“Trong cõi tĩnh lặng bất biến, với sự mộc mạc ngàn đời, ta mang trọn vẹn ý thức về toàn thể Nhân loại trong tôi, một mạch nguồn không bao giờ đứt đoạn.”
SCHLEIERMACHER, Monologen.
“... một nét dịu dàng xiết bao, một vẻ ân cần nhường ấy, Hiển hiện trong từng lời nàng nói, Khiến tai người nghe cũng đê mê hệt như mắt người ngắm nhìn một gương mặt kiều diễm.”
COWLEY.
Mặt nước sâu thẳm cho đến tận mép bờ; và tôi từ chiếc thuyền nhỏ bước phốc lên thảm cỏ mềm mại. Hòn đảo tựa như được trù phú hóa bởi vô vàn các loài cỏ dại và hoa thấp. Mọi sinh vật mỏng manh, khiêm nhường đều vô cùng phong phú; thế nhưng không một ngọn cây nào vươn cao lên bầu trời, thậm chí chẳng có lấy một bụi cây vượt qua được những thẳm cỏ cao, ngoại trừ một góc gần ngôi nhà nhỏ mà tôi sắp sửa miêu tả, nơi dăm khói hoa hồng đá — loài cứ mỗi đêm lại rũ sạch mọi đóa hoa mà ban ngày vừa hé nở — tạo thành một thứ chòi vòm tự nhiên. Toàn bộ hòn đảo phô bày hoàn toàn dưới bầu trời và biển cả. Nơi đây chẳng có lấy một điểm nào nhô cao quá vài thước so với mực nước, thứ đang dập dềnh sâu thẳm bao bọc quanh viền đảo. Tại đây, dường như chẳng hề tồn tại thủy triều hay bão tố. Một cảm giác bình yên thường trực và viên mãn dâng tràn trong tâm trí khi ta chứng kiến nhịp đâng và hạ chậm rãi, tựa như nhịp đập của trái tim, từ làn nước sâu thẳm, trong vắt và phẳng lặng vỗ vào bờ đảo — thực khó lòng gọi đó là bờ biển, bởi nó giống như mép của một dòng sông đầy đặn và trang nghiêm hơn nhiều. Khi tôi bước qua thảm cỏ hướng về phía ngôi nhà nhỏ nằm cách mép nước một khoảng ngắn, mọi đóa hoa thuở niên thiếu nhìn tôi bằng ánh mắt trong veo tuyệt mỹ của trẻ thơ từ giữa đám cỏ. Trái tim tôi, vốn đã trở nên mềm mại bởi những giấc mộng vừa đi qua, dâng trào một thứ tình yêu thương đượm buồn và dịu dàng hướng về chúng. Chúng trông tựa như những đứa trẻ được bảo bọc kiên cố trong một niềm tin ngây thơ, bất lực. Mặt trời ngả về nửa phía Tây bầu trời, tỏa ra thứ ánh sáng vàng óng và vô cùng dịu ngọt; và một thế giới thứ hai của những chiếc bóng đang sinh sôi giữa chốn cỏ cây hoa dại.
Ngôi nhà có hình vuông, với những bức tường thấp và mái hiên nháp chóp cao lợp bằng sậy dài, thứ hoa khô đã héo úa rủ xuống mọi đường diềm mái. Thật đáng chú ý khi phần lớn các công trình tôi nhìn thấy ở Xứ Sở Thần Tiên đều là những ngôi nhà tranh. Không có lối mòn dẫn đến cửa, và thực ra, chẳng hề có bất kỳ dấu chân nào mòn lõm trên hòn đảo này.
Ngôi nhà vươn lên ngay từ thảm cỏ phẳng lì. Tôi không thấy có khung cửa sổ nào; nhưng có một cánh cửa nằm ở chính giữa bức tường hướng về phía tôi, và tôi đã tiến lại gần đó. Tôi gõ cửa, và giọng nói ngọt ngào nhất mà tôi từng nghe vang lên: “Mời vào.” Tôi bước vào. Một ngọn lửa rực rỡ đang cháy bập bùng trên lò sưởi đặt ở chính giữa sàn đất nết, và làn khói thoát ra ngoài qua một lỗ hỗng ở trung tâm mái chóp. Treo bên trên ngọn lửa là một chiếc nồi nhỏ, và cúi mình bên chiếc nồi ấy là gương mặt của một người phụ nữ, mà tôi nghĩ là kỳ diệu nhất mà bản thân từng chiêm ngưỡng. Bởi vì bà già hơn bất kỳ dung nhan nào tôi từng ngắm nhìn. Không có lấy một chỗ trống nào mà nếp nhăn không thể hằn lên, nơi ấy đều chi chít nếp nhăn. Và làn da thì cổ kính, sẫm màu như tấm da cừu cũ kỹ. Dáng người phụ nữ cao và gầy guộc: và khi bà đứng dậy chào đón tôi, tôi thấy bà thẳng đuột như một mũi tên. Liệu giọng nói ngọt ngào nhường kia có thể phát ra từ đôi môi già nua ấy chăng? Dù dịu dàng đến nhường nào, chúng có thực sự là cánh cổng tuôn trào thứ âm điệu du dương nhường ấy không? Thế nhưng ngay khoảnh khắc tôi nhìn vào đôi mắt bà, tôi không còn băn khoăn về giọng nói ấy nữa: chúng hoàn toàn trẻ trung — đôi mắt của một phụ nữ tuổi đôi mươi, to và mang sắc xám trong ngọc. Nếp nhăn đã vây kín xung quanh; ngay cả đôi mi cũng đã già nua, nặng trĩu và mòn mỏi; nhưng đôi mắt lại chính là hiện thân của thứ ánh sáng dịu êm. Bà đưa tay ra với tôi, và giọng nói ngọt ngào ấy lại một lần nữa chào đón tôi bằng đúng một từ duy nhất: “Chào mừng.” Bà đặt một chiếc ghế gỗ cổ kính gần lò sưởi cho tôi, rồi tiếp tục công việc nấu nướng của mình. Một cảm giác nương náu và nghỉ ngơi kỳ diệu bao trùm lấy tôi. Tôi thấy mình giống như một chú bé vừa tìm đường về nhà sau quãng đường dài dằng dặc băng qua đồi núi, giữa cơn bão tuyết và gió lộng. Ngay lúc ngắm nhìn bà, suýt chút nữa tôi đã bật khỏi chỗ ngồi để đặt nụ hôn lên đôi môi già nua ấy. Và khi bà nấu ăn xong, mang ra một ít món ăn đã chuẩn bị sẵn đặt lên chiếc bàn nhỏ cạnh tôi — chiếc bàn được phủ một tấm khăn trắng tinh như tuyết —, tôi không sao kìm lại được mà ngả đầu vào ngực bà, oà khóc trong những giọt nước mắt hạnh phúc. Bà vòng tay ôm lấy tôi, thì thầm: “Tội nghiệp con trẻ; tội nghiệp con trẻ!”
