Hai năm trôi qua như thể hai ngày. Dần dần, cô trở nên thích thú với những thứ không có sinh mệnh, cô mua rất nhiều những chiếc cốc bằng nhựa, sứ, thủy tinh, inox nhưng hoàn toàn không hề dùng đến, bày la liệt trên bậu cửa sổ. Khi ánh mặt trời chiếu qua cửa, những chiếc cốc cao thấp lớn nhỏ khác nhau đều tắm trong nắng vàng, giống như những pho tượng đất nung tỏa ra ánh sáng ấm áp. Ánh nắng xuyên qua mấy chiếc cốc thủy tinh, phản chiếu lấp lánh trên bậu cửa sổ. Khi ánh nắng chuyển động, những cái bóng như đôi chân của nắng, biến đổi kỳ ảo theo ánh nắng, biến thành đủ loại hình dáng kỳ lạ. Khi nắng dần tắt, chúng cũng dần chết đi như những loài thực vật.
Cô thường đứng rất lâu bên cửa sổ mỗi khi có nắng, lặng lẽ quan sát sự thay đổi của ánh sáng. Có lúc cô sẽ rót đầy nước vào một trong những chiếc cốc rồi cắm vào đó một bông hoa dại hái trên núi. Vào mùa đông, cô sẽ bóc lõi cải thảo cắm vào cốc, đợi nó nở ra những bông hoa cải thảo trống như hạt gạo.
Mỗi ngày cô đều lau dọn sạch sẽ mấy món đồ gia dụng trong ký túc xá, quét và lau sàn nhà xi măng một lượt, cô còn yêu thích cả việc phơi và gấp quần áo. Chỉ cần trời nắng đẹp, cô sẽ phơi quần áo lên dây thép trước cửa nhà hang, lôi cả quần áo đã lâu không mặc từ trong rương ra, phơi thành một dải đủ màu sặc sỡ, mãi cho đến khi mặt trời ngả về tây, quần áo đều hút no ánh mặt trời như những miếng bọt biển, cô mới thu chúng lại như người ta thu hoạch hoa màu. Cất quần áo vào rồi cô lại ngồi gấp cẩn thận một lượt, sau đó nhét vào trong rương. Một thời gian sau, cô lại lôi ra phơi một lượt, gấp một lượt, chẳng khác nào một nông dân đều đặn tiến hành trồng trọt theo từng thời vụ trong năm.
Có lúc khi phơi quần áo, cô sẽ nheo mắt nhìn những chiếc váy đỏ, áo sơ mi, áo cánh dơi, áo gió trên dây phơi, tuy chỉ là những bộ từng mặc từ sáu bảy năm trước, nhưng bây giờ trông chúng đều như đồ tuẫn táng mới được khai quật từ hầm mộ lên. Cảm giác đó khiến cô có phần ghê sợ, nhưng trong khoảng thời gian sáu bảy năm ấy, phải chăng cô đã chết một lần? Bất kể thế nào, những món đồ đó cô đều không bao giờ mặc nữa, cùng lắm chỉ đem chúng ra phơi rồi gấp lại, để ở chỗ tối tăm không có ánh mặt trời, không cho phép chúng được lộ diện. Bây giờ cô ăn mặc như một cái cây mùa thu khẳng khiu, chẳng có lấy một phiến lá, chỉ còn trơ ra những cành. Cứ đến mùa hè là cô mặc một chiếc áo sơ mi sợi tổng hợp, một chiếc quần legging, mùa đông thì khoác áo vest màu nâu, chiếc quần ống loe đã co ngắn lại một đoạn cô cũng mặc kệ, vẫn cứ thế mặc tiếp, ống loe dài đến mắt cá chân, lúc bước đi chẳng khác nào dưới chân mọc ra hai đóa hoa loa kèn.
