“Ta là một phần của phần vốn từ đầu là tất cả.”
GOETHE.—Mephistopheles trong Faust.
Tâm trạng tôi phấn chấn hơn khi đi sâu hơn vào trong rừng; nhưng tôi không thể lấy lại được sự linh hoạt trong tâm trí như trước. Tôi nhận ra rằng sự phấn khởi cũng giống như chính cuộc sống vậy—không thể tạo ra bằng bất kỳ lý lẽ nào. Về sau, tôi học được rằng cách tốt nhất để đối phó với một số loại suy nghĩ đầy đau đớn là thách thức chúng làm điều tồi tệ nhất; cứ để mặc chúng nằm đó gặm nhấm trái tim bạn cho đến khi chúng mệt mỏi; và bạn sẽ thấy mình vẫn còn một phần sự sống mà chúng không thể tước đoạt. Cứ thế, dù hay hay dở, tôi tiếp tục bước đi cho đến khi đến một khoảng rừng thưa nhỏ. Giữa khoảng trống này có một ngôi nhà gỗ dài và thấp, được dựng với một đầu tựa vào một gốc cây bách đơn độc vươn lên như ngọn tháp của tòa nhà. Một mối hoang mang mơ hồ thoáng qua trong tâm trí khi tôi nhìn thấy nó; nhưng tôi buộc phải đến gần hơn và nhìn qua một cánh cửa nhỏ hé mở, nằm ở đầu đối diện với cây bách. Tôi chẳng thấy cửa sổ nào cả. Khi thò đầu nhìn vào và hướng về phía đầu bên trong, tôi thấy một ngọn đèn đang cháy với ánh lửa mờ ảo, ngả đỏ, và đầu của một người phụ nữ cúi gằm xuống, như thể đang đọc sách dưới ánh sáng đó. Tôi không thể nhìn thấy gì thêm trong vài khoảnh khắc. Cuối cùng, khi mắt tôi đã quen với ánh sáng mờ ảo nơi đây, tôi nhận ra rằng phần ngôi nhà thô sơ gần chỗ tôi đứng được dùng cho các sinh hoạt gia đình; vì có vài dụng cụ thô kệch nằm rải rác đây đó, và một chiếc giường đặt ở góc phòng.
Một sức hút không thể cưỡng lại buộc tôi phải bước vào. Người phụ nữ không hề ngẩng mặt lên, mà tôi chỉ có thể nhìn rõ phần trên khuôn mặt cô ta; nhưng ngay khi tôi bước qua ngưỡng cửa, cô ta bắt đầu đọc lớn tiếng, bằng một giọng trầm và không hẳn là khó chịu, từ một cuốn sách cổ nhỏ xíu mà cô ta cầm mở bằng một tay trên chiếc bàn đặt ngọn đèn. Những gì cô ta đọc đại loại thế này:
“Vậy nên, cũng như bóng tối không có khởi đầu, nó cũng sẽ chẳng bao giờ có kết điểm. Vậy nên, nó là vĩnh cửu. Sự phủ định của bất cứ thứ gì khác chính là sự khẳng định của nó. Nơi nào ánh sáng không thể đến, nơi đó bóng tối ngự trị. Ánh sáng chỉ khoét một đường hầm từ sự bao la vô tận của bóng tối mà thôi. Và luôn luôn, sát theo những bước chân của ánh sáng là bóng tối; phải, nó trào dâng thành những con suối và giếng nước giữa lòng ánh sáng, từ những mạch ngầm trong biển cả hùng vĩ của bóng tối. Quả thực, con người chỉ là một ngọn lửa thoảng qua, chuyển động bất định giữa sự tĩnh lặng vây quanh của màn đêm; mà nếu thiếu nó thì con người chẳng thể tồn tại, và con người cũng mang một phần bản chất của nó.”
