Chúng ta thường nghi ngờ liệu người Pháp hay người Mỹ, những người có quá nhiều điểm tương đồng với ta, đã thực sự hiểu được văn học Anh hay chưa, nhưng ta phải thừa nhận một nỗi nghi ngờ còn lớn hơn: liệu người Anh, bất chấp mọi lòng nhiệt thành, có thể hiểu được văn học Nga hay không? Cuộc tranh luận về việc chúng ta hiểu thế nào là "hiểu" có thể kéo dài vô tận. Ai cũng có thể nêu ra những ví dụ, đặc biệt là các nhà văn Mỹ, những người đã viết về văn học và con người chúng ta với sự thấu cảm cao nhất; những người đã sống cả đời giữa chúng ta, và cuối cùng đã thực hiện các thủ tục pháp lý để trở thành thần dân của Vua George. Dẫu vậy, họ đã thực sự hiểu chúng ta chưa, hay đến cuối đời họ vẫn mãi là người ngoại quốc? Có ai tin rằng những cuốn tiểu thuyết của Henry James được viết bởi một người đã lớn lên trong xã hội mà ông miêu tả, hay những bài phê bình của ông về các nhà văn Anh được viết bởi một người đã đọc Shakespeare mà không hề mảy may cảm thấy khoảng cách của Đại Tây Dương và hai hay ba trăm năm ngăn cách nền văn minh của ông với nền văn minh của chúng ta? Người ngoại quốc thường đạt được một sự sắc sảo, tách biệt và một góc nhìn độc đáo; nhưng họ thiếu đi cái sự tự nhiên, thiếu tình bằng hữu và ý thức về những giá trị chung – những điều vốn tạo nên sự thân mật, sự tỉnh táo, và sự giao tiếp nhanh nhạy trong một mối quan hệ gần gũi.
Không chỉ có chừng ấy thứ ngăn cách chúng ta với văn học Nga, mà còn một rào cản nghiêm trọng hơn nhiều – đó là sự khác biệt về ngôn ngữ. Trong số tất cả những người say mê Tolstoi, Dostoevsky và Tchekov suốt hai mươi năm qua, có lẽ không quá một hoặc hai người có thể đọc nguyên tác bằng tiếng Nga. Những đánh giá của chúng ta về tác phẩm của họ được hình thành bởi các nhà phê bình chưa bao giờ đọc một chữ tiếng Nga nào, chưa bao giờ đặt chân đến nước Nga, thậm chí chưa bao giờ nghe người bản xứ nói thứ tiếng đó; họ phải phụ thuộc một cách mù quáng và hoàn toàn vào công trình của các dịch giả.
Như vậy, những gì chúng ta đang nói đến chính là việc chúng ta đã phán xét cả một nền văn học khi nó đã bị tước bỏ phong cách nguyên bản. Khi bạn thay đổi mọi từ trong một câu từ tiếng Nga sang tiếng Anh, bạn đã làm thay đổi ý nghĩa đi đôi chút, đồng thời làm thay đổi hoàn toàn âm điệu, sức nặng và điểm nhấn của các từ ngữ trong mối tương quan với nhau; rốt cuộc chẳng còn lại gì ngoài một phiên bản thô kệch và tầm thường của ý nghĩa gốc. Bị đối xử như vậy, các đại văn hào Nga giống như những người bị động đất hay tai nạn tàu hỏa tước đoạt không chỉ quần áo, mà còn cả những thứ tinh tế và quan trọng hơn – đó là cách cư xử, là những nét đặc trưng trong tính cách của họ. Những gì còn lại, như chính người Anh đã chứng minh bằng lòng hâm mộ cuồng nhiệt, là một thứ gì đó rất mạnh mẽ và đầy ấn tượng, nhưng thật khó để chắc chắn, khi xét đến những sự cắt xén này, rằng liệu chúng ta có thể tin tưởng bản thân mình không, liệu ta có đang gán ghép, bóp méo, hay đọc vào đó một sự nhấn mạnh sai lệch hay không.
