“Loài người chiếm trọn mọi không gian,
Nhìn thẳng vào ngươi, qua đá, bụi, dòng ngàn.
Mắt ngươi nào thấy nổi một cây xanh;
Biển ngươi thấy nào phải biển vô biên,
Chỉ là nhân tính mang lớp vỏ ngụy trang.
Tránh mặt đồng loại, toan tính cũng bẽ bàng;
Mọi thứ lôi cuốn con người, chính là con người.”
HENRY SUTTON.
Những thân cây vốn đứng thưa thớt ở nơi tôi bước vào, để mặc cho những tia nắng rọi ngang chiếu qua, bỗng khép lại dày đặc ngay khi tôi tiến sâu hơn; chẳng mấy chốc, những thân cây chen chúc ấy đã chắn hẳn ánh mặt trời, tạo thành một thứ hàng rào dày đặc giữa tôi và phương Đông. Tôi có cảm giác như mình đang bước vào một thời khắc hoàng hôn thứ hai. Tuy nhiên, giữa chốn âm u nhập nhoạng ấy, trước khi tôi đặt chân đến nơi có vẻ là phần tối tăm nhất của khu rừng, tôi thấy một thiếu nữ thôn quê đang đi về phía mình từ tận sâu thẳm trong rừng. Cô dường như không để ý đến tôi, bởi vì hình như cô đang chăm chú vào bó hoa dại cầm trên tay. Tôi hầu như không thể nhìn rõ mặt cô; vì dẫu tiến thẳng về phía tôi, cô chưa từng ngước nhìn lên. Thế nhưng khi chúng tôi gặp nhau, thay vì đi qua luôn, cô lại quay người bước đi song song với tôi suốt vài thước đất, gương mặt vẫn cúi gằm và bận rộn với những đóa hoa của mình. Dù vậy, suốt quãng thời gian ấy, cô cứ liên mồm lẩm bẩm nhanh bằng một giọng trầm thấp, tựa hồ như đang nói một mình, nhưng rõ ràng là ngầm hướng những lời ấy vào tôi.
Cô có vẻ sợ hãi việc bị một kẻ thù ẩn nấp nào đó quan sát. “Hãy tin vào Cây Sồi,” cô nói; “hãy tin vào Cây Sồi, Cây Du, và Cây Dẻ Gai vĩ đại. Hãy cẩn thận với Cây Bạch Dương, bởi dẫu thật thà, cô ta lại quá trẻ con để giữ lòng chung thủy. Nhưng hãy tránh xa Cây Tần Bì và Cây Tống Quần Sừng; vì Cây Tần Bì là một tên yêu tinh ăn thịt người—ngươi sẽ nhận ra hắn qua những ngón tay dày cộp; còn Cây Tống Quần Sừng sẽ bóp nghẹt ngươi bằng mái tóc búi chằng chịt của ả, nếu ngươi để ả đến gần vào ban đêm.” Tất cả những lời này được thốt ra một mạch không ngắt quãng, giọng điệu không hề đổi thay. Rồi cô đột ngột quay người rời đi, vẫn với dáng đi trước sau như một. Tôi không tài nào đoán nổi ý cô là gì, nhưng tự nhủ rằng khi nào cần dùng đến lời cảnh báo ấy thì tìm hiểu ý nghĩa cũng chưa muộn, và hoàn cảnh rồi sẽ tự khắc hé lộ lời răn dạy đó. Từ những bông hoa cô cầm trên tay, tôi suy đoán rằng khu rừng không thể lúc nào cũng rậm rạp như từ chỗ tôi đang đứng; và phán đoán của tôi đã đúng. Chẳng mấy chốc tôi đã đến một khoảng không thoáng đãng hơn, rồi lát sau băng qua một bãi cỏ rộng, trên đó có vài vòng tròn cỏ xanh mướt hơn hẳn. Thế nhưng ngay cả ở đây, tôi vẫn bị ấn tượng bởi sự tĩnh lặng đến cùng cực. Không một tiếng chim ca. Không một tiếng côn trùng vo ve. Không một sinh vật sống nào bước qua lối đi của tôi. Vậy mà chẳng hiểu sao, toàn bộ khung cảnh dường như chỉ đang ngủ say, và ngay cả trong giấc ngủ ấy vẫn mang theo một vẻ chờ đợi khắc khoải. Tất cả những cọng cây dường như đều mang biểu cảm của một điều huyền bí tiềm ẩn, tựa như chúng đang thầm nhủ với chính mình: “chúng ta có thể làm được, nếu chúng ta muốn.” Trông chúng đứa nào cũng mang một vẻ mặt đầy ẩn ý. Rồi tôi chợt nhớ ra rằng ban đêm là ban ngày của các nàng tiên, và ánh trăng là mặt trời của họ; và tôi nghĩ—Mọi thứ giờ đây đều đang ngủ và mơ màng: khi đêm xuống, mọi chuyện sẽ khác. Cùng lúc ấy, bản thân tôi, một con người và