Gia Đình Robinson Trên Đảo Hoang

Lượt đọc: 125 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 53

❊ ❊ ❊

Chúng tôi không bao giờ thấy mỏi mệt khi được vuốt ve cậu con trai Francis yêu quý. Chúng tôi rất nóng lòng muốn nghe thằng bé kể lại mọi chi tiết về sự xuất hiện của những kẻ hoang dã trên hòn đảo của chúng tôi, vụ bắt cóc mẹ con nó, chuyến hải trình, cuộc sống của họ ở đây, và những người bạn mà họ đã gặp gỡ. Nhưng điều đó là bất khả thi, bởi vị quốc vương da ngăm đen cứ kè kè bên chúng tôi không rời nửa bước và đùa giỡn với đứa trẻ như thể chính ngài cũng là một đứa trẻ vậy. Francis khoe với nhà vua tất cả đồ chơi trong chiếc rương của chúng tôi; ngài vô cùng thích thú với những chiếc gương nhỏ và đám búp bê. Một cỗ xe ngựa đồ chơi được kéo bởi một người đánh xe ngẩng cao chiếc roi lên mỗi khi bánh xe quay tròn trông như một phép màu đối với ngài. Ngài thét lên vì quá đỗi phấn khích khi chỉ cho đám tùy tùng xem món đồ ấy. Tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ đeo tay cũng làm ngài mê mẩn; và vì tôi vẫn còn vài chiếc nữa, tôi bèn tặng ngài một chiếc, đồng thời chỉ cho ngài cách lên dây cót. Nhưng ngay lần đầu tiên thử làm, ngài đã làm gãy lò xo, và khi nó im bặt, ngài liền chán ngả, vứt xó một bên. Tuy nhiên, vì chất vàng lấp lánh thu hút ánh nhìn, ngài lại nhặt nó lên, treo lủng lẳng vào chiếc khăn quấn quanh đầu để nó rủ xuống ngay trước mũi, tạo thành một món trang sức vô cùng nổi bật. Francis cho nhà vua ngắm khuôn mặt ngài trong chiếc gương, niềm vui thú mang tầm vóc hoàng gia ấy khiến ngài cười rộ lên sảng khoái. Ngài hỏi vị truyền giáo rằng có phải vị Chúa tể vô hình và toàn năng đã tạo ra tất cả những kỳ vật này hay không. Ông Willis đáp rằng chính Ngài là đấng ban cho con người năng lực để chế tạo ra chúng. Tôi không rõ Bara-ourou có lĩnh hội được điều này hay không, nhưng ngài đã chìm đắm trong suy tư suốt một hồi lâu. Tôi tranh thủ cơ hội đó để hỏi vị truyền giáo về những từ ngữ đã khiến họ khiếp vía đến vậy vào lúc họ muốn ngăn cản không cho tôi nhận lại con trai, và thứ gì đã buộc họ phải giao trả thằng bé?

– Tôi đã bảo với họ rằng, – ông đáp, – vị Chúa tể vô hình và toàn năng mà tôi vẫn hay giảng đạo cho họ nghe hằng ngày đang ra lệnh qua tiếng nói của tôi, buộc họ phải trao trả đứa con trai về cho người cha của nó. Tôi đã doạ họ về cơn thịnh nộ của Ngài nếu họ từ chối, và hứa hẹn lòng nhân xót của Ngài nếu họ tuân theo; và họ đã tuân thủ. Bước đầu tiên đã thành công, họ đã ý thức được bổn phận phải tôn thờ và vâng lệnh Thiên Chúa; mọi chân lý khác đều bắt nguồn từ điều này, và tôi không mảy may nghi ngờ rằng những người hoang dã của tôi rồi sẽ có ngày trở thành những tín đồ Cơ Đốc ngoan đạo. Phương pháp giảng dạy của tôi hoàn toàn phù hợp với tư duy hạn hẹp của họ. Tôi chứng minh cho họ thấy những bức tượng gỗ do chính tay họ đẽo gọt chẳng thể nào tạo dựng nên vạn vật, chẳng thể nghe thấy họ cầu xin, cũng chẳng thể chở che cho họ. Tôi đã cho họ thấy hình ảnh Thiên Chúa hiện diện qua các công trình tạo hóa của Ngài, tuyên bố rằng Ngài nhân từ bao nhiêu thì cũng quyền năng bấy nhiêu, căm ghét cái ác, sự tàn nhẫn, tội ác sát nhân và nạn ăn thịt đồng loại, và họ đã từ bỏ tất cả những điều đó. Trong các cuộc giao tranh gần đây, họ đều đã phóng thích hoặc nhận nuôi các tù nhân của mình. Nếu họ bắt cóc vợ và con anh, ấy là vì họ có dụng ý tốt, lát nữa anh sẽ hiểu rõ thôi.