Khi tôi vẫn tiếp tục nức nở, bà dịu dàng buông tay, cầm lấy chiếc thìa múc một ít thức ăn (tôi chẳng rõ đó là món gì) đưa lên môi tôi, ân cần dỗ dành tôi nuốt lấy. Để làm vui lòng bà, tôi đã gắng sức và thành công. Bà tiếp tục đút cho tôi ăn tựa như một đứa trẻ, với một tay ôm lấy tôi, cho đến khi tôi ngước lên nhìn gương mặt bà và mỉm cười: bấy giờ bà trao lại chiếc thìa và bảo tôi cứ ăn đi, vì nó sẽ có ích cho sức khỏe. Tôi vâng lời bà, và thấy tinh thần mình sảng khoái một cách kỳ diệu. Sau đó, bà kéo lại gần lò sưởi một chiếc ghế bành kiểu cũ có sẵn trong phòng, bắt tôi nằm nghỉ lên đó, rồi ngồi xuống dưới chân tôi và bắt đầu cất tiếng hát. Kho tàng ballad cổ kỳ diệu tuôn trào từ đôi môi bà, lướt qua những ghềnh đá của những giai điệu cổ xưa; và giọng ca cất lên ngọt ngào như giọng của một thiếu nữ mượt mà luôn cất tiếng ca xuất phát từ chính sự dạt dào trong khúc hát. Những bài ca hầu hết đều đượm buồn, nhưng mang theo âm hưởng vỗ về. Có một bài tôi còn láng thoáng nhớ lại. Nó tựa thế này:
Sir Aglovaile dạo bước qua nghĩa trang chiều;
Hát rằng: Ta nằm đây lẻ loi quạnh quẽ:
Chàng chẳng màng bản thân đang lang thang chốn nào,
Đơn độc một mình, tận trên chốn tận cao.
Ngựa chiến lồng lên, hoảng hốt quay đầu,
Hát rằng: Ta nằm đây lẻ loi quạnh quẽ:
Tiếng thét của chàng đủ đánh thức người âm phủ gần đâu,
Đơn độc một mình, tận trên chốn tận cao.
Cả những thây ma đang nằm dưới chân chàng,
Được bọc trong tấm vải liệm mục rữa đầy mốc meo.
Nhưng chàng kìm cương, quất roi giục giã, cho đến khi đứng lặng,
Bất động tại chỗ, tựa một con ngựa gỗ,
Với lỗ mũi phập phồng, đôi mắt mở tráo bàng hoàng;
Song mồ hôi từ khớp gối vẫn tuôn rơi thành dòng.
Một hồn ma vươn mình lớn dậy từ bầu không khí u tịch,
Và ngồi giữa mái tóc óng ánh ánh trăng.
Nàng ngồi và khóc trong làn tóc sáng lấp lánh;
Dưới ánh trăng mơ màng, chúng nằm đó và ngủ yên;
Những chiếc bóng ở phía trên và thể xác ở bên dưới,
Cùng nằm và chìm vào giấc ngủ trong ánh trăng nhạt nhòa.
Và nàng cất tiếng hát, tựa tiếng rên rỉ của ngọn gió mùa thu
Thổi qua những gốc rạ bỏ lại sau mùa gặt:
Hỡi ôi, mọi sự sao dễ dàng đi lệch lối!
Một tiếng thở dài thừa thãi, hay một nụ hôn quá đà,
Để rồi theo sau là màn sương mù và những cơn mưa nức nở,
Và cuộc đời chẳng bao giờ trở lại như xưa.
Hỡi ôi, mọi sự sao nhọc nhằn để đúng đắn!
Thật khó khăn để canh thức trong một đêm hè,
Bởi tiếng thở dài sẽ đến và nụ hôn sẽ ở lại,
Và đêm hè bỗng hóa thành giá lạnh ngày đông.
“Ôi những bóng ma kiều diễm, lòng ta đau xót biết bao
Khi thấy nàng khóc than và rên rỉ nghẹn ngào.
Hỡi bóng ma yêu kiều,” chàng hiệp sĩ không sợ hãi cất lời,
“Liệu thanh kiếm của chiến binh có thể xoay chuyển đổi dời?
Hay lời cầu nguyện của kẻ tu hành hiền từ,
Tựa ly nước mát dâng đứa trẻ đang cơn sốt mê man,
Có thể xoa dịu nàng cuối cùng trong cõi lòng không mộng mị
Để ngủ giấc ngủ mà một phu nhân quá cố phải đi qua?
Đôi mắt nàng khơi gợi trong ta nỗi khát khao nhức nhối,
Tựa thể ta đã quen thuộc nàng từ muôn thuở muôn đời.
Ôi hồn ma kiều diễm, ta sẵn sàng rời bỏ ánh dương ngày mới
Để ngồi cùng nàng chốn trăng tà xa xôi
Nếu nàng tin tưởng ta, và ngả đầu
Nghỉ ngơi trên một bầu ngực vẫn còn hơi ấm sự sống.”
Nàng phu nhân bật dậy với tiếng kêu ma quái lạ kỳ,
Và vung cao đôi tay bóng ma trắng muốt:
Rồi nàng cất tiếng cười không chút vui tươi,
Và tiếng cười kéo dài mãi cho đến khi lịm tắt;
Và những thây ma bên dưới cựa quậy rên rỉ,
Và những tán cây thủy tùng phía trên run rẩy thở dài.
“Liệu chàng có yêu ta lần nữa với mối tình vô vọng?
Liệu chàng sẽ lại sát hại hồn ma tội nghiệp này một lần trông?
Ta tưởng chàng tốt; nhưng ta đã tự nhủ và khóc thầm:
‘Liệu ta có thể mơ khi chẳng hề chợp mắt dăm phân?’
Và hỡi ôi, ta đã thấu tỏ trước khi kịp hiểu lòng,
Rằng ta đang mơ mộng hay chàng thực lòng lương thiện.
Khi đứa con thơ của ta qua đời, tâm trí ta cuồng loạn.
Ta bừng tỉnh, và nhận ra mình đang ở bên con.”
“Nếu nàng thực là hồn ma của Adelaide ta thương nhớ,
Cớ sao thế này? Nàng vốn chỉ là một thiếu nữ làng quê,
Mà nay trông như một vị thiên thần áo trắng kiêu sa,
Dù gầy gò, xanh xao, và đã qua rồi những ngày hoan ca.”
Nàng phu nhân mỉm cười nhạt nhòa lấp lánh
Và bàn tay bấu chặt lấy vầng trán đang đau nhói.
“Chàng thấy đấy, cái Chết đối với một người phụ nữ
Còn làm được nhiều hơn chiến tích của một hiệp sĩ cho đời.”
“Nhưng hãy cho ta thấy đứa trẻ mà nàng gọi là con của chúng ta,
Liệu đêm nay con bé có ra chơi dưới ánh nắng hồn ma?”
“Trong nhà thờ Thánh Phêrô, con bé đang nô đùa,
Chơi trốn tìm cùng Thánh Tông đồ Gio-an.
Khi những tia trăng rọi thẳng qua khung cửa sổ,
Nơi mười hai vị thánh đang đứng với vẻ uy nghi rực rỡ,
Con bé bảo những người khác đều đứng yên bất động,
Chỉ có một vị bước xuống để chơi đùa cùng nó.
Bấy giờ ta có thể đi đến bất cứ nơi đâu mình muốn và khóc than,
Bởi Thánh Gio-an nhân từ sẽ trông nom đứa con của ta sẵn sàng.”