là đứa con của ban ngày, cũng cảm thấy đôi chút lo lắng về việc mình sẽ xoay sở thế nào giữa chốn yêu tinh cùng những đứa con của màn đêm—những kẻ thức giấc khi người trần mộng mị, và tìm thấy sự sống chung của họ trong những giờ khắc diệu kỳ trôi qua lặng lẽ trên những thể xác bất động tựa cõi chết của đàn ông, đàn bà và trẻ em, những kẻ đang nằm rải rác và rã rời dưới sức nặng của những ngọn sóng đêm cuồn cuộn trôi đến, đánh gục họ, giam giữ họ trong trạng thái chết đuối và vô tri, cho đến khi thủy triều rút đi, và những làn sóng chìm dần, trở về lòng đại dương đen tối. Nhưng rồi tôi tự xốc lại tinh thần và bước tiếp. Thế nhưng chẳng mấy chốc, tôi lại lo âu trở lại, dẫu vì một nguyên nhân khác. Cả ngày hôm ấy tôi chưa hề ăn gì, và suốt một tiếng đồng hồ qua, tôi đã bắt đầu cảm thấy cái đói cào ruột. Thế nên tôi đâm ra sợ hãi lỡ như mình chẳng tìm được thứ gì đáp ứng nhu cầu trần tục ở nơi xa lạ này; nhưng một lần nữa tôi lại tự an ủi mình bằng niềm hy vọng và tiếp tục bước đi.
Trước ngọ, tôi ngỡ như mình nhìn thấy một làn khói lam mỏng manh bốc lên giữa những thân cây to lớn phía trước; và chẳng mấy chốc, tôi đến một khoảng đất trống nơi có một ngôi nhà nhỏ, được dựng lên sao cho thân của bốn cây cổ thụ tạo thành bốn góc nhà, trong khi cành lá của chúng giao đan trên mái nhà, chất thành một đám mây lá khổng lồ che phủ bên trên, vươn tận bầu trời. Tôi vô cùng ngạc nhiên khi tìm thấy một chốn dung thân của con người ở chốn hoang vu này; và dẫu vậy, nó trông không hẳn là hoàn toàn thuộc về con người, dẫu cũng đủ để khích lệ tôi hy vọng tìm được chút ít thức ăn. Không thấy cửa ra vào, tôi vòng ra phía bên kia, và ở đó tôi tìm thấy một cánh cửa đang mở toang. Một người phụ nữ đang ngồi bên cạnh, chuẩn bị rau củ cho bữa tối. Cảnh tượng này thật bình dị và ấm lòng. Khi tôi đến gần, bà ngước lên, và trông thấy tôi mà không hề tỏ vẻ ngạc nhiên, nhưng rồi lại cúi đầu xuống công việc của mình, cất giọng trầm thấp:
“Ngươi có thấy con gái ta không?”
“Tôi nghĩ là có,” tôi đáp. “Bà có thể cho tôi xin chút gì ăn được không, vì tôi đang rất đói?” “Rất sẵn lòng,” bà đáp lại bằng giọng điệu ấy; “nhưng đừng nói thêm lời nào nữa cho đến khi ngươi bước vào nhà, vì Cây Tần Bì đang canh chừng chúng ta.”
Nói xong, bà đứng dậy dẫn đường bước vào ngôi nhà tranh; mà giờ đây tôi mới nhận ra, được dựng lên từ những thân cây nhỏ xếp sát vào nhau, và được trang bị những chiếc ghế cùng cái bàn thô kệch, đến cả vỏ cây cũng chưa hề được bóc đi. Ngay khi bà khép cửa lại và đặt một chiếc ghế—
“Ngươi mang dòng máu tiên trong người,” bà nói, đăm đăm nhìn tôi.
“Sao bà biết điều đó?”
“Ngươi không thể đi sâu vào khu rừng này đến thế nếu không phải vậy; và ta đang cố tìm kiếm chút dấu vết của nó trên nét mặt ngươi. Ta nghĩ là mình thấy được.”
“Bà thấy gì?”
“Ồ, đừng bận tâm: có thể ta đã nhầm lẫn điều đó.”
“Nhưng sao bà lại đến đây sống?”
“Bởi vì ta cũng mang dòng máu tiên trong người.”
Đến lượt mình, tôi đăm đăm nhìn bà, và ngỡ như mình có thể nhận ra, dẫu cho các nét trên khuôn mặt bà thô kệch, đặc biệt là đôi lông mày rất nặng nề, một nét gì đó bất thường—tôi khó lòng gọi đó là vẻ duyên dáng, thế nhưng đó lại là một biểu cảm tạo sự tương phản kỳ lạ với hình dáng các đường nét trên khuôn mặt bà. Tôi cũng nhận ra rằng bàn tay bà được tạo hình rất tinh tế, dẫu đã sạm đi vì công việc và sương gió.
