“Khi khốn cùng tột độ, ấy là lúc cứu trợ kề bên.”
Ballad of Sir Aldingar.
Lúc bấy giờ, nữ chủ nhà dường như rất sốt ruột muốn tôi rời đi. Thế là, sau khi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc vì lòng hiếu khách của họ, tôi từ giã ra đi, bước qua khu vườn nhỏ để tiến vào khu rừng. Vài loài hoa trong vườn đã lấn sang chasanh vào rừng, mọc rải rác dọc theo lối đi, nhưng rồi cây cối nhanh chóng trở nên rậm rạp và che khuất ánh sáng của chúng. Tôi đặc biệt chú ý đến một vài khóm hoa huệ cao mọc ở cả hai bên đường, với những bông hoa trắng ngời chói lọi nổi bật giữa một màu xanh ngút ngàn. Trời lúc này đã đủ tối để tôi nhận ra rằng mỗi bông hoa đều tự phát ra một thứ ánh sáng của riêng mình. Quả thực, chính nhờ thứ ánh sáng nội tại kỳ lạ ấy phát ra từ từng bông hoa mà tôi nhìn thấy chúng, chứ không phải do phản chiếu từ một nguồn sáng chung như ban ngày. Ánh sáng này chỉ đủ cho chính bản thân thực vật, không đủ mạnh để hắt ra bất kỳ cái bóng nào dù là mờ nhạt nhất xung quanh, hay soi rọi các vật thể lân cận bằng thứ gì khác ngoài một chút ánh màu leo lắt mang sắc thái riêng của từng loài. Từ những đóa huệ kể trên, từ hoa chuông campanula, hoa mao địa hoàng và mọi loài hoa hình chuông khác, những sinh hình kỳ lạ thò đầu ra, liếc nhìn tôi rồi rụt lại. Chúng dường như cư trú bên trong những đóa hoa ấy như ốc sâm cầm trú trong vỏ của chúng; nhưng tôi chắc chắn rằng một số kẻ là những vị khách không mời, thuộc về loài yêu tinh đất hoặc yêu tinh lùn chuyên sống dưới lòng đất và bám theo các loại thực vật bò sát. Từ trong đài hoa loa kèn Arum, những sinh vật có cái đầu lớn và gương mặt kỳ quái bỗng trồi lên như đồ chơi trong hộp lò xo, nhăn nhở làm mặt xấu với tôi; hoặc chúng chậm chạp và ranh mãnh nhoài người lên khỏi mép đài hoa, phun nước vào tôi rồi bất ngờ tuột xuống, hệt như loài cua lính nhỏ xíu sống trong vỏ ốc biển.
Khi đi ngang qua một hàng cây kế cao lớn, tôi thấy chúng lúc nhúc những khuôn mặt nhỏ xíu, mỗi kẻ lấp ló phía sau bông hoa của mình rồi rụt lại nhanh chóng; và tôi nghe chúng nói với nhau, rõ ràng là muốn cho tôi nghe, nhưng kẻ nói luôn giấu mình sau chùm lá mỗi khi tôi nhìn về hướng đó: “Nhìn kìa! Nhìn kìa! Nó đã bắt đầu một câu chuyện chẳng có điểm đầu, và sẽ chẳng bao giờ có hồi kết đâu. Hê! hê! hê! Nhìn nó kìa!”
Nhưng khi tôi tiến sâu hơn vào rừng, những hình ảnh và âm thanh ấy thưa dần, nhường chỗ cho những điều mang sắc thái khác. Một khu rừng nhỏ hoa dạ lan hương hoang dã tràn ngập những sinh vật tuyệt mỹ, đứng gần như bất động với phần cổ rủ xuống, tay cầm lấy cuống hoa của mình và đu đưa nhè nhẹ theo nhịp, mỗi khi có một luồng gió thoảng qua làm rung chuyển cả cái tháp chuông hoa đông đúc ấy. Cùng lúc đó, dù có khác biệt về hình dáng và ý nghĩa, một cụm hoa chuông harebell đứng lặng như những thiên thần nhỏ bé, sẵn sàng chờ đợi cho đến khi được gọi đi làm một sứ mệnh chưa rõ nào đó. Ở những góc tối hơn, bên những rễ cây bám đầy rêu, hoặc trong các khóm cỏ nhỏ, mỗi sinh vật nằm trọn trong một quả cầu ánh sáng xanh của riêng mình, dệt nên một mạng lưới cỏ và bóng râm chính là những con đom đóm.
