Người Thuê Nhà Ở Wildfell Hall

Lượt đọc: 339 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 39

❊ ❊ ❊

Nỗi bất an lớn nhất của tôi trong khoảng thời gian thử thách này chính là con trai tôi, bởi vì bố nó cùng những người bạn của ông rất lấy làm thích thú khi được khuyến khích nó sa ngã vào mọi thói hư tật xấu phôi thai mà một đứa trẻ nhỏ có thể bày tỏ, và dạy dỗ nó đủ mọi thói đời đen tối mà nó có thể nhiễm phải—nói tóm lại, “tôi luyện nó thành một trang nam nhi” là một trong những trò tiêu khiển chính của họ; và tôi chẳng cần phải nói thêm điều gì để giãi bày sự lo lắng của mình đối với nó, hay quyết tâm cứu vớt nó bằng bất cứ giá nào khỏi tay những kẻ giáo dưỡng như thế. Ban đầu, tôi tìm cách giữ nó luôn ở bên cạnh mình, hoặc trong phòng dưỡng nhi, và dặn dò Rachel rất kỹ không bao giờ để nó xuống dự tiệc tráng miệng chừng nào những “quý ông” này còn ở lại; nhưng chẳng ăn thua gì: những mệnh lệnh ấy ngay lập tức bị bố nó thu hồi và phủ quyết; ông ta không đời nào chịu để thằng bé phải héo mòn đến chết giữa một mụ nhũ mẫu già và một mụ vợ ngu ngốc chết tiệt. Thế là cậu nhóc vẫn cứ sà xuống mỗi buổi chiều dẫu cho người mẹ cau có của nó có phản đối đi chăng nữa, rồi học đòi nốc rượu vang như tía, chửi thề như ngài Hattersley, và làm theo ý mình như một gã đàn ông trưởng thành, lại còn dám mắng nhiếc mẹ ra ra điều khi bà ngăn cản nó. Nhìn những hành động ấy được thực hiện với vẻ ngây thơ láu lỉnh của một đứa trẻ xinh xắn, và nghe những lời nói đó phát ra từ cái giọng non nớt bé bỏng, vừa mang lại sự thú vị kỳ lạ cùng niềm vui không thể cưỡng lại đối với họ, thì lại vừa gây cho tôi một nỗi đau đớn và ưu phiền khôn xiết; và khi nó khiến cả bàn tiệc cười vang, nó sẽ ngước nhìn họ với vẻ sung sướng rồi cất cái giọng lanh lảnh hòa vào tràng cười của họ. Nhưng nếu đôi mắt xanh rạng ngời ấy dừng lại ở tôi, ánh sáng trong đó sẽ vụt tắt trong giây lát, và nó sẽ lo lắng hỏi rằng: “Mẹ ơi, sao mẹ không cười? Bắt mẹ cười đi tía—mẹ chẳng bao giờ chịu cười cả.”

Do đó, tôi buộc phải ở lại giữa đám dã thú mang lốt người này, canh chừng cơ hội để dứt con trai mình khỏi tay họ thay vì rời đi ngay sau khi dọn khăn bàn, như lẽ ra tôi vẫn luôn làm trong mọi hoàn cảnh khác. Nó chẳng bao giờ chịu đi, và tôi thường xuyên phải bế thốc nó đi trong sự ép buộc, khiến nó cho rằng tôi thật độc ác và bất công; và đôi khi bố nó lại khăng khăng bắt tôi phải để nó ở lại; thế rồi tôi đành mặc nó ở lại với những người bạn tốt của ông, và lui về một góc để chìm đắm trong sự cay đắng và tuyệt vọng của riêng mình, hay vắt óc tìm kiếm một phương dược cho hiểm họa lớn lao này.

Nhưng ở đây, một lần nữa, tôi phải công bằng với ông Hargrave khi thừa nhận rằng tôi chưa từng thấy ông cười trước những thói hư tật xấu của đứa trẻ, cũng chưa từng nghe ông thốt lên một lời khuyến khích nào đối với những khát vọng vươn tới các tài nghệ nam tính của nó. Nhưng khi có điều gì đó vô cùng kỳ lạ được thốt ra hoặc thực hiện bởi đứa trẻ hư hỏng ấy, đôi lúc tôi nhận thấy một biểu hiện kỳ dị trên nét mặt ông mà tôi không tài nào diễn giải hay định nghĩa nổi: một cái giật nhẹ quanh khóe môi; một tia sáng lóe lên trong mắt, khi ông liếc nhanh về phía đứa trẻ rồi lại nhìn sang tôi; và rồi tôi có cảm giác như thoáng hiện lên một tia mãn nguyện lạnh lùng, sắc bén và âm u trên gương mặt ông trước vẻ giận dữ bất lực cùng niềm đau đớn mà ông biết chắc chắn sẽ nhìn thấy trong mắt tôi. Nhưng có một lần nọ, khi Arthur cư xử tệ hại hơn cả, và ngài Huntingdon cùng các vị khách của ông ta tỏ ra vô cùng khiêu khích, lăng mạ tôi khi hết lời cổ vũ nó, còn tôi thì vô cùng sốT sắng muốn mang nó ra khỏi phòng, và suýt chút nữa đã hạ thấp phẩm giá của mình bằng một cơn giận dữ không thể kìm nén—ông Hargrave đột nhiên đứng bật dậy với vẻ mặt kiên quyết đanh lại, bế xốc đứa trẻ khỏi đùi người cha—nơi nó đang ngồi trong trạng thái nửa say xỉn, nghênh đầu cười cợt tôi và thốt ra những lời nguyền rủa mà nó chẳng hề hiểu nổi ý nghĩa—rồi đưa nó ra ngoài phòng, đặt xuống hành lang, giữ cửa cho tôi, cúi đầu trang nghiêm khi tôi bước ra, và khép cửa lại phía sau tôi. Tôi nghe thấy những lời tranh cãi gay gắt vang lên giữa ông và người chủ nhà vốn đã ngà ngà say trong lúc tôi bước đi, dắt theo đứa con trai đang ngơ ngác và bối rối của mình.

