“Không ai có hình hài của ta ngoài chính ta.”
Schoppe, trong Titan của JEAN PAUL.
“Niềm vui là một tinh linh huyền ảo.
Tôi nghĩ con người hạnh phúc nhất khi quên đi chính mình.”
CYRIL TOURNEUR, Bi kịch của kẻ báo thù.
Vào ngày thứ ba của cuộc hành trình, ta thong thả cưỡi ngựa dọc theo một con đường dường như ít ai qua lại, nếu nhìn vào lớp cỏ mọc um tùm trên lối đi. Ta đang đến gần một khu rừng. Ở Xứ sở thần tiên, rừng rậm muôn đời là chốn ta có thể chắc chắn nhất về việc gặp gỡ những chuyến phiêu lưu. Khi ta tới gần, một thiếu niên không mang vũ khí, dịu dàng và tuấn tú, vừa cắt một cành cây thủy tùng mọc bên rìa rừng—rõ ràng để làm cho mình một chiếc cung—đã bước đến và cất lời chào ta:
“Hỡi ngài hiệp sĩ, xin hãy cẩn trọng khi cưỡi ngựa qua khu rừng này; bởi người ta đồn rằng nơi đây bị yểm bão một cách kỳ lạ, theo một kiểu mà ngay cả những ai từng chứng kiến phép quỷ quái ấy cũng khó lòng mô tả nổi.”
Ta cảm ơn lời khuyên của cậu, hứa sẽ làm theo, rồi tiếp tục dong ngựa đi. Nhưng ngay khoảnh khắc ta bước vào trong rừng, ta có cảm giác rằng nếu thực sự có ma thuật, thì đó hẳn phải là một thứ phép màu lành tính; bởi cái Bóng—vốn từ lâu đã tối tăm và gây phiền toái hơn mức bình thường kể từ khi ta lên đường—bỗng nhiên biến mất. Ta cảm thấy tâm hồn mình phơi phới lạ thường, và bắt đầu ngẫm nghĩ về cuộc đời quá khứ, đặc biệt là trận chiến với những tên người khổng lồ, với sự mãn nguyện lớn lao đến độ ta thực sự phải tự nhắc nhở bản thân rằng mình chỉ mới hạ sát một tên trong số chúng; và rằng, nếu không nhờ có các anh em, ta đã chẳng bao giờ dám tơ tưởng đến chuyện tấn công chúng, chứ đừng nói đến chút sức lực cỏn con để đứng vững trước chúng. Mặc dù vậy, ta vẫn hoan hỉ, tự xếp mình vào hàng ngũ những bậc hiệp sĩ hiển hách thuở xưa; thậm chí còn nuôi một nỗi kiêu ngạo khôn tả—đến mức sự hổ thẹn và lòng tự trách khi nhớ lại khiến ta coi đây là hình thức sám hối duy nhất và cay đắng nhất mà ta có thể thực hiện—khi dám nghĩ về bản thân (liệu thế gian có tin nổi không?) như thể đang sánh vai cùng Ngài Galahad!
Ý nghĩ đó vừa manh nha trong đầu, thì từ phía bên trái, len lỏi qua những tán cây, ta chợt thoáng thấy một vị hiệp sĩ rực rỡ với vóc dáng lực lưỡng, có bộ giáp dường như tự phát sáng mà chẳng cần đến ánh mặt trời. Khi tiến lại gần, ta ngạc nhiên khi nhận ra bộ giáp ấy trông giống hệt của ta; thậm chí, ta có thể dò ra, từng đường tơ kẽ tóc, sự trùng khớp giữa những hoa văn bạc khảm trên đó với huy hiệu của chính mình. Ngựa của hắn cũng tương tự ngựa ta về màu sắc, hình dáng và bước đi; chỉ có điều, giống như chủ nhân của nó, con tuấn mã ấy to lớn và hung tợn hơn hẳn phiên bản của ta. Vị hiệp sĩ ấy cưỡi ngựa với phần giáp che mặt được mở tung. Khi hắn dừng lại ngay trước mặt ta trên lối đi chật hẹp, chặn đứng đường đi của ta, ta nhìn thấy hình bóng gương mặt mình phản chiếu trên miếng thép sáng loáng ở chính giữa tấm giáp ngực hắn. Bên trên lớp thép ấy là cùng một khuôn mặt—khuôn mặt của hắn—chỉ có điều, như ta đã nói, to lớn và hung dữ hơn. Ta bàng hoàng. Ta không thể kìm lòng mà cảm thấy chút ngưỡng mộ dành cho hắn, nhưng cảm giác đó lại hòa lẫn với một niềm xác tín mờ nhạt rằng hắn là hiện thân của cái ác, và rằng ta phải chiến đấu với hắn.