Chúng y hệt như loài đom đóm ở quê hương chúng ta, bởi vì yêu tinh thì ở đâu cũng thế; ban ngày là những con sâu bọ, ban đêm hóa thành đom đóm khi ánh sáng của chúng có thể tỏa rạng, và chúng có thể bộc lộ bản ngã trước người khác cũng như chính mình. Nhưng ở đây chúng lại có kẻ thù. Vì tôi thấy những con bọ cánh cứng to lớn, tay chân vạm vỡ, đang hối hả di chuyển với vẻ vụng về hết sức nặng nề, lóng ngóng như những chú voi con, dường như đang tìm kiếm đom đóm; bởi vì ngay khoảnh khắc một con bọ cánh cứng thoáng thấy con mồi xuyên qua thứ mà đối với nó là một khu rừng cỏ hay một tầng thảm mục bằng rêu, nó liền lao bổ vào và cướp lấy con mồi, dẫu cho nạn nhân có chống cự yếu ớt thế nào đi nữa. Tự hỏi mục đích của chúng là gì, tôi liền quan sát một trong những con bọ cánh cứng ấy, và rồi tôi khám phá ra một điều mà mình chẳng tài nào giải thích nổi. Nhưng cố gắng lý giải mọi chuyện ở Xứ Sở Yêu Tinh chẳng để làm gì cả; và ai đã du hành đến đó sẽ sớm học được cách quên đi ý niệm ấy, đón nhận mọi thứ như nó vốn thế; tựa như một đứa trẻ, vốn dĩ luôn chìm đắm trong sự kinh ngạc triền miên nên chẳng có điều gì làm nó ngạc nhiên nữa. Những gì tôi chứng kiến là thế này. Khắp nơi, rải rác trên mặt đất, nằm rải rác những mẩu nhỏ sẫm màu trông giống đất hơn bất cứ thứ gì khác, kích thước cỡ hạt dẻ. Bọn bọ cánh cứng lùng sục từng đôi một để tìm những thứ này; và khi tìm thấy một cục, một con ở lại canh chừng trong lúc con kia hối hả đi tìm đom đóm. Tôi đoán rằng bằng những tín hiệu nào đó giữa chúng, chẳng mấy chốc con thứ hai đã tìm lại được bạn đồng hành; sau đó chúng cầm con đom đóm và đưa chiếc đuôi phát sáng của nó áp vào viên đất sẫm màu; và kì diệu thay, viên đất vụt bay vút lên không trung như một quả pháo thăng thiên, tuy nhiên hiếm khi bay cao bằng ngọn cây cao nhất. Cũng hệt như pháo hoa, nó nổ tung giữa không trung và rơi xuống thành một trận mưa tia lửa rực rỡ muôn màu muôn vẻ; những ngọn lửa màu vàng, đỏ, tía, xanh lục, xanh lam và hồng đan xen chằng chịt vào nhau dưới những tán lá rậm rạp và giữa những thân cây cột trụ của khu rừng. Tôi nhận thấy chúng không bao giờ dùng lại một con đom đóm lần thứ hai; mà thả nó đi, có vẻ như chẳng hề hấn gì sau khi đã lợi dụng nó.
Ở những khu vực khác, toàn bộ phần tán lá bao quanh ngay đó lại được thắp sáng bởi những vũ điệu đan xen trên không trung của loài đom đóm rực rỡ sắc màu, chúng bay vù vù khắp nơi, quay cuồng, uốn lượn, giao thoa và quấn quýt lấy nhau trong muôn vàn chuyển động phức tạp. Quanh đây, cả những cổ thụ vĩ đại đều tỏa sáng thứ ánh sáng lân quang phát ra từ chính nó. Bạn có thể lần theo dấu vết của những chiếc rễ lớn trong lòng đất nhờ ánh sáng mờ ảo xuyên qua; và từng nhánh nhỏ, từng đường gân trên mỗi chiếc lá đều là một vệt lửa nhạt màu.
