Cửu Châu Phiêu Miểu Lục I: Man Hoang

Lượt đọc: 179 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2
Sứ Giả Mật Đông Lục (4)

❊ ❊ ❊

Vùng đất này được gọi là Cửu Châu, cũng không biết là chuyện từ bao nhiêu năm trước nữa. Truyền thuyết kể rằng từng có một vị Thần Đế thống nhất toàn bộ thế giới, chia nó thành chín châu và đặt tên. Thế nhưng chẳng ai biết vị Thần Đế đó là ai. Bắc Lục chúng ta có ba châu, Thương Châu, Hãn Châu và Ninh Châu. Có người nói Bắc Lục là một con cự long thời cổ đại, nó sống rất nhiều năm, cuối cùng chết đi, chìm xuống đáy biển, bùn cát chồng chất lên xương cốt của nó, biến thành Bắc Lục. Thương Châu là đầu của nó, từ trong đầu sinh ra tộc Khấu Phu, vừa cao vừa lớn, hung hãn tựa như dã thú; Ninh Châu là đuôi của nó, sinh ra tộc Vũ, nhẹ nhàng và mềm mại, có thể bay lên bầu trời; mà thảo nguyên Hãn Châu của chúng ta chính là lồng ngực của rồng, từ trong tim sinh ra tộc Man chúng ta, là dũng cảm nhất.

Người Đông Lục gọi chúng ta là người Man, chúng ta không bận tâm. Đối với những nam tử hán trên thảo nguyên, "Man" chính là dũng khí. Các chiến sĩ của chúng ta cầm rìu chiến và đại việt, cưỡi những con ngựa hoang bắt được, người Đông Lục nhìn thấy kỵ binh của chúng ta chỉ có nước bỏ chạy, kiếm và giáp của họ tốt hơn chúng ta đấy, nhưng đánh trận thắng luôn luôn là tộc Man chúng ta.

Thực ra thảo nguyên là một nơi khổ hàn, chỉ có cỏ dại là mọc tốt nhất, lại chẳng thể cày cấy. Nghe nói Uyển Châu ở Đông Lục trồng lúa nước, một năm có thể thu hoạch ba vụ, nhưng chúng ta đốt cỏ hoang trồng lúa mạch trên thảo nguyên phương nam, năm được mùa cũng chỉ xuất sản được một vụ. Lương thực không đủ ăn, thì phải chết người, nếu không đánh trận, không đi cướp lương thực của kẻ khác, căn bản là không thể sống nổi.

Cho nên hết đời này đến đời khác, chỉ có những chiến sĩ cường tráng nhất mới có thể sống sót. Người cha cường tráng sinh ra đứa con cường tráng, đời đời kiếp kiếp đều là hảo hán trên thảo nguyên.

"Nhưng mà, sự dũng cảm thế này," ông lão nhấp một ngụm thuốc lá, trầm mặc rất lâu, "cũng là chuyện bất đắc dĩ."

Võ sĩ Đông Lục tuy kém cỏi, thế nhưng mấy trăm năm trước lại xuất hiện một vị Tường Vi Hoàng Đế, đó là một vị đại hoàng tử, lớn hơn cả Đại Quân của chúng ta, đã thống nhất bốn châu của Đông Lục, xây dựng nên một đế quốc gọi là Đại Dận. Đế quốc rất kiêng dè tộc Man chúng ta, võ sĩ Đông Lục kém xa các chiến sĩ của chúng ta về lòng dũng cảm, họ biết rằng chỉ cần kỵ binh tộc Man đặt chân lên mảnh đất Đông Lục, Đông Lục sẽ trở thành bãi chăn thả của chúng ta.

Chỉ là Thiên Thác Hợp đã ngăn cách chúng ta, Tường Vi Hoàng Đế lấy được kỹ thuật hàng hải từ tộc Vũ, chư hầu Đông Lục chế tạo rất nhiều chiến thuyền, dùng thủy quân kiểm soát Thiên Thác Hợp, ngựa của tộc Man chúng ta dẫu thần dũng đến đâu, cũng không có cánh, không bay qua được đại hải.

