Muối - Sự Hồi Sinh Nơi Sâu Thẳm Vụn Vỡ

Lượt đọc: 194 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
01

❊ ❊ ❊

Chẳng ngoa khi nói thôn Thủy Noãn là một tòa bảo tháp linh lung được tạc trong thung lũng của dãy núi Lữ Lương.

Thôn Thủy Noãn rất nhỏ, chỉ có vài chục hộ gia đình, mỗi hộ sống trong một ngôi nhà hang hoàng thổ. Dãy núi dựng thẳng đứng, họ bèn đào từ thấp lên cao, kết quả mấy chục căn nhà hang cứ thế chồng lên nhau, ra khỏi hang nhà mình là đứng trên nóc nhà người khác. Căn nhà hang cao nhất gần như ở trên đỉnh núi, đứng trên tất cả mọi người, chỉ nhìn thôi cũng như đang lung lay, có thể đổ sập bất cứ lúc nào.

Thôn Thủy Noãn tuy nhỏ, nhưng đó chỉ là về mặt thể tích. Quan trọng hơn là kết cấu bên trong rất phức tạp và sắp xếp có quy luật, không lãng phí bất cứ thứ gì, chẳng khác nào một tòa tháp linh lung tinh xảo. Trong nhà hang của Trương Tam có một nam một nữ cùng chung sống, nhưng người phụ nữ này vốn là chị dâu của anh ta. Sau khi anh trai Trương Tam chết, vì còn độc thân nên anh ta thừa kế nhà hang và người vợ của anh trai. Người phụ nữ được thừa kế hằng ngày vẫn sống yên ổn như cũ, nếu em chồng chẳng may lại chết yểu, mà anh ta vẫn còn có em trai, thì chị ta vẫn sẽ tiếp tục được thừa kế, chưa biết chừng đến tám chín mươi tuổi vẫn sẽ được những người bề dưới thừa kế. Phụ nữ chẳng khác nào báu vật gia truyền của nhà Trương Tam, nhất định phải lưu truyền từ đời này sang đời khác, tuyệt đối không thể để lọt ra ngoài. Trong nhà hang của Lý Tứ có một ngươi phụ nữ lớn tuổi và hai ông già, cháu trai của bà lần lượt gọi hai người họ là ông lớn và ông nhỏ. Ông nhỏ gần bảy mươi tuổi, gầy gò chậm chạp, dáng vẻ như bất cứ lúc nào cũng có thể co về trong tử cung của mẹ. Ông chiếm ít chỗ quá, thoáng không để ý một cái là tìm mãi chẳng thấy đâu. Ông đã thoái hóa đến mức trở thành phế vật, cả ngày chỉ ăn uống qua loa, chuyên tâm chờ chết.

Ông nhỏ là chồng đầu của bà, hơn bà hai mươi tuổi, khi bà còn trẻ không có cơm ăn nên được ông nhỏ nhận nuôi. Khi bà bốn mươi tuổi vẫn còn phây phây thì ông nhỏ đã già, da dẻ đồi mồi như quả chuối, ban ngày chẳng nuôi nổi vợ, ban đêm cũng chẳng thỏa mãn được bà. Hai người chẳng có con cái, đương nhiên trong lòng đều lo sợ, dù sao cũng vẫn phải mặt dày sống với nhau rất nhiều năm nữa. Thế là bà liền dắt theo chồng cưới một gã đàn ông độc thân hơn bốn mươi tuổi khác. Điều kiện cưới là gã phải nuôi cả chồng cũ của bà cho đến tận lúc chết. Con người ai chẳng có chút lương tâm? Coi chồng nhỏ như bố để phụng dưỡng đến chết cũng là chuyện nên làm. Người chồng thứ hai khảng khái chấp nhận, “quả chuối già” đã không còn làm ăn được gì nữa, mà kể cả có “động đậy” được thì ông cũng sẵn sàng nhường vài đêm. Độc chiếm một người phụ nữ phỏng có nghĩa lý gì? Chẳng lẽ gặp ai cũng phải bắc loa lên tuyên bố, con của vợ tao là con ruột của tao đấy, huyết thống hoàn toàn không pha trộn hay sao? Cũng có phải hoàng tộc gì đâu mà sợ huyết thống pha trộn mất cả giang sơn, con của ai mà chẳng phải ở trên ngọn núi này ăn cơm, làm việc như nhau? Ra vẻ ta đây quan trọng như thế, chỉ tổ người ta cười cho. Ở trên núi Lữ Lương này, hư vinh chẳng để làm gì, ngược lại, cái thứ đó cực kỳ vô vị.

