nói, tranh luận những thứ này làm gì chứ? Chúng ta chẳng qua chỉ là những thanh niên chờ việc được hoãn lại bốn năm. Lật giở bản ghi nhớ phân công công việc tốt nghiệp của trường chúng ta xem, trước năm 85, ngoại trừ những kẻ có bối cảnh xã hội, có đường dây quan hệ, có quan hệ ngoại giao không bàn tới, thì phân về những đơn vị nào? Tân Hoa Xã, Nhân Dân Nhật Báo, Quang Minh Nhật Báo, China Daily, đài phát thanh truyền hình các loại... Ở địa phương, có mấy ai mà không được phân về các cơ quan báo chí chủ chốt cấp tỉnh thành chứ? Còn bây giờ thì sao? Có thể phân về báo thiếu niên báo nhi đồng cũng đã khá lắm rồi. Muốn phân về nơi tốt hơn nữa, tôi hỏi các cậu vắt óc ra có đi nổi không?

Thời đại tri thức đại hạ giá này, cái gọi là trạng thái tinh thần và trạng thái tâm lý của trí thức, ngoại trừ tâm lý giống như những con chó bị vứt bỏ ra, thì còn có thể là tâm lý gì nữa?

Lời phát biểu của nam sinh này khiến hội trường tĩnh lặng mất mấy phút đồng hồ. Dường như ai nấy chợt nhận ra rằng, ngồi ở đây nghe một đám người mắc chứng nghiện diễn thuyết tranh luận, thực ra là một việc vô cùng vô nghĩa.

Đúng lúc người chủ trì cảm thấy hơi ngượng ngùng, thì lại có một người đứng lên phát biểu.

Tôi không nói thì cậu cũng biết. Chính là Tiêu Băng.

Cậu ấy nói: ‘Tôi muốn nhắc nhở mọi người chú ý đến một sự thật. Cuộc tranh luận mà chúng ta tổ chức hôm nay, bắt nguồn từ một bức ảnh được phóng to. Tôi không có hứng thú với tất cả các cuộc tranh luận về trí thức. Giống như kẻ đang bị vấn đề dân sinh giày vò, sẽ chẳng có hứng thú với vấn đề dân chủ. Bởi vì trong đầu cậu ta trước tiên sẽ không thể sinh ra thứ xa xỉ phẩm đòi hỏi cao ngất ngưởng như vậy.’

Lời nói của cậu ấy lập tức vấp phải tiếng la ó phản đối khắp phòng. Trong giới sinh viên phổ thông, 'dân chủ' là một từ ngữ rất đỗi thần thánh. Vẫn chưa có ai công khai tuyên bố bản thân không có hứng thú với vấn đề dân chủ cả. Rất nhiều sinh viên cảm thấy cậu ấy đang báng bổ tư tưởng sùng bái dân chủ của họ.

Thế nhưng cậu ấy vô cùng điềm tĩnh. Lúc người khác la ó phản đối mình, cậu ấy ngậm miệng không nói. Tiếng la ó vừa dứt, cậu ấy lại nói tiếp:

‘Tôi còn muốn nhắc nhở mọi người chú ý đến sự thật thứ hai. Đó chính là, trên bức ảnh được phóng to kia, nữ sinh của chúng ta đang cười, mà phu khuân vác cũng đang cười. Cả trên lẫn dưới đều cười, cười vô cùng hài hòa, vô cùng hoàn mỹ. Tôi thấy có thể chọn gửi tham gia cuộc thi nhiếp ảnh nào đó đi. Tốt nhất nên đặt tiêu đề thế này — Nụ cười Hoàng Sơn. Có lẽ, vị phu khuân vác kia, trong lòng thậm chí còn tràn ngập sự biết ơn đối với nữ sinh ấy chứ, bởi vì cô ấy đã giúp anh ta kiếm thêm được một khoản tiền...’

Lời cậu ấy còn chưa dứt, lập tức có rất nhiều người đứng dậy phản đối:

‘Xin hỏi, đem tiền cho phu khuân vác, mà không ngồi lên đỉnh đầu anh ta, chẳng phải sẽ càng phù hợp với cách làm của sinh viên đại học hơn sao?’

‘Cậu có căn cứ gì mà cho rằng vị phu khuân vác kia trong lòng mang ơn?’

Thậm chí có người còn mắng chửi cậu ấy: ‘Cút! Cút ra ngoài! Chắc cậu từng ngồi lên đỉnh đầu phu khuân vác rồi chứ gì? Loại người như cậu không có tư cách phát biểu ở đây!’

Nếu như cậu ấy dùng một thái độ bông đùa, thú vị, bất cần đời để nói những lời đó, có lẽ đã không đến nỗi rước lấy những lời mắng mỏ như vậy. Đằng này cậu ấy nói quá nghiêm túc, quá trang trọng. Nghe có vẻ mang ý nghĩa kết luận quá mức. Điều này khiến rất nhiều người cảm thấy, cậu ấy không chỉ phủ nhận lời nói của tất cả mọi người, mà còn công khai mỉa mai tất cả những ai đã lên tiếng.

Cậu ấy vẫn vô cùng điềm tĩnh. Thế là một số nữ sinh liền lên tiếng phản đối những nam sinh đang vây hãm công kích cậu ấy — ‘Để người ta nói tiếp đi!’ ‘Người ta còn chưa nói hết câu, sao lại ngắt lời người ta? Mỗi người nêu một ý kiến cơ mà, dựa vào cái gì mà bắt người ta cút?’

Sự điềm tĩnh ấy của cậu ấy rõ ràng rất được lòng các nữ sinh. Có lẽ còn chinh phục được trái tim họ.

Lúc đó tôi đã hiểu ra, một con người, cho dù ngoại hình của anh ta có tầm thường đi chăng nữa, cho dù vóc dáng có gầy gò thấp bé đến đâu, trong hoàn cảnh trở thành tiêu điểm chỉ trích của dư luận, mà vẫn có thể duy trì được một sự điềm tĩnh, thì dù anh ta không có mị lực cũng hóa thành có mị lực. Trông anh ta không tuấn tú cũng hóa thành tuấn tú. So với những tài tử ngày thường lúc nào cũng cố ra vẻ tiêu sái phóng khoáng, mở miệng là tuôn trào bất tận, nói năng hùng hồn, thế mà hễ nghe thấy một tiếng la ó là mặt đỏ tát tai, lập tức ngồi im thin thít không dám ho hé nửa lời, thì cậu ấy quả thực đã thể hiện ra điểm khác biệt bất thường.

Đối với đám tài tử giả hiệu đó, các nhà văn các anh nói thế nào?”

Tôi đáp: “Cán mác bình bạc dãi đầu gối.”

Cậu ấy bảo: “Lúc đó tôi cũng không kìm được mà nhìn cậu ấy bằng con mắt khác. Cậu ấy bình tĩnh thản nhiên tiến hành phản bác. Cậu ấy nói: ‘Đa số các người ngồi đây,’ vừa nói cậu ấy vừa giơ tay chỉ một cái: ‘Lúc các người tổ chức sinh nhật, có thể không chút do dự vung tay một cái là hơn chục tệ, mua một chiếc bánh sinh nhật. Thậm chí, còn có thể một lần tiêu sạch mấy chục tệ để đi ăn nhà hàng. Thế nhưng đối với những cậu bé, cô gái, cụ già và phụ nữ ăn mày xin tiền các người, các người đã từng thể hiện chút lòng hào phóng thí phát nào chưa? Các người mua một quả trứng trà, còn phải kì kèo trả giá với mụ già bán trứng trà một hồi. Lúc các người cùng nhau mua nước ngọt uống, chẳng lẽ chưa từng chơi trò che chở lẫn nhau, mưu đồ uống thêm một chai hay sao? Chẳng lẽ, tôi có thể tin tưởng các người, mà đem mười mấy tệ cho không một phu khuân vác, lại chịu từ bỏ cơ hội có thể ngồi lên đỉnh đầu một phu khuân vác hay sao?

Những gì các người nói ở đây chỉ là một kiểu lời nói, thể hiện một kiểu quan điểm. Nếu thực sự đến Hoàng Sơn, những điều các người nói chưa chắc đã không phải là một kiểu lời nói khác, biểu hiện chưa chắc đã không phải là một kiểu quan điểm khác. Đa số các người, chưa chắc đã không muốn bỏ ra mười mấy tệ, ngồi lên đỉnh đầu người khác, nhàn nhã thảnh thơi leo lên Hoàng Sơn, thậm chí leo lên Ngư Bối? Các người sẽ chê phu khuân vác đòi tiền quá đắt, các người cũng sẽ mặc cả trả giá, giống như một số kẻ luôn hy vọng mua được món đồ rẻ nhất, kỳ kèo trả giá với người bán hàng rong ở chợ vậy. Trong lòng các người sẽ nghĩ, nếu chỉ tốn vài chiếc tệ, là có thể ngồi thoải mái trên chiếc ghế tre, mà có thể ngoạn lãm khắp Hoàng Sơn, thì đó sẽ là một chuyện tuyệt vời biết bao! Thậm chí có lẽ còn nghĩ, tốt nhất chiếc ghế tre có cả mui che nắng nữa! Đó chính là một số người trong các người. Những kẻ tiêu xài tiền do bố mẹ gửi cho hàng tháng giống như các thiếu gia tiểu thư các người, chẳng lẽ lại có thể sinh ra sự đồng cảm thực sự với người khác hay sao?

Các người có biết phu khuân vác nghĩ thế nào không? Các người hiểu họ được bao nhiêu? Cho dù các người có đem tiền cho không họ, phần lớn bọn họ cũng sẽ không nhận không đâu. Cả đám chắc chắn cũng sẽ mời các người ngồi lên đỉnh đầu họ. Bởi vì như thế, họ mới cảm thấy, đồng tiền đó là do chính mình kiếm được. Tiêu xài cũng thấy hiên ngang đường hoàng. Cho dù họ có nhận không đi chăng nữa. Trong lòng họ ngược lại sẽ thầm nghĩ: Mẹ kiếp, cái tên ranh con này chạy đến Hoàng Sơn để ban ơn thí phước đấy à. Chắc là trong lòng giấu giếm tội nghiệt gì đây mà! Mày muốn chuộc tội, thì mày phải hào phóng lên chút chứ, ít nhất cũng phải một trăm tệ, thế mới gọi là ban ơn thí phước chứ! Mấy chục tệ mà đòi chuộc tội á? Mày mơ đi cưng! ...’

Căn phòng học im phăng phắc. Kể từ khi tôi nhập học, chỉ có một lần tình huống có thể so sánh với bầu không khí tĩnh lặng đến đáng sợ đó. Ấy là có một nam sinh năm tư khoa Lịch sử, nghỉ hè ở quê đã phạm tội hiếp dâm dâm ô. Sau khi khai giảng người của cục công an đến trường để tuyên án lần hai, trùng hợp thay cũng diễn ra ngay tại phòng học lớn đó. Thần thái của mọi người lúc ấy, cứ như thể đang lắng nghe tuyên án vậy.

Những gì cậu ấy kể, thực sự đã từng xảy ra trong giới sinh viên đại học. Lúc ấy ngoại trừ tôi ra, tôi nghĩ rất nhiều người trong thâm tâm đều sẽ thừa nhận điểm đó. Thế nhưng, thừa nhận là một chuyện, có chịu nổi kiểu công khai đối mặt với đông đảo người nghe mang tính khiêu khích, cay độc, mỉa mai châm chọc mang tính đả kích của cậu ấy hay không, thì rõ ràng lại là một chuyện hoàn toàn khác.

Tôi nghĩ mọi người chắc chắn đều cảm thấy đã bị cậu ấy sỉ nhục. Khoảnh khắc đó, cậu ấy đứng trước mặt mọi người, thể hiện ra một vẻ khinh miệt phớt đời không chút che đậy. Đâu chỉ là khinh miệt, trong đó thậm chí còn bao hàm cả sự chán ghét không thèm che giấu. Cứ như thể ai nấy đều là kẻ đạo đức giả. Cứ như thể những gì mọi người nói trước đó, nếu không phải là hành động tự thể hiện bản thân, thì ít ra cũng là những lời sáo rỗng vô nghĩa thực tế.

Đến tận bây giờ tôi vẫn không thể phán đoán đầy đủ, lúc ấy trong tiềm thức của chính cậu ấy, liệu có tồn tại yếu tố tự thể hiện bản thân hay không.

Cuối cùng, có một nam sinh rõ ràng bị những lời nói của cậu ấy làm cho nổi giận đùng đùng, bỗng chốc đứng phắt dậy, giống như mỗi khi cậu ấy nói đến hai chữ 'các người' là lại chỉ tay về phía mọi người, nam sinh kia cũng chỉ tay về phía cậu ấy, lớn tiếng quát hỏi: ‘Cậu thì có tư cách gì đứng ở góc độ của phu khuân vác mà ba hoa chích choè nói năng hàm hồ? Cậu hiểu gì về những phu khuân vác đó chứ? Cậu tưởng mình là ai? Là Thượng đế thông thái biết tuốt hay sao?’

Cậu ấy trừng mắt nhìn chằm chằm người đó, cười lạnh lùng nói: ‘Tôi đương nhiên không phải là Thượng đế. Nhưng trong ba mùa hè, tôi đều làm phu khuân vác. Những sinh viên đại học, nghiên cứu sinh được tôi cõng lên cõng xuống ở Hoàng Sơn nhiều hơn trăm người. Tôi cảm ơn họ đã cho tôi cơ hội kiếm tiền của họ một cách công bằng hợp lý. Có cách sống của người là không ngừng tiêu tiền. Có cách sống của người là cần không ngừng kiếm tiền. Khi họ không tìm được phương thức chính đáng nào khác, thì đành phải dựa vào việc cho thuê thể lực của chính mình. Chúng ta đều là sinh viên đại học, mà tôi là một sinh viên đại học buộc phải đối mặt với hiện thực ấy. Thế nên tôi tôn trọng hiện thực đó.’

Cậu ấy cởi cúc áo, quay người về phía mọi người, cởi áo ngoài ra để mọi người nhìn thấy tấm lưng của mình. Đồng thời cậu ấy nói: ‘Vết hằn sâu này, giống như dấu ấn khắc lên người tôi. Phu khuân vác Hoàng Sơn hoan nghênh nhiều sinh viên đại học hơn nữa năm sau lại đến tham quan Hoàng Sơn, tôi sẽ đợi mọi người ở Hoàng Sơn.’

Nói xong, cậu ấy thong thả mặc lại áo ngoài, rời khỏi phòng học. Lúc rời đi, không thèm nhìn ai lấy một cái...”

Tố Dao im lặng.

Tôi cũng dùng sự im lặng để chân thành bầu bạn cùng cô ấy.

Cô ấy thấp giọng hỏi: “Cậu nghĩ thế nào?”

Tôi vặn hỏi lại: “Ý cậu là sao?”

Cô ấy đáp: “Cuộc tranh luận.”

Tôi nói: “Tất cả những sự việc mà con người đem ra tranh luận, bản thân chúng vốn dĩ đã chẳng có đáp án duy nhất đúng nào cả.”

“Vậy còn đối với anh ấy thì sao?”

“Xem ra đại học đối với anh ta và đối với cậu là không giống nhau.”

“Cậu cho rằng đối với anh ta là thế nào?”

“Có lẽ là một chốn luyện ngục khác.”

Cô ấy đăm đăm nhìn tôi đầy vẻ nghĩ ngợi.

“Chính anh ấy cũng nói như vậy.” Giọng cô ấy càng thêm trầm thấp, “Sau buổi tranh luận, tôi cứ nghĩ, sự cô độc của anh ta sẽ chấm dứt. Nhiều bạn học ban đầu không hiểu tính cách quái gở của anh ta, chắc chắn sẽ tăng thêm sự thấu hiểu đối với anh ta. Những bạn sinh viên có điều kiện kinh tế ưu việt, biết đâu sẽ nhờ đó mà được truyền cảm hứng, bắt đầu quan tâm đến một số ‘công dân hạng sáu’ giống như anh ta ở trong trường đại học rồi chứ? Ở trường đại học của chúng ta, công dân hạng nhất là con cháu Hoa kiều; công dân hạng hai là con cái của các đại công ty và đại doanh nhân; công dân hạng ba là con cái của các cán bộ cao cấp; công dân hạng tư là con cái của một số người làm nghề tự do trong giới trí thức, ví dụ như luật sư có giấy phép hành nghề cá nhân, bác sĩ, người làm nghệ thuật biểu diễn, con cái của những người sở hữu bằng sáng chế; công dân hạng năm là con cái dân thường; công dân hạng sáu, chính là con cái nhà nông đến từ những vùng đất heo hút và nghèo khó. Tôi cứ nghĩ, có lẽ sẽ có người thành lập một thứ ‘câu lạc bộ’ nào đó, bằng hình thức khiến người ta vui vẻ chấp nhận, để quan tâm một chút đến các ‘công dân hạng sáu’ chăng? Thế nhưng tôi đã nghĩ sai. Anh ta lại càng là một người cô độc hơn. Các nam sinh nói chung, càng xa lánh anh ta hơn. Vợ chồng nam sinh nào đó, ở rất nhiều hoàn cảnh, hễ nhìn thấy anh ta là lại hát bài ‘Quê hương tôi vốn chẳng đẹp đẽ gì / Ngôi nhà tranh thấp tè giếng nước cay đắng / Đàn ông vì nó mà cong lưng còng gối / Đàn bà vì nó mà khóa chặt chân mày / Hết năm này qua năm khác / Hết đời này qua đời khác /...’ Hơn nữa chỉ hát đoạn trên của bài hát này, chứ không hát đoạn dưới. Trường đại học nào mà chẳng có một đám Yuppie như thế. Bọn họ chơi trò quý tộc vô cùng nhiệt tình. Có nữ sinh mặc váy giá hơn ba trăm tệ một chiếc, cậu có tin không? Cậu đừng nhìn tôi với ánh mắt đó chứ. Mặc dù bố tôi từng làm thị trưởng, nhưng đã nghỉ hưu rồi cơ mà! Hơn nữa đó chẳng qua chỉ là một thành phố tầm trung mà thôi. Nếu không có một khu điều dưỡng mới được khai hoang, mười người Trung Quốc thì tám chín người vốn dĩ chẳng thể ngờ tới sự tồn tại của nó. Cậu vẫn nhìn tôi với ánh mắt đó kìa. Tôi không thể coi là học sinh quý tộc trong trường đại học được. Thật sự không phải. Chỉ thấp hơn công dân hạng ba, và cao hơn công dân hạng tư mà thôi. Tôi cho rằng tôi không giống với những học sinh đó. Tôi không bất cần đời, cũng không phải công tử bột. Tôi cảm thấy bản thân mình rất lương thiện, rất giàu lòng trắc ẩn, rất sẵn lòng chủ động dùng tâm hồn để thấu hiểu người khác. Tôi nghĩ, những kẻ vừa nhìn thấy anh ta là lại hát hò chọc tức anh ta, tâm lý cực kỳ tồi tệ. Chắc là bọn họ cho rằng, anh ta đã làm tổn hại đến hình tượng của họ trong trường đại học chăng? Thế nên họ muốn trả thù anh ta về mặt tâm lý ư? ...”

Tôi lại nghĩ, biểu muội thân mến ơi, điều này có gì mà kỳ lạ chứ. Khi sự nghèo đói đóng vai trò là một hiện thực, đưa ra tuyên ngôn bất kính với sự ưu việt, thì kết quả thu về chắc chắn không phải là sự quan tâm chăm sóc, mà chỉ có thể là sự đối địch. Sự đối địch này, thực chất là song phương. Cách làm của “biểu đối”, há chẳng phải cũng là một kiểu tấn công tinh thần nhắm vào những kẻ mà anh ta vẫn luôn đố kỵ đó sao? Sự thấu hiểu, lòng lương thiện, sự đồng cảm, sự bố thí nhằm thỏa mãn cảm giác ưu việt của bản thân hoặc sự cống hiến vì người khác, vốn dĩ không thể san lấp được khoảng cách tâm lý này. Khoảng cách càng lớn, hố sâu càng sâu. Phương pháp duy nhất có hiệu quả, chính là tiêu diệt sự nghèo đói. Giống như tiêu diệt hiện tượng xấu xa vậy. Khiến cho người nghèo không còn là người nghèo nữa. Hơn nữa tốt nhất không phải là theo phương thức cách mạng. Đối với một quốc gia một dân tộc, cái xấu thực ra không hề đáng sợ đến thế, giống như vết sẹo trên khuôn mặt. Ảnh hưởng đến diện mạo nhưng không nguy hại đến tính mạng. Mà nghèo đói lại là một loại cái xấu đáng sợ hơn rất nhiều. Nghèo đói chính là dấu vết ung thư của quốc gia. Nếu như loại cái xấu đáng sợ hơn này, kết hợp lại với rất nhiều mặt xấu khác của quốc gia, thì sẽ xảy ra những chuyện lớn “trời lở đất tung vô cùng hào sản”...

Thế nhưng tôi cho rằng không có sự cần thiết phải nói ra suy nghĩ của mình với cô ấy...

Cô ấy chậm rãi nói: “Vài ngày sau, nữ sinh trong bức ảnh được phóng to ấy đã tự sát. Cô ấy trở thành sinh viên đại học chưa được một năm. Cái chết của cô ấy, giống như dấu chấm hết cho cuộc tranh luận lần đó. Tôi cho rằng cái chết của cô ấy, có mối quan hệ trực tiếp với những sinh viên đã khởi xướng cuộc tranh luận đó. Cho rằng kẻ phóng to bức ảnh đó lên to đến thế, rồi dán nó ra, chính là thủ phạm tội đồ. Cho rằng hành vi kiểu đó, chính là một hành vi mưu sát. Mặc dù chính bản thân bọn họ có tự cho là thế hay không. Thế nhưng, lại chẳng có ai cảm thấy, bản thân nên gánh vác trách nhiệm không thể chối từ đối với việc này. Càng không có ai từng sám hối cả. Mọi người rất nhanh đã quên đi người tự sát, cũng quên luôn cả cuộc tranh luận lần đó, cứ như thể chưa từng có chuyện gì xảy ra vậy. Khuôn viên trường học lại khôi phục lại vẻ bình yên như trước. Mỗi khi chiều tà, từng cặp từng đôi, vẫn thì thầm to nhỏ, âu yếm tình tứ dưới bóng cây, bên bờ ao, đắm chìm trong sự lãng mạn và dịu ngọt. Tôi cũng cho rằng, anh ta đã tham gia vào vụ mưu sát. Tôi vừa căm hận vừa biết ơn anh ta. Cảm ơn vì trong buổi tranh luận đó, trong lúc tâm lý thực ra rất kích động, chung quy lại, anh ta đã không thốt ra tên của tôi. Nếu như, lúc đó anh ta chỉ tay vào tôi mà nói: ‘Cô ta đây, đã từng ngồi chễm chệ trên đỉnh đầu tôi! Hơn nữa còn chụp cả ảnh nữa!’ Tôi nghĩ, chắc chắn tôi cũng sẽ tự sát. Bởi vì khả năng chịu đựng của tôi vô cùng yếu ớt. Từ nhỏ lớn lên từng này, tôi vẫn chưa thực sự phải chịu đựng qua chuyện gì. Thế nhưng anh ta lại trở thành ‘Lakhmetov’ trong lòng một số nữ sinh. Bọn họ đều là nữ sinh năm nhất năm hai đại học. Bọn họ sau lưng gọi anh ta là ‘tiểu Lakhmetov’. Chỉ tiếc là vóc dáng anh ta có hơi gầy gò thấp bé một chút. Sau khi tôi đi hỏi han dò xét mới biết được, Lakhmetov là nhân vật trong kiệt tác 《Làm sao đây?》 của Chernyshevsky. Tôi liền tìm cuốn sách đó về đọc. Đọc đến hơn hai phần ba, cái tên Lakhmetov đó mới xuất hiện. Hàng đêm anh ta đều nằm ngủ trên bàn đinh, để rèn luyện trước ý chí có thể chịu đựng được những cực hình tra tấn một khi bị cảnh sát sa hoàng bắt giữ. Ngoại trừ tình tiết này ra, nhân vật Lakhmetov trong sách không hề để lại cho tôi ấn tượng sâu sắc nào khó phai mờ cả. Thế nhưng sự say mê và ngưỡng mộ, trong lòng các cô gái lại có thể lây lan cho nhau. Giống như những người bị cảm cúm hắt xì hơi lây cho nhau vậy. Một số nữ sinh bắt đầu viết thư tình cho anh ta. Điều này khiến cho một số nam sinh vốn dĩ tuấn tú hơn anh ta rất nhiều, tự cho mình là tài tử tức điên lên được. Sự đố kỵ kiểu này, chẳng khác nào sự đố kỵ của hoàng tử bạch mã dành cho gã ăn mày lang thang. Bọn họ đặt cho anh ta một biệt danh là ‘hoàng tử nhân mã trong trường học’. Ví anh ta giống như con quái vật đầu người mình ngựa trong thần thoại La Mã. Nói rằng anh ta chẳng qua chỉ muốn chui từ trong bụng ngựa ra, gia nhập vào hàng ngũ các vị thần, thực chất là ôm ấp dã tâm đường hoàng bước lên đỉnh Olympus. Nỗi đau đớn khi phải tách rời khỏi thân thể con ngựa của anh ta, thực chất là do dã tâm của chính anh ta gây ra. Bọn họ càng coi thường anh ta, phỉ báng anh ta bao nhiêu, thì các nữ sinh kia lại càng say đắm hướng về anh ta bấy nhiêu.

Đến một ngày nọ, tôi buộc phải thừa nhận với chính mình rằng, anh ta cũng đã chui vào trong tâm hồn tôi rồi. Điều này thật không sao nói rõ hay giải thích nổi. Tôi chỉ đành giải thích thế này, tôi đã bị sự say mê khó hiểu của đám con gái kia lây nhiễm rồi! Cậu nghĩ kỹ lại mà xem sẽ thấy không có gì là kỳ lạ cả. Trong trường có rất nhiều nam sinh tuấn tú. Có rất nhiều nam sinh có điều kiện kinh tế ưu việt. Có rất nhiều nam sinh tự cho mình là tài tử hoặc tự cho mình là Giả Bảo Ngọc. Có rất nhiều nam sinh giỏi lấy lòng nữ sinh bằng đủ mọi cách, nhưng người giống như anh ta, ngoại hình tầm thường, nhưng lại vô cùng kiêu ngạo lạnh lùng; đến từ một nơi cực kỳ nghèo đói cực kỳ nghèo đói, nhưng lại khinh miệt tất cả những kẻ may mắn có điều kiện kinh tế ưu việt, hơn nữa lại từng làm phu khuân vác ở Hoàng Sơn, thì chỉ có độc nhất một mình anh ta mà thôi! Mà anh ta đối xử với mọi nữ sinh đều bình đẳng như nhau, lạnh lùng bình đẳng như nhau, kiểu đứng từ xa ngắm nhìn chứ không thể đến gần. Nữ sinh đại học và các cô gái bình thường vốn dĩ chẳng có sự khác biệt lớn nào cả. Đàn ông càng lạnh lùng với họ, càng tỏ ra đối với họ dường như vĩnh viễn không thể gần gũi, thì bọn họ ngược lại thường sẽ nảy sinh hảo cảm với đối phương. Ngược lại càng muốn đến gần đối phương. Cậu cảm thấy kỳ lạ phải không? ...”