Nhưng tình trạng này không thể cứ tiếp diễn mãi: con trai tôi không thể bị phó mặc cho sự tha hóa này: thà rằng nó sống trong cảnh nghèo hèn và vô danh tiểu tốt cùng một người mẹ bôn ba trốn chạy, còn hơn là sống trong nhung lụa và giàu sang bên một người cha như thế. Những vị khách này có thể sẽ không ở lại với chúng tôi lâu, nhưng họ rồi sẽ quay lại; và chính hắn, kẻ tai hại nhất trong tất cả, kẻ thù tồi tệ nhất của con trai hắn, vẫn sẽ ở lại đây. Tôi có thể chịu đựng điều đó vì chính bản thân mình, nhưng vì con trai tôi, sự việc này không thể nhẫn nhịn thêm được nữa: ý kiến của thiên hạ và tình cảm của họ hàng bạn bè lúc này đều phải gác sang một bên—ít nhất là ở đây—và chẳng thể nào ngăn cản tôi thực hiện bổn phận của mình. Nhưng tôi sẽ tìm đâu ra một chốn dung thân, và làm thế nào để kiếm kế sinh nhai cho cả hai mẹ con đây? Ồ, tôi sẽ đón đứa con quý giá của mình từ lúc rạng đông, bắt xe ngựa đến M——, trốn tới hải cảng ——, vượt Đại Tây Dương, và tìm một tổ ấm yên bình, khiêm nhường ở New England, nơi tôi sẽ tự nuôi sống bản thân và con bằng chính đôi bàn tay lao động của mình. Giá vẽ và bảng màu, những người bạn đồng hành đáng yêu một thời của tôi, giờ đây sẽ là những cộng sự cần mẫn trong lao động. Nhưng liệu tôi có đủ tài nghệ hội họa để kiếm sống nơi xứ người, khi không có lấy một người bạn hay một bức thư giới thiệu nào không? Không; tôi phải đợi thêm một chút nữa; tôi phải lao động cật lực để mài giũa tài năng của mình, và tạo ra một tác phẩm đáng giá làm minh chứng cho năng lực bản thân, một thứ có thể nói lên những điều tốt đẹp về tôi, dù là với tư cách một họa sĩ thực thụ hay một người thầy giáo. Đương nhiên tôi không mong cầu một thành công rực rỡ, nhưng một mức độ an toàn nhất định để tránh khỏi thất bại hoàn toàn là điều tối quan trọng: tôi không thể mang con trai mình đến đó để chịu cảnh chết đói. Và rồi tôi còn cần tiền cho chuyến đi, tiền vé tàu, và một khoản kha khá để lo cho cuộc sống của chúng tôi nơi chốn ẩn dật trong trường hợp ban đầu tôi chưa thể thành công ngay; mà khoản ấy cũng không thể quá ít được: bởi nào ai có thể đoán trước rằng tôi sẽ phải vật lộn bao lâu với sự thờ ơ hay lãnh đạm của người khác, hay với sự thiếu kinh nghiệm cùng bất tài của chính mình trong việc làm vừa lòng họ?

Vậy tôi phải làm gì đây? Đến gặp anh trai và giãi bày hoàn cảnh cùng quyết tâm của mình với anh ấy ư? Không, không: ngay cả khi tôi kể hết mọi nỗi niềm uất ức của mình—điều mà tôi vốn rất ngần ngại làm—chắc chắn anh ấy cũng sẽ không đồng tình với bước đi ấy: nó sẽ chẳng khác nào một hành động điên rồ trong mắt anh ấy, cũng như đối với bác trai, bác gái, hay Milicent. Không; tôi phải kiên nhẫn và tự tích cóp một khoản cho riêng mình. Rachel sẽ là người duy nhất tôi tin tưởng giãi bày—tôi nghĩ mình có thể thuyết phục bà ấy tham gia vào kế hoạch này; và bà ấy sẽ giúp tôi, trước hết là tìm ra một tay buôn tranh ở một thị trấn xa xôi nào đó; rồi thông qua sự giúp đỡ của bà, tôi sẽ bí mật bán đi những bức tranh đang có sẵn vốn phù hợp với mục đích ấy, cùng một số bức khác mà tôi sẽ vẽ sau này. Bên cạnh đó, tôi sẽ tìm cách tẩu tán số trang sức của mình, không phải đồ gia bảo, mà là vài món ít ỏi tôi mang theo từ nhà mẹ đẻ, và những món mà bác tôi đã tặng trong ngày cưới. Vài tháng lao động vất vả cực nhọc là cái giá hoàn toàn xứng đáng để tôi đánh đổi cho một mục tiêu như thế; và trong thời gian đó, con trai tôi chắc cũng chẳng thể bị tổn hại thêm bao nhiêu so với hiện trạng của nó.

Sau khi đã định đoạt dứt khoát, tôi lập tức bắt tay vào thực hiện, Nếu không nhờ có một sự việc xảy ra củng cố thêm quyết định ấy—một quyết định mà tôi vẫn đang kiên trì theo đuổi, vẫn cho rằng mình đã đúng khi vạch ra, và sẽ càng đúng hơn khi thực hiện—thì có lẽ sau đó tôi đã chùng lòng xuống, hoặc cứ mãi đắn đo cân nhắc thiệt hơn trong đầu cho đến khi những lo toan lấn át cả dự định, để rồi bị cuốn vào việc từ bỏ hoàn toàn kế hoạch hoặc trì hoãn việc thi hành nó đến một thời điểm vô định nào đó.