Chúng ta nói rằng họ đã mất đi quần áo trong một thảm họa khủng khiếp nào đó, bởi một hình ảnh tương tự như vậy mô tả được sự giản dị, tính nhân văn – thứ vốn bị đánh thức khỏi mọi nỗ lực che đậy và ngụy trang bản năng – mà văn học Nga, dù là do dịch thuật hay do một nguyên nhân sâu xa nào đó, đã tác động lên chúng ta. Chúng ta nhận thấy những phẩm chất này thấm đẫm trong đó, hiển hiện rõ ràng nơi các nhà văn nhỏ cũng như các đại văn hào. "Hãy học cách đồng cảm với mọi người. Tôi thậm chí muốn nói thêm: hãy làm cho mình trở nên không thể thiếu đối với họ. Nhưng hãy để sự đồng cảm này không xuất phát từ trí óc – vì bằng trí óc thì dễ quá – mà từ trái tim, bằng tình yêu thương dành cho họ." "Từ tiếng Nga," người ta sẽ nói ngay lập tức, bất cứ khi nào tình cờ bắt gặp câu trích dẫn đó. Sự giản dị, không chút gắng gượng, giả định rằng trong một thế giới tràn ngập đau khổ, tiếng gọi chính yếu đối với chúng ta là thấu hiểu những người đồng cảnh ngộ, "và không phải bằng trí óc – vì bằng trí óc thì dễ quá – mà bằng trái tim" – đây chính là đám mây bao phủ khắp văn học Nga, thứ dẫn dụ chúng ta rời khỏi sự rực rỡ khô khốc và những con đường cháy bỏng của chính mình để tận hưởng sự dịu mát dưới bóng râm của nó – và tất nhiên, với những kết cục thảm hại. Chúng ta trở nên gượng gạo và tự ý thức; chối bỏ phẩm chất của chính mình, chúng ta viết với một vẻ giả tạo của lòng tốt và sự giản dị, một thứ vô cùng đáng ghét. Chúng ta không thể nói từ "Anh em" với niềm tin giản đơn. Có một câu chuyện của ông Galsworthy, trong đó một nhân vật xưng hô như thế với người kia (cả hai đều đang ở dưới đáy của sự bất hạnh). Ngay lập tức, mọi thứ trở nên gượng ép và giả tạo. Từ tương đương trong tiếng Anh của từ "Brother" là "Mate" – một từ rất khác biệt, mang hơi hướng mỉa mai, một chút hài hước khó định nghĩa. Dù gặp nhau dưới đáy của sự bất hạnh, hai người Anh xưng hô với nhau như vậy, chúng ta tin chắc, sẽ tìm được việc làm, tạo dựng cơ tài, dành những năm cuối đời trong nhung lụa, và để lại một khoản tiền để ngăn những gã khốn khổ khác gọi nhau là "Anh em" trên bờ kè. Nhưng chính nỗi đau khổ chung, chứ không phải hạnh phúc, nỗ lực hay khát vọng chung, mới tạo nên ý thức về tình anh em. Chính "nỗi buồn sâu thẳm" mà Tiến sĩ Hagberg Wright cho là tiêu biểu cho con người Nga đã tạo nên văn học của họ.
Một sự khái quát như thế này, tất nhiên, ngay cả khi nó có phần đúng đắn khi áp dụng cho toàn bộ nền văn học, cũng sẽ bị thay đổi sâu sắc khi một nhà văn thiên tài bắt tay vào sáng tác. Ngay lập tức, những câu hỏi khác nảy sinh. Ta thấy rằng một "thái độ" không hề đơn giản; nó vô cùng phức tạp. Những con người bị tước đoạt áo quần và cung cách, choáng váng vì một tai nạn tàu hỏa, nói lên những điều khó khăn, khắc nghiệt, khó chịu, trắc trở, ngay cả khi họ nói với sự buông bỏ và giản dị mà thảm họa đã gieo rắc trong họ. Ấn tượng đầu tiên của chúng ta về Tchekov không phải là sự giản dị mà là sự bối rối. Ý nghĩa của chuyện này là gì, và tại sao ông lại dựng thành một câu chuyện từ việc này? chúng ta tự hỏi khi đọc hết truyện này đến truyện khác. Một người đàn ông phải lòng một phụ nữ đã có chồng, họ chia tay rồi gặp lại, và cuối cùng, họ chỉ còn biết nói về tình cảnh của mình và tìm cách thoát khỏi "sự ràng buộc không thể chịu đựng nổi này".
