“Đánh đi, hỡi các tráng sĩ của ta, Sir Andrew đã bảo,
Ta dẫu bị thương chút ít, nhưng chưa phải đã vong mạng;
Ta chỉ nằm xuống rớm máu một chốc lát thôi,
Rồi ta sẽ đứng dậy và chiến đấu trở lại.”
BALLAD of Sir Andrew Barton.
Nhưng tôi không thể nán lại nơi ấy thêm chút nào nữa, dẫu ánh ban mai là điều tôi căm ghét, và ý nghĩ về một bình minh tuyệt trần, ngây thơ, rực rỡ lại khiến tôi không sao chịu nổi. Ở đây chẳng có lấy một con suối nhỏ để làm dịu đi gương mặt đang xót rát bởi những giọt nước mắt cay đắng của chính mình. Mà dẫu dòng suối trong hang động ấy có trong vắt như những dòng sông nơi vườn Địa Đàng đi chăng nữa, tôi cũng chẳng thèm ghé mặt vào rửa. Tôi đứng dậy, lê bước rời khỏi cái hang u ám như mộ phần. Tôi cất bước đi chẳng định hướng, chỉ biết là hướng về phía mặt trời mọc. Chim chóc đang cất tiếng hót, nhưng không phải dành cho tôi. Vạn vật đều cất lên thứ ngôn ngữ riêng của chúng, một thứ tiếng mà tôi chẳng còn chút liên quan nào, và cũng chẳng mải mai buồn tìm lấy chìa khóa để giải mã nữa.
Tôi thẫn thờ lê bước dọc theo con đường. Điều khiến tôi phiền muộn nhất—còn hơn cả sự dại dột của chính mình—chính là câu hỏi đầy hóc búa: Làm sao cái đẹp và sự xấu xí lại có thể dung chứa gần nhau nhường ấy? Ngay cả khi nàng đã đổi sắc diện với gương mặt đầy vẻ chán ghét; khi ảo tưởng bấy lâu vây quanh nàng đã vỡ vụn; khi bản chất nàng đã phơi bày như một nấm mồ di động, bạc tình, phỉnh gạt và bội phản; thì bất chấp tất cả những điều đó, tôi vẫn cảm nhận được rằng nàng vô cùng xinh đẹp. Tôi trầm ngâm suy ngẫm về điều này với sự hoang mang khôn nguôi, dẫu bản thân cũng thu nhặt được đôi chút tĩnh ngộ. Rồi tôi bắt đầu phỏng đoán về cách thức mình được cứu rỗi; và kết luận rằng hẳn đã có một vị anh hùng nào đó đang bôn ba tìm kiếm phiêu lưu, hay tin khu rừng này bị ma quái hoành hành; và vì biết rằng tấn công trực diện vào thực thể tà ác ấy là vô ích, chàng bèn dùng rìu chiến giáng thẳng vào cái thể xác mà ác quỷ kia đang trú ngụ và dựa vào đó để tung hoành làm điều ác chốn rừng sâu.
“Rất có thể,” tôi thầm nghĩ, “vị hiệp sĩ hối hận từng cảnh báo tôi về hiểm họa giáng xuống đầu tôi lúc trước, đang bận rộn chuộc lại danh dự đã mất của mình, trong lúc tôi cũng đang lún sâu vào nỗi buồn đau tương tự; và khi nghe về sinh vật đầy nguy hiểm cùng bí ẩn kia, chàng đã đến bên cội cây của nó kịp thời để cứu tôi khỏi bị kéo lê tới tận rễ, rồi bị chôn vùi như một thây ma nhằm nuôi dưỡng cơn khát máu vô đáy của nó.” Về sau, tôi nhận ra phỏng đoán của mình hoàn toàn chính xác. Tôi tự hỏi không biết chàng đã xoay sở ra sao khi những nhát rìu của chàng đánh thức chính cội Tần Bì, và điều đó rồi tôi cũng được biết sau này.