Bây giờ ngươi biết trên thảo nguyên có bảy đại bộ lạc... không có bảy nữa rồi, Chân Nhan Bộ đã bị diệt tộc... chỉ còn lại Thanh Dương chúng ta, cùng với Dương Hà, Sóc Bắc, Lan Mã, Sa Trì, Cửu Nê, tổng cộng là sáu. Nhưng lúc Tường Vi Hoàng Đế lập nên triều Dận, trên thảo nguyên có tới mấy trăm bộ lạc, người người cướp bò dê của ta, ta cướp phụ nữ của ngươi. Mỗi khi mùa xuân đến là hết lương thực, đàn cừu gầy gò ốm đói nhất, là lúc phải khai chiến, mấy trăm mấy ngàn mục dân lùa ngựa ra trận, khắp nơi đều có người chết. Ý ban đầu của bộ lạc Lan Mã có nghĩa là "khách binh", nghe nói lúc đó bộ lạc Lan Mã không có gì ăn, đàn ông mang cung tên ra ngoài săn linh dương vàng, bị một bộ lạc lớn khác tên là Tháp Cách Bộ nhân lúc trống vắng đánh úp lấy mất trại. Đến khi đàn đàn ông của bộ lạc Lan Mã trở về, các phụ nữ trẻ tuổi đều bị đàn ông Tháp Cách Bộ luân phiên cưỡng bức, kết quả là một nửa mang thai. Phụ nữ muốn tự vận, đàn ông lại không cho, đàn ông bắt họ sinh đứa trẻ ra, gọi chúng là "Lan Mã", dùng sữa ngựa hoang nuôi lớn chúng, dạy chúng cưỡi ngựa bắn cung, để những đứa trẻ biến thành chiến sĩ dũng cảm nhất. Sau đó đánh hạ Tháp Cách Bộ, đem đàn ông của Tháp Cách Bộ tàn sát sạch sẽ.

Một Bắc Lục như thế, sao có thể chế tạo nổi đại thuyền để tranh giành đất đai với người Đông Lục chứ? Giữ được tính mạng đã là may mắn lắm rồi. Sau đó Bắc Lục chúng ta cuối cùng cũng xuất hiện một vị anh hùng, ngươi nhất định biết ông ấy.

"Tốn Vương!" A Ma Hách lớn tiếng kêu lên.

"Là Tốn Vương." Ông lão trầm ngâm gật đầu.

Tốn Vương A Kham Đề là một tên tiểu tử nô lệ. Chẳng ai biết cha mẹ hắn là ai, hắn sinh ra đã phải chăn gia súc cho chủ nhân, ở nơi khổ hàn nhất, người chăn gia súc ở đó chưa ai sống quá ba mươi tuổi. Thế nhưng Tốn Vương đã sống sót, bởi vì vào lúc hắn sắp bị chết cóng, Thần Nữ đi ngang qua thượng nguồn sông Tuyết Tung, đem sữa của mình cho hắn uống, Bàn Đạt Thiên Thần ban ơn phước lên người hắn.

Những chuyện này đều là truyền thuyết, lại có người nói Thần Nữ chính là vợ của Tốn Vương là A Cam Đạt. Nhưng Tốn Vương là một vị anh hùng nhẫn nhịn, con người như hắn đã được định sẵn là phải xưng bá thảo nguyên, hắn có thể đem người vợ A Cam Đạt của mình dâng cho người nghĩa phụ ham mê tửu sắc để làm vật thế chấp, chỉ với yêu cầu mượn ba ngàn chiến sĩ dũng cảm. Chính nhờ vào ba ngàn người này, Tốn Vương sau đó đã quét sạch thảo nguyên, những bộ lạc không phục tùng hắn đều bị hắn đánh bại, ngày càng có nhiều người nguyện ý đi theo hắn. Cuối cùng mấy trăm bộ lạc sáp nhập thành bảy đại bộ lạc, Tốn Vương triệu tập đại hội Khố Lý Cách đầu tiên.