"'Làm thế nào? Làm thế nào?' ông ta hỏi, ôm lấy đầu... Và dường như chỉ một lát nữa thôi, lời giải sẽ được tìm ra và khi ấy một cuộc đời mới rực rỡ sẽ bắt đầu." Đó là đoạn kết. Một người đưa thư chở một sinh viên ra ga, suốt dọc đường người sinh viên cố gắng làm người đưa thư nói chuyện, nhưng anh ta vẫn im lặng. Bất thình lình, người đưa thư nói một cách đột ngột: "Quy định cấm chở người cùng với thư từ." Và anh ta đi lại trên sân ga với vẻ mặt giận dữ. "Anh ta giận ai? Giận con người, giận nghèo đói, hay giận những đêm thu?" Lại một lần nữa, câu chuyện kết thúc như vậy.
Nhưng đó có phải là đoạn kết, chúng ta tự hỏi? Chúng ta có cảm giác rằng mình đã đi quá tín hiệu; hoặc như thể một giai điệu đã dừng lại đột ngột mà thiếu đi những hợp âm cần thiết để kết thúc. Những câu chuyện này thật dang dở, chúng ta nhận xét, và bắt đầu soạn một bài phê bình dựa trên giả định rằng các câu chuyện phải kết thúc theo cách mà chúng ta thừa nhận. Khi làm vậy, chúng ta tự đặt ra câu hỏi về năng lực của chính mình với tư cách là độc giả. Nơi nào giai điệu quen thuộc và cái kết thật dứt khoát – những người yêu nhau được đoàn tụ, những kẻ phản diện bị đánh bại, những âm mưu bị phơi bày – như trong hầu hết tiểu thuyết thời Victoria, chúng ta khó lòng sai lệch, nhưng nơi nào giai điệu xa lạ và cái kết là một dấu hỏi hoặc chỉ là thông tin rằng họ vẫn tiếp tục nói chuyện, như ở Tchekov, chúng ta cần một cảm thức văn học thật táo bạo và nhạy bén để nghe được giai điệu, đặc biệt là những nốt cuối cùng hoàn thiện sự hài hòa đó. Có lẽ chúng ta phải đọc rất nhiều truyện trước khi cảm nhận được – và cảm giác này là cần thiết cho sự thỏa mãn của chúng ta – rằng chúng ta nắm bắt được các phần, và rằng Tchekov không chỉ lan man rời rạc, mà đã cố ý nhấn vào nốt này, nốt kia, nhằm hoàn thiện ý nghĩa của mình.
Chúng ta phải tìm tòi để khám phá xem điểm nhấn trong những câu chuyện lạ lùng này thực sự nằm ở đâu. Chính lời của Tchekov đã dẫn dắt chúng ta đi đúng hướng. "... một cuộc trò chuyện như thế này giữa chúng ta," ông nói, "sẽ là không tưởng đối với cha mẹ chúng ta. Ban đêm họ không nói chuyện, mà ngủ ngon lành; thế hệ chúng ta, chúng ta ngủ không yên, bồn chồn, nhưng lại nói rất nhiều, và luôn cố gắng giải quyết xem mình có đúng hay không." Văn học châm biếm xã hội và tinh tế về tâm lý của chúng ta đều bắt nguồn từ giấc ngủ bồn chồn đó, từ sự trò chuyện không ngớt đó; nhưng rốt cuộc, có một sự khác biệt to lớn giữa Tchekov và Henry James, giữa Tchekov và Bernard Shaw. Rõ ràng là vậy – nhưng nó nảy sinh từ đâu? Tchekov cũng nhận thức được những cái xấu và bất công của trạng thái xã hội; tình cảnh của những người nông dân làm ông kinh hoàng, nhưng sự nhiệt tâm của một nhà cải cách không phải là của ông – đó không phải là tín hiệu để chúng ta dừng lại. Trí tuệ làm ông vô cùng thích thú; ông là một nhà phân tích quan hệ con người tinh tế và nhạy bén nhất. Nhưng một lần nữa, không; kết thúc không nằm ở đó. Phải chăng ông chủ yếu quan tâm không phải đến mối quan hệ giữa linh hồn này với những linh hồn khác, mà là mối quan hệ của linh hồn với sức khỏe – với mối quan hệ của linh hồn với sự thiện lương? Những câu chuyện này luôn cho chúng ta thấy một sự giả tạo, một dáng vẻ, một sự thiếu chân thành nào đó. Một người phụ nữ đã rơi vào một mối quan hệ sai lầm; một người đàn ông đã bị tha hóa bởi sự phi nhân tính của hoàn cảnh. Linh hồn bị bệnh; linh hồn được chữa lành; linh hồn không được chữa lành. Đó là những điểm nhấn trong câu chuyện của ông.