“Ta sẽ ngã bệnh mất,” bà nói tiếp, “nếu ta không sống ở rìa xứ sở của các nàng tiên, và thỉnh thoảng ăn thức ăn của họ. Và ta nhìn qua đôi mắt là biết ngươi cũng không hoàn toàn thoát khỏi nhu cầu ấy; dẫu rằng nhờ sự giáo dục và đầu óc nhạy bén, ngươi ít cảm thấy nó hơn ta. Có lẽ ngươi cũng ở xa dòng dõi tiên tộc hơn.”
Tôi sực nhớ lại những điều người phụ nữ nọ từng nói về các bà của tôi.
Đến đây, bà đặt lên bàn một ít bánh mì và sữa, kèm theo lời xin lỗi đầy ân tình vì sự đạm bạc của bữa ăn, dẫu vậy tôi đang ở trong tâm trạng chẳng thể chê bai gì. Tôi giờ đây nghĩ đã đến lúc cố gắng tìm kiếm vài lời giải thích cho những lời kỳ lạ của cả cô con gái lẫn chính bà.
“Ý bà là gì khi nói những lời như thế về Cây Tần Bì?”
Bà đứng dậy nhìn ra ô cửa sổ nhỏ. Mắt tôi hướng theo bà; nhưng vì cửa sổ quá nhỏ nên chẳng thể nhìn thấy gì từ chỗ tôi đang ngồi, tôi liền đứng dậy nhìn qua vai bà. Tôi vừa kịp nhìn thấy, băng qua khoảng đất trống, ở rìa khu rừng rậm rạp hơn, một cây tần Bì đơn độc to lớn, với tán lá ánh lên sắc xanh lam giữa sắc xanh lục thuần khiết của những cây cội xung quanh; thì bà đã đẩy tôi lùi lại với vẻ mặt thiếu kiên nhẫn và sợ hãi, rồi gần như che khuất hẳn ánh sáng từ khung cửa sổ bằng cách dựng một cuốn sách cũ lớn lên đó.
“Nhìn chung,” bà nói, lấy lại sự bình tĩnh, “ban ngày thì chẳng có nguy hiểm gì, vì khi ấy hắn ngủ say như chết; nhưng có điều gì đó bất thường đang diễn ra trong rừng; hẳn là đêm nay các nàng tiên đang có buổi lễ trọng thể nào đó, vì tất cả các cây cối đều bồn chồn, và dù không thể tỉnh giấc, chúng vẫn nhìn và nghe được trong cơn mơ.”
“Nhưng có nguy hiểm gì đáng sợ từ hắn chứ?”
Thay vì trả lời câu hỏi, bà lại ra cửa sổ nhìn ra ngoài, bảo rằng bà sợ các nàng tiên sẽ bị phá rối bởi thời tiết xấu, vì một cơn bão đang kéo đến từ hướng tây.
“Và trời càng mau tối chừng nào, Cây Tần Bì càng tỉnh giấc sớm chừng nấy,” bà nói thêm.
Tôi hỏi làm sao bà biết trong rừng có sự kích động bất thường nào đó. Bà đáp—
“Bên cạnh vẻ ngoài của mấy cái cây, con chó kia đang không vui; và mắt tai của con thỏ trắng thì đỏ hơn bình thường, nó cứ nhảy tưng tưng như thể đang mong chờ cuộc vui nào đó. Nếu con mèo ở nhà, lưng nó đã cong vút lên rồi; vì các nàng tiên trẻ hay nhổ những tia lửa trên đuôi nó bằng gai tầm xuân, và nó biết khi nào họ sắp tới. Ta cũng vậy, nhưng bằng một cách khác.”
Ngay lúc ấy, một con mèo xám lao vụt vào như một con quỷ rồi biến mất vào một cái lỗ trên tường.
“Đấy, ta đã bảo mà!” người phụ nữ nói.
“Còn cây tần bì thì sao?” tôi hỏi, lại quay trở về chủ đề cũ. Đúng lúc này, cô gái trẻ mà tôi gặp buổi sáng bước vào. Một nụ cười thoáng qua giữa hai mẹ con; rồi cô con gái bắt đầu phụ giúp mẹ những việc vặt trong nhà.
“Tôi muốn ở lại đây cho đến tối; rồi tiếp tục cuộc hành trình, nếu bà cho phép.”
“Ngươi muốn làm gì tùy ý; chỉ là ở lại qua đêm có lẽ vẫn tốt hơn là mạo hiểm với những nguy hiểm trong rừng lúc đó. Ngươi đang đi đâu thế?”
“Thú thực, tôi cũng chẳng biết nữa,” tôi đáp, “nhưng tôi muốn tận mắt thấy hết những gì có thể thấy, và vì thế tôi muốn khởi hành ngay lúc hoàng hôn.”