Tôi chẳng thể gặng hỏi Francis điều gì vì Bara-ourou vẫn đang mãi chơi đùa cùng thằng bé, thế nên tôi quay sang Ernest và hỏi xem chuyện gì đã xảy ra khi đám người hoang dã tiếp cận cậu ta.

– Lúc cha rời đi, – thằng bé kể, – con tự giải khu bằng cách đi tìm vỏ sò, thực vật và các loài động vật bậc thấp vốn có rất nhiều trên các ghềnh đá, và con đã làm phong phú thêm đáng kể cho bộ sưu tập của mình. Con đang ở cách xa chiếc xuồng lớn thì nghe thấy những âm thanh hỗn độn của tiếng người, và đoán rằng đám người hoang dã đang tới; quả nhiên, có mười hay mười hai kẻ bước ra từ con đường mà cha vừa đi vào, và con chẳng thể hiểu nổi sao cha lại có thể đi lọt qua mà không chạm trán bọn họ. Vì sợ rằng họ sẽ tìm cách chiếm đoạt chiếc xuồng, con liền nhanh chóng quay trở lại và vồ lấy một khẩu súng hỏa mai đã được nạp đạn, dẫu trong đầu đã đinh ninh chỉ dùng nó để tự vệ hoặc bảo vệ chiếc xuồng mà thôi. Con đứng hiên ngang trên boong tàu với thái độ dõng dạc và oai phong nhất có thể; nhưng con đã thất bại trong việc uy hiếp họ. Từng kẻ một nhảy lên boong và vây quanh con, miệng thét gào những âm thanh inh ỏi. Con không tài nào phân biệt nổi đó là tiếng hò reo mừng rỡ hay tiếng thét của sự cuồng nộ; tuy vậy, con vẫn tỏ ra bình tĩnh, không hề sợ hãi, và cất lời chào đón họ bằng giọng điệu thân thiện, dùng một vài từ mượn trong vốn từ vựng của Thuyền trưởng Cook; nhưng dường như họ chẳng hiểu con nói gì, và con cũng chẳng thể hiểu nổi ngôn ngữ của họ, ngoại trừ từ écroué (cha), mà họ lặp đi lặp lại nhiều lần, và từ tara-tauo (người phụ nữ). Một kẻ trong số đó cầm khẩu súng của Fritz, từ đó con suy ra bọn chúng chính là nhóm người đã bắt cóc Jack. Con giật lại nó, rồi đưa khẩu súng của con ra cho hắn xem, cố gắng ra hiệu cho hắn hiểu rằng nó cũng thuộc quyền sở hữu của con. Hắn tưởng con muốn đổi chác nên liền sẵn lòng trả lại khẩu súng kia và chộp lấy khẩu của con. Điều đó thì không ổn chút nào; khẩu súng của Fritz đã bắn hết đạn, còn con thì không thể giao khẩu súng đang đầy đạn của mình cho bọn chúng được. Để ngăn ngừa mọi rủi ro trong vòng vây của đám đông, con quyết định làm cho họ một phen hoảng sợ. Thấy một chú chim đang bay lượn phía trên đầu, con ngắm chuẩn xác đến mức phát súng đã hạ gục ngay chú chim ấy, một con bồ câu xanh. Bọn họ chết lặng đi vì khiếp sợ trong giây lát; rồi ngay lập tức, tất cả đều rời khỏi chiếc xuồng, ngoại trừ Parabéry; hắn tỏ ra có thiện cảm với con, cứ liên tục chỉ tay lên bầu trời và thốt lên mété, mà con tin là có nghĩa là tốt lành. Các đồng bọn của hắn thì đang xúm lại kiểm tra chú chim xấu số. Vài kẻ chạm tay vào bả vai mình để thử xem họ có bị thương giống như chú chim và Jack hay không, điều đó củng cố thêm niềm tin trong con rằng chính họ là kẻ đã bắt đi thằng bé. Con cố gắng làm cho Parabéry hiểu được mối nghi ngờ của mình, và con nghĩ mình đã thành công, bởi hắn ra hiệu đồng tình với con, vừa chỉ tay về phía sâu trong nội địa của hòn đảo vừa chạm nhẹ vào vai với vẻ mặt đầy thương cảm. Con lấy mấy món đồ trong rương ra đưa cho hắn, đồng thời ra hiệu rằng hắn nên mang chúng khoe với những người khác để lôi kéo họ trở lại với con. Hắn hiểu rất rõ ý con và đã làm theo ý nguyện đó. Chẳng mấy chốc con đã bị vây kín bởi toàn bộ đám đông đang nhao nhao xin xỏ. Con đang bận rộn phát hạt cườm, gương soi và dao nhỏ thì cha tới, và giờ đây chúng ta đã trở thành những người bạn hết sức thân thiết. Hai hoặc ba kẻ trong số họ đã quay trở lại khu rừng và mang dừa lẫn chuối về cho con. Dẫu vậy, chúng ta vẫn phải cẩn trọng giấu đi những khẩu súng, thứ mà bọn họ vô cùng khiếp sợ. Và giờ đây, thưa cha, con nghĩ chúng ta không nên gọi những con người này là kẻ hoang dã nữa. Họ mang sự ngây thơ của trẻ nhỏ; một chút chuyện vặt cũng đủ làm họ nổi giận, và một chút chuyện vặt cũng xoa dịu họ ngay; họ sống tình cảm và biết ơn. Con thấy họ chẳng hề tàn nhẫn hay dã man chút nào. Họ chẳng làm hại gì đến con, trong khi lẽ ra họ có thể dễ dàng giết chết con, quăng con xuống biển, hoặc bắt cóc con đi.