Đại hội Khố Lý Cách có nghĩa là đại hội "đều ngồi xuống", tại đại hội này dù là người của bộ lạc lớn hay nhỏ, đều có thể ngồi xuống mở họp, không còn sự phân biệt tôn ti nào nữa.

Tốn Vương nói: "Từ hôm nay trở đi tộc Man là một nhà, chúng ta cùng chia sẻ bãi cỏ mà Bàn Đạt Thiên Thần ban tặng, tuyệt đối không cho phép chiến tranh nữa, chúng ta phải dựng một thành trì ở Sóc Phương Nguyên - trung tâm thảo nguyên, tất cả người già yếu đều có thể an cư trong thành."

Ngươi đang sống ở trong thành này, thành trì duy nhất của tộc Man chúng ta, thành Bắc Đô.

Nhưng thành trì này còn có một cái tên nữa, có lẽ ngươi không biết, gọi là "Bội Đô". Người tộc Man chúng ta không dùng những từ ngữ như thế, từ này do người tộc Vũ đặt, có nghĩa là "thành phố sai lầm".

Ngày đầu tiên thành Bắc Đô được xây dựng xong, một người tộc Vũ từ Ninh Châu chạy đến, ngươi biết tên của hắn, hắn tên là Cổ Phong Trần, tên đầy đủ kèm theo tôn hiệu của hắn là "Tư Đạt Khắc Lãnh chủ đại nhân Cổ Phong Trần Tô Đức Lạp Quýnh".

"Cổ Phong Trần!" A Ma Hách suýt nữa thì kinh hô.

Từ Đông Lục đến Bắc Lục, hễ là tinh thần toán gia, không ai là không biết cái tên này. Đối với họ, Cổ Phong Trần đồng nghĩa với tôn sư, chúa tể, thậm chí là hoàng đế của tinh tướng học. Ông ta đứt rút ra hai định luật đặt nền móng trong lịch sử tinh tướng học, khai sáng ra học thuyết mang tên "Hoàng Cực Kinh Thiên", đối ứng bầu trời sao với đại dại, đây cũng là nền tảng cho tất cả các màn chiêm bốc của tinh thần toán gia đời sau, chỉ có điều thuật số của Cổ Phong Trần thực sự quá mức phức tạp, hoàn toàn biến tinh tướng học thành một môn toán học, không ai có thể giải được ngũ thức hay thậm chí là thất thức liên toán mà ông ta thường dùng, cho nên đời sau vậy mà không một ai có thể tiệm cận cống hiến của ông ta.

Ông lão thở ra một ngụm khói, trong ánh mắt lộ vẻ hướng ngoại, nhưng cũng phảng phất sự hoảng hốt: "Là Cổ Phong Trần, quả thực là một con người khiến người ta kính sợ. Đã qua năm trăm năm rồi, nhắc đến tên của ông ta, vẫn khiến người ta không khỏi kích động."

Rốt cuộc giữa Tốn Vương và Cổ Phong Trần tồn tại tình hữu nghị thế nào, hiện tại rất khó nói cho rõ ràng. Chúng ta chỉ biết Cổ Phong Trần không chỉ là lãnh chủ thành bang Tư Đạt Khắc của tộc Vũ, ông ta còn có một tôn hiệu, chính là Đại Hãn Vương Tôn Cách Nhĩ Đài của Thanh Dương chúng ta.

Ông ta một mình từ Ninh Châu chạy đến đây, tính toán vận mệnh Bắc Đô cho Tốn Vương. Cổ Phong Trần hỏi Tốn Vương muốn biết vận mệnh của tộc Man bao nhiêu năm, Tốn Vương nói một nghìn năm, Cổ Phong Trần nói nhiều nhất chỉ có năm trăm năm, tương lai xa hơn nữa sẽ vượt quá giới hạn hiểu biết của ông ta, thế là họ ước định tính toán năm trăm năm.