Tôi cứ thế đi suốt cả ngày, có những khoảng dừng chân nghỉ ngơi nhưng chẳng màng chút thức ăn nào; bởi dẫu có ai dâng hiếm, tôi cũng chẳng tài nào nuốt nổi. Cho đến tận chiều tà, dường như tôi đã đến được vùng ngoại vi của khu rừng và cuối cùng đặt chân tới một ngôi nhà nông trại. Một niềm vui khôn tả dâng tràn trong lồng ngực khi tôi được trông thấy chốn dung thân của con người một lần nữa, tôi vội vã rảo bước đến trước cửa và cất tiếng gõ. Một người phụ nữ phúc hậu, trông có vẻ đã luống tuổi nhưng hãy còn nhan sắc, ra mở cửa; vừa nhìn thấy tôi, bà liền ân cần cất lời: “Ôi, đứa bé tội nghiệp của ta, cháu từ trong rừng đi ra phải không? Đêm qua cháu có ở trong đó không?”
Hẳn tôi đã chẳng mảy may chịu nổi nếu bị gọi là “đứa bé” vào ngày hôm qua; nhưng giờ đây, sự dịu dàng mang âm hưởng tình mẫu tử trong câu nói ấy đã chạm thẳng vào trái tim tôi; và quả thật, giống như một đứa trẻ, tôi òa khóc nức nở. Bà vô cùng dịu dàng dỗ dành tôi; rồi dẫn tôi vào nhà, bắt tôi nằm nghỉ trên một chiếc ghế dài trong lúc bà đi tìm chút đồ ăn thức uống. Chẳng mấy chốc bà quay lại với thức ăn, nhưng tôi chẳng thể nào nuốt nổi. Bà gần như ép tôi phải uống một ngụm rượu, nhờ thế tôi mới dần hồi sức và trả lời được một vài câu hỏi của bà. Tôi đã kể lại cho bà nghe toàn bộ câu chuyện.
“Mọi chuyện đúng như ta lo sợ,” bà nói; “nhưng giờ thì cháu đã ở ngoài tầm với của bất kỳ sinh vật khủng khiếp nào trong đêm nay rồi. Chẳng có gì lạ khi chúng có thể phỉnh gạt một đứa trẻ ngây thơ như cháu. Nhưng ta phải nhờ cháu thế này, lát nữa chồng ta có về, xin cháu đừng hé nửa lời về những chuyện này; bởi ông ấy cho rằng ta thần kinh không bình thường khi tin vào những chuyện nhảm nhí đó. Nhưng ta buộc phải tin vào các giác quan của mình, dẫu ông ấy chẳng thể tin những gì vượt quá giới hạn nhận thức của bản thân—những thứ vốn chẳng mang lại cho ông ấy chút linh cảm nào về thế giới này. Ta nghĩ ông ấy có thể dành trọn đêm Vọng Lễ Thánh Gio-an trong khu rừng ấy để rồi quay về với lời khẳng định rằng ông chẳng thấy thứ gì tệ hại hơn bản thân mình cả. Quả thật, một người tốt như ông ấy, dẫu có được ban thêm bảy giác quan nữa thì cũng chẳng thể tìm thấy thứ gì tốt đẹp hơn chính mình đâu.”
“Nhưng xin bà hãy nói cho cháu biết vì sao nàng ta lại có thể xinh đẹp nhường ấy dẫu hoàn toàn vô cảm—thậm chí chẳng có lấy một chỗ dung thân cho một trái tim.”