– Chúng ta không thể, – tôi nói, – đánh giá toàn bộ những dân tộc hoang dã qua nhóm người này, bởi họ đã được thụ hưởng sự dạy dỗ từ một người thầy đức hạnh. Ông Willis đã sớm gieo vào tâm can họ những hạt giống của đạo giáo thiêng liêng, thứ tôn giáo dạy chúng ta phải đối xử với người khác như cách chúng ta muốn họ đối xử với mình, đồng thời biết tha thứ và yêu thương kẻ thù.

Trong lúc đôi bên trò chuyện, chúng tôi đã đặt chân đến một địa điểm mà những chiếc thuyền độc mộc đã cập bến từ trước; chúng tôi cũng chuẩn bị bước lên bờ, nhưng vị vua xem chừng không muốn rời khỏi chiếc xuồng lớn mà vẫn tiếp tục trò chuyện với vị truyền giáo. Tôi vẫn canh cánh nỗi lo rằng ngài muốn giữ Francis lại, khi mà ngài tỏ ra ngày càng quyến luyến thằng bé hơn và cứ ôm trọn nó trên đùi không buông; nhưng rồi cuối cùng, đến sự mừng rỡ tột cùng của tôi, ngài đã trao thằng bé lại vào vòng tay tôi.

– Ngài ấy giữ đúng lời hứa với anh đấy, – ông Willis nói. – Anh có thể đưa thằng bé về với mẹ nó; nhưng đổi lại, ngài muốn anh cho phép ngài cùng đi trên chiếc xuồng của anh sang nơi ở của ngài ở phía bên kia eo biển, để ngài khoe nó với những người phụ nữ trong bộ tộc, và ngài hứa sẽ mang chiếc xuồng quay trở lại; có lẽ sẽ ẩn chứa hiểm họa nếu chúng ta từ chối ngài.

Tôi đồng tình với ông; thế nhưng vẫn vướng phải một sự khó khăn khi chấp thuận thỉnh cầu này. Nếu ngài cố tình chiếm đoạt luôn chiếc xuồng, chúng tôi sẽ lấy gì để quay về? Hơn nữa, trên xuồng lại chứa thùng thuốc súng duy nhất cùng toàn bộ hàng hóa để trao đổi của chúng tôi, làm sao chúng tôi có thể mong nó thoát khỏi cảnh bị cướp bóc đây?