Hai người đàn ông chung sống rất vui vẻ, những buổi chiều hoàng hôn nhàn rỗi, mỗi người hút một điếu thuốc lá giấy rởm, ngồi dưới cây táo tán gẫu, ánh tà dương màu vàng bao phủ lấy họ, khiến gương mặt cả hai đều trở nên mờ ảo, hai tấm lưng lom khom, mỗi người một điếu thuốc, trông chẳng khác nào hai anh em thân thiết.

Người thôn Thủy Noãn không sĩ diện mà rất thực tế, anh trai mất rồi thì chẳng lẽ lại để mặc vợ anh chết đói, hay là ép cô ta đi bán dâm? Chồng trước của vợ già yếu thì chẳng lẽ lại quẳng ông ta đi như một của nợ? Cứu một mạng người còn hơn xây bảy tháp Phù Đồ. Dù cuộc sống vất vả đến đâu thì mọi người cứu giúp lẫn nhau, cùng nhau sống tiếp vẫn có ý nghĩa hơn là sống cô độc một mình. Huống hồ cứu người là tích công đức, cho nên ở thôn Thủy Noãn ai nấy đều cảm thấy mình nhân hậu như Phật Đà sáng lấp lánh, không chỉ có kiếp này, mà chắc chắn sẽ tu được kiếp sau rực rỡ, dù có chết cũng sẽ được lên thiên đường. Họ hoàn toàn tin tưởng vào điều đó. Vì thế, cả thôn Thủy Noãn trở thành một tòa tháp Phù Đồ vĩ đại, đứng sừng sững ở nơi núi cao sâu thẳm cách biệt với cõi đời, một mình tự cung tự cấp.

Họ chẳng những khéo xây dựng quan hệ chung sống, mà còn phát huy tối đa tài năng của những người nghèo. Núi Lữ Lương thiếu nước, người trong thôn Thủy Noãn đến nay vẫn toàn dùng nước giếng, nước đối với họ quý như xăng. Không có nước đương nhiên cũng không có cá, thế nên đối với người thôn Thủy Noãn, cá chẳng khác nào cống phẩm. Gặp dịp đám ma đám cưới cần dâng cúng cá thì người ta dâng cá gỗ, để nhìn thôi là được. Hai năm trước Vương Ngũ đi làm thuê bên ngoài, khi về mang theo mấy con cá nheo sống. Hắn giới thiệu với bà con rằng thịt cá nheo cực kỳ béo ngậy thơm ngon, vừa nói vừa chảy nước dãi. Bà con nghi ngờ, chả lẽ lại còn ngon hơn cả thịt lợn? Vương Ngũ chẳng thèm đáp, đúng là cái đám nhà quê chỉ biết có mỗi thịt lợn, không biết rằng trên đời này còn có thịt cá. Hắn nói cá nheo chẳng những thơm ngon mà còn cực kỳ dễ nuôi, dễ hơn nuôi lợn nhiều, lại còn chuyên ăn các loại phân và rác thải. Hắn nghĩ, nếu nuôi chúng trong hố phân thì thật chẳng khác nào bón phân loại mạnh cho hoa màu, chưa đầy một năm chúng sẽ to như con bò, đến Tết mổ con cá béo ngậy ra ăn, chẳng những tiết kiệm tiền thịt lợn, lại còn đỡ cả năm tiền thức ăn cho lợn.