“Ta không thể nói rõ được,” bà đáp; “nhưng ta chắc chắn rằng nàng ta sẽ không thể trông kiều diễm đến thế nếu không dùng đến những thủ pháp để tôn tạo nhan sắc vốn có của mình. Hơn nữa, cháu biết đấy, cháu đã bắt đầu bằng việc say đắm nàng ta trước cả khi nhìn thấy dung nhan ấy, khi lầm tưởng nàng với vị tiểu thư bằng cẩm thạch—một kiểu người hoàn toàn khác hẳn, theo ta nghĩ thế. Nhưng điều cốt yếu làm nên vẻ đẹp của nàng chính là ở điểm này: dẫu không yêu bất kỳ người đàn ông nào, nàng lại khao khát tình yêu từ tất cả bọn họ; và khi tóm được một kẻ vào tròng, khát vọng mê hoặc và chiếm đoạt tình cảm của gã (không phải vì tình yêu của gã đâu, mà để nàng có thể một lần nữa cảm nhận được nhan sắc của chính mình thông qua sự ngưỡng mộ mà gã bày tỏ) đã tô điểm cho nàng một vẻ đẹp vô cùng kiều diễm—dẫu đó là một vẻ đẹp mang mầm mống tự hủy diệt; bởi chính thứ ấy đang gặm nhấm tàn phá nàng từ bên trong từng ngày, cho đến cuối cùng, sự mục rữa sẽ lan tới gương mặt và toàn bộ vóc dáng, khi ấy lớp mặt nạ xinh đẹp bằng hư ảo kia sẽ tan thành từng mảnh, và nàng sẽ biến mất vĩnh viễn. Đó là điều mà một người thông thái từng gặp nàng trong rừng nhiều năm trước—người mà ta nghĩ, dẫu uyên bác nhường nào, cũng chẳng khá khẩm hơn cháu là bao—đã kể lại cho ta nghe, khi ông ấy, cũng giống như cháu, đã trải qua đêm hôm sau ở đây và thuật lại cho ta những cuộc phiêu lưu của mình.”
Tôi tha thiết bày tỏ lòng biết ơn trước lời giải thích của bà, dẫu nó mới chỉ hé mở một phần; lòng vô cùng ngạc nhiên khi thấy ở người phụ nữ này, cũng như ở người phụ nữ tôi gặp lúc mới bước chân vào rừng, lại có một sự tinh tế vượt trội so với hoàn cảnh bề ngoài của họ. Nói rồi bà để tôi lại để nghỉ ngơi; dẫu thực tình, lòng dạ tôi đang xốn xang đến mức chẳng thể tịnh dưỡng bằng cách nào khác ngoài việc nằm yên một chỗ.
Nửa tiếng sau, tôi nghe thấy những bước chân nặng nề tiến đến và bước vào nhà. Một giọng nói hào sảng, với chút khàn đợ đượm vẻ vui cười quá trớn, vang lên: “Betsy, máng ăn của lũ heo trống hoác rồi kìa, tiếc thật đấy. Cho chúng nốc đi em! Chẳng ích gì ngoài việc nuôi cho béo múp míp. Ha! ha! ha! Tội tham ăn đâu có bị cấm trong điều răn của chúng đâu. Ha! ha! ha!” Chính giọng nói ấy, vừa nhân hậu lại vừa khoáng đạt, dường như đã lột bỏ khỏi căn phòng vẻ kỳ lạ mà mọi chốn mới đến thường mang theo—đánh thức nó khỏi cõi u huyền để trở về với thực tại. Căn phòng bắt đầu trở nên gần gũi như thể tôi đã thuộc nằm lòng từng góc nhỏ suốt hai mươi năm qua; và khi người chủ nhà bước vào ít lâu sau đó để gọi tôi ra dùng bữa tối sớm, cái bắt tay chắc nịch cùng vầng mặt trán phúc hậu tựa vầng trăng mùa gặt của ông—thứ ánh sáng cần thiết để soi rọi cả khối tròn lẳn bên dưới—đã tạo ra một sự chuyển biến mạnh mẽ trong tâm trí tôi, khiến tôi có khoảnh khắc khó lòng tin rằng Xứ Sở Thần Tiên thực sự tồn tại; và rằng tất cả những gì tôi đã trải qua từ khi rời nhà hóa ra không phải là giấc mơ hoang đường của một tâm trí bệnh hoạn, tác động lên một cơ thể quá đỗi nhạy cảm, không chỉ khiến tôi lữ hành thực sự mà còn vẽ nên quanh tôi những ảo ảnh mơ hồ dọc theo những nẻo đường thực tế mà đôi chân tôi từng bước qua. Nhưng rồi khoảnh khắc tiếp theo, ánh mắt tôi chạm phải một cô bé đang ngồi ở góc sưởi, trên đầu gối mở một cuốn sách nhỏ, từ đó con bé vừa ngẩng lên để đăm đăm nhìn tôi bằng đôi mắt tròn xoe đầy vẻ dò hỏi. Tôi lại tin vào Xứ Sở Thần Tiên một lần nữa. Con bé tiếp tục đọc sách ngay khi nhận ra tôi đang nhìn mình. Tôi bước lại gần, liếc qua vai con bé và thấy nó đang đọc quyển Truyện về Graciosa và Percinet.
