Muối - Sự Hồi Sinh Nơi Sâu Thẳm Vụn Vỡ

Lượt đọc: 194 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
02

❊ ❊ ❊

Khi đó đang là mùa hè, viện điều dưỡng nơi họ ở là một tòa nhà hai tầng kiểu Tây. Lý Lâm Yến ở tầng hai, cửa ban công đang mở, hoa tử vi và hợp hoan nở đầy trước cửa sổ, cành lá gần như muốn vươn vào trong ban công, hương hoa giữa ban đêm tĩnh lặng như nước tràn vào, tỏa khắp cả căn phòng. Rèm cửa sổ màu trắng bị gió thổi căng phồng. Lý Lâm Yến gục trên giường, đầu óc mơ màng. Trong gió đêm và hương hoa, cô cảm thấy mình giống như đang ngồi trên một chiếc thuyền buồm căng gió, không biết trôi về nơi đâu. Đúng lúc đó, cửa ban công khẽ kêu lên một tiếng, rèm cửa sổ đột nhiên được vén lên, một người đàn ông bước ra từ phía sau.

Lý Lâm Yến giật mình, sao lại có người trèo cửa sổ vào đây thế này? Đến khi nhìn lại, cô mới nhận ra người đó chính là nhà văn Hoa kiều Mỹ. Hắn ở ngay tầng dưới, đêm cuối cùng này, hắn giẫm lên cây hợp hoan trước cửa sổ để trèo vào ban công đến bên cạnh cô. Khoảnh khắc đó, Lý Lâm Yến cảm thấy bản thân như đang mơ, giống hệt tình cảnh trong kịch của Shakespeare, một chàng trai vì cô gái mình yêu mà đêm không ngủ được, mang theo đoản kiếm, vượt qua tường thành cao ngất trèo vào khuê phòng của cô. Lý Lâm Yến tròn mắt ngẩn ra nhìn hắn, mãi cho đến khi hắn từng bước tiến đến bên cạnh cô, ôm cô vào lòng. Cô thậm chí không giãy giụa lấy nửa cái, khi hắn hôn cô, cô cũng nhiệt tình hồi đáp, như thể cô đã thành thạo chuyện hôn hít từ lâu. Cô không thể để hắn xem thường mình được, chẳng gì cô cũng biết làm thơ, một nữ thi sĩ thì nên làm gì? Vào một buổi tối thế này thì nên làm gì?

Môi hắn đang hôn cô mà vẫn tìm được kẽ hở để nói chuyện, hắn như thể đang dùng máy đánh chữ gõ một câu thơ không trọn vẹn: “Cô gái của anh... anh yêu em nhiều lắm... anh không nỡ xa em...” Lý Lâm Yến hoàn toàn tan chảy trong vở kịch của Shakespeare, vào hoàn cảnh chân thực lúc này, cô tạm thời biến thành nhân vật nữ chính. Cô như một giọt sương đọng trên lá, toàn tâm toàn ý sống trong khoảnh khắc đó, hoàn toàn quên rằng khoảnh khắc tiếp theo có thể thịt nát xương tan bất cứ lúc nào.

Nhà văn Hoa kiều Mỹ sau khi được thỏa mãn tình dục bèn ôm lấy cô như thể chếnh choáng sau lúc cơm no rượu say. Hai người tiếp tục đàm luận thơ ca, không nói chuyện thơ ca họ sẽ như cá thiếu nước không sao sống nổi. Họ đàm luận về Pushkin, John Keats, Rilke, Dickinson, họ ngạc nhiên vì hóa ra hai người từng đọc nhiều thơ giống nhau đến thế, như thể một vầng trăng khổng lồ soi sáng cho cô và cũng soi sáng cho hắn, xoay một vòng trái đất, họ vẫn sống dưới ánh sáng của cùng một vầng trăng. Đến sau cùng nhà văn Hoa kiều Mỹ nước mắt giàn giụa, thế là lại làm tình thêm lần nữa, nếu không làm tình thì bao tình cảm dạt dào biết thể hiện thế nào? Chẳng còn cách nào khác cả. Nói theo cách của hắn là “vì quá yêu nên chỉ còn cách làm tình”. Thế là cả buổi tối hai người cứ làm tình rồi lại trò chuyện, trò chuyện rồi lại khóc, khóc rồi lại làm tình, quanh đi quẩn lại đến tận khi trời sáng.