“Ngươi là một kẻ táo bạo, nếu ngươi có chút hình dung về những gì mình đang liều lĩnh; nhưng lại là một kẻ hấp tấp, nếu chẳng biết gì về nó; và xin lỗi nhé, trông ngươi không có vẻ gì là am hiểu lắm về vùng đất này cùng những tập tục của nó. Tuy nhiên, chẳng ai đến đây mà không vì một lý do nào đó, hoặc chính họ biết hoặc những kẻ cai quản họ rõ; thế nên ngươi cứ làm theo ý mình muốn.”
Thế là tôi ngồi xuống, cảm thấy khá mệt mỏi và chẳng thiết trò chuyện thêm, tôi xin phép được xem cuốn sách cũ vẫn đang che khuất khung cửa sổ. Người phụ nữ mang nó đến cho tôi ngay lập tức, nhưng không quên liếc nhìn về phía khu rừng một lần nữa, rồi kéo tấm rèm trắng che kín cửa sổ. Tôi ngồi xuống chiếc bàn đối diện với nó, đặt cuốn sách cổ to bản lên và đọc. Nó chứa đựng rất nhiều câu chuyện kỳ diệu về Xứ Sở Tiên, về thời cổ đại, và các Hiệp Sĩ bàn tròn của Vua Arthur. Tôi cứ đọc mãi, đọc mãi cho đến khi bóng chiều bắt đầu chập choạng; bởi vì giữa chốn thâm sơn cùng cốc, trời sẫm tối sớm hơn ở vùng đồng bằng. Cuối cùng tôi đọc đến đoạn này—
“Nơi đây xảy ra chuyện, khi đang trên hành trình tìm kiếm, Ngài Galahad và Ngài Percivale chạm trán nhau ở sâu thẳm một khu rừng lớn. Khi ấy, Ngài Galahad khoác toàn bộ bộ giáp bằng bạc, trong trẻo và sáng ngời; thứ khiến người ta nhìn vào phải say mê, nhưng lại rất dễ xỉn màu, và nếu không có công sức của một kẻ hầu cận luôn tay luôn chân, thì thật khó lòng giữ cho nó được đẹp đẽ và sạch sẽ. Thế nhưng dẫu chẳng có người hầu hay tiểu đồng, áo giáp của Ngài Galahad vẫn sáng lấp lánh như vầng trăng. Và chàng cưỡi một con ngựa cái trắng vĩ đại, với tấm phủ yên và những đồ trang hoàng mang sắc đen, nhưng được điểm xuyết toàn những đóa ly bạc ngời sáng. Trong khi Ngài Percivale cưỡi một con ngựa đỏ, với chiếc bờm và cái đuôi hung vàng; bộ yên cương của bùn lầy và bụi bẩn làm cho lấm lem toàn bộ; còn áo giáp của chàng thì gỉ sét trông thật kinh hoàng, chàng chẳng tài nào đánh bóng lại được bằng bất kỳ thủ pháp nào; thế nên khi mặt trời lặn chiếu xuyên qua những thân cây trơ trụi, rọi thẳng lên hai vị hiệp sĩ, một người trông toàn thân ngập tràn ánh sáng rực rỡ, còn người kia thì hực lên một màu lửa đỏ rực. Sự tình diễn ra theo cách này. Số là Ngài Percivale, sau khi trốn thoát khỏi ả ma nữ, lúc mà cây thánh giá trên chuốc kiếm đâm nhói vào tận tâm can, chàng tự rạch đùi mình rồi trốn thoát, chàng đi đến một khu rừng lớn; và dẫu chẳng hề hối lỗi trước lầm lỗi của mình, chàng vẫn than khóc vì nó, ả thiếu nữ cây tống quần sừng liền chạm trán chàng, trông vô cùng xinh đẹp; và bằng những lời lẽ ngọt ngào cùng gương mặt giả dối, ả an ninh chàng và dụ dỗ chàng, cho đến khi chàng đi theo ả đến một—”
Đúng lúc ấy, một tiếng kêu hốt hoảng khẽ khàng phát ra từ người chủ nhà khiến tôi phải ngước lên khỏi trang sách, và tôi không đọc nữa.
“Nhìn kìa!” bà nói; “nhìn những ngón tay kìa!”
Đúng như những gì tôi vừa đọc trong sách, ánh mặt trời lặn đang xuyên qua khe hở của những đám mây chồng chất ở phương tây; và một cái bóng tựa như bàn tay to lớn bị bóp méo, với những đốt ngón tay dày cộp và gồ ghề khiến phần ngón tay rộng hơn hẳn so với phần lòng bàn tay không chia tách, đang từ từ lướt qua tấm rèm nhỏ, rồi lại chậm rãi quay ngược trở lại theo chiều ngược lại.
“Hắn sắp tỉnh giấc rồi, mẹ ạ; và tối nay hắn còn tham lam hơn mọi khi.”
“Im đi, con bé; con không cần phải khiến hắn giận chúng ta hơn nữa đâu; vì con đâu biết chừng nào sẽ có chuyện xảy ra buộc chúng ta phải ra rừng sau khi trời tối.”