Đó là lần tính toán lớn nhất trong cuộc đời Cổ Phong Trần, nghe nói Tốn Vương đã xây dựng một nền đá lớn dài rộng mỗi bên một nghìn bước ở nơi là Cung Kim Trướng ngày nay, Cổ Phong Trần chỉ huy bốn trăm thiếu niên cùng nhau di chuyển toán trù, phối hợp với hỗn nghi, không ngừng diễn toán theo sự vận chuyển của tinh vân. Ròng rã diễn toán suốt ba tháng trời, sử dụng đến mười nhất thức liên toán khó thể tưởng tượng.

Thế nhưng, Cổ Phong Trần chẳng tính ra được gì cả.

Trên bầu trời đang xoay chuyển, tinh dã của thành Bắc Đô chúng ta là một mảnh đen kịt, trong suốt ba tháng, không có lấy một vì sao nào đi qua nơi đó, thậm chí không có ngôi sao nào bén mảng đến tinh dã này.

"Tinh dã của Bắc Đô có lẽ sẽ mãi mãi trống không," Cổ Phong Trần cuối cùng đã nói thế, "chỉ có những vì sao không thể nhìn thấy đi qua nơi đó, đây là thành phố bị nguyền rủa."

Tốn Vương rất kinh ngạc. Cái gọi là những vì sao không thể nhìn thấy, khắp bầu trời đầy sao chỉ có duy nhất một ngôi sao Cốc Huyền. Cốc Huyền không có ánh sáng, là một khoảng tối sâu thẳm nhất, có người nói nó là vết nứt của bầu trời, tất cả ánh sáng đều chảy ra ngoài từ Cốc Huyền.

Thái Âm chính là tử tinh, không một người sống nào có thể nhìn thấy nó.

"Quả thực là vậy, đó là vận mệnh của ta, vậy thì cứ để ta gánh vác tất cả đi." Tốn Vương đã nói như thế, đó mới là một vị anh hùng thực thụ.

Thứ mà cả đời ông nhìn thấy chính là người tộc Man chúng ta tay cầm cung cưỡi ngựa, lùa bò dê, lang thang trên thảo nguyên, vĩnh viễn không được nghỉ ngơi. Bây giờ đại thành đã được xây dựng lên, có nơi không sợ gió tuyết, tất cả mọi người đều tràn đầy hy vọng, nhưng lại là một thành phố bị nguyền rủa, Tốn Vương không hề muốn chấp nhận. Cho dù Cổ Phong Trần khuyên can thế nào, ông vẫn kiên quyết không chịu từ bỏ Bắc Đô.

Lời sấm này ứng nghiệm còn nhanh hơn cả những gì Cổ Phong Trần tự suy nghĩ. Bảy năm sau, đầu của Tốn Vương đã bị treo trên cổng thành Bắc Đô.

Chúa công của Cửu Nê Bộ đã đánh hạ Bắc Đô, ông ta là Đại Quân thứ hai của đại hội Khố Lý Cách.

Đây mới chỉ là sự khởi đầu, các bộ lạc sau đó luân phiên công chiếm thành Bắc Đô, thế nhưng chẳng có mấy kẻ có thể duy trì lâu dài. Dài thì dẫu sao cũng chỉ mấy chục năm, ngắn thì chừng sáu bảy năm, rồi lại bị kẻ khác đuổi cổ ra ngoài. Đầu của vị Đại Quân cũ cứ treo lố nhố ở cửa thành để thị chúng. Thực ra cách nói của Cổ Phong Trần, nghe thì có vẻ hoang đường, nhưng phần lớn chúa công các đại bộ lạc đều biết, thế nhưng lại có thể làm gì được chứ, thành Bắc Đô sau này đã trở thành trung tâm thảo nguyên của chúng ta, kẻ nào muốn xưng bá, thì không thể không bước vào thành Bắc Đô.