Khi tia sáng bình minh đầu tiên ló rạng ngoài cửa sổ, nhà văn Hoa kiều Mỹ cảnh giác bò dậy. Vì sợ người khác nhìn thấy, hắn quyết định quay về theo đường cũ. Hắn bò ra ngoài từ cửa sổ, lại theo cây hợp hoan trèo xuống, quay về phòng riêng. Một người đàn ông hơn bốn mươi tuổi vì một đêm hoan lạc mà phải trèo cây vượt tường, thật chẳng dễ chút nào. Chỉ cần nghĩ kỹ một chút sẽ nhận ra trong chuyện này có gì đó sai sai, nhưng chỉ mỗi Lý Lâm Yến là không cảm thấy vậy. Cô chỉ cảm thấy kỵ sĩ của cô phải mang theo đoản kiếm rời xa cô trước khi trời sáng, chàng trải qua thập tử nhất sinh mới đến thăm cô được một lần, vậy mà họ lại sắp phải rời xa nhau.

Cô ôm chặt hắn như sinh ly tử biệt, tưởng như cô đang ôm cả cuộc đời của mình, không hề hay biết rằng chẳng qua cô chỉ đang ôm một khoảnh khắc của hắn mà thôi. Hồi lâu cô mới nới lỏng tay, ôm hắn khóc như mưa. Hắn vừa quan sát màu trời bên ngoài, vừa nhẫn nại dịu dàng vuốt tóc và an ủi cô: “Cô gái của anh, anh yêu em, chúng ta nhất định sẽ gặp lại nhau, có một ngày em sẽ đến bên anh, anh sẽ đợi em. Để thể hiện thành ý, quan trọng hơn chắc là để thoát thân cho nhanh, hắn liền viết cho cô địa chỉ của mình ở Mỹ, bảo cô viết thư cho hắn, đồng thời thề thốt rằng sau khi quay về hắn sẽ viết thư ngay cho cô. >>

Cô tin, sao cô lại không tin? Người phụ nữ nào khi còn trẻ mà chưa từng tin tưởng tình yêu, thì người đó hoặc là siêu nhân, hoặc là chưa già đã yếu rồi. Những người phụ nữ trưởng thành theo cách thông thường đều phải dần dần mới nhận ra, những sự vật mà cô ta từng tin tưởng sâu sắc thực ra vẫn đang từng ngày từng giờ trở nên mục nát.

Sau hội sáng tác, cô lại trở về trường. Nhà văn Hoa kiều Mỹ và đêm hôm đó giống hệt như những căn nhà hoang trong truyện Liêu Trai, bất luận tối hôm trước trông có đàng hoàng sang trọng đến đâu, thì chỉ cần trời vừa sáng tất cả đều sẽ tan theo mây khói. Trong lòng cô thực ra đã có chút lo sợ, nhưng cô từ chối nhìn vào sự thật sau khi tất cả đã tan theo mây khói, cô không để cho mình nhìn vào điều đó. Cô tuyệt đối không thể tin rằng đêm hôm đó không tồn tại, dù có liều mạng cô cũng phải vớt được người đàn ông như bong bóng ấy lên. Bởi lẽ, chỉ khi hắn thực sự tồn tại thì đêm hôm đó của cô mới có thể thực sự từng tồn tại, như thế tình yêu của cô sẽ không phải là nước không nguồn, cây không rễ, tất cả những nỗi nhớ nhung của cô sẽ là quang minh chính đại, là lẽ đương nhiên.