“Một cuốn sách rất bổ ích đấy, thưa cậu,” người bác nông dân cất lời với một tiếng cười đôn hậu. “Chúng ta đang ở ngay sào huyệt nóng bỏng nhất của Xứ Sở Thần Tiên rồi đây. Ha! ha! Đêm qua là một đêm giông bão đấy, thưa cậu.”
“Vậy sao?” tôi đáp lời. “Tôi lại không thấy thế. Chưa bao giờ tôi được thấy một đêm nào đẹp lộng lẫy đến vậy.”
“Thật ư! Thế đêm qua cậu ở đâu?”
“Tôi ở trong rừng. Tôi đã bị lạc đường.”
“Ồ! Thế thì, có lẽ cậu sẽ có thể thuyết phục mụ vợ hiền của tôi rằng chẳng có gì gọi là kỳ lạ ở cái khu rừng ấy cả; bởi thú thật với cậu, nó mang tiếng xấu lắm ở chốn này. Dám cá là cậu chẳng thấy thứ gì tồi tệ hơn bản thân mình ở trỏng chứ?”
“Tôi hy vọng là mình có thấy,” đó là câu trả lời thầm kín trong tôi; nhưng thành tiếng, tôi chỉ nhún nhường đáp: “À, quả thực tôi có thấy vài hiện tượng mà mình khó lòng giải thích nổi; nhưng điều đó cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên ở một khu rừng hoang vu xa lạ, lại chỉ có ánh trăng mập mờ để dò đường.”
“Đúng thế lắm! Cậu nói năng ra dáng một người hiểu biết đấy, thưa ngài. Xung quanh chúng ta chẳng có mấy ai thông minh lẽ phải thế đâu. Cậu sẽ khó mà tin được đấy, vợ tôi tin sái cổ mọi câu chuyện cổ tích từng được viết ra. Tôi chẳng tài nào hiểu nổi. Trong mọi chuyện khác, bả đúng là một người cực kỳ sắc sảo.”
“Nhưng chẳng lẽ điều đó không nên khiến bác dành chút tôn trọng cho niềm tin của bà ấy, dẫu bản thân mình không thể đồng cảm hay sao?”
“Vâng, nói lý thuyết thì hay lắm; nhưng khi phải sống chung đụng mỗi ngày với sự phi lý, việc cư xử tôn trọng lại trở nên khó khăn hơn nhiều. Cậu biết đấy, vợ tôi thực sự tin vào câu chuyện ‘Con Mèo Trắng’. Dám cá là cậu cũng biết chứ.”
“Tôi đã đọc tất cả những câu chuyện ấy khi còn là một đứa trẻ, và biết rất rõ câu chuyện đó.”
“Nhưng thưa cha,” cô bé ngồi bên góc sưởi xen vào, “cha thừa biết là mẹ cháu là hậu duệ chính gốc của vị công chúa từng bị mụ phù thủy độc ác hóa phép thành con mèo trắng mà. Mẹ đã kể cho cháu nghe điều đó rất nhiều lần, và cha phải tin mọi điều mẹ nói chứ.”