“Nhưng các người đang ở trong rừng mà,” tôi nói; “sao các người lại an toàn ở đây chứ?”
“Hắn không dám đến gần hơn vị trí hiện tại đâu,” bà đáp; “vì bất kỳ cây nào trong bốn cây sồi ở các góc ngôi nhà của chúng ta cũng sẽ xé xác hắn ra; chúng là bạn của chúng ta. Nhưng đôi khi hắn vẫn đứng đó và làm những cái mặt quỷ đáng sợ với chúng ta, vươn những cánh tay và ngón tay dài ngoằn ngoèo ra, cố làm chúng ta chết khiếp; vì quả thực, đó là cách ưa thích của hắn. Xin hãy tránh xa đường đi của hắn vào đêm nay.”
“Tôi có thể nhìn thấy những thứ này không?” tôi hỏi.
“Điều đó thì ta chưa thể nói trước, vì còn chưa biết trong người ngươi có bao nhiêu phần bản tính của tiên tộc. Nhưng chúng ta sẽ sớm biết liệu ngươi có thể nhận ra các nàng tiên trong khu vườn nhỏ của ta hay không, và điều đó sẽ phần nào dẫn lối cho chúng ta.”
“Cây cối cũng là tiên ư, ngoài những bông hoa?” tôi hỏi.
“Chúng cùng một giống loài,” bà đáp; “dẫu cho những kẻ mà ngươi gọi là tiên ở xứ sở của ngươi chủ yếu là những đứa trẻ nhỏ tuổi của các nàng tiên hoa. Chúng rất thích trêu chọc những kẻ đầu óc cục mịch, theo cách gọi của chúng dành cho các người; bởi vì giống như phần lớn lũ trẻ, chúng thích trò vui hơn bất cứ thứ gì trên đời.”
“Sao các bà lại để hoa ở gần mình thế làm gì? Chúng không làm phiền các bà sao?”
“Ồ không, chúng rất thú vị với những màn nhại lại người lớn cùng những nghi lễ nghiêm túc giả tạo. Thỉnh thoảng chúng sẽ diễn trọn vẹn cả một vở kịch ngay trước mắt ta với vẻ bình thản và tự tin hoàn hảo, vì chúng chẳng sợ ta đâu. Chỉ có điều, vừa diễn xong là chúng lại cười phá lên những tràng cười lanh lảnh tẻo teo, như thể việc nghiêm túc với bất cứ chuyện gì là một trò hề lớn lắm vậy. Dù vậy, những kẻ ta đang nhắc đến chính là các nàng tiên trong vườn. Chúng điềm đạm và có học thức hơn những kẻ ở ngoài đồng ruộng và rừng sâu. Dĩ nhiên chúng có họ hàng gần gũi với đám hoa dại, nhưng chúng tỏ ra bề trên và đối xử với lũ hoa dại như những đứa họ hàng nhà quê chẳng biết gì về đời sống và rất ít phép tắc. Thế nhưng thỉnh thoảng, chúng vẫn buộc phải ghen tị với vẻ duyên dáng và mộc mạc của những đóa hoa tự nhiên.”
“Chúng sống trong các loài hoa phải không?” tôi nói.
“Ta không thể chắc,” bà đáp. “Có điều gì đó trong ấy mà ta không hiểu nổi. Đỉnh điểm là có lúc chúng biến mất hoàn toàn, ngay cả với ta, dẫu ta biết chúng ở rất gần. Chúng dường như luôn chết đi cùng với loài hoa mà chúng giống và mang tên; nhưng không biết chúng có trở lại sự sống cùng những bông hoa tươi mới hay không, hay đó là hoa mới, tiên mới, thì ta chịu. Chúng có đủ loại tính cách như đàn ông và đàn bà, trong khi tâm trạng của chúng còn thất thường hơn nhiều; hai mươi biểu cảm khác nhau sẽ lướt qua những khuôn mặt nhỏ xíu của chúng chỉ trong nửa phút. Ta thường tự giải trí bằng cách ngắm nhìn chúng, nhưng chưa bao giờ có thể kết thân với bất kỳ đứa nào trong số chúng. Nếu ta nói chuyện với đứa nào, nó sẽ ngước lên nhìn mặt ta như thể ta chẳng đáng để lưu tâm, rồi cười lanh lảnh một tiếng và chạy tút đi.” Đến đây, người phụ nữ giật mình, như thể sực nhớ ra điều gì, rồi hạ giọng nói với con gái: “Nhanh lên—ra canh chừng hắn, và xem hắn đi về hướng nào.”