“Hãy để ta đi,” ta lên tiếng.
“Khi nào ta muốn,” hắn đáp.
Có cái gì đó thầm thì trong lồng ngực ta: “Hành giáo sẵn sàng, xông vào chiến đấu với hắn! Bằng không, ngươi mãi mãi là kẻ nô lệ.”
Ta cố gắng, nhưng cánh tay run lẩy bẩy đến mức ta chẳng thể chĩa nổi ngọn giáo. Nói ra thì thật hổ thẹn, ta, kẻ từng đánh bại tên người khổng lồ, lại run rẩy như một kẻ hèn nhát trước vị hiệp sĩ này. Hắn cất tiếng cười nhạo báng vang vọng khắp khu rừng, quay đầu ngựa lại, và nói mà không thèm ngoảnh đầu nhìn lại: “Theo ta.”
Ta vâng lời, ngượng ngùng và chết lặng. Hắn dẫn đường bao lâu và ta theo sau bao lâu, ta không tài nào nhớ nổi. “Chưa bao giờ ta biết thế nào là khốn khổ,” ta tự lẩm bẩm với chính mình. “Phải chi ít nhất ta đã đánh hắn một đòn, và nhận lại cú giáng chí mạng để rồi bỏ mạng! Tại sao, lúc ấy, ta lại không gọi hắn quay lại và tự vệ? Hỡi ôi, ta chẳng biết tại sao, nhưng ta không thể làm thế. Chỉ một cái nhìn từ hắn cũng đủ khiến ta cúi rạp như một con chó săn bị đánh đập.” Ta cứ thế lẽo đẽo theo sau, lặng câm.
Cuối cùng, chúng ta đến một ngọn tháp vuông ảm đạm, nằm lọt thỏm giữa khu rừng rậm rạp. Trông nó cứ như chẳng có lấy một thân cây nào bị chặt đi để nhường chỗ cho nó. Ngay trước khung cửa ra vào, vắt chéo qua lối đi, là thân của một cội cây to đến mức người ta phải lách mình thật khó khăn mới qua nổi để bước vào. Một lỗ thủng vuông vức thảm hại trên mái nhà là dấu hiệu duy nhất có thể coi là cửa sổ. Tháp canh, tường chắn, hay bất kỳ kiến trúc nhô ra nào khác, tháp đều không có. Trơn lu, nhẵn nhụi và nguyên khối, ngọn tháp vươn lên từ phần đế, kết thúc bằng một đường thẳng tắp và liền mạch. Mái nhà, được vát chéo từ bốn bức tường chụm lại ở chính giữa, hơi nhô lên tại điểm gặp nhau của những thanh xà. Xung quanh phần chân tháp nằm rải rác vài đống nhỏ gồm toàn những đoạn cành cây khô đã bị bóc vỏ, hoặc những khúc xương trắng hếu nửa vời; ta chẳng thể phân biệt nổi đó là gì. Khi ta đến gần, mặt đất phát ra tiếng kêu bộp bộp rỗng tuếch dưới những móng guốc ngựa. Vị hiệp sĩ lấy một chiếc chìa khóa lớn từ trong túi ra, rướn người qua thân cây và với chút khó khăn, hắn đã mở được cửa.
“Xuống ngựa,” hắn ra lệnh. Ta tuân mệnh. Hắn quay đầu ngựa của ta hướng ra xa ngọn tháp, giáng một đòn trời giáng bằng sống kiếm vào con vật, khiến nó hoảng loạn phi như bay xuyên qua khu rừng.
“Giờ thì,” hắn nói, “hãy bước vào, và đưa cả người bạn đồng hành của ngươi theo cùng.”