Cô bắt đầu viết thư cho hắn, mặc dù ngay khi gửi bức thư đó đi, trong lòng cô đã tuyệt vọng đến năm mươi phần trăm. Bởi kỳ thực cô vẫn thầm tự hỏi, nếu địa chỉ mà hắn cho cô là giả thì sao? Nếu địa chỉ này hoàn toàn không tồn tại thì sao? Vậy thì con người đó đã biến mất hoàn toàn, địa chỉ này là sợi dây mỏng manh duy nhất kết nối giữa cô và hắn. Thế nhưng, sau hai tháng, chút tuyệt vọng của cô bỗng nhiên được gột rửa hoàn toàn. Nhà văn Hoa kiều Mỹ đã hồi âm. Mặc dù chỉ vỏn vẹn nửa trang giấy, nội dung phần nhiều cũng chỉ là những lời thừa thãi không quan trọng, nhưng ngày hôm đó đối với Lý Lâm Yến thực sự biến thành một ngày hội, cô chỉ muốn giương cao lá thư như thể giương quốc kỳ nước Mỹ rồi tìm tất cả mọi người từ trong từng xó xỉnh trên khắp thế giới này để thông báo một lượt.

Đương nhiên cô vui, nhưng niềm vui chỉ là thứ yếu, quan trọng hơn, khi cầm được bức thư này trong tay, cô cảm thấy có một sự vững tâm và yên ổn cực kỳ to lớn, như thể chỉ riêng khoảnh khắc đó đã đủ để cho cô được bình yên. Tình yêu đẹp như mơ trong hư cấu của cô cuối cùng cũng tìm được hang ổ cho riêng mình, càng trở nên vững chắc, từ đó cuối cùng cũng có thể cắm rễ sinh sôi. Cô gần như mừng phát khóc, niềm vui mừng cũng cực kỳ phức tạp, ngoại trừ cảm thấy tình yêu của mình đã trở nên vững chãi, ổn thỏa, có lẽ còn vì đối phương không phải là nhà văn trong nước mà là Hoa kiều ở Mỹ. Mấy chữ ấy thật xa xôi mà cũng thật rạng rỡ, như tượng Bồ-tát dát vàng ở trong chùa. Người đời phải chăng chỉ cần dính chút bột vàng của Bồ-tát là trông đều sẽ giống như Bồ-tát?

Trong suốt một năm, nhà văn Hoa kiều Mỹ lần lượt hồi âm cho cô bốn năm lần, mỗi bức thư đều rất ngắn, nội dung cũng chẳng khác nhau nhiều, nói hắn đang sáng tác một tiểu thuyết dài kỳ, nói hắn đang ngồi trong vườn nhà đọc sách và nhớ cô. Hắn nói rất nhớ cô, “cô gái của anh”. “Cô gái của anh”, bốn chữ ấy giống như một mồi câu bền chắc móc chặt lấy cô. Lần nào cô cũng khóc lóc sụt sùi, đọc đi đọc lại bốn chữ ấy như một kẻ không biết chữ, nhìn mãi rồi tự mình bật cười, cười mãi rồi lại rơi nước mắt, tựa như một người chia ra đóng liền mấy vai, phức tạp đến mức vắt kiệt cả tâm lực. Hôm đó, cô giống như một người phương Tây đón lễ Giáng sinh, một mình vui vẻ đi dạo phố, dọc đường nhìn thấy thứ gì ngày thường không nỡ ăn sẽ lập tức bỏ tiền ra mua, còn phí tiền mua cho mình một chiếc kẹp tóc. Cô cứ thế một mình ăn mừng rầm rộ suốt cả ngày.

Nhà văn Hoa kiều Mỹ hứa trong thư sẽ đến thăm cô trước khi cô tốt nghiệp đại học, sau đó đón cô đi, nhưng mãi đến khi cô tốt nghiệp rồi dựa trên quê quán được phân công về vùng núi Lữ Lương làm giáo viên, hắn cũng không hề xuất hiện. Hắn không đến thì cô tóm hắn từ trong thư lôi ra được chắc? Cô buồn rầu lạc lõng đến trường Trung học Phương Sơn điểm danh, nếu không đến thì công việc cũng chẳng có, lấy gì mà ăn mà uống? Cô buộc phải đến đây, vì thế ngay từ ngày đầu tiên đến trường Trung học Phương Sơn cô đã căm ghét nơi này. Mặc dù cô chẳng qua chỉ là một cô gái lớn lên trong một thung lũng nào đó của dãy núi Lữ Lương, nhưng cô cảm thấy giờ đây đã khác xưa, mình đã nghiễm nhiên là một nửa người Mỹ, vậy mà lại phải đến cái chốn khỉ ho cò gáy này, ở trong nhà hang như người nguyên thủy.

