Khi ấy, vương quốc lâm vào cảnh hiểm nguy rã rời suốt một thời gian dài, bởi bất cứ vị lãnh chúa nào có thế lực về binh mã cũng tự mưu đồ khuếch trương vây cánh, và nhiều kẻ ôm mộng lên ngôi vua. Bấy giờ, Merlin liền diện kiến Tổng Giám mục xứ Canterbury, hiến kế rằng ngài nên truyền dụ triệu tập toàn bộ các bậc chư hầu trong vương quốc cùng các hiệp sĩ hào kiệt tề tựu về London vào dịp lễ Giáng sinh, dưới hình thức thiết triều kèm theo lời nguyền rủa kẻ nào dám kháng lệnh; với dụng ý rằng Chúa Jesus, Đấng đã giáng sinh vào đêm ấy, bằng lòng thương xót vô biên của Ngài sẽ hiển thị một phép màu, hệt như khi Ngài ngự đến để làm vua của nhân loại, nhằm chỉ rõ đâu là vị vua chân chính đích thực của vương quốc này. Thế là Tổng Giám mục, theo lời khuyên của Merlin, đã cho người đi truyền chiếu chỉ cho toàn thể chư hầu và hiệp sĩ tề tựu về London kịp trước đêm Giáng sinh. Nhiều người trong số họ đã thành tâm thanh tẩy tâm hồn và cuộc đời mình, để những lời cầu nguyện của họ được Chúa đoái hoài và tiếp nhận nhiều hơn. Thế rồi, tại ngôi thánh đường lớn nhất ở London — sách sử tiếng Pháp không nhắc rõ đó có phải nhà thờ Saint Paul hay không —, mọi tầng lớp tề tựu từ sớm trước bình minh trong nhà thờ để cầu nguyện. Khi lễ tụng kinh sáng và thánh lễ đầu tiên vừa dâng xong, người ta nhìn thấy ngoài ấth sân nhà thờ, đối diện với bàn thờ lớn, một khối đá lớn vuông vức tựa như đá cẩm thạch; và ở chính giữa khối đá ấy nhô lên một chiếc đe bằng thép cao tầm một thước, cắm sâu trong đó là một thanh gươm sáng loáng không vỏ, lộ rõ phần mũi, khắc những dòng chữ bằng vàng chạy dọc theo lưỡi gươm với nội dung thế này: Kẻ nào rút được thanh gươm khỏi hòn đá và chiếc đe này, kẻ đó chính là vị vua đích thực sinh ra để trị vì toàn cõi Anh quốc. Thiên hạ ngỡ ngàng trước cảnh tượng ấy và liền tâu lại với Tổng Giám mục.
Ta truyền rằng, Tổng Giám mục cất tiếng, các ngươi hãy ở yên trong nhà thờ và tiếp tục thành kính cầu nguyện lên Thiên Chúa, tuyệt đối không ai được chạm vào thanh gươm cho đến khi đại lễ hoàn tất. Thế là khi mọi thánh lễ đã xong xuôi, toàn thể chư hầu tiến lại gần để ngắm nhìn hòn đá và thanh gươm. Khi đọc được dòng chữ khắc trên đó, một vài kẻ mang mộng làm vua liền thử sức. Nhưng chẳng một ai có thể lay chuyển hay nhấc nổi thanh gươm. Kẻ được định sẵn để đoạt lấy thanh gươm này chưa có mặt ở đây, Tổng Giám mục phán, nhưng ta tin chắc Thiên Chúa sẽ làm cho người ấy lộ diện. Tuy nhiên, theo kế hoạch của ta, Tổng Giám mục tiếp tục, chúng ta hãy chọn ra mười vị hiệp sĩ có danh thơm tiếng tốt để thay phiên canh giữ thanh gươm này. Mọi việc được định đoạt như thế, rồi người ta ra thông cáo rằng bất kỳ ai muốn thử sức tranh đoạt thanh gươm đều được quyền tham gia. Đến Ngày Đầu Năm Mới, các nam tước cho tổ chức một đại hội võ nghệ và hội trường đua ngựa, để tất cả các hiệp sĩ muốn tỷ thí võ nghệ hay tranh tài đều có thể tham dự; toàn bộ sự sắp đặt này nhằm mục đích gắn kết các bậc chư hầu và dân chúng lại với nhau, bởi Tổng Giám mục đặt trọn niềm tin rằng Thiên Chúa sẽ sớm làm cho người chiến thắng thanh gươm xuất hiện.