Ở đây tôi cũng xin được kể lại, kết luận mà tôi rút ra từ những quan sát có được sau đó, chính là những bông hoa héo tàn là vì các nàng tiên bỏ đi; chứ không phải các nàng tiên biến mất vì hoa chết. Những đóa hoa có vẻ giống như một dạng nhà ở dành cho chúng, hoặc những lớp vỏ bên ngoài mà chúng có thể mặc vào hay cởi ra tùy thích. Cũng giống như việc ngươi có thể phần nào hình dung được bản tính của một con người qua kiểu ngôi nhà anh ta xây, nếu anh ta làm theo sở thích cá nhân, thì ngươi cũng có thể, mà chẳng cần nhìn thấy các nàng tiên, biết được dung mạo của bất kỳ ai trong số chúng bằng cách ngắm nhìn bông hoa cho đến khi ngươi cảm thấy mình hiểu được nó. Vì chính xác những gì bông hoa nói với ngươi, gương mặt và vóc dáng của nàng tiên cũng sẽ nói điều ấy; chỉ là rõ ràng hơn nhiều so với việc một khuôn mặt và hình hài con người có thể biểu đạt nhiều hơn một bông hoa. Bởi vì ngôi nhà hay y phục, dẫu giống với kẻ cư ngụ hay người mặc đến đâu, cũng không thể tạo ra sức mạnh biểu đạt tương đương. Thế nhưng ngươi sẽ nhìn thấy một sự tương đồng kỳ lạ, gần như là sự hợp nhất, giữa bông hoa và nàng tiên, thứ mà ngươi không thể diễn tả bằng lời, nhưng tự nó sẽ khắc họa vào tâm trí ngươi. Liệu tất cả các loài hoa có tiên hay không, ta chẳng thể quả quyết, cũng giống như ta không thể chắc chắn liệu tất cả đàn ông và đàn bà có linh hồn hay không vậy.
Tôi và người phụ nữ tiếp tục trò chuyện thêm vài phút nữa. Tôi cảm thấy vô cùng hứng thú trước những thông tin bà cung cấp và kinh ngạc trước thứ ngôn ngữ mà bà dùng để truyền đạt chúng. Xem ra việc giao du với các nàng tiên tự bản thân nó đã là một thứ giáo dục không tồi rồi. Nhưng lúc này cô con gái đã trở về mang theo tin tức rằng Cây Tần Bì vừa di chuyển về hướng tây nam; và vì lộ trình của tôi có vẻ về phía đông, cô hy vọng tôi sẽ chẳng gặp nguy hiểm gì nếu khởi hành ngay lập tức. Tôi nhìn ra khung cửa sổ nhỏ, và ở đó cây tần bì vẫn đứng vững, qua mắt tôi thì chẳng khác gì trước; nhưng tôi tin chúng am tường hơn mình và liền chuẩn bị lên đường. Tôi thò tay rút ví, nhưng ngạc nhiên thay, trong đó trống không. Người phụ nữ mỉm cười nài nỉ tôi đừng bận tâm, vì tiền chẳng có lấy chút ít giá trị nào ở nơi này; và vì tôi có thể gặp gỡ những con người trên hành trình mà mình không nhận ra là tiên, thật may mắn vì tôi chẳng có đồng nào để đem tặng, bởi chẳng có gì khiến họ phật lòng hơn thế.
“Họ sẽ nghĩ rằng,” bà nói thêm, “ngươi đang đùa cợt họ; và đó là đặc quyền riêng của họ đối với chúng ta.” Thế là chúng tôi cùng nhau bước vào khu vườn nhỏ thoai thoải dốc xuống phần thấp hơn của khu rừng.
Nơi đây, khiến tôi vô cùng thích thú, mọi thứ đều tràn đầy sự sống và nhộn nhịp. Vẫn còn đủ ánh sáng ban ngày để nhìn ngắm đôi chút; và ánh trăng non nhạt nhòa, lơ lửng lưng chừng thiên đỉnh, đang bừng sáng lên từng khoảnh khắc. Toàn bộ khu vườn trông như một hội hóa trang, với những hình hài tí hon được trang hoàng rực rỡ từng nhóm, từng hội, từng đoàn rước, từng cặp hay từng nhóm ba người, đang di chuyển một cách oai nghiêm, chạy lung tung khắp nơi, hay dạo bước thong dong từ nơi này sang nơi khác. Từ đài hoa hoặc chiếc chuông của những đóa hoa cao, tựa như từ những ban công, vài kẻ nhìn xuống đám đông bên dưới, lúc thì cười phá lên sảng khoái, lúc lại nghiêm nghị như cú mèo; thế nhưng ngay cả trong sự nghiêm trang tột độ ấy, trông chúng vẫn chỉ như đang chờ đợi tràng cười tiếp theo đến mà thôi. Vài đứa đang thả mình trên một con suối lầy lội ở phía cuối nguồn, trên những chiếc thuyền được chọn từ đống lá khô quắt queo rụng từ năm ngoái nằm vương vãi. Những chiếc thuyền ấy chẳng mấy chốc chìm nghỉm cùng chúng; thế là chúng bơi vào bờ và lấy những chiếc khác. Những đứa dùng cánh hoa hồng tươi làm thuyền thì nổi lâu nhất; nhưng để có được chúng, chúng phải chiến đấu kịch liệt; vì nàng tiên của cây hoa hồng phàn nàn cay đắng rằng chúng đang ăn cắp y phục của mình và dũng cảm bảo vệ tài sản của ả.