Ta ngoảnh lại nhìn: cả hiệp sĩ lẫn ngựa đều đã biến mất, và ngay sau lưng ta chính là cái bóng kinh hoàng kia. Ta đành bước vào, bởi chẳng còn cách nào khác; và chiếc bóng lầm lũi theo sau ta. Ta mang một nỗi sợ hãi tột độ rằng vị hiệp sĩ kia và cái bóng ấy chỉ là một. Cánh cửa khép lại sau lưng ta.
Giờ đây ta thực sự rơi vào cảnh ngộ thảm hại. Trong ngọn tháp hoàn toàn chẳng có gì ngoài chiếc bóng của ta và chính ta. Những bức tường vươn thẳng lên tận mái nhà; nơi đó, như ta từng thấy từ bên ngoài, có một ô cửa sổ vuông nhỏ xíu. Lúc này ta thừa biết đó là ô cửa sổ duy nhất mà ngọn tháp sở hữu. Ta ngồi bệt xuống sàn nhà trong nỗi tuyệt vọng rã rời. Chắc là ta đã thiếp đi, và ngủ thiếp suốt nhiều giờ liền; bởi ta chợt nhận ra mình vẫn còn tồn tại khi thấy ánh trăng đang chiếu rọi qua lỗ hổng trên mái nhà. Khi vầng trăng dâng lên ngày một cao, ánh sáng của nó trườn xuống bức tường rồi rọi lên người ta, cho đến cuối cùng nó chiếu thẳng lên đỉnh đầu ta. Ngay lập tức, những bức tường ngọn tháp dường như tan biến đi như làn sương mù. Ta ngồi dưới tán một cây dẻ gai ở bìa rừng, và vùng đồng bằng trải dài dưới ánh trăng suốt dặm này qua dặm khác xung quanh ta, đốm đốm những ngôi nhà, ngọn tháp chuông và tháp canh lấp lánh ánh sáng. Ta thầm nghĩ: “Ôi, hạnh phúc thay! Hóa ra đó chỉ là một giấc mơ; sự hoang vu chật hẹp đáng sợ đã biến mất, và ta tỉnh dậy dưới gốc cây dẻ gai, có lẽ là một cội cây yêu mến ta, và ta có thể đi đến bất cứ đâu mình muốn.” Ta đứng dậy, như ta vẫn tưởng, đi lại xung quanh và làm bất cứ điều gì mình thích, nhưng luôn giữ khoảng cách gần với cái cây ấy; bởi vì ta vẫn luôn yêu quý cội cây đó, và dĩ nhiên, kể từ sau cuộc tao ngộ với người phụ nữ dưới gốc dẻ gai, tình cảm ấy còn sâu đậm hơn gấp bội. Cứ thế, đêm dần trôi về sáng. Ta chờ mặt trời mọc để có thể mạo muội tiếp tục cuộc hành trình. Nhưng ngay khi tia sáng mờ ảo đầu tiên của bình minh xuất hiện, thay vì rọi xuống ta từ rạng đông của buổi sớm, nó lại luồn lách như một bóng ma sắp lả đi qua ô cửa vuông nhỏ trên đầu ta; và những bức tường lại hiện hình theo ánh sáng ngày một tỏ dần, thế là đêm huy hoàng đã bị nuốt chửng bởi ban ngày đáng ghét. Ngày dài đằng đẵng trôi qua. Cái bóng của ta nằm đen kịch trên sàn nhà. Ta không hề cảm thấy đói, chẳng cần chút thức ăn nào. Đêm lại về. Trăng lại tỏa sáng. Ta ngắm nhìn ánh trăng từ từ hạ thấp xuống bức tường, tựa như cách ta ngắm nhìn sự sà xuống dọc bầu trời của một vị thiên sứ cứu rỗi. Những tia sáng chạm vào người ta, và ta được tự do. Cứ thế, đêm này qua đêm khác trôi qua. Ta hẳn đã chết nếu không nhờ ơn điều này. Đêm nào niềm xác tín rằng mình được tự do cũng quay trở lại. Sáng nào ta cũng ngồi đó trong nỗi sầu muộn thê lương. Cuối cùng, khi quỹ đạo của mặt trăng không còn cho phép những tia sáng của nàng chạm đến ta nữa, đêm tối lại ảm đạm chẳng khác gì ban ngày.
