Người Thuê Nhà Ở Wildfell Hall

Lượt đọc: 339 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 32

❊ ❊ ❊

Ngày 5 tháng Mười.—Esther Hargrave đang phổng phao thành một thiếu nữ xinh xắn. Con bé vẫn chưa chính thức bước vào xã hội, nhưng thỉnh thoảng mẹ nó vẫn đưa sang chơi vào buổi sáng khi các ông chồng vắng nhà; đôi khi nó ở lại một hai tiếng, quây quần bên chị nó, tôi và mấy đứa trẻ. Mỗi khi chúng tôi sang The Grove, tôi luôn tìm cách gặp con bé và trò chuyện với nó nhiều hơn bất cứ ai, bởi tôi vô cùng quý mến người bạn nhỏ của mình, và nó cũng vậy. Tôi tự hỏi không biết nó nhìn thấy điểm gì đáng yêu ở tôi cơ chứ, bởi tôi đâu còn là cô thiếu nữ vui tươi, hoạt bát như ngày trước; nhưng con bé chẳng có ai bầu bạn ngoài người mẹ bất đồng tính cách, người gia sư (một kẻ giả tạo và khuôn súc hệt như vị mẫu thân thận trọng ấy có thể thuê để uốn nắn nhữngh nết tự nhiên của học trò), và thỉnh thoảng là cô chị gái trầm lặng, nhẫn nhịn. Tôi thường tự hỏi cuộc đời rồi sẽ dành cho con bé những gì, và nó cũng vậy; nhưng những suy đoán của con bé về tương lai tràn ngập hy vọng dạt dào; ngày xưa tôi cũng từng như thế. Tôi rùng mình khi nghĩ đến cảnh con bé cũng sẽ bị đánh thức, giống như tôi, để rồi nhận ra sự hão huyền lừa dối ấy. Cứ như thể tôi sẽ cảm nhận nỗi thất vọng của con bé còn sâu sắc hơn cả của chính mình. Tôi có cảm giác như thể mình sinh ra là để gánh chịu một số phận như vậy, nhưng con bé lại rạng rỡ và tươi tắn biết bao, tâm hồn nhẹ nhàng thanh thản biết bao, lại ngây thơ và không chút hoài nghi nữa chứ. Ồ, thật tàn nhẫn làm sao nếu bắt con bé phải cảm nhận những gì tôi đang cảm thấy lúc này, và thấu hiểu những điều tôi từng trải qua!

Chị của con bé cũng run sợ thay cho nó. Sáng hôm qua, một trong những ngày tháng Mười rực rỡ và đáng yêu nhất, Milicent và tôi ở trong vườn tận hưởng nửa giờ ngắn ngủi bên lũ trẻ, trong khi Annabella đang nằm dài trên chiếc ghế bô-pha ở phòng khách, mải miết chìm đắm trong cuốn tiểu thuyết mới ra. Chúng tôi vừa đùa giỡn với lũ trẻ, vui vẻ và hoang dã gần như chính chúng, rồi dừng chân dưới bóng cây dẻ đỏ cao lớn để lấy lại hơi thở và chỉnh trang lại mái tóc bị làm rối tung bởi trò chơi thô bạo cùng cơn gió nghịch ngợm, trong khi chúng chập chững bước đi bên nhau dọc theo lối đi rộng ngập nắng; bé Arthur nhà tôi đang nâng đỡ những bước chân yếu ớt của bé Helen nhà ấy, và đầy ra dáng chỉ cho con bé những đóa hoa đẹp nhất bên lề đường khi chúng đi qua, bằng những tiếng babala ú ớ mà đối với con bé chẳng khác gì bất kỳ kiểu trò chuyện nào khác. Từ việc bật cười trước cảnh tượng đáng yêu đó, chúng tôi bắt đầu nói về tương lai của lũ trẻ; và điều đó khiến chúng tôi trầm ngâm. Cả hai chìm vào những suy tưởng thầm lặng khi chúng tôi chậm rãi bước lên lối đi; và tôi đoán Milicent, qua một chuỗi liên tưởng, đã bị dẫn dắt để nghĩ về em gái mình.

“Helen,” chị ấy nói, “cậu vẫn thường gặp Esther phải không?”

“Không thường xuyên lắm.”

“Nhưng cậu có nhiều cơ hội gặp con bé hơn tớ; và tớ biết nó rất yêu quý cậu, lại kính trọng nữa: chẳng có ai mà nó coi trọng ý kiến bằng, và nó bảo cậu còn khôn ngoan hơn cả má.”

“Đó là vì con bé bướng bỉnh, và ý kiến của tớ thường hợp với nó hơn ý kiến của mẹ cậu. Nhưng rồi sao nữa, Milicent?”

“À, vì cậu có rất nhiều ảnh hưởng với nó, tớ ước gì cậu có thể khuyên nhủ thật nghiêm túc, để con bé dặn lòng không bao giờ, dù với bất kỳ lý do gì hay vì sự thuyết phục của bất kỳ ai, mà kết hôn vì tiền tài, địa vị, gia thế, hay bất cứ thứ gì trên đời, ngoài tình yêu chân chính và sự nể trọng có nền tảng vững chắc.”