Kể từ khi Lord Lowborough rời đi, tôi đã xem căn phòng sách hoàn toàn là của riêng mình, một chốn ẩn náu an toàn suốt mọi thời điểm trong ngày. Chẳng có vị quý ông nào trong số chúng tôi có lấy một chút xíu khiếu thẩm mỹ văn chương nào, ngoại trừ ngài Hargrave; và hiện tại, ông ta hoàn toàn thỏa mãn với những tờ báo cùng các ấn phẩm định kỳ trong ngày. Và nếu như, bằng một sự tình cờ nào đó, ông ta ghé qua đây, tôi tin chắc rằng ông sẽ rời đi ngay khi nhìn thấy tôi, bởi vì thay vì trở nên điềm tĩnh và bớt xa cách hơn với tôi, ông lại tỏ ra dứt khoát xa cách hơn hẳn kể từ khi mẹ và các em gái ông rời đi, đúng như những gì tôi hằng mong muốn. Thế là, tôi dựng giá vẽ của mình ở đây, và cặm cụi làm việc bên tấm vải canvas từ rạng sáng cho đến lúc chạng vạng, gần như không có khoảng nghỉ nào đáng kể, ngoại trừ khi nhu cầu thiết yếu, hay bổn phận làm mẹ đối với bé Arthur gọi tôi đi: vì tôi vẫn cho rằng mình cần phải dành ra một khoảng thời gian nhất định mỗi ngày chỉ để dạy dỗ và chơi đùa cùng nó. Nhưng trái với dự đoán của tôi, vào buổi sáng thứ ba, trong lúc tôi đang mải miết làm việc, ngài Hargrave thực sự đã ghé vào, và không lập tức quay bước khi trông thấy tôi. Ông cất lời xin lỗi vì sự đường đột của mình, và nói rằng ông chỉ đến để tìm một cuốn sách; nhưng khi đã cầm được nó trên tay, ông lại rủ lòng thương liếc nhìn bức tranh của tôi. Vốn là một người có gout thẩm mỹ, ông cũng có vài lời để bàn về chủ đề này giống như bất kỳ đề tài nào khác, và sau khi đưa ra những lời bình phẩm khiêm nhường dẫu chẳng nhận được mấy sự khích lệ từ tôi, ông tiếp tục lan man sang nghệ thuật nói chung. Nhận thấy phía tôi vẫn chẳng mảy may hưởng ứng, ông đành ngậm tăm, nhưng vẫn không chịu rời đi.

“Cô chẳng mấy khi dành thời gian cho chúng tôi nhỉ, thưa phu nhân Huntingdon,” ông nhận xét sau một khoảng lặng ngắn, trong lúc tôi vẫn điềm tĩnh pha và tán màu vẽ; “và tôi cũng chẳng lấy làm lạ, bởi chắc hẳn cô đã phát ngấy tất cả chúng tôi đến tận cổ rồi. Bản thân tôi cũng cảm thấy vô cùng hổ thẹn với những kẻ đồng hành của mình, và đã quá mỏi mệt với những cuộc trò chuyện cùng sở thích vô luân của họ—giờ đây khi chẳng còn ai để thuần hóa và kìm kẹp họ nữa, kể từ lúc cô chính thức buông xuôi mặc kệ chúng tôi tự sinh tự diệt—đến mức tôi nghĩ mình sẽ sớm rút lui khỏi đám đông ấy, có lẽ là ngay trong tuần này thôi; và tôi dám chắc cô sẽ chẳng mảy may tiếc nuối gì sự ra đi của tôi đâu.”

Ông ngưng lời. Tôi không đáp.

“Có lẽ,” ông nói tiếp với một nụ cười, “sự tiếc nuối duy nhất của cô về chuyện này chính là việc tôi không mang theo tất cả những gã bạn đồng hành của mình rời đi cùng. Đôi lúc tôi tự huyễn hoặc rằng dẫu sống giữa họ nhưng tôi không cùng một giuộc với họ; nhưng việc cô cảm thấy mừng rỡ khi tống khứ được tôi là điều hiển nhiên. Tôi có thể lấy làm tiếc vì điều đó, nhưng không thể trách cô được.”

“Tôi sẽ không vui mừng trước sự ra đi của anh, bởi vì anh biết cách cư xử như một quý ông,” tôi đáp, nghĩ rằng mình cũng nên có chút phép lịch sự để ghi nhận thái độ đúng mực của ông ta; “nhưng tôi phải thú nhận rằng tôi sẽ rất hoan hỉ khi được nói lời vĩnh biệt với những kẻ còn lại, dẫu cho điều đó có vẻ bất lịch sự đi chăng nữa.”

“Chẳng ai có thể trách cô vì một lời tuyên bố như thế,” ông đáp lại với vẻ nghiêm túc: “tôi đoán rằng ngay cả bản thân những gã quý ông kia cũng vậy. Tôi sẽ kể cho cô nghe chuyện này,” ông tiếp tục, như thể bị thúc giục bởi một quyết định bất thình lình, “về những gì đã diễn ra đêm qua trong phòng ăn, sau khi cô rời đi: có lẽ cô sẽ chẳng bận tâm đâu, vì cô vốn rất triết lý về một số vấn đề nhất định,” ông nói thêm với một nụ cười nhếch mép nhẹ. “Họ đang bàn tán về Lord Lowborough và người vợ khả ái của ngài ấy—nguyên nhân dẫn đến sự ra đi đột ngột của ả ta không phải là bí mật gì đối với bọn họ; và bản chất của ả ta đã quá rõ mười mươi với tất cả bọn họ, đến nỗi dẫu có là họ hàng gần gũi đi nữa, tôi cũng chẳng tài nào bào chữa nổi. Chết tiệt thật!” lẩm bẩm ngoặc đơn, “nếu tôi không trả món nợ này cho ra ngô ra khoai! Đã định huỷ hoại danh tiếng gia tộc rồi, sao gã khốn ấy còn phải bô bô cái miệng ra khoe khoang với mọi tên hạ tiện bần cùng trong đám giao du của hắn cơ chứ? Tôi xin lỗi cô nhé, phu nhân Huntingdon. Chà, họ đang bàn về những chuyện đó, và có kẻ đã nhận xét rằng, vì ả ta đã ly thân với chồng, nên ngã ta có thể gặp lại ả bất cứ lúc nào hắn muốn.”

“‘Cảm ơn nhé,’ hắn đáp: ‘tôi đã quá ngấy ả ta đến tận cổ rồi; tôi chẳng thèm nhọc công đi tìm ả đâu, trừ khi ả tự lết xác đến gặp tôi.’”