Những lúc ngủ thiếp đi, ta được an ủi phần nào bởi những giấc mơ; nhưng suốt thời gian mơ màng ấy, ta vẫn biết rằng mình chỉ đang mơ. Thế nhưng cuối cùng, vào một đêm nọ, vầng trăng chỉ còn mỏng manh như một dải lụa nhợt nhạt đã rải vài tia sáng mờ ảo lên người ta; và có lẽ ta đã chìm vào giấc ngủ rồi mơ màng. Ta ngồi trong một đêm mùa thu trước mùa thu hoạch nho, trên một ngọn đồi nhìn xuống lâu đài của chính mình. Trái tim ta nhảy cẫng lên vì vui sướng. Ôi, được trở lại làm một đứa trẻ, ngây thơ, không sợ hãi, chẳng vướng bận xiềng xích của sự hổ thẹn hay ham muốn! Ta bước xuống lâu đài. Tất cả đều hoảng loạn vì sự vắng mặt của ta. Các chị ta đang khóc thương vì tưởng ta đã mất tích. Họ chồm dậy và ôm chặt lấy ta bằng những tiếng kêu ú ớ khi ta bước vào. Những người bạn cũ túm tụm vây quanh ta. Một thứ ánh sáng xám xịt chiếu rọi trên mái sảnh đường. Đó chính là ánh bình minh lọt qua ô cửa sổ vuông ngọn tháp của ta. Khao khát tự do sau giấc mơ này càng trở nên mãnh liệt hơn bao giờ hết; ngày khốn khổ tiếp theo lại lê bước thê lương hơn bao giờ hết. Ta đong đếm thời gian trôi qua nhờ những tia nắng lọt qua ô cửa sổ nhỏ trong chiếc bẫy của ngọn tháp, chỉ mỏi mòn chờ đợi những giấc mơ của màn đêm.
Khoảng giữa trưa, ta giật mình thon thót cứ như thể một thứ gì đó xa lạ với mọi giác quan và kinh nghiệm sống bỗng nhiên xâm chiếm lấy ta; thế nhưng đó chỉ là tiếng hát của một người phụ nữ. Toàn thân ta run lên vì vui sướng, ngạc nhiên và cảm giác bất ngờ. Tựa như một linh hồn sống động, như hiện thân của Tự nhiên, khúc ca ấy bước vào chốn ngục tù của ta. Từng nốt nhạc khép cánh lại, rồi nhẹ nhàng đặt mình lên trái tim ta như một chú chim đang âu yếm. Nó tắm mát cho ta như đại dương; bao bọc lấy ta như làn hơi thơm ngát; thấm đẫm vào tâm hồn ta như một ngụm nước suối trong lành mát rượi; tỏa sáng trên ta như thứ ánh sáng mặt trời nguyên bản; vỗ về ta như giọng nói và bàn tay của người mẹ.
Thế nhưng, giống như dòng suối rừng trong lành nhất đôi khi vẫn vương chút vị đắng của lá mục, đối với trái tim mỏi mệt và ngục tù của ta, sự tươi vui của khúc ca ấy lại mang theo một mũi kim buốt lạnh, và sự dịu dàng của nó đánh gục ý chí ta bằng sự suy kiệt của những niềm vui đã lụi tàn từ lâu. Ta bật khóc, nửa cay đắng, nửa ngây ngất; nhưng chẳng kéo dài lâu. Ta gạt phăng những giọt nước mắt, cảm thấy hổ thẹn vì một sự yếu mềm mà ta ngỡ mình đã rũ bỏ từ lâu. Chưa kịp suy nghĩ, ta đã bước đến bên cửa và ngồi áp tai vào cánh cửa, để bắt trọn từng âm tiết của lời mặc khải phát ra từ thế giới bên ngoài vô hình. Và giờ đây ta nghe rõ mồn một từng từ. Người ca sĩ dường như đang đứng hoặc ngồi ngay gần ngọn tháp, bởi âm thanh chẳng hề dịch chuyển chỗ. Khúc ca đại loại thế này:
Mặt trời, chiếc khuy vàng cao vợi,
Thu gom vinh quang của bầu trời,
Rồi kết chúng thành chiếc lều ngời sáng,
Mái vòm trần thế với vòm trời bao la.