Tôi đáp: “Không, tớ chẳng thấy kỳ lạ chút nào cả. Đối với những cô gái chưa từng yêu đương, đây thực ra là một buổi diễn tập yêu đương. Về bản chất không phải là tình yêu. Mà là ý niệm chinh phục trong tiềm thức.”

“Cậu cũng học được cách phân tích tiềm thức con người rồi đấy! Tôi đã viết cho anh ta mấy bức thư tình. Nhưng lần nào cũng không dám dũng cảm trực tiếp hoặc gián tiếp đưa cho anh ta. Hễ nghĩ đến việc có từng ấy nữ sinh viết thư tình cho anh ta, tôi lại tự ti đến mức cùng cực. Cảm thấy bản thân sao có thể xứng đáng với anh ta cơ chứ! Cảm thấy so với anh ta, anh ta tựa như một tảng đá núi chịu được sự ăn mòn phong hóa của mưa gió, còn bản thân mình chẳng qua chỉ là một hạt cúm bằng thủy tinh mà thôi. Huống chi ở Hoàng Sơn tôi từng tát anh ta một cái tát. Tôi nghĩ, những ngày tháng đó, tôi đã mắc chứng tương tư vì anh ta rồi.

Nào ngờ, vào một buổi tối nọ, nữ sinh cùng phòng với tôi mang vẻ mặt vô cùng kỳ quái bảo tôi rằng có người tìm tôi ở ngoài cửa ký túc xá. Tôi bước ra xem, chính là anh ta.

Anh ta nói: ‘Tôi đến để trả lại ví tiền...’

Tôi nói: ‘Cầu xin anh, đừng bàn chuyện này ở cửa ký túc xá của tôi, chúng ta tìm chỗ nào đó nói chuyện đi!’

Tôi gần như hạ mình van xin. Tôi nghĩ biểu cảm lúc đó của tôi chắc chắn hoảng sợ cực độ. Anh ta rõ ràng hiểu tại sao tôi lại hoảng sợ như vậy khi nhìn thấy anh ta.

Anh ta nói: ‘Yên tâm đi, tôi không có ác ý gì đâu. Thôi được rồi, nghe theo cậu.’

Mặc dù anh ta đã nói vậy, tôi vẫn thấp thỏm không yên. Cảm thấy chỉ cần ở trong khuôn viên trường, bất kể là ở đâu, đều có thể bị người ta phát hiện, có lẽ sẽ bị người ta nghe trộm nội dung cuộc trò chuyện.

‘Làm việc khuất tất mới sợ ma gõ cửa.’ Mà lúc ấy trong lòng tôi quả thực có ‘ma’ mà! Chuyện ở Hoàng Sơn, đã trở thành con ‘ma’ ở trong lòng tôi. Kể từ sau khi nữ sinh kia tự sát, con ‘ma’ trong lòng tôi này thường xuyên đe dọa tôi trong những giấc mơ. Tôi vậy mà lại dẫn anh ta đi thẳng ra ngoài khuôn viên trường.

Anh ta lặng lẽ bước theo sau tôi suốt quãng đường, cũng không hề đưa ra kháng nghị nào với tôi.

Trong một khu rừng nhỏ bên ngoài khuôn viên trường, tôi dừng bước, quay lưng về phía anh ta và cất lời. Tôi nói: ‘Anh nói đi!’

Anh ta nói: ‘Tôi cũng có gì để nói đâu cơ chứ, tôi chỉ muốn trả lại ví tiền cho chị của cậu thôi. Bên trong có ba trăm hai mươi sáu tệ bảy hào ba xu. Chuyện ở Hoàng Sơn, tôi vô cùng xin lỗi cậu và chị của cậu. Cậu đếm tiền đi!’

Vừa nói anh ta vừa nhét ví tiền vào tay tôi. Tôi vẫn quay lưng về phía anh ta. Tôi vung tay hất ra, không nhận.

Anh ta nói: ‘Cậu không nhận không được, sao tôi có thể lấy số tiền này chứ?’

Mà tôi, đã đầm đìa nước mắt.

Cậu nghĩ mà xem, chúng ta thế này chẳng phải cũng bằng hẹn hò hay sao? Thế nhưng đây lại là buổi hẹn hò kiểu gì thế này!

Anh ta nói: ‘Cậu từ chối, tôi đành phải để nó trước mặt cậu vậy! Tôi không thể nào tống tiền trá hình được chứ!’

Anh ta thực sự vòng ra trước mặt tôi, đặt ví tiền xuống đất. Lúc đứng thẳng người dậy, mới phát hiện ra tôi đang khóc không thành tiếng.

‘Cậu...’ Anh ta kinh ngạc. Do dự một lát, lại nhặt ví tiền từ dưới đất lên. ‘Cậu đừng khóc. Sao cậu lại khóc thế! ...’

Đến lượt anh ta thấp thỏm không yên. ‘Thực ra, trong lòng tôi vẫn luôn rất biết ơn cậu đấy! Lần đó người tôi đụng phải nếu không phải là cậu, mà là người khác, tôi có lẽ đã sớm thân bại danh liệt, tiếng xấu muôn đời, xuất hiện ở đâu cũng bị coi là một tên trộm rồi! Còn về mấy bài thơ của cậu, đương nhiên cũng có thể đăng được chứ. Chỉ là con người tôi, lòng tự ái quá cao. Bởi vì trong thâm tâm tôi quá tự ti đấy mà! Ngoại trừ một chút lòng tự ái đáng thương, và so với tất cả mọi sinh viên khác, tôi chẳng có gì cả! Phải, ở Hoàng Sơn tôi nhận ra cậu ngay cái nhìn đầu tiên. Lúc đó trong lòng tôi thực sự rất ngưỡng mộ cậu và chị của cậu! Các cậu nghỉ hè có thể vô tư lượn lờ Hoàng Sơn, còn tôi lại đành phải làm phu khuân vác ở Hoàng Sơn. Tôi thừa nhận, lúc đó tôi đã nảy sinh ý niệm trả thù. Tôi cảm thấy, để một số kẻ ngồi trên đỉnh đầu tôi, trong lòng lâu ngày bị sự sám hối hành hạ, cũng là một phương thức trả thù đấy chứ! Tâm lý này của tôi, không chỉ đối với một mình cậu mới nảy sinh đâu. Lúc cõng tất cả các sinh viên đại học, tôi đều cực kỳ mãnh liệt nảy sinh tâm lý đó. Thế nhưng cậu đứng ở góc độ của tôi mà suy nghĩ xem, đây lại là một phương thức trả thù đáng thương biết bao chứ! Tôi... đôi khi tôi cũng ghét chính mình, vừa làm phu khuân vác, tâm lý lại vừa âm u thế này, thật quá đỗi tồi tệ! Tôi cũng muốn giống như các cậu, kỳ nghỉ vô tư vô lo đi chơi khắp nơi chứ bộ! Thế nhưng tôi phải kiếm tiền chứ! Tôi phải dùng số tiền do chính mình kiếm ra để cung cấp cho bản thân học xong đại học chứ! Tôi còn thường xuyên phải gửi chút ít tiền về nhà nữa chứ! Tôi... nhà tôi rất nghèo, nơi chúng tôi ở rất nghèo...’

Ban đầu tôi vẫn luôn giữ im lặng không nói một lời, lặng lẽ rơi nước mắt, lặng lẽ nếm trải nỗi uất ức vì cảm thấy bị tổn thương bởi anh ta. Thế nhưng nghe mãi nghe mãi, thành phần nước mắt của tôi đã thay đổi. Về sau nước mắt hoàn toàn là vì anh ta mà rơi.

Khoảnh khắc đó, tôi đã hiểu ra, anh ta hoàn toàn không giống như những nữ sinh khác vẫn tưởng, chẳng phải là Lakhmetov gì sất. Tôi lại thấy anh ta càng giống một Quasimodo trong trường đại học hơn! Chỉ có điều dung mạo của anh ta rốt cuộc không hề xấu xí, mà lại thanh tú.

Cuối cùng anh ta cũng im thin thít không nói năng gì nữa. Anh ta ngồi xổm xuống đất, bộ dạng vô cùng bi thương.

Tôi cảm thấy, trong mắt tôi, anh ta dường như biến thành một đứa trẻ nhỏ hơn tôi chục tuổi. Hơn nữa, từ trong ra ngoài, mình đầy thương tích. Khoảnh khắc đó trong lòng tôi thực sự vô cùng đồng cảm với anh ta! Vô cùng thương xót.

Tôi không khóc nữa. Tôi chẳng còn chút uất ức nào nữa. Tôi cảm thấy suy cho cùng, tôi chẳng qua chỉ ngỡ rằng mình bị tổn thương, còn anh ta mới chính là kẻ thực sự bị tổn thương mà chỉ đành trốn ở một góc nào đó lặng lẽ liếm láp vết thương của chính mình!

Tôi cũng ngồi xổm xuống, dỗ dành anh ta đừng khóc giống như dỗ một đứa trẻ vậy. Rút khăn tay của chính mình ra lau nước mắt cho anh ta.

Khoảnh khắc đó tôi cảm thấy bản thân mình giống như một cô gái lương thiện tựa thiên sứ. Mà loại cảm giác này khiến tôi thiếu điều muốn tan chảy chính mình luôn.

Tôi thì thầm dịu dàng tỉ tê nói với anh ta mãi nói mãi, những lời nói ra toàn là những lời ngốc nghếch, đều là kiểu lời nói mà một người mẹ trẻ dùng để dỗ dành đứa con từng bị chính mình đánh mắng vô cớ. Thật đấy. Cậu đừng có cười nhạo tôi. Cậu có cười nhạo tôi đi nữa, tôi cũng chẳng thèm bận tâm đâu. Bây giờ tôi đã tương đối hiểu rõ, thế nào mới là chuyện đáng xấu hổ, còn chuyện gì vốn dĩ không đáng chút xấu hổ nào rồi.

Những chuyện tiếp theo cậu có thể tưởng tượng ra được. Trong điều kiện trời tối tăm, trong hoàn cảnh của hai chúng tôi lúc đó, mọi chuyện, đều tự nhiên mà xảy ra.

Trước ngày hôm đó, tôi hoàn toàn không biết sự dịu dàng rốt cuộc là ra làm sao. Lúc tôi chưa nhận được giấy báo trúng tuyển đại học, bố mẹ quản thúc tôi rất nghiêm. Sách tôi đọc cực kỳ ít. Đã mấy năm không bước chân vào rạp chiếu phim. Bố mẹ hạn chế tôi xem tivi. Những chương trình cho phép tôi xem, là thời sự, 《Thế giới động vật》, 《Văn nghệ nước ngoài》 và dạ tiệc ngày lễ.

Tôi cũng không biết một cô gái ở độ tuổi như tôi, rốt cuộc có thể dịu dàng đến mức độ nào. Càng không biết bản thân mình phải làm thế nào mới học được sự dịu dàng.

Tôi vẫn luôn ngây thơ nghĩ rằng: Sự dịu dàng là bản năng của đàn ông. Khi các cô gái khao khát thể hiện sự dịu dàng, thì là do những người đàn ông khác đã dạy họ.

Cho đến tận ngày hôm đó tôi mới hiểu ra, hóa ra sự dịu dàng vốn dĩ là bản năng của phụ nữ, hơn nữa hoàn toàn không cần đàn ông dạy. Giống như uống nước chẳng cần phải dạy vậy.

Tôi vậy mà lại trở nên dịu dàng nhường ấy, khiến tôi lúc đó cảm thấy thật hạnh phúc. Thật đấy. Tôi cảm thấy thứ hạnh phúc ấy thứ tuyệt vời ấy tựa như vô biên vô tận, sản sinh từ trong tôi, giống như từng lớp vỏ kén, bao bọc lấy anh ta, cũng bao bọc lấy chính tôi. Không ngừng rỉ ra từ trong tâm huyết và thể xác của hai chúng tôi, lan tỏa khắp cả khu rừng nhỏ.

Mà khu rừng nhỏ ban đêm tĩnh lặng phăng phắc, dường như cũng trở nên dịu dàng vô biên. Bằng thứ sự dịu dàng đậm đà hơn, cũng bao quanh lấy chúng tôi.

Sự dịu dàng của anh ta, lại giống như đứa trẻ. Tôi cảm thấy anh ta khao khát một sự dịu dàng, một sự dịu dàng mà con gái dành cho anh ta, cứ như thể đã khao khát suốt một vạn năm rồi vậy.

Mà sự dịu dàng anh ta báo đáp lại tôi, chẳng qua chỉ là sự ngoan ngoãn vâng lời như một chú cừu non yếu ớt hơn mà thôi.

Tôi cảm thấy, anh ta giống như lột ra từ trong một chiếc vỏ bọc nào đó. Chiếc vỏ bọc đó, chính là vẻ bề ngoài lạnh lùng kiêu ngạo, đi lẻ loi một mình, cự tuyệt người ngàn dặm, uy nghiêm không cho phép đến gần không cho phép xâm phạm vốn có ngày thường của anh ta.

Còn người đang nép trong lồng ngực tôi, đầu tựa vào ngực tôi, mới chính là anh ta chân thật nhất.

Anh ta hôn tôi giống như một cậu bé đang hôn một đứa trẻ sơ sinh trong nôi vậy. Sự dịu dàng của anh ta thậm chí còn có cả sự thẹn thùng. Chắc chắn đó cũng là một lần thử nghiệm đầu đời trong cuộc đời anh ta.

Nép trong lồng ngực tôi, anh ta kể cho tôi nghe về tuổi thơ niên thiếu của mình, gia đình anh ta và ngôi làng đó của anh ta, nơi nghèo nàn lạc hậu heo hút bị núi lớn giam cầm ấy.

Anh ta lại nói một lần nữa ‘Nhà tôi rất nghèo đấy! Nơi chúng tôi ở rất nghèo đấy!...’

Trước ngày hôm đó, chẳng có ai nói với tôi những lời như vậy cả. Tôi cũng chưa từng nghĩ tới, nhà của có người lại rất nghèo.

Có nơi lại rất nghèo. Người thành phố chúng tôi, không dễ gì nghĩ đến những con người đó và những nơi chốn đó.

Nghe người khác kể về sự nghèo đói không liên quan gì đến anh ta với sự nghèo đói càng không liên quan gì đến cậu là một chuyện, nghe một người đang nép trong lồng ngực cậu kể về cái nghèo trói buộc anh ta như dây rốn lại là một chuyện khác.

Anh ta vừa nói, nước mắt tôi lại lã chã tuôn rơi. Tôi cảm thấy, anh ta nói như vậy, thực ra cũng chính là nói hết tất cả mọi chuyện.

Thứ nghèo đói mà trước đây tôi chưa từng nghĩ tới đó, mặc dù tôi vẫn không thể tưởng tượng quá cụ thể, nhưng dường như lại là chuyện sớm đã quen thuộc rồi.

Anh ta kể cho tôi nghe, năm anh ta mười hai tuổi, mẹ anh ta qua đời. Ngày chôn cất mẹ anh ta, già làng lớn tuổi mắng nhiếc bố anh ta một trận tơi bời ngay trước mặt cả làng. Bởi vì bố anh ta tiếc không nỡ dùng chiếc chăn cũ duy nhất trong nhà để cuộn thi thể mẹ anh ta lại.

Còn anh ta thì quỳ bên huyệt mộ, đợi đến lúc thi thể mẹ được hạ thổ, dập đầu lần cuối cùng cho mẹ. Bố anh ta rưng rưng nước mắt lẩm bẩm nói: ‘Chăn cuộn mẹ nó rồi, tao và con đắp gì đây? Tao và con đắp gì đây? ...’

Năm đó bố liền tìm cho anh ta một người mẹ kế. Mẹ kế lớn hơn bố sáu tuổi. Bởi vì là góa phụ, từ đó anh ta có thêm ba đứa em trai. Mà quyết định tái hôn với góa phụ đó của bố vô cùng đơn giản — ba đứa em trai lớn lên, sẽ là những lao động làm được việc. Thêm ba sức lao động, có lẽ hy vọng dựng nghiệp làm giàu sẽ có manh mối.

Ở nơi đó của họ, ý nghĩa của việc dựng nghiệp làm giàu, cũng vô cùng mộc mạc và thực tế.

Có thể ăn no bụng, có quần áo để thay giặt, lúc đi ngủ có chăn đắp, không gối gạch đất sét, mà gối gối gối đầu, đó chính là tiêu chuẩn của sự giàu có.

Thế nhưng niềm hy vọng xa vời ấy đã không thể thực hiện được.

Bởi vì sang năm sau bố của anh ta cũng qua đời.

Anh ta kể với tôi người trong làng không có ai chết bệnh ở bệnh viện cả, đều là chết bệnh ở nhà. Dù bệnh tật đau đớn đến đâu cũng chỉ đành chết bệnh ở nhà.

Mấy đời cha ông không có ai chết bệnh ở bệnh viện cả. Không biết có thể được điều trị nội trú là một loại phúc phận thế nào.

Không có nhà nào trả nổi tiền để đưa người bệnh đến bệnh viện thành phố hoặc huyện lỵ.

Trước kia chữa bệnh dựa vào thầy cúng sinh trưởng ở trong núi. Bây giờ chữa bệnh dựa vào thầy thuốc thảo mộc trong xã, kiêm luôn châm cứu.

Đó chính là sự khác biệt giữa trước kia và bây giờ.

Bố anh ta trước lúc lâm chung đã gọi anh ta đến bên giường, chỉ vào mẹ kế, thở hổn hển nói với anh ta: ‘Con phải hiếu kính với bà ấy. Con phải làm một người anh trai thật tốt cho mấy đứa em. Nếu không, chúng ta phụ lòng mẹ con họ quá...’

Năm đó anh ta đã học đến lớp sáu tiểu học rồi. Sau khi bố qua đời, anh ta không muốn đi học nữa.

Thầy giáo đến nhà. Nói với mẹ kế của anh ta rằng: ‘Tôi dạy học mười mấy năm rồi. Học sinh càng dạy càng ít đi. Đến bây giờ chỉ còn lại ba học sinh. Trong ba học sinh, chỉ có đứa trẻ này là học sinh lớp sáu. Tôi vẫn chưa dạy ra được học sinh nào thi đậu cấp hai cả. Đứa trẻ này nhất định sẽ thi đậu. Chị hãy thành toàn cho tâm nguyện mười mấy năm làm giáo viên của tôi, để đứa trẻ thi cấp hai đi! Ngày tháng sau này trong nhà sẽ khó khăn nhường nào tôi biết chứ. Tôi nhất định sẽ thay mặt đứa trẻ xin miễn phí. Tiền sách vở của đứa trẻ, tôi cũng lo trọn gói luôn.’

Mẹ kế nghe xong liền khóc, nói: ‘Mặc dù tôi và bố nó chỉ gá nghĩa vợ chồng với nhau một năm. Nhưng bố nó đối với tôi rất tốt. Không vì điều gì khác, nể tình người chồng đã khuất của ông ấy, tôi tuyệt đối không cắt đứt tiền đồ của đứa trẻ này. Là rồng hay là giun, để tự nó vươn lên thôi!’

Tiếp theo liền ra lệnh cho anh ta dập đầu với thầy giáo. Chính anh ta cũng khóc. Lập tức quỳ xuống dập đầu thật kêu với thầy giáo.

Dập đầu xong đứng dậy phát thệ: ‘Mẹ, thầy, sau này con mà không làm rồng nên người, con sống cũng không thèm gặp hai người nữa. Con tự kết liễu đời mình!’

Cậu ấy đỗ vào trường cấp hai của xã với thành tích đứng đầu toàn xã với tổng điểm cao nhất.

Ngôi làng cách trường học hơn ba chục dặm đường. Có thể ở nội trú. Nhưng cậu ấy không thể. Bởi vì mỗi tháng phải chi trả hai mươi tám tệ tiền ăn. Trong nhà hoàn toàn không nộp nổi.

Mỗi ngày, trong cặp sách mang theo một miếng lương khô, hoặc mấy củ khoai tây, một bắp ngô, một củ cải gì đó, đội sao trời đi học. Khoác ánh trăng trở về nhà.

Ba năm liền mặc gió mưa giông bão, không nghỉ một ngày học nào.

Ba năm sau, với thành tích đứng đầu tổng điểm cao nhất toàn xã, cậu ấy thi đỗ vào trường cấp ba huyện.

Trường cấp ba huyện chính là ngôi trường mẹ đẻ của thầy giáo tiểu học của cậu ấy. Hiệu trưởng từng là học trò của thầy giáo tiểu học của cậu ấy.

Ngày trước ngày khai giảng, chính thầy giáo tiểu học đã dẫn cậu ấy đi làm thủ tục nhập học. Hơn nữa còn dẫn cậu ấy đi gặp hiệu trưởng.

Thầy giáo nói với thầy của mình rằng: ‘Thầy ơi, em có lỗi với kỳ vọng của thầy dành cho em năm xưa, mười mấy năm nay, dưới tay em, chỉ đào tạo ra được mỗi một học sinh cấp hai này. Hôm nay em tận tay dẫn nó đến gặp thầy, nhưng thành tích của nó lại đứng đầu toàn xã đấy thầy ạ! Thầy ơi, đối đãi với một học sinh như nó thế này, tùy thầy tự cân nhắc mà xử lý nhé!’

Thầy giáo nói xong, nước mắt rưng rưng tuôn rơi. Cậu ấy lại muốn dập đầu với hiệu trưởng. Hiệu trưởng đỡ cậu ấy dậy, không cho cậu ấy quỳ xuống.

Hiệu trưởng vô cùng xúc động, hiệu trưởng nói: ‘Trường cấp ba huyện chúng ta, con cháu nhà nông nghèo khổ, chiếm hơn ba mươi phần trăm. Có thể thi đậu vào đây đều không dễ dàng gì cả! Nát, cũ, phòng học không ra dáng phòng học, ký túc xá không ra dáng ký túc xá, khuôn viên trường không ra dáng khuôn viên trường. Thế nhưng tỷ lệ lên lớp mỗi năm, đều trên chín mươi phần trăm. Là trường cấp ba có tỷ lệ lên lớp cao nhất toàn huyện. Ngay cả mấy vị lãnh đạo trong huyện, cũng đều đưa con cái đến đây để học cấp ba đấy. Chỗ chúng ta chính là cửa Vũ Môn đấy! Không bàn đến những đạo lý lớn lao đào tạo nhân tài tri thức vì chủ nghĩa xã hội nữa. Chỉ vì tấm lòng này của thầy giáo, tôi nhất định sẽ chăm sóc toàn diện cho em nó. Còn việc em nó có vượt qua được Vũ Môn này hay không, thì đành phải xem vận may của nó thôi!’

Thầy giáo của cậu ấy là một người từng xuất bản vài truyện ngắn, nhưng vẫn chưa được công nhận là nhà văn.

Lúc thầy giáo rời đi, đã tặng cho cậu ấy một cuốn sổ tay.

Lúc thầy giáo đi rồi, cậu ấy mới phát hiện ra trong sổ tay kẹp hai trăm tệ tiền. Cùng với một mẩu giấy nhỏ.

Trên mẩu giấy viết — Đây là một khoản nhuận bút anh mới nhận được không lâu. Em giữ lấy dùng khi có việc cần gấp nhé. Sau này em đi làm, trả lại anh cũng được. Nhớ kỹ, em chẳng qua chỉ là một sản phẩm bán thành phẩm do anh 'tạo ra' mà thôi. Em muốn trở thành một sản phẩm hoàn thiện, tiếp theo chỉ đành dựa vào chính em 'tạo ra' bản thân mình mà thôi! Thầy mãi mãi không cần em báo đáp, chỉ hy vọng em có thể chứng minh rằng, kỳ tích ở bất kỳ nơi nào, đều là điều có thể được 'tạo ra'...

Cậu ấy đuổi theo thầy giáo, nhưng đuổi không kịp.

Đối diện với con đường núi ngoằn ngoèo, quanh co uốn lượn với mười vạn ngọn núi, dẫn vào sâu trong núi không có điểm dừng mà thầy giáo đã dẫn cậu ấy đi qua, cậu ấy cúi đầu vái chào mấy cái...

Lúc cậu ấy học năm ba cấp ba, thầy giáo mất. Bị lũ quét bùng phát vùi lấp bởi dòng bùn đá mà chết.

Cậu ấy nghe tin ngay ngày hôm đó đã trở về làng, phủ phục trên mộ thầy khóc lóc thảm thiết, sống đi chết lại.

Cái chết của thầy giáo đả kích cậu ấy rất lớn. Thi đại học không thi tốt, chỉ thi được hạng tư toàn huyện.

Cậu ấy nói với tôi, đáng lẽ cậu ấy phải thi đỗ hạng nhất, cậu ấy có tự tin thi đỗ hạng nhất. Cậu ấy nói, biết tin mình không thi đỗ hạng nhất, cậu ấy lại khóc một trận nữa, cảm thấy có lỗi với thầy giáo.

Hai trăm tệ tiền thầy giáo cho, cậu ấy cất giữ suốt trọn vẹn ba năm. Không nỡ tiêu một xu nào. Mang theo đến trường.

Biết tin một người em trai bị bệnh, cậu ấy gửi toàn bộ cả gốc lẫn lãi về nhà...

Cậu ấy nói lúc rời khỏi làng, tất cả nam phụ lão ấu trong thôn đều tiễn đưa cậu ấy. Tiễn tận đến đầu sơn khẩu.

Cậu ấy nói điều đó thực ra không giống như tiễn đưa một người rời quê hương, mà giống như đưa tang một người sống vậy.

Cậu ấy nói những người bạn từng giống như cậu ấy, may mắn sống sót nhờ sữa dê và canh thịt dê, từng người một ôm mặt khóc nức nở với cậu ấy.

Cậu ấy nói từ trong tiếng khóc của bọn họ, cảm nhận được sự tuyệt vọng của bọn họ đối với chính bản thân họ, cũng như sự sợ hãi nào đó đối với cuộc sống của họ. Còn có sự đố kỵ đối với cậu ấy, được che đậy bởi tiếng khóc ôm mặt.

Cậu ấy nói khoảnh khắc đó cậu ấy cảm thấy bản thân mình chẳng khác nào một tội nhân. Dường như trong mắt toàn bộ dân làng, cậu ấy là một kẻ được định sẵn là sẽ quên đi nơi đó, quên đi người thân quê hương.

Cậu ấy nói thế nhưng trong ánh mắt của mọi người, lại đều mang theo một ý vị tha thứ rất đỗi chân thật.

Mấy người bạn ôm mặt khóc nức nở với cậu ấy cũng thế. Sự quyến luyến không nỡ rời xa dành cho cậu ấy, sự đố kỵ dành cho cậu ấy, sự tha thứ dành cho cậu ấy, đều chân thật như nhau.

Lúc đó trường tiểu học không còn nữa, bị lũ quét cuốn trôi mất tăm mất tích.

Cậu ấy nói người già nhất toàn thôn là u Mặc, hai tay nắm chặt lấy một bàn tay cậu ấy nói: ‘Con ơi, hãy cố gắng tranh thủ chút khí thế. Muốn vươn lên, thì phải vươn lên thành một đại quan lớn. Nghe lời bà đi, đừng đi con đường học vấn đó, con phải đi con đường làm quan ấy. Cả làng ngóng trông có một ngày con làm đến chức quan lớn, cả làng cũng có thể thơm lây hưởng chút ánh hào quang đấy! Con tuyệt đối không được phụ lòng mong mỏi của mọi người đâu đấy!’

Mẹ kế liền lệnh cho cậu ấy quỳ xuống thề trước toàn thể dân làng.