“Vẻ đẹp của nàng làm ngập tràn bầu không gian này,
Chưa từng thấy người phụ nữ nào xinh đẹp nhường này.”
“Hãy đến, nếu chàng dám, và ngồi bên cạnh ta;
Nhưng đừng chạm vào ta, bằng không tai họa sẽ sập nhà.
Hỡi ôi, ta yếu đuối: Lẽ ra ta phải biết thừa
Niềm vui này báo hiệu một nỗi đau thương nào nữa.
Tuy nhiên hãy cứ đến. Nó sẽ đến. Ta sẽ chịu đựng. Ta có thể.
Bởi chàng vẫn yêu ta — dù chỉ với tấm chân tình trần thế.”
Chàng hiệp sĩ vội vã phi thân xuống ngựa;
Con chiến mã phóng như bay qua những nấm mồ đổ gục,
Rồi ngã quỵ bên bức tường thành ngoài và chết đi.
Nhưng chàng hiệp sĩ vẫn quỳ gối bên cạnh phu nhân kiều mị;
Quỳ gối bên nàng trong niềm hạnh phúc ngút ngàn,
Đắm chìm trong nụ hôn vĩnh hằng miên man:
Dù môi chàng chưa bao giờ chạm sát phu nhân,
Và chỉ có đôi mắt đắm chìm vào nhan sắc ái ân.
Suốt đêm dài, cho đến khi tiếng gà gáy vang lừng,
Chàng quỳ bên phu nhân, bọc trong tấm vải liệm lạnh lùng.
Và những gì họ nói, ta không tài nào thuật lại:
Đêm tàn còn ngọt ngào hơn cả ban ngày dương thế.
Làm thế nào nàng mang lại niềm hạnh phúc chứa chan cho chàng,
Kẻ từng khiến nàng mang nỗi buồn ma quái bẽ bàng,
Ta không thể kể; nhưng chẳng cần sự chạm môi nào
Cũng đủ ban phước lành cho những kẻ yêu nhau xiết bao.
“Mỗi đêm hãy đến bên ta, hỡi bóng ma của đời ta;
Và rồi có đêm ta sẽ tìm đến chốn phương xa.
Thật tuyệt vời khi có một người vợ ma quái:
Nàng sẽ chẳng hề run sợ trước tiếng khua gươm giáo miệt mài;
Nàng sẽ chỉ lắng nghe, giữa chốn hỗn mang nhộn nhịp,
Phía sau cánh cửa, xem liệu chàng có bước về kịp.”
Và đó là cách Sir Aglovaile
Thường dạo bước dưới ánh trăng mờ phai.
Và thường khi ánh trăng khuyết chỉ làm loãng màn đêm u tối,
Ánh trăng tròn vành vạnh tràn ngập căn phòng anh ngồi;
Và lọt qua khe cửa phòng ngủ ở phía dưới,
Ánh sáng ma quái hắt lên sàn nhà ngoài tươi mới;
Và những kẻ qua lại, trong nỗi sợ hãi quả quyết rằng
Họ thường nghe thấy những lời thì thầm bên tai hằng hằng.
Đó là khi ánh trăng khuyết phương Đông rọi chiếu
Qua khung cửa sổ nhà thờ, và vị Thánh Gio-an mỹ miều
Chơi đùa cùng đứa trẻ hồn ma suốt đêm trường,
Và người mẹ được tự do cho đến tận bình minh vương vấn,
Vội vã vút qua đêm rạng đông, để ở bên
Aglovaile cho đến khi ánh ngày mới bừng lên.
Và tình yêu của họ là niềm cuồng nhiệt, cô độc và cao cả,
Và lặng câm như vầng trăng ở tận đỉnh trời xa.
Có đêm Sir Aglovaile mệt mỏi, chìm vào giấc mơ
Và mơ thấy một giấc mộng khiến chàng lệ đẫm mờ.
Chàng là một chiến binh, hiếm khi rơi lệ trong đời,
Nhưng đêm nay chàng khóc nức nở đầy tả tơi.
Chàng bừng tỉnh — bên cạnh, thiếu nữ hồn ma tỏa sáng
Từ trong bóng tối: đó là đêm vọng Thánh Gio-an vạng.
Chàng đã mơ về một khu rừng tĩnh lặng, tối tăm,
Nơi thiếu nữ thuở xưa đứng cạnh chàng lặng thầm;
Nhưng một làn sương mù sà xuống, cuốn phăng nàng đi,
Và chàng hoài công tìm kiếm nàng giữa ban ngày vô định mi mi,
Cho đến khi khóc ngất với nỗi đau chẳng thể làm gì hơn,
Và ngỡ rằng mình đã mơ giấc mơ ấy tự ngàn hơn.
Từ trái tim vỡ vụn, dòng lệ cứ thế tuôn trào;
Và kìa! Bên cạnh chàng, thiếu nữ hồn ma toả hào quang dạt dào;
Tỏa sáng tựa ngọn hải đăng trên ngực bão giông,
Giữa biển khơi thao thức của giấc mộng chưa xong;
Tỏa sáng tựa món quà kỳ diệu, chẳng tên gọi,
Mà trái tim hằng kiếm tìm suốt đêm ngày mòn mỏi:
Những lời cảnh báo đã bị lãng quên khi cần thiết nhất,
Chàng ôm chặt bóng ma rực rỡ vào lòng ngực.
Nàng thét lên thảm thiết, rồi phai nhạt và chìm sâu.
Với gương mặt trắng ngước lên, lạnh ngắt và vô sầu,
Trong vòng tay chàng là xác thi thể thiếu nữ xanh xao,
Và nàng chẳng bao giờ quay lại gặp Sir Aglovaile nữa nào.
Chỉ còn lại một giọng nói, khi gió ngàn gào thét,
Nức nở và than van như đứa trẻ bị la rầy mỏi mệt.
Hỡi ôi, mọi sự sao dễ dàng đi lệch lối!
Một tiếng thở dài thừa thãi, hay một nụ hôn quá đà,
Để rồi theo sau là màn sương mù và những cơn mưa nức nở,
Và cuộc đời chẳng bao giờ trở lại như xưa.
Đây là một trong những khúc ca giản dị nhất của bà, có lẽ đó là lý do khiến tôi có thể ghi nhớ nó tốt hơn phần lớn những bài khác. Trong lúc bà cất tiếng ca, tôi như lạc vào chốn Elysium, với cảm giác được một tâm hồn giàu có nâng đỡ, ôm ấp và che chở lấy tâm hồn tôi, trọn vẹn sự trù phú và hào phóng. Tôi có cảm giác như thể bà có thể ban cho tôi mọi điều tôi mong muốn; như thể tôi sẽ chẳng bao giờ muốn rời xa bà, mà chỉ thấy mãn nguyện khi được bà hát cho nghe và được bà đút cho ăn, ngày qua ngày, khi năm tháng trôi qua. Cuối cùng, tôi chìm vào giấc ngủ lúc nào không hay trong tiếng hát của bà.