“Chẳng cần phải làm thế đâu,” tôi đáp, “vì chúng tớ đã có dịp trò chuyện về vấn đề đó rồi, và tớ đảm bảo với cậu rằng những quan niệm của con bé về tình yêu và hôn nhân lãng mạn không kém bất cứ ai mong đợi.”

“Nhưng những khái niệm lãng mạn là chưa đủ: tớ muốn con bé có những khái niệm chân thực.”

“Rất đúng: nhưng theo phán đoán của tớ, những gì thế giới kỳ thị là lãng mạn, đôi khi lại gần gũi với sự thật hơn người ta thường tưởng; bởi vì, nếu những tư tưởng hào hiệp của tuổi trẻ quá thường xuyên bị che mờ bởi những quan điểm dung tục của quãng đời về sau, điều đó hầu như chẳng chứng minh được chúng là giả dối.”

“Ồ, nhưng nếu cậu nghĩ ý kiến của con bé đúng đắn như vậy, hãy củng cố chúng nhé? Và xác thực chúng, trong khả năng của cậu; vì tớ cũng từng có những quan niệm lãng mạn, và—tớ không có ý nói là tớ hối hận về số phận của mình, vì tớ chắc chắn là không, nhưng—”

“Tớ hiểu cậu rồi,” tôi nói; “cậu bằng lòng với số phận của mình, nhưng cậu không muốn em gái mình phải chịu đựng những cay đắng giống như cậu.”

“Không—hoặc tồi tệ hơn. Con bé có thể phải chịu đựng những điều tồi tệ hơn tớ rất nhiều, vì tớ thực sự bằng lòng, Helen à, dù cậu có thể không nghĩ thế: tớ xin nói một sự thật thiêng liêng rằng tớ sẽ không đánh đổi chồng mình lấy bất kỳ người đàn ông nào trên đời, dù có được phép làm điều đó chỉ bằng việc ngắt chiếc lá này đi chăng nữa.”

“Ừ, tớ tin cậu: bây giờ khi cậu đã có anh ta, cậu sẽ không đổi anh ta lấy người khác; nhưng rồi cậu vẫn sẽ vui lòng đánh đổi một số phẩm chất của anh ta để lấy những phẩm chất của những người đàn ông tốt hơn.”

“Đúng vậy: cũng giống như việc tớ sẵn sàng đổi một vài tính xấu của mình để lấy những phẩm chất tốt đẹp hơn của những người phụ nữ khác; vì cả anh ấy lẫn tớ đều không hoàn hảo, và tớ mong mỏi sự tiến bộ của anh ấy cũng thiết tha như sự tiến bộ của chính mình. Và anh ấy sẽ tiến bộ thôi, cậu không nghĩ vậy sao, Helen? anh ấy mới chỉ hai mươi sáu tuổi thôi mà.”

“Có thể lắm,” tôi đáp.

“Anh ấy sẽ, anh ấy CHẮC CHẮN SẼ!” chị ấy lặp lại.

“Xin lỗi vì sự đồng tình có phần yếu ớt của tớ nhé, Milicent, tớ không muốn dập tắt hy vọng của cậu vì bất cứ giá nào, nhưng hy vọng của tớ đã bị phụ bạc quá nhiều lần, đến nỗi tớ đã trở nên lạnh lùng và hoài nghi chẳng kém gì một cụ già tám mươi cằn cỗi.”

“Và thế mà cậu vẫn hy vọng đấy thôi, vẫn hy vọng, ngay cả với ông Huntingdon cơ mà?”

“Tớ có chứ, thú thật là có, ‘ngay cả’ với anh ta; bởi vì có cảm giác như cuộc sống và hy vọng phải chấm dứt cùng một lúc. Và anh ta có tệ đến thế không, Milicent, nếu so với ông Hattersley?”

“À, để nói thật lòng cho cậu nghe nhé, tớ nghĩ chẳng có sự so sánh nào giữa họ cả. Nhưng cậu đừng giận đấy, Helen, vì cậu biết tớ luôn nói thẳng suy nghĩ của mình, và cậu cũng có thể nói suy nghĩ của cậu. Tớ không bận tâm đâu.”

“Tớ không giận đâu, cưng ạ; và ý kiến của tớ là, nếu phải đặt lên bàn cân so sánh giữa hai người, sự khác biệt, phần lớn, chắc chắn là nghiêng về phía Hattersley.”

Trái tim của Milicent mách bảo chị ấy rằng tôi đã phải trả giá đắt thế nào để thốt lên lời thừa nhận đó; và với một sự bộc phát ngây thơ như trẻ nhỏ, chị ấy bày tỏ sự đồng cảm bằng cách bất ngờ hôn lên má tôi, chẳng nói một lời đáp nào, rồi quay phắt đi, với lấy đứa con nhỏ và vùi mặt vào chiếc váy của nó. Thật kỳ lạ làm sao khi chúng ta thường khóc thương cho nỗi bất hạnh của người khác, trong khi chẳng rơi lấy một giọt nước mắt cho chính mình! Trái tim của chị ấy đã đủ đầy những nỗi buồn của riêng nó, nhưng lại trào dâng khi nghĩ đến nỗi đau của tôi; và tôi cũng rơi nước mắt trước cảnh tượng xúc động đầy đồng cảm ấy, dẫu đã nhiều tuần nay tôi chẳng hề khóc cho chính mình.