Và qua lều gấm, gió ngát lay đưa,
Và qua lều gấm, dòng nước hiền hòa.
Và những chú chim mừng vui, cây cõi cầu kinh,
Cúi đầu chào trong nắng vàng lung linh,
Và mang bao tâm tư, mạch nguồn thì thầm khẽ khàng,
Mang theo bí mật từ tâm đất tuôn tràn—
Tất cả tấu lên một bản hòa âm, dịu êm mà mạnh mẽ,
Được trái tim dệt kết thành khúc ca ngọt ngào lặng lẽ.
Và giữa muôn loài, Đất Mẹ hiền hòa
Ngồi bên những đứa con do Người sinh ra;
Người chăm sóc tất thảy, tựa gà mái mẹ quây quần
Mấy chục đứa con thơ quấn quýt bên chân:
Nhiều khi Người ngồi, hai tay gối lên đầu gối,
Thong thả đắm chìm trong tình mẫu tử ngập tràn khôn nguôi.
Hãy rời bỏ chốn tối tăm bụi bặm để đến bên Người,
Và khóc sướt mướt cạnh Người, nếu lệ sầu trào dâng đôi môi;
Dù Người chẳng thể ôm ngươi vào lồng ngực,
Tựa đứa trẻ mỏi mệt khóc đòi giấc ngủ say,
Ít nhất Người sẽ áp ngươi vào đầu gối,
Và thì thầm kể ngươi nghe một câu chuyện dịu ngọt đắm say,
Cho đến khi sắc hồng thấm đượm đôi má và ánh sáng rọi ngời đôi mắt,
Cho đến khi sức mạnh trở lại đôi chân và lòng dũng cảm ngút ngàn
Lại tuôn tràn trong lồng ngực đang lả đi vì mệt mỏi,
Rồi ngươi lại hăng hái quay về với công việc dở dang.
Hỡi kẻ kiêu ngạo từ chốn hoang vu chật hẹp,
Hãy bước vào ngôi nhà rộng lớn và cao sang.
Hầu như chẳng biết mình đang làm gì, ta mở toang cánh cửa. Tại sao trước đó ta lại không làm thế nhỉ? Ta chẳng thể tài nào biết được.
Thế rồi thoạt đầu ta chẳng thấy bóng dáng ai; nhưng khi ta rướn người lách qua thân cây mọc chắn ngang lối vào, ta nhìn thấy một người phụ nữ xinh đẹp đang ngồi dưới đất, tự lưng vào thân cây, quay lưng về phía ngục tù của ta. Khuôn mặt nàng trông vừa quen thuộc vừa lạ lẫm. Nàng nhìn ta và mỉm cười khi ta xuất hiện.
“Ái chà! Hóa ra anh chính là kẻ tù nhân ở đó ư? Tôi thực sự rất vui vì đã dụ được anh bước ra đấy.”
“Cô biết tôi ư?”
“Anh không nhận ra tôi sao? Nhưng anh đã làm tôi tổn thương, và chắc điều đó khiến một tên đàn ông dễ bề quên lãng. Anh đã làm vỡ quả cầu của tôi. Dù sao thì tôi vẫn cảm ơn anh. Có lẽ tôi phải mang ơn anh rất nhiều vì đã đập vỡ nó. Tôi đã gom những mảnh vỡ lại, đen sì và ướ đẫm nước mắt vì khóc thương chúng, rồi đem đến chỗ Nữ hoàng Tiên. Chẳng còn chút âm nhạc hay ánh sáng nào đọng lại trong những mảnh vỡ ấy nữa. Nhưng bà đã cầm lấy chúng từ tay tôi, đặt sang một bên; và bắt tôi chìm vào giấc ngủ trong một sảnh đường lớn màu trắng, với những cây cột đen và vô số chiếc rèm nhung đỏ. Khi tỉnh dậy vào buổi sáng, tôi tìm gặp bà với hy vọng lấy lại quả cầu nguyên vẹn như xưa; nhưng bà đã đuổi tôi đi mà chẳng trả lại nó, và từ dạo ấy tôi chẳng còn gặp lại nó nữa. Giờ thì tôi cũng chẳng màng tới nó nữa rồi. Tôi có một thứ còn tuyệt vời hơn thế rất nhiều. Tôi chẳng cần quả cầu tấu nhạc cho mình nghe nữa; bởi vì tôi có thể hát. Trước kia tôi hoàn toàn chẳng biết hát. Giờ thì tôi đi khắp muôn nơi nơi Xứ sở thần tiên, cất tiếng hát cho đến khi trái tim ngỡ như muốn tan nát, y hệt như quả cầu của tôi, chỉ vì niềm hạnh phúc tột cùng trước những khúc ca của chính mình. Và bất cứ nơi nào tôi đặt chân đến, những bài ca của tôi đều mang lại điều tốt lành, và giải thoát con người. Và giờ đây tôi đã giải thoát cho anh, tôi cảm thấy hạnh phúc biết bao.”
