Gia Đình Robinson Trên Đảo Hoang

Lượt đọc: 125 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 26

❊ ❊ ❊

Cách bình minh một tiếng đồng hồ, tôi đánh thức các con dậy để phụ giúp việc chuyển đàn ong sang ngôi nhà mới mà tôi đã chuẩn bị sẵn. Tôi bắt đầu bằng cách bịt kín lối ra vào tổ hiện tại của chúng bằng đất sét, chỉ chừa lại một lỗ vừa đủ để đút vừa cái đầu tẩu thuốc của tôi. Việc này rất cần thiết, bởi vì tôi không có mặt nạ hay găng tay như những người nuôi ong chuyên nghiệp. Sau đó, tôi bắt đầu rít thuốc thật nhanh để làm lũ ong say thuốc mê. Ban đầu, chúng tôi nghe thấy tiếng vo ve dữ dội phát ra từ hốc cây, tựa như tiếng một cơn bão ở đằng xa; rồi tiếng lầm rầm ấy nhỏ dần và nhường chỗ cho một sự tĩnh lặng tuyệt đối, và tôi rút tẩu thuốc ra mà không thấy một con ong nào lộ diện cả. Fritzt cùng tôi bèn dùng một chiếc đục và một cái rìu nhỏ để trổ một ô cửa sổ hình vuông cạnh khoảng ba thước, nằm ngay phía dưới lối ra vào của đàn ong. Trước khi cạy miếng gỗ này ra, tôi lại thổi khói vào lần nữa, đề phòng tiếng động và không khí trong lành đánh thức lũ ong dậy; nhưng chẳng có gì phải lo lắng cả — chúng đã say mềm. Chúng tôi gỡ miếng gỗ ra, và qua khung cửa mở ấy, chúng tôi ngỡ ngàng lẫn thán phục trước công trình của loài côn trùng cần cù này. Sáp và mật nhiều đến nỗi chúng tôi sợ rằng mình chẳng có đủ vật dụng để chứa. Phần bên trong của thân cây đặc kín những tầng ong; tôi cẩn thận cắt chúng ra và đặt vào những quả bầu khô mà các con mang đến cho tôi. Ngay khi vừa dọn được một khoảng trống nhỏ, tôi đặt tầng ong ở trên cùng, nơi lũ ong đang bám thành từng chùm, vào chiếc tổ mới, rồi đặt nó lên tấm ván đã được chuẩn bị sẵn; kế đó, tôi leo xuống cùng với phần sáp mật còn lại và đổ đầy một cái thùng phuy mà tôi đã rửa sạch bằng nước suối từ trước; chúng tôi dùng bạt và ván che đậy cẩn thận để lũ ong, bị thu hút bởi mùi hương, không quay lại đòi lại tài sản của chúng. Chúng tôi chừa lại một ít bánh mật để làm món tráng miệng trong bữa tối, và vợ tôi cẩn thận cất phần còn lại đi.

Để ngăn không cho lũ ong quay lại tổ cũ, chúng tôi nhét một ít thuốc lá đang cháy vào hốc cây, khói và mùi của nó sẽ đuổi chúng đi mỗi khi chúng định bay vào; và cuối cùng, chúng đã chịu định cư ở tổ mới, nơi ong chúa chắc hẳn đã chọn làm đại bản.

Giờ thì chúng tôi bắt đầu công việc: chúng tôi trút hết thùng mật vào một cái vạc lớn, chỉ bớt lại một ít dùng cho sinh hoạt hằng ngày; chúng tôi cho thêm chút nước, đặt vạc lên bếp lửa liu riu và đun cho tan chảy hoàn toàn; hỗn hợp này sau đó được lọc qua một cái túi vào thùng và để qua đêm cho nguội. Sáng hôm sau, lớp sáp đã nổi lên trên bề mặt, tạo thành một khối cứng và đặc mà chúng tôi dễ dàng lấy ra; còn ở phía dưới chính là thứ mật ong tinh khiết và thơm ngon nhất. Chiếc thùng sau đó được đậy kín và cất vào nơi mát mẻ. Tiếp theo, chúng tôi tiến hành kiểm tra bên trong thân cây. Tôi cầm một cây sào dài để đo chiều cao từ ô cửa sổ mình vừa trổ; đồng thời cột một hòn đá vào sợi dây để dò độ sâu. Thật ngạc nhiên, cây sào đâm tuột xuống tận những cành cây nơi gia đình chúng tôi ở mà không gặp chút kháng cự nào, và hòn đá đã chạm đến tận rễ. Nó rỗng hoàn toàn, và tôi nghĩ mình có thể dễ dàng lắp một chiếc cầu thang xoắn ốc trong cái ống khổng lồ này. Xem ra, cái cây to lớn này, cũng giống như loài liễu ở quê hương chúng tôi, hút dinh dưỡng qua lớp vỏ, nên nó vẫn đang xanh tươi tràn đầy sức sống.