Suốt khoảng thời gian đó, khi đi xuyên qua khu rừng, tôi cứ bị ám ảnh bởi cảm giác rằng có những hình thù khác, có vóc dáng và phong thái tương tự tôi, đang di chuyển ở khoảng cách gần xung quanh mình về mọi hướng. Nhưng hiện tại tôi vẫn chưa thể nhận ra ai trong số chúng, mặc dù ánh trăng đã lên cao đủ để rọi rất nhiều tia sáng xuyên qua các tán cây, và những tia sáng ấy vô cùng rực rỡ, rõ mồn một, dẫu rằng trăng mới chỉ là trăng bán nguyệt. Tuy nhiên, tôi cứ liên tục tưởng tượng rằng những hình hài đang hiện hữu ở khắp mọi nơi ngoại trừ hướng mà ánh mắt tôi đang nhìn tới; và rằng chúng chỉ biến mất, hoặc hòa mình vào những hình thù cây cỏ khác ngay khoảnh khắc tôi hướng ánh nhìn về phía chúng. Dù thế nào đi nữa, ngoại trừ cảm giác có kẻ đang hiện diện ấy, khu rừng có vẻ hoàn toàn trống vắng, không một bóng người bầu bạn, mặc dù ánh mắt tôi thường xuyên bắt gặp vật gì đó mà tôi tưởng lầm là hình bóng con người; để rồi tôi nhanh chóng nhận ra mình đã hoàn toàn nhầm lẫn; bởi ngay khi tôi dán mắt vào đó, nó liền hiện nguyên hình là một bụi cây, một thân cây, hay một khối đá.
Chẳng mấy chốc, một cảm giác bất an mơ hồ bao trùm lấy tôi. Cảm giác ấy cứ lớn dần lên, dẫu có lúc thuyên giảm đôi chút; tựa như có một điều ác nào đó đang lang thang gần tôi, lúc thì đến gần, lúc lại lùi xa, nhưng vẫn không ngừng tiến lại. Cảm giác đó tiếp tục kéo dài và trầm trọng hơn, cho đến khi mọi niềm vui của tôi trước những cảnh tượng kỳ thú vốn báo hiệu sự hiện diện của bầy yêu tinh vui nhộn cứ thế phai nhạt dần, để lại trong tôi nỗi lo âu và sợ hãi ngập tràn, thứ cảm giác mà tôi không tài nào gắn kết nó với bất kỳ đối tượng cụ thể nào. Cuối cùng, một ý nghĩ kinh hoàng xẹt qua tâm trí tôi: “Liệu có khi nào lão Cây Tần Bì đang tìm kiếm ta không? Hay trong những chuyến lang thang ban đêm, đường đi của lão đang dần dịch chuyển về phía ta?” Tuy nhiên, tôi tự an ủi bản thân khi nhớ rằng lão đã khởi hành theo một hướng hoàn toàn khác; một con đường mà nếu cứ giữ vững, sẽ đưa lão đi xa khỏi tôi; nhất là khi suốt hai, ba tiếng đồng hồ qua, tôi vẫn miệt mài hành trình về hướng đông. Vì thế, tôi tiếp tục bước đi, dùng toàn bộ ý chí để chống lại nỗi sợ hãi đang dâng trào; và để đạt được mục đích ấy, tôi dồn hết tâm trí vào những suy nghĩ khác nhiều nhất có thể. Tôi đã thành công phần nào khi nhận ra rằng, dẫu biết nếu mình lơi lỏng dù chỉ một khoảnh khắc thôi, tôi sẽ ngập chìm trong kinh hoàng, tôi vẫn đủ sức bước thẳng suốt một tiếng đồng hồ hoặc hơn thế nữa. Tôi sợ điều gì, chính tôi cũng chẳng rõ. Quả thực, tôi rơi vào trạng thái hoang mang tột độ về bản chất của kẻ thù, không hề hay biết phương thức hay mục đích tấn công của hắn; bởi vì, chẳng hiểu sao, mọi câu hỏi của tôi đều không thể gặng ra được câu trả lời rõ ràng từ người phụ nữ trong căn nhà nhỏ. Vậy thì làm sao để tự vệ, tôi hoàn toàn không biết; thậm chí tôi cũng chẳng hay bằng dấu hiệu nào có thể nhận biết chắc chắn sự hiện diện của kẻ thù; vì cho đến lúc này, nỗi sợ hãi mơ hồ nhưng mãnh liệt ấy chính là dấu hiệu duy nhất về mối nguy hiểm mà tôi có. Để làm tình hình tồi tệ hơn, những đám mây ở phương tây đã dâng lên gần sát đỉnh trời, cả chúng và vầng trăng đang chậm chạp tiến về phía nhau. Quả thực, một số tiền 1 đồn tiên phong của chúng đã chạm trán mặt trăng, và nàng bắt đầu lội qua một lớp hơi màng mỏng đang dày dần lên.