Đó là một ngày mưa tuần trước; hầu hết mọi người đều đang giết thời gian trong phòng chơi bi-a, nhưng Milicent và tôi ở cùng bé Arthur và Helen trong phòng thư viện, và giữa những cuốn sách, lũ trẻ và bầu bạn cùng nhau, chúng tôi kỳ vọng sẽ có một buổi sáng vô cùng dễ chịu. Tuy nhiên, chúng tôi vừa rút vào không gian riêng tư ấy chưa đầy hai tiếng đồng hồ thì ông Hattersley bước vào, chắc là bị thu hút bởi tiếng cười của đứa con khi anh ta đang đi ngang qua sảnh, bởi anh ta vô cùng cưng chiều con bé, và con bé cũng quấn quýt lấy anh ta.

Anh ta nồng nặc mùi chuồng ngựa, nơi anh ta đã say sưa bầu bạn với những đồng loại là loài ngựa kể từ bữa sáng. Nhưng điều đó chẳng thấm tháp gì với cô con gái mang tên tôi; ngay khi dáng người cao lớn của người cha che khuất khung cửa, con bé liền thét lên một tiếng lanh lảnh đầy thích thú, rời khỏi bên cạnh mẹ, lon ton chạy về phía anh ta, dang rộng hai tay giữ thăng bằng và ôm chầm lấy đầu gối bố, ngửa cổ cười thẳng vào mặt anh ta. Anh ta hoàn toàn có quyền mỉm cười nhìn xuống những nét nhỏ nhắn, thanh tú ấy, rạng rỡ niềm vui hồn nhiên, đôi mắt xanh trong vắt ngời sáng và mái tóc vàng mềm mại xõa ngược ra sau chiếc cổ cùng đôi vai trắng ngần như ngà voi. Liệu anh ta có nghĩ xem mình không xứng đáng thế nào với báu vật nhường ấy không? Tôi e rằng chẳng có ý nghĩ nào như thế thoáng qua trong đầu anh ta. Anh ta bổng con bé lên, và tiếp theo là vài phút đùa nghịch thô bạo, trong đó thật khó mà nói xem người cha hay đứa con đã cười và hò hét lớn hơn. Cuối cùng thì trò giải trí ồn ào ấy cũng chấm dứt, đột ngột như người ta vẫn tưởng: con bé bị đau và bắt đầu khóc; và người bạn chơi cục cằn liền thảy nó vào lòng người vợ, bảo cô ấy hãy “dựng lại mọi thứ cho xuôi chèo mát mái.” Vui mừng khôn xiết khi được trở về bên bờm ngực dịu dàng ấy cũng như khi rời xa nó, đứa trẻ rúc vào vòng tay mẹ, nín bặt tiếng khóc chỉ trong chớp mắt; và tựa cái đầu nhỏ mệt mỏi vào ngực cô, chẳng mấy chốc đã chìm vào giấc ngủ.

Trong khi đó, ông Hattersley sải bước đến bên lò sưởi, chen vóc dáng cao lớn vạm vỡ của mình vào giữa chúng tôi và ngọn lửa, đứng chống nũng hai tay chống hông, ưỡn ngực và đảo mắt nhìn quanh như thể ngôi nhà cùng toàn bộ đồ đạc vật dụng bên trong đều là tài sản thuộc quyền sở hữu tuyệt đối của riêng anh ta.

“Thời tiết chán ngắt thế này đây!” anh ta mở lời. “Hôm nay chắc chẳng đi săn được gì rồi.” Rồi, bất ngờ cất cao giọng, anh ta ngâm nga vài câu của một bài hát nghênh ngang, rồi bỗng ngớt bặt, kết thúc giai điệu bằng một tiếng huýt sáo, rồi tiếp tục:—“Này, bà Huntingdon, chồng bà có đàn ngựa giống đẹp thật đấy! Không nhiều nhưng chất lượng. Sáng nay tôi đã ngó qua một chút; và thưa bà, con Black Boss, con Grey Tom và chú Nimrod trẻ tuổi kia đúng là những con vật đẹp nhất mà tôi từng thấy trong đời suốt bao ngày qua!” Tiếp theo là một cuộc bàn tán tường tận về những ưu điểm của chúng, nối tiếp bằng một bản phác thảo về những chiến tích vĩ đại mà anh ta dự định sẽ thực hiện trong lĩnh vực buôn bán ngựa, ngay khi ông cụ nhà anh ta thấy phải phép để lui về hậu trường. “Không phải là tôi mong ông ấy đóng sổ đâu nhé,” anh ta nói thêm: “lão già Trojan ấy cứ thoải mái mở sổ sách bao lâu tùy thích với tôi.”

“Tôi cũng hy vọng thế, thưa ông Hattersley.”

“Ồ, vâng! Chỉ là cách nói năng của tôi thế thôi. Chuyện gì rồi cũng phải đến lúc xảy ra, thế nên tôi cứ nhìn vào mặt tươi sáng của nó: đó mới là cách đúng đắn—phải vậy không, bà H.? Hai cô đang làm gì ở đây thế? Nhân tiện, Lady Lowborough đâu rồi?”

“Trong phòng bi-a.”