Cậu ấy quỳ xuống thề một lời thề rất nặng, mọi người lúc này mới lộ ra chút biểu cảm an lòng.

Chỉ có Oa muội là khác biệt với mọi người. Dường như trong lòng đầy ắp chỉ cảm thấy vui mừng thay cho cậu ấy. Không có chút thành phần đố kỵ nào cả.

Cô ấy tặng cho cậu ấy một khúc xương ống chân dê. Cậu ấy biết đó là của con dê núi mẹ già cỗi đó.

Cô ấy không nói với cậu ấy một lời nào, lập tức trốn ra sau đám đông, ánh mắt đăm đăm nhìn cậu ấy.

Điều này đã nhắc nhở cậu ấy. Cậu ấy lại quay người trở về làng, đứng sững trước mộ thầy giáo, nói: ‘Thầy ơi, em thi đỗ đại học rồi!’

Lại cúi đầu thật sâu vái mộ một cái.

Sau đó cậu ấy lại đến nơi chôn cất khúc xương của con dê núi mẹ già cỗi đó, dùng hai bàn tay, đắp thêm mấy vốc đất cho cái gò đất trông giống như ngôi mộ ấy...”

Cậu ấy nói năm nào cũng gửi tiền về nhà. Cậu ấy nói, dĩ nhiên ở Bắc Kinh cũng có thể tìm được việc làm thời vụ, nhưng sao có thể kiếm được nhiều tiền bằng việc làm phu vác trên núi Hoàng Sơn? Cậu ấy nói bản thân đã nắm được bí quyết trốn vé tàu trên tuyến đường sắt đó. Cả đi lẫn về hiếm khi nào mua vé toàn phần. Cậu ấy còn nói, bản thân vô cùng thương xót nữ sinh đại học đã tự sát ấy. Xinh đẹp biết bao. Bộ dáng hoạt bát biết bao. Chỉ vì một bức ảnh mà bị mưu sát! Đúng vậy. Lúc đó cậu ấy đã nói như thế - mưu sát! Cậu ấy nói những học sinh chụp lén và phóng to bức ảnh đó đều là hung thủ. Cậu ấy nói những người phát động và tổ chức cuộc tranh biện đó cũng là hung thủ. Cậu ấy nói bao gồm cả bản thân mình. Cậu ấy nói bản thân ban đầu, vốn muốn đứng từ góc độ của một phu vác, nói vài câu bào chữa cho nữ sinh đó. Cậu ấy nói ngày hôm đó rất có thể chính là bản thân cậu ấy đã gây ra tổn thương nghiêm trọng nhất cho nữ sinh ấy. Cậu ấy thừa nhận trong lòng luôn sợ bị tổn thương, thường xuyên cảm thấy bị tổn thương. Thế nhưng, cậu ấy lại nói, bản thân chưa từng nảy sinh ý định hãm hại ai. Khi nói những lời này, cậu ấy lại khóc. Mà tôi lại thấy cậu ấy sao mà lương thiện thế! Tôi ở bên cạnh khóc cùng cậu ấy. Hai chúng tôi lại sụt sùi khóc một trận. Tôi cảm thấy sau khi khóc xong, giống như vừa ngâm mình trong bồn nước lâu ngày, toàn thân mềm nhũn nhưng lại sảng khoái vô cùng. Dường như ngay cả linh hồn cũng trở nên trong sạch hơn, sáng suốt hơn..."

"Sau đó cậu ta còn lên Hoàng Sơn làm phu vác nữa không?"

"Đi thêm một lần nữa. Nhưng không thành công. Các phu vác trên Hoàng Sơn không còn tin tưởng cậu ta nữa. Không dung nạp cậu ta nữa. Đập hủy ghế gác của cậu ta, đánh cho một trận rồi đuổi xuống núi Hoàng Sơn. Lần đó khi quay về trường học, tâm trạng cậu ta rất chán nản. Tôi nhìn ra trong lòng cậu ta đang nén một bực dọc, nhưng lại không biết trút đi đâu..."

"Tại sao?"

"Cái gì mà tại sao?"

"Tại sao các phu vác trên Hoàng Sơn lại đối xử với cậu ta như vậy?"

"Họ hoài nghi cậu ta có dụng ý xấu. Hoài nghi cậu ta chẳng qua chỉ muốn kiếm ít tư liệu để viết văn học ký sự gì đó. Dĩ nhiên họ chẳng hiểu văn học ký sự hay văn học phi ký sự gì sất. Nhưng tóm lại là họ có sự cảnh giác rất cao đối với việc một sinh viên đại học hết lần này đến lần khác lên Hoàng Sơn làm phu vác—một chuyện mà họ khó lòng hiểu nổi. Họ khẳng định cậu ta nhất định định viết về họ. Hơn nữa còn khẳng định cậu ta nhất định định dùng câu chữ để hạ thấp họ. Cậu ta càng biện bạch, họ lại càng hoài nghi. Tôi khuyên cậu ta hãy xem nhẹ chuyện này một chút. Khuyên cũng chẳng ích gì. Cậu ta không chỉ chán nản mà còn vô cùng đau lòng. Cậu ta nói, vốn dĩ họ rất thân thiện và chu đáo với cậu ta. Có tâm sự gì cũng đều sẵn lòng kể cho cậu ta nghe. Nào ngờ lại là kết quả như vậy..."

Tôi lại cảm thấy không có gì để nói. Tôi chậm rãi đứng dậy...

Cô ấy hỏi nhỏ: "Anh chán rồi à?"

Tôi nói: "Đi lấy thuốc lá."

Tôi hút liên tục hai điếu thuốc, lúc này mới cầm nửa bao thuốc cùng bật lửa ngồi lại trước mặt cô ấy. Tôi nghĩ mình không phải là một người lắng nghe. Không hề có hứng thú với những câu chuyện tình yêu giữa các sinh viên đại học đương thời. Huống hồ, nghe đi nghe lại, tôi cũng không cho rằng giữa họ có thể tính là "tình yêu". Nếu thực sự không phải, việc gì tôi phải nghe tiếp? Mẹ già của tôi việc gì phải thế? Chẳng phải là rảnh rỗi sinh nông nổi sao?

Tôi nói: "Tố Dao, chuyện giữa hai người, phỏng chừng cô có kể thêm hai tiếng nữa cũng không hết. Bây giờ tôi hỏi cô, đứng từ phía cô, cô thừa nhận quan hệ giữa hai người là gì?"

Cô ấy có lẽ dã không thể ngờ tôi lại hỏi một cách trực diện như vậy.

Cô ấy cúi đầu im lặng không nói. Lâu lắc vẫn không mở miệng.

Bản thân cậu ấy nói với tôi, cô là bạn gái cậu ấy.

"Ừ. Cứ xem là vậy đi..."

"Thế nào gọi là cứ xem là vậy đi?"

Cô ấy lại im lặng không nói.

"Cô phải trả lời."

"Vậy... anh nói xem em có phải không?" — Cô ấy chậm rãi ngẩng đầu lên, ánh mắt dán chặt vào tôi. Cứ như thể tôi và cô ấy đang bàn luận về quan hệ giữa tôi và cô ấy vậy.

Tôi có chút nổi giận.

Tôi nói: "Đó tuyệt đối không nên là một trò chơi trong khuôn viên trường chứ nhỉ?"

Đầu cô ấy lúc này lại cúi gằm xuống.

"Giữa hai người, chưa từng nói về vấn đề này bao giờ sao?"

Cô ấy gật đầu.

"Cô chưa từng nghĩ tới điểm này sao?"

Cô ấy lại im lặng không nói.

"Từ trước tới nay, cô vẫn luôn cố ý tránh né không bàn tới đúng không?"

"..."

"Chẳng lẽ cậu ta cũng vậy?"

"Hay là, đợi sau này tôi có nhiều thời gian hơn, rồi cô tiếp tục kể cho tôi nghe nhé!"

Cô ấy lại gục đầu lên tay vịn sofa khóc nức nở.

Mẹ lại khẽ đẩy cửa nhìn cô ấy.

Tôi bực bội lớn tiếng nói: "Mẹ thật là!"

Có lẽ giọng điệu của tôi mang theo chút cáu kỉnh, mẹ lập tức đóng cửa lại.

Tôi bèn tiếp tục hút thuốc.

"Điều đó không thể nào... Điều đó hoàn toàn không thể nào..."

Cô ấy sụt sùi nói.

Tôi chỉ hút điếu thuốc của mình. Trong lòng lại cảm thấy một trận lạnh lẽo. Vì "em họ" mà cảm thấy. Con người thật là kỳ lạ. Tôi sớm đã đoán được kết cục cuối cùng sẽ thế nào từ những lời kể vụn vặt của cô ấy, thế nhưng lại cứ phải ép cô ấy tự miệng thốt ra, hơn nữa còn cắt đứt ngang xương đoạn kể lể vốn theo bản năng cứ kéo dài mãi kéo dài mãi của cô ấy. Tựa như những gì cô ấy né tránh, chính là những gì tôi muốn trực diện đối mặt. Tôi cảm thấy khi cô ấy nói "điều đó hoàn toàn không thể nào", chật vật đến mức toàn thân sắp co rút lại thành một cục. Thoáng chốc tôi cảm thấy cô gái Tố Dao này thật đáng thương. Mà bản thân tôi lại thật đáng ghét. Suy cho cùng, bất kể đối với "cô em họ" này, hay "cậu em họ" Tiêu Băng kia, tôi là ai? Rốt cuộc tôi chẳng qua là ai? Rốt cuộc tôi có quyền lực gì, mà lại dùng thái độ như thẩm vấn để nhúng tay vào chuyện của họ. Mặc dù động thái của tôi không hề bỉ ổi, thậm chí còn có thể coi là lương thiện. Nhưng cái kiểu nhúng tay thô bạo gần như thất lễ này, lẽ nào là điều cô ấy nên nhẫn nhịn sao? Mặc dù sự nhúng tay của tôi cũng chẳng hề tự nguyện.

Tôi khinh bỉ nhất bản thân đóng vai trò kiểu linh mục này, thế nhưng tôi lại vô hình trung đang đóng vai trò đó rồi.

Cô ấy bỗng ngẩng phắt đầu lên, trừng mắt nhìn tôi, gần như căm hận nói: "Nói cho anh biết như vậy, anh thế này chắc đã thỏa mãn rồi chứ?"

Tôi... cô lau mặt đi..."

Tôi né tránh ánh mắt của cô ấy, đưa chiếc khăn mặt ướt mà mẹ đã lấy cho cô ấy dùng trước đó về phía cô ấy.

Cô ấy không nhận. Cô ấy dùng chiếc khăn tay nhỏ của chính mình để lau. Chỉ lau xung quanh hai mắt.

"Tôi chịu đủ rồi!" Cô ấy lại bắt đầu nói, "Tôi thật sự chịu đủ rồi. Tôi là một cô gái từ trước đến nay chưa từng biết thế giới buồn sầu là gì, còn cậu ấy là bước vào đại học từ một nơi rất nghèo rất xa xôi. Tôi thừa nhận con đường cậu ấy đã đi qua, gian nan hơn rất nhiều so với những gì một cô gái như tôi có thể tưởng tượng nổi! Tôi thừa nhận một cô gái như tôi đôi khi chỉ vì một người đến từ sự gian nan, mà sùng bái đến phát cuồng! Nếu đó lại là một người cùng trang lứa, tôi sẽ không kìm được sự tò mò muốn tiếp cận cậu ấy. Tôi chẳng có điểm gì đáng để ai thương hại cả, cho nên khi tôi ban phát sự thương hại cho người khác, giống như đem những thứ bản thân có quá nhiều, giữ lại cũng chẳng để làm gì mang ra tặng đi vậy. Có người bằng lòng chấp nhận, là tôi đã vui rồi. Liền cảm thấy vui vẻ. Thậm chí cảm thấy hạnh phúc. Đây chẳng lẽ là tội lỗi sao? Năm ngoái tôi mới mười tám tuổi! Tôi biết, giữa tôi và cậu ấy, bên bị lên án, sẽ mãi mãi là tôi. Nhưng sự lương thiện cũng là hại người sao? Thói quen hại cậu ấy, chi bằng nói là hại tôi! Không một tiếng động, tôi liền trở thành bạn gái của cậu ấy! Bạn gái thì là bạn gái đi! Bạn gái chẳng phải là bạn gái sao?..."

"Là cậu ta khoa trương ra ngoài à?"

"Không, không phải cậu ấy. Cậu ấy không nói thế."

"Vậy là chính cô từng khoe khoang ra ngoài à?"

"Tôi? ... Bản thân tôi cũng chưa từng khoe khoang. Tôi quả thật từng cảm thấy đắc ý. Có mấy cô gái muốn tiếp cận cậu ấy, đều bị cậu ấy cự tuyệt cách xa ngàn dặm. Mà tôi đã thành công. Tôi thừa nhận vì thế mà tôi đắc ý. Khi một cô gái không có gì quá để mà đắc ý, thì đây chính là sự đắc ý lớn nhất. Tôi thừa nhận đây cũng là một loại hư vinh tâm lý. Điều tôi nên thừa nhận, tôi đều thừa nhận. Điều tôi nên tự kiểm điểm, tôi đều tự kiểm điểm. Nhưng tôi tuyệt đối không hề đem chút đắc ý này mặc lên người giống như một chiếc áo khoác thời thượng để đi khua chiêng gõ mõ khoe khoang. Tôi thậm chí còn có ý thức cất giấu nó vào sâu trong tâm hồn mình. Dĩ nhiên, nói là cất giấu thì cũng không hoàn toàn chính xác. Đôi khi tôi cũng hy vọng những cô gái khác ngưỡng mộ tôi vì có được sự đắc ý như thế. Ít nhất không hề sợ bị người khác biết tôi có được sự đắc ý như vậy. Thậm chí chịu một chút ghen tị cũng chẳng hề gì. Cái này cũng không thể tính là khoe khoang chứ nhỉ? Dù sao thì chuyện này nói không rõ ràng đâu. Dù sao thì anh cũng không thể nào hiểu được..."

Tôi nói: "Cô đã nói rõ rồi. Tôi đã hiểu."

"Anh hiểu?"

"Hiểu."

"Anh tự cho là anh đã hiểu. Vậy tôi liền tin là anh đã hiểu đi! Tóm lại, tôi càng hy vọng sự đắc ý đặc biệt này trong thâm tâm mình, có thể giống như con trai ngậm lấy một hạt cát, biến thành trân châu. Biến thành một thứ dịu dàng đặc biệt. Điều đó không những là thứ tôi cho rằng cậu ấy kỳ thực rất cần, kỳ thực rất khao khát có được, mà còn là thứ tâm hồn của chính tôi vô cùng cần thiết. Thậm chí có lẽ còn cần hơn cả cậu ấy. Ý tôi là thứ dịu dàng ấy. Một cô gái giống như tôi, nếu như chắc chắn trong tâm hồn mình tràn ngập sự dịu dàng, anh không biết đối với một cô gái như tôi mà nói lại là một cảm giác tuyệt vời đến nhường nào đâu. Đó là một cảm giác rất tự thỏa mãn. Thật đấy. Con gái sẽ kinh ngạc phát hiện ra, hình như bản thân bỗng nhiên trở nên đáng yêu hơn nhiều. Hình như có thể tự cho mình đáng yêu hơn bất kỳ ai khác. Thậm chí ngay cả bản thân cũng sẽ bắt đầu thích chính mình! Phải nói thế nào mới có thể nói rõ ràng hơn đây? Giống như người mẹ đang trong thời kỳ cho con bú, cô ấy cảm thấy sữa của mình căng tràn đến phát sợ. Cô ấy cảm thấy căng tức. Cô ấy khao khát được một đứa trẻ mút mát. Mà lúc này vừa vặn có một đứa trẻ đang trong thời kỳ cai sữa. Cô ấy liền ôm lấy nó vào lòng mà cho bú. Tôi nghĩ tình huống lúc đó của tôi có lẽ chính là như vậy. Tôi nghĩ lúc đó tôi có lẽ vẫn đang đóng vai Chức Nữ, Thất Tiên Nữ hoặc cô gái Trân Châu gì đó. Tôi nghĩ đã là do tôi hoàn toàn tự nguyện đóng cái vai khiến cho toàn bộ con người mình trở nên sống động lên ấy, thì tại sao tôi lại không làm chứ? Tại sao tôi lại không đóng cho thật tốt chứ? Tôi nói tôi đóng vai, anh đừng tưởng là tôi đang diễn kịch. Tôi không hề diễn kịch. Tôi không phải là một cô gái giỏi diễn kịch. Ý tôi là, không biết tại sao, tôi bỗng chốc liền nhập vai rồi. Tôi và một loại nhân vật kịch nào đó hòa làm một. Tôi không tài nào tách bản thân ra khỏi cái loại nhân vật như thế được. Hơn nữa, lúc đó tôi cũng chẳng thể nhận thức bản thân một cách thấu triệt đến thế..."

"Mà bây giờ cô cực kỳ muốn tách bản thân ra khỏi cái loại nhân vật như thế, phải không?"

Cô ấy nheo mắt nhìn tôi hồi lâu, giống như đang suy nghĩ lời nói của tôi có phù hợp với tình hình thực tế hiện tại của cô ấy hay không, nhưng lại không trực tiếp trả lời.

"Những gì tôi kể là chuyện lúc đó. Tôi còn chưa kể đến chuyện bây giờ cơ mà!" Cô ấy oán trách nói, dường như không phải không có sự kháng nghị đối với việc tôi cắt ngang lời cô ấy, "Lúc đó tôi thật sự xuất phát từ tận đáy lòng để quan tâm đến cậu ấy. Tôi không hề keo kiệt việc ban cho cậu ấy rất nhiều rất nhiều sự dịu dàng. Tôi nghĩ, nếu cậu ấy không phải là kẻ hoàn toàn không có lương tâm, thì bất cứ lúc nào cậu ấy cũng sẽ không phủ nhận điểm này..."

Tôi nói: "Là thế đấy. Ít nhất ở trước mặt tôi, cậu ấy đã nhiều lần khẳng định cô là một cô gái vô cùng vô cùng tốt, vô cùng vô cùng lương thiện. Cậu ấy nói nếu như không có sự xuất hiện của cô trong sinh mệnh cậu ấy, có lẽ cậu ấy đã tự sát rồi. Thật đấy."

Cô ấy lại nheo mắt nhìn tôi hồi lâu.

Tôi nói: "Tố Dao, cô phải tin tưởng. Tôi không hề có bất kỳ nghĩa vụ nào với cậu ấy cả. Tôi không có sự cần thiết phải lấy lòng cô thay cho cậu ấy."

Cô ấy rũ mắt xuống, lầm bầm nói: "Điểm này đương nhiên tôi tin chứ. Những lời cậu ấy nói với anh, cũng từng tận miệng nói với tôi khi ở trước mặt tôi. Cậu ấy nói bản thân quả thật từng nảy sinh ý định tự sát mấy lần liền. Cậu ấy nói đôi khi bản thân cảm thấy vô cùng bối rối. Nói khi ở quê nhà, bất kể cuộc sống khổ cực thế nào, không có chút niềm vui nào đi nữa, nhưng chưa từng nảy sinh ý định không muốn sống nữa. Cậu ấy nói ở cái thôn của cậu ấy, những năm sáu mươi đã có hơn chục người chết đói, sau đó hơn hai mươi năm liền có không ít người chết vì bệnh. Chết đủ mọi kiểu. Có người uống cồn trộm từ trạm y tế xã pha với nước giếng thành rượu rồi uống say mà chết. Có người vì bị đỉa cắn dẫn đến nhiễm trùng mà chết. Có người ăn củ từ bị nghẹn mà chết. Duy chỉ có không có ai tự sát cả. Cậu ấy nói mặc dù người ở nơi bọn họ, sinh mệnh đều chẳng đáng một đồng, nhưng lại đều rất sợ chết. Một khi biết bản thân sắp chết, hoặc hoài nghi bản thân sắp chết, ngay cả người đàn ông mạnh mẽ nhất bình thường cũng sẽ sợ đến mức khóc thét lên như một đứa trẻ. Cậu ấy nói cậu ấy không hiểu tại sao bản thân khi đến đại dương hội thành sinh viên đại học rồi, ngược lại thường xuyên không muốn sống tiếp nữa. Tôi biết, chính cậu ấy rất rõ tại sao. Có một lần, tôi bảo cậu ấy đi cùng tôi đến một khách sạn để thăm một vị thủ trưởng cũ của bố tôi, tôi đang gọi điện thoại ở đại sảnh, quay người lại thì không thấy cậu ấy đâu nữa. Cậu ấy chẳng thèm nói với tôi một tiếng, cứ thế bỏ mặc tôi mà đi mất. Tôi quay về trường học chẳng qua chỉ trách mắng cậu ấy vài câu, cậu ấy lại nổi giận đùng đùng với tôi, nói tôi không nên đưa cậu ấy đến nơi xa hoa như vậy. Cứ như thể tôi đang đưa cậu ấy đến cái chốn trà xanh lầu xanh nào đó vậy. Mà nơi đó chẳng qua chỉ là một khách sạn ba sao, hiện nay thành phố lớn nào mà chẳng có mấy khách sạn ba sao? 'Sao cô không nghĩ cho tôi, ở cái nơi như thế, tôi có cảm giác gì chứ?' Cậu ấy quát thẳng vào mặt tôi, 'Tôi cảm thấy tôi giống như một con ruồi! Ruồi! Một con ruồi cô có hiểu không hả? Tôi căn bản không muốn biết Trung Quốc có nơi xa hoa như vậy! Ruồi thì xứng đáng xuất hiện ở nơi xa hoa như vậy chắc?' Lại có một lần, tôi nhìn thấy một người thu gom đồ đạc cũ trên đường phố, trên chiếc xe ba gác bày một chiếc ti vi cũ thu mua được. Mười bốn inch, trắng đen. Vừa vặn hôm đó trên người tôi mang theo tiền, là tiền tôi tiết kiệm được từ sinh hoạt phí bình thường của mình, chuẩn bị đi mua một chiếc máy ghi âm tầm trung. Tôi đã dùng hai trăm bảy mươi tệ, mua chiếc ti vi cũ đó xuống. Ôm một chiếc ti vi vừa to vừa nặng như thế, đổi xe mấy lần mới về đến trường học, quần áo đều bị mồ hôi làm ướt sũng. Tôi vừa thay quần áo ra, còn chưa kịp rửa mặt một cái, liền tìm cậu ấy khắp nơi. Tìm thấy cậu ấy, vui mừng hớn hở nói với cậu ấy, tôi đã mua cho cậu ấy một chiếc ti vi. Thế nhưng cậu ấy lại thờ ơ lạnh nhạt, hỏi tôi tại sao lại mua. Tôi nói: 'Mua cho nhà anh đấy. Kỳ nghỉ tới đây, dù thế nào anh cũng nên về quê thăm nhà một chuyến chứ! Mang về một chiếc ti vi, cho dù là trắng đen, cho dù mới có mười bốn inch, người nhà cũng sẽ mừng rỡ khôn xiết đấy!' Anh có thể tưởng tượng ra cậu ấy đã nói thế nào không? Cậu ấy ngược lại còn xụ mặt hỏi tôi: 'Để bọn họ nhìn từ trong chiếc ti vi xem, thế giới bên ngoài vô cùng đặc sắc sao? Sau đó khiến họ tuyệt vọng rằng số phận của chính mình thật sự bất lực sao? Điều này không tránh khỏi quá tàn nhẫn rồi chứ?' Tôi nói: 'Sao anh lại có thể nghĩ như vậy chứ? Có một chiếc ti vi, ít nhất có thể khiến cho cuộc sống của họ tăng thêm chút giải trí chứ?' Cậu ấy nói: 'Đem sự chênh lệch của hai loại hiện thực đối chiếu với nhau, cô cho rằng họ đang trong cảnh khốn cùng, sẽ có thể thu được chút giải trí gì từ cuộc sống muôn hồng nghìn tía của người khác chứ?' Tôi nói: 'Là trắng đen đấy, thì bàn gì đến chuyện muôn hồng nghìn tía nữa?' Cậu ấy nói: 'Cô còn coi họ là con người nữa không? Cô cho rằng bọn họ giống như loài động vật đến một chút trí tưởng tượng cũng không có sao? Bọn họ không thể từ trắng đen mà tưởng tượng ra màu sắc hay sao? Nếu như ở ngay trước mắt, nhìn thấy được nhưng lại có thể nhìn mà không thể chạm, vậy thì sự tưởng tượng chẳng lẽ không phải là một hình thức ngược đãi trá hình sao?' Tôi tức giận đến mức không nói nổi một câu nào nữa. Mà cậu ấy vừa nói xong liền bỏ đi. Chỉ để lại cho tôi bốn chữ là 'Miễn tiếp thu cảm ơn!' Hôm đó tôi đã khóc một trận. Hiện nay chiếc ti vi đó vẫn đang bày ở ký túc xá của tôi. Sáu người chung một phòng ký túc. Ba người chung một chiếc bàn. Ai cũng không đồng ý bày ti vi lên bàn, chê chiếm chỗ. Tôi đành phải bày nó lên giường của mình. Bày ở trên giường chiếm chính là chỗ ngủ của bản thân tôi. Phải nằm nghiêng, nằm trên đường chéo của chiếc giường, mới có thể duỗi thẳng chân ra. Bình thường lúc bạn cùng phòng không muốn xem, tôi không dám mở, sợ ảnh hưởng đến người khác. Lúc mọi người muốn xem, tôi không thể không mở, sợ khiến mọi người không vui. Cậu ấy chưa từng tiếp nhận bất kỳ sự giúp đỡ thực chất nào của tôi. Tiền, phiếu cơm, hoặc, cho dù là một túi sữa bột. Chỉ ăn qua mấy gói mì tôm của tôi. Cậu ấy có vẻ vô cùng sợ nợ nần tôi thứ gì. Cậu ấy có vẻ kỳ thực không hề cần tôi—một con người cụ thể này. Cái cần duy nhất chỉ là một phần sự dịu dàng đã được chuẩn bị sẵn ở đó. Một phần tình cảm. Dường như càng thuần túy càng tốt. Dường như thuần túy đến mức trừu tượng thì càng tốt. Dường như nội dung mà nhiều thêm một chút thôi, thì đó đã không phải là thứ cậu ấy muốn. Suy cho cùng, tôi không biết rốt cuộc cậu ấy cần cái gì. Giống như ví dụ mà tôi vừa lấy lúc nãy, cậu ấy ví như một đứa trẻ, cậu ấy rõ ràng đang trong trạng thái cai sữa, thế nhưng lại không cần sữa mẹ, mà chỉ cần rúc vào trong ngực của một người phụ nữ giống như người mẹ là được rồi. Hơn nữa lại bắt buộc phải là vào lúc cậu ấy muốn như thế. Nếu như không phải là lúc cậu ấy muốn như thế, mà bạn chủ động ôm cậu ấy vào lòng, cậu ấy sẽ khóc lóc om sòm, thậm chí sẽ cắn bạn. Cậu ấy làm thế, khiến cho cảm giác tốt đẹp về bản thân ban đầu của tôi, dần dần tan thành mây khói, dần dần không còn tồn tại nữa, mất hút. Cho đến bây giờ, một chút cũng không còn. Bây giờ ngược lại là tôi đang diễn kịch rồi. Tôi cũng không rõ cậu ấy đã hiểu điểm này chưa. Cậu ấy hiểu hay không hiểu, đối với tôi mà nói đều vô cùng nhạt nhòa rồi. Tôi là vì cậu ấy, mà vô hình trung học được cách diễn kịch. Vai diễn của tôi vẫn chưa hoàn thành. Tôi vẫn chưa thể cởi bỏ trang phục. Tôi vẫn chưa thể tẩy trang. Bây giờ tôi mới biết, đôi khi, rút lui khỏi một loại vai diễn nào đó, còn khó hơn rất nhiều so với việc tiếp tục đóng vai! Bởi vì bây giờ, tôi dường như không chỉ là bạn gái của cậu ấy nữa rồi! Trong mắt người khác, sớm đã là 'một cặp' rồi! Lúc trước tôi thật sự quá ngốc nghếch, kỳ thực không giống như những gì tôi tưởng tượng, có rất nhiều cô gái ghen tị với tôi. Chuyện này thật hoang đường! Giống như một chậu hoa cỏ gì đó ở chợ hoa, bị rất nhiều người vây quanh xem, thế là bạn liền cho rằng đó chắc chắn là kỳ hoa dị thảo. Kỳ thực sở dĩ mọi người vây quanh xem, có lẽ chỉ vì kiểu dáng của chậu hoa đó có chút đặc biệt. Bạn cứ tưởng tất cả mọi người đều muốn mua. Kỳ thực chẳng có ai thực sự muốn mua cả. Bạn nhất thời bị mê hoặc. Bạn sợ hãi sẽ thuộc về người khác, mà bạn đến cả quyền lợi và cơ hội đến gần lại một chút cũng không còn nữa. Thế là bạn chẳng cần suy nghĩ, không kịp chờ đợi mà mua nó về. Còn người khác thì sao? Cố tình dùng ánh mắt ghen tị để nhìn bạn. Cố tình nói mấy câu chua lòm ghen tị cho bạn nghe. Thế là bạn thầm vui mừng, không kìm được mà lộ vẻ đắc ý. Kỳ thực mọi người chẳng qua là thành toàn cho hứng thú của bạn mà thôi. Đã mang tiếng bạn có hứng thú nhất, thì mọi người tại sao lại không thành toàn cho bạn chứ? Điều đó đối với người khác mà nói thì chẳng có tổn thất gì cả nha! Kết quả thì sao? Bạn cuối cùng cũng ý thức được, đó căn bản không phải là loại hoa cỏ mà bạn thích. Mà quan trọng nhất là, bạn không biết cách chăm sóc nó thế nào, bạn nuôi không sống nó. Nó vốn dĩ thế nào thì vẫn thế ấy, không phải vì bạn tưới nước này, bón phân này, mà nó sẽ mọc thêm được một chiếc lá nào đâu. Lại càng hoàn toàn chẳng có hương thơm gì sất. Bạn lại không thể mặc kệ nó không quan tâm được. Dù sao thì cũng là một chậu hoa mà! Hơn nữa đã thuộc về bạn rồi! Tổng không thể trơ mắt nhìn nó dần dần khô héo chứ! Bạn không quan tâm đến nó thì bạn sẽ có một loại cảm giác tội lỗi. Người khác cũng sẽ lên án bạn. Bạn mà quan tâm đến nó, thì nó lại chẳng hề báo đáp bạn. Cả chẳng vì sự quan tâm của bạn mà xanh hơn được một chút. Tệ nhất là, nó đã trở thành một sự lúng túng do bạn tự gieo tự gặt. Bạn không biết nên đặt nó vào vị trí nào trong cuộc sống của mình nữa. Điểm này cũng chẳng do bạn tự quyết định được nữa rồi, không phải bạn muốn đặt nó ở đâu thì có thể đặt ở đó đâu. Bởi vì cách đặt đã được mọi người quy ước chung với nhau để xác định rồi. Bạn cũng không thể giấu nó đi được. Bạn đã là một thành viên trong 'một đôi' rồi, bạn muốn không phải nữa là không phải nữa sao? Không phải thì bạn phải trả giá đắt. Nếu như cậu ấy không phải là cậu ấy, mà là một nam sinh đại học khác, thì tôi sớm đã không nhẫn nhịn cái mối quan hệ này rồi. Nhưng cậu ấy lại là một con người như thế, vấn đề liền không đơn giản như vậy. Nếu từ phía tôi mà quan hệ có sự thay đổi, 'ham giàu chê nghèo', 'nhìn mặt bắt hình dong', 'tư tưởng môn đăng hộ đối tác oái', vân vân và mây mây, tôi biết mọi người sớm đã soạn sẵn một số tội danh nào đó rồi, chuẩn bị trút lên đầu tôi. Tôi cũng không biết bản thân sẽ phải trả cái giá gì cho việc này. Kỳ thực tôi là một cô gái sợ trở thành mục tiêu của dư luận. Dư luận tốt hay không tốt một khi đã trở thành mục tiêu thì tôi đều sợ. Tôi biết bản thân căn bản không gánh vác nổi. Tôi vốn dĩ rất mỏng manh. Sau đó lại có nam sinh cùng khóa bày tỏ sự thân cận với tôi. Lén lút nhét giấy nhắn cho tôi, hẹn tôi đi dạo, kỳ nghỉ cùng nhau đi du lịch, tôi đều không dám có bất kỳ biểu hiện mập mờ nào, đều ra vẻ đứng đắn mà cự tuyệt. Lại còn ra vẻ như vừa bị sỉ nhục vậy, cứ như thể tôi đang trung trinh bảo vệ cái gì vậy... Xong rồi. Toàn bộ quá trình. Chính là như thế... chính là như thế... Anh nghe xong, thấy tôi xấu xa không?..."