Cuối cùng, có khoảnh khắc mặt trăng gần như bị che khuất hoàn toàn. Khi nàng tỏa sáng trở lại với độ chói lọi càng thêm phần tương phản, tôi nhìn thấy rõ ràng trên lối đi trước mặt — nơi mà hàng cây ở đoạn này lùi ra xa, nhường chỗ cho một khoảng cỏ xanh nhỏ — cái bóng của một bàn tay to lớn, với những khớp xương sần sùi và những nốt u lồi chỗ này chỗ khác. Đặc biệt, ngay giữa cơn hoang phở, tôi vẫn nhận ra những đầu ngón tay phình to như củ hành. Tôi hốt hoảng nhìn quanh bốn phía, nhưng chẳng thấy thứ gì có thể hắt ra cái bóng như thế. Tuy nhiên, giờ đây khi đã có một hướng đi, dẫu còn mơ hồ, để trút nỗi lo âu vào đó, chính cảm giác nguy hiểm và nhu cầu phải hành động đã chiến thắng sự ngột ngạt vốn là đặc tính tồi tệ nhất của nỗi sợ. Tôi sực nhận ra rằng, nếu đây thực sự là một cái bóng, thì việc tìm kiếm vật thể hắt ra cái bóng ấy ở bất kỳ hướng nào ngoài khoảng giữa cái bóng và mặt trăng là điều vô ích. Tôi nhìn, dán mắt và cố căng trói tầm nhìn, nhưng đều công cốc. Tôi chẳng thấy thứ gì dạng đó, thậm chí cả một cây tần bì nào ở gần đây cũng không có. Thế nhưng cái bóng vẫn còn đó; không đứng yên, mà chuyển động qua lại, và có lúc tôi thấy các ngón tay khép lại, nghiến chặt vào nhau như vuốt của một loài dã thú, tựa như đang khao khát không thể kìm nén đối với một con mồi nào đó mà chúng trông đợi. Dường như chỉ còn lại một cách duy nhất để khám phá thực thể tạo ra chiếc bóng này. Tôi can đảm bước tới, dẫu trong lòng run lên một cách vô ích mà tôi cố phớt lờ, tiến đến chỗ chiếc bóng đang ngự trị, ngã người xuống đất, đặt đầu vào đúng hình dáng của bàn tay, và ngước mắt nhìn lên mặt trăng. Hỡi các vị thần linh! Tôi đã thấy gì cơ chứ? Tôi tự ngạc nhiên vì sao mình còn đứng dậy được, và vì sao chính cái bóng của bàn tay ấy đã không giữ chặt lấy tôi tại chỗ cho đến khi nỗi sợ đóng băng cả tâm trí. Tôi nhìn thấy một hình thù kỳ dị nhất; mơ hồ, mờ ảo, gần như trong suốt ở phần trung tâm, rồi đậm dần về phía bên ngoài, cho đến khi kết thúc ở những phần tận cùng có khả năng hắt ra cái bóng hệt như bàn tay mà xuyên qua những ngón tay đáng sợ của nó, tôi giờ đây nhìn thấy mặt trăng. Bàn tay giơ lên trong tư thế của một cái vuốt sắp giáng xuống con mồi. Thế nhưng gương mặt, thứ đang nhấp nháy với độ hiển hiện chập chờn — không phải do sự thay đổi của ánh sáng nó phản chiếu, mà do sự biến đổi trong chính năng lực phản chiếu của nó, sự thay đổi đến từ bên