“‘Dòng suối đâu rồi?’ chàng khóc lớn hỏi. ‘Ngươi không thấy những con sóng xanh biếc của nó ở tận trên đầu chúng ta kia sao?’ Chàng ngước nhìn lên, và kìa! dòng suối xanh đang lững lờ chảy ngay bên trên đầu họ.” —NOVALIS, Heinrich von Ofterdingen.
Trong lúc những sự việc kì lạ ấy đang cuồn cuộn trong tâm trí tôi, bỗng nhiên — hệt như một người tỉnh giấc và nhận ra tiếng biển rì rào bên mình đã mấy tiếng đồng hồ, hay tiếng bão gào thét ngoài khung cửa suốt cả đêm — tôi chợt nghe thấy tiếng nước chảy róc rách sát bên mình; và khi nhổm người nhìn xuống giường, tôi thấy một chiếc chậu rửa bằng cẩm thạch xanh cỡ lớn, nơi tôi vẫn thường dùng để rửa mặt, đặt trên một chiếc bệ thấp làm bằng cùng chất liệu ở một góc phòng, nay đang tràn nước ra như một mạch ngầm; cùng lúc ấy, một dòng nước trong vắt đang chảy tràn qua tấm thảm, kéo dài suốt dọc căn phòng để rồi đổ ra đâu mất tôi cũng chẳng rõ. Và kì lạ hơn nữa, ở ngay khúc quanh mà tấm thảm — thứ do chính tay tôi thiết kế để mô phỏng một cánh đồng cỏ non và hoa cúc dại — tiếp giáp với dòng suối nhỏ, những ngọn cỏ và đóa hoa cúc như đang uốn lượn trước một cơn gió nhẹ thổi theo dòng nước; trong khi ngay dưới lòng suối, chúng oằn mình và dao động theo từng nhịp chuyển động của dòng nước khôn lường, tựa hồ như chúng sắp sửa tan hòa vào dòng chảy, từ bỏ hình hài cố định để trở nên uyển chuyển như làn nước.
Chiếc bàn trang điểm của tôi là một món đồ cổ làm bằng gỗ sồi đen, với những ngăn kéo bố trí suốt dọc mặt trước. Chúng được chạm trổ vô cùng tinh xảo hình các tán lá, trong đó lá thường xuân chiếm chủ đạo. Đầu gần của chiếc bàn vẫn giữ nguyên trạng, nhưng ở đầu phía xa, một sự biến đổi kì lạ đã bắt đầu diễn ra. Tình cờ tôi dán mắt vào một chùm lá thường xuân nhỏ. Chiếc lá đầu tiên rõ ràng là tác phẩm của người thợ mộc; chiếc tiếp theo trông có vẻ lạ lùng; chiếc thứ ba đích thị là lá thường xuân bằng xương bằng thịt; và ngay phía bên kia, một nhánh hoa ông lão đã quấn chặt lấy chiếc tay nắm mạ vàng của một ngăn kéo. Ngay lúc đó, nghe thấy một tiếng động khẽ phía trên đầu, tôi ngước lên và thấy những cành lá thêu trên rèm giường đang khẽ chuyển động. Đoán trước có lẽ sẽ còn những đổi thay kì lạ nữa sắp xảy ra, tôi tự nhủ đã đến lúc phải thức dậy; thế là, vừa tung chăn bật dậy, đôi chân trần của tôi liền chạm xuống một thảm cỏ xanh mát rượi; và dù tôi đã vội vã thay đồ hết mức có thể, tôi vẫn thấy mình hoàn thiện nốt việc phục trang dưới những tán búp của một cổ thụ vĩ đại, nơi chỏm cây đang đung đưa trong dòng ánh nắng vàng rực rỡ buổi bình minh với vô vàn tia sáng đan xen, cùng những bóng lá cành trượt dài trên nhau theo nhịp gió mai mát rượi lay đưa thân cây qua lại, tựa như một con sóng biển đang triều rút.
Sau khi đã rửa mặt qua loa bằng dòng nước trong vắt, tôi đứng dậy và phóng tầm mắt quan sát xung quanh. Cây cổ thụ mà tôi ngỡ như đã nằm ngủ dưới gốc suốt cả đêm qua chính là một trong những tiền đồn của một khu rừng rậm rạp, hướng mà dòng suối nhỏ đang chảy về. Dọc theo bờ bên phải, người ta vẫn có thể lờ mờ nhận ra dấu vết của một lối mòn nhỏ đã bị cỏ dại và rêu phong phủ kín, thỉnh thoảng còn lác đác vài bông hoa cúc dại. “Đây,” tôi tự nhủ, “chắc chắn phải là con đường dẫn vào Xứ sở Thần tiên mà quý cô đêm qua đã hứa hẹn rằng tôi sẽ sớm tìm thấy.” Tôi bước qua dòng suối nhỏ, đi theo lối mòn bên bờ phải của nó, cho đến khi con đường dẫn tôi vào trong rừng đúng như tôi hằng mong đợi. Tại đây, chẳng vì một lý do chính đáng nào cả, tôi rời khỏi nó; và với một nỗihoài nghi mơ hồ rằng đáng lẽ mình phải tiếp tục bám theo dòng suối, tôi lại rẽ về phía nam.