Khi thức giấc, tôi chẳng biết đó là ban đêm hay ban ngày. Ngọn lửa đã lụi tàn chỉ còn lại vài mớ than hồng rực, vừa đủ thứ ánh sáng leo lét để tôi thấy người phụ nữ đang đứng cách tôi vài thước, quay lưng về phía tôi, đối diện với cánh cửa mà tôi từng bước vào. Bà đang khóc, nhưng rất dịu dàng và đầm đìa. Những giọt nước mắt tuôn rơi tự nhiên từ sâu thẳm trái tim. Cứ thế bà đứng lặng trong vài phút; rồi chậm rãi xoay người vuông góc với vị trí cũ, đối mặt với một bức tường khác trong bốn bức tường của ngôi nhà nhỏ. Bấy giờ tôi mới nhận ra, lần đầu tiên, rằng nơi đây cũng có một cánh cửa tương tự; và thực ra, có một cánh cửa ở ngay chính giữa mỗi mặt tường của ngôi nhà.
Khi bà hướng mắt về phía cánh cửa thứ hai, dòng lệ ngừng tuôn, nhưng những tiếng thở dài lại thay thế chỗ đó. Bà thường nhắm nghiền mắt khi đứng đó; và mỗi lần nhắm mắt, một tiếng thở dài dịu êm dường như được sinh ra từ trái tim bà, rồi thoát qua đôi môi. Nhưng khi đôi mắt mở ra, những tiếng thở dài của bà trở nên sâu thẳm, vô cùng đau buồn và làm rung chuyển cả thân hình. Rồi bà quay về phía cánh cửa thứ ba, và một tiếng kêu tựa như sự hoảng sợ hay nỗi đau nén chặt bật ra từ lồng ngực; nhưng bà có vẻ tự trấn an mình trước nỗi sợ hãi ấy, và đối mặt với nó một cách kiên định; bởi vì, dẫu tôi thường nghe thấy tiếng kêu khe khẽ, và thỉnh thoảng là tiếng rên rỉ, nhưng bà không hề nhúc nhích hay cúi đầu, và tôi cảm thấy chắc chắn rằng đôi mắt bà chưa từng nhắm lại. Rồi bà quay sang cánh cửa thứ tư, và tôi thấy bà rùng mình, rồi đứng bất động như một bức tượng; cho đến tận khi cuối cùng bà quay lại hướng về phía tôi và tiến đến gần lò lửa. Tôi thấy gương mặt bà trắng bệch như kẻ sắp chết. Nhưng bà ngước nhìn lên một cái và mỉm cười — nụ cười ngọt ngào nhất, ngây thơ như trẻ thơ nhất; rồi chất thêm củi tươi vào bếp lửa, và ngồi xuống bên ngọn lửa bập bùng, kéo chiếc guồng sợi lại gần mình và bắt đầu quay tơ. Trong lúc quay tơ, bà lẩm bẩm một khúc ca thấp lạ lùng, hòa cùng tiếng vo ve của guồng quay tạo thành một thứ giao hưởng vô tận. Cuối cùng, bà ngừng quay và ngừng hát, liếc nhìn về phía tôi, tựa như một người mẹ đang quan sát xem đứa con có dấu hiệu tỉnh giấc hay không. Bà mỉm cười khi thấy đôi mắt tôi đã mở. Tôi hỏi bà liệu đã đến ban ngày chưa. Bà đáp: “Ở đây luôn là ban ngày, chừng nào ta còn giữ cho ngọn lửa của mình cháy sáng.”
Tôi cảm thấy sảng khoái một cách kỳ diệu; và một khao khát mãnh liệt muốn khám phá thêm về hòn đảo trỗi dậy trong lòng. Tôi đứng dậy, thưa rằng tôi muốn đi đây đi đó quanh vùng, rồi tiến về phía cánh cửa mà tôi từng bước qua.
“Hãy nán lại một chút,” nữ chủ nhân nói với chút ít hoang mang trong giọng nói. “Hãy lắng nghe ta. Ngươi sẽ không nhìn thấy những gì mình mong đợi khi bước qua cánh cửa ấy đâu. Chỉ cần ghi nhớ điều này: bất cứ khi nào ngươi muốn quay lại với ta, hãy bước vào bất cứ nơi nào ngươi nhìn thấy dấu hiệu này.”
Bà giơ bàn tay trái lên giữa tôi và ngọn lửa. Trên lòng bàn tay, vốn trông gần như trong suốt, tôi nhìn thấy một dấu vết màu đỏ sậm giống như thế này —> mà tôi cẩn thận khắc ghi vào tâm trí.
Bà liền hôn tôi, và chào tạm biệt tôi với một vẻ trang nghiêm khiến tôi kính sợ; đồng thời cũng khiến tôi bối rối, bởi tôi ngỡ mình chỉ ra ngoài dạo chơi một chút trên hòn đảo, thứ mà tôi tin rằng chẳng lớn hơn kích thước có thể dễ dàng đi giáp vòng chỉ trong vài giờ đi bộ là cùng. Khi tôi đi, bà lại tiếp tục công việc quay tơ.
Tôi mở cửa và bước ra ngoài. Ngay khoảnh khắc bàn chân tôi chạm vào thảm cỏ phẳng lì, tôi có cảm giác như vừa bước ra từ cánh cửa của một nhà kho cũ kỹ trong điền trang của cha tôi, nơi vào những buổi chiều oi ả, tôi thường lui tới để nằm giữa đống rơm và đọc sách. Giờ đây tôi có cảm giác như mình vừa chợp ngủ ở đó. Cách đó một quãng ngắn trên cánh đồng, tôi thấy hai người anh em của mình đang đùa nghịch. Ngay khi thoáng thấy tôi, họ gọi với theo bảo tôi đến tham gia cùng, và tôi đã làm thế; chúng tôi chơi đùa cùng nhau hệt như những năm tháng trước đây, cho đến khi mặt trời đỏ rực lặn xuống phía Tây và màn sương xám bắt đầu bốc lên từ dòng sông. Rồi chúng tôi cùng nhau trở về nhà với một niềm hạnh phúc lạ kỳ. Trên đường đi, chúng tôi nghe thấy tiếng kêu lặp đi lặp lại không ngớt của một con chim trảu đồng ẩn trong đám cỏ cao. Một người anh của tôi và tôi tản ra một khoảng nhỏ, và mỗi người bắt đầu chạy về hướng phát ra âm thanh, với hy vọng đến gần nơi con chim đang đậu, qua đó ít nhất có thể nhìn thấy nó, nếu không thể bắt được sinh vật nhỏ bé ấy. Giọng của cha tôi đã gọi chúng tôi lại, ngăn không cho dẫm nát lớp cỏ cao tươi tốt sắp được gặt mượn để chuẩn bị cho mùa đông. Tôi đã hoàn toàn quên bẵng đi Xứ Sở Thần Tiên, người phụ nữ già kỳ diệu và dấu ấn đỏ lạ lùng.
Người anh em yêu quý nhất và tôi chung chung một chiếc giường. Vài cuộc cãi vã trẻ con nảy sinh giữa chúng tôi; và những lời cuối cùng trước khi chúng tôi chìm vào giấc ngủ chẳng phải là những lời tử tế, bất chấp niềm vui của ngày hôm đó. Khi tôi tỉnh dậy vào buổi sáng, tôi không thấy anh đâu. Anh đã dậy từ sớm và ra sông tắm. Chỉ một giờ sau đó, anh được đưa về nhà trong tình trạng chết đuối. Hỡi ôi! Hỡi ôi! Giá như chúng tôi cứ đi ngủ như bình thường, với tay người này ôm lấy vai người kia! Giữa nỗi kinh hoàng của khoảnh khắc ấy, một niềm xác tín kỳ lạ xẹt qua tâm trí tôi rằng tôi đã từng trải qua chính xác cảnh ngộ này một lần rồi.