“Thật là một sinh linh lộng lẫy!” anh ta tiếp lời, dán mắt vào người vợ, người đang biến sắc và ngày càng tỏ ra bối rối hơn khi anh ta nói tiếp. “Cô ấy có một vóc dáng thật cao quý làm sao; và đôi mắt đen tuyệt mỹ biết bao; và một tinh thần vô cùng ngạo nghễ; cùng một cái lưỡi sắc sảo không kém, khi cô ấy thích dùng đến nó. Tôi hoàn toàn sùng bái cô ấy! Nhưng đừng bận tâm nhé, Milicent: tôi sẽ không cưới cô ấy làm vợ đâu, dù cho cô ấy có cả một vương quốc làm của hồi môn đi nữa! Tôi hài lòng hơn với người vợ hiện tại của mình rồi. Nào! sao cô lại cứ xị mặt ra thế? Không tin tôi chắc?”

“Vâng, em tin anh,” cô lầm bầm, với giọng điệu nửa buồn rầu, nửa hờn dỗi cam chịu, rồi quay đi để vuốt ve mái tóc của đứa con đang ngủ mà cô vừa đặt lên chiếc ghế bô-pha bên cạnh.

“Thế thì, sao trông cô lại cáu kỉnh thế? Lại đây nào, Milly, và nói cho anh biết tại sao em lại không thể thỏa mãn với lời đoan chắc của anh chứ.”

Cô bước tới, đặt bàn tay nhỏ bé lên cánh tay anh, ngước nhìn khuôn mặt ấy và nói khẽ,—

“Nó có ý nghĩa gì chứ, Ralph? Chỉ thế này thôi, rằng mặc dù anh ngưỡng mộ Annabella đến thế, và vì những phẩm chất mà em không có, anh vẫn thà chọn em làm vợ còn hơn cô ấy, điều đó chỉ chứng tỏ rằng anh không nghĩ việc yêu vợ mình là cần thiết; anh chỉ mãn nguyện nếu cô ấy có thể quản lý nhà cửa và chăm sóc con cái cho anh. Nhưng em không cáu kỉnh đâu; em chỉ thấy buồn thôi; vì,” cô nói thêm với giọng trầm buồn, run rẩy, rút tay khỏi cánh tay anh và dán mắt xuống tấm thảm trải sàn, “nếu anh không yêu em, thì đành chịu vậy, và chẳng thể thay đổi được đâu.”

“Đúng thế; nhưng ai bảo với em là anh không yêu? Anh có nói là anh yêu Annabella bao giờ chưa?”

“Anh bảo là anh sùng bái cô ấy mà.”

“Đúng, nhưng sùng bái đâu phải là yêu. Anh sùng bái Annabella, nhưng anh không yêu cô ấy; và anh yêu em, Milicent, nhưng anh không sùng bái em.” Để chứng minh cho tình cảm của mình, anh ta túm lấy một nắm lọn tóc xoăn màu nâu nhạt của cô và có vẻ như vặn chúng một cách không thương tiếc.

“Anh thật lòng chứ, Ralph?” cô lầm bầm, với một nụ cười nhạt hiện lên qua làn nước mắt, đưa tay lên chạm vào tay anh như một dấu hiệu cho thấy anh đang kéo hơi quá mạnh.

“Tất nhiên là anh thật lòng rồi,” anh ta đáp: “chỉ có điều đôi khi em cứ làm anh phiền phức.”

“Em làm anh phiền phức á!” cô kêu lên với vẻ ngạc nhiên vô cùng tự nhiên.

“Đúng, là em đấy—nhưng chỉ vì sự tốt bụng quá mức của em mà thôi. Khi một đứa trẻ đã ăn nho khô và kẹo ngọt cả ngày, nó sẽ thèm một ngụm nước cam chua để đổi gió đấy. Và em đã bao giờ quan sát những bãi cát ven bờ biển chưa, Milly; chúng trông mới đẹp và mịn màng làm sao, và mang lại cảm giác mềm mại, dễ chịu biết bao cho đôi chân? Nhưng nếu em cứ lê bước suốt nửa tiếng đồng hồ trên tấm thảm mềm mại, dễ chịu này—lún xuống sau mỗi bước đi, càng ấn mạnh lại càng lún sâu hơn—em sẽ thấy đó là một công việc khá mệt mỏi, và sẽ vô cùng hoan hỉ khi gặp được một mỏm đá vững chắc, chẳng mảy may dịch chuyển dù em có đứng, đi hay dậm chân lên đó; và cho dù nó có cứng như chiếc cối xay dưới đi chăng nữa, em vẫn sẽ thấy đó là điểm tựa dễ chịu hơn cả xét về lâu về dài.”

“Em hiểu ý anh mà, Ralph,” cô nói, vừa bồn chồn nghịch chiếc dây đồng hồ vừa vẽ những hình thù trên tấm thảm bằng mũi giày nhỏ xíu của mình—“Em hiểu ý anh mà: nhưng em cứ nghĩ là anh luôn thích người khác phải nhượng bộ mình, và bây giờ em chẳng thể thay đổi được nữa.”

“Anh thích thế thật mà,” anh ta đáp, kéo cô về phía mình bằng một cú giật tóc khác. “Em đừng bận tâm đến cách nói năng của anh, Milly. Đàn ông lúc nào chẳng phải có cái để mà cằn nhằn; và nếu anh ta không thể phàn nàn rằng vợ mình hành hạ anh ta đến chết bởi tính ương ngạnh và khó ưa của cô ấy, thì anh ta đành phải phàn nàn rằng cô ấy làm anh ta kiệt sức vì sự tử tế và dịu dàng.”