Đại khái là bảy mươi năm trước, Lữ thị của bộ Thanh Dương chúng ta đã đánh vào thành Bắc Đô. Khi đó chúng ta có hai cánh kỵ binh đệ nhất thảo nguyên là Hổ Báo Kỵ và Thiết Phù Đồ, Đại Quân lại nhân từ với sáu bộ khác hơn các Đại Quân trước, cho nên trong suốt bảy mươi năm qua mặc dù vẫn đánh nhau, nhưng coi như đã được yên ổn.

Chỉ là truyền thuyết đó chẳng ai dám quên, đều ghi tạc trong lòng. Hết đời Hợp Tasa này đến đời Hợp Tasa khác đều truyền lại mật ngữ cho học sinh, cho đến cuối cùng khi ta làm Hợp Tasa, đã xảy ra một chuyện...

Đó là chín năm trước, chiếu theo lịch thư, là "năm mất mùa".

Năm đó bắt đầu từ đầu thu, gió lốc trắng thổi không ngừng, thảo nguyên phía bắc ngập tràn cỏ đại châm lần lượt bị thổi ngã, ngay cả cơ hội thu gom cỏ mùa đông cũng không có. Tuyết xung quanh thành Bắc Đô ngập đến thắt lưng, bên hướng núi Đồng Vân lại càng dày hơn, từng đàn từng đàn linh dương vàng và linh dương đầu đốm bị đông cứng chết trong tuyết. Mục dân không có cỏ mùa đông, sớm đã giết hết cừu gầy và cừu con, trốn vào nơi khuất gió trong các thung lũng núi. Chúa công của mấy đại bộ lạc lớn đều dẫn theo quý tộc đến Bắc Đô đồn trú, dẫu sao trên thảo nguyên cũng chỉ có thành lớn Bắc Đô này là không sợ gió tuyết.

Vốn dĩ ai nấy đều nghĩ rằng chỉ cần chờ đến mùa xuân, mọi chuyện sẽ ổn thôi. Thế nhưng gió tuyết năm đó thật sự vô cùng quái dị, ngày đêm không ngừng, tuyết đọng trước cổng thành, cuối cùng đến cả cửa cũng không đẩy ra nổi. Sông Tuyết Tung và sông Thiết Tuyến đều đóng băng dày đặc, những kẻ không sợ chết đập băng bắt cá, thường xuyên có thể nhìn thấy những con cá lớn dài bốn năm thước bị đông cứng trong hốc băng. Thế nhưng ngoài cá ra, chồn hay hoẵng đều không săn được, trên tuyết nguyên ngay cả bò rừng cũng không tìm thấy, trong thành Bắc Đô ăn hết thịt cừu, bắt đầu giết ngựa. Tộc Man chúng ta sống trên lưng ngựa, nếu không phải người sắp chết đói, thì không ai nỡ giết ngựa.

Trong thành xôn bàn tán xôn xao, ai nấy đều hoảng loạn, có kẻ lén lút nói Đại Quân bất kính với trời, Bàn Đạt Thiên Thần không còn phù hộ cho thảo nguyên nữa. Đại Quân chẳng nói gì cả, lại ra lệnh cho ta quan sát tinh tướng, xem khi nào gió tuyết mới có thể dừng lại. Thế là ta thức trắng đêm này qua đêm khác, ghi chép tinh đồ, thôi diễn biến hóa, thế nhưng suốt cả mùa đông chẳng có nổi mấy ngày trời quang, ngẩng đầu lên bầu trời toàn một màu chì đen đúa, làm sao mà nhìn thấy sao trời chứ? Thế là lòng người càng thêm rối loạn, ban đầu chúa công của mấy đại bộ lạc lớn đều cầu xin được vào thành Bắc Đô để tránh gió, nhưng sau đó Hợp Tasa của mấy bộ lạc kia cũng ngày đêm đốt xương bò cúng tế, thỉnh thoảng lại có khói đen bốc lên, lại đồn đại có việc sát sinh nô lệ để cúng tế.

Lòng ta nôn nóng như lửa đốt, mỗi đêm đều mang Thiên Kính và Hải Kính đợi trên tuyết địa, chỉ hận khi nào gió lớn thổi mây tan ra, dẫu chỉ lộ ra một góc vòm trời để ta nhìn thấy sao trời.