Tôi lao vụt ra khỏi nhà, chẳng hiểu vì lý do gì, nức nở và khóc lóc thảm thiết. Tôi chạy qua những cánh đồng trong cơn đau khổ không mục đích, cho đến khi đi ngang qua nhà kho cũ, tôi thoáng thấy một dấu vết màu đỏ trên cánh cửa. Những chuyện vặt vãnh nhất đôi khi lại thu hút sự chú ý sâu sắc nhất trong nỗi bất hạnh cùng cực; trí tuệ lúc ấy thật chẳng can thiệp mấy vào nỗi đau buồn. Tôi tiến lại gần để nhìn kỹ dấu vết này, thứ mà tôi không nhớ là mình từng thấy trước đó bao giờ. Khi nhìn nó, tôi tự nhủ sẽ bước vào và nằm xuống đống rơm, bởi tôi đã vô cùng mệt mỏi vì chạy nhảy và khóc lóc. Tôi mở cửa; và kìa, ở trong ngôi nhà nhỏ, bà lão vẫn đang ngồi bên chiếc guồng quay sợi như lúc tôi rời đi.
“Ta không ngờ ngươi lại quay lại sớm đến thế,” bà nói khi tôi khép cửa lại sau lưng. Tôi tiến đến chiếc ghế bành và ngả người lên đó với sự mệt mỏi hệt như khi người ta tỉnh dậy sau một giấc mơ đầy sốt sắng của nỗi buồn vô vọng.
Bà lão cất tiếng hát:
Mặt trời vĩ đại, lỡ chuyến chìm sâu,
Có thể lịm tàn khỏi vòm trời cao;
Nhưng tình yêu một khi thắp sáng lên rồi,
Sẽ chẳng bao giờ tàn lụi nữa thôi.
Vẻ bề ngoài cùng ánh sáng huy hoàng,
Sẽ phai nhạt khỏi ánh mắt trần gian;
Nó bước đi, trong sự trắng trong ngời,
Những thánh đường của trái tim loài người.
Trước khi bà dứt tiếng ca, lòng dũng cảm của tôi đã trở lại. Tôi bật dậy khỏi chiếc ghế bành, và chẳng buồn chào tạm biệt bà lão, mở tung cánh cửa mang tên Tiếng Thở Dài, rồi lao mình vào cõi giới sẽ hiện hình.
Tôi đứng trong một sảnh đường nguy nga, nơi bên lò sưởi đang cháy rực lửa hồng, một phu nhân đang ngồi chờ đợi — tôi biết — một ai đó đã mòn mỏi ngóng trông. Một tấm gương đặt gần đó, nhưng tôi nhận ra bóng dáng mình không hề có chỗ đứng trong chiều sâu của nó, thế nên tôi chẳng sợ bị phát hiện. Nữ phu nhân ấy có vẻ giống kỳ lạ với vị phu nhân bằng đá cẩm thạch của tôi, nhưng hoàn toàn là một người thuộc về dòng giống con người, và tôi không tài nào phân định nổi đó có phải là nàng hay không.
Không phải nàng chờ đợi tôi. Tiếng cộp cộp của một con ngựa lớn vang lên qua khoảng sân phía bên ngoài. Âm thanh ấy dừng lại, và tiếng giáp sắt va vào nhau cho hay kỵ sĩ đã xuống ngựa, cùng với tiếng gót giày khua vang tiến lại gần sảnh đường. Cánh cửa mở ra; nhưng vị phu nhân vẫn đợi chờ, bởi nàng muốn gặp mặt người chồng của mình trong không gian riêng tư. Chàng sải bước bước vào: nàng bay tới như một chú chim bồ câu bay về tổ, nép mình vào lớp giáp sắt lạnh ngắt. Đó chính là hiệp sĩ mang bộ giáp vấy bẩn. Nhưng giờ đây, bộ giáp sáng lóa như gương đánh bóng; và thật kỳ lạ là, dẫu tấm gương không phản chiếu bóng dáng tôi, tôi lại nhìn thấy một cái bóng mờ ảo của chính mình trên lớp thép sáng lóa.
“Ôi người yêu dấu của em, chàng đã về, và em thật có phước.”
Những ngón tay mềm mại của nàng nhanh chóng tháo gỡ phần khuy cài cứng ngắc của chiếc mũ giáp; từng chiếc khuy giáp được nàng tháo mở, và nàng oằn mình gánh lấy sức nặng của bộ áo giáp như thể đang mang nó sang một bên. Sau đó, nàng tháo gỡ phần giáp ống chân và cởi quai đôi giày chiến; và một lần nữa nàng nhảy chồm vào vòng tay chàng, áp đầu vào nơi giờ đây có thể cảm nhận nhịp đập của trái tim chàng. Rồi nàng tự gỡ mình ra khỏi cái ôm ấy, lùi lại một hoặc hai bước để ngắm nhìn chàng. Chàng đứng đó, một vóc dáng vạm vỡ, đội vương miện là một cái đầu cao quý, nơi mọi nỗi buồn đã tan biến, hoặc đã hòa tan vào một mục đích cao cả, trang nghiêm. Tuy nhiên, tôi đoán rằng chàng trông đăm chiêu hơn so với những gì nữ phu nhân chờ đợi, bởi nàng không lặp lại những cử chỉ âu yếm, dẫu gương mặt chàng rực rỡ tình yêu và những lời ít ỏi chàng thốt ra mạnh mẽ tựa như những chiến tích vĩ đại; thế nhưng nàng vẫn dìu chàng đến bên lò sưởi, cho chàng ngồi lên chiếc ghế cổ, đặt rượu trước mặt chàng và ngồi xuống dưới chân chàng.
“Ta cảm thấy buồn,” chàng cất lời, “khi nghĩ về chàng trai trẻ mà ta từng gặp hai lần trong những khu rừng ở Xứ Sở Thần Tiên; người mà nàng bảo rằng đã hai lần dùng tiếng hát đánh thức nàng dậy khỏi giấc ngủ chết chóc của một lời nguyền độc ác. Có điều gì đó cao quý ở cậu ta, nhưng đó là sự cao quý trong tư tưởng chứ không phải trong hành động. Cậu ta hoàn toàn có thể diệt vong vì nỗi sợ hãi hèn nhát.”
“Hừm!” nữ phu nhân đáp lại, “chàng đã cứu cậu ta một lần, và vì điều đó em vô cùng biết ơn; bởi lẽ em há chẳng thể nói rằng mình có phần yêu mến cậu ta hay sao? Nhưng hãy kể cho em nghe thế nào, khi chàng vung rìu chiến bổ vào cây tần bì, và cậu ta tìm thấy chàng; bởi chàng đã kể cho em nghe chừng ấy câu chuyện khi đứa trẻ ăn mày đến đón chàng đi.”