trong chứ không phải từ bên ngoài — thật là kinh khủng. Tôi không biết phải diễn tả nó thế nào. Nó khơi gợi lên một cảm giác hoàn toàn mới lạ. Giống như người ta không thể dịch một mùi hôi thối kinh hoàng, hay một cơn đau buốt tận xương tủy, hay một thứ âm thanh đáng sợ ra thành lời, tôi cũng không thể mô tả hình thái mới lạ của sự ghê tởm khủng khiếp này. Tôi chỉ có thể cố gắng miêu tả một thứ gì đó không phải là nó, nhưng có vẻ hơi song song với nó; hoặc ít nhất là được gợi lên bởi nó. Nó gợi cho tôi nhớ đến những gì từng nghe về ma cà rồng; bởi gương mặt ấy giống thây ma hơn bất cứ thứ gì tôi có thể tưởng tượng; nhất là khi tôi có thể hình dung một gương mặt như thế đang chuyển động, nhưng lại không gợi lên bất kỳ sự sống nào là nguồn gốc của chuyển động ấy. Các đường nét khá ưa nhìn nếu xét theo một khía cạnh nào đó, ngoại trừ chiếc miệng hầu như không có lấy một đường cong. Đôi môi dày bằng nhau; nhưng độ dày ấy hoàn toàn không có gì nổi bật, dường như chúng hơi sưng lên thì phải. Chúng có vẻ hé mở cố định, nhưng không quá rộng. Tất nhiên là tôi đã không để ý đến những nét tướng ấy vào lúc đó; tôi quá hoảng sợ để làm điều đó. Tôi chỉ ghi nhận chúng sau này, khi hình thù ấy hiện về trong tâm trí với một độ sống động quá đỗi mãnh liệt khiến tôi không thể nghi ngờ độ chính xác của hình ảnh phản chiếu ấy. Nhưng điều kinh khủng nhất trong các nét mặt chính là đôi mắt. Chúng có vẻ sống động, nhưng không phải bằng sự sống.
Chúng dường như được thắp sáng bởi một sự tham lam vô hạn. Một cơn đói khát gặm nhấm, thứ đang nuốt chửng chính kẻ nuốt chửng, dường như là sức mạnh nội tại và thúc đẩy toàn bộ hiện thân ma quái ấy. Tôi nằm liệt đó trong khoảnh khắc, hoàn toàn đờ đẫn vì khủng khiếp; thì bấy giờ một đám mây khác bay qua che khuất mặt trăng, giải thoát tôi khỏi tác động làm tê liệt tức thời do sự hiện diện nhãn quan của cội nguồn kinh hoàng ấy mang lại, đồng thời nó lại tiếp thêm sức mạnh cho trí tưởng tượng vào quyền uy của nỗi sợ bên trong tôi; bởi vì, khi biết rõ nguyên nhân đáng sợ tồi tệ hơn trước rất nhiều, tôi vẫn hoàn toàn mù tịt không biết mình phải tự vệ trước thứ gì, hay làm sao để phòng bị: hắn có thể chồm tới tôi trong bóng tối bất cứ lúc nào. Tôi chồm dậy khỏi mặt đất, lao đi bất định, chỉ biết chạy trốn khỏi con ác quỷ. Tôi chẳng còn màng đến lối đi nữa, và nhiều lần suýt đâm sầm vào thân cây trong cơn cuồng phong trốn chạy vì sợ hãi.