Ta vẫn nhớ đó là ngày mồng bốn tháng giêng, ngày thứ tư sau tết đốt cừu con, ta cuối cùng đã ngất xỉu trên tuyết địa.

Lúc đó bên cạnh ta chẳng có ai cả, vốn dĩ là con đường phải chết rồi. Nhưng khi ta tỉnh lại, Ba Hanh đang đút nước ấm cho ta uống. Cũng coi như gặp may, lúc ấy vừa vặn là lúc Trắc Yên Thị sắp đến ngày sinh nở, Đại Quân bảo Ba Hanh ra ngoài tìm ta để bói toán cho đứa con sắp chào đời, lúc Ba Hanh tìm thấy ta, ta đã bị tuyết vùi một nửa rồi.

Ba Hanh hỏi ta có đi được không, ta nói chân cứng đờ rồi, Ba Hanh liền cõng ta quay về Kim Trướng, ngọn đuốc cũng bị tuyết làm ướt sũng, Ba Hanh bèn nắm lấy đuôi ngựa của hắn. Lúc đó hắn cũng rất lạnh, trùm tất cả những thứ tìm được lên người, bên ngoài khoác một chiếc giáp vảy sắt của Đông Lục, được mài sáng loáng. Tuyết đã ngừng, hắn lúc sâu lúc nông bước đi, lòng ta bất an, vừa uống rượu vừa thẫn thờ. Uống cho đến cuối cùng đầu ta như muốn nứt ra, suýt nữa thì ngủ thiếp đi trên lưng Ba Hanh. Đúng lúc này ta bỗng nhìn thấy trên bộ giáp vảy sắt sau lưng Ba Hanh, có ánh sáng chói lọi như lửa xẹt qua.

Ta ngẩn người, xung quanh một mảnh tối đen, chẳng có ai cả, vậy ngọn lửa này từ đâu ra? Ta ngẩng đầu lên nhìn, lúc này mới kinh ngạc ngây người, trên trời vẫn là một tầng mây mỏng, thế nhưng đằng sau mây vậy mà có ba quả đại lưu tinh. Đó là ba quả đại lưu tinh song song, sáng đến mức mây cũng không che nổi, màu sắc tựa như đang bốc cháy. Chúng bay song song lướt qua thiên cầu phía Đông, cuối cùng rơi xuống phía sau đại sơn Đồng Vân, tựa như tiếng sấm, thế nhưng cả đời chưa từng nghe thấy tiếng sấm nào vang đến thế. Đại sơn Đồng Vân tựa như bị châm lửa, trong đêm tối sâu thẳm thế này, trên đỉnh núi lại ánh lên kim quang, sau đó có người nói trong vòng trăm dặm đều có người nhìn thấy kim quang đó.

Thế nhưng bọn họ không ai kinh ngạc như ta cả, ta không biết sao bản thân lại nhảy phắt xuống từ lưng Ba Hanh, bất chấp tất cả mà chạy về hướng đại sơn Đồng Vân, cho đến khi chạy không nổi nữa mới nằm rạp xuống tuyết địa. Ba Hanh sợ ngây người. Thế nhưng ta phải nói với hắn thế nào đây, hắn sẽ không hiểu đâu, lúc đó tinh dã của Bắc Đô vừa vặn xoay chuyển đến đỉnh đại sơn Đồng Vân, ba quả lưu tinh đều xuyên qua tinh dã của Bắc Đô đấy. Ta làm Hợp Tasa hơn ba mươi năm, vẫn luôn mong có thể tìm được một ngôi sao trong tinh dã của Bắc Đô, lời sấm của Cổ Phong Trần sẽ bị phá giải.

Thế nhưng thực sự nhìn thấy ngôi sao, lại là những quả lưu tinh đang bốc cháy. Những quả lưu tinh đó, đã bị Cốc Huyền tối đen như mực nuốt chửng.