Ông Willis thú nhận rằng ông vẫn chưa thể trị dứt điểm thói trộm cắp của họ, và hiến kế rằng cách duy nhất để đảm bảo an toàn là tôi hãy đi cùng nhà vua để đưa chiếc xuồng trở về, sau đó phương tiện này sẽ được giao phó cho Parabéry canh giữ, và ông sẽ đứng ra bảo lãnh cho sự trung thực của hắn.

Lại thêm một sự trì hoãn nữa; trời đã ngả về chiều muộn, rất có thể tôi sẽ chẳng kịp quay về trước khi màn đêm buông xuống. Thêm vào đó, dẫu vợ tôi chưa hay biết chúng tôi đang ở sát cạnh nàng, nàng đã biết chuyện Francis bị bắt cóc, và chắc chắn nàng sẽ vô cùng lo lắng cho thằng bé. Bara-ourou trông có vẻ sốt ruột lắm rồi, và vì việc đưa ra câu trả lời là bắt buộc, tôi lập tức quyết định; tôi gửi gắm Francis cho vị truyền giáo, khẩn khoản nhờ ông đưa thằng bé về với mẹ nó, chuẩn bị tâm lý cho nàng trước sự xuất hiện của chúng tôi và giải thích nguyên nhân khiến chúng tôi bị chậm trễ. Tôi bảo các con trai rằng tôi muốn chúng cùng đi theo mình. Fritz miễn cưỡng đồng ý với vẻ bất bình ra mặt, còn Ernest thì điềm tĩnh chấp thuận. Ông Willis bèn nói với nhà vua rằng để bày tỏ lòng biết ơn và tỏ sự kính trọng đối với ngài, tôi cùng các con trai xin phép được tùng giá ngài. Ngài tỏ ra vô cùng phổng mũi trước lời này, liền xếp cho các con tôi ngồi hai bên cạnh mình, cố gắng phát âm tên của chúng, và kết thúc bằng việc đổi tên cho nhau như một minh chứng cho tình bằng hữu, gọi Fritz là Bara, gọi Ernest là Ourou, và gọi chính mình là Fritz-Ernest. Ông Willis và Francis rời đi; lòng chúng tôi trĩu nặng buồn đau khi phải nhìn họ đi về hướng nơi mà mọi ước nguyện của chúng tôi đang hướng về; nhưng ván đã đóng thuyền. Nhà vua ra hiệu khởi hành; những chiếc thuyền độc mộc dẫn đầu, và chúng tôi bám theo sau. Chỉ sau một giờ đồng hồ, chúng tôi đã nhìn thấy hoàng cung. Đó là một túp lứa tương đối lớn, được dựng lên rất gọn gàng từ tre và lá cọ. Vấy người phụ nữ đang ngồi trước hiên nhà, bận rộn đan những chiếc váy ngắn làm bằng sậy mà tất cả bọn họ đều mặc. Tóc của họ được chải chuốt và bện thành từng búi tỉ mỉ trên đỉnh đầu; chẳng ai sở hữu dung mạo ưa nhìn ngoại trừ hai người con gái của nhà vua độ chừng mười và mười hai tuổi, dẫu làn da rất ngăm đen nhưng vô cùng uyển chuyển duyên dáng: không còn nghi ngờ gì nữa, ngài nhắm hai cô con gái này làm vợ cho cậu con Francis của tôi.