Cô đã ngừng viết thư từ lâu, nhưng vẫn làm thơ, đại khái cũng là do thói quen, không viết sẽ càng cô đơn hơn, nhưng dù có viết cô cũng không đăng nữa, mà chỉ để cho chính mình. Đêm khuya, cô một mình nằm bò dưới bóng đèn hút thuốc làm thơ. Có cô giáo ban đêm dậy đi vệ sinh ngang qua cửa sổ của cô, sẽ thấy từ trong nhà phát ra tiếng kịch Tấn, cô đang nghe kịch Tấn qua đài bán dẫn. Có lúc còn có thể nhìn qua khe cửa sổ, thấy cô vừa hút thuốc vừa lắc lư đầu như đang đánh nhịp. Cô khiến họ cảm thấy sợ, dường như cứ đến tối cô sẽ trút bỏ lớp da người, biến thành một bà già dựa vào kịch Tấn để sống qua ngày.
Năm nay, nhà văn hóa huyện Phương Sơn có một người đàn ông tên là Dư Hữu Sinh không biết từ đâu nghe được là Lý Lâm Yến biết làm thơ, liền chạy đến tận trường Trung học Phương Sơn để tìm cô. Thời buổi này không ngờ vẫn còn có fan văn học chạy đến tìm cô, đúng là chuyện hiếm. Dư Hữu Sinh đã hơn ba mươi tuổi mà vẫn chưa lấy vợ, theo như anh ta nói thì là không chịu kết hôn vì sự nghiệp thơ ca, sợ tính trong sáng của thơ ca sẽ bị những chuyện vặt vãnh của thế tục bào mòn và vùi lấp. Nguyên nhân thực sự vì sao anh ta không chịu lấy vợ đương nhiên chẳng ai biết được, nhưng trong đó có một nguyên nhân đại khái là vì anh ta không thiếu phụ nữ. Ở cái thời mà khắp nơi đều có những nữ thanh niên yêu văn học, một người đàn ông biết làm thơ muốn thả thính mấy cô gái như thế là rất dễ dàng. Ngay cả khi đi xem mắt, các cô gái cũng đều không quên hỏi một câu “Anh có biết làm thơ không?”, giống như các cô gái bây giờ đều hỏi “Anh có nhà có xe có sổ tiết kiệm sáu con số trở lên không?”. Môi trường sinh thái thay đổi, các sinh vật chỉ còn cách tiến hóa theo và cạnh tranh sinh tồn. Nhưng dù ở thời đại nào, chỉ cần đàn ông không thiếu phụ nữ và không thiếu tự do, vậy thì anh ta sẽ không vội vã lấy vợ làm gì.
Thoát khỏi cái bóng của nhà văn Hoa kiều Mỹ, khi nhìn những nhà thơ khác, Lý Lâm Yến đều có cảm giác từng trải, giống như một người cứ tưởng rằng đã từng ăn tiệc rồi làm sao có thể quay về ăn cơm canh đạm bạc được nữa. Lần đầu tiên khi Dư Hữu Sinh đến ký túc xá tìm cô, cô ngồi đối diện anh ta, dẩu mỏ ngậm thuốc lạnh lùng đưa mắt nhìn, nghe anh ta nói thao thao bất tuyệt về thơ ca và văn học. Cô tết mái tóc bết dầu thành một bím ở phía sau, trên người mặc chiếc áo sơ mi sợi tổng hợp của đàn ông, ngồi đó hút hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác. Cô nghĩ như thế chắc là đủ để anh ta sợ chạy mất dép rồi, nhưng chỉ vài ngày sau, Dư Hữu Sinh lại lò dò đến tìm cô. Anh ta cho rằng, nữ thi nhân như cô là độc nhất vô nhị ở trong huyện Phương Sơn, ngoài cô ra chẳng còn ai khác nữa, anh ta cho rằng sau bao vất vả cuối cùng đã tìm được tri âm. Anh ta đến tìm tri âm, sao cô có thể không tiếp đón?