Ta và Ba Hanh liều mạng chạy về đến Kim Trướng, bên trong Kim Trướng sớm đã tụ tập rất nhiều người. Động tĩnh bên phía núi Đồng Vân đã đánh thức mọi người dậy, chúa công các bộ, Hợp Tasa và vu sư các bộ, còn có cả các đại quý tộc. Những vị vu sư đó bày đủ thứ đồ kỳ lạ trong lều trại, mai rùa và xương bò bị nướng nứt nẻ này, lâu la của người chết này, Huyền Minh vớt ra từ Thần Bô Trì nữa.

Lúc ta bước vào thì vô cùng yên tĩnh, tất cả mọi người đều nhìn ta, Đại Quân chỉ hỏi ta một câu, nói: "Có phải Cốc Huyền không?"

Ta nói: "Phải."

Mỗi người đều không thốt nên lời, đám vu sư kia bỗng quỳ rạp xuống đất cầu nguyện, tựa như phát điên. Người duy nhất lúc đó có thể giữ được bình tĩnh, chỉ có Đại Quân và Cửu Vương, còn có Chân Nhan Bộ Long Kh-r-gei Trân Hoàng đang tránh gió ở Bắc Đô lúc bấy giờ. Đến khi ta nhìn thấy Anh thị phu nhân ôm một đứa trẻ từ sau lều bước vào, đầu ta ong lên một tiếng như muốn nổ tung, toàn bộ máu trong người lập tức lạnh ngắt. Ta bỗng nhớ ra đêm hôm đó là lúc thế tử giáng sinh, câu nói kia của ta, đã hại chết nó rồi.

Có người nói thế tử là một đứa trẻ sinh ra không có hơi thở, Trắc Yên Thị đã cắn nó một cái, cắn cho nó sống lại. Lại có người nói vương phi vốn mang song thai, thế tử đã ăn thịt huynh đệ của mình trong bụng mẹ, cho nên chỉ có một mình nó sinh ra. Lúc đó các vu sư thực sự phát điên rồi, tất cả mọi người bàn tán xôn xao chỉ làm sao giết đứa trẻ này để cúng tế Bàn Đạt Thiên Thần. Đại Quân không trấn áp nổi, Ba Hanh cầm đao chắn trước mặt Đại Quân, Cửu Vương đã sớm lặng lẽ ra lều điều binh.

Người cứu thế tử lúc này vẫn là Long Kh-r-gei Trân Hoàng. Không biết vì sao ông ta nổi giận, xách bổng vu sư của chính bộ lạc Chân Nhan lên, lôi ra ngoài lều cắm thẳng vào một đống tuyết. Tất cả mọi người đều ngây người, Sư Tử Vương lúc bấy giờ là vị anh hùng đệ nhất trên thảo nguyên, không ai dám đứng ra khi ông ta nổi giận cả.

Đến tận bây giờ ta vẫn nhớ lời của Long Kh-r-gei Trân Hoàng, ông ta nói: "Người bộ Chân Nhan chúng ta bái tế Bàn Đạt Thiên Thần vĩ đại, nếu ngài nói đứa trẻ này là điềm gở đáng chết, ta bây giờ sẽ một đao giết chết nó. Thế nhưng ta không nghe thấy thần nói với chúng ta điều gì, ta chỉ nhìn thấy những đống xương bò và mai rùa bẩn thỉu này. Nếu đứa trẻ này thực sự là điềm gở, vậy thì hãy để tộc nhân Long Kh-r-gei ta sau này giết nó đi, ta nguyện ý nuôi dưỡng nó!"

Ông ta quỳ xuống trước mặt Đại Quân đón lấy đứa trẻ đó, ông ta nói: "Vậy thì hãy để ta đặt tên cho nó, ta gọi nó là A Tô Lặc."

A Tô Lặc, có nghĩa là trường sinh.