Những giọt mưa lớn bắt đầu lộp bộp rơi trên tán lá. Tiếng sấm bắt đầu lầm bầm, rồi gầm gừ đằng xa. Tôi vẫn cắm cổ chạy. Mưa rơi nặng hạt hơn. Cuối cùng những chiếc lá dày đặc không thể nâng đỡ nổi lượng nước nữa; và như một bầu trời thứ hai, chúng trút những trận thác nước xuống mặt đất. Chẳng mấy chốc tôi đã ướt sũng, nhưng điều đó chẳng xá gì. Tôi đến một con suối nhỏ đang dâng nước cuồn cuộn chảy xiết qua khu rừng. Tôi nhen nhóm một hy vọng mơ hồ rằng nếu vượt qua được con suối này, tôi sẽ thoát khỏi kẻ bám đuổi; nhưng tôi nhanh chóng nhận ra hy vọng của mình vừa sai lầm vừa hão huyền. Tôi lao qua dòng suối, leo lên một khoảng đất cao hơn, và đến một nơi quang đãng hơn, nơi chỉ có những cây cổ thụ. Tôi hướng đi xuyên qua chúng, giữ hướng đông hết mức có thể đoán được, nhưng hoàn toàn không chắc mình có đang đi ngược hướng hay không. Tâm trí tôi vừa hồi phục đôi chút sau nỗi kinh hoàng tột độ, thì đột nhiên, một tia chớp, hay đúng hơn là một loạt những tia chớp liên tiếp phía sau tôi, dường như hắt xuống mặt đất phía trước mặt tôi — mờ nhạt hơn trước rất nhiều do nguồn sáng quá rộng — cái bóng của chính bàn tay kinh hoàng ấy. Tôi tung người lao tới, bị kích thích bởi tốc độ còn cuồng loạn hơn; nhưng chưa chạy được mấy bước thì chân tôi trượt đi, và trong nỗ lực vô vọng nhằm lấy lại thăng bằng, tôi ngã quỵ dưới gốc một trong những thân cây lớn. Choáng váng một nửa, tôi vẫn rướn người dậy và gần như vô thức quay lại nhìn. Tất cả những gì tôi thấy là bàn tay cách mặt mình chưa đầy ba thước. Nhưng cùng lúc đó, tôi cảm thấy hai vòng tay lớn mềm mại ôm chầm lấy mình từ phía sau; và một giọng nói tựa như tiếng phụ nữ cất lên: “Đừng sợ tên yêu tinh; hắn không dám làm hại anh nữa đâu.” Cùng lúc đó, bàn tay bỗng rụt lại như vừa chạm vào lửa, và biến mất trong màn đêm cùng làn mưa. Bị áp đảo bởi hỗn hợp của nỗi sợ hãi và niềm vui sướng, tôi nằm lì một lúc lâu gần như bất tỉnh. Điều đầu tiên tôi nhớ lại là âm thanh của một giọng nói cất lên từ phía trên, trầm ấm và đầy đặn, gợi nhắc một cách kỳ lạ đến tiếng gió thoảng qua tán lá của một cổ thụ lớn. Nó thì thầm lặp đi lặp lại: “Ta có thể yêu chàng, ta có thể yêu chàng; bởi chàng là một con người, còn ta chỉ là một cây sồi.” Tôi nhận ra mình đang ngồi trên mặt đất, tựa lưng vào một hình hài con người, và vẫn được nâng đỡ bởi đôi vòng tay ôm quanh người, mà tôi biết đó là của một người phụ nữ có vóc dáng nhỉnh hơn người thường một chút và nở nang. Tôi quay đầu lại, nhưng không dám dịch chuyển cơ thể vì sợ đôi vòng tay sẽ buông lơi; và bắt gặp đôi mắt trong trẻo, có phần u buồn đang nhìn vào tôi. Ít nhất đó là ấn tượng đọng lại trong tôi; nhưng tôi có thể thấy rất ít về màu sắc hay đường nét khi chúng tôi ngồi trong cái bóng tối tăm và mưa gió của thân cây. Gương mặt trông vô cùng xinh đẹp, và trang nghiêm bởi sự tĩnh lặng; mang diện mạo của một người hoàn toàn mãn nguyện, nhưng đang chờ đợi điều gì đó. Tôi thấy phỏng đoán của mình dựa vào đôi vòng tay là chính xác: nàng có vóc dáng lớn hơn kích thước con người ở mọi phương diện, nhưng không quá nhiều.
“Sao cô lại gọi mình là cây sồi?” Tôi hỏi.
“Bởi vì tôi là thế,” nàng đáp, bằng chính chất giọng trầm ấm, du dương và thì thầm ấy.
“Cô là một phụ nữ mà,” tôi đáp lại.
“Anh nghĩ vậy ư? Vậy tôi giống con người lắm à?”
“Cô là một người phụ nữ vô cùng xinh đẹp. Lẽ nào cô không biết điều đó sao?”
“Tôi rất vui vì anh nghĩ thế. Đôi khi tôi tưởng tượng mình có cảm giác giống như một người phụ nữ. Tối nay tôi cũng cảm thấy thế — và luôn luôn như vậy khi những giọt mưa rỏ xuống từ mái tóc tôi. Bởi vì trong những khu rừng của chúng tôi có một lời tiên tri cổ xưa rằng một ngày nào đó tất cả chúng tôi sẽ trở thành những nam thanh nữ tú giống như các anh. Anh có biết gì về điều đó ở miền đất của các anh không? Liệu tôi có được hạnh phúc ngập tràn khi trở thành một người phụ nữ chứ? Tôi e là không, bởi vì chính vào những đêm như thế này tôi mới cảm thấy mình giống một người phụ nữ. Dù vậy, tôi vẫn khao khát được làm đàn bà.”