Kỳ thực, trong khoảng thời gian bảy tám năm nay, Lý Lâm Yến vẫn luôn kiểm điểm bản thân về nguồn gốc câu chuyện với nhà văn Hoa kiều Mỹ. Sau cùng cô đã nghĩ kỹ, nguồn gốc câu chuyện thực ra là cô có phần sùng bái hắn. Cô đã đánh giá hắn quá cao, cô cam tâm tình nguyện ngửa mặt lên nhìn hắn, coi hắn như một pho tượng trong chùa để cúng bái. Cô tự giành lấy vị trí thấp kém, vậy thì còn ai có thể kéo cô lên? Cho dù sau cùng người ta đã lừa cô, vứt bỏ cô, thì thực ra cũng đều là do cô tự chuốc lấy, cô làm sao nói ra được? Cô có thể chỉ trích hắn sao? Kẻ ngốc chịu thiệt, nỗi sỉ nhục sau khi liều thuốc tê lừa đảo qua đi, hai nỗi đau hoàn toàn khác biệt ấy không ngờ lại đồng thời xuất hiện trong cuộc đời cô. Dù có là như vậy, cô cũng chỉ có thể nuốt chửng tất cả, biết không tiêu hóa được vẫn phải nuốt, tuyệt đối không thể để người khác nhìn thấy. Ngoại trừ việc thêu dệt cô thành một truyện cười lưu truyền từ đời này sang đời khác, họ còn có thể làm được gì?
Vì đã từng chịu thiệt một lần như thế, nên khi nhìn thấy một người đàn ông khác, điều mà cô sợ nhất, kiêng kỵ nhất chính là đánh giá cao anh ta. Khi gặp bất kỳ một người đàn ông nào khác, cô gần như đều bất giác, không kiềm chế được mà loại bỏ sự quyến rũ của anh ta, gột bỏ hết tất cả những lớp vỏ giả tạo, biến anh ta trở lại thành một người đàn ông tầm thường rồi hẵng nói chuyện. Khi nhìn thấy Dư Hữu Sinh, cảm giác của cô chính là như thế. Anh ta đừng hòng đem dăm ba bài thơ ra dọa dẫm hay là mê hoặc cô, lừa dối cô, bất kể thơ của anh ta có hay đến đâu, có là Byron tái thế đi chăng nữa, cô cũng tuyệt đối không đánh giá cao anh ta dù chỉ là một chút, tuyệt đối không.
Cô nhìn anh ta một cách bình đẳng, điều đó khiến cô cảm thấy thoải mái trong lòng, như thể đây cũng coi như là một sự trả thù đối với gã nhà văn Hoa kiều Mỹ. Cuối tuần nào anh ta cũng đều đặn đến tìm cô để bàn luận thơ ca, văn học. Anh ta ngồi đó nói với cô thao thao bất tuyệt, dường như từ khi sinh ra cái miệng của anh ta vẫn luôn bị giam cầm, khó khăn lắm mới được giải thoát nên cực kỳ thèm khát được nói chuyện. Thực ra cô cũng có cảm giác thèm khát đó, trong suốt bảy tám năm nay ở trường Trung học Phương Sơn, cô rất ít khi nói chuyện với người khác, mọi người cũng rất ít khi nói chuyện với cô. Mấy năm đầu tiên cô còn viết thư và nói chuyện với cái bóng trong thư, nhưng về sau không viết thư nữa, thành ra cô chẳng còn cơ hội nói chuyện. Cô mới thực sự giống như bị giam cầm, quanh năm suốt tháng chẳng ai nói với cô một câu tử tế, cứ mở miệng ra là hỏi: “Bạn trai ở nước ngoài của cô đâu? Vẫn chưa đến đón cô à?” Cô chỉ hận không thể tạt axit vào mặt kẻ đang nói đó, không cười nhạo người khác thì chết chắc? Suốt ngày xát muối vào vết thương của người ta, có lẽ đó là thú vui mà họ chưa từng được trải nghiệm, chắc cảm giác rất đã. Ngoài giờ lên lớp, cô gần như không mở miệng, nhưng khi một mình trốn trong ký túc xá, cô sẽ không ngừng tự nói chuyện, hỏi han mình hôm nay ăn gì, sau đó lại tự trả lời, cơm rang nhé, dù sao cũng chẳng chết đói được. Đã mấy năm nay cô không chịu tự gói cho mình dù chỉ một chiếc sủi cảo.