Nàng dứt lời, đôi mắt ngấn lệ.
Suốt thời gian qua, ta vẫn dán mắt ngắm nhìn nàng; và giờ đây ta đã nhận ra trọn vẹn gương mặt của đứa trẻ ngày nào, nay được tô điểm thêm vẻ rạng ngời của người phụ nữ.
Ta cảm thấy hổ thẹn và vô cùng nhỏ bé trước mặt nàng; nhưng một gánh nặng khổng lồ đã được trút bỏ khỏi tâm trí ta. Ta quỳ xuống trước mặt nàng, gửi lời cảm ơn và van xin nàng tha thứ.
“Đứng lên đi, đứng lên đi,” nàng nói; “tôi có gì phải tha thứ đâu; chính tôi mới là người phải cảm ơn anh. Nhưng giờ tôi phải đi đây, bởi tôi chẳng biết có bao nhiêu người đang mỏi mòn chờ đợi mình, nơi này nơi khác, xuyên qua những khu rừng u ám; và họ chẳng thể bước ra cho đến khi tôi tới nơi.”
Nàng đứng dậy, ném lại một nụ cười cùng lời chào từ biệt, rồi quay lưng rời đi. Ta không dám nài nỉ nàng ở lại; thực ra, ta chẳng tài nào cất nên lời với nàng. Giữa nàng và ta tồn tại một khoảng cách vời vợi. Nàng đã được nâng tầm, nhờ nỗi buồn và những việc thiện lành, lên một cõi giới mà ta khó lòng dám hy vọng có ngày bước chân tới. Ta dõi theo bóng nàng khuất dạng, tựa như cách người ta ngắm chiều tà. Nàng lướt đi như một vầng hào quang xuyên qua khu rừng âm u—nơi từ nay về sau trở nên bừng sáng trong mắt ta, đơn giản chỉ vì biết rằng một sinh linh như thế đang tồn tại trong đó.
Nàng đang mang ánh mặt trời đến những xó xỉnh chưa từng được chiếu rọi. Ánh sáng và âm nhạc từ quả cầu vỡ nay đã ngự trị trong trái tim và khối óc nàng. Trên bước đường đi, nàng cất tiếng hát; và ta đã kịp bắt lấy vài câu từ trong khúc ca ấy; để rồi âm điệu của nó dường như vẫn vương vấn, quẩn quanh bên những tán cây mãi tận khi nàng đã biến mất:
Anh đi đường anh, em đi đường em—
Muôn nẻo đường đời ta dấn bước;
Muôn ngày, muôn ngả, muôn phương hướng,
Rồi cũng hội ngộ chung một bến bờ.
Muôn nỗi lầm than, và khúc ca xoa dịu muộn phiền;
Muôn dặm đường dài, và muôn quán trọ ven đường;
Không gian tha hồ vẫy vùng, nhưng chỉ có duy nhất một mái nhà
Để toàn thế giới hướng về và giành lấy làm của riêng.