Tôi để mặc nàng nói tiếp, bởi giọng nói của nàng tựa như sự hòa quyện của mọi âm thanh du dương nhất. Giờ đây tôi bảo nàng rằng tôi khó lòng nói được phụ nữ có hạnh phúc hay không. Tôi từng biết một người không hề hạnh phúc; và về phần mình, tôi từng khao khát Xứ Sở Yêu Tinh biết bao, cũng như nàng giờ đây khao khát thế giới loài người. Nhưng rồi cả hai chúng tôi đều chưa sống lâu cho lắm, và có lẽ con người sẽ hạnh phúc hơn khi họ già đi. Chỉ là tôi vẫn hoài nghi điều đó.
Tôi không khỏi thở dài. Nàng cảm nhận được tiếng thở dài ấy, bởi vòng tay nàng vẫn ôm lấy tôi. Nàng hỏi tôi bao nhiêu tuổi.
“Hai mươi mốt,” tôi đáp.
“Ôi chao, đồ trẻ con!” nàng thốt lên, và trao tôi một nụ hôn ngọt ngào nhất của những làn gió và hương hoa. Có một sự trung tín mát lành trong nụ hôn ấy đã làm tâm hồn tôi bừng tỉnh một cách kỳ diệu. Tôi cảm thấy mình không còn sợ hãi lão Cây Tần Bì đáng sợ kia nữa.
“Lão Tần Bì kinh khủng đó muốn gì ở tôi vậy?” Tôi hỏi.
“Tôi không chắc chắn lắm, nhưng tôi nghĩ lão muốn chôn anh dưới gốc cây của lão. Nhưng lão sẽ không đời nào chạm được vào anh đâu, đứa trẻ của tôi ạ.”
“Tất cả những cây tần bì đều đáng sợ như lão ta sao?”
“Ồ, không. Tất cả chúng đều là những sinh vật ích kỷ khó ưa — (thật là những gã đàn ông gớm ghiếc biết bao nếu điều đó là thật!) — nhưng lão này có một cái lỗ trong tim mà không ai biết ngoài một hoặc hai kẻ; và lão luôn cố gắng lấp đầy nó, nhưng không thể. Chắc chắn đó là lý do lão muốn bắt anh. Không biết liệu có bao giờ lão trở thành một con người không. Nếu có, tôi mong bọn họ sẽ giết chết lão.”
“Cô thật tốt bụng khi cứu tôi khỏi lão ta!”
“Tôi sẽ bảo đảm lão ta không dám bén mảng lại gần anh nữa. Nhưng trong rừng có những kẻ giống tôi hơn, những kẻ mà, ôi chao! tôi không thể bảo vệ anh được. Chỉ là nếu anh thấy bất kỳ ai trong số họ quá xinh đẹp, hãy cố đi vòng qua họ.”
“Rồi sao nữa?”
“Tôi không thể nói thêm cho anh biết được đâu. Nhưng giờ tôi phải thắt một ít tóc của mình quanh người anh, và khi ấy lão Tần Bì sẽ không dám chạm vào anh. Nào, hãy cắt một ít đi. Đồ đạc của mấy người đàn ông mang theo có mấy thứ bén ngắt để cắt đấy.”
Nàng buôngõ xõa mái tóc dài của mình phủ lên người tôi, vòng tay vẫn không hề dịch chuyển.
“Tôi không thể cắt mái tóc đẹp đẽ của cô được. Thật là một tội ác.”
“Không cắt tóc tôi ư? Nó sẽ mọc dài ra thừa thãi trước khi có ai cần đến nó trong khu rừng hoang dã này một lần nữa. Có lẽ nó sẽ chẳng bao giờ còn hữu dụng nữa đâu — cho đến khi tôi thành một người phụ nữ.” Và nàng thở dài.