Khi tôi tiến lại gần hơn và cô ta tiếp tục đọc, cô ta nhích người sang một bên để lật một trang của cuốn sách cổ kính ngăm đen, và tôi thấy khuôn mặt cô ta tái xám và hơi khó coi. Trán cô ta cao, và đôi mắt đen ẩn chứa vẻ tĩnh lặng đầy kìm nén. Nhưng cô ta chẳng hề để ý đến tôi. Đầu căn nhà này, nếu có thể gọi là nhà, trống hoác chẳng có đồ đạc gì, ngoại trừ chiếc bàn đặt ngọn đèn và cái ghế người phụ nữ đang ngồi. Ở một góc có một cánh cửa, bề ngoài trông giống cửa tủ áp tường, nhưng rất có thể dẫn đến một căn phòng phía sau. Tuy nhiên, khao khát không cưỡng lại được đã thôi thúc tôi bước vào nhà: tôi phải mở cánh cửa đó ra và xem đằng sau nó có gì. Tôi đến gần và đặt tay lên chiếc chốt thô sơ. Lúc bấy giờ, người phụ nữ lên tiếng, nhưng không hề ngẩng đầu hay nhìn về phía tôi: “Anh tốt nhất đừng mở cánh cửa đó.” Câu nói được thốt lên rất bình thản; rồi cô ta tiếp tục việc đọc sách của mình, lúc thì mấp máy không tiếng động, lúc thì đọc thành cả tiếng; nhưng cả hai cách đều có vẻ chỉ dành riêng cho một mình cô ta. Dù vậy, lệnh cấm đoán ấy chỉ càng làm tăng thêm khao khát muốn nhìn cho bằng được của tôi; và vì cô ta không thèm đếm xỉa gì nữa, tôi từ từ đẩy tung cánh cửa ra hết cỡ và nhìn vào bên trong. Ban đầu, tôi chẳng thấy gì đáng chú ý. Nơi đó trông giống như một cái nhà kho thông thường, với các kệ ở hai bên, trên đó bày biện nhiều vật dụng nhỏ nhặt phục vụ cho sinh hoạt bình thường của một căn nhà gỗ. Ở một góc có một hai cây chổi, góc khác có một cái rìu và những dụng cụ thông thường khác; cho thấy nó được sử dụng suốt từng giờ trong ngày cho việc gia định. Nhưng khi nhìn kỹ hơn, tôi nhận ra ở phía sau không có kệ nào cả, mà là một không gian trống kéo sâu vào trong; điểm tận cùng của nó có vẻ là một bức tường hoặc tấm màn đang lấp lánh mờ ảo, tuy nhiên lại nhỏ hơn chiều rộng và chiều cao của khung cửa nơi tôi đang đứng. Thế nhưng, khi tôi tiếp tục dán mắt trong vài giây về phía ranh giới mờ ảo ấy, đôi mắt tôi đã bắt nhịp thực sự với cảnh tượng trước mắt. Đột nhiên, với một cái rùng mình hệt như khi ai đó chợt nhận ra sự hiện diện của người khác trong một căn phòng mà suốt nhiều giờ liền họ vẫn tưởng chỉ có một mình, tôi nhận ra cái đầu mút tưởng chừng phát sáng ấy thực ra là bầu trời đêm, được nhìn qua một đường hầm hẹp và tối tăm kéo dài, chẳng biết xuyên qua cái gì hoặc được xây bằng thứ gì. Khi ngắm nhìn, tôi nhìn thấy rõ hai hoặc ba ngôi sao đang lấp lánh mờ nhạt ở khoảng trời xanh thẳm đằng xa. Nhưng thình lình, như thể nó đã chạy bán sống bán chết từ một nơi rất xa để đến đúng chỗ này, và vừa quạt góc cua mà không hề giảm tốc, một bóng đen lao vút vào và dọc theo lối đi từ ô cửa xanh ở tận cùng góc khuất. Tôi giật lùi lại và rùng mình, nhưng vẫn tiếp tục nhìn vì không tài nào kìm được. Nó cứ thế tiến lại gần, với tốc độ chóng mặt nhưng mãi vẫn chưa tới nơi; cho đến cuối cùng, qua muôn vàn tầng nấc tiệm cận, nó dường như bước vào phạm vi của tôi, lao sầm đến và vượt qua tôi để tiến vào căn nhà gỗ. Tất cả những gì tôi có thể nhận biết về hình thù của nó là một bóng người đen đúa. Chuyển động của nó hoàn toàn không phát ra tiếng động, có thể gọi là lướt đi, nếu như trông nó không giống một kẻ đang chạy nhưng với đôi chân vô hình của bóng ma. Tôi đã lùi lại thêm chút xíu để nhường đường cho nó và ngay lập tức quay đầu nhìn theo. Tôi chẳng thấy nó đâu nữa.