Tro tàn trong nồi thuốc đã nguội từ lâu, ông lão không nói gì nữa. A Ma Hách cũng không dám lên tiếng, cậu ta nhìn ông lão, lại nghĩ đến con sư tử nổi giận kia, một con người như vậy, vậy mà lại trở thành kẻ phản tặc của đại hội Khố Lý Cách, hiện tại đã là một chiếc đầu người trong chiếc hộp gỗ rồi.

Trong đêm tối mịt mùng ngoài lều không biết là ai đang mài đao, tiếng thiết khí ma sát trên đá mài "soạt soạt" nghe thấu tận tâm can.

"Năm sáu tuổi, thế tử đã đến bộ Chân Nhan." Ông lão nhấp một ngụm rượu nhỏ, liếm liếm môi, "Cũng không biết là trùng hợp hay gì nữa, quả thực là chuyện quái dị, từ nhỏ đến lớn, người bên cạnh nó chết đặc biệt nhiều. Đến cả con sư tử trên thảo nguyên cũng chết theo, nơi nó đi qua, quả nhiên là điềm gở."

A Ma Hách rùng mình một cái: "Mấy người phụ nữ đó nói, thế tử chính là Cốc Huyền... thực sự có chuyện mệnh tinh này sao?"

Ông lão lắc đầu: "Kẻ tin vào mệnh tinh, chỉ có phái Hoàng Cực của Cổ Phong Trần, ta không biết, thế nhưng ta từng đọc《Thạch Cổ Quyển》."

A Ma Hách bỗng ngồi thẳng người dậy. 《Thạch Cổ Quyển》 chính là thánh điển tinh tướng của tộc Man, cho đến tận bây giờ cậu ta vẫn không biết đây là loại sách gì.

"Phải. Chính là vào đêm hôm đó, Huyền Minh trong Thần Bô Trì đỏ rực toàn thân rồi chết, vạn niên đăng trong địa cung tổ miếu tắt ngấm, đỉnh đại sơn Đồng Vân ánh lên kim quang, ba quả đại lưu tinh song song xuyên qua thiên dã thành Bắc Đô, bầu trời sáng rực như ban ngày. Tất cả đều giống với tiên tri trong 《Thạch Cổ Quyển》, đó là sự trừng phạt của thiên thần đối với thế nhân, thảo nguyên biến thành một màu đỏ như máu, biến thành vùng đất ngập tràn người chết." Ông lão hít sâu một hơi, "Thế nhưng, tộc Man nghênh đón thời đại mới, anh hùng rút thanh thần kiếm trong núi lửa, hùng ưng cưỡi đầu sư tử thống nhất thảo nguyên, Bàn Đạt Thiên Thần sở hữu bầu trời, để lại đại địa và đại hải cho đứa con của ngài. Đứa con này chính là Thiết Thấm Vương, Vua của Núi và Biển!"

A Ma Hách ngẩn ngơ nhìn ông lão, toán trù trong tay "loảng xoảng" vãi tung tóe xuống đất.

Ông lão lại vô cùng bình tĩnh, ngồi xổm xuống nhặt từng chiếc toán trù lên, rồi nhét lại vào tay A Ma Hách.

"Ngươi sẽ trở thành Hợp Tasa mới." Ông ta xoa đầu A Ma Hách, "Ngươi có biết tại sao không?"

A Ma Hách ngẩn ngơ lắc đầu.

"Bởi vì ngươi rất ngốc đấy!" Ông ta cười đầy bí hiểm.

Ông ta uống cạn số rượu còn lại trong bình, lật người nằm ngủ trên chiếc áo choàng lông chồn, tiếng thở dần trở nên dài và trầm thấp.

A Ma Hách lấy hết can đảm ấn ấn bả vai ông ta: "Thầy ơi, rốt cuộc Bàn Đạt Thiên Thần là muốn bảo vệ thảo nguyên, hay là muốn trừng phạt chúng ta?"

"Đừng suy đoán tâm ý của thần, đứa trẻ của ta," giọng ông lão phảng phốt tiếng nói trong mộng, "lồng ngực của thần không có tim, đó chỉ là một khối sắt đá."

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ tianyashuku.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.