Mọi người đều bị viễn cảnh huy hoàng ấy mê hoặc, tiền hô hậu ủng đến xem hố phân nhà Vương Ngũ, sau đó đem mấy con cá nheo thả xuống bể hôi thối nồng nặc ấy, bộ dạng thành khẩn còn hơn cả thỉnh Bồ-tát lên trời. Nhà vệ sinh trong thôn đều lộ thiên, hố phân cũng quanh năm phơi dưới ánh mặt trời, vì thế muốn nuôi cá cũng tiện, đứng cạnh hố phân là có thể thấy cá bơi đi bơi lại dưới đó. Một cơn gió thoảng qua, ai nấy đều hí hửng, cảm thấy mình cũng tao nhã như là đang đứng bên hồ ngắm cá.

Giống cá nheo này thả xuống hố phân liền như hổ thêm cánh, mới qua mấy ngày đã lớn phổng lên, sau một năm quả nhiên to như con lợn, toàn thân lại trơn láng, một người không vớt lên nổi. Vương Ngũ bèn gọi mấy người đàn ông đến giúp vớt những con to từ dưới bể lên, sau đó rửa sạch, mổ ra, bắc củi nhóm lửa, hầm một nồi thịt cá lớn mời bà con trong thôn cùng ăn. Bà con ăn tiệc cá xong tấm tắc khen là lạ, loài cá này tuy ăn phân trong bể phốt, nhưng ngũ tạng không hề có mùi hôi thối, thịt cá tươi ngon béo ngậy, đúng là của ngon trời cho. Thí nghiệm của Vương Ngũ thành công rực rỡ, hắn liền được phong là anh hùng của thôn Thủy Noãn. Kế đó, Vương Ngũ lại tập trung công sức nuôi cá giống trong hố phân, sau đó cứ cách dăm ba ngày lại đem mấy con cá béo tặng cho hàng xóm. Thế là hố phân nhà Vương Ngũ quanh năm nuôi mấy con cá nheo to như thủy quái. Mỗi khi có khách từ xa đến, hắn lại vớt một con lên mổ ra đãi khách, cuối cùng cũng bỏ được món cá gỗ tổ tiên lưu truyền suốt mấy đời.

Bữa tiệc thịnh soạn đến thế khiến những người dưới núi cũng phải kính nể.

Hôm nay, “quả chuối già” nhà Lý Tứ nhắm mắt qua đời. Ông cụ già lắm rồi, chỉ còn thiếu mỗi bước nằm xuống đất nữa thôi. Chỉ cần nằm xuống, lão sẽ giống như một hạt giống được gieo vào lòng đất, chờ đợi đến lúc nảy mầm bắt rễ sẽ lại là một đứa trẻ sơ sinh bập bẹ học nói từ đầu. Mọi người đều lấy làm mừng. Có thể chết vì già là cực kỳ có phúc, nghìn vàng cũng không mua được. Vợ lão đưa người đưa cho trót, cực kỳ có phong thái hiệp nghĩa, mặc dù chẳng rơi lấy một giọt nước mắt, nhưng vẫn chải đầu thay áo thọ cho người đã chết, còn thoa hai dấu son lên mặt lão, để cho người chết trông có vẻ tươi tắn, cải lão hoàn đồng. Xong xuôi, bà lại nhét một nắm cơm vào miệng đã cứng ngắc của người chết, để lão có xuống đất cũng không chết đói.

Chồng hiện tại của bà thì chuẩn bị tươm tất quan tài cho lão, trên quan tài vẽ chi chít những núi non, chim cò, có cả hoa cúc, hoa lan, hoa đào, trông rực rỡ đầy sức sống, như thể người nằm vào trong đó không phải để chôn xuống đất, mà để đường hoàng bắt đầu hưởng thụ. Người thôn Thủy Noãn thích vẽ quan tài sặc sỡ bởi cuộc sống thường ngày quá đỗi khô khan cằn cỗi. Ở trong cái thung lũng trên cao nguyên đất vàng này, nguyên nửa năm là mùa đông, đến nỗi khi mùa xuân đến, nhìn thấy ngọn cỏ nảy mầm người ta mừng đến phát khóc, cảm giác như cuối cùng cũng sống lại rồi. Những thứ khi còn sống không nhìn thấy được, chỉ đành mang hết vào trong quan tài mà thôi. Người sống đem những thứ màu mè sặc sỡ chôn cùng người chết, rồi lại nhìn chúng bị vùi dưới lớp đất vàng.