Thế là vào Ngày Đầu Năm Mới, khi nghi lễ kết thúc, các nam tước cùng thượng mã ra bãi trường thi, kẻ thì tham gia đấu thương, người thì tỷ thí kiếm thuật; và cơ sự ngẫu nhiên thế nào, Ngài Ector — người sở hữu sản nghiệp rộng lớn vùng phụ cận London — cũng cưỡi ngựa đến trường đấu, đi cùng ông có Ngài Kay, người con trai cả, và cậu thiếu niên Arthur, người em nuôi của chàng; còn Ngài Kay vừa mới được phong tước hiệp sĩ vào dịp lễ Các Thánh vừa qua. Khi họ đang trên đường tiến về bãi đấu trường, Ngài Kay bất chợt nhận ra mình đã để quên thanh gươm ở dinh thự của cha, thế là chàng bèn nài nỉ cậu em Arthur quay ngựa về lấy giúp gươm. Ta sẵn lòng thôi, Arthur đáp, rồi phóng ngựa như bay đi lấy gươm. Khi về đến nơi, người phu nhân cùng toàn bộ gia nhân đều đã kéo đi xem hội đấu võ. Arthur lấy làm bực bội, tự nhủ: Ta sẽ phi thẳng ra sân nhà thờ và lấy luôn thanh gươm đang cắm trong hòn đá mang theo, để huynh trưởng Ngài Kay của ta không phải lâm vào cảnh không tấc sắt trong ngày hôm nay. Khi đến sân nhà thờ, chàng thiếu niên Arthur xuống ngựa, buộc cương vào hàng rào, rồi bước đến khu vực dựng lều và chẳng thấy bóng dáng vị hiệp sĩ canh gươm nào ở đó cả, bởi tất cả đều đã đổ dồn đi xem hội võ. Chàng liền đưa tay nắm lấy chuôi gươm, một cách nhẹ nhàng nhưng dứt khoát, rút bổng thanh gươm ra khỏi khối đá, rồi quay lại leo lên ngựa phóng thẳng một mạch đến chỗ người anh là Ngài Kay để trao lại gươm. Vừa thoáng nhìn thấy thanh gươm, Ngài Kay nhận ra ngay đó chính là thanh gươm trong hòn đá, chàng liền phi ngựa tìm cha mình là Ngài Ector và thưa rằng: Thưa cha, kìa thanh gươm rút ra từ hòn đá đây rồi, vì thế con đường đương nhiên phải là vị vua cai trị vùng đất này. Khi Ngài Ector tận mắt chiêm ngưỡng thanh gươm, ông lập tức quay ngược ngựa trở lại nhà thờ, cả ba người cùng xuống ngựa và bước vào trong thánh đường. Lập tức, ông bắt Ngài Kay phải đặt tay lên kinh thánh để thề bồi về nguồn gốc thanh gươm mà chàng đang cầm. Thưa cha, Ngài Kay đáp, là do em trai Arthur của con mang đến cho con đấy chứ. Con lấy đâu ra thanh gươm này thế? Ngài Ector quay sang hỏi Arthur. Thưa cha, con xin thưa người. Khi con trở về nhà để lấy gươm cho anh, con chẳng tìm thấy bóng ai ở nhà để đưa gươm; nghĩ rằng huynh trưởng Ngài Kay không thể không có gươm bên mình, con bèn phóng hỏa tốc ra đây và rút nó ra khỏi hòn đá một cách vô cùng dễ dàng chẳng chút nhọc nhằn. Các ngươi có thấy hiệp sĩ nào quanh quẩn canh giữ thanh gươm này không? Ngài Ector hỏi. Thưa không ạ, Arthur đáp. Nghe vậy, Ngài Ector liền bảo Arthur: Giờ thì ta hiểu rằng con chính là vị vua được định mệnh chọn để cai trị vùng đất này. Tại sao lại là con, thưa cha, và vì cớ gì cơ chứ? Arthur hỏi. Thưa con, Ngài Ector đáp, bởi đó là ý trời; vì muôn đời nay chưa từng có kẻ nào rút được thanh gươm này ra ngoại trừ người sẽ là vị vua chân chính của xứ sở này. Nào, hãy để ta xem con có thể cắm trả thanh gươm về lại chỗ cũ rồi rút ra một lần nữa hay không. Chuyện đó thì có khó gì, Arthur nói, rồi thàng thản cắm phập thanh gươm trở lại hòn đá; ngay lúc đó, Ngài Ector bước lên thử sức rút thanh gươm ra nhưng đành chịu bất lực.