Tôi nói: "Không. Em chẳng xấu xa chút nào cả."

Cô ấy cười nhạt một tiếng, rũ mắt xuống, thần thái vô cùng oan ức nói: "Anh không cần phải muốn an ủi em. Em cũng không phải đang hỏi anh. Em là đang hỏi chính mình. Dạo gần đây em thường xuyên một mình hồi tưởng lại chuyện giữa chúng tôi. Hồi tưởng xong thì lại tự hỏi bản thân như thế." Nói xong, liền ngả người ra sau, ngửa đầu lên tựa vào lưng ghế sofa, ngước mắt nhìn đèn ốp trần.

Cô ấy thở sâu một hơi. Giống như người luyện khí công đang nhả cái cũ nạp cái mới vậy. Lại giống như một người đuối nước vừa được cứu vớt lên, vẻ mặt tứ chi rã rời. Tôi nghĩ cô ấy chắc chắn là đã mệt rồi. Bởi vì lúc cô ấy kể lể, tôi có thể nhìn ra cô ấy vẫn luôn ở trong trạng thái hưng phấn. Hơn nữa, vẫn luôn ngồi với một tư thế vô cùng ngay ngắn. Vẫn luôn kể lể với một ngữ điệu liên miên bất tận, câu trước nối tiếp câu sau, sát rạt nhau giống như sợ bị ngắt lời vậy.

Hồi ức là thiên đường duy nhất mà con người không thể bị trục xuất.

Hồi ức lại là địa ngục duy nhất mà con người thường xuyên bị đày đọa vào.

Bản thân tôi chính là một người thường xuyên chìm đắm trong hồi ức. Cũng thường xuyên hồi tưởng mối tình đầu, tiến trình tình cảm, nếu như đó là những thứ cay đắng, bất đắc dĩ, mỗi lần hồi tưởng lại, giống như linh hồn bị lột đi một lớp da, giống như bị suy kiệt tinh thần. Huống chi, hồi ức của tôi, đều có thể coi là chuyện của rất nhiều năm trước rồi. Còn hồi ức của cô ấy, còn chưa đủ thuần túy để có thể coi là hồi ức nữa. Chẳng qua toàn là chuyện của một năm trước. Hơn nữa lại dính liền với sợi dây rốn của cô ấy ngày hôm nay. Cả hai đầu của sợi dây rốn này, đều là những đứa trẻ sơ sinh với phần khung xương vừa mới định hình, sắp sửa phải tái sinh một lần nữa từ trong hiện thực. Cô ấy là vậy. Cậu ấy cũng vậy. Cô ấy muốn đóng vai Thánh Mẫu Mary mà cuối cùng kiệt sức thừa nhận bản thân không đủ sức đảm đương. Cậu ấy quả thực là người bất bình thường. Cậu ấy là một thanh niên bị sự nghèo khó bóp méo. Trên đời này chưa có ai trải qua nghèo khó mà có thể may mắn thoát khỏi việc không bị bóp méo cả. Người nhạy bén chỉ cần mười phút là có thể phát hiện ra loại trải nghiệm này từ trên người một ai đó, nghèo khó chính là bệnh lupus ban đỏ. Không ở trên mặt, thì cũng ở bộ phận nào đó bị quần áo che khuất. Nghèo khó bóp méo tâm hồn con người, đây có lẽ chính là sự xấu xa lớn nhất của nghèo khó chăng? Sự khác biệt có lẽ chỉ nằm ở chỗ, mức độ và kiểu dáng mà con người từng bị nó bóp méo thì khác nhau trời vực. Huống chi, từ nơi mà cậu ấy đi đến, cái bóng xa xôi của sự nghèo khó vẫn đang đeo bám và bao trùm lấy người thanh niên cô độc nhạy bén ấy. Cậu ấy không tài nào trốn thoát khỏi nó. Ở cái chốn kinh đô phồn hoa này, trong khuôn viên đại học dường như tụ họp những con cưu chiêu của trời, lúc thì nôn nóng lúc thì trống rỗng lúc thì nhiệt huyết dâng trào lúc thì phong lưu thành thói, cái bóng ấy hiển nhiên lại càng ép người ta đến nghẹt thở hơn. Tôi dường như nhìn thấy một đám mây giông đang đùa giỡn đuổi theo và mưu đồ nuốt chửng một con bướm nhỏ không còn đường trốn trên bầu trời. Không, một con thiêu thân...

Tôi quả thực không biết nên giúp đỡ ai trước một tay đây, là cô ấy hay cậu ấy.

Mà tôi, ngoại trừ việc lắng nghe và sự thương hại, thì có thể làm được gì trên thực tế chứ?

Tôi còn phải cẩn thận bọc lại cái sự thương hại rẻ mạt dành cho cô ấy, cũng như dành cho cậu ấy. Bởi vì nếu như bọn họ cảm nhận được điểm này, thì chẳng khác nào là cảm nhận được một sự tổn thương.

Tôi nói: "Em ngồi tự nhiên một chút đi, việc gì cứ phải trở nên câu nệ như thế?"

Cô ấy bèn chống một tay lên sofa, người nghiêng sang một bên, khiến cho tư thế của mình trở nên lười nhác hơn một chút.

"Nói nhiều như vậy, rốt cuộc em dự định tính sao đây?"

"Em vẫn sẽ đối xử tốt với cậu ấy." Cô ấy không chút do dự nói, "Dù sao thì em vẫn sẽ đối xử tốt với cậu ấy. Năm sau cậu ấy tốt nghiệp rồi. Em từng khuyên cậu ấy thi cao học. Cậu ấy kiên quyết không thi. Cậu ấy nói, học chuyên ngành ngữ văn, học vị thạc sĩ thì thế nào? Tiến sĩ thì thế nào? Tương lai ngược lại còn khó phân công hơn cả sinh viên hệ chính quy. Em nghĩ cũng đúng. Sáu bảy năm trước, sinh viên khoa ngữ văn bọn em tốt nghiệp, báo lớn, nhà xuất bản lớn, đơn vị văn hóa tranh nhau réo gọi. Bây giờ, đến một tờ báo thiếu nhi nào đó, nhà xuất bản thiếu nhi nào đó cũng không cần bọn em nữa. Tất cả các đơn vị văn hóa, giống như nhà khách đã chật cứng cả giường ghép vậy. Muốn liên hệ công việc, nói chuyện với anh ba câu rồi đuổi anh đi, xem như đã nể mặt anh lắm rồi. Những người thi đỗ cao học từ hai năm trước, năm nay đều hối hận vô cùng. Bởi vì ngay cả những đơn vị mà hai năm trước họ cảm thấy ủy khuất tài năng của mình, nay đều đã bị sinh viên hệ chính quy chiếm giữ hết rồi. Cho nên lúc cậu ấy tốt nghiệp, em sẽ dốc toàn lực giúp đỡ cậu ấy. Huy động tất cả các quan hệ xã hội của bố em. Thỏa mãn nguyện vọng ở lại Bắc Kinh của cậu ấy, có phải dập đầu lạy lục em cũng không từ..."

Tôi hỏi: "Cậu ấy rất muốn ở lại Bắc Kinh sao?"

Cô ấy vội vàng phản vấn lại một câu: "Đến lúc đó anh cũng có thể giúp cậu ấy chứ?"

Tôi phản ứng nhanh hơn cô ấy mà nói: "Không, anh không có ý đó... nhưng anh có thể hiểu... đến lúc đó rồi tính tiếp..."

Tôi nỡ lòng nào mà trực mặt đưa cho cô ấy một câu trả lời hoàn toàn vô vọng. Cũng không nỡ để lại cho bản thân một loại nghĩa vụ mà sau này căn bản không thể hoàn thành nổi. Lời nói của tôi úp úp mở mở ấp úng. Tôi cảm thấy mặt mình đỏ bừng. Tôi cảm thấy lời nói của mình thật ngốc nghếch. Vốn dĩ có thể nói khéo léo hơn một chút, thế nhưng vì phòng thủ vội vàng mà cuối cùng lại thành ra giật gấu vá vai. Tôi ngượng ngùng cười trừ. Tôi nghĩ bộ dáng lúc đó của tôi chắc chắn là rất khiến người ta ghét.

Cô ấy nói: "Em biết đây là chuyện khó khăn. Anh đừng ngại ngùng. Kỳ thực, cho dù là nghĩa vụ nào đó đi nữa, thì cũng không đến lượt anh. Chỉ có thể là nghĩa vụ không thể chối từ của chính em. Cậu ấy ngược lại chưa từng nói với em về chuyện có nguyện vọng ở lại Bắc Kinh hay không. Một lần cũng chưa từng nói. Nhưng cậu ấy đã nói với em mấy lần rồi — nói cậu ấy một khi bị phân công về lại tỉnh, thì tiền đồ sẽ mờ mịt..."

Tôi bò dậy từ tình cảnh bẽ bàng khó xử, dùng khẩu khí khuyên người ta hãy khoan dung mà nói rằng: "Cả đời chưa chắc đã như vậy đâu nhỉ? Cả nước mỗi năm có bao nhiêu sinh viên tốt nghiệp như thế, tổng không thể năm này qua năm khác đều phân công ở lại Bắc Kinh được chứ! Địa phương cũng có thể đại triển hùng phong mà!"

Cô ấy nói: "Cậu ấy mà bị phân công về lại tỉnh, chắc chắn sẽ lại bị tỉnh phân công về lại huyện. Hiện nay, người ở huyện thi đậu lên, không có cửa sau, không có quan hệ, muốn ở lại tỉnh cũng là chuyện vô cùng khó khăn. Hơn nữa cậu ấy lại học chuyên ngành ngữ văn. Đến địa phương, người không được hoan nghênh nhất, chính là sinh viên đại học khoa ngữ văn."

Tôi nói: "Bây giờ đang đề xướng sinh viên đại học đi về cơ sở, bắt đầu làm từ cơ sở. Cơ sở cũng càng cần hơn. Làm ra thành tích ở huyện, vẫn có thể được điều động lên tỉnh mà!"

Cô ấy nói: "Hai tháng trước, cậu ấy từng viết thư cho huyện, dò hỏi qua. Không biết là người nào của huyện đã viết thư trả lời cho cậu ấy, hy vọng cậu ấy tốt nhất là đừng quay về huyện nữa, thực sự có về thì cũng rất khó sắp xếp công việc thích hợp. Làm thư ký, cậu ấy không phải là đảng viên. Làm công tác tuyên truyền, người làm công tác tuyên truyền hiện nay đã vượt quá biên chế rồi, còn chưa biết nên cắt giảm ai nữa đây! Phòng kế hoạch hóa gia đình ngược lại đang trống một suất, nhưng lại yêu cầu là nữ. Sau khi nhận được bức thư, tâm trạng hơn một tháng đó của cậu ấy đã rơi xuống đáy cốc. Cậu ấy từng bày tỏ với em, không muốn đụng tường nam tường bắc nữa, phó mặc cho số phận thôi. Cậu ấy nói đại lực là từ đâu ra thì quay về đó, trở về cái thôn của bọn họ làm một 'vương tử trẻ con' cũng không tồi. Dù sao thì cậu ấy cũng đã học đại học rồi. Vẫn là người may mắn nhất toàn thôn. Lại nói, chỉ sợ người trong thôn hiểu lầm là cậu ấy đã phạm sai lầm gì ở trường học. Bằng không sao lại học đại học mấy năm trời mà nơi nào cũng không cần, lại bị giáng chức đuổi về thôn chứ? Cậu ấy nói đây là chuyện miệng lưỡi khó phân. Em nghe ra được, kỳ thực trong thâm tâm cậu ấy sợ nhất là lại quay về cái thôn đó của mình. Cậu ấy hiển nhiên hy vọng bản thân có thể chuẩn bị sẵn tâm lý từ trước, thế nhưng lại sợ điểm này cuối cùng trở thành hiện thực..."

Tôi há há miệng, muốn nói một câu.

Cô ấy hỏi: "Anh muốn nói gì?"

Tôi phản vấn: "Em... có nắm chắc sẽ giúp cậu ấy ở lại Bắc Kinh vào lúc cậu ấy tốt nghiệp không?"

Kỳ thực điều tôi muốn nói là — có thể hạ quyết tâm cống hiến cho sự nghiệp giáo dục của quê hương, cũng không mất đi một loại lựa chọn nhân sinh, cũng là đại triển hùng phong, vân vân.

Thế nhưng bỗng nhiên tôi ý thức được, nếu tôi thực sự nói thế, bản thân chẳng ra cái thá gì cả. Những lời đó vừa lượn một vòng trên đầu lưỡi, trong khoảnh khắc thốt ra khỏi miệng liền thay đổi.

Cô ấy vô cùng tự tin nói: "Chắc là không có vấn đề gì đâu nhỉ! Đây cũng là việc duy nhất vô cùng thực tế mà em có thể làm cho cậu ấy! Đối với đoạn nhân duyên này, từ phía em dẫu sao cũng phải có một lời giaogiao đại có đầu có đuôi chứ, phải không?"

Tôi dùng một điếu thuốc để bịt miệng lại. Tôi một cách khôn ngoan cho rằng, lúc này "kẻ thứ ba" tốt nhất không nên bày tỏ bất kỳ thái độ nào. Hơn nữa tôi cũng không biết nên giữ thái độ nào. Cảng nói "phải", giống như tôi đang ủng hộ cô ấy "kết quả". Cảng nói "không", lại giống như tôi mưu đồ thay người ta ép buộc một loại "quả ngọt" nào đó vậy.

Cô ấy ngược lại tỏ ra lạc quan hơn.

Cô ấy nói: "Dù sao thì thời gian một năm cũng không dài, chớp mắt một cái là trôi qua thôi. Trong một năm này em sẽ đối xử gấp đôi với cậu ấy. Cậu ấy tốt nghiệp rồi em lại giúp cậu ấy ở lại Bắc Kinh, cậu ấy sẽ biết ơn em. Mỗi khi cậu ấy hồi tưởng lại cuộc sống đại học, cậu ấy sẽ nhớ đến một cô gái, từng dùng sự ôn tình hết lần này đến lần khác tô điểm sắc ấm cho tâm hồn cậu ấy, và thay đổi quỹ tích vận mệnh của cậu ấy. Em tin rằng, cậu ấy sẽ cảm thấy may mắn vì trong cuộc sống của mình đã xuất hiện một cô gái như thế, cậu ấy sẽ khắc ghi trong lòng suốt đời không quên!"

Tôi nói: "Được thế thì tốt nhất, được thế thì tốt nhất..."

Trong lòng tôi cảm thấy khá thương cảm thay cho "cậu em họ".

"Em đã bắt đầu tiến hành rồi! Ngay cả chị cũng bị em lôi kéo vào rồi. Chị cho rằng nếu em có thể thuận lợi và tao nhã mà tự giải thoát bản thân ra, thì sẽ chứng minh được em đã trưởng thành rồi. Rất nhiều chú bác dì thím, đều đã hứa hẹn đến lúc đó nhất định sẽ dốc sức giúp đỡ..."

Tôi vẫn nói: "Được thế thì tốt nhất, được thế thì tốt nhất..."

Ngoại trừ câu nói ấy ra, tôi cũng chẳng tìm được lời nào thích hợp hơn nữa.

Cô ấy dặn dò tôi: "Sau này ở trước mặt cậu ấy, anh ngàn vạn lần phải giả vờ như không biết gì cả. Con người cậu ấy cực kỳ nhạy cảm! Hơn nữa càng không được ám chỉ bài tẩy của em cho cậu ấy. Vậy thì anh sẽ làm cho những việc em đang tiến hành rối tung lên đấy! Anh có hiểu không? Kỳ thực vốn dĩ em không nên kể tất cả những chuyện này cho anh nghe. Nhưng hôm nay em rất muốn kể cho một người nghe, nếu không em sợ mình sẽ nghẹn ra bệnh tâm thần mất..."

Tôi trịnh trọng nói: "Nếu em muốn anh thề, anh sẽ thề."

Cô ấy nói: "Cái đó thì không cần đâu."

Nói xong liền cười...

Hôm đó cô ấy cuối cùng cũng mang tâm trạng thoải mái mà rời khỏi nhà tôi. Ít nhất là khiến cho mẹ và tôi cảm thấy như vậy.

Sau khi cô ấy đi, mẹ nói với tôi: "Hay là, hôm nào đó, gọi cả hai đứa nó đến đây, mẹ đứng ra, làm chủ thay cho chúng nó, định đoạt chuyện của chúng nó luôn đi! Cũng xem như mẹ già rồi mà lại làm thêm được một việc tác thành nhân duyên..."

Tôi đành phải dùng khẩu khí cảnh cáo để nói với mẹ: "Mẹ ơi, mẹ ngàn vạn lần đừng có làm bậy!"

Mẹ khó hiểu nói: "Sao lại là làm bậy chứ? Hai đứa trẻ ngoan, lại đều là sinh viên đại học, tương lai lại đều có thể phân công ở lại Bắc Kinh. Chẳng phải là một cặp rất xứng đôi hay sao?"

Tôi kiên nhẫn nói: "Mẹ à, bây giờ người ta không còn chuộng cái kiểu đính hôn đó nữa đâu, mẹ muốn làm chủ thay cho chúng nó, thì muốn làm chủ là làm chủ được chắc? Mẹ mau chóng dẹp bỏ cái ý định này đi!"

Mẹ thở dài một hơi, lầm bầm lầu bầu nói: "Nhưng mà nói đi cũng phải nói lại, mẹ vẫn thích Tố Dao hơn. Lương thiện, có tình có nghĩa... Còn thằng bé Tiêu Băng kia, từ một nơi nghèo như thế xa xôi như thế, mà có thể bước đến bước ngày hôm nay, người ta đứa nhỏ này khổ cực biết bao nhiêu chứ! Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao, con cũng quen biết không ít người, đến lúc nó tốt nghiệp, con không thể cũng giúp đỡ nó một chút sao?..."

Tôi đã bị làm cho bực bội rối tinh rối mù lên rồi.

Tôi có chút sốt sắng nói với mẹ: "Mẹ à, mẹ đã có bốn đứa con trai rồi, đại ca của con đến nay vẫn còn ở trong bệnh viện, cả đời này mẹ vẫn chưa nhọc lòng đủ cơ à? Còn nhận hết con nuôi bên trái lại đến con nuôi bên phải để mà nhọc lòng! Chuyện phân công tốt nghiệp, là con muốn giúp, là có thể giúp được chắc? Con có bản lĩnh lớn thế à? Tuyệt đối không cho phép mẹ buông ra câu gió như thế trước mặt người ta. Nếu mẹ chủ động hứa hẹn với người ta rồi, thì đến lúc đó mẹ tự chịu trách nhiệm nhé! Hơn nữa Tố Dao nhà người ta đã bắt đầu tiến hành rồi, đó vốn dĩ là vấn đề không quá thành vấn đề, không đến lượt mẹ chường mặt ra, cũng chẳng đến lượt con chường mặt ra..."

Mẹ mang sắc mặt giận dỗi nói: "Con xem con kìa, con xem con kìa! Mẹ bất quá chỉ lải nhải như thế thôi mà con đã nổi cáu lên rồi! Con mua vé xe cho mẹ, ngày mai mẹ đi, không ở chỗ con để chịu sự quát mắng của con nữa đâu!..."

Ba

Trong một khoảng thời gian rất dài, "cậu em họ" không còn đến nữa. "Cô em họ" Tố Dao cũng không còn đến nữa. Dần dần, tôi đã quên béng cả hai người bọn họ. Thỉnh thoảng nhớ đến, cũng chẳng qua chỉ là thỉnh thoảng nhớ đến mà thôi. Hơn nữa, sau đó lại quên mất tiêu. Hóa ra thế giới này, những người có thể khiến chúng ta thực sự bận lòng khắc ghi trong tim, ngoại trừ những người chí ái và chí thân ra, thật sự không có mấy ai. Hóa ra có một số người, một khi xông vào cuộc sống của chúng ta, thì cũng cứ thế mà để họ xông vào. Một khi ẩn mình hoặc biến mất khỏi cuộc sống của chúng ta, chúng ta thế mà lại chẳng cảm thấy thực sự thiếu thốn thứ gì. Huống chi, "em họ", "cô em họ", vốn dĩ chẳng qua chỉ là lời nói đùa mà thôi. Là một thứ quan hệ vô căn cứ chẳng dính dáng gì với nhau cả. Cho nên, đôi khi tôi nhớ đến họ, ngược lại cảm thấy việc quên đi cũng thật đinh ninh tâm an. Không chút thẹn thùng cắn rứt.

Mẹ dĩ nhiên thường xuyên nhắc đến họ. Nói là đã lâu lắm rồi không được ăn sủi cảo. Tôi nói mẹ không sợ phiền thì cứ gói đi! Mẹ tất nhiên sẽ nói, trong nhà đến một vị khách cũng không đến, gói cũng chẳng có ý nghĩa gì. Ăn cũng chẳng có ý nghĩa gì. Tôi nói gần như ngày nào cũng có người đến, chẳng phải toàn là khách đấy ư? Mẹ nói, những người ngày ngày đến tìm con đó, thế mà cũng có thể tính là khách sao? Bọn họ đến tìm con, chẳng qua chỉ vì một chuyện, đòi bản thảo. Con tiếp đón bọn họ, chẳng qua chỉ vì để đăng bài. Quan hệ giữa các con thuần túy là "quan hệ công việc". Cứ làm như chỉ có "cậu em họ" và "cô em họ", mới là những vị khách đường đường chính chính vậy. Tôi cho rằng là mẹ không chịu được sự quạnh quẽ và cô đơn, thường thì chỉ cười trừ cho qua chuyện.