Sau khi những mảng màu cuối cùng cũng bị lớp đất vàng nuốt trọn, những người còn sống chân thành mỉm cười từ trong thâm tâm, như thể cuối cùng cũng được yên lòng khi thấy đứa con gái lấy chồng xa của mình đang được hưởng phúc.

Ngày thường trong thôn chẳng có gì giải trí, thế nên mỗi khi có ma chay cưới hỏi thì đó chính là ngày hội của tất cả già trẻ trong thôn. Trong cỗ đám ma, người cũng chôn rồi, vàng mã cũng đốt rồi, thịt mỡ với bánh bột cũng ăn rồi, bà con trong thôn đều vác cái bụng no nê thỏa mãn ra về, lặng lẽ chờ đợi hôm sau đi ngoài ra thứ phân có mùi thịt mỡ. Thứ mùi đó khiến họ cực kỳ hả hê, như thể nhà nào nhà nấy đều vừa mới nuốt chửng và tiêu hóa cả một con lợn béo, cảm giác thật là sung túc.

Lúc này trời tối, trăng đã lên, mảnh trăng vàng treo trên đỉnh núi tối đen. Bà Bạch sống trên sườn núi chợt phát hiện ra thằng cháu A Đức lại không ở trong sân. Nhất định thằng ranh lại chuồn ra nghĩa địa rồi. Nó cứ như một cái đinh, động tí lại cắm xuống nghĩa địa. A Đức năm nay năm tuổi, khi mới sinh ra phần đầu bị chèn ép nên thành ra một đứa dở hơi. Ngày thường người ta hỏi gì nó đều như không nghe thấy, cái lưỡi đầy dãi thè ra, chốc chốc lại liếm môi. Nó ngoan cố và im lặng như một cái lô cốt, vài câu mắng mỏ hoàn toàn chẳng ảnh hưởng gì đến nó. Nhưng chỉ cần trông thấy có người được đem chôn là hai mắt thằng bé lập tức phát sáng. Nhà ai làm đám tang, khiêng quan tài ra nghĩa địa, nó nhất định là người đầu tiên đánh hơi thấy rồi đi theo, dọc đường dán mắt nhìn như một chú ong chăm chỉ, theo ra nghĩa địa rồi vẫn tiếp tục quan sát đến khi quan tài được chôn xuống mới thôi. Đợi khi mọi người về hết, nó vẫn cắm rễ ở đó không chịu đi, yên lặng như một tấm bia đá trước nấm mồ, là khán giả trung thành nhất của tất cả các đám tang. Mỗi khi đứng giữa đám đông, nó đều mở to mắt, nghển cổ, miệng hơi hé, cái lưỡi màu hồng thè ra như một con chó, quan sát từng chi tiết trong đám tang mà không hề chớp mắt. Vẻ mặt nó tham lam, cuồng nhiệt theo dõi quá trình chôn cất người chết, giống như một đứa học việc bắt được thời cơ nhìn trộm thầy dạy, dốc lòng muốn nhanh chóng học được tuyệt kỹ.

Bà Bạch cầm đèn pin đi xuống chân núi. Thôn trang nằm ở ngọn núi phía Đông, còn nghĩa địa nằm ở ngọn núi phía Tây đối diện, mặc dù đứng trước cửa nhà có thể trông thấy từng đống đất, giống như chỉ cần cánh tay dài một chút giơ ra liền có thể bốc từng nấm mồ lên như bốc bánh bao, nhưng thực ra khoảng cách rất xa, lại không thể bay qua đó được, nên bà chỉ đành lết từng bước xuống chân núi. Giữa hai ngọn núi phía Đông và phía Tây có một con đường, đó là cầu nối duy nhất giữa thôn Thủy Noãn và thế giới bên ngoài. Bà đi qua con đường, lại từng bước leo lên ngọn núi đối diện. Mấy năm nay bà ngày càng phát tướng, đi một bước mà thịt mỡ trên người phải nảy lên nảy xuống đến ba lần.