Nhẹ nhàng hết mức có thể, tôi dùng con dao cắt một lọn tóc dài buông xõa sẫm màu, trong khi nàng cúi đầu xinh đẹp của mình phủ lên tôi. Khi tôi làm xong, nàng rùng mình và thở sâu, hệt như cảm giác khi một cơn đau buốt, được kiên cường chịu đựng không một tiếng kêu than, cuối cùng cũng dịu xuống. Sau đó nàng lấy lọn tóc thắt quanh người tôi, vừa cất tiếng hát một bài ca lạ lùng, ngọt ngào mà tôi không sao hiểu nổi, nhưng để lại trong tôi một cảm giác tựa thế này —
“Chưa từng thấy mặt anh xưa nay;
Chẳng gặp lại anh mãi sau này;
Nhưng tình yêu, ơn cứu, nỗi đau, hỡi người xinh đẹp,
Đã khiến anh thuộc về em, cho đến trọn cõi đời.”
Tôi không thể diễn tả thêm bài hát ấy ra thành lời. Nàng lại khép vòng tay ôm lấy tôi và tiếp tục cất tiếng hát. Tiếng mưa rơi trên tán lá, cùng một cơn gió nhẹ vừa thổi lên đã hòa nhịp cùng tiếng hát của nàng. Tôi chìm đắm trong trạng thái ngây ngất của niềm vui tịch mịch. Nó thì thầm cho tôi nghe bí mật của khu rừng, của những đóa hoa và muôn loài chim chóc. Có lúc tôi cảm thấy như mình đang lang thang thời thơ ấu qua những khu rừng mùa xuân ngập tràn ánh nắng, trên những thảm hoa anh thảo, hoa hải quì và những sinh vật nhỏ bé lấp lánh như sao — suýt chút nữa tôi đã thốt lên là những sinh vật sống, và khám phá ra những loài hoa kỳ diệu mới sau mỗi khúc ngoặt. Lúc khác, tôi lại nằm mơ màng giữa trưa hè oi ả, với một cuốn sách truyện cổ tích đặt bên cạnh, dưới bóng một cây sồi lớn; hoặc khi thu sang, lại thấy chạnh buồn vì dẫm lên những chiếc lá từng che chở cho tôi, và nhận lấy lời chúc phúc cuối cùng của chúng qua hương thơm ngọt ngào của mục rữa; hoặc trong một buổi tối mùa đông giá lạnh, đứng chết trân ngước nhìn qua những chành cành đan xen lên vầng trăng tuyết lạnh lẽo với vòng hào quang óng ánh ngọc mắt mèo bao quanh khi tôi bước về nhà nơi có ngọn lửa ấm áp. Cuối cùng tôi đã chìm vào giấc ngủ sâu; vì tôi chẳng còn biết gì diễn ra sau đó cho đến khi thấy mình đang nằm dưới một cội sồi tuyệt mỹ, trong ánh sáng trong trẻo của buổi sớm mai, ngay trước lúc mặt trời mọc. Xung quanh tôi là một vòng đai những chiếc lá sồi tươi non. Hỡi ôi! Tôi chẳng mang được gì ra khỏi Xứ Sở Yêu Tinh ngoài những ký ức — những ký ức. Những cành lớn của cây sồi rủ bóng xung quanh tôi. Phía trên đầu tôi là thân cây nhẵn nhụi, với những đường cong vĩ đại phồng lên như những chi chưa phát triển. Những tán lá và cành cây phía trên vẫn tiếp tục ngân nga bài ca đã ru tôi chìm vào giấc ngủ; chỉ là giờ đây, trong tâm trí tôi, nó nghe hệt như một lời tiễn biệt và một lời chúc chân cứng đá mềm. Tôi ngồi đó một lúc lâu, chẳng nỡ rời đi; nhưng câu chuyện dang dở của tôi cứ thôi thúc bước chân. Tôi phải hành động và lang thang. Khi mặt trời đã lên cao, tôi đứng dậy, dang hai tay rộng hết mức có thể vòng lấy thân cây sồi, hôn lên nó và cất lời chào tạm biệt. Một cơn run rẩy chạy qua những chiếc lá; vài giọt mưa cuối cùng của đêm qua từ trên đó rơi xuống chân tôi; và khi tôi chậm rãi bước đi, tôi dường như lại nghe thấy một tiếng thì thầm văng vẳng: “Ta có thể yêu chàng, ta có thể yêu chàng; bởi chàng là một con người, còn ta chỉ là một cây sồi.”