Đột nhiên có một hôm, "cô em họ" lâu ngày không gặp lại đến. Lúc đó đã là mùa đông rồi. Tôi nhớ ngày hôm đó trời lạnh cắt da cắt thịt. Tôi nhớ cô ấy đạp xe đến vào lúc hơn tám giờ tối. Lại chẳng quàng khăn choàng cổ, má và chóp mũi bị đông cứng đến đỏ bừng, vừa bước vào nhà là đã sà ngay lại gần máy sưởi. Mẹ dĩ nhiên đối xử vô cùng thân thiết với cô ấy chẳng chê vào đâu được. Nắm lấy đôi bàn tay của cô ấy, liền muốn ngồi cùng cô ấy lên sofa, bày trận dài dòng kể lể ôn cố tri tân. Cô ấy rất áy náy nói rằng bản thân không có thời gian ngồi lại nữa. Cô ấy nói bản thân không đeo găng tay, đầu ngón tay đều bị cóng đến tê cứng rồi, phải sưởi trên máy sưởi một lát. Cô ấy nói trường học còn mười mấy ngày nữa mới được nghỉ đông, nhưng bố cô ấy bị bệnh, cô ấy được phép nghỉ phép về thăm nhà sớm hơn mười mấy ngày, cô ấy nói đã mua vé xe cho ngày mai rồi. Đi cùng với chị. Cô ấy nói cô ấy chủ yếu là không yên tâm về "cậu em họ", dường như luôn cảm thấy, trong kỳ nghỉ đông lạnh giá này, nếu không có cô ấy ở bên cạnh cậu ấy, không chừng cậu ấy sẽ xảy ra chuyện gì. Cô ấy vừa nói vừa đỏ hoe vành mắt. Tôi hỏi cô ấy, giữa bọn họ liệu có lại xảy ra chuyện gì không vui nữa không? Cô ấy lắc đầu. Cô ấy nói, đương nhiên có lẽ sẽ chẳng có chuyện gì xảy ra đâu, chẳng qua là bản thân quá lo lắng cho cậu ấy mà thôi. Cô ấy nói, sau khi cô ấy đi rồi, liền phó thác "cậu em họ" cho vị "anh họ" là tôi đây. Hy vọng cậu ấy không đến, tôi cũng có thể đến trường học thăm cậu ấy một hai lần. Cô ấy nói nếu không phó thác chuyện này, trong lòng cô ấy thật sự có chút không yên tâm...

Dù sao thì tôi cũng thuộc tuýp người đa sầu đa cảm, tôi đã chịu một sự cảm động khá lớn.

Tôi liên mồm cam đoan: "Nhất định rồi! Nhất định rồi!..."

Mẹ dứt khoát là đang lau nước mắt. Vừa lau nước mắt vừa nói: "Con gái à, con yên tâm, con yên tâm, trường học vừa nghỉ đông, mẹ liền bảo anh họ con đón nó đến nhà chúng ta ở!..."

Cô ấy liền ôm chầm lấy mẹ, cọ cọ má với mẹ một cái, còn hôn mẹ một cái, nói: "Bác gái người thật tốt! Cháu muốn mang về cho người một chiếc gối thuốc. Chỗ chúng cháu cũng sản xuất gối thuốc..."

Cô ấy đến ngồi cũng không ngồi, từ đầu đến cuối đứng trước máy sưởi, nói chuyện với tôi và mẹ tổng cộng mười lăm mười sáu phút, rồi liền đi mất. Mẹ ở đó lục tung tìm kiếm một đôi găng tay cho cô ấy đeo, cô ấy không đợi nữa. Cô ấy nói, cô ấy vẫn chưa thu dọn đồ đạc mà... Đến cũng vội vã, đi cũng vội vã. Tôi đuổi ra đến cửa muốn tiễn cô ấy một đoạn đường, thế nhưng lại quên mang chìa khóa xe đạp của mình (không phải cố ý). Tận mắt nhìn cô ấy đạp xe lên, ngược chiều gió bắc, biến mất trong đêm tối mùa đông...

Mấy ngày sau, dưới sự nhắc nhở của mẹ, tôi đang định ra cửa đến trường đại học để thăm "cậu em họ", thì cậu ấy lại "quang lâm". Vẫn là bộ quần áo mỏng manh mặc vào lần đầu tiên tôi nhìn thấy cậu ấy. Nói nghiêm ngặt, từ trên xuống dưới, đó đều không thể tính là trang phục mùa đông giữ ấm.

Tôi nói: "Anh đang định đến trường các cậu thăm em đây!"

Cậu ấy nói: "Em cũng rất nhớ bác gái, đến thăm cụ già."

Đáng tiếc mẹ lại không có nhà, đi mua đồ rồi.

Tôi lại nói: "Đã lâu em không tới rồi."

Cậu ấy nói: "Đã lâu không tới."

"Bên ngoài lạnh lắm phải không?"

"Lạnh."

"Thi xong hết rồi chứ?"

"Vâng."

"Thi thế nào?"

"Tạm ổn. Nhưng mà đều qua môn cả rồi."

Tôi tự thấy cuộc trò chuyện khá là ngượng ngập. Tôi tự nhủ chớ có phút nào quên lời dặn dò của "cô em họ", có ý thức né tránh những chủ đề có thể khiến cậu ấy đoán già đoán non. Mà cậu ấy, rõ ràng là, đột ngột xuất hiện sau một thời gian dài, trong lòng không khỏi có những suy đoán.

Bởi vì cậu ấy hình như đùa cợt mà hỏi: "Em không biến thành một kẻ không được hoan nghênh chứ?"

Tôi nghe ra đó không phải là lời đùa cợt. Tôi nhìn ra cậu ấy không có bộ dạng đùa cợt. Tôi cảm thấy cậu ấy hỏi không hề nhẹ nhõm chút nào. Tôi đoán chừng trên đường đến đây, chắc chắn cậu ấy cũng đã tự hỏi bản thân câu này mấy lần liền rồi.

Tôi có chút gượng gạo cười.

Tôi nói: "Sao em lại nghĩ như vậy chứ?"

Cậu ấy cũng cười. Cười cực kỳ không tự nhiên. Có tâm sự.

"Khoảng thời gian này, cô ấy không còn đến một mình nữa à?"

"Tố Dao? ... Không đến."

"Một lần cũng không đến à?"

"Ồ, tối hôm trước khi về cô ấy có đến một lần. Chỉ ở lại mười mấy phút."

"Đến làm gì thế?"

"Trước khi về quê thì đến chào tạm biệt một tiếng."

"Cô ấy... đã tán gẫu những gì thế?"

"Chẳng tán gẫu gì cả. Mới ở lại có mười mấy phút, thì tán gẫu được gì chứ?"

"Cái người này... cũng không rủ em đi cùng!"

Tôi có chút bênh vực Tố Dao mà nói: "Khi nào thì em mới có thể đối xử tốt hơn với cô ấy một chút?"

Cậu ấy kinh ngạc nhìn tôi. Ngạc nhiên trước lập trường khuynh hướng toát ra từ lời nói của tôi.

Tôi vội vàng vớt vát lại rồi nói: "Đàn ông mà, nên đối xử tốt với những cô gái quan tâm đến mình chứ."

Cậu ấy ngậm miệng không nói gì nữa.

Tôi đứng dậy mở tủ tường, lấy ra một chiếc đại y quân đội hãy còn mới nửa, đặt lên giường. Cậu ấy lập tức hiểu ra điều gì đó, trở nên lúng túng, đến mức đỏ bừng cả mặt, cậu ấy nói năng lộn xộn: "Em nhận... em thành tâm thành ý nhận là được chứ gì? Nhưng mà em không cần đâu... Em kiên quyết không cần đâu!"

Tôi hiểu ý của cậu ấy — thành tâm thành ý tiếp nhận lời phê bình của tôi dành cho cậu ấy, nhưng kiên quyết không cần chiếc áo khoác mà tôi muốn tặng.

Tôi nói: "Tôi cũng không định tặng em. Cho em mượn mặc thôi. Đây là đồ phát khi tôi còn ở Binh đoàn, tặng cho em thì tôi còn tiếc ấy chứ! Chẳng lẽ em lại cảm thấy mặc vào thì làm tổn hại đến hình tượng của em à?"

Cậu ấy cười một nụ cười cực kỳ lúng túng: "Được. Là cho em mượn mặc, vậy thì em mặc."

Tôi dò hỏi: "Nếu không có việc gì, hôm nay dứt khoát ở lại đây luôn thì thế nào?"

Cậu ấy nói: "Có chút việc."

Tôi không khỏi "ồ" lên một tiếng. Thầm nghĩ chắc chắn là một chuyện không bình thường rồi.

Em... trên cánh tay em mọc một cái... khối u..."

"Khối u?..."

Cậu ấy xắn tay áo lên. Ở cẳng tay trái của cậu ấy, cách nếp khuỷu tay một thốn, bên cạnh tĩnh mạch, một cách rõ ràng, lồi lên một khối u to bằng hạt đậu tằm.

Tôi nhẹ nhàng ấn ấn, hỏi: "Có đau không?"

Cậu ấy lắc đầu.

"Phát hiện bao lâu rồi?"

"Một tuần. Lúc mới phát hiện, chỉ to bằng hạt đậu xanh thôi."

Về mặt này, tôi có chút kiến thức thường thức. Bởi vì đọc các loại sách y học, cũng là một trong những tiêu khiển khá chủ yếu.

"Em thấy trên giá sách của anh, có một cuốn sách về ung thư. Em muốn, muốn mượn về lật xem thử. Không biết cuốn sách đó của anh còn ở đó không?"

Tôi lại đưa tay ấn vào khối u đó, thấy nó không dính liền với da, phần gốc to hơn một chút. Hơn nữa, chôn vùi khá sâu. Tôi nhẹ nhàng đẩy đẩy, đẩy không nhúc nhích. Tôi tưởng tượng, đó nhất định là một khối u hình con ốc sên. Phần lồi lên là phần "vỏ" của "ốc sên". Ký sinh trên tổ chức sợi hoặc vách tĩnh mạch, chính là phần "thân thể" của "ốc sên".

Đó tuyệt đối không phải u bã đậu.

Cũng không phải u mỡ.

Cậu ấy hỏi: "Rốt cuộc là cái gì?"

Tôi nói: "Đương nhiên là một khối u rồi."

Cậu ấy lại hỏi: "Anh xem, sẽ là tính chất gì?"

Tôi nói: "Em đừng căng thẳng thế, chẳng qua chỉ là một khối u mỡ nhỏ mà thôi."

Cậu ấy nói: "Em thì không căng thẳng, nhưng cánh tay bị tê."

Tôi nói: "Đó là chèn ép dây thần kinh rồi."

Cậu ấy cười cười, nói: "Nếu không có vấn đề gì lớn, em mặc kệ nó vậy. Nhưng... em vẫn muốn mượn cuốn sách đó của anh xem thử. Dù sao thì bây giờ trên tạp chí cũng chẳng có tiểu thuyết nào đáng đọc đặc biệt cả, chi bằng đọc chút sách chuyên khoa, có thể thu được một ít kiến thức thường thức."

Nụ cười đó của cậu ấy, vô cùng miễn cưỡng.

Cuốn sách đó đương nhiên vẫn ở trên giá sách.

Tôi nói: "Loại sách đó tôi lật xem xong là bán đi rồi. Kỳ thực em không xem cũng được."

Cậu ấy ngây người nhìn tôi.

Tôi nói: "Vậy tôi đi tìm giúp em xem sao."

Cậu ấy nói: "Em đi tìm cùng anh nhé? Em nhớ là kẹp giữa hàng sách nào cơ."

Tôi nói: "Giá sách tôi sớm đã sắp xếp lại rồi. Tôi không muốn bị em làm lục tung lên đâu!"

Nói xong, tôi liền rút người rời đi, đi sang căn phòng khác, rút cuốn sách về ung thư từ trên giá sách xuống, giấu đi.

Quay lại bên cạnh cậu ấy, thấy tay áo của cậu ấy vẫn chưa buông xuống, đang nhìn chằm chằm khối u trên cánh tay mình. Giống như mèo đang nghiên cứu một con chuột đồ chơi vậy.

Tôi nói: "Không tìm thấy."

Ánh mắt nghiên cứu kiểu đó của cậu ấy, chuyển lên mặt tôi.

Tôi lại nói: "Chèn ép dây thần kinh suy cho cùng không tốt. Không thể mặc kệ không quan tâm được. Ngày mai tôi phải đến bệnh viện để khám ít thuốc, nếu em có thời gian, thì đi cùng tôi một cặp, tiện thể đến khám xem sao nhé!"

Tôi cố ý nói mọi chuyện một cách nhẹ bẫng mà lại nhẹ bẫng. Kỳ thực ngày mai tôi chẳng cần phải đến bệnh viện để khám thuốc men gì sất.

"Có thời gian! Ngày mai em có thời gian! Em nhất định sẽ đi cùng anh một cặp, vừa hay có chút lời muốn tâm sự với anh..."

Đề nghị của tôi, rành rành ra đấy, nói trúng tim đen của cậu ấy.

Cậu ấy nói xong liền đứng dậy muốn đi. Tôi bảo cậu ấy ngồi thêm lát nữa, ngồi đến lúc mẹ tôi về. Cậu ấy lại kiên quyết không ngồi nữa. Bộ dáng đứng ngồi không yên. Tôi cũng không miễn cưỡng cậu ấy, khoác chiếc đại y lên người cậu ấy, hẹn với cậu ấy gặp nhau ở cửa bệnh viện, tùy cậu ấy đi.

Sau khi cậu ấy đi rồi, một mình tôi lật giở cuốn sách về ung thư đó ra.

U xơ — lành tính.

Sarcoma xơ — ác tính. Thường xảy ra ở ngực trước, cẳng tay, lân cận mạch máu và tuyến bạch huyết. Hơn nữa xâm thực mạch máu và tuyến bạch huyết, dẫn đến di căn toàn thân...

Tôi nghĩ, tôi không cho cậu ấy mượn cuốn sách này, là đúng.

Ở bệnh viện, quầy hướng dẫn bảo chúng tôi sang khoa Da liễu. Bác sĩ da liễu chỉ mất hai phút đã đuổi anh ta ra, bảo là phải sang khoa Ngoại. Tôi liền bảo anh ta sang khoa Ngoại đợi, rồi lại đăng ký cho anh ta một phiếu khám ngoại khoa. Lúc đó đã hơn mười giờ rồi.

Y tá trung niên ở bàn phát số khoa Ngoại hỏi tôi có chuyện gì. Tôi nói không phải tôi, là biểu đệ của tôi, bèn gọi anh ta qua, xắn tay áo cho đối phương xem. Đối phương nói, sang khoa Ngoại làm cái gì? Đi khám da liễu đi. Tôi nói thay anh ta, đã khám ở da liễu rồi. Là khoa da liễu bảo sang khoa Ngoại đấy chứ. Đối phương bảo, ngày mai đi. Đã hơn mười giờ thế này rồi, có phát số cho cậu, thì buổi sáng cũng chẳng khám nổi nữa. Tôi bảo buổi sáng không khám được thì vẫn còn buổi buồi chiều cơ mà! Đối phương có vẻ rất khó chịu với chúng tôi, giật lấy cánh tay anh ta, lại liếc nhìn một cái, vô cùng chán ghét nói, có gì mà ghê gớm thế! Chả phải u mỡ là gì? Ngày mai đến khám tiếp cũng chẳng chết người đâu! Cô ta bực mình vì buổi sáng hôm đó số lượng bệnh nhân khám ngoại khoa quá đông, có lẽ sẽ làm lỡ giờ tan tầm buổi trưa của cô ta. Đẩy đi được một người hay một người ấy.

Tôi nổi giận, nói cô là chuyên gia à? Cô dám khẳng định chính xác là u mỡ không? Còn "biểu đệ", thì chỉ đứng bên cạnh im thin thít lắng nghe. Rõ ràng, đến chỗ như bệnh viện, lại vớ phải người phụ nữ thế này, anh ta hoàn toàn chẳng biết phải đối phó ra sao, chỉ đành im thin thít.

Người phụ nữ đó nghe tôi nói liền cười nhạt, bảo đúng đúng đúng, tôi không phải chuyên gia. Tầng hai có phòng khám chuyên gia đấy. Sao hai người không đi đăng ký phiếu khám chuyên gia? Ở khoa Ngoại này, mỗi ngày chỉ phát tối đa một trăm số.

Đang nói thì có người đưa sổ khám bệnh và phiếu đăng ký cho cô ta. Cô ta chẳng thèm nhìn, cầm bút viết luôn số "100", đưa trả lại người kia rồi lại bảo, nhìn xem, đã đến số "100" rồi đấy chứ!

Tôi nhận ra cô ta cố tình chọc tức mình. Tôi thèm vào mà tức với cô ta. Tức giận chẳng khác nào quá chiều ý cô ta. Lại còn làm "biểu đệ" thêm bất an. Tôi ngược lại cười lớn, kéo tay anh ta nói, cảm ơn vị nữ sĩ này đã nhắc nhở, chúng ta đi đăng ký phòng khám chuyên gia!

"Biểu đệ" đi theo tôi mấy bước, chửi thề một câu cực kỳ khó nghe.

Leo lên tầng hai, chỉ thấy người xếp hàng khám chuyên gia đông đến gần trăm người. Hàng người xếp vòng vèo, theo cầu thang lại vòng xuống tận tầng một. Tấm biển dựng ở cửa sổ ghi rõ——Đã hẹn trước đến ba ngày sau rồi...

Tôi và "biểu đệ" chùn bước.

Tôi nghe thấy cậu ta hậm hực lầm bầm: "Thằng cháu mới đi khám chuyên gia!"

Tôi chỉ chực cười ha hả, nhưng lại sợ bị coi là bệnh tâm thần, lại càng sợ cậu ta thốt ra câu nào dễ rước họa vào thân, hoặc khơi mào cơn giận của mọi người một cách vô cớ, bèn vội kéo tay anh ta rời đi.

Vừa rời khỏi bệnh viện, tôi đã rút thuốc lá ra hút. Tôi cũng cảm thấy trong lồng ngực có một ngọn lửa vô danh đang càn quấy, từng đợt xộc thẳng lên đỉnh đầu.

Cậu ta nói: "Cho tôi một điếu."

Tôi bảo: "Không cho. Cậu không biết hút thuốc, thì đừng bao giờ dính vào mùi thuốc lá."

Cậu ta nói: "Cứ coi như anh cho tôi một viên thuốc an thần đi. Ở Bắc Kinh, tôi còn chưa bước chân vào cửa bệnh viện bao giờ, hôm nay coi như được mởا mang tầm mắt."

Tôi chần chừ một lúc, đưa cho cậu ta một điếu thuốc, bảo: "Bệnh viện vốn là cái chốn như thế, đợi cả buổi sáng, khám bệnh ba phút. Không thì sao lại gọi là 'nhìn bác sĩ' (xem khám bệnh)? Bác sĩ nào mà chẳng đủ ba phút để nhìn bệnh nhân chứ?"

Cậu ta chỉ để điếu thuốc dưới mũi hít hà mấy cái, rồi lại trả cho tôi, bảo: "Không thể học thói hư tật xấu với anh được. Tố Dao mà biết tôi hút thuốc thể nào cũng giận cho xem!"

Tôi làm bộ ngạc nhiên nhìn cậu ta.

Cậu ta hỏi: "Anh nhìn tôi thế làm gì?"

Tôi đáp: "Cảm giác của cậu chuẩn đấy. Đàn ông thế nào cũng phải biết thương xót, quan tâm đến người phụ nữ của mình một chút."

---❊ ❖ ❊---

Chúng tôi hẹn nhau, hai ngày sau lại đến. Tôi bảo tôi cần hai ngày để nhờ vả quan hệ, đi cửa sau. Tôi hứa với cậu ta hai ngày sau quay lại, mọi chuyện sẽ xuôn sẻ hết. Cậu ta tỏ ra rất tin tưởng tôi...

Hai ngày sau tuy chúng tôi không đăng ký được phòng khám chuyên gia, nhưng người chẩn đoán cho cậu ta là một phó chủ nhiệm khoa trung niên. Kết quả chẩn đoán là u sợi thần kinh. Chỉ có điều đằng sau kết quả chẩn đoán lại có một dấu hỏi chấm không thể khẳng định chắc chắn.

Dấu hỏi chấm ấy khiến cậu ta thấp thỏm không yên.

Tôi bảo cậu ta: "Đừng có cả nghĩ vớ vẩn. Chẳng ai đưa ra kết luận dễ dàng cả. Kết luận cuối cùng phải trải qua cắt lát và sinh thiết mới đưa ra được."

Cậu ta nói: "Thế tức là, vẫn còn khả năng là u ác tính sợi (fibrosarcoma), đúng không?"

Tôi sững người, hỏi cậu ta: "U ác tính sợi gì cơ? Tôi chưa nghe bao giờ. Sao cậu lại biết còn có khả năng này?"

Cậu ta đáp: "Tôi tự mua một cuốn sách liên quan về đọc."

“……”

Tôi không kìm được ngắm nghía cậu ta một lúc lâu. Hy vọng có thể nhìn ra trên mặt cậu ta chút gì đó mà tôi không cần nói cũng hiểu.

Cậu ta mang bộ dạng thản nhiên, như không có chuyện gì xảy ra, thậm chí là bất cần đời. Tựa như đã thấu triệt chân lý của sự sống cái chết, đạt đến cảnh giới sinh tử có gì mà phải rơi lệ vậy.

Nhưng tôi nhận ra điều đó không phải là thật.

Nhận ra sự hỗn loạn trong tâm lý hoảng loạn cuống cuồng được che đậy bên dưới vẻ bất cần đời ấy.

Điều này khiến tôi cảm thấy mình giống như kẻ đi áp giải tử tù.

Phòng phẫu thuật ngoại khoa hẹn hai tháng sau cậu ta tới mổ.

Tôi nói với cô gái vốn đã chai lì với cảnh đó, đã thực sự đạt đến cảnh giới bất cần đời kia rằng, đồng chí à, xin cô hãy suy nghĩ cho bệnh nhân một chút, khối u (ở trước mặt cậu ta, tôi tránh nói từ "u cục", vì nó rất dễ khiến người ta liên tưởng trực tiếp đến ung thư) giờ phút nào cũng đang tiếp tục phát triển, nếu quả thực là thứ không tốt, bây giờ chưa di căn, thì hai tháng sau, chẳng phải sẽ di căn rồi sao? Tất cả chúng ta đều nên củng cố ý thức tích cực yêu lấy sinh mệnh chứ! Cô ta bảo, nếu ai ai cũng không ngoại lệ mà đòi được chiếu cố, thì cô ta yêu sao cho xuể? Tôi đã sớm đoán trước. Liền nhét một tập tiểu thuyết mới xuất bản của mình qua ô cửa sổ nhỏ. Thế là ngày phẫu thuật được đẩy sớm lên một tháng hai mươi hai ngày. Cô ta bảo đấy là đã chen hộ chúng tôi một "cáiêm" vào rồi, chứ thêm một ngày cũng không thể sớm hơn được nữa. Còn tôi thì thay mặt "biểu đệ" liên tục nói cảm ơn.

Rời khỏi bệnh viện, đi trên đường, tôi dò hỏi xem cậu ta có muốn đến nhà tôi ở vài ngày không? Cậu ta thoạt đầu bảo sợ làm phiền đến quy luật sinh hoạt của tôi. Tiếp đó lại bảo cậu ta thích ở một mình và sự yên tĩnh. Nói sinh viên cả khoa đi gần hết rồi. Ký túc xá chỉ còn mỗi mình cậu ta, thành chủ nhân rồi. Thích ngủ mấy giờ thì ngủ mấy giờ. Thích dậy mấy giờ thì dậy mấy giờ. Thích hát to thế nào thì hát. Thích viết thì viết. Thích đọc thì đọc. Cậu ta bảo muốn tranh thủ cơ hội này cày thật lực ngoại ngữ một thời gian...

Tôi không ép cậu ta đến nhà mình ở.

Tôi nghĩ, cho dù có lời dặn dò trước lúc lên đường của "biểu đệ" (biểu muội), ngẫm lại lòng mình, tôi đối với cậu ta thế này cũng coi như trọn nghĩa vẹn tình rồi...

Nhưng tôi lại nhớ nhầm ngày cậu ta phẫu thuật. Cậu ta đến nhà tôi sớm hơn ngày tôi nhớ một ngày, tay ôm cẳng tay trái.

Tôi hỏi: "Sao thế, hóa ra là ngày hôm nay à?"

Cậu ta đáp: "Đúng vậy."

Tôi áy náy nói: "Thật tình, tôi cứ nhớ thành ngày mai. Ban đầu tôi còn định đi cùng cậu cơ."

Cậu ta bảo: "Tiểu phẫu thôi, đi cùng cái gì chứ!"

Tôi hỏi ca phẫu thuật diễn ra có thuận lợi không, cậu ta đáp coi như thuận lợi. Bỗng điện thoại reo. Là bác sĩ phẫu thuật cho cậu ta, người bạn của người bạn của người bạn gọi đến vô cùng có trách nhiệm. Trong điện thoại nói rằng, "biểu đệ" căng thẳng đến cực điểm. Lúc nằm lên bàn phẫu thuật, mặt cắt không còn giọt máu. Vừa tiêm thuốc tê xong, đã lặng lẽ tuôn rơi nước mắt. Còn nói: "Bác sĩ, là lành tính hay ác tính, bác sĩ nhất định phải nói thật cho tôi biết nhé! Tôi đã hơn ba năm chưa được về thăm nhà rồi..." Ý ngoài lời là, nếu không may là ác tính, cậu ấy muốn chết ở quê nhà... Nghe lời đối phương, hình như có hàm ý trách cứ tôi — đã là anh em biểu huynh đệ, dẫu sao cũng phải dành thời gian đi cùng chứ...

Tôi chỉ đành vâng vâng dạ dạ, không dám nói gì nhiều, cũng không tiện hỏi thêm, sợ "biểu đệ" nghe thấy lại tăng thêm gánh nặng tâm lý.

Tôi và mẹ không cho cậu ta đi.

Cậu ta cũng không kiên quyết đòi đi lắm.

Hôm đó cậu ta ngủ ở phòng tôi. Tôi đọc sách. Cậu ta cũng đọc sách. Tôi đọc cuốn của nhà văn người Anh Canetti. Cậu ta đọc cuốn . Cuốn sách do chính cậu ta mua và mang đến. Tôi giật lấy cuốn sách đó từ tay cậu ta, nhét cho cậu ta cuốn — tiểu thuyết tiểu sử về Jack London. Cậu ta lật vài trang, bảo chẳng có mấy ý nghĩa, nhét bỗng xuống dưới gối, trở mình ngủ mất. Tôi một mình đọc thêm lúc lâu, cũng cảm thấy trở nên nhạt nhẽo, thấy đã mười một giờ, bèn tắt đèn.

Hôm sau, tôi và mẹ vẫn không cho cậu ta đi. Cậu ta một tay rửa mặt, khăn mặt còn chẳng thể vắt nổi. Một tay ăn cơm, bát còn chẳng thể cầm nổi, sao có thể để cậu ta đi chứ?

Ngày thứ ba, sau khi tất cả chúng tôi đã nằm trên giường, cuối cùng cũng có một buổi trò chuyện tâm sự gan ruột. Hơn nữa, lại bắt đầu từ Tố Dao. Là cậu ta chủ động khơi mào. Vào thẳng vấn đề. Không có bất kỳ sự dạo đầu nào. Tôi cũng chưa từng nói với cậu ta câu nào mang tính khơi gợi. Tôi không muốn làm thế, cũng không nỡ làm thế. Thành thật mà nói, tôi hoàn toàn không muốn nhúng tay vào chuyện của họ, càng không muốn lún sâu thêm nữa. Tôi cho rằng đó hoàn toàn là chuyện cá nhân giữa cậu ta và cô ấy. Cảm thấy bất kỳ biểu hiện và cách thức quan tâm nào cũng đều là thiếu lý trí. Là không khôn ngoan. Đặc biệt là sau buổi trò chuyện dài với Tố Dao, tôi định bụng sẽ giữ trọn vẹn lời hứa trong chuyện này cho đến cùng. Huống hồ, chuyện này vốn chẳng phải khối u trên cánh tay cậu ta...