Ngoài nghĩa địa im lặng như tờ, những nấm mồ không có bia phơi dưới ánh trăng trông càng thê lương, giống như một đám trẻ mồ côi không ai nuôi nấng đang tụ tập ở đây, chen vai thích cánh, giữ ấm cho nhau. Bóng thôn làng phía xa màu đen lặng lẽ đung đưa, như thể rất nhiều những bóng ma đang ẩn nấp trong đó nhìn trộm ra bên ngoài. Dù là một người nổi tiếng ghê gớm, bà Bạch cũng bất giác thấy sợ, cầm đèn pin vạch một nhát vào bóng đen, ở đó tách ra một đường, đất vàng và cây xanh như lòng ruột đổ ào từ trong ra. Bà đi mấy bước trong nghĩa địa, lại múa đèn pin thêm vài nhát, quả nhiên, sau vài lần thì cái bóng bé nhỏ của A Đức đã được ánh đèn chiếu tới. A Đức đứng lặng trước một phần mộ giống như một con ngựa đá, bị ánh đèn rọi vào cũng không hề động đậy. Nó quay lưng lại phía bà, cái bóng rung rung, trông như một người thủ môn đứng ở bờ vực của ngày tận thế, trên người toát ra sự ma quái như từ một thế giới khác.

Bà bước tới sau lưng nó, nói: “A Đức, về nhà thôi, đến giờ ăn cơm rồi.”

A Đức nhìn nấm mồ dèn dẹt mà thở dài rầu rĩ, bỗng nhiên ngập ngừng mở miệng hỏi: “Bà ơi, bà nói xem mẹ cháu ở dưới kia đã ăn cơm chưa?” Dưới nấm mồ dèn dẹt trước mắt là mẹ của A Đức, một thiếu phụ chưa đến ba mươi tuổi. Vào một ngày của năm ngoái chị ta bỗng nhiên đau bụng quằn quại, sau đó bắt đầu nôn mửa, chưa được một hôm thì chết. Khi đó A Đức mới bốn tuổi, nó tận mắt nhìn mẹ mình được đặt vào trong quan tài, sau đó quan tài được chôn xuống đất tựa như một hạt giống. Khi đó nó chẳng khóc nhiều lắm, nhưng chính từ lúc đó, A Đức bắt đầu tỏ ra say mê tất cả các đám tang, nó như một mục sư chăm chỉ thành kính đưa hết người chết này đến người chết khác trong thôn ra nghĩa địa. Mọi người về hết rồi nó vẫn chưa chịu bỏ đi, như thể muốn cố chấp làm bạn với những thi thể dưới đất kia, nói chuyện với họ, quan tâm xem họ đã ăn cơm chưa. Dù trong những ngày không có ai chết để đem chôn, nó cũng lang thang cả ngày ngoài nghĩa địa, giống như một linh hồn thường xuyên sinh sống ở đây, dường như đây mới là công viên của nó, còn những chỗ khác đều chẳng phải trần gian. Người ta nói với bà Bạch: “A Đức nhà bà có phải bị ma nhập không, một đứa trẻ con sao cứ cả ngày ra nghĩa địa chơi thế? Nó không sợ à?”

Bà Bạch giơ đèn pin lên, cau mày nhìn đứa trẻ trước mắt. A Đức thấy không được trả lời, liền chầm chậm quay lại, nhìn thẳng vào đèn pin. Khuôn mặt ngu ngơ của nó giống như cánh diều phát sáng đung đưa trong màn đêm, thấy bà không nói gì, nó lại len lén dò hỏi một câu: “Bà ơi... mẹ cháu ở dưới kia đã ăn cơm chưa?”