Bây giờ tự nhiên có một con người bằng xương bằng thịt ngồi trước mặt nói chuyện với cô, thực sự khiến cô cảm thấy không quen, giống như người đi lâu dưới trời tuyết rơi đột nhiên bước vào một căn nhà ấm áp. Thực ra cô chẳng hề chú ý nghe anh ta đang nói gì, cô chỉ biết anh ta đang nói về thơ ca và văn học, nhưng chỉ nhiêu đó thôi cũng đủ khiến cô cảm thấy ấm áp, giống như đi ngang qua cánh đồng lúa mạch, biết rõ mình sẽ không xuống gặt, nhưng chỉ cần trong lòng biết đó là lúa mạch đã đủ để cảm thấy vững dạ rằng năm sau sẽ không phải chịu đói. Cô ngồi một chỗ nhìn người đàn ông trước mắt và cái miệng liên lục mấp máy như cá của anh ta, giống như xem một bộ phim câm cũ kỹ quen thuộc, còn bản thân cô là nhân vật nữ chính già nua bước ra từ trong bộ phim đó. Cô có phần bi thương, cảm động, và có chút không cam tâm. Dù sao có người để nói chuyện cũng không có gì xấu.
Vào một buổi đêm khi hai người đã qua lại được một năm, vì nhất thời mải nói chuyện quên cả thời gian, khi nhớ ra đã đến lúc phải về, không biết vì sao ngoài cửa sổ lại bắt đầu mưa. Dư Hữu Sinh đứng trước cửa ra chiều khó xử, không dám nói gì, nếu anh ta chủ động nói “Tối nay anh ở đây nhé?”, vậy có khác nào tự bộc lộ rõ ý đồ của mình? Trong lòng cô hiểu, thế là cô hào phóng dập điếu thuốc rồi nói một câu: “Tối nay anh đừng đi nữa, ở lại chỗ tôi đi.” Dù sao Dư Hữu Sinh cũng là một nhà thơ, quả nhiên anh ta không hề từ chối mà ở lại thật. Trong ký túc xá chỉ có một chiếc giường lò, hai người đương nhiên phải ngủ chung giường. Giả vờ được đến nửa đêm, sau đó họ cuối cùng vẫn ngủ với nhau. Lý Lâm Yến cũng chẳng kháng cự nhiều, ngủ thì ngủ thôi, một người phụ nữ tai tiếng như cô, nếu giữ một người đàn ông lại qua đêm mà không ngủ với nhau, tuyệt đối không có ai tin. Nếu đã chẳng ai tin, chi bằng cô làm thật luôn cho khỏi phí công bọn họ cười nhạo.
Cái đêm với nhà văn Hoa kiều Mỹ đã là chuyện của mười năm về trước, đêm với Dư Hữu Sinh đối với cô mà nói thực ra mới chỉ là đêm thứ hai, giữa hai đêm cách nhau hẳn mười năm, cô từ hai mươi đã sang tuổi ba mươi. Đêm cùng với Dư Hữu Sinh, cô vẫn lóng ngóng, thiếu kinh nghiệm như thế, dường như khoảng thời gian mười năm hoàn toàn là trống rỗng và lãng phí, cô chẳng qua chỉ từ hôm trước bước đến hôm nay, nhưng tâm trạng đã khác biệt hoàn toàn. Cô tự hỏi mình trong suốt mười năm qua rốt cuộc đã làm những gì, câu trả lời của cô là, cô đã làm liệt phụ trên tấm bia trinh tiết suốt mười năm, làm một quả phụ vô nghĩa suốt mười năm. Vì một gã đàn ông không hề tồn tại, cô giữ gìn suốt mười năm. “Ngu xuẩn. Trong bóng tối, cô âm thầm tự chửi mình.