“Ngay khi nhìn thấy cậu ta,” vị hiệp sĩ thuật lại, “ta hiểu rằng thứ vũ khí trần thế chẳng thể đánh lại những kẻ như thế; và rằng linh hồn ta phải đối đầu với hắn bằng sức mạnh trần trụi của chính mình. Thế nên ta cởi mũ giáp, ném phịch xuống đất; và tay vẫn nắm chắc chiếc rìu báu, nhìn thẳng vào hắn bằng ánh mắt kiên định. Hắn tiến đến, quả thực là một nỗi kinh hoàng, nhưng ta không hề lùi bước. Sự kiên trì phải chiến thắng, ở những nơi mà sức mạnh chẳng thể chạm tới. Hắn tiến lại gần hơn và gần hơn, cho đến khi gương mặt gớm ghiếc ấy sát kề mặt ta. Một cơn run rẩy tựa cái chết chạy dọc sống lưng ta; nhưng ta nghĩ mình không hề nhúc nhích, bởi hắn có vẻ chùn bước và lùi lại. Ngay khi hắn lùi lại, ta bồi thêm một nhát búa thật mạnh vào thân cây, khiến cả khu rừng vang dội; rồi ta lại nhìn hắn lần nữa. Hắn quằn quại, nhe răng cười nhăn nhở trong cơn thịnh nộ cùng nỗi đau hiện hữu, rồi lại tiến đến gần ta, nhưng rút lui còn nhanh hơn trước. Ta chẳng màng đến hắn nữa, mà dốc toàn lực đốn hạ cái cây, cho đến khi thân cây kêu kẽo kẹt, ngọn cây rạp xuống, và đổ sầm xuống đất. Bấy giờ ta ngước lên khỏi công việc của mình, và kìa! Con yêu ma đã tan biến, và ta không bao giờ nhìn thấy hắn nữa; cũng chẳng mải mai nghe ngóng được gì về hắn trong những chuyến lãng du của mình.”
“Đánh hay lắm! Chống cự giỏi lắm! Hỡi người hùng của em,” nữ phu nhân thốt lên.
“Nhưng,” vị hiệp sĩ nói với vẻ đăm chiêu lo lắng, “nàng còn yêu chàng trai trẻ ấy chứ?”
“Hừm!” nàng đáp, “làm sao em có được điều đó? Cậu ta đã đánh thức em dậy khỏi cõi chết; cậu ta đã yêu em. Em sẽ chẳng bao giờ thuộc về chàng, nếu cậu ta không tìm đến em trước tiên. Nhưng em không yêu cậu ta như cách em yêu chàng. Cậu ta chỉ là vầng trăng trong đêm tối của em; còn chàng là ánh mặt trời của ban ngày đời em, hỡi người yêu dấu.”
“Nàng nói phải,” người đàn ông cao quý đáp lại. “Thật khó khăn biết bao, quả thực vậy, nếu không dành chút tình cảm đáp đền cho món quà mà cậu ta đã trao tặng nàng. Bản thân ta cũng mang ơn cậu ta nhiều hơn những gì lời nói có thể diễn tả.”
Cúi đầu hổ thẹn trước mặt họ, với một trái tim đau nhức và hoang lạnh, tôi vẫn không sao kìm nén được lời thốt ra:
“Vậy thì, xin hãy để tôi tiếp tục làm vầng trăng trong đêm tối của người, hỡi phu nhân! Và khi ban ngày của người bị mây che phủ, như những ngày tươi đẹp nhất vẫn thường thế, xin hãy để dăm khúc ca của tôi an ủi người, như một vật cũ kỹ, héo úa, nửa lãng quên, thuộc về một khoảnh khắc u sầu cổ xưa của sự chào đời chưa trọn vẹn, dẫu nó từng rất đẹp đẽ trong thời của mình.”
Họ ngồi im lặng, và suýt chút nữa tôi đã nghĩ rằng họ đang lắng nghe. Sắc thái đôi mắt của nữ phu nhân ngày càng sâu thẳm; những giọt nước mắt chầm chậm dâng lên, lấp đầy đôi mắt rồi tuôn trào. Họ đứng dậy, sánh bước bên nhau, đi sát qua nơi tôi đứng; và mỗi người đều hướng ánh mắt về phía tôi khi lướt qua. Sau đó, họ biến mất qua một cánh cửa khép lại phía sau; nhưng trước khi nó khép lại, tôi thấy căn phòng mà nó dẫn đến là một gian phòng xa hoa, được treo những tấm thảm lụa lộng lẫy. Tôi đứng chết trân với cả một đại dương tiếng thở dài đông đặc trong lồng ngực. Tôi không thể ở lại thêm nữa. Nàng ở ngay gần tôi, và tôi không thể nhìn thấy nàng; ở ngay trong vòng tay của một người được yêu thương hơn tôi, và tôi sẽ không nhìn thấy nàng, và tôi sẽ không ở bên cạnh nàng. Nhưng làm thế nào để trốn chạy khỏi sự gần gũi của người được yêu thương nhất? Lần này tôi đã không quên dấu hiệu; bởi thực tế là tôi không thể bước vào phạm vi của những sinh thể sống này đã giúp tôi nhận thức được rằng, đối với tôi, tôi đang di chuyển trong một ảo ảnh, trong khi họ đang di chuyển trong cuộc đời thực. Tôi rảo mắt tìm kiếm dấu hiệu khắp nơi, nhưng hoàn toàn chẳng thấy đâu; bởi tôi tránh né việc nhìn đúng vào chỗ nó đang hiện hữu. Ngay tại đó, ký hiệu đỏ mờ ảo đang tỏa sáng trên chính cánh cửa căn phòng bí mật của họ. Bị đả kích bởi nỗi đau đớn tột cùng, tôi đẩy mạnh cánh cửa, ngã gục dưới chân người phụ nữ cổ kính vẫn đang cặm cụi quay tơ, cả đại dương tiếng thở dài tan vỡ tuôn trào ra khỏi lồng ngực tôi trong một cơn bão gồm toàn tiếng nức nở không giọt lệ. Chẳng biết tôi ngất lịm hay chợp mắt; nhưng khi ý thức trở lại, trước khi kịp có sức để nhúc nhích, tôi nghe thấy người phụ nữ đang cất tiếng hát, và có thể phân định rõ những lời ca:
Ôi ánh sáng của những ngày đã chết và đang tàn phai!
Ôi Tình yêu! Trong vinh quang người hãy bước đi,
Giữa màn sương hồng và chốn mê cung ánh trăng rọi,
Vượt qua những đỉnh núi tuyết không lối đi.
Nhưng điều gì sót lại cho tâm hồn xám ngắt, lạnh lùng,
Kẻ đang rên rỉ tựa chú chim bồ câu bị thương tổn?
Chỉ còn một chung rượu trong chiếc bình vỡ nát!
Đó chính là — Yêu, và yêu, và yêu.
Giờ đây tôi đã có thể khóc. Khi thấy tôi khóc, bà cất tiếng hát:
Thà ngồi bên mạch nguồn dòng nước trẻ,
Còn hơn chiếm trọn biển khơi sóng vỗ trùng khơi;
Thà sống trong tình yêu đang tuôn trào mạnh mẽ,
Hơn thứ tình yêu chỉ biết nhận về thôi.