“Cha rất dễ tin điều đó,” người nông dân đáp lại bằng một tràng cười sảng khoái khác; “vì mới đêm qua thôi, có con chuột cứ cào cấu chí chóe dưới sàn nhà, không chịu để chúng ta yên giấc. Mẹ cháu liền tung chăn bật dậy, tiến đến sát mép sàn nhất có thể, và kêu meo meo ghê rợn chẳng khác gì một con mèo bự, khiến tiếng động im bặt tức khắc. Cha tin là con chuột tội nghiệp ấy đã lăn đùng ra chết vì sợ hãi, vì từ đó đến nay chúng ta chẳng hề nghe thấy tiếng nó nữa. Ha! ha! ha!”
Cậu con trai, một thanh niên có vẻ mặt cau có khó ưa bước vào giữa cuộc trò chuyện, cũng hùa theo tiếng cười của cha; nhưng nụ cười của hắn hoàn toàn khác với ông cụ: nó vấy bẩn một nét cười nhạo cợt. Tôi dõi theo hắn và thấy ngay khi dứt tiếng cười, hắn tỏ ra hoảng hốt, như thể đang lo sợ những hậu quả tai hại sẽ giáng xuống vì sự cả gan của mình. Người phụ nữ đứng gần đó, kiên nhẫn đợi chúng tôi ngồi vào bàn và lắng nghe tất cả với vẻ mặt thích thú, phảng phất nét biểu cảm khi người ta lắng nghe những lời giáo điều đạo mạo của một đứa trẻ ra vẻ ta đây. Chúng tôi ngồi xuống bàn ăn tối và tôi ăn ngấu nghiến. Những nỗi muộn phiền vừa qua đã bắt đầu lùi xa vời vợi.
“Cậu chuẩn bị đi về hướng nào thế?” người đàn ông lớn tuổi hỏi.
“Hướng Đông,” tôi đáp; và chẳng thể đưa ra một câu trả lời nào rạch ròi hơn thế. “Khu rừng có kéo dài mãi về hướng đó không ạ?”
“Ồ! Cả dặm này qua dặm khác ấy chứ; tôi cũng chẳng rõ xa đến nhường nào. Vì dẫu sống ở bìa rừng suốt đời, tôi quá bận rộn để mà thực hiện những chuyến thám hiểm sâu vào trong đó. Hơn nữa tôi chẳng thấy mình khám phá được gì. Toàn là cây với cây, đến mức phátmệt lên được. Nhắc mới nhớ, nếu cậu đi theo con đường mòn phía Đông từ đây, cậu sẽ đi ngang qua chỗ mà bọn trẻ đồn thổi là chính cái nhà của gã yêu tinh từng được Chú Bé Tí Hon viếng thăm, và gã đã ăn thịt những đứa con gái nhỏ đội vương miện vàng của mình đấy.”
“Ối cha! Ăn thịt các cô con gái nhỏ ư? Không đâu ạ; cha ấy chỉ đổi vương miện vàng của họ thành mũ ngủ thôi; chính gã yêu tinh nanh dài to lớn kia đã lầm tưởng và giết chết họ; nhưng cháu không nghĩ là ngay cả gã cũng ăn thịt họ đâu, vì cha biết đấy họ đều là những nàng yêu tinh nhỏ của gã mà.”
“Ừ thì, tùy con; con rành mọi chuyện ấy hơn cha nhiều. Tuy nhiên, trong một vùng quê lắm chuyện nhảm nhí thế này, ngôi nhà đó tất nhiên mang tiếng chẳng lành chút nào; và thú thật là có một người phụ nữ đang sống ở đó, với hàm răng đủ dài và đủ trắng để làm hậu duệ đời trực hệ của gã yêu tinh vĩ đại nhất từng tồn tại. Tôi nghĩ cậu tốt nhất là đừng bén mảng đến gần ả.”