“Theo anh thấy, em và cô ấy có mấy phần khả năng?”

Dù tôi thừa biết "cô ấy" là ai, nhưng vẫn ra vẻ hồ đồ hỏi ngược lại: "Ai cơ? Chuyện gì mà có với chả không có khả năng?"

Cứ thế bắt đầu.

“Tố Dao. Em và Tố Dao.”

Lảng tránh hình như lại thành có tật giật mình, tôi suy nghĩ một lúc, nói một cách khôn ngoan: "Mưu sự tại nhân. Chuyện tình cảm chẳng có quy luật nào để lần theo cả."

Trong bóng tối, chàng trai chỉ có thể chờ đợi một tờ phiếu xét nghiệm để phán quyết phán quyết cuối cùng của số phận này, trầm mặc không rõ đầu đuôi.

Tôi cảm thấy câu trả lời của mình thực ra chẳng khác nào không trả lời.

Tôi lại bảo: "Ngủ đi!"

Cậu ta nói: "Không buồn ngủ."

Tôi bảo: "Tôi buồn ngủ lắm rồi. Tôi ngủ trước đây."

Cậu ta phát ra một tiếng "ừ".

Thực ra tôi chẳng buồn ngủ chút nào.

Tôi cảm thấy vào lúc cậu ta cuối cùng cũng sinh lòng muốn thổ lộ điều gì với người khác, thái độ "cháy nhà hàng xóm bình chân như vại" của tôi quả thực quá mức khôn lỏi.

Tôi hỏi: "Rốt cuộc cậu có thích Tố Dao không?"

Cậu ta nói: "Thích."

Tôi bảo: "Đã thích cô ấy, sao còn hết lần này đến lần khác làm tổn thương trái tim cô ấy."

Cậu ta đáp: "Tôi cũng không biết."

“Vậy còn đối với cô ấy, đối với chính mình, cậu còn biết những gì?”

“Tôi biết... Tôi đối với cô ấy, còn chẳng bằng một nửa cô ấy đối với tôi...”

“Những chuyện bất công, đến cuối cùng đều chỉ có thể đi đến mặt trái.”

“Cô ấy... cô ấy đã nói với anh, chuyện giữa chúng tôi đã đi đến mặt trái rồi sao?”

“Cô ấy chẳng nói gì với tôi cả. Tôi chỉ nói chung chung vậy thôi.”

“Có lúc tôi rất yêu cô ấy, rất biết ơn cô ấy. Nhưng có lúc tôi cũng hận cô ấy.”

“Hận cô ấy?……”

“Không phải hận con người cô ấy. Mà là hận sự vô tư vô lo của cô ấy. Cô ấy cũng từng làm tổn thương tôi hết lần này đến lần khác. Chính cô ấy không hề hay biết. Nhưng quả thực đã làm tổn thương tôi. Thường là, khi tình yêu và lòng biết ơn của tôi dành cho cô ấy chiếm ưu thế trong lòng, thì cô ấy lại vô tình dùng sự vô tư vô lo của mình để làm tổn thương tôi. Có một hôm cô ấy sinh nhật, cô ấy mời hơn chục người bạn học thân thiết đi chơi một ngày. Không biết cô ấy thông qua mối quan hệ của một vị lão thuộc hạ nào của bố cô ấy, mà lại kiếm được một chiếc xe ô tô mini, lái đến cổng trường, đón mọi người đi chơi Bát Đạt Lĩnh. Hơn nữa, chuyện ăn uống dọc đường của đám bạn học đó, cô ấy bao trọn gói hết. Thậm chí còn mua cho các bạn nam hút thuốc, mỗi người một hộp thuốc lá ‘Lạc đà’ (Camel). Hôm đó cô ấy tiêu gần hai trăm tệ. Hôm đó cô ấy là người tỏ ra vui vẻ nhất. Cô ấy bảo đời người chỉ có một sinh nhật tuổi mười chín. Cô ấy bảo sợ qua tuổi hai mươi, sẽ chẳng thể tìm lại được cái cảm giác tựa như mãi mãi là cô bé tiểu thư hồi mười chín tuổi nữa. Gần hai trăm tệ đấy! Cả một kỳ nghỉ hè, tôi ở Hoàng Sơn cũng chỉ kiếm được sáu bảy trăm tệ. Giữa chừng tôi viện cớ rời đi, lên xe buýt quay về trường. Đương nhiên, tôi thừa nhận mình làm thế là không đúng. Khiến họ đi khắp nơi tìm kiếm tôi. Trong lòng cô ấy rất sốt ruột. Phá hỏng tâm trạng tuyệt vời trong ngày sinh nhật của cô ấy. Cũng khiến tất cả mọi người ít nhiều đều cảm thấy có chút mất hứng. Nhưng anh có biết tôi nghĩ gì trên xe buýt không? Hễ nghĩ đến điều đó, trong lòng tôi lại cảm thấy hả dạ. Hả dạ như thể cuối cùng cũng trả thù được người mà anh hằng muốn trả thù vậy. Đôi khi tôi cũng không hiểu nổi bản thân mình đang xảy ra chuyện gì nữa. Tôi cảm thấy trong lòng mình luôn chôn giấu một ý niệm muốn trả thù ai đó. Sẵn sàng xúi giục tôi hận một số người. Thầm trù ẻo một số người bị ô tô tông chết. Mắc bệnh thế kỷ AIDS, hay ung thư. Hoặc vì một chuyện gì đó, sau một đêm thân bại danh liệt, chẳng còn chút tương lai nào để nói nữa. Ngày thường bọn họ nào có đắc tội với tôi, lại càng không xâm phạm gì tôi, nhưng họ ở mọi mặt đều ưu việt hơn tôi. Nếu xung quanh anh có rất nhiều người như thế, đôi khi anh cũng sẽ không thể chịu đựng nổi. Anh không bị xâm phạm nhưng anh vẫn cứ cảm thấy mình bị xâm phạm. Anh không bị tổn thương nhưng anh vẫn cứ cảm thấy mình bị tổn thương. Anh không bị áp bức nhưng anh vẫn cứ cảm thấy mình bị áp bức. Thường xuyên, người ta vốn chẳng cố ý châm chọc giễu cợt anh, nhưng anh không tài nào thuyết phục nổi bản thân mình. Anh sẽ cảm thấy từng lời nói việc làm của họ, chính là cố tình châm chọc giễu cợt anh. Anh sẽ cảm thấy lúc nào, ở đâu cũng chịu đựng những tổn thương tàn nhẫn và nghiêm trọng. Tựa như anh lúc nào cũng chìm đắm trong nỗi thống khổ tột cùng. Đối với Tố Dao, tôi thực sự vừa hận vừa yêu. Có đôi khi tôi cảm thấy, trong cõi u minh tựa như có một vị chúa tể nào đó. Hắn thương hại tôi, dẫn dắt Tố Dao - một cô gái như thế đến trước mặt tôi, ban cho tôi quyền lực được yêu cô ấy, và quyền lực được cô ấy yêu. Nhưng vào những lúc khác, tôi lại cảm thấy, vị chúa tể trong cõi u minh ấy, thực ra ban cho tôi, dường như lại càng là quyền lực căm hận và quyền lực trả thù. Hắn tựa như thường xuyên nói với tôi rằng, đã trong lòng anh có sự căm hận, vậy thì anh hãy càng cụ thể mà căm hận cô gái này đi! Đã trong lòng anh có sự thôi thúc muốn trả thù gì đó, vậy thì anh hãy càng cụ thể mà thực hiện hành vi trả thù cô gái này đi! Sự quan tâm, chăm sóc, dịu dàng và lời an ủi cô ấy dành cho tôi, còn chẳng lớn bằng khoái cảm thu được sau khi tôi làm tổn thương cô ấy. Tôi làm tổn thương cô ấy, tựa như đồng thời làm tổn thương tất cả mọi thứ. Tựa như có thể xóa sổ mọi tổn thương hướng về tôi vậy. Thế nhưng loại khoái cảm ghê tởm ấy thường lại chỉ là chốc lát, tuyệt đối chẳng kéo dài hơn thời gian anh hút xong một điếu thuốc...”

Tôi mò mẫm tìm bao thuốc lá và bật lửa trong bóng tối, bập bùng hút lấy hút để. Nói lời thật lòng đôi khi là thứ khiến người ta rất sợ hãi. Đôi khi nói lời thật lòng cần đến một thứ dũng khí nào đó, nghe lời thật lòng cũng cần đến một thứ dũng khí nào đó. Bởi vì những lời thật lòng về tâm hồn con người, đặc biệt là những lời thật lòng về những góc khuất nguyên thủy nhất ở sâu thẳm nhất trong tâm hồn con người, quả thực có sức mạnh đâm thẳng vào tâm hồn chính anh. Một số lời thật lòng giống như tấm gương, chiếu rọi ra những điều mà trước kia anh không dám thừa nhận, những góc khuất nguyên thủy nhất ở sâu thẳm trong tâm hồn anh, hoặc từng có và vẫn đang có. Bản thân tôi ngược lại cảm thấy luống cuống tay chân, càng không biết nên nói những lời gì với cậu ta cho phải lẽ. Tôi hút thuốc, là để bản thân mình trấn tĩnh lại trong bóng tối, cũng là để chứng minh cho cậu ta thấy, tôi đang cung kính lắng nghe chứ không hề ngủ gật. Tôi có thể hiểu được cậu ta. Tôi cũng từng trải qua quá trình tâm lý tương tự. Thậm chí, chính bản thân tôi cũng từng sinh ra nguyện vọng muốn thổ lộ với người khác, và đã từng thổ lộ với người khác rồi. Thế nhưng, điều đó không hoàn toàn giống với lời thổ lộ của cậu ta. Tôi thổ lộ rất tỉ mỉ, theo kiểu đường nét mềm mại. Rất tỉ mỉ, thực ra chính là sự suy tính đầy kỹ thuật. Theo bản năng, thông qua sự ngụy trang của một vài tiểu tiết vụn vặt, khiến người nghe cảm thấy, thành phần thấu hiểu nhiều hơn một chút. Từ đó thành phần đáng yêu nhiều hơn một chút. Cuối cùng vẫn giữ được nét đáng yêu. Vừa thỏa mãn nguyện vọng được thổ lộ của bản thân, đồng thời cũng vừa nhận được sự khoan thứ từ người khác. Trong trường hợp này, ngay cả sự sám hối dường như cũng thật tinh tế, kiều diễm. Còn lời thổ lộ của cậu ta, lại rành rành là đường nét cứng nhắc, thô ráp, thẳng thừng, loại bỏ đi tất cả mọi tiểu tiết vụn vặt, trúng đích, trần trụi. Nếu nói cũng có ý vị sám hối trong đó, thì đó cũng chỉ mang tính chất phụ họa mà thôi. Không, cậu ta hình như không phải vì sám hối mới thổ lộ, mà hình như là vì thổ lộ nên mới sám hối. Hoặc, đơn giản chỉ là thổ lộ mà thôi... Hoàn toàn không tồn tại nhân tố sám hối hay không sám hối mà tôi từng nghĩ tới...

Trong bóng tối, giọng điệu của cậu ta rất máy móc.

“Tôi biết, cô ấy nhất định đã nói với anh, cũng nói với bác gái rằng, tôi đã làm tổn thương cô ấy hết lần này đến lần khác thế nào. Thực ra điều đó không hoàn toàn đúng. Ý của tôi là, tôi luôn cảm thấy, tôi căn bản không thể làm tổn thương nổi cô ấy. Phải thừa nhận, tôi từng khiến cô ấy khóc, từng khiến cô ấy rơi lệ. Nhưng, hễ cứ rời khỏi tôi, chỉ vài phút sau, cô ấy lại vô tư vô lo như thế. Tôi đố kỵ hận thù cô ấy, vô cùng đố kỵ hận thù điểm vô tư vô lo ấy của cô ấy. Kết quả là, những tổn thương tôi gây ra cho cô ấy, lại toàn bộ trút lên đầu chính tôi. Điều này khiến tôi cảm thấy vô cùng bất công. Tôi luôn cảm thấy, cô ấy mãi mãi ưu việt hơn tôi. Sự quan tâm, chăm sóc và dịu dàng cô ấy dành cho tôi, dường như càng mang tính chất của một sự bố thí. Cô ấy càng khoan dung và nhẫn nhịn tôi, càng chịu đựng uất ức cầu toàn bao nhiêu, lại càng đồng nghĩa với việc, thứ bố thí ấy tựa như quyền lực đương nhiên thuộc về cô ấy. Còn tôi, ngay cả quyền không chấp nhận, dường như cũng bị tước đoạt đi trong vô hình. Có lúc tôi thậm chí còn ác ý nghĩ, nếu cô ấy là thiên sứ, vậy thì hãy để tôi làm bạo chúa đi! Nhưng tôi lại chẳng thể làm nổi một vị bạo chúa. Còn cô ấy làm thiên sứ, lại làm gần như không thể chê trách vào đâu được. Nếu tôi cứ một mực căm hận cô ấy, vậy có lẽ mối quan hệ giữa chúng tôi, sớm đã có một sự chấm dứt rồi. Nhưng tôi lại hoàn toàn không thể một mực căm hận cô ấy. Bởi vì, một khi mất đi sự quan tâm, chăm sóc và dịu dàng mà cô ấy dành cho tôi, tôi lập tức sẽ rơi vào trạng thái mất hồn mất vía, tựa như sống không nổi một ngày. Có lúc tôi lại vô cùng sợ hãi cô ấy thực sự mặc kệ tôi. Tôi đã không thể thiếu phần dịu dàng ấy của cô ấy. Tôi giống như một đứa trẻ cần được ôm ấp cần được bú mớm, cần đến phần dịu dàng ấy của cô ấy. Mà tôi luôn cảm thấy, thứ cô ấy dành cho tôi, thực ra giống loại tình cảm mà cô bé dành cho con búp bê vải hơn. Tôi không hề hoài nghi tình cảm cô ấy dành cho tôi là giả dối. Tôi hoàn toàn tin tưởng, tôi hoàn toàn rõ đó là thật. Rất thật rất thật. Loại tình cảm mà cô bé dành cho con búp bê vải, chính là thứ tình cảm rất thật rất thật. Bọn chúng đôi khi đóng vai chị gái, người mẹ nhỏ, dì nhỏ của búp bê vải v.v.. Vừa chân thực lại vừa cảm động. Nhưng tôi đâu phải là một con búp bê vải! Mà tôi, cũng muốn đóng vai trò là người giám hộ của một cô gái chứ! Cũng từng mơ mộng bản thân là một hoàng tử bạch mã, khiến một cô bé nào đó sùng bái và dựa dẫm vào mình chứ! Thế nhưng tựa như số trời đã định, tôi chỉ xứng đáng đóng vai trò của một con búp bê vải mà thôi. Rất nhiều lần tôi nghĩ, cô ấy mà là Muội Muội Ếch thì hay biết mấy. Anh chắc chắn biết Muội Muội Ếch là ai. Tôi không tin những điều tôi từng kể với cô ấy, cô ấy sẽ giữ kín như bưng, không nói với anh nửa lời. Nhưng cô ấy không phải Muội Muội Ếch. Muội Muội Ếch cũng không phải là cô ấy. Muội Muội Ếch vĩnh viễn sẽ không biết lên đại học là mùi vị thế nào. Vĩnh viễn sẽ không thể vô tư vô lo như cô ấy. Vĩnh viễn sẽ không coi tôi là con búp bê vải. Nếu tôi ở bên Muội Muội Ếch, cho dù là cùng nhau trở thành sinh viên đại học, hay là cùng nhau lưu lạc khắp nơi, thậm chí là cùng nhau đi ăn mày, Muội Muội Ếch đều sẽ coi tôi là một người anh trai, là một người mà cô ấy buộc phải dựa dẫm vào, là một người đàn ông. Có đôi khi tôi cố gắng coi cô ấy là Muội Muội Ếch, đảo ngược lại mối quan hệ mà tôi cho là đã bị đảo lộn. Thế nhưng lại không thể làm được. Suy cho cùng, kẻ giống búp bê vải hơn vẫn là tôi. Kẻ giống người giám hộ hơn, giống chị gái, người mẹ nhỏ, dì nhỏ hơn, vẫn là cô ấy. Kẻ giống thiên sứ hơn, cũng là cô ấy. Tôi chỉ có thể lựa chọn giữa một cậu em trai hiểu chuyện, hoặc một cậu em trai không hiểu chuyện mà thôi. Chỉ có thể chọn một trong hai. Về mặt tinh thần, về mặt tâm lý, về mặt quyền chủ động, về mọi mặt, kẻ chiếm địa vị ưu việt, dường như chỉ có thể là cô ấy. Tôi làm tổn thương cô ấy, nhưng chẳng tổn hại chút nào đến địa vị ưu việt của cô ấy. Cô ấy khóc, cô ấy rơi lệ, cô ấy uất ức, đau lòng, nhưng ở trước mặt tôi, vẫn cứ ở địa vị ưu việt. Tôi nghĩ, cô ấy đối với tôi rộng lượng đến thế, nhẫn nhịn đến thế, chịu đựng uất ức cầu toàn đến thế, có lẽ chính là vì cô ấy hiểu rõ mười mươi, tường tận rành mạch rằng, giữa tôi và cô ấy, cô ấy mãi mãi ở địa vị ưu việt. Địa vị này, là thứ mà tôi hoàn toàn không thể đảo ngược, cũng không thể lay chuyển. Tôi muốn nắm giữ lại quyền cự tuyệt, nhưng ngẫm lại cho kỹ, cô ấy vốn dĩ chưa từng tước đoạt quyền lợi này của tôi. Chỉ có thể nói là chính tôi đã từ bỏ quyền lợi ấy. Ngoại trừ tình cảm và phần dịu dàng ấy của cô ấy ra, tôi không chấp nhận bất kỳ sự bố thí nào khác từ cô ấy nữa, chính là bởi vì, tôi không muốn từ bỏ triệt để, không chừa lại cho mình một chút đường lui nào. Có mấy lần, tôi thực sự muốn hét lớn vào mặt cô ấy: 'Cút mẹ mày đi', thế nhưng tôi căn bản không có lấy dũng khí này. Tôi sợ hãi việc thực sự đánh mất cô ấy, lớn hơn rất nhiều so với hy vọng muốn thoát khỏi cô ấy. Tôi yêu cô ấy, nhưng lại cảm thấy yêu thật nhục nhã. Tôi hận cô ấy, nhưng lại cảm thấy hận đến mức không bằng con người, không hợp đạo lý. Tôi cũng từng thầm trù ẻo cô ấy mắc bệnh ung thư, bệnh thế kỷ AIDS, bệnh bạch cầu gì gì đó. Không phải vì hận cô ấy đến mức độ này, cũng không phải vì tâm hồn tôi tà ác đến mức độ này. Mà là bởi vì, có như vậy, có lẽ chỉ có như vậy, tình yêu tôi dành cho cô ấy mới có thể trở nên tự tôn hơn một chút. Tôi có thể chăm sóc cô ấy từng chút một. Tôi có thể hầu hạ cô ấy chu đáo mọi bề. Tôi sẽ luôn túc trực bên cạnh cô ấy, nhẹ nhàng nắm lấy tay cô ấy ban cho cô ấy sự dịu dàng vô tận. Thậm chí, tôi có thể không chút do dự mà kết hôn với cô ấy. Cô ấy vì đau đớn bệnh tật mà hờn dỗi cáu kỉnh, tôi cũng có thể nhẫn nhục chịu đựng. Cái gì cũng được. Chỉ cần tôi được trải nghiệm một thứ ưu việt. Một thứ ưu việt mà đối phương không thể thay đổi, không thể lay chuyển, không thể tổn thương, không thể đả kích. Dẫu cho chỉ có thể sở hữu nó ở trước mặt một mình cô ấy. Dẫu cho cả đời chỉ có thể trải nghiệm được một lần! Thế nhưng tôi biết đây chẳng qua chỉ là ảo tưởng của tôi mà thôi. Ai cũng sẽ có một thứ cảm giác ưu việt nào đó, riêng tôi thì không. Sau khi trở thành sinh viên đại học tôi vẫn không có. Lúc thi đại học tôi là người đứng thứ tư toàn huyện đấy chứ! Điểm này ở trường đại học dường như chẳng đáng nhắc tới. Mà tôi vẫn cứ phải phiền muộn vì vấn đề phân bổ việc làm sau khi tốt nghiệp. Phiền muộn đến mức ban đêm mất ngủ uống thuốc an ngủ cũng chẳng tài nào ngủ nổi. Tôi hâm mộ người khác đố kỵ người khác trù ẻo người khác, trong đó bao gồm cả cô gái đối xử tốt với tôi, mà bây giờ sự trù ẻo ấy dường như đã ứng nghiệm lên người chính tôi. Tôi biết kết quả xét nghiệm sẽ là gì rồi. Bằng không thì lúc tôi ngồi dậy từ trên bàn phẫu thuật, bác sĩ phẫu thuật đã không nhìn tôi với ánh mắt thương hại đến thế...”

Tôi nhẹ nhàng không tiếng động bước xuống giường, đi vào phòng vệ sinh vắt một chiếc khăn mặt ướt cho cậu ta.

Tôi bảo: "Cho cậu này."

Cậu ta hỏi: "Cái gì thế?"

Tôi đáp: "Khăn ướt, lau mặt đi."

Cậu ta bảo: "Tôi không có thói quen này."

Tôi cứ nghĩ cậu ta chắc chắn đã nước mắt đầm đìa, kiên quyết nói: "Vẫn nên lau cho sạch. Khóc xong mà cứ để thế đi ngủ, sáng mai thức dậy mắt sẽ sưng húp lên đấy."

Cậu ta bảo: "Tôi có khóc đâu."

Tôi bảo: "Cần gì phải cố chấp ở điểm này chứ?"

Cậu ta nói: "Buồn cười thật. Sao anh lại cứ nghĩ là tôi khóc nhỉ?"

Tôi muốn bật đèn, xem rốt cuộc cậu ta có khóc hay không. Nhưng lại cảm thấy làm thế, chỉ càng khiến bản thân mình trở nên nực cười hơn mà thôi. Cậu ta bảo cậu ta không khóc, tôi cũng đành coi như cậu ta không khóc vậy.

Tôi đặt chiếc khăn ướt lên tủ đầu giường. Tiếp đó, đi rót nửa cốc nước, kéo ngăn kéo tủ đầu giường ra, lấy thuốc an thần, ra lệnh: "Uống đi."

Cậu ta hỏi: "Lại cái gì nữa đây?"

Tôi bảo: "Thuốc an thần với nước."

Cậu ta trầm mặc chốc lát, nói: "Anh không nhầm thành loại thuốc nào khác đấy chứ?"

Tôi bảo: "Yên tâm. Không nhầm được đâu. Ngăn kéo của tôi, chỉ có thuốc an thần thôi."

Cậu ta lại hỏi: "Loại nào thế?"

Tôi đáp: "An Bất Định."

"Tôi chưa uống loại này bao giờ, một lần uống mấy viên?"

"Hai viên."

"Thế thì, tôi có lẽ phải uống ba viên rồi."

Thế là tôi lại bỏ thêm một viên nữa.

Đợi cậu ta uống xong, tôi mới leo lên giường.

"Nếu ngày mai tôi không dậy nổi, thì mất mặt cỡ nào chứ!"

Tôi bảo: "Tỉnh lúc mấy giờ thì cậu tự dậy lúc mấy giờ thôi. Chẳng ai ép buộc lôi cậu dậy đâu."

"Thế ý anh là, chúng ta phải đi ngủ rồi phỏng?"

Tôi chỉ tay vào chiếc đồng hồ dạ quang nhỏ trên tủ đầu giường: "Cậu nhìn xem, đã hơn một giờ rồi, nên ngủ thôi. Cậu đừng nghĩ ngợi nhiều thế, ung thư với chả không ung thư! U ác tính sợi, xác suất chỉ là vạn phần thôi mà, việc gì cứ phải trù ẻo nhét nó lên người mình chứ?"

Cậu ta bảo: "Nếu thực sự là nó, thì số phận quá đỗi tàn nhẫn lạnh lùng với tôi rồi."

Cách một lát, lại nói: "Sinh tử có mệnh, phú quý tại thiên. Mặc kệ bố con thằng nào nữa, ngủ!..."

Tôi bảo: "Đừng nghĩ gì đừng nói gì nữa, thực sự muộn lắm rồi. Ngủ đi!"

---❊ ❖ ❊---

Mãi trưa hôm sau cậu ta mới tỉnh.

Đôi mắt cậu ta đã chứng minh cho tôi thấy, tối qua quả thực cậu ta không hề khóc. Có lẽ từng rơi vài giọt nước mắt. Nhưng thế thì không được tính là khóc.

Sau bữa trưa, cậu ta khăng khăng đòi về trường.

Mẹ và tôi, đều giữ cậu ta lại. Mẹ là thật lòng muốn giữ cậu ta lại. Còn tôi, là biểu thị muốn giữ lại, không thể nói là giả dối. Nhưng cũng chỉ là một dạng biểu thị mà thôi, dẫu sao cậu ta cũng không phải một đứa trẻ. Không trò chuyện bầu bạn với cậu ta, thì có vẻ lạnh nhạt. Mà bầu bạn trò chuyện với cậu ta, lại chẳng có nhiều thời gian rảnh rỗi nhường ấy. Chi bằng để cậu ta thầm cảm thấy bị lạnh nhạt, còn hơn là cứ thuận theo tự nhiên cho rồi...

Lúc tôi tiễn cậu ta, cậu ta cầu xin tôi, đến ngày hẹn hãy đi xem kết quả xét nghiệm hộ cậu ta. Cậu ta bảo, nếu là lành tính, thì hãy gọi điện thoại báo cho cậu ta biết. Nếu là ác tính, thì không cần báo cho cậu ta biết nữa. Quá một ngày mà không nhận được tin tức gì, tự khắc cậu ta sẽ hiểu. Cậu ta hy vọng để tự mình hiểu lấy, chứ đừng nói thẳng trước mặt cậu ta...

Tôi dùng bút đỏ khoanh tròn ngày đó thật nổi bật lên lịch treo tường, chỉ sợ bản thân quên mất. Đồng thời dặn đi dặn lại mẹ, giúp tôi ghi nhớ ngày đó...

Không phải.

Không phải u ác tính sợi.

Nói cách khác không phải ác tính.

Là —— u mỡ xơ (fibrolipoma). Có thể hiểu là u mỡ bị xơ hóa, hoặc u mỡ xơ hóa. Tóm lại, dẫu chẳng phải thứ gì tốt đẹp, nhưng dẫu sao cũng chẳng dính dáng gì đến ung thư. Huống hồ bác sĩ còn bảo đảm với tôi rằng, hiệu quả phẫu thuật rất lý tưởng, cắt bỏ sạch sành sanh.

Tôi đạp xe thẳng từ bệnh viện đến trường để báo tin cho cậu ta. Hồng thời giao phiếu xét nghiệm cho cậu ta. Bảo nếu cậu ta không tin, có thể lật xem lại cuốn sách cậu ta mua, xem có viết rõ u mỡ xơ là thế nào không...

Cậu ta bảo đương nhiên là hoàn toàn tin tưởng.