Chúng tôi cập bờ cách túp lều chừng một trăm thước. Đám phụ nữ tiến ra nghênh đón, mỗi người tay cầm một nhánh cây trinh nữ; sau đó họ trình diễn một vũ điệu kỳ lạ, quấn lấy tay nhau và lắc lư đôi chân nhưng tuyệt nhiên không dịch chuyển khỏi vị trí; điệu nhảy được đệm theo bằng một khúc ca hoang dã nghe chẳng có chút âm luật nào. Nhà vua tỏ ra vô cùng đắc ý; ngài gọi các bà vợ và con gái lại, giới thiệu với họ về những người bạn tâm giao của mình là Bara và Ourou, đồng thời xưng hô là Fritz-Ernest; ngài cũng nhập cuộc vào điệu nhảy, kéo theo các con trai tôi vốn cũng đang ứng phó khá trôi chảy. Về phần tôi, ngài đối đãi với tôi bằng sự kính trọng lớn lao, luôn miệng gọi tôi là écroué – cha, và mời tôi ngồi xuống một khúc thân cây lớn đặt trước hiên nhà; đó dường như chính là ngai vàng của ngài, bởi ngài đã long trọng đặt tôi ngồi vào đấy, rồi cọ chiếc mũi vương giả của mình vào mũi tôi. Sau khi điệu nhảy kết thúc, đám phụ nữ lui vào trong lều và quay ra mời chúng tôi một bữa tiệc nhẹ được dọn trong những chiếc vỏ dừa. Đó là một loại bột nhão, tôi tin rằng nó được làm từ đủ loại trái cây trộn lẫn với một dạng bột mì cùng nước cốt dừa. Hợp chất này đối với tôi thực sự kinh khủng đến mức không tài nào nuốt nổi; bù lại, tôi đành ăn hạt dừa và bánh mì trái cây để thay thế. Nhận thấy tôi ưa chuộng những thứ này, Bara-ourou liền ra lệnh hái thêm để mang lên chiếc xuồng lớn.

Túp lều tựa lưng vào một khu rừng cọ cùng nhiều loài cây khác, thế nên việc cung cấp lương thực diễn ra vô cùng nhanh chóng. Vẫn còn dư dã thời gian để các con trai tôi chạy ra xuồng, dưới sự kèm cặp của Parabéry, và mang từ trong rương ra một ít hạt cườm, gương soi, kéo, kim và ghim băng để ban phát cho các phu nhân. Khi họ mang số trái cây vừa hái đến, tôi ra hiệu cho Bara-ourou dẫn họ đi tham quan chiếc xuồng; ngài gọi đám phụ nữ lại, và họ rụt rè tuân theo, phục tùng mọi mong muốn của ngài trong sự ngoan ngoãn. Họ khiêng trái cây từng cặp một trong những chiếc giỏ được đan lát từ sậy vô cùng khéo léo, mang hình dáng chẳng khác nào đồ vật châu Âu. Bên trong chỗ ở của họ chẳng có lấy một món đồ đạc nào ngoài những tấm thảm, chắc hẳn dùng làm giường ngủ, cùng vài khúc thân cây làm ghế ngồi và bàn ăn. Vài chiếc giỏ được treo lủng lẳng trên vách tre làm bằng tường nhà, bên cạnh là lao, ná, gậy chiến và những thứ vũ khí tương tự; từ đó tôi suy ra đây là một bộ tộc thượng võ. Dù vậy, tôi chẳng quan tâm quan sát quá nhiều, bởi tâm trí tôi đã đặt hết vào tương lai và tôi đang vô cùng nóng lòng chờ đợi thời điểm lên đường. Tôi hối hả tiến về phía chiếc xuồng, nơi các con trai tôi đang phân phát quà cáp cho đám phụ nữ, những người dù không dám cất lời bày tỏ niềm vui sướng nhưng điều đó lộ rõ trên nét mặt của họ. Họ lập tức bắt đầu xúng xính xiêm y với những món quà vừa nhận được, tỏ ra trân quý những chiếc gương soi hơn cả các đức lang quân của họ trước đó. Chẳng mấy chốc họ đã nắm bắt được công dụng của chúng và dùng gương để căn chỉnh lại những chuỗi hạt cườm quanh cổ, đầu và tay sao cho thật có gu thẩm mỹ.

Cuối cùng thì hiệu lệnh khởi hành cũng được cất lên; tôi cọ mũi mình vào mũi nhà vua. Tôi đinh ninh tặng thêm cho ngài một gói đinh sắt cùng một gói khuy mạ vàng mà ngài có vẻ rất thèm thuồng. Tôi bước lên chiếc xuồng của mình, và dưới sự dẫn dắt của người bạn tốt Parabéry, chúng tôi rẽ sóng hướng về vùng bờ biển nơi những người thân yêu mà tôi hằng mong mỏi hội ngộ đang sinh sống. Một vài kẻ hoang dã tháp tùng chúng tôi trên chiếc thuyền độc mộc của riêng họ; chúng tôi hẳn sẽ thích thú hơn nếu chỉ có một mình người bạn Parabéry, nhưng ngặt nỗi chúng tôi đâu phải chủ nhân cuộc chơi.