“‘Thế anh định làm gì tiếp theo, hỡi Huntingdon, khi tụi này đi rồi?’ Ralph Hattersley lên tiếng. ‘Anh có định quay đầu là bờ, từ bỏ những thói hư tật xấu để trở thành một người chồng tốt, một người cha gương mẫu hay ho gì đó không; giống như tôi này, khi tôi đã tống khứ được anh và lũ quỷ sứ ham vui mà anh gọi là bạn bè kia? Tôi nghĩ đã đến lúc rồi đấy; mà vợ anh thì tốt gấp năm chục lần so với cái loại anh, chắc anh thừa biết—’”

“Và hắn còn nói thêm vài lời tán dương cô, mà tôi chắc cô sẽ chẳng mưa ơn gì nếu nghe tôi nhắc lại, cũng như chẳng biết ơn gì gã đã thốt ra nó; hắn oang oang bố thí những lời ấy một cách thiếu tinh tế và không màng hoàn cảnh, giữa một đám đông mà việc cất lên tên cô thôi cũng đã là một sự báng bổ: bản thân hắn thì hoàn toàn mù tịt không tài nào hiểu hay trân trọng nổi những phẩm chất cao quý thực sự của cô. Trong khi đó, Huntingdon vẫn điềm nhiên ngồi nhấm nháp ly rượu—hoặc mỉm cười nhìn vào đáy ly mà chẳng hề ngắt lời hay đáp trả, cho đến khi Hattersley gào lên,—‘Anh có nghe tôi nói gì không hả, đồ ngốc?’”

“‘Có, nói tiếp đi,’ hắn đáp.”

“‘Thôi, tôi nói xong rồi,’ kẻ kia đáp lại: ‘tôi chỉ muốn biết anh có định nghe theo lời khuyên của tôi không thôi.’”

“‘Lời khuyên nào?’”

“‘Làm lại cuộc đời đi, đồ khốn nạn hai mang,’ Ralph quát lên, ‘rồi xin lỗi vợ anh, và ngoan ngoãn làm một đứa trẻ ngoan từ nay về sau.’”

“‘Vợ tôi ư? Vợ nào cơ chứ? Tôi làm gì có vợ,’ Huntingdon đáp, ngây thơ ngẩng lên từ ly rượu của mình, ‘hoặc nếu tôi có đi, thì này các ngài: tôi quý trọng mụ ta đến mức bất cứ ai trong các ngài để mắt tới mụ, cứ việc dẫn mụ đi và tôi xin hoan hỉ chúc mừng! Cứ tự nhiên đi, thề có chúa, tôi còn ban ơn phước cho các người nữa là khác!’”

“Tôi—ờm—có kẻ hỏi xem hắn có thực sự nói thật không; thế là hắn liền thề độc rằng hắn hoàn toàn nghiêm túc, không sai đi đâu được. Cô nghĩ sao về chuyện đó, thưa phu nhân Huntingdon?” ngài Hargrave hỏi sau một thoáng chốc ngập ngừng, trong lúc tôi cảm nhận rõ ánh mắt sắc bén của ông đang dò xét nửa khuôn mặt đang quay đi của mình.

“Tôi xin đáp rằng,” tôi điềm tĩnh nói, “những gì hắn xem nhẹ như lông hồng ấy sẽ chẳng còn nằm trong tay hắn lâu đâu.”

“Ý cô không phải là cô sẽ đau đớn đến vỡ tim mà chết vì hành vi ghê tởm của một tên khốn nạn đồi bại nhường ấy chứ!”

“Hoàn toàn không: trái tim tôi đã chai sạn đủ đường để mà có thể dễ dàng tan vỡ, và tôi có ý định sống cho ra sống chừng nào còn có thể.”

“Vậy cô sẽ rời bỏ hắn chứ?”

“Đúng vậy.”

“Khi nào: và bằng cách nào?” ông ta dồn dập hỏi.

“Khi tôi đã sẵn sàng, và bằng cách nào mà tôi có thể thực hiện nó một cách hiệu quả nhất.”

“Nhưng còn đứa con của cô thì sao?”

“Con tôi sẽ đi cùng tôi.”

“Hắn sẽ không đời nào cho phép đâu.”

“Tôi sẽ chẳng thèm xin phép hắn.”

“Ái chà, vậy ra đây là một cuộc trốn chạy trong bí mật! nhưng cùng với ai cơ chứ, thưa phu nhân Huntingdon?”

“Cùng với con trai tôi: và có thể là cả vú nuôi của nó nữa.”

“Một mình—và không có ai bảo vệ! Nhưng cô có thể đi đâu? cô sẽ làm gì? Hắn sẽ truy lùng và lôi cô trở về đấy.”

“Tôi đã vạch ra kế hoạch vô cùng kín kẽ để tránh điều đó. Chỉ cần tôi rời khỏi Grassdale trót lọt, tôi sẽ tự coi như mình đã an toàn.”

Ngài Hargrave tiến lên một bước về phía tôi, nhìn thẳng vào mặt tôi, và hít một hơi thật sâu để chuẩn bị cất lời; nhưng cái nhìn ấy, sắc mặt đỏ bừng ấy, tia sáng lóe lên bất chợt trong đôi mắt ấy đã khiến máu trong người tôi dâng trào sự phẫn nộ: tôi đột ngột quay đi, vớ lấy cây cọ vẽ, và bắt đầu phất mạnh tay trên tấm canvas với một năng lượng có phần hơi quá đà đối với sự nguyên vẹn của bức tranh.

“Phu nhân Huntingdon,” ông ta nói với vẻ trang nghiêm đầy cay đắng, “cô thật tàn nhẫn—tàn nhẫn với tôi—và tàn nhẫn với chính mình.”

“Ngài Hargrave, hãy nhớ lại lời hứa của anh đi.”