Từ sau khi mẹ A Đức chết, mỗi lần ăn cơm nó đều phải hỏi: “Mẹ cháu ở đó đã ăn cơm chưa?” Nó không để tâm đến sự tồn tại của bất kỳ ai khác, chỉ để tâm đến người mẹ đã chết. Người chết chưa ăn thì nó cũng không nuốt nổi. Nó thực sự không nuốt nổi.

Một lần, bà Bạch đập bát cơm xuống bàn “bộp” một cái, gắt: “Mẹ mày chết rồi, người chết thì làm sao ăn cơm được?”

“Thế nào là chít (chết)?”

“Chết tức là nhắm mắt nằm ra đấy, không ăn cơm được, không nói chuyện được, chẳng ai thấy nó, nó cũng chẳng thấy ai hết”

A Đức đột nhiên giãy nảy lên: “Cháu nhìn thấy mẹ mà, cháu thấy mẹ ngủ ở đó, cháu biết mẹ đang ngủ dưới đất”

Bà Bạch tóm lấy A Đức đang giãy giụa, tét mấy cái thật mạnh vào mông nó: “Xem sau này mày còn dám hỏi chuyện người chết nữa không này!” Bà Bạch là một bà già khỏe mạnh thô lỗ, chồng bà chết từ khi còn trẻ, từ đó bà liền trở thành góa phụ. Không phải người phụ nữ nào cũng tốt số được anh em độc thân của chồng thừa kế. Mặc dù nhiều năm chẳng được đàn ông sờ mó, nhưng nhờ có dưỡng chất từ khoai tây, mông và ngực bà vẫn cứ chảy ra mãi, lủng lẳng toàn thịt, đối với một bà góa mà nói, thật phí cả bộ ngực với cặp mông thế này. Bà khỏe như trâu, một mình khai khẩn mười tám bậc thang ruộng trên núi, chỉ trồng du mạch và khoai tây mà nuôi được một đứa con trai. Những lúc làm việc, bà cứ luôn băn khoăn không biết phải cất bộ ngực khủng của mình vào đâu, bởi chúng thật sự quá khổ, hết sức vướng chân vướng tay mỗi khi bà làm việc.

Kể ra thì bà cũng có người tình, có điều lão đàn ông đó đã gầy giơ xương lại còn bị lao phổi, buổi tối lên giường hoàn toàn chẳng khống chế được bà, chỉ đành mặc bà tự do thể hiện. Chẳng những thế, từ sau khi ngủ với nhau, bà lại còn phải làm luôn cả phần ruộng của lão, thành ra bà thầu hết từ trong ra ngoài cho cái lão khỉ gió ấy. Đã ngủ với lão, lại còn phải làm ruộng cho lão. Cứ thế, một thời gian sau, bà nghe đàn ông trong thôn bóng gió sau lưng rằng bà vừa dễ xxx lại vừa tháo vát như một tên đàn ông. Hiển nhiên những lời đó đều xuất phát từ gã lao phổi kia, giờ đã như hùm như hổ lan truyền khắp cả quả núi. Bà hận mình sao lại có mắt như mù, chỉ muốn đạp gã lao phổi một cái bay xuống chân núi. Từ đó, bà Bạch yên phận ở góa, đoạn tuyệt ý nghĩ ngủ với đàn ông. Bà nó chứ, có ngủ với lợn cũng chẳng đến nỗi ngoảnh đi ngoảnh lại đã bị bán đứng như thế.

Con trai bà khó khăn lắm mới cưới được vợ, đẻ đứa con, bà thấy mình cuối cùng cũng chờ đợi được đến lúc lên chức mẹ chồng rồi, còn chưa kịp sung sướng được ngày nào, con dâu đã lại chết sớm. Con trai ba mươi tuổi lại trở về trạng thái độc thân, suốt ngày bứt rứt, nhìn thấy con lợn cái chạy qua hai mắt cũng sáng rực lên. Để lại thằng cháu cũng thật đáng thương, đã mồ côi mẹ từ nhỏ, đầu óc lại còn dở hơi, càng nhìn A Đức ngây ngô, bà Bạch càng đau lòng. Nhưng bà không có thói quen khóc, từ khi còn trẻ bà đã cai rồi, bởi vì khóc cũng có ích gì đâu. Bất kỳ kỹ năng nào để lâu không dùng cũng mai một, những lúc buồn bà chỉ biết nuốt nước mắt vào trong lòng, người ngoài đừng hòng thấy bà chảy một giọt nước mắt. Bà càng thoăn thoắt làm mọi việc để che giấu nỗi đau, ví như lúc này bà đang tóm lấy A Đức đánh cho nó một trận.