“Ngươi có mặc hết ngần ấy thứ đâu,” vài đứa lên tiếng.
“Mặc kệ các ngươi chứ; ta không thích bọn ngươi sở hữu chúng: chúng là tài sản của ta.”
“Tất cả vì lợi ích chung của cộng đồng chứ!” một đứa nói rồi vớ lấy chiếc lá lõm to tướng chạy biến. Nhưng nàng tiên hoa hồng liền lao theo nó (trông nàng mới xinh đẹp làm sao! chỉ có điều hơi giống một tiểu thư đài các chốn khuê phòng), đánh cho nó một cú lộn nhào khi nó đang chạy, và giật lại chiếc lá đỏ to lớn của mình. Nhưng trong lúc ấy, đã có tới hai mươi đứa nhanh chân tẩu tán theo các hướng khác với những chiếc lá tốt không kém; và sinh vật nhỏ bé ấy ngồi bệch xuống khóc mếu, rồi trong cơn hờn dỗi, ném một trận cuồng phong những cánh hoa hồng phồng rộp từ cái cây của mình, vừa nhảy từ cành này sang cành khác vừa giậm chân, lắc lư và giật mạnh. Cuối cùng, sau một trận khóc cho đã đời, nàng chọn chiếc lớn nhất có thể tìm thấy, rồi vừa cười vừa chạy đi để hạ thủy con thuyền của mình giữa đám đông còn lại.
Nhưng sự chú ý của tôi trước hết và chủ yếu bị thu hút bởi một nhóm các nàng tiên gần ngôi nhà, đang trò chuyện với nhau quanh một đóa hoa anh thảo tàn úa. Chúng vừa hát vừa trò chuyện, và lời nói của chúng cất lên thành một bài ca, đại loại thế này:
“Chị Snowdrop đã chết
Trước khi chúng ta sinh ra.”
“Chị đến tựa cô dâu
Vào một sớm mai tuyết trắng.”
“Cô dâu là gì nhỉ?”
“Tuyết là chi?”
“Chưa thử bao giờ.”
“Chẳng biết gì đi.”
“Ai kể cho ngươi về chị ấy?”
“Đóa Anh Thảo đằng kia
Thiếu chị ấy không sống nổi.”
“Ồ, đáng yêu làm sao kia!”
“Đừng sợ chứ,”
“Chị ấy sẽ đến thôi,
Anh Thảo thân thương.”
“Chị ấy câm sao?”
“Chị ấy sẽ đến chẳng mấy chốc.”
“Ngươi sẽ chẳng bao giờ thấy nổi.”
“Chị ấy về nhà để chết,”
“Cho đến năm mới.”
“Snowdrop ư!” “Chẳng ích gì
Khi mời chị ấy đâu.”
“Anh Thảo thật vô lễ,”
“Ta sẽ cắn nó cho xem.”
“Ồ, cái con Pocket hư đốn này!
Nhìn kìa, nó đang cúi đầu.”
“Nó đáng đời lắm, Rocket,
Và nó cũng gần chết rồi.”
“Về võng đi—biến mau!”
“Và đu đưa một mình.”
“Chẳng ai thèm cười cùng ngươi đâu.”
“Không, chẳng một ai.”
“Giờ thì hãy cùng than khóc.”
“Và phủ lên mình chị ấy.”
“Anh Thảo đi mất rồi.”
“Chỉ còn lại bông hoa.”
“Đây là chiếc lá.”
“Hãy đặt chị ấy lên đó.”
“Cùng bước đi trong tang tóc.”
“Pocket đã làm xong rồi.”
“Sâu hơn chút nữa, tội nghiệp chưa!
Mùa đông rồi sẽ đến.”
“Hắn chẳng thể với tới chị ấy—
Đó chỉ là lời phét lác.”
“Chị ấy đã được chôn cất, người đẹp ơi!”
“Giờ thì xong rồi đấy.”
“Đó là bổn phận.”
“Giờ thì đến màn vui thôi.”
Và với một tràng cười hoang dã, chúng tung tăng nhảy vụt đi, phần lớn hướng về phía ngôi nhà. Trong phần sau của đoạn đối thoại ca hát ấy, chúng đã tự kết thành một đoàn rước tang, hai đứa trong số chúng khiêng tội nghiệp Anh Thảo—cái chết của nàng đã bị Pocket đẩy nhanh bằng cách cắn đứt cuống hoa—trên một trong những chiếc lá to lớn của chính nàng. Chúng trang nghiêm khiêng đi một quãng rồi chôn nàng dưới một gốc cây. Dù tôi gọi nàng là nàng, tôi chẳng thấy gì ngoài bông hoa anh thảo khô héo trên chiếc cuống dài. Pocket, kẻ đã bị đuổi khỏi nhóm bởi sự đồng thuận chung, hậm hực bước đi về phía chiếc võng của mình, vì ả là nàng tiên của hoa mõm chó và trông khá ác độc. Khi đến được thân cây võng, ả dừng lại và nhìn xung quanh. Tôi không kìm được mà cất lời với ả, vì tôi đứng gần đó. Tôi nói: “Pocket, sao cháu có thể hư đốn thế nhỉ?”