Dường như để chứng minh bản thân hoàn toàn tin tưởng, cậu ta cầm cuốn sách viết về ung thư mà mình đã mua, nói chính xác hơn là cuốn sách nhỏ phổ cập kiến thức về ung thư, xé làm đôi ngay trước mặt tôi, ném thẳng vào sọt rác.

Trải qua phen hồn xiêu phách lạc này, tâm trạng không chỉ của cậu ta bỗng chốc trở nên khoáng đạt tươi vui, mà ngay cả tôi cũng có cảm giác trút bỏ được gánh nặng nghìn cân. Tôi đề nghị mời cậu ta bữa cơm, để tỏ lòng chúc mừng. Cậu ta vội vã nói: "Không không không, phải là tôi mời anh. Phải là tôi mời anh mới đúng. Làm anh phiền phức biết bao nhiêu!" Vừa nói vừa mở khóa ngăn kéo bàn làm việc thuộc về mình, thò tay vào rút ba mươi tệ nhét vào túi.

Tôi thầm nghĩ, "biểu đệ" ơi là "biểu đệ", chút tiền ấy của cậu kiếm được dễ dàng lắm chắc? Cậu việc gì phải cố tỏ ra kiên cường trước mặt người khác như thế làm gì...

Hôm đó, chúng tôi còn uống mỗi người gần một chai bia. Đối với tôi mà nói, tuyệt đối là một hành động vĩ đại ngoại lệ, gần như liều mạng để chiều lòng quân tử. Còn đối với cậu ta, rõ ràng cũng đã hạ quyết tâm uống say túy lúy một trận.

Lúc chúng tôi cạn chén lần cuối cùng, cậu ta bảo: "Chúng ta chúc mừng Tố Dao đi?"

Tôi đáp: "Đúng, đúng. Chúc mừng cô ấy."

Cậu ta nhường nhịn nói: "Anh chúc một câu đi!"

Tôi bảo: "Cậu, cậu chứ! Đương nhiên phải là cậu chúc chứ!"

Cậu ta ngẫm nghĩ rất lâu một cách trang trọng rồi mới nói: "Tố Dao, chúng tôi chúc cậu vạn sự như ý!"

Tôi lại bồi thêm một câu "Mọi sự suôn sẻ!"

Mặc dù lúc đó đầu óc tôi đã hơi nặng trịch bềnh bồng, nhưng vẫn chưa đến nỗi hồ đồ. "Mọi sự suôn sẻ", bao hàm cả lời cầu nguyện của tôi cho một việc mà cô ấy đang tiến hành — vấn đề phân bổ nơi làm việc của cậu ta.

Tôi đương nhiên không cho phép cậu ta tiêu ba mươi tệ đó.

Tôi ôm vai bá cổ cậu ta, tiễn cậu ta về lại ký túc xá. Lúc chia tay, cậu ta ấp úng nói: "Biểu vương (biểu huynh), tôi... những điều từng kể với anh... hy vọng anh... tuyệt đối đừng kể lại với Tố Dao. Tâm trạng của tôi mấy ngày hôm đó tệ quá. Một số suy nghĩ, thực ra chỉ là tiềm thức, bị tôi phóng đại lên, tức là bị thổi phồng lên rồi. Không được tính đâu."

Tôi vỗ vai cậu ta bảo: "Cậu yên tâm. Cậu chưa từng kể gì với tôi cả."

Cậu ta ngượng ngùng cười...\n\nTố Dao sau khi quay lại trường, quả nhiên mang tặng mẹ một chiếc gối thuốc, cũng chẳng biết rốt cuộc cô ấy có nhận số tiền mà mẹ cứ kiên quyết nhét cho hay không. Chuyện giữa cô ấy và mẹ, tôi cũng không muốn hỏi nhiều.

Nghe cách cô ấy nói chuyện, chắc chắn không hề hay biết chuyện cánh tay của "biểu đệ" từng trải qua phẫu thuật. Tôi cũng bèn thôi không nhắc đến. Lại âm thầm dặn dò mẹ cũng đừng nhắc.

Trông cô ấy có vẻ rất vui, cô ấy bảo cô ấy đã bắt đầu có cái nhìn khác xưa đối với "biểu đệ". Cô ấy bảo thật không ngờ trong một kỳ nghỉ đông, trình độ tiếng Anh của cậu ta lại tiến bộ nhiều đến thế. Cô ấy bảo cậu ta còn dịch cả mấy bài thơ. Có một tòa soạn viết thư hồi âm tỏ ra rất hứng thú, hỏi xem cậu ta có thể dịch thêm vài bài nữa không, tập trung đăng tải, có lẽ sẽ gây được chút tiếng vang nho nhỏ. Cô ấy bảo cậu ta đã bắt đầu dịch lại rồi. Tính dịch mười bài, tổng cộng hơn hai trăm dòng lận đấy!

Tôi bảo cô ấy nhắn lại với cậu ta rằng, nếu tòa soạn đó cuối cùng lại không đăng nữa, tôi sẵn sàng giới thiệu hộ cậu ta sang các tòa soạn khác...

Vài ngày sau tôi đi công tác phương Nam. Mẹ nhắc nhở tôi, đó là tỉnh thành quê hương của "biểu đệ". Mẹ bảo người ta đã hơn bốn năm không về quê rồi, con nhất định phải bớt ra mấy ngày, thay mặt đứa nhỏ về quê người ta thăm nom một chuyến. Lại lục ra từng món quần áo cũ, bắt tôi mang đi. Tôi kiên quyết bảo một món cũng không mang, nhưng để làm mẹ vui hơn, tôi hứa tôi sẽ ghé qua quê nhà của cậu ta xem sao. Tôi không hỏi địa chỉ của "biểu đệ". Cũng căn bản không nhắc đến chuyện này trước mặt cậu ta. Địa chỉ là do Tố Dao chép cho tôi. Cô ấy bảo cô ấy cũng giấu cậu ta, chép lại từ phong bì thư ở nhà gửi lên của cậu ta. Cô ấy bảo tuyệt đối không được nhắc đến. Nhắc đến rồi cậu ta lại đâm ra cả nghĩ lo xa...

Ngừa khi vừa đến nơi ngoại tỉnh, tôi liền đề xuất với đơn vị tiếp đón rằng — chuyến đi này muốn đi thăm một người họ hàng. Bọn họ biết tôi là người miền Bắc. Biết nguyên quán của tôi là Sơn Đông. Lấy làm lạ không hiểu sao tôi lại có họ hàng ở Tây Nam, lại còn ở một vùng núi hẻo lánh giáp ranh ba tỉnh. Tôi nói là họ hàng của họ hàng, mong mọi người thành toàn cho tôi một chuyến. Bọn họ bảo đây cũng chẳng phải chuyện khó khăn gì. Sắp xếp vào ba ngày trước chuyến trở về là được. Bảo đi tàu hỏa thì không đến thẳng được, phải đổi xe. Đổi xe rồi cũng vẫn chưa đến được, còn phải đi ô tô khách sáu bảy tiếng đồng hồ nữa. Bảo đến đó vẫn chưa tới nơi, chỉ có thể đến huyện lỵ. Từ huyện lỵ đi tiếp thế nào xuống dưới, đường xa ra sao, thì không phải là chuyện họ biết nữa. Bảo chi bằng cử cho tôi một chiếc xe jeep, đi đường bộ, đến huyện lỵ rồi, lại phiền ai đó ở huyện dẫn đường giúp. Bảo ba ngày đi về là dư dả rồi... Tôi tự khắc vô cùng biết ơn...

Buổi sáng ngày lên đường, trời bắt đầu đổ mưa. Tiểu tài xế là một lính xuất ngũ chuyển ngành. Cậu ta bảo hễ trời mưa, có mấy đoạn đường đất cát có thể sẽ bị phong tỏa, hỏi tôi có còn đi nữa không? Tôi bảo xe đến trước núi ắt có đường. Tiểu tài xế bèn không nói thêm gì nữa.

May thay, dọc đường suôn sẻ. Tiểu tài xế là một tay lái lụa thích phóng nhanh. Nhưng mặt đường luôn làm khó cậu ta. Vào lúc năm giờ chiều, muộn hơn dự kiến hơn một tiếng đồng hồ, chúng tôi cuối cùng cũng đến được huyện lỵ. Có lẽ vì dầm mưa tuyết rét mướt cả một ngày trời, cái thị trấn huyện lỵ ấy khiến người ta bất chợt sinh ra cảm giác tiêu điều xơ xác. Bị bao trùm bởi một màu u ám ướt át, chẳng có lấy mọt chút sinh khí. Xe jeep chạy thẳng đến trước một tòa viện tàn tạ thì dừng lại. Cạnh chẳng thấy bóng dáng một ai. Xuống xe, nhìn tấm biển, mới biết là thư viện văn hóa (phòng văn hóa). Tôi cảm thấy thị trấn huyện lỵ này quen quen. Tựa như đã đến đây không chỉ một lần. Trong cơn bối rối bỗng chốc ngộ ra đôi chút. Là vì xem phim và truyền hình ảnh quá nhiều. Quay một số trấn huyện biên ức trước giải phóng, đại đa số đều chọn cảnh ở những nơi thế này.

Người tiếp đón chúng tôi là phó chủ nhiệm thư viện. Cậu ta bảo chủ nhiệm vừa mới qua đời cách đây chưa lâu, cậu ta bảo cậu ta đã đợi chúng tôi rất lâu rồi. Cậu ta bảo đi tiếp phía trước toàn là đường núi, trời sắp tối rồi, lại đang mưa, chi bằng ở lại trọ một đêm đã.

Thế là chúng tôi đành phải ở lại trọ. Ăn tối xong, tiểu tài xế đã ngủ từ sớm, phó chủ nhiệm sợ tôi cô đơn nên ở lại trò chuyện cùng tôi, cậu ta bảo phòng văn hóa này trước kia từng là nhà của một vị huyện lệnh, huyện lệnh được thăng chức cao hơn chuyển lên địa khu. Các đoàn thể công hội phụ nữ tranh giành chỗ này. Vừa khéo tỉnh ban hành một công văn — tăng cường công tác văn hóa giải trí mang tính quần chúng ở địa phương, kết quả là phê chuẩn giao cho phòng văn hóa, cậu ta bảo bằng không thì phòng văn hóa đời nào chiếm được món hời này. Tôi ngấm ngầm giữ lại một tâm nhãn, hỏi cậu ta phòng văn hóa có còn cần nhân tài nữa không, ví dụ như sinh viên tốt nghiệp khoa Trung văn của các trường đại học tên tuổi. Cậu ta liên tục xua tay bảo không thiếu không thiếu. Cậu ta bảo đừng nhìn một nơi tàn tạ thế này, nhưng cái mác thì có giá trị đấy! Phòng văn hóa, dẫu sao cũng gắn liền với văn hóa, dẫu có nghèo nàn thế nào đi nữa, thì vẫn cứ gắn liền với văn hóa. Đã có hơn chục người ứng cử đang đợi cậu ta gật đầu rồi. Mà cậu ta thì đang đau đầu nhức óc vô cùng. Bởi vì trên cấp chỉ cho phép mở rộng hai chỉ tiêu biên chế. Cậu ta bảo xử lý không khéo, liệu cậu ta có thể đường hoàng làm chủ nhiệm thư viện hay không còn khó nói. Cậu ta bảo lỡ như lại phái đến một vị chủ nhiệm chính thức, thì hai chỉ tiêu sẽ biến thành một chỉ tiêu. Cậu ta bảo bản thân vốn chẳng có dã tâm làm chủ nhiệm, chỉ hòng mau chóng có người được phái đến, để cậu ta có thể giải thoát khỏi nỗi thống khổ này, còn chỉ tiêu duy nhất sót lại, muốn giao ai khoanh tròn người đó quyết định đi thôi. Đắc tội với ai thì cũng là người khác đắc tội...

Nghe cậu ta trút bầu tâm sự, tôi ngượng ngùng chẳng nỡ giới thiệu thêm tình huống của "biểu đệ" với cậu ta nữa.

Hôm sau trời mưa to hơn, cậu ta đến từ sớm, bảo con đường núi phía trước đã xảy ra sạt lở, không thể đến nơi tôi muốn đến được rồi. Chiều nay hẵng xuất phát nhé! Cậu ta mang đến một bộ bài tú lơ khơ, ngồi chơi bài cùng tôi và tiểu tài xế suốt cả buổi sáng. Tôi chẳng có tâm trạng đâu mà chơi bài. Kiên quyết không chơi, lại hóa ra phụ lòng tốt của người ta. Gượng gạo cười cợt chơi cùng, thực chất chẳng khác nào tôi đang phụ họa bầu bạn với cậu ta và tiểu tài xế.

Buổi chiều, nghe nói sự cố sạt lở đã được dọn sạch, cuối cùng cũng lên đường. Xe vừa chui vào trong núi lớn, tiểu tài xế liền tập trung cao độ tinh thần. Con đường núi uốn lượn vòng này đến vòng khác, một bên đều là vách dựng vực sâu. Cứ ngỡ là cái chốn hoang dã tuyệt đối không nên có bóng người ấy, bỗng chốc lại "sau rặng liễu xanh, phía hoa tươi thắm, lại một thôn làng hiện ra trước mắt". Có liễu, có hoa, tự khắc sẽ lại có những lời tán thán ngạc nhiên. Cơn bẽ bàng ấy không có liễu, cũng chẳng có hoa, thì chỉ còn lại sự ngạc nhiên kinh hãi. Sau cơn ngạc nhiên kinh hãi, không khỏi có chút hoảng hốt rợn tóc gáy. Bởi vì con đường càng lúc càng hẹp, độ dốc càng lúc càng cao. Vách dựng vực sâu một bên, càng lúc càng khiến người ta thay tiểu tài xế thấp thỏm lo âu. Lại càng thay cho chính mình. Tựa như đem sinh mạng phó mặc vào tay tiểu tài xế vậy...

Tốc độ xe chậm như sên bò. Người lái xe kẻ ngồi xe, ba người nín thở ngưng thần, nửa câu cũng chẳng dám trò chuyện với nhau. Chỉ có người thứ tư vô hình, một cô gái không rõ dung mạo, suốt dọc đường không biết mệt mỏi hát cho chúng tôi nghe với âm lượng vừa đủ nghe — một cuộn băng ghi âm mà tiểu tài xế nhét vào đầu đĩa trên xe. Đoạn trước hát những gì không chú ý nghe. Lơ đễnh nghe được một đoạn là bài :

Hoa trong núi nở

Từ xa em về

Mong ngóng bóng hình anh

Nắm lấy tay em bước...

Hát đến mức khiến người ta chỉ chực rơi nước mắt. Nơi tôi sắp đến là quê hương của "biểu đệ". Thế nhưng bản thân "biểu đệ" lại chẳng thể quay về đã bốn năm nay. Bỗng nhiên tôi hoài nghi sự thiết thực của chuyến đi này rốt cuộc nằm ở đâu? Đối với "biểu đệ", đối với tôi, đối với một thôn làng xa xôi nào đó và một hộ gia đình nào đó ở nơi ấy? Mưa sầu ảm đạm, một nỗi u sầu không tài nào giải thích nổi quấn quýt trong lòng, khiến người ta nhớ nhà nhớ bố nhớ mẹ nhớ vợ nhớ con trai con gái nhớ tất cả những người thân yêu mà mình nhung nhớ, lại còn mang nỗi niềm cô quạnh nhớ mong — một chốn nào đó có lẽ chẳng liên quan gì đến bản thân, có lẽ có cội nguồn duyên phận với bản thân...

Tôi dứt khoát nhắm nghiền hai mắt lại, không thèm liếc nhìn vách dựng vực sâu bên cạnh. Tôi vẽ tranh trong tâm khảm về quê hương của "biểu đệ", tưởng tượng rốt cuộc nơi đó sẽ là một quê hương thế nào. Nhưng dù tưởng tượng cách mấy, cũng chẳng thể tưởng tượng cho ra. Mơ hồ, xa xôi, tựa như chìm khuất trong mây mù mịt ướt át, nó mờ ảo tồn tại ở đó, lạnh lùng tiêu điều chờ đợi con người đến gần nó. Mà nó dường như lại là thứ không thể chạm đến. Xe tiến về phía trước, nó lùi về phía sau, vĩnh viễn ẩn khuất trong mây mù mịt ướt át, ẩn khuất sau từng dãy núi lớn. Vĩnh viễn giữ một khoảng cách đều đặn không cách nào rút ngắn nổi đối với kẻ muốn đến gần nó.

Tựa như, từ trong chốn mờ ảo, có một cô gái đang bước đến, bên cạnh cô ấy đồng hành cùng một con cừu.

Chiếc xe jeep đột ngột dừng phắt lại ở một bãi đất trống nhỏ. Tiểu tài xế thò đầu ra khỏi xe, hỏi cô gái nọ điều gì đó.

Hóa ra chẳng phải ảo giác của tôi. Tôi chỉ vào cô gái và con cừu ấy. Cô gái là cô gái. Cừu là cừu. Cô gái rất gầy, rất tiêu tụy. Trên một khuôn mặt không phải thanh tú mà là gầy gộc hốc hác, đôi mắt bỗng trở nên đặc biệt to. Ánh mắt trống rỗng của cô ấy dường như chẳng chứa đựng bất cứ thứ gì. Dường như ngay cả chút tò mò cũng không có. Hai tay cô ấy căng một tấm vải nhựa, chính là loại vải nhựa mà nông dân ở vùng đồng bằng dùng để dựng nhà kính giữ ấm, trùm lên đầu để che mưa. Còn con cừu kia thì coi như lực lưỡng, là một con cừu cái. Bầu vú căng phồng. Có vẻ như có thể vắt ra sữa. Nó cũng dùng ánh mắt trống rỗng hình như chẳng chứa đựng thứ gì để nhìn người ta.

Khi tôi hiểu ra rằng cô gái và con cừu ấy không phải là ảo giác của mình, tôi còn kinh ngạc hơn cả lúc ảo giác hiện ra trước mắt. Tôi không thể phán đoán chính xác độ tuổi của cô gái ấy. Nhìn cơ thể thì giống trẻ con mười ba mười bốn tuổi. Nhưng trên mặt hoàn toàn không có chút tinh anh thiếu nữ nào. Ai mà biết được chứ. Có lẽ thực tế cô ấy đã mười bảy mười tám tuổi rồi cũng nên?

Cô ấy khiến tôi liên tưởng đến Muội Muội Ếch có mối liên hệ nào đó với sự sống của "biểu đệ". Con cừu kia lại càng khiến tôi liên tưởng đến điều đó. Dù cho nó chắc chắn là một con cừu khác...

Hóa ra lại là một thôn làng chỉ có hơn chục hộ gia đình.

Đôi môi mỏng manh của cô ấy mím chặt lại, tựa như đã bị khâu lại. Đối với câu hỏi của tiểu tài xế, chỉ lắc đầu quầy quậy.

Phó chủ nhiệm phòng văn hóa nói: "Không cần hỏi đâu, còn xa lắm!"

Tiểu tài xế "bốp" một tiếng đóng sầm cửa xe lại, quay đầu nhìn cậu ta nói: "Cần gạt nước bị hỏng rồi!"

Cậu ta nhìn tôi, chần chừ nói: "Cần gạt nước bị hỏng rồi!"

Cậu ta thấy tôi nhất thời không phản ứng kịp câu nói này nghiêm trọng đến mức nào, bèn bồi thêm một câu: "Đi tiếp nữa, nguy hiểm lắm!"

Tôi lúc này mới hiểu bọn họ có ý gì, vội vàng nói: "Không đi nữa. Không đi nữa. Thành tâm của tôi đã đến rồi. Thành tâm của hai người cũng đã đến rồi! Thật sự làm phiền hai vị quá..."

Tiểu tài xế nói: "Nhà văn Lương, đừng nói thế. Các anh cất công lặn lội đường xa đến đây, là tôi có lỗi với anh mới đúng!..."

Phó chủ nhiệm nói: "Chúng ta đụng phải cái thời tiết xui xẻo này mà! Đành trách trời, đành trách trời thôi..."

Tiểu tài xế lại tỏ vẻ may mắn nói: "Đi tiếp nữa, nếu đến chỗ khoảng sân trống cũng không có, không quay đầu xe lại được, không dám tiến, không dám lùi, mắc kẹt trên đường núi, thì còn tệ hơn nữa!..." Vừa nói, vừa cẩn thận quay đầu xe trên bãi trống. Bãi trống đó, có lẽ là khoảng đất phẳng duy nhất của mấy chục hộ gia đình ở đó. Mấy thân cây to mọc xung quanh. Phía sau cây, chính là vực sâu. Rõ ràng nó là thành quả của lao động. Mấy chục hộ gia đình, vì khoảng sân trống ấy, chắc chắn đã đổ không ít mồ hôi...

Xe quay đầu lại tôi mới nhìn thấy một số ngôi nhà. Những ngôi nhà đều được xây dựng dựa lưng vào vách núi. Sử dụng toàn là đá núi, hòa làm một màu với vách núi, tựa như đều đúc kết thành một khối thống nhất.

Xuyên qua lớp kính cửa sổ tôi lại nhìn cô gái ấy một cái. Những vết mưa chi chít bên ngoài cửa sổ, biến cô ấy trở nên mờ ảo, tựa như một ảo ảnh hiện ra trong mưa...

Cần gạt nước quả thực đã hỏng rồi.

Tiểu tài xế càng thêm tập trung cao độ khi lái xe. Thế nhưng, trong tình huống mảy may không được phép phân tâm này, cậu ta ngược lại càng cần phải nghe cuộn băng ghi âm đó hơn...

Hoa trong núi nở

Từ xa em về

---❊ ❖ ❊---

Hát đến mức khiến người ta chỉ chực rơi nước mắt.

Trong lòng tôi thầm nhủ: Muội Muội Ếch à, đợi đến lúc hoa trong núi nở rộ, anh ấy nhất định sẽ tự mình trở về...

Mưa sầu ảm đạm, một nỗi u sầu không tài nào giải thích nổi quấn quýt trong lòng. Khiến người ta nhớ nhà nhớ bố nhớ mẹ nhớ vợ nhớ con trai con gái nhớ tất cả những người thân yêu mà mình nhung nhớ, lại còn mang nỗi niềm cô quạnh nhớ mong — một chốn nào đó có duyên phận cội nguồn với bản thân...

Cơn mưa này ư...

Và cả khúc hát ấy nữa...

Hôm thứ hai trở về Bắc Kinh, tôi đến trường đại học thăm "biểu đệ". Tôi cảm thấy dường như có đôi lời muốn nói với cậu ta. Tôi cũng sinh ra một thứ nguyện vọng muốn thổ lộ nào đó. Đó là một thứ nguyện vọng vô cùng chủ động. Cận kề với một thứ nguyện vọng muốn hát cho người khác nghe. Hoặc khúc hát kia đã hóa thành một thứ nguyện vọng, có lẽ điều tôi muốn nói với cậu ta chỉ đơn giản là điểm này chăng? Tôi không rõ. Tôi không muốn phân tích bản thân mình cho tường tận. Tôi á, tôi xưa nay luôn luôn thích phân tích bản thân mình, tôi đã sớm phát ngấy cái bộ dạng này của mình rồi...

Sinh viên cùng phòng ký túc xá với cậu ta đều đã về hết rồi. Đêm hôm đó họ uống rượu trong phòng ký túc xá. Bọn họ cũng đang hát. Lúc tôi ở trên cầu thang nghe thấy bọn họ hát bài (Nothing to My Name). Lúc tôi đứng ngoài cửa nghe thấy bọn họ hát bài . Đó hoàn toàn chẳng phải là hát. Đó là tru tréo. Tựa như trên cánh đồng tuyết lúc hoàng hôn, vài con sói đói rét mà nhát gan đang cất tiếng hú bi thương.

Tôi nghĩ bọn họ đều say mèm cả rồi. Kể cả "biểu đệ". Sau khi cửa mở, một luồng hơi rượu nồng nặc xộc thẳng ra, hòa quyện với một mùi hôi thối. Ở cửa có một bãi nôn mửa. Góc tường cạnh cửa "bảo tồn" một đống rác. Trên bàn là một thùng bia. Hai chai bạch tửu. Bày la liệt xương xẩu ăn thừa lại. Trên chiếc giường tầng hai, một cái đầu và một cánh tay thõng xuống. Cánh tay thõng xuống trông giống như đuôi của thứ gì vậy. Thậm chí đến đống rác cứ đập vào mắt hàng ngày kia, dường như cũng đang chờ người khác đến dọn dẹp. Cứ nghĩ đến cảnh tượng họ ngồi quanh đống rác hào hứng bàn luận về đại sự quốc gia dân tộc, thì không thể không cho rằng đó là một loại hài hước mang theo mùi uế khí.

Người mở cửa tay tì vào cánh cửa hỏi tôi tìm ai. Tựa như bất cứ lúc nào cũng sẽ đóng sầm cửa lại. Tựa như không tì vào cửa thì sẽ ngã quỵ xuống đất.

Tôi nói tìm "biểu đệ" của tôi.

Cậu ta nói: "Ồ... anh là... tôi biết anh là ai rồi... vào... đi... đừng... đừng dẫm... vào chỗ này..."

Cậu ta đã say đến mức nói năng không rõ lời.

Tôi lắc lắc đầu.

Tôi bảo: "Biểu đệ, cậu ra ngoài đây một lát!"

Lúc nói, tôi vẫn chưa nhìn thấy "biểu đệ" đang ở đâu.

Cái đầu thõng xuống trên chiếc giường tầng hai ngẩng lên — "biểu đệ" say khướt nhìn tôi từ trên xuống dưới.

Tôi đã hoàn toàn mất sạch nguyện vọng muốn thổ lộ.

Còn cậu ta, hiển nhiên là không thể trèo xuống khỏi chiếc giường tầng hai ấy nổi nữa rồi.

Tôi cho rằng đó không nên là cậu ta. Dù thế nào đi nữa cậu ta cũng không có cái quyền tự hành hạ bản thân kiểu này.

Dường như, tôi lại nghe thấy khúc hát ấy:

Hoa trong núi nở

Từ xa em về

---❊ ❖ ❊---

Từ một chốn nào đó vô cùng xa xôi vô cùng xa xôi, nỗi u sầu ướt át trong núi lớn, mang theo chướng khí rừng thiêng nước độc trong núi lớn, bỗng chốc bao trùm lấy tâm can tôi. Tôi cảm thấy trong nội tâm mình bắt đầu dâng trào một luồng khí triều ôn dịch đang ép ngược ra ngoài. Tôi lạnh lùng trừng mắt nhìn cậu ta, lạnh lùng nói: "Sao cậu có thể giống như những kẻ khác chứ?"

Biểu đệ dùng hai tay chống lên giường, há há miệng, muốn nói gì đó với tôi. Nhưng cuối cùng chẳng thốt nổi một chữ nào. Lúc há miệng suýt thì nôn mửa. Hai tay bỗng buông thõng, lại ngã nhào úp mặt lên giường.

Tôi không bước vào phòng ký túc xá.

Tôi nói với sinh viên đang vịn cửa: "Lúc cậu ta tỉnh lại hãy bảo với cậu ta, tôi vốn định tát cho cậu ta một cú bạt tai! Bảo cậu ta, từ nay về sau đừng tìm tôi nữa!"

Nói dứt lời tôi liền bước đi.

Buổi tối, biểu muội đến nhà tôi.

Tôi đương nhiên hiểu rõ vì sao cô ấy lại đến. Bèn khéo léo đẩy mẹ sang phòng khác, tạo cho cô ấy cơ hội không chút cố kỵ.