“Nhưng tại sao lại cứ phải phàn nàn, trừ phi vì anh đã mệt mỏi và bất mãn?”

“Để ngụy biện cho những thói hư tật xấu của chính mình chứ sao. Em có nghĩ là anh chịu gánh toàn bộ gánh nặng tội lỗi trên đôi vai mình, khi mà có sẵn một người khác sẵn sàng giúp gánh mà chẳng phải vướng bận tội lỗi nào của riêng cô ấy không?”

“Làm gì có ai trên đời này như thế,” cô nói một cách nghiêm túc; rồi kéo tay anh khỏi đầu mình, cô hôn lên đó với vẻ sùng kính chân thành, và lững thững bước về phía cửa.

“Sao thế?” anh ta gọi với theo. “Em đi đâu đấy?”

“Để chải lại tóc,” cô đáp, mỉm cười qua những lọn tóc bù xù; “anh làm nó rũ hết cả ra rồi kìa.”

“Biến đi cho khuất mắt tao xem nào!—Một người phụ nữ nhỏ bé tuyệt vời,” anh ta nhận xét khi cô đã đi khuất, “nhưng có hơi quá mềm mại—cô ấy như muốn tan chảy trong tay người ta vậy. Thú thật là đôi khi tôi cứ nghĩ mình đối xử tệ với cô ấy khi đã quá chén—nhưng tôi chẳng thể kiềm chế được, vì cô ấy chẳng bao giờ phàn nàn, dù là ngay lúc đó hay sau này. Chắc là cô ấy chẳng bận tâm đâu.”

“Tôi có thể khai sáng cho anh về vấn đề đó, ông Hattersley,” tôi nói: “cô ấy có bận tâm đấy; và còn vài điều khác nữa mà cô ấy còn bận tâm hơn nhiều, thế nhưng có thể anh sẽ chẳng bao giờ nghe thấy cô ấy phàn nàn đâu.”

“Sao cô biết được?—cô ấy phàn nàn với cô à?” anh ta gặng hỏi, với một đốm lửa giận dữ chực bùng lên thành ngọn lửa lớn nếu tôi trả lời là ‘có’.

“Không,” tôi đáp; “nhưng tôi biết rõ cô ấy lâu hơn và nghiên cứu về cô ấy kỹ hơn anh.—Và tôi có thể nói cho anh biết, ông Hattersley, rằng Milicent yêu anh nhiều hơn mức anh xứng đáng, và rằng anh hoàn toàn có quyền năng làm cho cô ấy rất hạnh phúc, thế nhưng thay vào đó anh lại chính là ác ma của đời cô ấy, và tôi dám cá rằng chẳng có một ngày nào trôi qua mà anh không giáng xuống đầu cô ấy một niềm đau nào đó mà lẽ ra anh hoàn toàn có thể tha thiết tránh cho cô ấy nếu muốn.”

“Thôi nào—đâu phải lỗi tại tôi,” anh ta thản nhiên ngửa mặt nhìn lên trần nhà và đút tay vào túi quần: “nếu cách sống của tôi không vừa mắt cô ấy, thì cô ấy phải nói cho tôi biết chứ.”

“Chẳng phải cô ấy đúng là người vợ mà anh hằng mong muốn đó sao? Chẳng phải anh từng bảo ông Huntingdon rằng anh phải tìm một người chịu phục tùng mọi thứ mà không hề phàn nàn, và chẳng bao giờ trách cứ anh, dù anh có làm bất cứ điều gì đó sao?”

“Đúng thế, nhưng chúng ta đâu thể lúc nào cũng có được điều mình muốn: nó làm hư những kẻ ưu tú nhất của chúng ta phải không nào? Làm sao tôi có thể không làm loạn lên khi thấy với cô ấy thì cư xử như một kẻ theo đạo hay như một gã đốn mạt do tạo hóa nặn ra cũng chẳng khác gì nhau? Và làm sao tôi có thể không trêu chọc cô ấy khi cô ấy tỏ ra ngoan ngoãn và rụt rè một cách đầy khiêu khích như thế, khi cô ấy phục rạp dưới chân tôi như một con chó tây mà chẳng thèm kêu lên lấy một tiếng để bảo rằng thế là đủ rồi?”

“Nếu bản chất anh là một kẻ bạo ngược, sự cám dỗ ấy quả là lớn, tôi công nhận; nhưng không một tâm hồn cao thượng nào lại lấy việc áp bức kẻ yếu làm thích thú, mà ngược lại là nâng niu và bảo vệ.”

“Tôi có áp bức cô ấy đâu; nhưng việc cứ mãi nâng niu và bảo vệ mới chán ngắt làm sao; và rồi, làm sao tôi biết được là mình đang áp bức cô ấy khi cô ấy cứ ‘tan chảy đi mà chẳng hé răng lấy một lời’? Đôi khi tôi nghĩ cô ấy chẳng có chút cảm xúc nào hết; và rồi tôi cứ làm tới cho đến khi cô ấy khóc, và điều đó làm tôi thỏa mãn.”

“Thế ra anh thực sự thích thú việc áp bức cô ấy cơ à?”