Mong tim con là giếng tình yêu sâu thẳm,
Tuôn trào, tự do và mãi mãi vững bền;
Bởi một chiếc vòi chứa tình yêu dẫu chẳng chút vấy bẩn,
Cũng chẳng thể giữ cho tâm hồn mãi tinh nguyên.
Tôi đứng dậy khỏi mặt đất, yêu thương vị phu nhân áo trắng hơn bất cứ khoảng thời gian nào trước đó.
Rồi tôi bước đến cánh cửa Nỗi Sợ, mở nó ra và bước ra ngoài. Và kìa! Tôi xuất hiện trên một con phố đông đúc, nơi dòng người tấp nập ngược xuôi muôn nẻo. Tôi quá đỗi quen thuộc với nơi này; và quay người sang một bên, tôi buồn bã rảo bước trên vỉa hè. Bột nhiên tôi thấy từ phía trước đang tiến lại gần, cách đó không xa, một bóng hình vô cùng quen thuộc với tôi (quen thuộc! — hỡi ôi, từ này sao quá đỗi yếu ớt!) trong những năm tháng mà tôi tưởng chừng tuổi thơ mình đã ở lại phía sau, và ngay trước thềm bước vào vương quốc Xứ Sở Thần Tiên. Tội lỗi và Nỗi Buồn đã đi cùng nhau, tay trong tay hệt như cách chúng vẫn thường thế.
Gương mặt ấy vẫn vẹn nguyên sự thân thương không đổi dời. Nó nằm trong tim tôi tựa như đứa trẻ nằm trong chiếc giường trắng tinh của chính mình; thế nhưng tôi không tài nào đối mặt với nàng.
“Bất cứ điều gì trừ điều đó ra,” tôi tự nhủ, rồi quay ngoắt đi, lao vút lên những bậc thềm dẫn đến cánh cửa mà tôi ngỡ mình nhìn thấy ký hiệu huyền bí. Tôi bước vào — không phải ngôi nhà kỳ bí ấy, mà là tổ ấm của nàng. Tôi cuồng cuồng lao tới và đứng trước cửa căn phòng của nàng.
“Nàng đi vắng rồi,” tôi tự nhủ, “mình sẽ ngắm lại căn phòng cũ thêm một lần nữa.”
Tôi khẽ khàng mở cửa, và bỗng đứng sững trong một ngôi nhà thờ rộng lớn, trang nghiêm. Một tiếng chuông trầm đục, với những âm thanh rung chuyển, vang dội và bơi lội khắp không gian trống trải của tòa nhà, điểm đúng thời khắc nửa đêm. Ánh trăng rọi qua những khung cửa sổ tầng mái trên cao, và đủ thứ ánh sáng ma quái khuếch tán khắp thánh đường để tôi có thể nhìn thấy, đang lê bước với vẻ uy nghi nhưng có phần lê lết, chập choạng dọc theo lối đi ngang đối diện — bởi tôi đang đứng ở một trong các gian cắt ngang —, một dáng hình khoác tấm áo choàng trắng, chẳng thể biết đó là trang phục cho đêm tối hay cho giấc ngủ dài sâu thẳm hơn nằm sâu hơn cả ban ngày. Có phải nàng không? Và đây có phải là phòng của nàng không? Tôi băng qua nhà thờ và rảo bước bám theo. Dáng hình ấy dừng lại, có vẻ như đang bước lên một chiếc giường cao rồi nằm xuống. Tôi tiến đến nơi tấm thân trắng ngần ấy đang lấp lánh nằm đó. Chiếc giường thực chất là một cỗ quan tài. Ánh sáng quá đỗi ma quái khiến tôi chẳng thể nhìn rõ, nhưng tôi đưa tay chạm lên khuôn mặt, đôi bàn tay và bàn chân, tất cả đều để trần. Chúng lạnh ngắt — chúng là đá cẩm thạch, nhưng tôi nhận ra chúng. Trời dần tối sầm. Tôi quay người để quay lại lối cũ, nhưng chẳng mấy chốc nhận ra mình đã lạc vào một nhà nguyện nhỏ. Tôi dò dẫm xung quanh, tìm kiếm cánh cửa. Mọi thứ tôi chạm vào đều thuộc về cõi chết. Bàn tay tôi chạm phải bức tượng lạnh ngắt của một vị hiệp sĩ đang nằm với đôi chân bắt chéo và thanh kiếm gãy bên cạnh. Chàng nằm đó trong giấc ngủ bình yên cao quý, trong khi tôi vẫn tiếp tục sống trong những cuộc tranh đấu đê hèn. Tôi dò tìm bàn tay trái cùng một ngón tay quen thuộc; tôi tìm thấy chiếc nhẫn mình hằng nhớ trên đó: đó là một trong những tổ tiên của chính tôi. Tôi đang ở trong nhà nguyện nằm phía trên hầm mộ mai táng dòng tộc của mình. Tôi cất tiếng gọi lớn: “Nếu có bất kỳ ai thuộc cõi chết đang di chuyển quanh đây, xin hãy rủ lòng thương xót đến tôi, bởi hỡi ôi, tôi vẫn còn sống; và xin hãy để một người phụ nữ đã khuất an ủi tôi, bởi tôi chỉ là kẻ tha hương chốn lữ hành nơi cõi chết, chẳng thấy chút ánh sáng nào.” Một nụ hôn ấm áp đáp xuống môi tôi xuyên qua màn đêm tối. Và tôi thốt lên: “Người chết hôn khéo thật; tôi sẽ chẳng sợ hãi đâu.” Và một bàn tay lớn vươn ra từ bóng tối, nắm lấy tay tôi trong chốc lát, vô cùng mạnh mẽ và dịu dàng. Tôi tự nhủ: “Tấm màn che chắn ở giữa, dẫu rất tối tăm, nhưng lại vô cùng mỏng manh.”
Dò dẫm bước tiếp, tôi vấp phải khối đá nặng nề che phủ lối vào hầm mộ: và trong lúc vấp ngã, tôi thoáng thấy trên phiến đá dấu hiệu đang tỏa sáng trong ngọn lửa đỏ rực. Tôi tóm lấy chiếc vòng sắt lớn. Dù cố gắng hết sức, tôi cũng không tài nào dịch chuyển được phiến đá khổng lồ ấy; nhưng nó đã mở ra cánh cửa của ngôi nhà nhỏ, và tôi lại lao mình một lần nữa, tái mét và câm lặng, lên chiếc ghế bành bên cạnh người phụ nữ cổ kính. Bà cất tiếng hát một lần nữa:
Ngươi đang mơ: trên một mỏm đá cao,
Nhìn xuống ngọn sóng vỡ tan tành;
Ngươi giật mình rơi xuống đầy nao
Nhưng chẳng rơi vào mồ chôn lạnh;
Bởi bừng tỉnh trong ánh bình minh,
Ngươi mỉm cười nhìn đêm tối biến tan.
Cũng thế, ngươi sẽ chìm xuống âm thầm,
Vào cõi u sầu ngất lịm đi;
Nhưng trước khi những kinh hoàng kéo đến,
Ngươi bừng tỉnh — chốn hầm mộ đâu đi?