Cô nhìn thứ gì cũng thấy không vừa mắt, nhìn thứ gì cũng thấy không thuộc cùng một thế giới với mình, dường như cô là một con quái vật vô tình rớt ra khỏi đường hầm thời gian. Cô phải ở trong nhà hang, lại còn ngủ trên giường lò, những thứ đó đều khiến cô cảm thấy đáng sợ, cảm thấy không đáng. Thế là hằng đêm cô đều nằm bò dưới ánh đèn viết thư cho hắn, một mặt sợ hắn không biết cô đã thay đổi địa chỉ, mặt khác trông mong hắn đến cứu cô ra khỏi cao nguyên đất vàng, cứu cô đến bờ bên kia của đại dương. Hắn bây giờ là chiếc phao cứu sinh duy nhất của cô, quý giá như vàng. Cô chăm viết thư cho hắn hơn cả hồi học đại học, mỗi bức thư đều như gửi gắm cả nửa tính mạng trong đó. Nhưng cô rất hưởng thụ quá trình ngược đãi bản thân này, như thể chỉ có vắt kiệt mình qua những trang thư, dồn máu thịt vào từng dòng từng chữ, cô mới có thể thư thái hơn một chút, mới có thể ngủ yên giấc vào ban đêm.

Viết thư trở thành chuyện quan trọng hàng đầu của cô mỗi ngày, dường như chỉ khi đêm đến cô mới thực sự hồi sinh và tỉnh giấc. Mỗi đêm cô đều viết kín một tờ giấy, viết nỗi nhớ nhung sâu sắc của cô dành cho hắn, viết cô nhìn thấy mặt trăng liền cảm thấy họ đang ở ngay dưới vầng trăng ấy, bất kể xa xôi đến đâu đều được chiếu sáng bởi cùng một vầng trăng, cảm giác đó khiến cô hạnh phúc. Đến tiết Bạch Lộ, cô liền viết: “Từ đêm nay sương trắng, biết bao giờ mới gặp lại anh” Cứ thế viết đến tận cuối tháng, cô mới đem ba mươi bức thư dày cộp gấp lại gửi cho hắn một thể.

Nhưng trên thực tế, từ sau khi đến trường Trung học Phương Sơn, cô không hề nhận được một chữ nào của hắn nữa. Cho dù mỗi ngày cô đều viết thư cho hắn, mỗi tháng đều đặn gửi thư, chỉ lo mất liên lạc với hắn, nhưng hắn vẫn lặng lẽ biến mất, giống như một cái xác đã dần chìm xuống đáy nước, thậm chỉ không hề sủi tăm. Cô giơ tay ra gắng hết sức muốn vớt hắn lên, nhưng trong tay cô chỉ có bóng trời mây xa thẳm.

Thấm thoắt đã được một năm kể từ khi đến trường Trung học Phương Sơn, trong một năm cô đã gửi cho hắn đủ mười hai bức thư, mỗi bức thư đều có ba mươi trang rất dày. Nhưng hắn không hề hồi âm cho cô dù chỉ một chữ. Thư của cô chưa từng bị trả về, cũng tức là hắn vẫn có thể nhận được, vậy thì vì sao hắn không trả lời? Cô ngày càng lo sợ, càng sợ lại càng muốn vùng vẫy. Cô không thể ngừng viết thư, một khi ngừng lại, cô thực sự không biết phải sống thế nào ở trường Trung học Phương Sơn này nữa. Cô chỉ có thể nhấn mình sâu hơn vào vòng xoáy lực ly tâm kia, chỉ hận không thể xé nát chính mình thành tro bụi.