Chúng tôi bắt đầu bằng việc khoét một ô cửa ra vào ở phía hướng ra biển, kích thước đúng bằng cánh cửa mà chúng tôi đã mang về từ cabin của viên thuyền trưởng, kèm theo cả khung của nó, nhờ đó bảo vệ chúng tôi khỏi mọi sự xâm nhập từ hướng đó. Sau đó, chúng tôi làm sạch và bào nhẵn phăng phắc phần hốc bên trong, dựng cố định ở chính giữa một thân cây cao chừng mười thước để làm trụ cho cầu thang. Từ chiều hôm trước, chúng tôi đã chuẩn bị sẵn một số ván xẻ từ các thanh của một chiếc thùng lớn để làm bậc thang. Bằng sự trợ giúp của đục và búa, chúng tôi trổ những rãnh sâu vào phần thân bên trong của cây, và những rãnh tương ứng trên chiếc cột trung tâm; tôi đặt các bậc thang vào những rãnh này, đóng đinh thật chắc; tôi cứ thế leo lên từng bậc một, luôn xoay vòng quanh chiếc cột cho đến khi lên tới đỉnh. Sau đó, chúng tôi dựng tiếp lên đỉnh cột chính một khúc gỗ khác có chiều cao tương tự đã được chuẩn bị từ trước, và tiếp tục làm các bậc thang xoắn ốc. Chúng tôi phải lặp lại thao tác này bốn lần, và cuối cùng, chúng tôi đã lên tới các cành cây, kết thúc chiếc cầu thang ngay tại cao độ sàn nhà của chúng tôi. Tôi dùng vài nhát rìu để dọn sạch lối ra vào. Để cầu thang thêm phần chắc chắn, tôi lấp đầy các khoảng trống giữa các bậc bằng ván, và căng hai sợi dây thừng thật chắc từ trên cao xuống hai bên cầu thang để làm chỗ vịn. Tại các hướng khác nhau, tôi trổ thêm các ô cửa sổ lấy từ cabin tàu lắp vào, nhờ đó ánh sáng ngập tràn bên trong và giúp chúng tôi dễ dàng quan sát khung cảnh bên ngoài.

Công việc xây dựng chiếc cầu thang vững chãi và tiện lợi này ngốn mất của chúng tôi cả một tháng trời kiên nhẫn miệt mài; không phải vì chúng tôi lao động như nô lệ, bởi chẳng có ai ép buộc chúng tôi cả; trong khoảng thời gian ấy, chúng tôi cũng hoàn thành vài công việc ít quan trọng hơn; và biết bao sự kiện đã mang lại niềm vui cho chúng tôi giữa bề bộn nhọc nhằn.

Vài ngày sau khi chúng tôi khởi công, con chó Flora sinh được sáu con chó con; nhưng vì số lượng quá đông so với khả năng nuôi dưỡng của gia đình, tôi ra lệnh chỉ giữ lại một con đực và một con cái để duy trì nòi giống; việc này đã được thực hiện, và chú chồn tai nhỏ được đặt chung với bầy chó con, được Flora đối xử chẳng khác gì khúc ruột của mình. Đàn dê của chúng tôi cũng vào khoảng thời gian này mà sinh được hai con dê con; và đàn cừu sinh thêm vài chú cừu non. Chúng tôi vô cùng mãn nguyện khi chứng kiến bầy gia súc ngày một đông đúc; và để đề phòng những con vật hữu ích này nổi ý định đi lang thang giống như con lừa của chúng ta từng làm, chúng tôi bèn buộc vào cổ chúng mấy chiếc chuông nhỏ nhặt được từ xác tàu, vốn định dùng để lấy lòng thổ dân, và giờ đây chúng sẽ luôn giúp chúng tôi lần ra dấu vết của những kẻ trốn chạy.