Một khi mắt đã quen với những sắc thái này, một nửa số "kết luận" của tiểu thuyết tan biến vào hư không; chúng hiện lên như những bức tranh xuyên thấu có ánh sáng phía sau – sặc sỡ, chói lòa, hời hợt. Việc dọn dẹp chung chung ở chương cuối, cuộc hôn nhân, cái chết, sự tuyên bố về các giá trị được thổi kèn vang dội, được gạch chân đậm nét, trở nên vô cùng sơ khai. Không có gì được giải quyết, chúng ta cảm thấy; không có gì được kết nối một cách đúng đắn. Mặt khác, phương pháp vốn ban đầu có vẻ tùy tiện, dang dở, và bận bịu với những chuyện vụn vặt, giờ đây lại xuất hiện như kết quả của một gu thẩm mỹ độc đáo và kỹ tính đến tuyệt vời, chọn lọc một cách táo bạo, sắp xếp một cách chuẩn xác, và được kiểm soát bởi một sự trung thực mà chúng ta không thể tìm thấy ở đâu khác ngoài chính những người Nga. Có thể không có câu trả lời cho những câu hỏi này, nhưng đồng thời chúng ta đừng bao giờ thao túng bằng chứng để tạo ra thứ gì đó vừa vặn, lịch sự, dễ chịu với sự hư vinh của chúng ta. Đây có thể không phải là cách để thu hút công chúng; suy cho cùng, họ đã quen với thứ âm nhạc ồn ào hơn, những nhịp điệu dữ dội hơn; nhưng giai điệu vang lên như thế nào, ông đã viết như thế đó. Kết quả là, khi chúng ta đọc những câu chuyện nhỏ nhặt không đầu không cuối này, chân trời mở rộng; linh hồn đạt được một cảm giác tự do đáng kinh ngạc.
Khi đọc Tchekov, chúng ta thấy mình lặp đi lặp lại từ "linh hồn". Nó rải rác khắp các trang sách của ông. Những kẻ nát rượu già dùng nó một cách thoải mái; "... cậu có địa vị cao trong công việc, ngoài tầm với của mọi người, nhưng lại chẳng có linh hồn thực sự, cậu bé thân mến ạ... chẳng có sức mạnh nào trong đó cả." Quả thực, linh hồn mới là nhân vật chính trong tiểu thuyết Nga. Tinh tế và nhạy bén ở Tchekov, chịu ảnh hưởng của vô số tâm trạng và căn bệnh, nó có chiều sâu và dung lượng lớn hơn ở Dostoevsky, dễ mắc những căn bệnh dữ dội và những cơn sốt cuồng nhiệt, nhưng vẫn là mối quan tâm hàng đầu. Có lẽ đó là lý do tại sao một độc giả Anh cần rất nhiều nỗ lực để đọc Anh em nhà Karamazov hay Lũ người quỷ ám lần thứ hai. "Linh hồn" xa lạ với anh ta. Nó thậm chí còn phản cảm. Nó có rất ít khiếu hài hước và chẳng có chút ý thức nào về sự hài kịch. Nó vô hình thái. Nó có rất ít kết nối với trí tuệ. Nó hỗn loạn, lan man, ồn ào, dường như không thể phục tùng sự kiểm soát của logic hay kỷ luật của thi ca. Tiểu thuyết của Dostoevsky là những vũng xoáy sôi sục, những cơn bão cát cuộn xoáy, những vòi rồng rít lên và sôi sùng sục và hút chúng ta vào. Chúng được cấu thành hoàn toàn và thuần túy từ chất liệu của linh hồn. Chống lại ý muốn của mình, chúng ta bị kéo vào, bị quay cuồng, bị làm mù, bị nghẹt thở, và đồng thời được lấp đầy bằng một sự ngất ngây chóng mặt. Ngoài Shakespeare ra, không có bài đọc nào thú vị hơn thế. Chúng ta mở cửa và thấy mình ở trong một căn phòng đầy các vị tướng Nga, các gia sư của các vị tướng Nga, các con gái riêng và anh em họ của họ, cùng đám đông những người linh tinh đều đang nói oang oang về những chuyện riêng tư nhất của họ. Nhưng chúng ta đang ở đâu? Chắc chắn vai trò của một tiểu thuyết gia là phải cho chúng ta biết liệu chúng ta đang ở trong một khách sạn, một căn hộ, hay một nhà trọ. Chẳng ai nghĩ đến việc giải thích. Chúng ta là những linh hồn, những linh hồn đau khổ, bất hạnh, mà công việc duy nhất là nói, tiết