Sau vài lần bị đánh, A Đức quả nhiên không còn thường xuyên hỏi như trước nữa, nhưng nó vẫn chưa chịu thôi, suốt ngày quan sát sắc mặt bà, tìm kiếm dù chỉ một chút vui vẻ trên khuôn mặt rồi lại thừa cơ hỏi. Cứ cách vài ngày, cầm bát cơm lên là A Đức lại thuận miệng vòng qua chủ đề này, để hỏi xem mẹ nó nằm dưới đất có cơm ăn hay không. Bà Bạch chặn chỗ này, nó lại lòi ra chỗ khác, thực sự không sao ngăn nổi. Mỗi lúc như vậy, nó chẳng khác nào tàu hỏa trên đường ray, cứ thế lăn bánh không sao dừng lại được, cho dù biết nên dừng ở trạm nào, nó cũng không thể dừng nổi. Cuối cùng, nó luôn luôn dùng một cách chính xác tuyệt đối, nghiêm trang thành kính lăn bánh vào trạm xe cuối cùng, đó chính là, mẹ nó dưới đất rốt cuộc có bị đói không.

Bà nhận ra rằng, nếu có lối vào thích hợp, nó nhất định sẽ chui xuống đất đi cơm cho mẹ nó. Bất kể ra sao, nỗi đau của thằng ngốc này cũng khiến bà có phần kinh ngạc. Bà nhìn khuôn mặt đần độn và cái lưỡi thè lè của nó, bỗng cảm thấy thực ra mình hoàn toàn không hiểu thằng bé trước mắt. Một năm trước, khi mẹ nó mất, nó cũng không khóc mà chỉ ngây ra như khúc gỗ. Bà không thể ngờ nỗi đau của nó lại kéo dài đến tận năm thứ hai, hơn nữa dù đã đến năm thứ hai vẫn không hề có chút dấu hiệu nguôi ngoai nào. Nó chẳng những không hề quên hình bóng người mẹ, mà ngược lại, mẹ giống như một bóng đèn cắm rễ trong cơ thể nó, thi thoảng lại tự mình phát sáng. Nhìn vào mắt thằng bé bà có thể nhìn thấy ánh sáng ma quái mà người đàn bà đã chết kia phát ra, giống như ánh lửa ma quỷ duy nhất thắp sáng giữa đồng hoang. Bà lo lắng nhìn thằng bé, nó đang bất chấp tất cả để chạy về phía ánh lửa đó. Nó khao khát được lại gần ánh lửa đó biết bao.

Lúc này, đứng ở nghĩa địa, A Đức lại trực tiếp hỏi vấn đề mà nó đã hỏi cả trăm lần không chán kia, cảm giác chẳng khác nào một ghềnh đá vừa cứng rắn vừa đáng sợ, dường như chỉ cần ra đến biển là sẽ va vào. Mặc dù nó rất cẩn thận, khép nép khi đưa ra câu hỏi đó, nhưng bà Bạch vẫn nổi giận đùng đùng, tóm lấy vạt áo, nhấc nó lên như nhấc một cái chai, lắc vài cái như dốc hết nước bên trong ra, sau đó quát: “Đi về nhà ngay!” Nói đoạn bà liền vác A Đức rời khỏi nghĩa địa.

Bà lấm lét nhìn xem xung quanh có ai không, nửa đêm nửa hôm còn loanh quanh ngoài nghĩa địa thế này, không khéo người ta lại tưởng hai bà cháu rủ nhau đi trộm mộ.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 31 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.