Được làn gió thuận chiều nâng bước, chúng tôi chẳng mấy chốc đã chạm tới bờ biển mà mình từng rời bỏ, và bắt gặp vị truyền giáo kính yêu đang kiên nhẫn đợi chờ.

– Lại đây nào, – ông cất tiếng, – giờ thì các anh sắp nhận lấy phần thưởng xứng đáng rồi đây. Vợ và các con anh đang mòn mỏi ngóng trông; lẽ ra họ đã tự thân ra tận đây đón các anh, nhưng ngặt nỗi vợ anh vẫn còn yếu và Jack thì đang chịu đựng cơn đau – sự hiện diện của anh sẽ sớm chữa lành cho họ thôi.

Tôi xúc động đến nghẹn ngào chẳng thốt nên lời. Fritz chìa tay cho tôi vịện vào, vừa để nâng đỡ tôi vừa để kìm nén bản thân khỏi lao vút đi trước. Ernest cũng làm điều tương tự với ông Willis; sự điềm đạm của thằng bé rất được lòng vị nhân hậu, người cũng nhận ra niềm đam mê học hỏi ở cậu và luôn tìm cách khích lệ nó. Sau chừng nửa giờ đồng hồ đi bộ, vị truyền giáo thông báo rằng chúng tôi đã đến rất gần những người bạn thân yêu. Tôi chẳng thấy chút dấu hiệu nào của nhà cửa chòi tranh, chỉ toàn cây cối và đá sỏi; để rồi cuối cùng, tôi thoáng thấy một làn khói mỏng lãng đãng giữa tán lá, và ngay khoảnh khắc ấy, Francis – kẻ vẫn luôn túc trực canh chừng – liền hớt hải chạy ra tiếp đón chúng tôi.

– Mẹ đang đợi mọi người kìa, – thằng bé thốt lên, vừa dẫn đường đưa chúng tôi xuyên qua một lùm cây bụi rậm rạp đủ sức che khuất hoàn toàn lối vào của một hang động; chúng tôi buộc phải khom lưng mới lách qua được. Nơi này gợi nhớ rất nhiều đến lối vào hang gấu mà chúng tôi từng tìm thấy ở vùng hẻo lánh trên hòn đảo của mình. Một tấm thảm sậy che kín miệng hang nhưng vẫn cho phép những tia sáng lọt vào bên trong. Francis vén tấm thảm lên, cất tiếng gọi:

– Mẹ ơi, chúng con về rồi đây!

Một người phụ nữ, thoạt nhìn độ chừng hai mươi bảy tuổi, mang dung mạo hiền hòa và dễ mến, bước ra nghênh đón tôi. Nàng khoác trên mình chiếc áo choàng làm từ những chiếc lá cọ kết dính lại với nhau, dài từ cổ chấm đến tận gót chân, để lộ đôi tay thon gọn xinh đẹp. Mái tóc vàng óng của nàng được tết gọn gàng và bện vòng quanh đỉnh đầu.

– Chào mừng anh đã đến, – nàng vừa nói vừa đón lấy bàn tay tôi; – anh sẽ là vị lương y tuyệt vời nhất cho người bạn bất hạnh của tôi đây.

Chúng tôi bước vào và nhìn thấy người vợ thân yêu của mình đang ngồi trên một chiếc giường bện từ rêu và lá cây; nàng khóc nức nở, đưa tay chỉ cho tôi cậu con trai bé bỏng đang nằm ngay cạnh. Một nàng tiên nhỏ chừng mười hay mười hai tuổi đang cố gắng xốc người thằng bé dậy.

– Đây là cha và các anh của em này, Jack, – con bé nói; – em thật diễm phúc khi có được những người mà chị chẳng có: nhưng cha của em cũng sẽ là cha của chị, và em sẽ là anh trai của chị nhé.