Và cứ thế nàng khuất bóng. Với một cõi lòng trĩu buồn được vỗ về bởi sự khiêm nhường, cùng nhận thức về sự bình an và niềm hoan hỉ của nàng, ta tự nhủ xem mình nên làm gì tiếp theo. Trước tiên, ta phải bỏ lại ngọn tháp thật xa phía sau, kẻo trong một phút lầm đường lạc lối nào đó, ta lại bị nhốt vào những bức tường đáng sợ ấy một lần nữa. Nhưng việc lê bước trong bộ giáp nặng nề thật chẳng dễ chịu gì; hơn nữa, giờ đây ta chẳng còn xứng đáng với đôi hài vàng và bộ giáp rực rỡ vốn đã xỉn màu một cách phải lẽ do lâu ngày bỏ phế. Ta có lẽ chỉ hợp làm một tên hầu cận; nhưng ta quá tôn sùng phẩm giá hiệp sĩ để tiếp tục tự nhận mình là thành viên của huynh đệ đoàn cao quý ấy. Ta cởi bỏ toàn bộ áo giáp, chất đống chúng dưới gốc cây, ngay đúng chỗ người phụ nữ từng ngồi, rồi bước đi theo một hướng vô định, xuôi về phía đông xuyên qua những cánh rừng. Trong số tất cả vũ khí, ta chỉ mang theo một chiếc rìu ngắn trên tay.
Đó là lần đầu tiên ta thấu hiểu niềm hạnh phúc của sự khiêm nhường; của việc tự nhủ với lòng mình rằng: “Ta thế nào thì là thế nấy, chẳng hơn chẳng kém.” Ta tự nhủ: “Ta đã thất bại, ta đã đánh mất chính mình—phải chi thứ mất đi là cái bóng của ta thì tốt biết mấy.” Ta ngoảnh nhìn xung quanh: chiếc bóng hoàn chẳng thấy tăm hơi đâu nữa. Chẳng bao lâu sau, ta nhận ra rằng thứ ta đánh mất không phải là bản thân mình, mà chỉ là chiếc bóng mà thôi. Ta học được rằng, đối với một kẻ kiêu ngạo, việc ngã ngựa và nếm trải sự khiêm nhường tốt hơn gấp ngàn lần so với việc cứ ngẩng cao đầu trong sự kiêu ngạo và niềm ngây thơ tưởng tượng. Ta học được rằng, kẻ nào muốn làm anh hùng thì khó lòng làm nổi một con người trọn vẹn; còn kẻ nào chỉ muốn làm một người tận tụy hoàn thành công việc thì chắc chắn giữ trọn được bản ngã con người mình. Lý tưởng của ta chẳng hề bị hạ thấp, lu mờ hay trở nên kém phần trân quý đi chút nào; chỉ là ta đã nhìn nhận nó quá rõ ràng để không còn dám tơ tưởng đến chuyện đặt bản thân sánh ngang với nó dù chỉ một khoảnh khắc. Quả thực, lý tưởng của ta chẳng mấy chốc đã trở thành lẽ sống của ta; trong khi trước kia, cuộc đời ta chỉ là một nỗ lực hão huyền nhằm chiêm ngưỡng, nếu không phải lý tưởng trong bản thân ta, thì ít ra cũng là chính bản thân ta trong lý tưởng. Giờ đây tuy nhiên, thoạt đầu ta lại tìm thấy một niềm vui có lẽ sai lầm trong việc miệt thị và hạ thấp chính mình. Một cái tôi khác dường như trỗi dậy, tựa như một linh hồn trắng muốt từ cõi chết, vượt lên trên cái tôi câm lặng và bị giày xéo của quá khứ. Chắc chắn rằng, cái tôi này rồi cũng sẽ phải chết đi và chôn vùi, để rồi từ nấm mồ ấy, một sinh linh có cánh lại trỗi dậy; nhưng lịch sử cuộc đời ta đến nay vẫn chưa ghi chép lại điều đó.
Cái tôi sẽ trỗi dậy ngay cả trong chính hành động tiêu diệt cái tôi; nhưng luôn có một thứ gì đó sâu sắc và mạnh mẽ hơn thế, cuối cùng sẽ bứt phá từ những vực thẳm vô định của tâm hồn: đó sẽ là một nỗi u buồn tĩnh mịch, cháy rực những đôi mắt? Hay một buổi sáng trong veo sau cơn mưa? Hay một đứa trẻ mỉm cười, thấy mình chẳng ở chốn nào và cũng ở khắp mọi nơi?