“Cậu,” cô dùng một ngón tay, nghiêm nghị chỉ vào tôi, vô cùng tức giận nói, “Sao anh lại có thể nhân lúc có mặt mấy bạn học của cậu ấy, mà sỉ nhục cậu ấy nặng nề như vậy! Anh thừa biết lòng tự trọng của cậu ấy rất nhạy cảm, rất mỏng manh! Lời nói của anh, chẳng khác nào tát thẳng vào mặt cậu ấy trước mặt mấy người bạn của cậu ấy!”

Tôi cũng vô cùng tức giận nói: “Tố Dao, ở nhà tôi, cô đừng dùng giọng điệu đó mà chất vấn tôi. Bằng không tôi sẽ tiễn cô ra ngoài!”

Cô cúi gằm đầu xuống.

Im lặng chốc lát, cô ngẩng đầu nhìn chằm chằm vào tôi, đoạn hạ giọng nói: “Tâm trạng của anh, em hiểu chứ. Những gì anh thấy chướng mắt, em cũng chướng mắt……”

Tôi cắt ngang lời cô: “Em không hiểu! Em hoàn toàn không hiểu! Em nói vậy chính là chứng tỏ em hoàn toàn không hiểu! Đây không phải là vấn đề chướng mắt hay không chướng mắt! Mấy người bạn học của cậu ấy thì liên quan gì đến tôi! Nhưng bản thân cậu ấy, không thể giống như bọn họ được! Người ta có thể tự hành hạ, có thể tự tàn phế, có thể tự tử! Nhưng cậu ấy thì không! Cậu ấy đến thân thể của mình mà còn không tiếc nuối, thì cậu ấy còn chút lương tâm nào nữa không? Cậu ấy còn đáng mặt với ai? Ngay cả em cậu ấy cũng có lỗi!……” Tôi bắt đầu kích động.

Tố Dao trái lại vẫn điềm tĩnh.

Cô vẫn nhìn chằm chằm vào tôi.

Cô nói: “Nhưng mà anh có hiểu tâm trạng của cậu ấy không? Anh có hiểu tâm trạng của bọn họ không? Nhà trường đã hé lộ với họ, việc phân công năm nay chủ yếu dựa vào việc họ tự tìm lối đi. Bọn họ đều đụng tường khắp nơi. Mẹ kế của cậu ấy đổ bệnh. Để gửi chút tiền về nhà, để kiên trì đến cùng ở đại học, cậu ấy giấu em đi bán máu đấy! Đã bán hai lần rồi……”

“Cái…… gì?……”

Cô đưa hai tờ biên lai mỏng manh cho tôi xem.

Cô nói: “Đây là lúc em vô tình phát hiện ra trong một cuốn sách của cậu ấy. Lúc đó nước mắt em cứ ào ào tuôn rơi. Cho dù cậu ấy đi trộm, đi cướp, chỉ cần không giết người phóng hỏa, chỉ cần không trộm cắp những kẻ sống khổ sở hơn mình, em đều hiểu……”

Tố Dao nước mắt đầm đìa.

“Máu…… Sao có thể như thế chứ? Máu…… Máu đâu phải muốn mua là mua, muốn bán là bán đâu!……”

Tôi có chút không thể tin nổi.

“Nhà trường quy định, ai đã từng tình nguyện hiến máu một lần, trong thời gian học tập tại trường sẽ vĩnh viễn không hiến lần thứ hai. Cậu ấy đã hiến một lần rồi. Lần này lại hiến. Hơn nữa…… còn mạo danh người khác để hiến thêm một lần…… hai trăm tệ tiền trợ cấp bồi dưỡng…… cái này thì khác gì bán máu chứ?……”

Tôi cúi đầu.

Hoa trong núi nở

Em từ chốn xa xôi quay về……

Từ một nơi vô cùng xa xôi nào đó, mang theo chướng khí chốn núi non, hình như lại văng vẳng nghe thấy tiếng hát bài "Cố Hương" nghe xong chỉ muốn khóc ấy……

Tôi không muốn ngẩng đầu lên, để Tố Dao nhìn thấy đôi mắt của mình.

Tôi hỏi: “Việc cô bận tâm cho cậu ấy, tiến triển thế nào rồi?”

Cô nói: “Vẫn chưa đâu vào đâu…… Những người ban đầu hứa hẹn, giờ đều không được nữa, đến cả việc chị em có được ở lại Bắc Kinh năm nay hay không cũng hoàn toàn nắm chắc……”

“Vậy…… phải làm sao đây?……”

“Em nghĩ, nếu được phân về tỉnh về thành phố, cậu ấy cũng sẽ mãn nguyện rồi. Chẳng phải anh vừa ở cái tỉnh đó về sao? Biểu anh, xin anh, cũng viết giúp vài bức thư thăm dò xem sao!”

Tôi nói: “Tôi sẽ làm.”

Cô cảm kích chạm nhẹ vào tay tôi. Tôi cảm thấy, cô ấy dường như đang thông qua cử chỉ thân mật nhỏ nhoi này, tiếp tục trói chặt tôi và biểu đệ lại với nhau hơn nữa, khiến cho việc tôi mưu toan giứt đứt mối quan hệ này cũng là điều bất khả thi……

Sau khi Tố Dao rời đi, mẹ nghiêm trang răn dạy tôi: “Những lời hai đứa nói mẹ đều nghe thấy cả. Ai nấy đều là người trong mệnh của người khác. Trong mệnh của mỗi người đều có ba loại tiểu nhân, quý nhân và người cùng mệnh. Con đã hứa việc gì, thì phải cố gắng mà làm cho thành. Làm thành rồi, con chính là quý nhân trong mệnh của đứa nhỏ nhà người ta. Nếu con chỉ hứa bằng cái miệng, trong lòng lại không muốn làm, chẳng qua chỉ dùng lời lẽ để lừa phỉnh người ta, con chẳng khác nào tiểu nhân trong mệnh của người ta cả. Con đã thành tiểu nhân trong mệnh của người khác, thì tiểu nhân trong mệnh của con sẽ hãm hại con. Những điều này đều có số định sẵn cả đấy, con đừng có mà không tin lời mẹ!”

Tôi cũng nghiêm trang đáp lại mẹ: “Mẹ, con tin là được chứ gì.”

Ngay ngày hôm đó, tôi viết liền sáu bảy bức thư đi khắp bốn phương tám hướng……

Bốn

Mẹ ở Bắc Kinh càng ở càng cảm thấy cô quạnh, cuối cùng kiên quyết đòi về Cáp Nhĩ Binh.

Trước khi tôi đưa mẹ về Cáp Nhĩ Binh, sáu bảy bức thư đều đã có hồi âm. Tôi giữ lại từng bức thư một. Tôi nghĩ, tôi phải có một lời giải đáp nghiêm túc cho Tố Dao, cho chính lời nói của mình. Dù rằng chẳng có bức thư nào mang lại tin mừng……

Mẹ vừa đến Cáp Nhĩ Binh, bệnh "đục thủy tinh thể" ở mắt lại càng trở nặng hơn. Vì thế mà tôi đã lưu lại Cáp Nhĩ Binh gần hai tháng trời. Khoảng thời gian này ngược xuôi qua lại các bệnh viện, vậy mà lại quên bẵng đi hai đứa nhỏ “biểu đệ”, “biểu muội”. Cũng quên sạch những việc đáng lẽ phải làm.

Sau khi mắt mẹ được phẫu thuật, thị lực dần dần hồi phục, có một ngày bỗng nơm nớp lo lắng hỏi đến, tôi vô cùng áy náy, chỉ biết cười trừ gượng gạo. Tôi viện cớ “biểu muội” đã lo xong xuôi cho “biểu đệ” rồi, mẹ mới yên tâm. Còn khen ngợi “biểu muội” chính là “quý nhân” trong số mệnh của “biểu đệ”.

Rốt cuộc tôi vẫn không thể yên lòng. Lại vì chuyện của “biểu đệ” mà bôn ba khắp nơi ở Cáp Nhĩ Binh. Hễ nghe nói là sinh viên khoa Trung văn, những người bạn đồng trang lứa hoặc lớn tuổi hơn đang nắm giữ chút quyền lực, không ai là không tiếc nuối lắc đầu, tỏ ý lực bất tòng tâm. Những ngày tháng đó, tôi nhận ra rằng, hóa ra “văn học” và “số phận” của một số người, dường như đã được định sẵn là có mối liên hệ, ảnh hưởng lẫn nhau. Đúng như câu môi hở răng lạnh. Tôi đau buồn cho “văn học”, cũng đau buồn cho “số phận” của “biểu đệ”.

Thế mà lại có một “chiến hữu Đại Hoang Bắc” năm xưa giờ đang làm Phó trưởng phòng ở Sở Văn hóa tỉnh rất hào hiệp, nói rằng nếu “biểu đệ” muốn, anh ta sẵn lòng giúp sắp xếp cho biểu đệ về làm việc tại một nhà văn hóa cấp quận huyện nào đó. Tôi mừng rỡ khôn xiết, lại ở lại thêm chục ngày nữa, xử lý triệt để chuyện này, rồi mới mua vé tàu trở về Bắc Kinh.

Trên chuyến tàu hỏa, ngẫm nghĩ kỹ lại, không khỏi có mấy phần hối hận, Tây Nam lớn thế — Đông Bắc lớn thế — đối với “biểu đệ” mà nói, cách quê nhà có phải là quá xa xôi hay không? Sau này kết hôn, bốn năm mới có một lần nghỉ phép thăm thân, nhỡ may trong nhà xảy ra chuyện gấp, tiền đi về tự túc, chẳng phải sẽ ngốn mất mấy tháng tiền lương của cậu ta sao? Về nhà một chuyến, lại là một việc khó khăn biết nhường nào cơ chứ! Huống chi lại làm nhân viên tư liệu. Ai biết cậu ta có vui lòng hay không? Thế mà tôi lại thay cậu ta thốt ra cái câu “chết bỏ” không bao giờ hối hận. Cứ như thể cậu ta thực sự là người “biểu đệ” răm rắp nghe theo lời tôi vậy……

Có lẽ bên phía Tố Dao đã vạn sự đại cát rồi? Hơn nữa còn mưu cầu được cho cậu ta một công việc nào đó lý tưởng hơn ở Bắc Kinh chăng? Mong là vậy! Mong ông trời phù hộ……

Hôm đó, tôi ôm một bọc thư từ bưu phẩm từ hòm thư về nhà. Nằm trên giường tháo ra đọc từng bức một. Trong đó có hai bức do “biểu đệ” viết cho tôi. Bức đầu tiên rất ngắn. Trên trang giấy nháp ba trăm ô vuông, chỉ viết nguệch ngoạc được nửa trang — hy vọng được gặp tôi, phiền tôi đến trường một chuyến. Bức thứ hai còn ngắn hơn nữa — nếu tôi không có thời gian, hỏi xem khi nào cậu ta có thể đến nhà gặp tôi? Nét chữ còn nguệch ngoạc hơn.

Tôi đoán chắc là chuyện phân công tốt nghiệp……

Tôi đoán bên phía Tố Dao đại khái là xôi hỏng bỏng không cả rồi……

Tôi đoán may mà tôi đã quyết định thay cậu ta ở Cáp Nhĩ Binh……

Hôm sau, tôi đến trường của cậu ta, mới biết việc phân công đã bắt đầu từ lâu.

Tòa ký túc xá đó của cậu ta còn bẩn thỉu hơn hai lần trước tôi tới. Khắp nơi đều có thể thấy dây cót gói hành lý, bao tải, cùng với những cuốn sách bị vứt bỏ không cần đến, những món đồ nhỏ nhặt v.v.. Cảnh tượng tựa như trước hoặc sau một cuộc đại đào vong.

Cậu sinh viên mở cửa cho tôi chính là người từng mở cửa cho tôi trước kia. Tôi nhận ra cậu ta. Cậu ta cũng lập tức nhận ra tôi.

Cậu ta lạnh lùng nói: “Anh đến muộn rồi.”

Tôi không khỏi sững sờ, ngẩn người hỏi: “Sao cơ, chẳng lẽ cậu ấy đã rời trường rồi sao?”

Cậu ta đáp: “Cái đó thì chưa.”

Vừa nói, vừa thu dọn một chiếc va li da lớn.

Tôi hoang mang, lại hỏi: “Thế sao cậu lại bảo tôi đến muộn?”

Tôi thầm nghĩ chắc chắn giữa cậu ta và “biểu đệ” đã xảy ra chuyện gì khiến cậu ta canh cánh trong lòng.

Nhưng trên mặt cậu ta lại hoàn toàn không nhìn ra chút ác ý nào.

Tôi nghiêm giọng nói: “Đừng đùa nữa. Tôi tìm cậu ấy có việc gấp.”

Cậu ta dừng tay lại, cũng nghiêm giọng nói: “Tôi có thời gian đâu mà có tâm trạng đùa giỡn với anh?”

Tôi nói: “Điều này không thể nào! Hoàn toàn không thể nào!……”

Điều tôi nghĩ tới ngay lập tức chính là khối u mỡ xơ đã được cắt bỏ trên cánh tay cậu ấy……

Chẳng lẽ chẩn đoán cuối cùng của kết quả sinh thiết là sai ư?……

Cậu ta nói: “Ban đầu chúng tôi cũng không tin. Thế nhưng những chuyện không thể nào thì bất cứ lúc nào cũng có thể xảy ra. Dù là xảy ra trên người mình hay người khác, nghĩ lại, thì cũng chẳng có gì là không thể nữa……”

Tôi ngây người.

Cậu ta nói, đa số bạn học cuối cùng lần lượt vẫn có đơn vị tiếp nhận. Sau đó chỉ còn lại cậu ấy và sáu bảy bạn học khác vẫn không có chốn dung thân. Cậu ta nói khoa đã tìm họ để nói chuyện, an ủi họ, và hứa sẽ kéo dài thời gian ở trường của họ thêm hai tháng. Cậu ta nói “biểu đệ” đã cãi nhau một trận với Tố Dao. Cãi xong lại một mình uống say mèm. Uống say rồi liền nói rất nhiều điều đáng lẽ không nên nói trước mặt người khác, hối hận vì đã từ bỏ trách nhiệm tự nỗ lực vì bản thân, quá mức ỷ lại vào năng lực của Tố Dao, ngược lại khiến bản thân càng lún sâu vào hoàn cảnh như một món “hàng phẩm loại phụ”. Đứa học sinh hay hớt lẻo đã đem những lời này truyền tai Tố Dao. Tố Dao tìm đến ký túc xá, giáng cho cậu ấy một cái tát trước mặt mọi người……

Tôi máy móc cất lời: “Điều này không thể nào. Hoàn toàn không thể nào……”

Tôi nhớ tới việc Tố Dao vì tôi tổn thương lòng tự trọng của cậu ấy mà đến nhà tôi để khiển trách tôi……

Cậu ta cũng chẳng thèm để ý tôi nói gì, cứ thế nói tiếp. Cậu ta nói hai ngày sau công an gọi điện đến trường — cậu ta vì buôn bán vé tàu chợ đen ở gần ga tàu nên bị tạm giam. Nhà trường phái người đến bảo lãnh cậu ta về. Nhà trường vốn dĩ cũng chẳng muốn nhân chuyện này mà làm khó cậu ta thế nào cả. Chỉ là mắng cho một trận. Thậm chí còn bảo đảm sẽ không nhắc đến với bất kỳ đơn vị nào có khả năng tiếp nhận cậu ta. Càng không ghi vào hồ sơ. Các bạn học cũng vì chuyện này mà không hề coi thường cậu ta. Có bạn học còn đùa cợt với cậu ta, muốn bái cậu ta làm thầy, hy vọng cậu ta truyền thụ kinh nghiệm, sau này sống thê thảm quá, cũng muốn làm theo cách đó một hai lần……

Hôm sau có người phát hiện cậu ta thắt cổ chết trong nhà vệ sinh……

Tôi thẫn thờ lắng nghe. Cảm thấy bản thân dường như toàn thân hóa thành đá cứng. Nhất thời không thể động đậy.

Cậu ta nói muốn gặp cậu ấy cũng không khó. Cậu ta có thể dẫn tôi đến nơi quàn thi thể của cậu ấy. Cậu ta nói nhà trường đã phát điện tín cho người nhà của cậu ấy. Người nhà cậu ấy điện báo lại, vì góp không đủ tiền lộ phí, không có người lên được. Cậu ta nói nhà trường đã quyết định cử người đưa tro cốt của cậu ấy về quê hương. Cậu ta nói “biểu đệ” chết rồi, các bạn học mới cảm thấy, cậu ấy có thể kiên trì vượt qua mấy năm đại học này, quả thực không hề dễ dàng gì. Mới cảm thấy bình thường quan tâm đến cậu ấy còn quá ít. Nhớ lại một số chuyện cũ, cho rằng về mặt bản chất, cậu ấy tốt hơn những bạn học khác rất nhiều. Ngoại trừ tính cách quái gở, cậu ấy chưa từng có tâm địa hại người. Cậu ta nói có mấy bạn học, tự nguyện đi cùng người của nhà trường đưa cậu ấy về quê. Cậu ta nói cậu ta đã quyết định cũng sẽ đi……

Nói xong cậu ta lại bắt đầu thu dọn va li, đầu tiên là đặt mấy cuốn sách có vẻ rất có giá trị lên trên, vài chiếc áo sơ mi có lẽ là hàng hiệu chẳng đáng là bao chút tài sản cùng mấy chiếc cà vạt để ở dưới. Không hiểu sao, đang xếp gọn gàng rồi lại đổi ý dọn sạch va li làm lại từ đầu. Lại để sách ở dưới và cho áo sơ mi với cà vạt lên trên.

Tôi đờ đẫn nhìn cậu ta, phát hiện ra một cuốn sách lại chính là cuốn “Từ Phục Đán đến Bắc Ảnh” do chính tay tôi viết. Là Tố Dao đòi tôi, tôi đã ký tên tặng cho cô ấy. Hoặc là “biểu đệ” muốn, mà do Tố Dao đứng ra lấy…… Giờ thì không thể nào biết được nữa rồi.

Tôi không hỏi cậu ta tại sao cuốn sách đó lại rơi vào tay cậu ta.

Đương nhiên không phải vì bản thân giá trị của cuốn sách. Có lẽ chỉ đơn thuần là vì, cậu ta hy vọng thông qua nó, mà vĩnh viễn ghi nhớ một người bạn học tên là Tiêu Băng của mình, đồng thời cũng ghi nhớ một cô gái khác ở đại học tên là Tố Dao……

Tôi nhìn chiếc giường của “biểu đệ”, trống huơ trống hoắc chẳng có vật gì. Ngay cả chăn đệm và gối cũng không biết đi đâu mất rồi. Có lẽ “biểu đệ” ở một nơi khác vẫn đang dùng chăng?

Đó chỉ là một chiếc giường đơn bằng gỗ cũ kỹ mà thôi. Trên dạt giường, mùa hè chỉ trải một chiếc chiếu mây, trên đó in hằn cái hình dáng cơ thể do mồ hôi người thấm ra.

Đó chính là “biểu đệ” mà lần này tôi lại nhìn thấy. Cuộn tròn cơ thể, hiện lên hình chữ “S”, dường như ngay cả khi ngủ cũng chưa từng buông thả bản thân lấy một lần……

Hình nhân ấy dường như đang không lời mà nói với tôi rằng: Anh đến muộn rồi……

Tôi nghĩ qua một tháng nữa, học kỳ mới bắt đầu, sẽ là một lớp sinh viên tài năng thế nào chiếm lấy chiếc giường đó đây?……

Liệu có để ý đến hình thù kỳ dị trên dạt giường không?…… Liệu có dùng bàn chải nhúng xà phòng hay thứ gì đó mưu tính chà sạch “cậu ấy” đi không?……

Mà người đang thu dọn va li, dường như đã quên mất sự tồn tại của tôi.

Tôi hỏi: “Tố Dao ở đâu?”

Cậu ta không phản ứng.

Không phải cậu ta không nghe thấy. Là tôi hoàn toàn không thốt nổi thành lời. Câu nói đó, chỉ là câu nói tôi muốn hỏi trong lòng.

Tôi đang ở trong một trạng thái gần như nín thở ngưng thần. Tựa như trái tim tôi đang sợ hãi điều gì. Tựa như nó không muốn phát ra bất kỳ âm thanh nào làm kinh động đến thứ gì.

“Tố Dao ở đâu?” — Lần này, ngay cả bản thân tôi cũng tin rằng mình đã mở miệng nói chuyện.

“Ở trường anh không gặp được cô ấy nữa đâu.”

“Tại sao? Cầu xin cậu nhất định phải dẫn tôi đi gặp cô ấy……”

“Đứa con gái như cô ấy, làm sao chịu đựng nổi sự kích thích của chuyện này. Cô ấy bị tâm thần rồi. Đại khái cô ấy cho rằng, cái chết của cậu ấy là do một tay cô ấy gây ra…… Bố mẹ cô ấy đã đến trường đón cô ấy về rồi……”

Tôi cảm thấy không khí trong khoảnh khắc đông cứng lại. Tựa như bốn phía có bốn tấm ván kẹp vô hình, ép chặt tôi đứng im tại chỗ.

“Thực ra, một cô gái lương thiện như Tố Dao, bây giờ quá ít. Ở đại học lại càng ít hơn. Phương thức tư duy của cô ấy suy cho cùng vẫn quá cổ điển. Sự lương thiện đó của bản thân cô ấy đã là một loại sai lầm rồi. Đối với cô ấy là vậy, đối với cậu ấy cũng thế……”

“……”

Tôi không biết bản thân mình đã rời đi bằng cách nào.

Hơi nóng phả vào mặt. Tôi như nhiễm lạnh giữa thời tiết đại hàn mùa hè. Dọc đường toàn thân lạnh ngắt. Từ trong tâm can lạnh toát ra ngoài, từng trận lạnh thấu xương. Lạnh đến bất lực.

Đi được một đoạn đường, tôi đột nhiên cảm thấy mệt mỏi, ngồi xổm dưới bóng râm của một gốc cây hút thuốc. Người qua đường đi qua đi lại trước mắt tôi. Người đi xe đạp, người đi bộ, đến cũng vội vã, đi cũng vội vã, chẳng biết có phải tất cả đều vì mục tiêu của riêng mình hay không. Ở đằng xa, bức tường ngoại thất bằng kính nhập khẩu hoặc gạch mosaic của những tòa cao ốc hoa lệ, đang lấp lánh rực rỡ dưới ánh mặt trời.

Tôi không kìm được mà nhớ lại những lời Tố Dao từng nói với tôi, và cũng là lời “biểu đệ” từng nói với cô ấy, về câu chuyện của nữ sinh đại học tự tử vì bức ảnh bị phóng to phơi bày — vụ mưu sát. Tôi cảm thấy cái chết của “biểu đệ” hoàn toàn là một sai lầm lớn. Một sai lầm mang tính chất định mệnh. Trước khi cậu ta chết, đã dây dưa với rất nhiều loại sai lầm tổng hợp — sai lầm của chính cậu ta, của Tố Dao, của người khác, sai lầm của tâm hồn, của hiện thực. Bao gồm cả tôi nữa……

Bao gồm cả sai lầm của tôi ư?

Tôi lại nhớ đến những lời mẹ nói với tôi, về việc “ai nấy đều là người trong mệnh của người khác” cũng như “quý nhân” và “tiểu nhân”……

Tôi quả thực không có dũng khí để nghĩ sâu thêm nữa……

Một sai lầm được làm cho sáng tỏ chắc chắn còn là sai lầm hơn cả một sai lầm hồ đồ.

Mà sai lầm do tôi tự cho là, hoặc bị áp đặt lên người, đã gánh vác quá nhiều rồi.

Đúng vậy.

Bị sai lầm mưu sát ư?……

“Đây là cái gì? Bỏ lên giá hành lý mau! Không thì bày dưới giường nằm ấy!”

Nữ nhân viên phục vụ tàu vừa nói, vừa ra tay di chuyển chiếc hộp gỗ nhỏ đó.

“Cả nhà cô đừng chạm vào cậu ấy!”

Người thanh niên nghiêm khắc cảnh cáo. Gạt tay nữ nhân viên ra.

“Tàu hỏa có quy định của tàu hỏa, tất cả đồ đạc……”

“Không phải đồ đạc!”

Khuôn mặt người thanh niên đỏ bừng vì giận dữ.

“Đồng chí, xin hãy cho phép tôi giải thích với chị — chúng tôi đều mua vé giường nằm. Chúng tôi đều là những sinh viên vừa mới tốt nghiệp, tiễn đưa người bạn học này của chúng tôi về quê hương……” Một cô gái vừa nói, vừa chỉ vào chiếc hộp gỗ nhỏ ấy: “Cậu ấy từng kể với chúng tôi, tâm nguyện đầu tiên sau khi tốt nghiệp của cậu ấy, chính là được đi tàu giường nằm một lần. Trước đây cậu ấy chưa từng đi giường nằm bao giờ…… Tất nhiên, nếu có người già yếu bệnh tật và phụ nữ cần bổ sung giường nằm, giường của mấy người chúng tôi đều có thể nhường lại, chỉ duy nhất giường của cậu ấy thì chúng tôi không thể nhường. Bởi vì thực ra cậu ấy vẫn đang nằm ngủ trên đó, hơn nữa, chị còn phải cho phép chúng tôi ở xung quanh quây quần bên cậu ấy……”

Cô ấy nói vô cùng trang nghiêm. Nói vô cùng thành kính.

Ánh mắt của mấy hành khách đổ dồn về phía cô ấy.

Nữ nhân viên phục vụ ngẩn ngơ nhìn cô ấy một lúc, không nói thêm câu nào nữa, lủi thủi quay người bước đi……

Tôi đứng lặng ở cửa toa tàu, không biết bản thân có nên bước qua đó, cùng bọn họ tiễn đưa “biểu đệ” hay không.

Dù rằng tôi vì điều đó mà mang một niệm duy nhất bước lên chuyến tàu.

Trước đó tôi đã viết một bức thư cho mẹ, nói với cụ rằng, vấn đề phân công của “biểu đệ” đã được giải quyết triệt để rồi, mọi chuyện đều thuận lợi. Thuận lợi hơn nhiều so với dự kiến……

Thế nhưng cho đến khoảnh khắc đó, tôi hình như mới hiểu ra rằng, có lẽ bản thân tôi hoàn toàn không được tính là một người trong “số mệnh” của “biểu đệ”. Tôi cứ tự cho là đúng. Nhưng thực ra lại không phải. Tôi chưa từng coi cậu ấy quan trọng đến nhường nào. Cậu ấy chẳng có ích gì đối với tôi cả. Mẹ rất tình nguyện là, nhưng lại càng không phải. Tố Dao từng muốn không còn là nữa, nhưng hình như đã được định sẵn, rốt cuộc vẫn là. Có lẽ là nhiều nhất. Cô ấy từng có sự giao cảm tâm linh nào chăng? Đối với cậu ấy, và đối với chính cô ấy?……

Tôi vẫn đứng ở cửa toa tàu chần chừ không quyết.

Hoa trong núi nở

Em từ chốn xa xôi quay về

Trông mòn mỏi bóng hình anh

Nắm lấy bàn tay em bước đi……

Trong toa tàu văng vẳng bài hát “Cố Hương”. Là hành khách yêu cầu phát thanh viên phòng phát thanh điểm bài hát đó.

Hoa trong núi nở……

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 7 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.