Việc huấn luyện chú trâu rừng non là một trong những hoạt động làm phong phú thêm cho khoảng thời gian lao động mộc mạc của chúng tôi. Xuyên qua vết mổ ở mũi nó, tôi xỏ một thanh gỗ nhỏ, rồi gắn dây da vào hai đầu thanh gỗ. Cách này tạo ra một thứ hàm thiết tương tự như kiểu của người Hottentot; nhờ đó tôi có thể điều khiển nó theo ý muốn, dẫu rằng nó cũng bày tỏ không ít sự chống đối. Phải đợi đến khi Fritz thuần hóa nó để có thể cưỡi, chúng tôi mới bắt đầu dùng nó làm vật vận tải. Quả thực, đây là một minh chứng đáng kinh ngạc về lòng kiên trì và sự bền bỉ đã vượt qua mọi khó khăn: chúng tôi không những huấn luyện được nó mang những chiếc túi đôi thường trúng dùng cho con lừa, mà Ernest, Jack, và thậm chí cả cậu út Francis cũng tập tành học cưỡi ngựa bằng cách cỡi lên lưng nó, và kể từ nay, các cậu bé chắc chắn có thể tự tin cưỡi bất kỳ con ngựa bất kham nào mà không chút sợ hãi; bởi vì chẳng còn con nào tồi tệ hơn chú trâu mà chúng từng góp sức thuần phục.

Giữa lúc bận rộn ấy, Fritz vẫn không lơ đễnh việc huấn luyện chú đại bàng non của mình. Loài chim quý tộc bắt đầu tỏ ra rất khéo léo trong việc vồ lấy con mồi đã chết mà chủ nhân mang về đặt trước mặt nó; lúc thì đặt giữa đôi sừng trâu, lúc thì trên lưng con gà gò lớn, hay con hồng hạc; có lúc cậu đặt nó lên một tấm ván, hoặc trên đầu một cây sào, nhằm rèn cho nó thói quen lao xuống bắt mồi như loài chim ưng. Cậu dạy nó bay về đậu trên cổ tay mình mỗi khi có tiếng gọi hoặc tiếng huýt sáo; nhưng phải mất một thời gian khá lâu cậu mới dám thả cho nó bay tự do mà không cần buộc một sợi dây dài ở chân, vì sợ bản tính hoang dã sẽ khiến nó rời bỏ chúng tôi mãi mãi. Ngay cả cậu Ernest lười biếng cũng bị cuốn vào cơn cuồng phong huấn luyện động vật. Cậu nhận gánh vác việc dạy dỗ chú khỉ nhỏ của mình, và con vật đã mang lại cho cậu không ít việc để làm. Thật buồn cười khi nhìn thấy một Ernest trầm tính, chậm chạp và mọt sách mà nay lại phải nhảy nhót, nô đùa cùng học trò để hoàn thành bài học. Cậu muốn tập cho ngài Knips mang một chiếc giỏ lác trên lưng và trèo lên những cây dừa; Jack và cậu đã đan một chiếc giỏ nhỏ bằng sậy, rồi dùng ba sợi dây đai buộc chặt nó vào lưng chú khỉ. Ban đầu, điều này khiến chú ta khó chịu tột cùng; nó nghiến răng, lăn lộn dưới đất, nhảy cẫng lên điên cuồng và vô vọng tìm cách giật tung chiếc giỏ ra. Họ cứ để chiếc giỏ trên lưng nó suốt ngày đêm, và chỉ cho phép nó ăn những thứ mà nó đã tự tay bỏ vào đó trước. Chẳng mấy chốc, nó đã quen đến mức nổi giận nếu ai đó định tháo chiếc giỏ ra, và sẽ vứt bất cứ thứ gì được đưa cho vào trong đó. Nó rất hữu ích với chúng tôi, nhưng chỉ vâng lời một mình Ernest — người đã vô cùng khôn ngoan khi vừa dạy nó biết yêu thương lại vừa kính sợ mình.

Jack không gặp nhiều may mắn với chú chó rừng của mình; bởi vì mặc dù cậu đặt cho nó cái tên “Thợ Săn”, nhưng suốt sáu tháng đầu tiên, con mãnh thú ăn thịt này chỉ săn mồi cho riêng nó, và nếu có mang thứ gì về cho chủ nhân, thì đó cũng chỉ là bộ da của con vật mà nó vừa ăn thịt xong; thế nhưng tôi khuyên cậu đừng nản lòng, và thế là cậu tiếp tục kiên trì huấn luyện.