“Tôi buộc phải nói: trái tim tôi sẽ nổ tung mất nếu cứ giữ im lặng! Tôi đã nhẫn nhịn đủ lâu rồi, và cô phải lắng nghe tôi!” ông ta lớn tiếng kêu lên, táo tợn chắn ngang đường lui của tôi về phía cửa. “Cô bảo rằng cô chẳng còn chút ràng buộc nghĩa vụ nào với người chồng của mình; hắn ta thì công khai tuyên bố chán ngấy cô và thản nhiên bán rẻ cô cho bất cứ kẻ nào muốn rước đi; cô sắp sửa rời bỏ hắn; sẽ chẳng có lấy một ai tin rằng cô bỏ đi một mình cả; cả thế giới sẽ đồn đại rằng, ‘Cuối cùng thì ả ta cũng đã bỏ hắn, và có gì mà phải ngạc nhiên chứ? Chẳng mấy ai trách ả, và lại càng ít người thương hại hắn; nhưng ai mới là kẻ đồng hành trong cuộc trốn chạy ấy?’ Bằng cách đó, cô sẽ chẳng được ghi nhận chút đức hạnh nào (nếu cô còn gọi nó là thế); ngay cả những người bạn thân thiết nhất của cô cũng sẽ chẳng đời nào tin; bởi vì nó quá ư hoang đường, và chỉ có những ai đang phải gặm nhấm những nỗi thống khổ tột cùng từ hệ lụy của nó mới thấu hiểu rằng đó là sự thật phũ phàng. Nhưng một mình cô thì làm được gì giữa thế gian lạnh lẽo, gai góc này? Một người phụ nữ trẻ tuổi thiếu kinh nghiệm, được nuông chiều trong nhung lụa, và hoàn toàn—”

“Nói tóm lại, anh muốn khuyên tôi hãy ở lại nơi này chứ gì,” tôi ngắt lời. “Được rồi, để tôi suy nghĩ thêm đã.”

“Bằng mọi giá, hãy rời bỏ hắn!” ông ta khẩn khoản nài nỉ; “nhưng KHÔNG ĐƯỢC đi một mình! Helen! Hãy để tôi bảo vệ em!”

“Không đời nào! Chừng nào trời đất còn ban cho tôi sự minh mẫn,” tôi đáp lại, giật mạnh bàn tay mà hắn cả gan túm lấy và siết chặt giữa hai bàn tay hắn. Nhưng lúc này hắn đã lao vào cuộc chơi rồi; hắn đã phá vỡ hoàn toàn bức tường phòng thủ: hắn đã bị kích động đến cực độ, và quyết tâm đánh cược tất cả để giành chiến thắng.

“Em không thể từ chối tôi!” ông ta thốt lên đầy thiết tha; và vồ lấy cả hai tay tôi, siết chặt lấy chúng, rồi quỵ xuống một gối, ngước đôi mắt nhìn lên mặt tôi với vẻ nửa van nài nửa bề trên. “Em chẳng còn lý do gì nữa cả; em đang chống lại cả định mệnh của đất trời. Thượng đế đã định đoạt tôi sẽ là chốn nương thân và người bảo vệ của em—tôi cảm nhận rõ điều đó, tôi biết chắc chắn nó như thể có một tiếng vọng từ thiên đường vang lên rằng, ‘Hai người sẽ quyện làm một thịt’—vậy mà em lại hắt hủi tôi ra xa—”

“Thả tôi ra, ngài Hargrave!” tôi lạnh lùng nói. Nhưng hắn chỉ càng siết chặt tay hơn.

“Thả tôi ra!” tôi lặp lại, toàn thân run lẩy bẩy vì giận dữ.

Gương mặt hắn gần như đối diện với cửa sổ khi hắn quỳ gối. Thoáng giật mình, tôi thấy hắn liếc mắt về phía khung kính; và rồi một tia sáng đắc thắng đầy hiểm độc bừng lên trên nét mặt hắn. Nhìn qua vai, tôi thấy một bóng đen vừa khuất dạng sau góc tường.

“Đó là Grimsby,” hắn từ tốn nói. “Hắn sẽ tường thuật lại những gì vừa thấy cho Huntingdon và cả bọn, kèm theo những thêu dệt theo ý hắn muốn. Hắn chẳng có chút thiện cảm nào với cô cả, thưa phu nhân Huntingdon—chẳng mảy hoài niệm gì với phái nữ, chẳng tin vào đức hạnh, cũng chẳng ca tụng vẻ đẹp của nó. Hắn sẽ bóp méo câu chuyện này theo cách khiến chẳng ai còn chút nghi ngờ nào về phẩm giá của cô trong tâm trí những kẻ nghe được. Tiếng tăm trong sạch của cô đã tiêu đời; và chẳng có lời nào do tôi hay cô thốt lên có thể cứu vãn lại được nữa. Nhưng hãy trao cho tôi quyền được bảo vệ cô, và hãy chỉ ra tên khốn nào dám cả gan lăng mạ em!”

“Chưa từng có ai dám lăng mạ tôi tồi tệ như anh lúc này đâu!” tôi thốt lên, cuối cùng cũng rút được tay về và lùi lại tránh xa hắn.

“Tôi không lăng mạ em,” hắn kêu lên: “tôi sùng bái em. Em là thiên thần, là nữ thần của tôi! Tôi đặt mọi năng lực của mình dưới chân em, và em phải và sẽ phải chấp nhận chúng!” hắn thốt lên, vùng đứng dậy đầy bốc đồng. “Tôi sẽ là người xoa dịu và bảo vệ em! Và nếu lương tâm em có cắn rứt vì điều đó, cứ nói rằng tôi đã ép buộc em, và em không thể làm gì khác ngoài việc đầu hàng!”

Tôi chưa từng thấy một người đàn ông nào bị kích động đến mức đáng sợ như vậy. Hắn lao thẳng về phía tôi. Tôi vớ lấy con dao phết màu và chĩa thẳng vào hắn. Hành động này khiến hắn khựng lại: hắn đứng sững nhìn tôi đầy kinh ngạc; tôi dám cá lúc bấy giờ trông tôi cũng dữ tợn và kiên quyết chẳng kém gì hắn. Tôi bước về phía chiếc chuông gọi và đặt tay lên sợi dây. Động thái này càng khiến hắn thuần tính hơn nữa. Với một cái vua tay nửa ra lệnh nửa nhún nhường, hắn tìm cách ngăn tôi kéo chuông.

“Tránh xa ra!” tôi nói; hắn lùi lại một bước. “Và lắng nghe tôi đây. Tôi không ưa anh,” tôi tiếp tục, cố gắng nói rõ ràng và dứt khoát nhất có thể để lời nói mang trọng lượng lớn hơn; “và giả sử tôi có ly hôn với chồng tôi, hay nếu hắn có chết đi chăng nữa, tôi cũng đời nào thèm lấy anh. Thế nhé! Hy vọng anh đã được thỏa mãn.”