lộ, thú nhận, moi ra bất cứ vết rách nào của da thịt và thần kinh những tội lỗi cáu bẩn bò trườn dưới đáy sâu của chúng ta. Nhưng, khi chúng ta lắng nghe, sự bối rối dần dần lắng xuống. Một sợi dây được ném cho chúng ta; chúng ta nắm lấy một lời độc thoại; bám chặt bằng răng, chúng ta bị cuốn lao qua dòng nước; một cách sốt sắng, điên cuồng, chúng ta lao đi, hết chìm xuống, lại đến một khoảnh khắc của tầm nhìn hiểu biết nhiều hơn những gì chúng ta từng hiểu trước đây, và nhận được những sự mặc khải mà chúng ta chỉ thường nhận được từ áp lực của cuộc sống ở mức độ đầy đủ nhất. Khi bay đi, chúng ta nhặt nhạnh tất cả – tên của những người đó, các mối quan hệ của họ, rằng họ đang ở trong một khách sạn tại Roulettenburg, rằng Polina đang dính líu vào một âm mưu với Hầu tước de Grieux – nhưng những vấn đề này thật không quan trọng so với linh hồn! Linh hồn mới là điều quan trọng, sự đam mê của nó, sự hỗn loạn của nó, sự pha trộn đáng kinh ngạc giữa cái đẹp và cái hèn hạ. Và nếu giọng nói của chúng ta đột nhiên cất lên thành những tràng cười sảng khoái, hoặc nếu chúng ta bị rung động bởi những tiếng nức nở dữ dội nhất, thì còn gì tự nhiên hơn thế? – điều đó khó lòng đáng để nhận xét. Tốc độ mà chúng ta đang sống thật khủng khiếp đến mức những tia lửa chắc chắn phải bắn ra khỏi các bánh xe khi chúng ta bay. Hơn nữa, khi tốc độ tăng lên như thế và các yếu tố của linh hồn được nhìn thấy, không phải riêng biệt trong các cảnh hài hước hay các cảnh đam mê như tâm trí người Anh chậm chạp của chúng ta hình dung, mà là những vệt, lồng ghép, rối rắm không thể tách rời, một bức tranh toàn cảnh mới về tâm trí con người được hé lộ. Những phân chia cũ tan chảy vào nhau. Con người đồng thời vừa là kẻ phản diện vừa là thánh nhân; hành động của họ vừa đẹp đẽ vừa đáng khinh bỉ. Chúng ta yêu và chúng ta ghét cùng một lúc. Không có sự phân chia chính xác giữa tốt và xấu mà chúng ta vẫn quen thuộc. Thường thì những người mà chúng ta dành nhiều tình cảm nhất lại là những tội phạm lớn nhất, và những kẻ tội lỗi khốn cùng nhất lại khơi gợi trong chúng ta sự ngưỡng mộ mãnh liệt cũng như tình yêu.
Bị quật ngã lên những đỉnh sóng, bị va đập và bầm dập trên những tảng đá dưới đáy sâu, độc giả Anh khó lòng cảm thấy thoải mái. Quá trình mà anh ta quen thuộc trong văn học của chính mình đã bị đảo ngược. Nếu chúng ta muốn kể câu chuyện về mối tình của một vị Tướng (và ngay từ đầu, chúng ta sẽ thấy rất khó để không cười nhạo một vị Tướng), chúng ta sẽ bắt đầu với ngôi nhà của ông ta; chúng ta sẽ cụ thể hóa môi trường xung quanh ông ta. Chỉ khi mọi thứ đã sẵn sàng, chúng ta mới cố gắng xử lý chính vị Tướng đó. Hơn nữa, không phải samovar (ấm đun nước Nga) mà là ấm trà mới ngự trị ở Anh; thời gian thì có hạn; không gian thì chật chội; ảnh hưởng của những quan điểm khác, của những cuốn sách khác, thậm chí của những thời đại khác, tự thể hiện rõ nét. Xã hội được phân loại thành các tầng lớp thấp, trung và thượng lưu, mỗi tầng lớp đều có truyền thống riêng, cách cư xử riêng, và ở một mức độ nào đó, ngôn ngữ riêng. Dù muốn hay không, một tiểu thuyết gia người Anh luôn chịu áp lực phải thừa nhận những rào cản này, và hệ quả là, trật tự được áp đặt lên anh ta cùng với một loại hình thức nào đó; anh ta có khuynh hướng châm biếm hơn là trắc ẩn, thiên về soi xét xã hội hơn là thấu hiểu chính các cá nhân.