Trong màn đêm, cô không nhìn rõ mặt Dư Hữu Sinh, cô cũng không muốn nhìn rõ anh ta. Cô vẫn nhớ về cái đêm từ mười năm trước, cô và một gã đàn ông vừa khóc vừa hôn nhau, ôm nhau, nói lời sinh ly tử biệt. Hóa ra đúng là sinh ly tử biệt thật. Khi đó cô chỉ hận không thể nói cho cả thế giới biết, cô là một người phụ nữ thế hệ mới, muốn có được cả tình yêu và tự do, chỉ là không có kinh nghiệm làm tình. Cô cũng chỉ hận không thể giả vờ như mình giàu kinh nghiệm lắm, để người khác đừng tưởng cô giả vờ là một người phụ nữ thế hệ mới. Cô tàn nhẫn cười không thành tiếng trong bóng tối, nghiêng đầu sang một bên để anh ta khỏi trông thấy.
Người đàn ông trước mắt cô đương nhiên không thể mang lại cảm giác của mười năm trước, thứ cảm giác đó, bất kể là tốt đẹp, tàn nhẫn hay vô sỉ, cả đời này cũng chỉ có duy nhất một lần đó mà thôi, về sau chẳng bao giờ có lại. Đêm nay, cảm giác của cô rất đơn giản, đó chính là, cô giống như một kẻ mới lần đầu nếm trải hương vị của trái cấm, trong lòng dâng lên niềm vui sướng gần như nhục dục. Cô đã trả thù được gã nhà văn Hoa kiều Mỹ, trả thù được các thầy cô giáo của trường Trung học Phương Sơn, trả thù được chính mình trong suốt mười năm qua. Tất cả bọn họ, bao gồm cả chính cô, cô đều muốn trả thù, cô dồn nén suốt mười năm, giờ đã đến lúc vùng dậy.
Cứ thế, ở tuổi ba mươi, cô công khai sống chung với Dư Hữu Sinh trong ký túc xá dành cho người độc thân của trường Trung học Phương Sơn. Khi cô giống như một người ngoài nhìn Dư Hữu Sinh ra vào trong căn ký túc xá dành cho người độc thân của mình, cô bỗng nghĩ đến một từ: gian dâm. Mà từ này trực tiếp nhắm thẳng vào cô. Cô khoanh hai tay trước ngực, đứng trước cửa sổ cười nhạt, thế thì đã sao? Cũng chỉ đến thế mà thôi. Thứ cô sợ không phải là bản thân từ đó, mà trong khoảng thời gian này, trong quá trình gian dâm và vụng trộm này, cô đã thêm một lần nữa phát hiện ra bản chất bình lặng nhạt nhẽo tầm thường của cuộc sống. Bàn luận thơ ca xong chẳng lẽ không phải ăn cơm, đi ngủ hay đi vệ sinh? Sớm biết về bản chất chẳng qua cũng chỉ có vậy, cô việc gì phải dùng thời gian mười năm để đi một vòng lớn đến thế? Ban đầu cứ cưới một người đàn ông tầm thường từ sớm, mười năm sau cuộc sống cũng chỉ tầm thường nhạt nhẽo thế này mà thôi. Cô càng cảm thấy mười năm qua mình thực sự quá thiệt thòi.
Cô hối hận trong thời gian mười năm không nên vì một người đàn ông mà phí công giữ gìn như thế, giống như một phạm nhân hối hận ban đầu không nên phạm tội. Thế là, cô bất giác bắt đầu thưởng thức quá trình gian dâm trước mắt, cho dù người đàn ông hiện tại chẳng phải tuýp người cô ưng ý. Dù sao thì anh ta cũng đã giúp cô thoát ra khỏi mười năm gần như ngục tù kia. Cô nhìn quãng thời gian mười năm ấy hoàn toàn ra đi, vĩnh viễn không bao giờ trở lại, thỏa mãn như thể tận mắt chứng kiến kẻ thù đang hấp hối.