Ngươi bừng tỉnh — những người chết mỉm cười trên cao,
Với vòng tay ấp ủ tình yêu thức trắng chẳng ngơi nào.
Bà dừng lại; rồi lại cất tiếng hát:
Ta khóc vì niềm vui, khóc vì nỗi buồn;
Những giọt lệ ấy vốn dĩ đều chung một nguồn;
Ta thở dài vì niềm khát khao và sự giải thoát;
Những tiếng thở dài chỉ có một tên gọi duy nhất phát ra,
Và hòa quyện trong cuộc giao tranh lụi tàn lúc sắp qua,
Là những tiếng rên rỉ chẳng mang sắc buồn đắng ngắt,
Những niềm đau của cõi chết là nhịp đập của sự sống đang tràn,
Những tiếng thở dài của nó đôi khi mang niềm vui ngập tràn.
Gương mặt ấy vô cùng xa lạ và trắng ngần:
Đó là chốn duy nhất của Trái Đất phàm trần
Nơi phản chiếu leo lét ánh sáng yếu ớt
Mà kẻ đang sống chẳng tài nào nhìn thấy được.
Tôi chìm vào giấc ngủ, và trải qua một giấc ngủ không mộng mị trong khoảng thời gian chẳng rõ là bao lâu. Khi thức giấc, tôi nhận ra nữ chủ nhân đã rời khỏi vị trí ngồi trước đó, và giờ đây đang ngồi chắn giữa tôi và cánh cửa thứ tư.
Tôi đoán rằng mục đích của bà là ngăn cản tôi bước vào trong đó. Tôi bật dậy khỏi chiếc ghế bành và lao vụt qua bà về phía cánh cửa. Tôi mở tung nó ngay lập tức và bước ra ngoài. Tất cả những gì tôi nhớ là tiếng kêu cứu thảm thiết từ người phụ nữ: “Đừng đi vào đó, con tôi ơi! Đừng đi vào đó!” Nhưng tôi đã đi mất rồi.
Tôi chẳng còn biết gì hơn nữa; hoặc nếu có, tôi đã quên sạch khi lấy lại ý thức, đang nằm trên sàn nhà của ngôi nhà nhỏ, với phần đầu gối lên đùi người phụ nữ — người đang khóc vì tôi, dùng cả hai tay vuốt ve mái tóc tôi, trò chuyện với tôi hệt như cách một người mẹ có thể nói với đứa con đang ốm đau ngái ngủ, hoặc một đứa con đã qua đời. Ngay khi tôi ngước lên nhìn bà, bà mỉm cười qua dòng nước mắt; nụ cười trên gương mặt héo úa với đôi mắt trẻ trung, cho đến khi dung nhan bà bừng sáng bởi ánh hào quang của nụ cười ấy. Sau đó, bà dùng một thứ chất lỏng lạnh buốt như băng, không màu — thứ thoang thoảng mùi đất ẩm — để rửa đầu, mặt và tay cho tôi. Ngay lập tức tôi có thể ngồi dậy. Bà đứng dậy và đặt thức ăn trước mặt tôi. Khi tôi ăn xong, bà cất lời:
“Hãy lắng nghe ta, con yêu. Con phải rời khỏi đây ngay lập tức!”
“Rời khỏi người!” tôi thốt lên. “Con đang rất hạnh phúc khi ở bên người. Chưa bao giờ trong đời con hạnh phúc đến thế.”
“Nhưng con phải đi,” bà buồn bã đáp lại. “Hãy lắng nghe! Con nghe thấy gì không?”
“Con nghe thấy âm thanh tựa như tiếng dòng nước đang đập mạnh.”
“À! Con nghe thấy nó phải không? Chà, ta buộc phải bước qua cánh cửa đó — cánh cửa của cõi Vĩnh Hằng” (và bà rùng mình khi chỉ tay về phía cánh cửa thứ tư) — “để tìm con; bởi vì nếu ta không đi, con sẽ chẳng bao giờ có thể bước trở lại; và bởi vì ta đã đi, những vùng nước quanh ngôi nhà của ta sẽ dâng lên và dâng lên, tuôn chảy và kéo đến, cho đến khi chúng dựng lên một bầu trời nước vĩ đại bao trùm lấy chốn ở của ta. Nhưng chừng nào ta còn giữ cho ngọn lửa của mình cháy sáng, chúng không thể xâm nhập. Ta có đủ củi cho nhiều năm; và sau một năm, chúng sẽ rút lui trở lại, và y hệt như trước khi con đến. Ta đã không bị chôn vùi suốt một trăm năm nay rồi đấy.” Và bà vừa mỉm cười vừa rơi lệ.
“Hỡi ôi! Hỡi ôi!” tôi kêu lên. “Con đã mang tai họa này đến cho người bạn tốt bụng và tử tế nhất, người đã lấp đầy trái tim con bằng những món quà vĩ đại.”
“Đừng bận tâm về điều đó,” bà đáp lại. “Ta hoàn toàn có thể chịu đựng được. Ta biết rồi sẽ có ngày con quay lại với ta. Nhưng ta cầu xin con, vì ơn nghĩa của ta, hỡi đứa con thân yêu, hãy làm một điều này. Dù con có rơi vào bất kỳ nỗi buồn nào, dẫu nó có vẻ tuyệt vọng và không thể cứu vãn đến đâu đi nữa, hãy tin ta rằng người phụ nữ già trong ngôi nhà nhỏ với đôi mắt trẻ trung” (và bà mỉm cười) “biết một điều gì đó — dẫu bà không phải lúc nào cũng được phép thổ lộ —, thứ hoàn toàn có thể khiến con cảm thấy thỏa mãn về điều đó, ngay cả trong những khoảnh khắc tồi tệ nhất của cơn hoạn nạn. Giờ thì con phải đi.”
“Nhưng làm thế nào con có thể đi, nếu nước ngập khắp nơi, và nếu tất cả các cánh cửa đều dẫn đến những vùng đất khác và những thế giới khác?”
“Đây không phải là một hòn đảo,” bà đáp; “mà được nối liền với đất liền bởi một dải đất hẹp; và về phần cánh cửa, ta sẽ tự tay dẫn con đi qua cánh cửa đúng đắn.”
Bà nắm lấy tay tôi, dẫn tôi qua cánh cửa thứ ba; và lập tức tôi thấy mình đang đứng trên thảm cỏ xanh thẳm — nơi tôi từng bước lên từ chiếc thuyền nhỏ, nhưng nằm ở phía đối diện của ngôi nhà. Bà chỉ cho tôi hướng đi tôi phải tuân theo để tìm thấy dải đất nối và trốn thoát khỏi mực nước đang dâng cao.
Rồi bà vòng tay ôm lấy tôi, siết chặt tôi vào lồng ngực; và khi tôi hôn bà, tôi có cảm giác như mình đang rời xa người mẹ lần đầu tiên, và không sao kìm được những giọt nước mắt nức nở. Cuối cùng, bà nhẹ nhàng đẩy tôi ra, và cùng với câu nói: “Hãy đi đi con trai của ta, và làm một điều gì đó đáng giá,” bà quay lưng bước trở lại, bước vào ngôi nhà nhỏ và khép cánh cửa lại phía sau. Tôi cảm thấy vô cùng cô quạnh khi cất bước ra đi.