“Tôi không thích, đã bảo là không mà! Chỉ là khi tôi đang tâm trạng tồi tệ, hoặc tâm trạng đặc biệt tốt, và muốn hành hạ để tận hưởng cảm giác an ủi; hoặc khi cô ấy trông ủ rũ và cần được xốc lại tinh thần một chút. Và đôi khi cô ấy chọc tức tôi bằng cách khóc lóc chẳng vì lý do gì, lại nhất định không chịu nói vì sao; và lúc đó, tôi thú nhận là mình tức điên lên được, nhất là khi tôi không còn làm chủ được bản thân.”

“Đó chắc hẳn là tình trạng chung trong những dịp như thế rồi,” tôi nói. “Nhưng từ nay về sau, ông Hattersley, khi anh thấy cô ấy trông ủ rũ, hoặc khóc vì ‘chẳng vì gì cả’ (như anh gọi), hãy quy hết tội lỗi cho chính mình đi: hãy chắc chắn rằng đó là do một điều gì đó anh đã làm sai, hoặc do hạnh kiểm tồi tệ nói chung của anh đã làm cô ấy đau khổ.”

“Tôi không tin đâu. Nếu đúng thế thì cô ấy phải nói cho tôi biết chứ: tôi không thích cái kiểu âm thầm ủ rũ, phiền muộn và chẳng nói năng gì thế này: thật không quang minh chính đại chút nào. Cứ đà này thì làm sao cô ấy có thể mong tôi sửa đổi tính nết cơ chứ?”

“Có lẽ cô ấy đánh giá cao sự khôn ngoan của anh hơn thực tế, và tự lừa dối mình với hy vọng rằng một ngày nào đó anh sẽ tự nhìn nhận ra lỗi lầm của bản thân và sửa chữa chúng, nếu được để mặc cho tự suy ngẫm.”

“Đừng có dùng giọng điệu mỉa mai đó với tôi, bà Huntingdon. Tôi cũng đủ khôn ngoan để nhận ra rằng mình không phải lúc nào cũng hoàn toàn đúng đắn, nhưng đôi khi tôi nghĩ điều đó chẳng có gì là to tát, miễn là tôi không làm tổn thương ai ngoài bản thân mình—”

“Đó là một chuyện rất lớn đấy,” tôi ngắt lời, “cả đối với chính anh (như anh sẽ sớm phải trả giá đắt trong tương lai) lẫn đối với tất cả những ai có liên quan đến anh, đặc biệt nhất là vợ anh. Mà thực ra, thật nhảm nhí khi nói về chuyện không làm tổn thương ai ngoài bản thân mình: thật là bất khả thi nếu muốn làm tổn thương chính mình, nhất là qua những hành động mà chúng ta đang nhắc tới, mà lại không gây tổn hại đến hàng trăm, thậm chí hàng ngàn người khác, ở mức độ ít nhiều, dù là qua cái ác anh gây ra hay cái thiện anh bỏ xó không làm.”

“Và như tôi vừa nói,” anh ta tiếp tục, “hoặc lẽ ra đã nói nếu cô không ngắt lời tôi cụt ngủn như thế, đôi khi tôi nghĩ mình sẽ làm tốt hơn nếu được kết đôi với một người luôn nhắc nhở tôi mỗi khi tôi sai quấy, và cho tôi động lực để làm điều thiện, tránh điều ác, bằng cách thể hiện rõ ràng sự tán thành với điều này và không tán thành với điều kia.”

“Nếu anh chẳng có động lực nào cao cả hơn sự tán thành của một người phàm trần đồng loại, thì nó cũng chẳng mang lại cho anh mấy lợi ích đâu.”

“Ừ, nhưng nếu tôi có một người bạn đời không phải lúc nào cũng nhượng bộ, không phải lúc nào cũng tốt bụng đều đặn, mà có gan chống trả lại thỉnh thoảng, và thành thật nói cho tôi biết suy nghĩ của cô ấy bất cứ lúc nào, một người giống như cô chẳng hạn. Nào, nếu tôi đối xử với cô giống như cách tôi đối xử với cô ấy khi tôi ở Luân Đôn, cô sẽ làm cho cái nhà này nóng đến mức tôi chẳng thể ở nổi cho xem, tôi dám cá đấy.”

“Anh nhầm tôi với ai thế: tôi không phải là một ả đàn bà chua ngoa đanh đá đâu.”

“À, thế thì càng tốt cho cô, vì nói chung tôi không chịu được sự đôi co cãi vã, và tôi cũng cứng đầu không kém ai đâu; chỉ là tôi nghĩ việc quá ư cố chấp chẳng đem lại kết quả gì cho bất kỳ người đàn ông nào.”

“Ừ, tôi sẽ chẳng bao giờ đôi co với anh mà không có lý do, nhưng chắc chắn tôi sẽ luôn cho anh biết tôi nghĩ gì về hành vi của anh; và nếu anh áp bức tôi, cả về thể xác, tinh thần hay tài sản, thì ít nhất anh cũng sẽ chẳng có lý do gì để mà phỏng đoán rằng ‘tôi chẳng bận tâm đâu’.”

“Tôi biết điều đó, thưa phu nhân; và tôi nghĩ nếu người vợ bé nhỏ của tôi cũng làm theo cách tương tự, thì mọi chuyện sẽ tốt hơn cho cả đôi bên.”

“Tôi sẽ bảo cô ấy.”