Đêm cứ thế trôi qua trong những câu chuyện trò như thế. Khi bữa tối đã tàn, kéo dài khá lâu, nữ chủ nhà dẫn tôi lên phòng nghỉ của mình.
“Nếu cậu chưa thấy ngán ngẩm mấy thứ đó,” bà bảo, “ta đã xếp cho cậu một căn phòng khác hướng ra khu rừng; ở đó khả năng cao cậu sẽ được chứng kiến nhiều hơn về cư dân của chốn ấy. Vì chúng thường xuyên đi ngang qua cửa sổ, thậm chí đôi khi còn bước thẳng vào phòng. Những sinh vật kỳ dị thường lang thang suốt đêm trong căn phòng ấy vào một số mùa trong năm. Ta đã quen rồi nên chẳng bận tâm. Con bé nhà ta cũng vậy, nó vẫn ngủ ở đó luôn. Nhưng căn phòng này lại quay về hướng Nam nhìn ra đồng bằng quang đãng, và chúng chẳng bao giờ bén mảng tới đây; ít ra là ta chưa từng thấy bao giờ.”
Tôi có phần tiếc nuối khi không thể thu nhặt thêm chút trải nghiệm nào về những cư dân của Xứ Sở Thần Tiên; nhưng sức ảnh hưởng từ sự hiện diện của người nông dân và những cuộc phiêu lưu vừa qua đã khiến tôi thèm khát một giấc ngủ yên bình tại chốn trần thế này hơn; với những chiếc rèm trắng tinh khôi và bộ chăn ga trắng muốt, căn phòng thực sự mời gọi sự mệt mỏi của tôi.
Buổi sáng tôi tỉnh dậy đầy sảng khoái, sau một giấc ngủ say không mộng mị. Mặt trời đã lên cao khi tôi nhìn ra cửa sổ, chiếu rọi khắp một vùng nông thôn rộng lớn, nhấp nhô những thửa ruộng được canh tác. Đủ loại rau củ trong vườn đang đâm chồi dưới khung cửa sổ. Mọi thứ ngập tràn ánh nắng mai rực rỡ. Những giọt sương đang lấp lánh bận rộn; đàn bò ngoài cánh đồng gần đó đang cặm cụi gặm cỏ như thể chúng chưa từng làm thế suốt ngày hôm qua; mấy cô hầu gái vừa đi lại giữa các gian nhà phụ vừa cất tiếng hát vang: tôi đã không còn tin vào Xứ Sở Thần Tiên nữa. Tôi bước xuống nhà và thấy gia đình họ đã tề tựu bên bàn ăn sáng. Nhưng trước khi tôi bước vào phòng, cô con gái nhỏ chạy lại phía tôi, ngẩng mặt lên nhìn như muốn nói điều gì. Tôi cúi người xuống; con bé vòng tay ôm lấy cổ tôi, áp miệng vào tai tôi và thì thầm—
“Có một bà tiên áo trắng cứ lảng vảng quanh nhà suốt cả đêm đấy ạ.”
“Không được thì thầm sau lưng người khác nhé!” ông nông dân lên tiếng; và chúng tôi cùng bước vào. “Nào, đêm qua cậu ngủ thế nào? Không có bóng ma nào ghé thăm chứ, hửm?”
“Không có mảy may nào, cảm ơn bác; tôi ngủ ngon tuyệt cú mèo.”
“Nghe thế tôi mừng rồi. Lại đây ăn sáng nào.”
Sau bữa sáng, hai cha con người nông dân đi ra ngoài; tôi ở lại cùng hai mẹ con.
“Khi nhìn ra cửa sổ sáng nay,” tôi nói, “tôi đã gần như đinh ninh rằng Xứ Sở Thần Tiên chỉ là một ảo ảnh trong đầu mình; nhưng hễ cứ đến gần hai mẹ con, tôi lại thấy khác đi. Thế nhưng, sau những cuộc phiêu lưu vừa qua, tôi lẽ ra nên tự nhủ phải quay về và dứt khoát không dính dáng gì đến những sinh vật kỳ lạ ấy nữa.”