Không có sự kìm kẹp nào như vậy đặt lên vai Dostoevsky. Đối với ông, dù bạn là quý tộc hay thường dân, một kẻ lang thang hay một quý bà cao quý, thì tất cả đều như nhau. Dù bạn là ai, bạn cũng là chiếc bình chứa thứ chất lỏng rối rắm này, thứ chất liệu mây mù, sủi bọt, quý giá này, chính là linh hồn. Linh hồn không bị kìm hãm bởi các rào cản. Nó tràn trề, nó tuôn chảy, nó hòa quyện với linh hồn của những người khác. Câu chuyện giản đơn về một nhân viên ngân hàng không thể trả tiền cho một chai rượu vang lan rộng, trước khi chúng ta kịp nhận ra điều gì đang xảy ra, vào cuộc đời của cha vợ anh ta và năm người nhân tình mà cha vợ anh ta đối xử tệ bạc, và cuộc đời của người đưa thư, và bà lao công, và những nàng công chúa trọ trong cùng dãy nhà; vì không có gì là nằm ngoài phạm vi của Dostoevsky; và khi ông mệt, ông không dừng lại, ông cứ tiếp tục. Ông không thể kiềm chế bản thân. Nó tuôn trào ra trên chúng ta, nóng hổi, bỏng rát, hỗn độn, kỳ diệu, khủng khiếp, áp bức – chính là linh hồn con người.
Vẫn còn đó nhà tiểu thuyết vĩ đại nhất trong tất cả – vì còn gọi tác giả của Chiến tranh và Hòa bình là gì nữa đây? Liệu chúng ta có thấy Tolstoi cũng xa lạ, khó hiểu, một người ngoại quốc? Liệu có sự kỳ quặc nào trong góc nhìn của ông, cái góc nhìn mà ít nhất cho đến khi chúng ta trở thành môn đồ và đánh mất phương hướng của chính mình, cứ giữ chúng ta ở một khoảng cách trong sự nghi ngờ và bối rối? Ngay từ những dòng đầu tiên, chúng ta có thể chắc chắn một điều – đây là một người đàn ông nhìn thấy những gì chúng ta nhìn thấy, người tiến hành, cũng như cách chúng ta thường tiến hành, không phải từ bên trong ra ngoài, mà từ bên ngoài vào trong. Đây là một thế giới nơi tiếng gõ cửa của người đưa thư được nghe thấy lúc tám giờ, và mọi người đi ngủ giữa mười và mười một giờ. Đây cũng là một người đàn ông không phải là kẻ dã man, không phải là đứa con của tự nhiên; ông có học thức; ông đã trải qua đủ mọi loại kinh nghiệm. Ông là một trong những quý tộc bẩm sinh, những người đã tận dụng các đặc quyền của mình đến mức tối đa. Ông là người của đô thị, không phải vùng ngoại ô. Các giác quan, trí tuệ của ông sắc bén, mạnh mẽ và được nuôi dưỡng tốt. Có một điều gì đó kiêu hãnh và tuyệt vời trong sự tấn công của một trí tuệ và một cơ thể như vậy vào cuộc sống. Không có gì dường như thoát khỏi ông. Không có gì lướt qua ông mà không được ghi lại. Do đó, không ai có thể truyền tải sự phấn khích của thể thao, vẻ đẹp của những chú ngựa, và tất cả sự khao khát mãnh liệt của thế giới đến các giác quan của một chàng trai trẻ mạnh mẽ như ông. Mọi cành cây, mọi chiếc lông vũ đều dính vào nam châm của ông. Ông chú ý đến màu xanh hay đỏ của chiếc váy trẻ em; cách một con ngựa cử động cái đuôi của nó; âm thanh của một tiếng ho; hành động của một người đàn ông cố gắng đút tay vào túi quần đã bị may kín. Và những gì con mắt không thể sai lầm của ông ghi lại về một tiếng ho hay một mẹo vặt của đôi bàn tay, bộ não không thể sai lầm của ông lại liên hệ đến thứ gì đó ẩn giấu trong tính cách, để chúng ta biết