Khuôn mặt hắn tái đi vì giận dữ.

“Tôi thỏa mãn rồi,” hắn đáp lại với một điểm nhấn đầy cay đắng, “rằng cô chính là người đàn bà nhẫn tâm, vô tình và vô ơn nhất mà tôi từng thấy trong đời!”

“Vô ơn ư, thưa ngài?”

“Vô ơn.”

“Không, ngài Hargrave, tôi không vô ơn. Đối với mọi điều tốt đẹp mà anh từng dành cho tôi, hay từng có ý định làm, tôi xin chân thành cảm ơn anh: còn đối với mọi điều tồi tệ mà anh đã gây ra cho tôi, cùng tất cả những gì anh định làm, tôi cầu xin Chúa hãy tha thứ cho anh, và ban cho anh một tâm hồn hướng thiện hơn.”

Đúng lúc đó, cánh cửa bật mở, và hai tay ngài Huntingdon cùng Hattersley xuất hiện ở ngưỡng cửa. Kẻ sau vẫn đứng ở hành lang, bận rộn với cây thông nòng và khẩu súng; kẻ trước bước vào, đứng quay lưng về phía lò sưởi, đưa mắt quan sát ngài Hargrave và tôi—đặc biệt là người trước—với một nụ cười ẩn chứa ý đồ không thể chịu nổi, đi kèm với vẻ mặt trơ trẽn và ánh mắt láo liên đầy hiểm độc.

“Sao nào, thưa ngài?” Hargrave cất tiếng hỏi, với phong thái của một kẻ đã sẵn sàng ở thế phòng thủ.

“Sao nào,” chủ nhà đáp lại.

“Bọn tôi muốn biết liệu anh có rảnh để đi săn gà lôi cùng bọn tôi không, Walter,” Hattersley xen vào từ bên ngoài. “Nào! Sẽ chẳng có thứ gì bị bắn ngoài mấy con thỏ rừng đâu; tôi xin lấy danh dự đảm bảo đấy.”

Walter không đáp, mà bước ra cửa sổ để lấy lại tinh thần. Arthur phát ra một tiếng huýt sáo nhỏ và dõi theo anh ta bằng ánh mắt. Một thoáng đỏ bừng vì giận hờn xuất hiện trên gò má Hargrave; nhưng chỉ một giây sau, anh ta điềm tĩnh quay người lại, thản nhiên nói:

“Tôi đến đây để chào tạm biệt phu nhân Huntingdon, và thông báo rằng tôi phải đi vào ngày mai.”

“Hừm! Quyết định nhanh gọn thật đấy. Tôi có thể hỏi điều gì lôi cổ anh đi gấp gáp thế không?”

“Việc riêng,” anh ta đáp, đánh bật cái nhếch mép hoài nghi của kẻ kia bằng một cái liếc nhìn khinh bỉ đầy thách thức.

“Rất tốt,” câu trả lời vang lên; và Hargrave bỏ đi. Ngay lúc đó, ngài Huntingdon, túm vạt áo khoác dưới cánh tay, tựa lưng vào bệ lò sưởi, quay sang tôi, và với một giọng nói trầm thấp, gần như chỉ vừa đủ thoát ra qua hơi thở, tuôn ra một tràng những lời lăng mạ bỉ ổi và thô tục nhất mà trí tưởng tượng có thể nhào nặn hay ngôn từ có thể thốt ra. Tôi không hề có ý định ngắt lời hắn; nhưng ngọn lửa phẫn nộ trong lòng tôi bùng cháy, và khi hắn vừa dứt lời, tôi đáp ngay: “Nếu những lời buộc tội của anh là sự thật, thưa ngài Huntingdon, sao anh dám trách cứ tôi?”

“Trúng phóc rồi, thưa chúa tôi!” Hattersley hét lên, dựng khẩu súng vào tường; và bước chân vào phòng, hắn tóm lấy cánh tay của người bạn quý hóa của mình, cố gắng kéo đi. “Nào, anh bạn,” hắn lẩm bẩm; “dù đúng hay sai, anh chẳng có quyền gì để trách cô ấy cả, anh thừa biết đấy, và cũng chẳng có quyền trách cả gã kia nữa; sau tất cả những gì anh đã nói tối hôm qua. Thế nên đi thôi.”

Có điều gì đó hàm ý đằng sau câu nói ấy khiến tôi không tài nào chịu nổi.

“Anh dám nghi ngờ tôi sao, ngài Hattersley?” tôi lên tiếng, gần như mất kiểm soát vì cơn thịnh nộ.

“Thôi nào, thôi nào, tôi chẳng nghi ngờ ai cả. Mọi chuyện ổn cả mà, ổn cả thôi. Cho nên đi đi, Huntingdon, đồ khốn kiếp.”

“Ả ta có dám chối đâu!” kẻ vừa được gọi tên gào lên, nhe răng cười trong sự pha trộn giữa cơn thịnh nộ và nỗi đắc thắng. “Ả ta có chết cũng chẳng dám chối đâu!” và lẩm bẩm thêm vài câu chửi rủa, hắn bước ra hành lang, vớ lấy chiếc mũ và khẩu sوني trên bàn.

“Tôi khinh bỉ việc phải thanh minh với các người!” tôi nói. “Còn anh,” tôi quay sang Hattersley, “nếu anh cả gan ôm bất kỳ hoài nghi nào về vấn đề này, hãy đi mà hỏi ngài Hargrave.”

Nghe vậy, họ đồng loạt phá lên cười lớn một cách thô tục khiến toàn thân tôi tê dại đến từng đầu ngón tay.

“Anh ta đâu rồi? Tôi sẽ tự đi mà hỏi!” tôi nói, bước thẳng về phía họ.

Kìm nén tràng cười vừa bùng phát, Hattersley chỉ tay về phía cửa ngoài. Cánh cửa đang khép hờ. Người em rể của hắn đang đứng ở hiên trước.

“Ngài Hargrave, phiền anh bước vào đây một lát được không?” tôi gọi.

Anh ta quay lại nhìn tôi với vẻ ngạc nhiên trầm ngâm.