“Nó đâu rồi?” Tôi có chút hoảng hốt cất tiếng hỏi người phụ nữ vẫn đang ngồi đọc sách.
“Đằng kia, trên sàn nhà, ngay sau lưng anh đấy,” cô ta đáp, vừa chỉ tay với cánh tay duỗi nửa chừng nhưng chẳng thèm ngẩng mắt lên. Tôi quay người nhìn nhưng chẳng thấy gì cả. Thế rồi, với cảm giác rằng vẫn còn thứ gì đó ở sau lưng, tôi ngoái đầu nhìn qua vai; và kìa, trên mặt đất, một cái bóng đen sì nằm đó, to bằng kích thước của một người. Nó tối đen đến mức tôi có thể nhìn rõ trong ánh đèn lờ mờ chiếu thẳng vào nó, dường như chẳng hề làm loãng đi chút nào độ đậm đặc của sắc màu ấy.
“Tôi đã bảo anh rồi,” người phụ nữ nói, “anh tốt nhất đừng nhìn vào cái kho đó.”
“Cái gì thế?” Tôi lên tiếng, nỗi kinh hoàng trong tôi ngày một dâng cao.
“Đó chỉ là cái bóng của anh đã tìm thấy anh thôi,” cô ta đáp. “Cái bóng của mọi người đều đang lang thang khắp nơi để tìm chủ nhân của nó. Tôi tin là ở thế giới của anh, người ta gọi nó bằng một cái tên khác: bóng của anh đã tìm thấy anh rồi, như thể cái bóng của bất kỳ ai nhìn vào cái kho đó cũng chắc chắn sẽ thế, nhất là sau khi gặp một người trong khu rừng mà tôi dám chắc là anh đã gặp.”
Đến đây, lần đầu tiên cô ta ngẩng đầu lên và nhìn thẳng vào tôi: miệng cô ta đầy những chiếc răng dài, trắng và sáng bóng; và tôi biết rằng mình đang ở trong nhà của yêu tinh. Tôi không thốt nên lời, bèn quay gót rời khỏi ngôi nhà, với cái bóng bám riết ngay sau gót chân. “Một kiểu hầu cận thật hay ho làm sao,” tôi cay đắng lẩm bẩm với chính mình khi bước ra ánh nắng, và ngước nhìn qua vai, tôi thấy cái bóng thậm chí còn đen sì hơn giữa cái chói chang của ánh dương. Thật vậy, chỉ khi tôi đứng chắn giữa nó và mặt trời, sắc đen ấy mới suy giảm đôi chút. Tôi hoang mang đến độ chết trân—choáng váng—cả vì biến cố lẫn sự đột ngột của nó, đến mức tôi chẳng thể hình dung nổi việc phải chịu đựng sự đeo bám kỳ lạ và liên tục ấy sẽ ra sao; nhưng với một niềm xác tín mơ hồ rằng sự ghê sợ hiện tại của tôi chẳng mấy chốc sẽ biến thành lòng căm phẫn tột độ, tôi lê bước sầu thảm xuyên qua khu rừng.