“Thế cháu định quay về bằng cách nào?” người phụ nữ hỏi.
“Thưa, điều đó thì tôi chịu.”
“Bởi vì ta nghe nói rằng, đối với những kẻ đã bước chân vào Xứ Sở Thần Tiên, sẽ chẳng có con đường nào để quay lại. Họ buộc phải tiến bước và đi xuyên qua nó. Còn cách thức thế nào thì ta hoàn toàn không biết.”
“Đó cũng chính là cảm giác choán lấy tâm trí tôi. Có cái gì đó bắt buộc tôi phải tiến lên, cứ như thể con đường duy nhất của tôi là hướng về phía trước, dẫu sáng nay tôi chẳng mấy mặn mà tiếp tục những cuộc phiêu lưu của mình.”
“Cháu có muốn đi xem phòng của con bé nhà ta không? Nó ngủ ở căn phòng mà ta đã bảo, hướng ra phía khu rừng đấy.”
“Vâng, rất sẵn lòng,” tôi đáp.
Thế là chúng tôi cùng đi, cô bé chạy tót lên trước để mở cửa cho chúng tôi. Đó là một căn phòng rộng, đầy những món đồ nội thất cổ kính có vẻ như từng thuộc về một dinh thự lớn nào đó.
Cửa sổ được xây theo vòm thấp, lắp những ô kính hình quả trám. Bức tường rất dày, được kết bằng đá tảng nguyên khối. Tôi nhận ra một phần ngôi nhà được cất dựa vào tàn tích của một lâu đài hay tu viện cổ nào đó, hoặc một công trình vĩ đại khác; những viên đá đổ nát của chúng có lẽ đã được tận dụng để hoàn thiện nơi này. Nhưng ngay khi tôi phóng tầm mắt nhìn qua khung cửa sổ, một luồng sóng kinh ngạc và khát khao bỗng tràn ngập tâm hồn tôi như thủy triều của đại dương bao la. Xứ Sở Thần Tiên đang nằm trước mắt tôi, lôi kéo tôi về phía nó bằng một sức hút không thể chối từ. Những tán cây tắm gội vầng đầu vĩ đại của chúng trong sóng nước ban mai, trong khi phần rễ lại cắm sâu vào chốn tối tăm mịt mùng; ngoại trừ những khoảng rìa nơi ánh nắng hắt vào thân cây, hoặc luồn qua các hàng cây theo những dòng suối dài, gột rửa những chiếc roi lá mà nó chảy qua thêm phần rực rỡ; phơi bày sắc nâu trù phú của những chiếc lá mục cùng quả thông khô, bên cạnh sắc xanh dịu dàng của thảm cỏ dài và những khu rừng rêu tí hon bao phủ lấy lòng máng qua đó ánh sáng trượt qua tựa những dòng sông ánh sáng bất động. Tôi vội vã quay người để từ biệt nữ chủ nhà mà không chần chừ thêm nữa. Bà mỉm cười trước sự vội vã của tôi, nhưng ánh mắt thoáng vẻ lo âu.
“Theo ta, cháu tốt nhất là đừng bén mảng đến gần ngôi nhà của gã yêu tinh. Con trai ta sẽ dẫn cháu sang một con đường khác nối vào lối đi chính ở phía sau đó.”
Không muốn tỏ ra ương ngạnh hay quá tự mãn thêm nữa, tôi đồng ý; và sau khi từ biệt những người chủ nhà nhân hậu, tôi bước vào rừng cùng với người thanh niên. Dọc đường đi hắn hầu như chẳng hé răng nửa lời; nhưng hắn dẫn tôi xuyên qua những tán cây cho đến khi bắt gặp một lối mòn. Hắn bảo tôi cứ theo đường ấy, rồi buông một câu “chào buổi sáng” cụt lủn và bỏ đi mất.