Nhưng tất cả cảm giác chẳng qua đều chỉ ngắn ngủi như pháo hoa, sau khoảnh khắc ngắn ngủi sẽ chẳng còn thấy tung tích, mọi thứ hoàn toàn thay đổi và nhanh chóng biến chất. Rất nhanh sau đó, cô lại bắt đầu chán ghét trạng thái này, cô đã ba mươi tuổi rồi, một người phụ nữ ba mươi tuổi cứ thế làm tri âm và nhân tình không công cho một gã đàn ông ư? Qua vài năm nữa thì sao? Anh ta sẽ đi tìm những cô gái trẻ khác để đàm luận thơ ca và tình yêu, còn cô sẽ ở trong căn nhà hang cũ nát này sống một mình đến già ư? Thực ra từ lâu cô đã hiểu, trên thế giới này, cuộc đời đã định sẵn có những người từ khi sinh ra đến lúc chết đi đều phải đơn độc một mình, nhưng cô không hề mong muốn trở thành một trong những người như thế. Theo bản năng, cô muốn trốn tránh, đó chỉ là một thứ bản năng.
Sau khi suy nghĩ như thế, cô liền nghiêm túc dò xét Dư Hữu Sinh thêm một lần nữa, săm soi anh ta như thể đang giải phẫu cơ thể người. Đối với anh ta, cô không hề có cảm giác yêu đương chết đi sống lại, nhưng cô của lúc này đã không cần thứ cảm giác đó nữa. Mẹ kiếp, những thứ đó một đời chỉ có một lần là đủ rồi. Dù sao anh ta cũng là một người đàn ông chưa kết hôn, chẳng lẽ anh ta không muốn có một gia đình hay sao? Huống hồ, cho dù người khác cười nhạo cô ra sao, chẳng phải mỗi cuối tuần Dư Hữu Sinh đều sẽ đến thăm cô bất kể nắng mưa đấy thôi? Dù sao anh ta cũng là một nhà thơ, bất kể lúc nào, có lẽ chỉ có đồng loại mới có thể trân trọng lẫn nhau, vĩnh viễn chỉ có đồng loại mới có thể hòa hợp, mới có thể kết nối ruột thịt, thậm chí huyết mạch tương thông. Cho dù cả thế giới đều không hiểu bạn, chỉ cần có một người hiểu bạn, có lẽ đã đủ rồi. Họ ở bên nhau cũng đã được một năm, những chuyện khác không dám nói, nhưng cô tin giữa hai người vẫn có thứ tình cảm thương mến trân trọng lẫn nhau này. Anh ta kể cũng chẳng có tiền, nhưng dù sao cũng có công ăn việc làm ổn định, nếu đến với nhau vẫn có thể sống qua ngày. Lúc này cô cũng chẳng cần thứ khác, chỉ cần sống qua ngày mà thôi.
Thế là, cô đưa ra đề nghị kết hôn với Dư Hữu Sinh. Anh ta không đồng ý cũng không từ chối, chỉ nói cứ ở bên nhau thêm một thời gian nữa xem sao. Anh ta đã nói đến thế rồi, cô còn có thể nói gì được nữa? Có thế nào thì cũng không thể cầm roi giục anh ta kết hôn được, như là mình đã vã lắm rồi không nhịn được nữa, để lâu sẽ hỏng mất. Cô hơi hối hận bản thân đã mở lời trước, sao có thể sốt ruột một cách lộ liễu như thế được? Khéo anh ta lại coi thường cô.