“Thôi, thôi, cứ để mặc cô ấy đi; có rất nhiều điều để nói từ cả hai phía, và, giờ nghĩ lại thì, Huntingdon thường tiếc nuối vì cô không giống cô ấy hơn đấy, cái tên chó má đốn mạt ấy, và cô thấy đấy, suy cho cùng thì cô cũng chẳng thể cải tạo nổi hắn ta: hắn ta còn tệ gấp mười lần tôi. Hắn ta sợ cô là cái chắc; nghĩa là hắn ta luôn cư xử tử tế nhất khi có mặt cô—nhưng—”

“Thế thì tôi tự hỏi lúc hắn ta cư xử tệ nhất trông sẽ như thế nào nhỉ?” Tôi không kìm được mà phải thốt lên.

“À, nói thật với cô nhé, tồi tệ lắm đấy—phải không, Hargrave?” anh ta nói, quay sang hướng vị quý tộc vừa mới bước vào phòng mà tôi không hề hay biết, bởi tôi đang đứng gần lò sưởi và quay lưng về phía cửa. “Chẳng phải Huntingdon,” anh ta tiếp tục, “là một tên đồi bại tột cùng đáng xuống địa ngục hay sao?”

“Phu nhân của hắn sẽ không đời nào để hắn bị chê trách mà không phản ứng đâu,” ông Hargrave bước lên nói; “nhưng tôi phải nói rằng, tạ ơn Chúa vì tôi không phải là kẻ giống như hắn.”

“Có lẽ sẽ phải phép hơn nếu anh,” tôi nói, “nhìn lại chính con người mình và thốt lên rằng, ‘Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ có tội.’”

“Cô thật cay nghiệt,” ông ta đáp lại, cúi đầu nhẹ và ưỡn ngực với một vẻ mặt kiêu hãnh nhưng đầy tổn thương. Hattersley cười phá lên và vỗ mạnh vào vai ông ta. Bước ra khỏi bàn tay đó với vẻ mặt đầy tự tôn bị xúc phạm, ông Hargrave lủi thủi sang tận đầu bên kia của tấm thảm.

“Chẳng phải là một nỗi hổ thẹn sao, bà Huntingdon?” người anh vợ kêu lên; “tôi đã đấm Walter Hargrave khi say rượu, vào đêm thứ hai sau khi chúng tôi tới đây, và từ đó đến nay hắn cứ lạnh nhạt với tôi; mặc dù tôi đã xin lỗi hắn ngay vào sáng hôm sau khi chuyện đó xảy ra!”

“Cách anh xin lỗi,” người kia đáp lại, “và sự minh mẫn mà anh ghi nhớ toàn bộ sự việc, đã cho thấy anh không hề say quá chén đến mức mất hoàn toàn ý thức về những gì mình đang làm, và hoàn toàn chịu trách nhiệm về hành động đó.”

“Anh muốn chõ mũi vào chuyện giữa tôi và vợ tôi,” Hattersley cằn nhằn, “và chừng đó là quá đủ để chọc tức bất kỳ người đàn ông nào.”

“Anh đang biện hộ cho hành động đó đấy à?” đối thủ của anh ta ném sang một cái nhìn đầy thù hằn.

“Không, tôi đã bảo là tôi sẽ không làm thế nếu không bị kích động; và nếu anh chọn cách ôm hận trong lòng sau tất cả những lời lẽ nhã nhặn mà tôi đã thốt ra, thì cứ việc và xuống địa ngục đi!”

“Ít nhất thì tôi cũng sẽ kiềm chế không dùng những lời lẽ như vậy trước mặt một phu nhân,” ông Hargrave nói, che giấu cơn giận dưới lớp mặt nạ ghê tởm.

“Tôi đã nói gì nào?” Hattersley đáp: “chẳng có gì ngoài sự thật hiển nhiên cả. Hắn ta sẽ xuống địa ngục, đúng chứ, bà Huntingdon, nếu hắn không tha thứ cho những lỗi lầm của người anh em bằng hữu?”

“Anh nên tha thứ cho anh ấy đi, ông Hargrave, vì anh ấy đã cất lời xin lỗi,” tôi nói.

“Cô nói thế ư? Vậy thì tôi sẽ!” Và nở một nụ cười gần như cởi mở, ông ta bước lên và chìa tay ra. Bàn tay ấy liền được nắm chặt bởi người anh em họ, và cuộc hòa giải dường như vô cùng chân thành từ cả hai phía.

“Sự lăng mạ,” Hargrave tiếp tục, quay sang tôi, “mang một nửa cay đắng từ chính thực tế là nó được bày tỏ ngay trước mặt cô; và vì cô đã bảo tôi tha thứ cho nó, tôi sẽ tha thứ, và quên đi luôn.”

“Tôi đoán cách đáp lễ tốt nhất lúc này là chuồn lẹ,” Hattersley lầm bầm với một nụ cười toe toét rộng đến mang tai. Người bạn đồng hành của anh ta mỉm cười, và anh ta rời khỏi phòng. Điều này khiến tôi phải cảnh giác. Ông Hargrave nghiêm túc quay sang tôi, và tha thiết mở lời,—

“Kính thưa bà Huntingdon, tôi đã mong mỏi biết bao, nhưng đồng thời cũng khiếp sợ biết bao giờ phút này! Đừng hoảng sợ,” ông ta nói thêm, vì khuôn mặt tôi đã đỏ bừng vì giận dữ: “tôi không hề có ý định xúc phạm cô bằng bất kỳ lời van xin hay phàn nàn vô ích nào. Tôi sẽ không cả gan làm phiền cô bằng việc nhắc đến cảm xúc của riêng mình hay sự hoàn hảo của cô, nhưng tôi có điều muốn tiết lộ với cô, điều mà cô cần phải biết, và dẫu vậy, nó vẫn khiến tôi vô cùng đau đớn—”

“Vậy thì đừng nhọc công tiết lộ làm gì!”

