Gia Đình Robinson Trên Đảo Hoang

Lượt đọc: 125 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 8

❊ ❊ ❊

“Này, Elizabeth thân mến,” tôi nói khi thức dậy vào sáng sớm hôm sau, “chúng ta hãy bàn thêm về dự định lớn lao là chuyển chỗ ở; ngặt một nỗi là có quá nhiều điều bất cập. Trước hết, có lẽ sự khôn ngoan má bảo chúng ta nên ở yên nơi ơn Trên đã sắp đặt, nơi chúng ta vừa có phương tiện sinh nhai từ con tàu, vừa được an toàn trước mọi cuộc tấn công nhờ sự bảo bọc của vách đá, dòng sông và biển cả tứ bề.”

Vợ tôi lại tỏ ý không tin tưởng dòng sông vốn chẳng thể che chở chúng ta khỏi bầy chó rừng, đồng thời phàn nàn về cái nóng không thể chịu nổi của chùng sa mạc cát này, về việc bà chán ngấy những món ăn như hàu và ngỗng rừng; và cuối cùng, là nỗi thống khổ giày vò tâm can mỗi khi chúng ta mạo hiểm ra con tàu đắm; bà sẵn sàng từ bỏ mọi báu vật trên đó, và khẩn khoản xin chúng ta hãy bằng lòng với những phúc lành mà mình đang có.

“Những điều em lo lắng không phải là không có lý,” tôi đáp, “và có lẽ chúng ta có thể dựng một chỗ trú ẩn dưới những rễ cây ưa thích của em; nhưng giữa chốn vách đá này, chúng ta buộc phải có một nhà kho để cất trữ đồ đạc và một nơi ẩn náu khi có giặc giã xâm lăng. Anh hy vọng dùng thuốc súng đánh sập một phần vách đá để có thể gia cố đoạn giáp với sông, đồng thời chừa lại một lối đi bí mật chỉ riêng chúng ta biết. Như vậy thì chẳng khác nào thành đồng vách sắt. Nhưng trước khi tiến hành, chúng ta phải bắc một cầu để chuyển hành lý qua sông cái đã.”

“Cầu cớ gì chứ,” bà bực dọc nói; “thế thì bao giờ chúng ta mới rời khỏi nơi này? Sao chúng ta không lội qua như mọi khi? Bò với lừa có thể chở đồ đạc cho chúng ta cơ mà.”

Tôi giải thích cho bà hiểu việc chuyên chở đạn dược và lương thực qua sông mà không bị ướt là tối quan trọng thế nào, đồng thời nài nỉ bà may vài chiếc túi cùng giỏ đựng, còn việc làm cầu cứ để tôi và mấy đứa con lo. Nếu thành công, chiếc cầu ấy lúc nào cũng có ích; còn về phần phòng ngừa sấm sét hay tai nạn rủi ro, tôi dự tính sẽ làm một kho chứa thuốc súng ẩn giữa các vách đá.

Vấn đề trọng đại giờ đã được định đoạt. Tôi gọi các con lại và phổ biến kế hoạch cho chúng. Bọn trẻ vô cùng thích thú, dẫu cũng hơi hoang mang trước dự án làm cầu có vẻ quá tầm; thêm nữa, việc phải trì hoãn khiến chúng nôn nóng; đứa nào cũng khao khát được dọn đến Vùng Đất Hứa, theo cách gọi của chúng.

Chúng tôi đọc kinh xong xuôi rồi mới tính chuyện điểm tâm. Con khỉ con bú sữa một con dê cứ như thể đó là mẹ nó vậy. Vợ tôi vắt sữa bò, đãi chúng tôi bữa sáng gồm sữa nấu sôi ăn kèm bánh quy; một ít sữa còn lại nàng đổ vào bình để chúng tôi mang theo trong chuyến thám hiểm. Sau đó, chúng tôi chuẩn bị xuồng để chèo ra tàu, kiếm ván và gỗ đóng cầu. Tôi mang theo cả Ernest lẫn Fritz, vì đoán trước hàng hóa sẽ nặng và cần đến tất cả tay chân mới đưa được vào bờ.