Cách một thời gian, Dư Hữu Sinh bỗng nhiên phấn khởi chạy đến tìm cô, hóa ra một bài thơ của anh ta đoạt giải nhất cuộc thi sáng tác thơ toàn quốc. Anh ta quỳ trước mặt cô khóc lóc nói, cảm hứng sáng tác bài thơ này của anh ta hoàn toàn đến từ cô, không có cô anh ta chẳng thể nào viết ra bài thơ này. Cô ngồi thừ ra, sợ hãi nhìn anh ta khóc, thơ của anh ta được giải chẳng khiến cô vui vẻ là bao, người trong nghề lúc nào cũng nhìn ra phần thiếu xót của nhau, cô hoàn toàn chẳng thấy thơ anh ta hay đến thế. Điều khiến cô thực sự xúc động và sợ hãi là nước mắt của anh ta, lại một người đàn ông khóc lóc thảm thiết trước mặt cô. Khoảnh khắc đó cô liền nhớ đến gã đàn ông từ mười năm trước, khi đó hắn cũng khóc thế này. Khi người đàn ông đầu tiên khóc trước mặt cô, cô cảm động; khi người đàn ông thứ hai khóc trước mặt cô, cô sợ. Cô bỗng nhiên cười quái dị, nước mắt đàn ông sao mà dễ chảy thế, hình như rơi nước mắt dễ quá, chẳng mất vốn cũng chẳng tốn tiền, cho nên họ cứ tùy nghi mà sử dụng, chẳng cần tiết kiệm phải không?
Cô nhìn Dư Hữu Sinh đang nước mắt giàn giụa, bỗng nhiên cảm thấy có chút bất an, dường như chỉ dựa vào kinh nghiệm từ mười năm trước, cô đã cảm thấy thứ nước mắt này thực ra là một dạng báo hiệu rủi ro. Cô định thần, thừa cơ lại đưa ra yêu cầu kết hôn. Dư Hữu Sinh đang phấn khích, dịch mật tiết ra nhiều, chuyện gì cũng đồng ý, hai người thậm chí còn bắt đầu bàn luận xem lúc nào thì đi đăng ký kết hôn.
Thế nhưng khi họ còn chưa kịp đi đăng ký thì Dư Hữu Sinh bỗng nhiên được điều động lên tỉnh. Chính vì bài thơ được giải thưởng toàn quốc, anh ta được điều đến Liên đoàn Văn học Nghệ thuật cấp tỉnh, chuyển thẳng từ thị xã lên tỉnh. Vừa nghe tin, trong lòng Lý Lâm Yến liền hiểu ra, duyên phận giữa hai người bọn họ thế là hết. Chợt nhớ đến những dự cảm trong lòng từ mấy hôm trước, Lý Lâm Yến không khỏi lạnh sống lưng, như thể bất cẩn chạm vào huyền cơ đen tối nhất trong sinh mệnh, nhưng trên mặt vẫn gượng cười một mình. Quả nhiên, sau khi được điều đi nơi khác, Dư Hữu Sinh không còn nhắc lại chuyện kết hôn với cô nữa, đã mỗi người một nơi rồi thì còn cưới xin nỗi gì, làm thế chẳng phải quá phi thực tế sao? Ban đầu anh ta còn viết thư, thi thoảng gọi điện cho tròn nghĩa vụ, đại khái là để cho yên lòng, dẫu sao thì cũng ngủ không với người ta cả năm trời. Lâu dần, anh ta quả nhiên yên lòng thật.
Thế là bọn họ chia tay trong hòa bình.
Lúc này, Lý Lâm Yến đã ba mươi mốt tuổi, vẫn một mình sống trong căn ký túc xá tồi tàn. Trong số các thầy cô của trường Trung học Phương Sơn cũng không thiếu những người văn hay chữ tốt, có người thiếu chuyện bèn phong cho Lý Lâm Yến danh hiệu “Cái nôi của các nhà văn” sau khi Dư Hữu Sinh bị điều đi nơi khác, để kỷ niệm việc từng có hai đồng chí nhà văn ở bên cạnh cô. Mặc dù bọn họ chẳng hề biết mặt người đàn ông đầu tiên, nhưng chỉ cần anh ta còn sống trong những lời đồn là đủ. Sống trong lời đồn là một dạng tồn tại bền vững không sao xóa bỏ được.