qua Hai năm qua đi, cô vẫn hằng ngày viết thư cho hắn, sự thực thì cô đã quên hình dáng của hắn rồi. Những gì họ có chẳng chỉ là một đêm, lại thêm thời gian hơn hai năm từ sau đêm hôm đó lặng lẽ trôi đi, cho dù là hòn đá, liệu có thể chịu đựng mấy lần bị ăn mòn? Hắn đã ngày càng trở nên mơ hồ, nhưng cô không cam lòng, quan trọng hơn là, cô không chịu tin, không muốn tin đây chính là lừa đảo. Đêm hôm đó hắn ôm cô khóc lóc thảm thiết, chẳng lẽ hắn gặp ai cũng khóc nhiều như vậy? Không thể nào. Cô tiếp tục viết hết bức thư này đến bức thư khác trong giằng xé, một khi dừng lại, cô biết phải sống thế nào đây? Cô sẽ bị bẻ gãy làm đôi mất. Nhưng giữa những bức thư, cô chợt nhìn thấy đây rõ ràng là một người đàn ông khác, một người đàn ông xa lạ mà cô chưa từng quen biết. Chính cô đã dùng những ký ức nhiệt thành nhất, những nguyện vọng thiết tha nhất để dệt nên ảo ảnh. Cô không thể mô tả hình ảnh hắn, chỉ cảm thấy giữa những dòng thư, hắn cách cô ngày càng gần, chân thực còn hơn cả một người bằng xương bằng thịt. Hắn giống như một tín đồ Cơ đốc trưởng thành từ trong khổ nạn, không thấy chân thân, nhưng lại nhìn cô một cách từ bi. Cô cảm thấy hắn gần trong gang tấc, chỉ cần một ý niệm từ bi của hắn là có thể dẫn cô đi. Thế nhưng, chỉ cần viết xong thư cô sẽ lập tức ngã xuống đất, tâm lực càng bị vắt đến cạn kiệt.

Những mơ mộng viển vông về tình yêu và một gã đàn ông giả dối còn khiến cô mệt mỏi hơn cả không có tình yêu.

Ba năm qua đi, cô vẫn ở trường Trung học Phương Sơn, dẫn dắt một lứa học sinh từ lớp mười đến lớp mười hai, cho đến khi chúng tham gia thi đại học. Học sinh tốt nghiệp rồi, hoặc là lên đại học, hoặc là về nhà làm ruộng, nhưng cô vẫn ở đây. Mấy giáo viên trẻ đến đây cùng cô giờ đã kết hôn, những người còn lại cũng đều đang chuẩn bị cưới xin, chỉ có cô vẫn không có ai giới thiệu. Bởi lẽ trên dưới khắp trường Trung học Phương Sơn, ai cũng biết cô có bạn trai ở tận bên Mỹ, anh ta có thể về đón cô đi bất cứ lúc nào, sao có thể giới thiệu người khác cho cô được? Làm thế khác gì hại người ta?

Đương nhiên cô cũng tuyệt đối không mở miệng cầu xin họ, cô hoàn toàn không đếm xỉa đến chuyện đó, sao cô có thể định cư lâu dài ở một nơi như thế này kia chứ? Trong ba năm qua, cô cũng từng nghĩ hay là vứt bỏ công việc này, ra ngoài bươn chải, nhưng biết đi đâu đây? Trong thành phố cô chẳng quen biết người nào, đến đó rồi biết nhờ cậy ai? Chẳng lẽ lại đi làm thuê? Công việc giáo viên dù có nhạt nhẽo đến đâu thì cũng vẫn đảm bảo thu nhập, cô không cần phải bữa nay lo bữa mai, nhưng nếu vứt bỏ công việc này, rủi ro biết chừng nào? Bất cứ lúc nào cũng có thể không có cơm ăn, có thể bị chết đói. Không thể đi được.

Cuối cùng, vào một buổi sáng nọ, cô dừng việc học thuộc lòng thơ từ trước cửa ký túc xá, không hề có dấu hiệu gì báo trước, cứ thế đột nhiên dừng lại. Vào buổi sáng mùa đông ấy, cô không còn dậy sớm như trước. Ngược lại, cô khép chặt rèm cửa sổ, thậm chí không dậy ăn sáng. Mãi đến khi sắp đến giờ lên lớp, cô mới đầu bù tóc rối vào lớp dạy học, thậm chí không buồn trang điểm. Cô đã sụp đổ. Đương nhiên, cô bị các thầy cô trong trường cười thầm suốt mấy ngày. Các cô giáo đều mím môi, cười không thành tiếng hoặc đưa mắt nhìn nhau rồi khẽ chép miệng. Dù sao cũng đều là giáo viên, không đến mức vỗ đùi đen đét như mấy bà nông dân rồi bỗ bã nói: “Sao không học thuộc lòng nữa đi? Không đánh phấn mắt nữa đi? Thế kia thì ra ngoài làm sao được, không phải cô nói sẽ rời khỏi đây bất cứ lúc nào sao? Không học thuộc lòng nữa thì đi sao được hả? Ái chà chà…”