Chúng tôi ráng sức chèo cho đến khi ra tới dòng chính, nơi chẳng mấy chốc đã cuốn xuồng vượt qua khỏi vịnh. Vừa tới một cù lao nhỏ ở cửa vịnh, chúng tôi đã thấy vô số mòng biển cùng các loài thủy điểu khác đang chao lượn với những tiếng kêu lạc giọng phía trên. Tôi giương buồm, xuồng lao nhanh tới; và khi đến gần, chúng tôi bước lên bờ, nhận thấy đám chim đang hau háu rỉa xác một con cá lớn đến nỗi chúng chẳng mùng gì đến sự xuất hiện của chúng tôi. Ta hoàn toàn có thể đập chết hàng loạt chỉ bằng gậy gộc. Đó chính là con cá mập mà tối hôm trước Fritz đã bắn trúng đầu một cách tài tình. Thằng bé tìm thấy dấu vết của ba viên đạn mình bắn ra. Ernest rút cây thông nòng khỏi súng, vung tay quật tới tấp sang trái sang phải vào đàn chim, đánh chết được mấy con và làm số còn lại hoảng sợ bay toán loạn. Chúng tôi vội vàng cắt lấy vài miếng da của con quái vật mà tôi nghĩ sẽ có ích, rồi bỏ chúng lên xuồng. Nhưng đó chưa phải là món lợi duy nhất thu được khi lên đảo. Tôi nhìn thấy ngồn ngộn những khúc gỗ trôi dạt nằm dọc bờ cù lao, nhờ đó chúng tôi sẽ đỡ được một chuyến ra tàu. Chúng tôi chọn những tấm ván vừa vặn với mục đích sử dụng; đoạn, nhờ chiếc kích dùng cho tời và vài đòn bẩy mang theo, chúng tôi cạy các tấm ván ra khỏi cát rồi đẩy nổi chúng trên mặt nước; tiếp đến, dùng dây thừng buộc chặt các cột buồm và xà ngang lại với nhau, đặt ván lên trên trông như một chiếc bè, rồi cột chặt vào đuôi xuồng và giương buồm lên.

Trên đường đi, Fritz tranh thủ phơi khô tấm da cá mập mà tôi hy vọng sẽ chế thành giũa. Còn Ernest, với vẻ suy tư quen thuộc, nhận xét với tôi rằng: “Thật là một sự sắp đặt kỳ diệu của Đấng Tối Cao khi miệng cá mập nằm ở vị trí buộc nó phải ngửa bụng lên mới vớp được mồi, nhờ vậy con mồi mới có cơ hội trốn thoát; chứ nếu không, với tính tham ăn vô độ ấy, nó đã làm cạn kiệt sinh vật đại dương từ lâu rồi.”

Cuối cùng, chúng tôi cũng về tới chỗ cập bến, vừa cột xuồng vừa cất tiếng gọi lớn, chẳng mấy chốc đã thấy đám bạn nhỏ chạy từ phía bờ sông tới; trên tay đứa nào cũng cầm một chiếc khăn tay túm đầy những chiến lợi phẩm mới, riêng Francis còn quàng qua vai một chiếc lưới đánh cá nhỏ. Jack đến nơi trước tiên, hất từ chiếc khăn tay xuống đất mấy con tôm đất béo múp. Đứa nào cũng bắt được ngần ấy, đủ làm thức ăn dự trữ cho nhiều ngày.

Francis tranh phần nhận công phát hiện ra chúng. Jack liền kể lại chuyện cậu và Francis rảo bước đi tìm chỗ làm cầu.

“Cảm ơn cậu kiến trúc sư nhé,” tôi nói; “thế thì cậu phải đứng ra chỉ đạo đám thợ thôi. Đã chấm được chỗ nào chưa?”

“Rồi chứ, rồi chứ!” thằng bé kêu lên; “bố cứ nghe con kể đây. Lúc chúng con ra tới sông, Francis đang ngó nghiêng xung quanh bỗng hét lớn: ‘Jack! Jack! Con chó rừng của thằng Fritz dính đầy cua kìa! Ra đây mau!—mau lên!’ Con liền chạy đi mách mẹ, mẹ mang theo cái lưới lấy từ trên tàu xuống, thế là chúng con tóm gọn được đám này chỉ trong vài phút, mà nếu bố không đến thì còn bắt được nhiều nữa cơ.”

Tôi bảo chúng thả những con nhỏ xuống lại dòng sông, chỉ giữ lại chừng nào đủ ăn. Tôi thực sự tạ ơn Chúa vì đã khám phá thêm được một nguồn thực phẩm nữa.