“Ta chưa bao giờ hư đốn cả,” ả đáp, nửa hằn học nửa thách thức; “chỉ là nếu ngươi bén mảng đến gần võng của ta, ta sẽ cắn ngươi, và khi ấy ngươi sẽ phải chuồn lẹ.”
“Sao cháu lại cắn tội nghiệp Anh Thảo thế?”
“Bởi vì nó bảo chúng ta sẽ không bao giờ được nhìn thấy Snowdrop; cứ làm như chúng ta không đủ tư cách để ngắm nhìn chị ấy không bằng, trong khi nó thì có, cái thói kiêu căng ấy!—đáng đời lắm!”
“Ồ, Pocket, Pocket,” tôi thốt lên; nhưng đúng lúc ấy, nhóm người vừa đi về phía ngôi nhà lại ùa ra, hét vang và cười ré lên. Nửa số chúng đang cưỡi trên lưng con mèo, nửa còn lại bám chặt lấy bộ lông và cái đuôi của nó, hoặc chạy bên cạnh nó; cho đến khi có thêm nhiều đứa đến cứu viện, con mèo hung dữ bị giữ chặt cứng; và chúng tiến hành nhổ những tia lửa trên người nó bằng gai và đinh ghim, thứ mà chúng cầm nắm chẳng khác gì những cây lao móc. Thậm chí có nhiều công cụ đang làm việc trên người nó hơn số tia lửa có thể tồn tại trên mình con mèo. Một gã tí hon bám chặt lấy chóp đuôi, với hai chân cắm xuống đất một góc bốn mươi lăm độ, góp phần giữ chặt con mèo, liên tục tuôn ra những lời răn đe dành cho Pussy.
“Nào Pussy, hãy kiên nhẫn nhé. Mày thừa biết tất cả là vì tốt cho mày thôi. Mày không thể nào thoải mái được với ngần ấy tia lửa trong người; và quả thực, ta mang lòng trắc ẩn để tin rằng” (đến đây hắn trở nên vô cùng ra dáng kẻ bề trên) “chúng chính là nguyên nhân khiến mày lúc nào cũng gắt gỏng; thế nên chúng ta phải lôi hết chúng ra, từng cái một; nếu không chúng ta sẽ rơi vào tình thế bất đắc dĩ phải cắt móng vuốt của mày, và nhổ phăng những chiếc răng nanh ra đấy. Ngoan nào! Pussy, ngoan nào!”
Nhưng với một cơn cuồng phong những tiếng nguyền rủa của loài mèo, tội nghiệp con vật đã tung hoành thoát được, lao vút qua khu vườn và xuyên qua hàng rào, nhanh hơn cả tốc độ các nàng tiên có thể đuổi theo. “Mặc kệ nó, mặc kệ nó, chúng ta sẽ tìm lại nó thôi; và đến lúc đó nó lại tích trữ sẵn một đống tia lửa mới rồi. Hoan hô!” Và thế là chúng kéo nhau đi tìm trò quậy phá khác.
Nhưng tôi sẽ không nán lại để bàn dài dòng về màn trình diễn thú vị của những sinh vật tinh nghịch này. Phong tục và tập quán của chúng giờ đây đã quá quen thuộc với thế giới, khi được miêu tả quá nhiều lần bởi những nhân chứng tận mắt chứng kiến, nên việc thêm thắt bản tường thuật đầy đủ của mình vào số đó chỉ là sự tự mãn mà thôi. Dù vậy, tôi không khỏi ước gì độc giả của mình có thể tận mắt nhìn thấy chúng. Đặc biệt tôi rất muốn họ được ngắm nhìn nàng tiên hoa cúc; một đứa trẻ mũm mĩm, mắt tròn xoe, mang một vẻ ngây thơ tin tưởng đến tội nghiệp trong ánh nhìn! Ngay cả những nàng tiên nghịch ngợm nhất cũng chẳng buồn trêu chọc nó, dẫu nó chẳng thuộc nhóm của chúng tẹo nào mà chỉ là một cậu nhóc nhà quê ngốc nghếch. Nó lang thang một mình khắp nơi và ngắm nghía mọi thứ, hai tay đút vào túi quần nhỏ, đầu đội chiếc mũ ngủ màu trắng, cưng làm sao! Nó không đẹp bằng nhiều loài hoa dại khác mà tôi thấy sau đó, nhưng lại vô cùng đáng yêu và trìu mến trong ánh nhìn cùng những dáng điệu tự tin nhỏ bé của mình.