Cô nhắm mắt, bịt tai, vờ như không nghe, không nhìn thấy gì, vật vờ trong trường như một cái xác không hồn vừa mù vừa điếc. Mấy ngày sau, các thầy cô dần quen với việc không còn tiếng cô đọc sách vào buổi sáng sớm, lại thêm mùa đông ngày ngắn đêm dài, ai nấy đều nằm trong chăn ấm không muốn dậy, đương nhiên cũng chẳng hơi đâu mà để ý đến cô nữa, mọi chuyện mới coi như lắng xuống. Có điều những chuyện đã từng xảy ra thì không thể nào hoàn toàn xóa sạch dấu vết, từ đó về sau, các thầy cô giáo trông thấy cô đều tỏ vẻ nhịn cười, ánh mắt kỳ bí khó hiểu, khiến cô bất giác run lên. Ánh mắt đó như thể ngồi dưới khán đài chuẩn bị xem kịch, trong sự chờ đợi toát lên vẻ tham lam, đằng sau vẻ tham lam là sự lạnh lùng và xa cách.

Cô biết, từ nay về sau, bất kể cô diễn cái gì, họ đều sẽ chăm chú theo dõi, dù cô có tự giấu mình trong một cái rương rồi khóa lại, họ cũng sẽ tìm được, lôi cô ra phơi dưới ánh mặt trời.

Cô ngừng viết thư cho nhà văn Hoa kiều Mỹ vào mùa hè năm thứ năm sau khi đến trường Trung học Phương Sơn. Khi đó đã là năm 1994, năm nay cô hai mươi tám tuổi, vẫn một mình ở trong ký túc xá độc thân. Những cô giáo sống xung quanh cô đã thay hết tốp này đến tốp khác, những cô giáo độc thân sau khi lấy chồng đa số đều không ở trong những ngôi nhà hang tồi tàn này nữa mà tìm nhà khác hoặc chuyển về thị xã xa hơn một chút. Những cô giáo sống cạnh cô đều là giáo viên mới vừa được điều động về đây từ năm ngoái, trẻ trung như những tấm gương sáng lóa soi khắp xung quanh cô, cho đến khi soi rõ sự già nua của cô. Dù cô có cố gắng trốn tránh đến đâu, cũng sẽ có lúc bất cẩn bị họ soi đến. Một khi bị soi, cô liền như bị trúng tên, thầm kêu rên trong lòng, nhưng ngoài mặt tuyệt đối không để họ nhận ra. Cô giữ khuôn mặt vô cảm, kiên cường kiêu ngạo đi qua bên cạnh họ, như thể cô chẳng quen biết ai, cô thực sự là một người ngoài hành tinh, còn họ chẳng qua chỉ là những tấm thân phàm tục trên trần thế.

Mùa hè năm cô hai mươi tám tuổi, ở Phương Sơn bất ngờ có thêm mấy trận mưa, cây cỏ trên cao nguyên đất vàng cũng mọc nhiều thêm. Một buổi chiều cuối tuần, Lý Lâm Yến một mình từ trong trường ra, đi về phía dãy núi sau trường. Cô chẳng có mục đích gì, cứ đi rồi lại nghỉ, bất giác đã lên đến đỉnh núi. Cô ngồi trên khoảnh đất trống trên đỉnh núi, nhìn cây cối trong thung lũng xung quanh. Cô ngơ ngẩn ngồi đó, cảm thấy trong lòng mình chẳng nghĩ ngợi điều gì, chỉ đơn giản là ngồi đây một lát. Cứ thế, cô ngồi đến tận lúc hoàng hôn, cho đến khi được đánh thức bởi ánh mặt trời đỏ như máu phủ khắp núi rừng. Cô nhìn xung quanh, nghi hoặc tự hỏi đây là đâu, mình đến đây từ lúc nào. Khoảnh khắc đó, cô cảm thấy hình như từ khi sinh ra mình vẫn luôn ngồi ở đây, chưa từng rời khỏi chỗ này. Cô nhìn hoa cỏ dại xung quanh một cách thân thiết lạ thường, cảm giác như ở nhà, tựa hồ chúng vẫn luôn mọc quanh cô. Cô nhìn chúng thật kỹ, chỉ trong khoảng một phút mà cảm giác như bốn mùa nối nhau qua đi vô số lần, vô số thời gian đã trôi qua trên từng kẽ lá.