Bây giờ chúng tôi mới bắt đầu dỡ gỗ lên bờ. Tôi đã đi xem địa điểm làm cầu mà Jack chọn, và thấy cậu kiến trúc sư nhỏ của mình rất có gu khi chấm trúng chỗ này; ngặt nỗi nó lại nằm cách khá xa chỗ cất gỗ. Tôi chợt nhớ tới bộ yên cương đơn giản mà người Lapland dùng cho tuần lộc. Tôi bèn buộc dây thừng vào sừng con bò — vì sức mạnh của loài này tập trung ở đầu — rồi thắt các đầu dây còn lại vào khúc gỗ cần di chuyển. Tôi tròng một sợi dây dắt vào cổ con lừa, rồi nối tiếp dây thừng vào đó. Nhờ vậy, chúng tôi dần dần chuyển được toàn bộ số gỗ đến địa điểm đã chọn, nơi hai bên bờ sông dựng đứng và có chiều cao ngang nhau.

Để chọn được những tấm ván phù hợp, cần phải biết rõ chiều rộng của dòng sông. Ernest bèn đề xuất xin mẹ một cuộn chỉ thêu, buộc một đầu vào hòn đá rồi ném qua bên kia sông, sau đó kéo lại để đo lường. Mẹo này thành công rực rỡ. Chúng tôi đo được sông rộng mười tám bộ; nhưng vì tôi muốn chiếc cầu thêm phần chắc chắn với ít nhất ba bộ gác ở mỗi bên bờ, nên chúng tôi đã chọn những tấm ván dài tới hai mươi bốn bộ. Đưa được đám ván này qua sông ra sao lại là một vấn đề khác, và chúng tôi chuẩn bị bàn thảo trong bữa trưa, lúc bấy giờ vợ tôi đã cất tiếng gọi.

Bữa trưa của chúng tôi gồm một đĩa tôm đất và món cháo sữa ngon tuyệt. Nhưng trước khi ăn, chúng tôi hết lời trầm trồ trước thành quả của nàng. Nàng đã may được một cặp túi cho con lừa bằng chỉ thêu; ngặt vì không có kim to, nàng đành phải dùng đinh để đục lỗ, quả là một công đoạn vô cùng tẻ nhạt và đau đớn. Mãn nguyện với thành công của mình, chúng tôi quay lại bữa ăn, chuyện trò rôm rả về cây cầu mà bọn trẻ đã sớm đặt cho cái tên Nonpareil. Ăn xong, chúng tôi bắt tay vào việc.

Bên bờ sông tình cờ có một gốc cây già cỗi mọc sẵn. Tôi lấy một sợi dây thừng chắc nịch buộc thanh dầm chính vào gốc cây này, để lỏng vừa đủ để nó có thể quay quanh thân cây. Một sợi dây khác được nối vào đầu bên kia của thanh dầm, đủ dài để vắt qua sông hai lần. Tôi cầm đầu sợi dây băng qua dòng suối, nơi trước đó chúng tôi đã treo chiếc ròng rọc tháo từ xuồng lên một cái cây bằng chiếc móc vốn dùng để treo nó. Tôi luồn dây qua ròng rọc, rồi mang đầu dây quay trở lại bờ bên kia của mình. Tiếp đó, tôi ách con bò và con lừa vào đầu dây, rồi quất roi thúc chúng giật lùi khỏi bờ. Thanh dầm chậm chạp quay quanh gốc cây, rồi nhích dần lên trước, và cuối cùng đã vắt ngang qua sông trong tiếng hò reo vang dội của bọn trẻ; chính trọng lượng của nó đã giữ cho nó nằm vững vàng. Fritz và Jack liền nhảy ngay lên đó để chạy qua sông, khiến tôi được một phen hú vía.

Chúng tôi cứ thế đặt thành công bốn thanh dầm chắc chắn theo cách tương tự; và với sự trợ giúp của mấy đứa con, tôi sắp xếp chúng cách đều nhau để có được một mặt cầu rộng rãi, vững chãi. Kế đó, chúng tôi xếp khít các tấm ván lên trên những thanh dầm ấy; nhưng không đóng cố định, bởi khi có biến cố hiểm nghèo, ta có thể phải tháo dỡ cầu thật nhanh. Vợ con tôi ai nấy phấn khích không kém gì lũ trẻ, hớn hở chạy tung tăng qua lại. Chiếc cầu của chúng tôi rộng ít nhất là mười bộ.

Kiệt sức sau một ngày lao động vất vả, chúng tôi quay về nhà, ăn tối, tạ ơn Chúa rồi lên giường đi ngủ.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.