về các nhân vật của ông, không chỉ qua cách họ yêu và quan điểm chính trị hay sự bất tử của linh hồn, mà còn qua cách họ hắt hơi và nghẹn ngào. Ngay cả trong bản dịch, chúng ta cảm thấy mình như đã được đặt trên đỉnh núi và có một chiếc kính viễn vọng trong tay. Mọi thứ đều rõ ràng một cách đáng kinh ngạc và sắc nét tuyệt đối. Rồi, đột nhiên, ngay khi chúng ta đang hân hoan, thở sâu, cảm thấy vừa được củng cố vừa được thanh tẩy, một chi tiết nào đó – có lẽ là cái đầu của một người đàn ông – xuất hiện từ bức tranh theo một cách đáng báo động, như thể bị ép ra bởi chính cường độ sống của nó. "Đột nhiên một điều kỳ lạ xảy ra với tôi: trước tiên tôi ngừng nhìn thấy những gì xung quanh mình; sau đó khuôn mặt anh ấy dường như biến mất cho đến khi chỉ còn lại đôi mắt, tỏa sáng đối diện với đôi mắt tôi; tiếp đến đôi mắt dường như nằm trong đầu tôi, rồi mọi thứ trở nên hỗn loạn – tôi không thể nhìn thấy gì và buộc phải nhắm mắt lại, để thoát khỏi cảm giác khoái lạc và sợ hãi mà ánh nhìn của anh ấy đang tạo ra trong tôi..." Hết lần này đến lần khác, chúng ta chia sẻ cảm xúc của Masha trong Hạnh phúc gia đình. Người ta nhắm mắt lại để thoát khỏi cảm giác khoái lạc và sợ hãi. Thường thì khoái lạc là cảm giác chiếm ưu thế. Trong chính câu chuyện này có hai đoạn mô tả, một về cô gái đi dạo trong vườn vào ban đêm với người yêu, một về đôi vợ chồng mới cưới nhảy múa trong phòng khách, truyền tải cảm giác hạnh phúc tột độ đến mức chúng ta phải đóng sách lại để cảm nhận nó rõ hơn. Nhưng luôn có một yếu tố sợ hãi khiến chúng ta, giống như Masha, muốn thoát khỏi ánh nhìn mà Tolstoi dán vào chúng ta. Liệu nó có nảy sinh từ cảm giác, thứ mà trong cuộc sống thực có thể quấy rầy chúng ta, rằng hạnh phúc như ông mô tả là quá mãnh liệt để kéo dài, rằng chúng ta đang đứng bên bờ vực của thảm họa? Hay không phải chính cường độ của khoái lạc mà chúng ta cảm nhận lại có phần đáng ngờ và buộc chúng ta phải hỏi, cùng với Pozdnyshev trong Bản xonát Kreutzer, "Nhưng sống để làm gì?" Cuộc sống thống trị Tolstoi cũng như linh hồn thống trị Dostoevsky. Luôn có ở trung tâm của tất cả những cánh hoa rực rỡ và lấp lánh của bông hoa này là con bọ cạp, "Sống để làm gì?" Luôn có ở trung tâm của cuốn sách một Olenin, hay Pierre, hay Levin, người thu vào mình tất cả trải nghiệm, xoay chuyển thế giới giữa những ngón tay mình, và không bao giờ ngừng hỏi ngay cả khi đang tận hưởng nó, ý nghĩa của nó là gì, và mục đích của chúng ta nên là gì. Không phải vị linh mục làm tan vỡ những khát vọng của chúng ta một cách hiệu quả nhất; mà chính là người đàn ông đã biết chúng, và tự mình yêu lấy chúng. Khi ông chế giễu chúng, thế giới quả thực biến thành bụi và tro dưới chân chúng ta. Như vậy, nỗi sợ hãi hòa quyện với khoái lạc của chúng ta, và trong ba đại văn hào Nga, chính Tolstoi là người lôi cuốn chúng ta nhất và cũng đẩy chúng ta ra xa nhất.
Nhưng tâm trí thường mang theo định kiến từ nơi nó sinh ra, và không nghi ngờ gì, khi nó va chạm với một nền văn học xa lạ như văn học Nga, nó sẽ chệch hướng, bay xa khỏi sự thật.