Jack xúc động gửi lời cảm ơn con bé. Fritz và Ernest quỳ sụp xuống bên cạnh chiếc giường, ôm chầm lấy người mẹ. Fritz khẩn khoản xin mẹ tha thứ vì đã trót làm em trai bị thương; rồi sau đó ân cần hỏi han Jack về vết thương. Về phần mình, tôi chẳng thể nào diễn tả hết nỗi niềm biết ơn và bàng hoàng trong dạ; tôi khó lòng thốt nổi nên lời với người vợ yêu dấu, người mà lúc này cũng đã gục xuống trong cơn kiệt sức trên chiếc phảng. Người phụ nữ mà tôi láng giáng hiểu rằng mang tên Madame Hirtel liền bước đến hỗ trợ nàng. Khi đã hồi sức, nàng giới thiệu với tôi Madame Hirtel cùng hai cô con gái. Người chị cả, Sophia, đang tận tình chăm sóc Jack; Matilda, độ chừng mười hoặc mười lập tuổi, thì đang đùa giỡn với Francis; trong khi vị truyền giáo nhân từ đang quỳ gối tạ ơn Chúa vì đã cho phép chúng tôi đoàn tụ.

– Và đoàn tụ trọn đời, – người vợ thân yêu của tôi thốt lên. – Chàng ơi, thiếp thừa hiểu rằng chàng sẽ cất công lên đường tìm kiếm thiếp; nhưng làm sao thiếp dám ngờ được chàng lại có thể thành công tìm thấy nơi này cơ chứ? Từ nay chúng ta sẽ chẳng bao giờ phải chia lìa nữa; người bạn quý giá này đã đồng ý cùng chúng ta xuôi về Hòn đảo Hạnh phúc, đó là cái tên mà thiếp định đặt cho nơi ấy, nếu thiếp may mắn được đặt chân trở lại chốn đó cùng tất cả những gì thiếp trân quý trên cõi đời này. Chúa thật nhân từ khi cho phép chúng ta gặt hái những phước lành từ chính muôn vàn giông bão thử thách. Hãy nhìn xem những gì mà nghịch cảnh đã ban tặng cho tôi: một người bạn tri kỷ và hai cô con gái dấu yêu, bởi từ nay về sau chúng ta chỉ là một gia đình duy nhất.

Chúng tôi đều vô cùng hoan hỉ trước sự sắp đặt này, đồng thời khẩn khoản mời ông Willis hãy ghé thăm chúng tôi thường xuyên hơn, thậm chí đến sinh sống tại Hòn đảo Hạnh phúc khi sứ mệnh của ông hoàn tất.

– Ta đồng ý, – ông đáp, – nếu các anh chịu sang đây giúp ta hoàn thành các bổn phận; để làm được điều đó, anh và các con trai phải học cho bằng được thứ ngôn ngữ của những người dân đảo này. Chúng ta nằm gần hòn đảo của các anh hơn các anh tưởng đấy, bởi các anh đã đi một vòng đường vòng quá đỗi quanh co, và Parabéry – kẻ nắm rõ như lòng bàn tay – khẳng định rằng hành trình ấy chỉ tốn vỏn vẹn một ngày lênh đênh nếu gặp gió thuận. Hơn nữa, cậu ta thổ lộ với ta rằng cậu ta vô cùng quý mến cha con anh đến mức chẳng nỡ rời xa, và muốn ta xin phép các anh cho cậu ta được đồng hành, ở lại chung sống với các anh. Cậu ta sẽ cực kỳ hữu dụng đối với gia đình mình: vừa dạy ngôn ngữ cho tất cả mọi người, vừa đóng vai trò là cầu nối liên lạc nhanh chóng giữa đôi bên chúng ta.

Tôi vui vẻ chấp thuận việc đưa Parabéry đi cùng như một người bạn; nhưng đây chưa phải thời điểm thích hợp để nghĩ đến chuyện dời chân, bởi ông Willis vẫn muốn giữ Jack lại để chăm sóc y tế thêm vài ngày nữa; thế nên chúng tôi thống nhất rằng tôi cùng hai cậu con trai sẽ ở lại làm khách của ông, do túp lều của ông cách đó chẳng bao nhiêu. Có quá nhiều chuyện chúng tôi muốn hỏi han; nhưng vì vợ tôi hãy còn quá yếu sức để có thể kể lại những cuộc phiêu lưu của nàng, chúng tôi quyết định lắng nghe câu chuyện của Madame Hirtel trước. Khi màn đêm buông xuống, vị truyền giáo thắp lên một chiếc đèn làm bằng quả bầu khô, và sau bữa tiệc nhẹ gồm bánh mì trái cây, Madame Hirtel bắt đầu cất lời kể câu chuyện đời mình.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.