“Nhưng nó rất quan trọng—”

“Nếu vậy tôi sẽ sớm được nghe thôi, nhất là khi đó là tin xấu, đúng như những gì anh đang nghĩ. Còn bây giờ tôi phải đưa lũ trẻ lên nhà trẻ đây.”

“Nhưng cô không thể giông chuông gọi người lên đón chúng đi à?”

“Không; tôi muốn vận động bằng cách chạy một mạch lên tầng trên. Nào, Arthur.”

“Nhưng cô sẽ quay lại chứ?”

“Chưa đâu; đừng chờ.”

“Vậy khi nào tôi mới được gặp lại cô?”

“Vào bữa trưa,” tôi đáp, cất bước rời đi với bé Helen trên một cánh tay và dắt tay Arthur bằng tay kia.

Anh ta quay đi, lầm bầm vài câu phàn nàn hoặc trách móc đầy thiếu kiên nhẫn, trong đó “nhẫn tâm” là từ duy nhất có thể nghe rõ.

“Trò vô nghĩa gì thế này, ông Hargrave?” tôi dừng chân ở khung cửa nói. “Ý anh là gì?”

“Ồ, không có gì; tôi đâu có định để cô nghe thấy tiếng lòng của mình. Nhưng sự thật là, thưa bà Huntingdon, tôi có một điều cần hé lộ, đau đớn cho tôi khi phải thưa cũng như cho cô khi phải nghe; và tôi muốn cô dành cho tôi vài phút chú ý riêng tư vào bất kỳ thời gian và địa điểm nào cô muốn ấn định. Tôi xin điều đó không vì một động cơ ích kỷ nào, và không vì bất kỳ nguyên nhân nào có thể làm hoen ố sự thanh cao siêu phàm của cô: vì vậy cô không cần phải trừng phạt tôi bằng cái nhìn lạnh lùng và tàn nhẫn không chút khoan dung ấy đâu. Tôi quá hiểu những cảm xúc mà người mang tin dữ thường phải nhận để mà—”

“Mẩu tin tình báo tuyệt vời này là gì thế?” tôi thiếu kiên nhẫn ngắt lời anh ta. “Nếu đó là điều thực sự quan trọng, hãy nói gọn trong ba từ trước khi tôi đi.”

“Trong ba từ thì không thể được. Hãy bảo mấy đứa trẻ kia đi đi và ở lại với tôi.”

“Không; hãy giữ tin dữ của anh cho riêng mình đi. Tôi biết đó là điều tôi không muốn nghe, và là điều sẽ làm tôi khó chịu nếu anh kể ra.”

“E rằng cô đã đoán quá chuẩn rồi; nhưng dẫu sao, vì tôi đã biết chuyện, tôi cảm thấy đó là nghĩa vụ của mình phải tiết lộ cho cô.”

“Ồ, xin hãy tha cho cả hai chúng ta sự tra tấn này, và tôi sẽ miễn cho anh khỏi nghĩa vụ đó. Anh đã ngỏ ý kể; tôi đã từ chối nghe: sự thiếu hiểu biết của tôi sẽ không bị đổ lên đầu anh đâu.”

“Cứ cho là vậy đi: cô sẽ không được nghe nó từ tôi đâu. Nhưng nếu tai họa có ập xuống đầu cô quá đột ngột khi nó đến, hãy nhớ rằng tôi đã từng muốn làm dịu bớt nó đấy!”

Tôi bỏ mặc anh ta. Tôi hạ quyết tâm rằng những lời nói đó sẽ không làm mình hoảng sợ. Trong tất cả mọi người, anh ta có thể có điều gì quan trọng đến mức tôi cần phải nghe cơ chứ? Đó chắc chắn chỉ là một câu chuyện phóng đại nào đó về người chồng bất hạnh của tôi mà hắn ta muốn thổi phồng lên để mưu cầu những mục đích đen tối của riêng mình.

Ngày 6.—Anh ta không hề nhắc lại về điều bí ẩn trọng đại này kể từ đó, và tôi thấy chẳng có lý do gì để hối hận vì đã không chịu lắng nghe nó cả. Cơn giông bão bị đe dọa vẫn chưa giáng xuống, và tôi cũng không quá lo sợ điều đó. Hiện tại tôi đang cảm thấy hài lòng với Arthur: anh ta đã không thực sự tự bôi nhọ bản thân trong suốt nửa tháng nay, và suốt cả tuần qua anh ta đã tiết chế rất nhiều trong việc ăn uống đến mức tôi có thể nhận thấy sự khác biệt rõ rệt ở tính tình và vẻ bề ngoài nói chung của anh ta. Liệu tôi có dám hy vọng điều này sẽ tiếp tục kéo dài không?

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Anne Brontë

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.