“Làm ơn bước vào đây!” tôi lặp lại, với một thái độ kiên quyết đến mức anh ta không thể, hoặc không muốn kháng cự lại uy lực ấy. Có chút miễn cưỡng, anh ta bước lên các bậc thềm và tiến vào hành lang một hai bước.

“Và hãy nói cho những quý ông này biết,” tôi tiếp tục—“những gã đàn ông này, rằng tôi có dung túng hay không trước những lời gạ gẫm của anh.”

“Tôi không hiểu cô đang nói gì, phu nhân Huntingdon.”

“Anh hiểu rất rõ đấy, thưa anh; và tôi lấy danh dự của một quý ông ở anh ra để yêu cầu (nếu anh còn chút danh dự nào), hãy trả lời cho thật thành thật. Rằng tôi có đồng ý hay không?”

“Không,” anh ta lẩm bẩm, quay mặt đi.

“Nói lớn lên chứ, anh bạn; họ có nghe thấy gì đâu. Tôi có chấp thuận thỉnh cầu của anh không?”

“Cô không hề.”

“Không, tôi xin thề là ả không hề,” Hattersley nói, “nếu không thì mặt hắn đã chẳng đen như đít nồi thế kia.”

“Tôi sẵn sàng trao cho anh sự thỏa mãn của một quý ông đấy, Huntingdon,” ngài Hargrave điềm tĩnh lên tiếng hướng về phía chủ nhà, nhưng trên môi vẫn ngự trị một nụ cười nhếch mép cay đắng.

“Biến đi cho khuất mắt!” kẻ kia đáp lại, giật đầu đầy thiếu kiên nhẫn. Hargrave quay gót với vẻ khinh miệt lạnh lùng, và nói,—“Anh biết tìm tôi ở đâu rồi đấy, nếu có nhã ý muốn cử người tới.”

Những lời lẩm bẩm chửi thề là tất cả những gì đáp lại lời nhắn nhủ ấy.

“Thế đấy, Huntingdon, anh thấy chưa!” Hattersley nói. “Rành rành ra đấy còn gì.”

“Tôi chẳng quan tâm hắn thấy gì,” tôi nói, “hay hắn tưởng tượng ra sao; nhưng anh, ngài Hattersley, khi nghe thấy tên tuổi tôi bị bôi nhọ và vu khống, anh có đứng ra bảo vệ nó không?”

“Tôi sẽ bảo vệ.”

Tôi lập tức quay lưng bước đi và khóa kín cửa phòng sách lại. Chuyện gì đã xui khiến tôi đưa ra một yêu cầu kỳ quặc như thế với một gã đàn ông như vậy, tôi chịu không tài nào nhớ nổi; nhưng kẻ sắp chết đuối thì vớ lấy cọng rơm: họ đã đẩy tôi đến đường cùng bằng chính những trò bỉ ổi của họ; tôi chẳng còn giữ được tỉnh táo để biết mình đang thốt ra những gì nữa. Chẳng còn ai khác có thể bảo vệ danh dự của tôi khỏi bị vấy bẩn và thêu dệt giữa cái ổ của những gã bạn rượu này, và qua họ, có lẽ lan ra cả thế giới; và bên cạnh người chồng đốn mạt đã bỏ rơi tôi, tên Grimsby hiểm độc, đê tiện, cùng gã Hargrave bội bạc giả dối, thì tên vũ phu thô lỗ cục cằn này, dẫu có thô bỉ đến đâu chăng nữa, vẫn lấp lánh như một con đom đóm trong đêm tối giữa bầy sâu bọ mà thôi.

Đó quả là một cảnh tượng kinh hoàng làm sao! Liệu tôi có bao giờ tưởng tượng nổi có ngày mình lại phải nhẫn nhục chịu đựng những lời lăng mạ nhục mạ ngay dưới mái nhà của chính mình—phải nghe những điều tồi tệ ấy được thốt lên ngay trước mặt; không, thậm chí là thốt vào mặt tôi và về tôi; và lại bởi những kẻ vẫn tự vỗ ngực xưng tên là quý ông? Và liệu tôi có thể hình dung được rằng mình lại có thể kiềm chế điềm tĩnh đến thế, đồng thời phản đòn những lời lăng mạ của họ một cách kiên quyết và táo bạo đến vậy không? Sự chai sạn tâm can như thế chỉ có thể được dạy dỗ bởi chính những trải nghiệm phũ phàng và nỗi tuyệt vọng cùng cực mà thôi.

Những dòng suy nghĩ ấy cứ đuổi theo nhau trong tâm trí tôi, khi tôi bước đi tới bước đi lui trong căn phòng, và khao khát—ôi, tôi khao khát biết bao—được ôm lấy đứa con thơ rồi rời khỏi nơi này ngay tức khắc, không chậm trễ lấy dù chỉ một giờ đồng hồ! Nhưng điều đó là bất khả thi; trước mắt tôi vẫn còn ngổn ngang công việc: một công việc nặng nhọc, và bắt buộc phải hoàn thành.

“Vậy thì hãy làm cho xong đi,” tôi tự nhủ, “và đừng lãng phí dù chỉ một giây phút cho những nỗi buồn phiền vô ích hay sự bực dọc vô nghĩa chống lại số phận cùng những kẻ đang chi phối nó.”

Và nén lại sự xúc động bằng một nỗ lực mãnh liệt, tôi lập tức quay trở lại với công việc dở dang, và cặm cụi làm việc suốt cả ngày dài.