Trong khoảng thời gian này, tôi đã hoàn thiện quy trình làm nến của mình; nhờ vào việc trộn sáp ong với sáp thu được từ cây lộc vừng, kết hợp với các khuôn ống sậy mà Jack là người đầu tiên gợi ý, tôi đã thành công trong việc tạo cho những ngọn nến của mình độ tròn trịa và vẻ bóng bẩy chẳng kém gì nến ở châu Âu. Phần bấc nến đã từng là một trở ngại trong suốt một thời gian. Tôi không muốn dùng đến số lượng vải cotton ít ỏi còn lại, nhưng vợ tôi đã đưa ra một gợi ý tuyệt vời là thay thế bằng phần ruột xốp của một loại cây cơm cháy, và nó đáp ứng hoàn hảo yêu cầu của tôi.

Bây giờ tôi chuyển sang công đoạn xử lý nhựa cao su, loại cây mà chúng tôi đã tìm thấy vài cây trong rừng. Tôi khuyến khích các con phát huy sự khéo léo để tự tay làm ra những chiếc bình đựng và cốc bằng cách trét lớp mủ nhựa lên các khuôn bằng đất sét, như tôi đã hướng dẫn. Về phần mình, tôi lấy một đôi vớ cũ rồi nhồi đầy cát vào làm khuôn, sau đó phết bên ngoài một lớp bùn dày và đem phơi nắng. Tôi cắt một đôi đế giày bằng da trâu, đem đập thật kỹ rồi dùng những chiếc đinh tán nhỏ đóng chặt vào phần đế chiếc vớ, dùng mủ cao su lấp đầy các khe hở để cố định hoàn toàn. Tiếp theo, dùng một chiếc chổi lông dê, tôi quét từng lớp mủ đàn hồi này chồng lên nhau cho đến khi cảm thấy đủ độ dày. Sau công đoạn đó, việc rút phần cát, chiếc vớ cùng lớp bùn đã khô ra, rồi rũ sạch bụi trở nên vô cùng dễ dàng, và thế là tôi có ngay một đôi bốt chống thấm nước, không có đường may, ôm chân vừa khít cứ như thể được đóng bởi một người thợ giày người Anh vậy. Các con tôi mừng rỡ phát cuồng và đứa nào cũng nài nỉ xin một đôi; nhưng tôi muốn thử nghiệm độ bền của chúng trước so với bốt da trâu. Tôi bắt đầu làm một đôi bốt cho Fritz, tận dụng phần da lột ra từ chân con trâu mà chúng tôi đã hạ sát; nhưng tôi gặp nhiều khó khăn hơn hẳn so với lúc làm bằng cao su. Tôi phải dùng mủ nhựa để bịt kín các đường chỉ khuyết để nước không thể thấm vào. Quả thật, chúng trông chẳng lấy gì làm thanh thoát xét về mặt thẩm mỹ, và lũ trẻ đã cười ngất trước những bước đi vụng về của anh trai mình trong đôi bốt đó; thế nhưng những sản phẩm do chính chúng làm ra, dẫu là những chiếc bình hữu ích, cũng chẳng phải là những mô hình hoàn mỹ gì cho cam.

Sau đó, chúng tôi quay sang công trình đài phun nước, một nguồn vui lớn đối với vợ tôi và tất cả mọi người. Chúng tôi dựng ở thượng nguồn con suối một chiếc đập nhỏ bằng cọc và đá, từ đó dòng nước chảy vào các máng làm bằng thân cây cọ sago, được đặt thoai thoải kéo dài tém sát lều của chúng tôi; nước được hứng vào chiếc mai rùa mà chúng tôi kê lên mấy tảng đá có độ cao vừa phải, cái lỗ do mũi lao đâm thủng ngày trước nay đóng vai trò là ống thoát nước thải chảy qua một đoạn ống sậy được lắp vừa khít. Trên hai thanh gỗ bắt chéo nhau là những quả bầu làm chức năng thùng đựng nước, và nhờ thế, chúng tôi luôn được nghe tiếng nước róc rách bên mình cùng một nguồn nước dồi dào, luôn tinh khiết và sạch sẽ — điều mà dòng suối vốn bị làm đục bởi lũ thủy cầm và rác rưởi từ lá cây mục nát không phải lúc nào cũng có thể mang lại cho chúng tôi. Điểm bất tiện duy nhất của hệ thống máng hở này là nước khi chảy đến chỗ chúng tôi đã trở nên ấm áp và mất đi sự sảng khoái; nhưng tôi hy vọng sẽ khắc phục được nhược điểm này theo thời gian bằng cách sử dụng các ống tre chôn ngầm dưới đất. Dù sao đi nữa, lúc bấy giờ chúng tôi vô cùng biết ơn phát kiến mới mẻ này, và dành lời tán dương cho Fritz, người đã khởi xướng ý tưởng ấy.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.