Cô chợt hiểu ra, kỳ thực đó là thời gian, thứ chảy trôi trên lá chính là thời gian. Cô giật mình kinh ngạc, giơ tay muốn ngăn thời gian lại, không cho chúng trôi đi. Nhưng tia nắng hoàng hôn cuối cùng đã lặng lẽ vuột khỏi kẽ tay, chẳng để lại chút gì trong lòng bàn tay cô.

Lý Lâm Yến run rẩy nhìn chằm chằm vào hai tay mình, đôi tay xanh xao như thể lòng sông tiêu điều trước sự biến đổi của thời gian, trống rỗng chẳng còn lại thứ gì. Cô dùng đôi tay ấy che mặt, ngồi trên đỉnh núi vắng vẻ một mình gào khóc. Cuối cùng cô cũng lần đầu tiên chịu thừa nhận rằng, thực ra mình đã bị lừa, thực ra mình đã bị lừa. Cô lừa dối chính mình suốt sáu năm, giờ đây, vào mùa hè năm cô hai mươi tám tuổi, cuối cùng cô cũng đánh thức chính mình một cách tàn nhẫn. Bởi lẽ cô biết, trái tim, lục phủ ngũ tạng và tất cả cảm giác của mình thực ra đều đã tỉnh từ lâu, chỉ có cơ thể và tứ chi là vẫn còn đang ngủ đông, vẫn chưa chịu tỉnh dậy. Cô biết đó là vì cô sợ đau, cho nên cứ trì hoãn không chịu để bản thân tỉnh dậy, thế nhưng chỉ cần khẽ buông tay tất cả sẽ biến mất giữa dòng sông thời gian, cô sao có thể mãi mãi không bao giờ tỉnh lại?

Nỗi đau tột cùng chưa từng có lập tức nuốt chửng lấy cô, gần như giống hệt với những gì cô dự đoán. Cô đau đớn, gào khóc, tự hỏi mình hết lần này đến lần khác: Sao mày lại có thể lừa dối bản thân lâu như thế? Sao mày có thể lừa mình dối người lâu như thế?

Trong khoảng thời gian mười năm, thời đại thiêng liêng của văn học đang dần trôi xa, gã nhà văn Hoa kiều Mỹ lừa đảo kia đã theo bong bóng của thời đại biến mất tăm tích. Không biết bây giờ có phải hắn đã chuyển sang mở nhà hàng rồi không, có lẽ từ lâu hắn đã quên rằng từng có một người như cô. Chẳng qua chỉ là tình một đêm, năm đó có lẽ không chỉ mình cô từng lên giường với hắn. Cô chẳng là cái gì, thậm chí chẳng phải nhân tình. Nhưng vì sao cô lại cam tâm tình nguyện cố chấp tự lừa dối bản thân suốt sáu năm? Kẻ thực sự lừa dối cô không phải ai khác mà chính là bản thân cô.

Một vầng trăng vàng treo rất gần trên đỉnh đầu cô, tựa như chỉ cần đứng dậy là có thể chạm vào. Cô đã nín khóc, chỉ lặng lẽ ngồi thừ ra dưới vầng trăng. Không biết mấy giờ rồi, cuối cùng cô cũng đứng dậy, lảo đảo xuống núi. Đầu tiên cô đứng nguyên một chỗ, nhìn đường xuống núi, như đang dồn sức rồi mới xuống. Nhưng khi đặt bước chân đầu tiên, trong lòng cô bỗng cảm thấy nhẹ nhõm kỳ lạ, tựa như cảm giác của một phạm nhân trong khoảnh khắc vừa mới bị hành hình xong biết mình vẫn còn sống, cảm thấy may mắn vì mình vẫn còn sống, nhưng cũng biết rõ rằng phía sau chỉ toàn là đau thương vô tận.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 31 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.