Ngài Hargrave thực sự đã lên đường vào ngày hôm sau; và từ đó đến nay tôi chưa từng gặp lại anh ta. Những kẻ còn lại tiếp tục ở lại thêm hai hoặc ba tuần nữa; nhưng tôi giữ khoảng cách với họ nhiều nhất có thể, và vẫn kiên trì với công việc của mình, duy trì nó với ngọn lửa nhiệt huyết gần như chẳng hề thuyên giảm cho đến tận ngày hôm nay. Tôi sớm thông báo cho Rachel biết về kế hoạch của mình, giãi bày mọi động cơ cùng dự định của bản thân với bà, và thật ngạc nhiên là tôi chẳng gặp mấy khó khăn khi thuyết phục bà ủng hộ tầm nhìn của mình. Bà là một người phụ nữ điềm đạm, cẩn trọng, nhưng bà căm ghét người chủ nhà bao nhiêu, lại yêu thương bà chủ cùng đứa bé thủơ bế bồng bấy nhiêu, thế nên sau vài tiếng thở dài, một vài lời phản đối yếu ớt, cùng vô số giọt nước mắt tiếc thương cho cảnh ngộ khốn cùng mà tôi phải gánh chịu, bà đã vỗ tay tán thành quyết định của tôi và đồng ý giúp đỡ tôi bằng tất cả sức lực: với đúng một điều kiện duy nhất: rằng bà được phép cùng chia sẻ chuyến lưu vong này với tôi; nếu không, bà hoàn toàn kiên quyết không nhượng bộ, bởi bà cho rằng việc mẹ con tôi đơn độc ra đi là một hành động điên rồ hoàn toàn. Với sự hào phóng đầy cảm động, bà khiêm nhường ngỏ ý muốn hỗ trợ tôi bằng khoản tiền tiết kiệm ít ỏi của mình, hy vọng tôi sẽ “thứ lỗi cho sự mạn phép này, nhưng thực lòng, nếu tôi làm ơn chấp nhận nó như một khoản vay, bà sẽ vô cùng hạnh phúc.” Đương nhiên là tôi không thể nào đồng ý với chuyện đó; nhưng giờ đây, tạ ơn Chúa, tôi đã tự tích cóp được một khoản nho nhỏ cho riêng mình và mọi sự chuẩn bị đã tiến triển đến mức tôi đang mong chờ một ngày giải thoát cận kề. Chỉ cần sự khắc nghiệt bão bùng của mùa đông này dịu bớt đi một chút, rồi vào một buổi sáng nào đó, ngài Huntingdon sẽ bước xuống một chiếc bàn ăn cô độc, có lẽ sẽ gào thét khắp căn nhà để tìm kiếm người vợ cùng đứa con trai vô hình của mình, trong khi họ đã đi được chừng năm mươi dặm trên con đường hướng về thế giới phương Tây, hoặc có khi còn xa hơn thế nữa: bởi vì chúng tôi sẽ rời khỏi hắn từ nhiều tiếng đồng hồ trước khi rạng đông, và chắc hẳn hắn sẽ chẳng đời nào phát hiện ra sự mất tích của cả hai cho đến khi trời đã đứng bóng.

Tôi hoàn toàn nhận thức rõ những hệ lụy xấu xa có thể và chắc chắn sẽ xảy ra từ bước đi mà tôi sắp sửa thực hiện; nhưng tôi chưa bao giờ nao núng trong quyết định của mình, bởi tôi chưa từng quên mất đứa con trai bé bỏng. Mới sáng nay thôi, trong lúc tôi đang miệt mài với công việc quen thuộc, nó đang ngồi dưới chân tôi, lặng lẽ chơi đùa với những mẩu vải thừa mà tôi vừa ném xuống thảm; nhưng tâm trí nó dường như đang bận rộn với chuyện khác, bởi chẳng bao lâu sau, nó ngước đôi mắt đầy đăm chiêu nhìn lên mặt tôi, và nghiêm túc hỏi,—“Mẹ ơi, sao mẹ lại là người xấu thế ạ?”

“Ai nói với con mẹ là người xấu thế, cục cưng?”

“Rachel ạ.”

“Không, Arthur, Rachel không bao giờ nói thế đâu, mẹ dám chắc đấy.”

“Thế thì là bố ạ,” nó đáp với vẻ suy ngẫm. Rồi sau một thoáng im lặng trầm ngâm, nó nói thêm, “Ít ra thì con cũng biết chuyện đó thế này: khi con ở với bố, nếu con bảo mẹ muốn gặp con, hoặc mẹ bảo con không được làm điều mà bố bảo, bố sẽ luôn mắng rằng ‘Mẹ mày cứ xuống Địa ngục đi,’ và Rachel bảo rằng chỉ những kẻ xấu mới phải xuống Địa ngục thôi. Cho nên, thưa mẹ, đó là lý do tại sao con nghĩ mẹ chắc chắn là người xấu: và con ước gì mẹ đừng như thế.”

“Con trai ngoan của mẹ, mẹ không phải người xấu. Đó là những lời lẽ tồi tệ, và những kẻ xấu thường dùng chúng để nói về những người tốt đẹp hơn họ. Những lời đó không thể khiến con người ta phải xuống Địa ngục, cũng chẳng chứng minh được rằng họ đáng phải chịu điều đó. Thượng đế sẽ phán xét chúng ta bằng những suy nghĩ và hành động của chính mình, chứ không phải bằng những gì người khác thêu dệt về chúng ta. Và khi con nghe thấy những lời lẽ như thế, Arthur, hãy nhớ là không bao giờ được lặp lại chúng: nói những điều đó về người khác mới là xấu, chứ không phải việc để người khác nói những điều đó về con.”

“Thế hóa ra bố là người xấu ạ,” nó nói với vẻ mặt buồn bã.

“Bố đã sai khi nói ra những lời như thế, và con sẽ vô cùng sai lầm nếu bắt chước theo bố giờ đây khi con đã biết phải quấy.”

“Bắt chước là gì hả mẹ?”

“Là làm theo những gì bố làm.”

“Thế bố có biết điều đó là sai không ạ?”

“Có lẽ là có; nhưng điều đó không liên quan gì đến con cả.”

“Nếu bố không biết, mẹ phải nhắc bố chứ ạ.”

“Mẹ đã nhắc rồi.”

Cậu nhóc thông thái thẫn thờ ngẫm nghĩ. Tôi vô vọng tìm cách lái tâm trí nó ra khỏi đề tài này.

“Con buồn vì bố là người xấu lắm,” cuối cùng nó cất giọng sầu muộn, “bởi vì con không muốn bố phải xuống địa ngục đâu.” Nói đoạn, nó òa khóc nức nở.

Tôi dỗ dành nó với niềm hy vọng rằng có lẽ bố nó sẽ thay đổi và trở thành người tốt trước khi qua đời—nhưng chẳng phải đã đến lúc phải cứu vớt nó khỏi một người cha như thế rồi sao?

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Anne Brontë

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.